SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 


"Thày là Sự Sống"
(Gioan 11:25)




Tái Sinh Thần Linh


Phụng Vụ Lời Chúa Tuần II Phục Sinh


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL



Nếu "Thày là sự sống lại và là sự sống" (Gioan 11:25) là chủ đề chính yếu của toàn Mùa Phục Sinh, trong đó, chủ đề "Thày là sự sống lại" cho nguyên Tuần Bát Nhật Phục Sinh là thời điểm 8 ngày có các bài Phúc Âm được Giáo Hội cố ý chọn đọc hoàn toàn liên quan đến các lần Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra mà thôi, thì chủ đề "Thày là sự sống" là chủ đề cho những ngày còn lại của Mùa Phục Sinh, bao gồm cả Chúa Nhật lẫn ngày trong tuần.
Vậy chủ đề "Thày là sự sống" ở Phụng Vụ Lời Chúa cho các ngày trong tuần lễ thứ hai của Mùa Phục Sinh như thế nào? Ngày Chúa Nhật đầu của tuần lễ thứ hai này, Ngày Chúa Nhật Lễ Lòng Thương Xót Chúa, ngày cuối cùng của Tuần Bát Nhật, thuộc về chính Tuần Bát Nhật, đồng thời cũng là thời điểm mở đầu cho phần thứ hai của Mùa Phục Sinh theo chủ đề "Thày là sự sống". Vì ngay ở bài Phúc Âm Chúa Nhật II Phục Sinh, ngày cuối cùng của Tuần Bát Nhật Phục Sinh, chúng ta thấy "sự sống" ở cả nơi Chúa Kitô tỏ mình ra cho riêng tông đồ Toma lẫn ở nơi đức tin của tông đồ Toma đặt ở nơi Người.

Thật vậy, trong 6 tuần lễ còn lại của Mùa Phục Sinh, sau Tuần Bát Nhật Phục Sinh, các bài Phúc Âm, bao gồm cả Chúa Nhật lẫn ngày thường, từ Thứ Hai đến hết Thứ Bảy, đều chất chứa một
 nội dung duy nhất: "Thày là sự sống". Một điều cần lưu ý là nguyên việc Giáo Hội chọn đọc cho cả Mùa Phục Sinh suốt 7 tuần lễ, tức bao gồm cả Tuần Bát Nhật Phục Sinh, hai cuốn sách Thánh Kinh Tân Ước là Phúc Âm của Thánh Ký Gioan và Sách Tông Vụ đã đủ cho thấy hiển nhiên về chủ đề "sự sống" rồi vậy.

Bởi vì, "sự sống" đây là sự sống thần linh, sự sống xuất phát từ Chúa Kitô Vượt Qua, đồng thời cũng là sự sống cần phải được chấp nhận bằng lòng tin tưởng vào Người. Thế nên, cho dù trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Phụng Vụ Lời Chúa theo chiều hướng "Thày là sự sống lại", bởi các Bài Phúc Âm trong suốt tuần lễ đầu tiên này của Mùa Phục Sinh đều tường thuật lại từng lần Chúa Kitô hiện ra với các tông đồ hay các môn đệ để chứng tỏ Người đã phục sinh từ trong cõi chết, ý nghĩa chính yếu vẫn là "sự sống". Vì tự việc Chúa Kitô sống lại từ trong cõi chết tỏ mình ra "là sự sống lại", qua những lần Người hiện ra, là để các môn đệ nói chung, nhất là các tông đồ nói riêng, tin vào Người mà được sự sống.

Sách Tông Vụ là cuốn sách trong bộ Thánh Kinh Tân Ước thuật lại sứ vụ, hoạt động và tiến trình truyền giáo của Giáo Hội sơ khai, bắt đầu từ biến cố Thánh Thần Hiện Xuống trong Ngày Lễ Ngũ Tuần, Đấng ban sự sống, qua Giáo Hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô, trước hết và trên hết bằng chứng từ của Giáo Hội về Chúa Kitô, cho dù có kèm theo việc rao giảng Phúc Âm cho lương dân. Ơn gọi, sứ vụ và công cuộc truyền giáo của Giáo Hội là để mang lại cho nhân loại sự sống đời đời, qua việc họ nhận biết Chúa Kitô, nơi lời rao giảng và chứng từ yêu thương của Kitô hữu.

Phúc Âm của Thánh ký Gioan là cuốn phúc âm về sự sống, vì cốt lõi của phúc âm này đó là "sự sống chiếu sáng con người" (Gioan 1:4), như chính Chúa Kitô là "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), là chính "sự sống" đã khẳng định: "Tôi là ánh sáng thế gian, ai theo Tôi sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ được ánh sáng sự sống" (Gioan 8:12). Để thông ban sự sống đời đời cho nhân loại nói chung và cho những ai tn vào Người nói riêng, Chúa Kitô Phục Sinh đã sử dụng những phương tiện để thông ban, được gọi là bí tích, trước hết và trên hết đó là chính Mình Thánh Máu Thánh của Người.

Và Người ví Người như nguồn sống của nhân loại nói chung và Kitô hữu nói riêng. Bởi thế mà, trong Mùa Phục Sinh, chúng ta sẽ nghe thấy càc bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan (nhất là trong ngày trong tuần) về sự sống, trước hết liên quan đến việc tái sinh, hay đến Bánh Sự Sống, hoặc đến vị mục tử nhân lành hiến mạng sống mình vì chiên cho chiên được sự sống, hay đến cây nho thông nhựa sống cho cành nho để cành nho sinh hoa trái, hoặc đến đức bác ái yêu thương là hồn sống cho tình trạng hiệp nhất nên một, hay chính Thánh Linh là Đấng ban sự sống. Phụng Vụ Lời Chúa Mùa Phục Sinh sau Tuần Bát Nhật Phục Sinh.

 

 

Ngày 11/4: Thánh Stanislao (St. Stanislaus), giám mục tử đạo

 

11 Tháng Tư Thánh Stanislaus (1030-1079) – HUYNH ĐOÀN GIÁO DÂN ĐA MINH

 

I. ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ

Thánh Stanislaô sinh năm 1030, gần thành phố Cracow, nước Ba Lan. Để sinh hạ Stanislaô, song thân ngài đã phải liên lỉ cầu nguyện suốt ba mươi năm trời. Lúc Stanislaô chào đời, song thân đã khấn dâng ngài cho Thiên Chúa vì họ rất biết ơn có được mụn con. Khi lớn lên, Stanislaô sang học ở Paris, nước Pháp. Sau khi song thân qua đời, Stanislaô đem cho người nghèo tất cả tiền bạc và của cải mà song thân để lại cho ngài. Sau đó, Stanislaô làm linh mục.

Năm 1072, Stanislaô được bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Cracow. (Sau này, trước khi được bầu làm giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II cũng là Giám mục của Giáo phận Cracow này.) Giám mục Stanislaô chiếm được tình cảm của mọi người. Họ hết sức cảm kích trước cách thức ngài quan tâm chăm sóc những người nghèo, những quả phụ và các trẻ mồ côi. Chính Stanislaô thường hay tiếp đãi phục vụ họ.

 

Lúc ấy, Bôlêlô II làm vua nước Ba Lan. Nhà vua là người rất độc ác và sống vô luân. Dân chúng chán ghét lối sống của vua và ghê sợ nhà vua. Thoạt đầu, Giám mục Stanislaô sửa lỗi cho nhà vua cách tư riêng. Tuy Stanislaô rất tử tế và lịch duyệt, nhưng ngài cũng nhận định hết sức trung thực về việc làm sai trái của nhà vua. Vua có vẻ hối hận nhưng chẳng bao lâu lại chứng nào lại tật nấy. Thậm chí vua đã sai phạm những tội còn quái ác hơn! Chính vì thế mà Giám mục đành phải loại vua ra khỏi Giáo hội. Vua Bôlêlô liền nổi cơn thịnh nộ. Để trả thù, nhà vua truyền lệnh cho hai trong số những cận vệ của mình đến giết hại thánh Stanislaô. Họ đã cố gắng đến ba lần nhưng đều thất bại. Rồi chính nhà vua, trong một cơn cuồng giận, đã chạy vào nguyện đường của thánh Giám mục. Vua đã giết chết thánh Stanislaô khi ngài đang dâng thánh lễ. Hôm đó là ngày 11 tháng Tư năm 1079.

Chưa đã thỏa lòng giận dữ , ông còn chặt xác ngài thành ra thành nhiều khúc rồi vứt ra ngoài đồng cho chim trời rúc rỉa. Nhưng bốn ngày sau, trên trời chỉ có bốn cánh phượng hoàng bay lượn ngăn cản tất cả không cho bất cứ con vật nào xâm phạm tới các thánh

Bấy giờ vua Bôlêlô mới tỉnh ngộ và hối lỗi. Ông cho tổ chức lễ an táng thánh Stanislaô rất trọng thể. Xác thánh được liền lại như mới qua đời vì bệnh tật và được chôn cất tại nhà thờ Chính tòa Krakow.

Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ sau khi thánh Stanislaô qua đời. Mọi người đều gọi Stanislaô là vị thánh tử đạo. Năm 1253, Đức Thánh Cha Innôcentê IV đã tôn Stanislaô lên bậc hiển thánh.

II. BÀI HỌC.

Bài học chúng ta có thể học nơi thánh Stanislaô là lòng can đảm khi phải đương đầu với những khó khăn theo sứ mạng của mình.

Nếu thánh Gioan Tẩy Giả ngày xưa đã vì sứ mạng mà dám công khai lên án việc làm sai trái của vua Hêrôđê để rồi phải nhận lấy cái chết đau khổ trong ngục tù thì thánh Stanislaô chúng ta mừng kính hôm nay cũng vậy. Vì là Giám Mục nên ngài có bổn phận phải bảo vệ và gìn giữ sự trong sáng và thánh thiện của Giáo hội. Chính vì thế mà ngài không thể làm ngơ trước những việc làm tồi tệ của vua Bôlêlô lúc đó. Mặc dù ngài biết hậu quả của việc ngài phải làm sẽ như thế nào. Lịch sử còn ghi lại: Giám mục Stanislaô đã phải nhận lấy cái chết còn đau khổ hơn nhiều, Thế nhưng đó là cái chết vì bổn phận, vì sứ mạng tông đồ của Chúa Giêsu đúng như lời Chúa đã nói tiên tri thuở trước.”Bấy giờ, người ta sẽ nộp anh em, khiến anh em phải khốn quẫn, và người ta sẽ giết anh em; anh em sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Thầy” (Mt 24, 9).

Quả thực thánh Stanislaô đã đạt tới vinh quang bằng con đường mà ai trong chúng ta cũng có thể noi theo. Đó là con đường nên thánh bằng cách chu toàn bổn phận Chúa trao phó. Mỗi người chúng ta sinh ra vào đời đều được Chúa trao cho một sứ mệnh phải hoàn thành. Hoàn thành được sứ mạng Chúa trao tức là chúng ta đã làm trọn thánh ý Chúa. Và đó chính là con đường nên thánh hoàn hảo nhật.

Làm bất cứ bổn phận nào cũng có thể nên thánh

*Tác giá ĐHV nói:”Việc nhỏ, lòng nhỏ; việc lớn; lòng lớn; việc lớn, lòng nhỏ; việc nhỏ, lòng lớn. Con hãy thực hành cách sau hết: Trung tín trong việc lớn; để trung tín trong việc nhỏ, khó. Chúa khen kẻ thực hành cách sau này. (ĐHV 807)

* Không có công việc nào hèn hạ chỉ có tâm hồn hèn hạ. (ĐHV 811)

Thánh Bonaventura (1221-1274) trước khi làm Hồng Y coi sóc Giáo phận, đã làm Bề Trên Cả điều khiển Dòng Phanxicô. Ngài có tiếng là rất thông minh xuất chúng, viết nên nhiều tác phẩm lừng danh, trong đó có cuốn (Commentaire sur les quatres livres des sentences) và nhiều tác phẩm thần học rất có giá trị.

Một hôm, thầy nấu bếp xin gặp ngài với nét mặt thật thê lương ảm đạm, thầy trình bày:

- Thưa cha, mấy lâu nay con buồn quá nhưng vẫn cứ ấp ủ mãi trong lòng. Đến hôm nay, con mới bạo dạn xin phép gặp cha để nhờ cha giải quyết nỗi lo âu cho con.

- Cha sẵn sàng giúp con, con cứ tự nhiên trình bày mọi chuyện.

- Thưa cha, con trộm nghĩ: thông thái thời danh như cha thì thật là hạnh phúc. Vì nhờ đó cha có thể yêu mến Chúa, phụng sự Chúa, và sau lên thiên đàng dễ dàng hơn, ngồi gần Chúa hơn! ... Nghĩ lại phận con là một tên đầu bếp rất hèn, con cảm thấy quá buồn tủi! Không biết rồi đây có được lên thiên đàng không, thấy được sự vinh hiển Chúa không, có gần gũi Chúa như cha được không!

- Ồ, con đừng nghĩ thế! Chúa chẳng bao giờ đòi hỏi sự thông thái thời danh cả. Chúa chỉ sợ con không mến Chúa trong các công việc bổn phận tầm thường hằng ngày của con thôi?

- Vậy dốt như con cũng có thể yêu mến Chúa như cha Bề Trên Cả sao?

- Đúng thế!

- Mấy bà ngoại chợ cũng thế à?

- Dĩ nhiên rồi! Miễn là mấy bà dâng cho Chúa mọi công việc!

Nghe đến đây thầy đầu bếp chẳng còn đè nén được niềm phấn khởi. Không kịp chào Bề Trên Cả, thầy vội chạy ra khỏi phòng, leo lên thành, nhảy xuống đường, chạy đến phố chợ và la lên: “Anh chị em ơi! Các bà bán hàng ngoài chợ ơi! Tôi báo cho anh chị em một tin rất vui mừng, anh chị em có thể nên thánh bằng cha Bề Trên Cả của chúng tôi được”.

Thầy vừa chạy vừa la lớn tiếng như điên, quanh cả phố chợ. Người ta thật khó mà nhận ra thầy vì thầy chạy quá nhanh, nhưng giọng nói của thầy thì ai cũng nghe: “Cứ làm bổn phận tầm thường vì mến Chúa thì sẽ nên thánh cả. Chính cha Bonaventura mới cho tôi biết! mừng quá? Vui quá!’

https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-11-04-thanh-sta-nit-la-o-giam-muctu-dao-1030-1079-40240


Thánh Stanislaô được kính nhớ như vị Thánh bảo trợ thành Krakow ở Balan, nơi ngài làm Giám mục và hài cốt ngài được lưu giữ ở nhà thờ chính tòa. Không có tường thuật đương thời nào về ngài được coi là đầy đủ và các chi tiết về đời ngài cũng không rõ rệt lắm. Người ta kể rằng : cha mẹ ngài thuộc dòng dõi quí phái, nhưng lại hiếm muộn về đàng con cái. Sau nhiều lời cầu nguyện khẩn thiết, ngày 26 tháng 07 năm 1030, họ sinh được một người con trai và đặt tên là Stanislaô. Họ chú tâm đào luyện con mình theo những tập quán đạo hạnh khiến Stanislaô, từ nhỏ đã tỏ ra có tinh thần bác ái và nhiệt hành phụng sự Chúa.
 
Trong bầu khí đạo đức ấy, từ thuở nhỏ Stanislaô đã nghe rõ tiếng Chúa kêu gọi đi làm tông đồ Chúa. Trước hết ngài đã theo học Đại học tại triết học tại Đại học Gniezno. Sau đó ngài sang Paris theo học Luật và thần học ở tu viện Lorrain trong bảy năm trời. Khi cha mẹ qua đời, ngài phải trở về Balan.
 
Được thừa hưởng gia tài lớn cha mẹ để lại, nhưng thánh nhân đã quyết chí hiến thân phụng sự Chúa vì vậy ngài đã đem của cải phân phát cho người nghèo khó rồi tiếp tục theo đưổi lý tưởng tu trì. Đức Giám mục Lampert đã phong chức Linh mục cho Stanislaô, năm 1062 và đặt làm Kinh sĩ tại nhà thờ chánh tòa địa phận.
 
Giữ chức vụ kinh sĩ, Stanislaô đã trở nên lừng danh về tài thuyết giảng và về chính đời sống gương mẫu thánh thiện của ngài. Đức cha Lambert, toàn thể giáo sĩ và giáo dân đã bầu Stanislaô lên kế vị. Vì khiêm tốn, thánh nhân quyết không chịu nhận. Nhưng năm 1072, vâng lời Đức Thánh Cha Alexandre II, Stanislaô đã nhận làm Giám mục Krakow.
Đức cha Stanislaô là một Giám mục thánh thiện và nhân hậu nhất là đối với những ai đau khổ và nghèo đói. Tuy nhiên, ngài cũng tỏ ra là người can đảm đặc biệt. Vua Balan lúc ấy là Bôleslas II. Ông ta đã dùng sức mạnh khí giới để đạt tới vinh quang nhưng lại chịu bị khuất phục trước những tật xấu khủng khiếp. Hành vi độc ác của ông đã khiến cho người ta gọi ông là "kẻ độc ác". Cả nước đều phải run sợ nhưng không ai dám mở lời can ngăn. Chỉ có một người, một vị thánh là Stanislaô đã dám đương đâu với sự giận dữ của nhà vua.
 
Sau khi cầu nguyện với tất cả tâm hồn, thánh nhân đến gặp nhà vua. Khiêm tốn nhưng đầy cương quyết, thánh nhân quyết định nói với ông ta tất cả những gì phải nói, ngài trình bày cho nhà vua thấy trước những tội ác tày trời, gương mù trong vương quốc mà nhà vua gây nên, ngài cũng nói cho nhà vua rõ những phán xét Thiên Chúa đang chờ đón. Vừa nghe, Bôleslas đã tỏ ra hối hận. Nhưng thật đáng tiếc vì đây chỉ là một tình cảm chóng qua, Bôleslas lại trở nên man rợ như trước và còn thêm một tội ghen ghét vào những ác độc của ông.
 
Sau này, vua đã cướp vợ của một nhà quí phái để nhốt trong hoàng cung. Cơn giận lan ra khắp tỉnh nhưng dân chúng run sợ không ai dám mở miệng, thánh Stanislaô một lần nữa can đảm đến gặp Boleslas, cố gắng đưa ông trở về với những tình cảm chân chính. Ngài đe dọa, nếu còn cố chấp, nhà vua sẽ bị tuyệt thông. Run lên vì tức giận, nhà vua tìm kế sát hại thánh nhân.
 
Bôleslas biết Đức Cha có mua một thuở đất để xây cất nhà thờ mà chỉ trao tiền trước mặt nhiều chứng nhân mà không làm chứng từ. Khi chủ nhân cũ qua đời, ông đe dọa các chứng nhân để họ phản chứng rồi tố giác Đức Giám mục ra tòa. Mưu độc của ông bị thất bại. Vì sau ba ngày cầu nguyện thánh Stanislaô đã truyền đào mồ người chết và kêu ông dậy làm chứng sự thật.
 
Dầu vậy, Bôleslas vẫn không thay lòng đổi dạ đối với vị Giám mục gan dạ Stanislaô. Ngày 08 tháng 5 năm 1079, khi thánh Stanislaô đang dâng thánh lễ tại thánh đường thánh Micae. Ông sai người đến sát hại thánh nhân. Cả ba nhóm binh sĩ lần lượt đến mà không hoàn thành được lệnh truyền, khiến chính nhà vua phải ra tay. Ông xông vào nhà thờ chém giết vị Giám mục tại bàn thờ. Chưa đã thoả lòng giận dữ , ông còn chặt xác ngài thành ra làm nhiều khúc rồi vứt ra ngoài đồng cho chim trời rúc rỉa. Nhưng bốn ngày sau, trên trời chỉ có bốn cánh phượng hoàng bay lượn ngăn cản tất cả không cho bất cứ con vật nào xâm phạm tới xác thánh.
 
Bấy giờ Boleslas mới tỉnh ngộ và hối lỗi. Ông cho tổ chức lễ an táng thánh Stanislaô rất trọng thể. Xác thánh liền lại như mới qua đời vì bệnh tật và được chôn cất tại nhà thờ Chính tòa Krakow.
 
Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý - Theo Vết Chân Người

https://giaophanphucuong.org/phung-vu-chu-thanh/thanh-stanislao---giam-muc-tu-dao-1030---1079-1158.html

 

Bất cứ ai đọc lịch sử Ðông Âu đều phải biết đến tên Stanislao, vị Giám mục thánh thiện nhưng bi thương của Giáo phận Krakow. Cùng với các thánh Tôma More và Tôma Becket, ngài thường được nhớ đến vì sự chống đối quyết liệt của ngài đối với một chính phủ hung bạo và bất chính thời ấy. 

Thánh Stanislaô được kính nhớ như vị thánh bảo trợ thành Krakow ở Ba Lan, nơi ngài làm giám mục và hài cốt ngài được lưu giữ ở nhà thờ chính tòa. Không có tường thuật đương thời nào về ngài được coi là đầy đủ và các chi tiết về đời ngài cũng không rõ rệt lắm. Người ta kể rằng: Cha mẹ ngài thuộc dòng dõi quí phái, nhưng lại hiếm muộn về đàng con cái. Sau nhiều lời cầu nguyện khẩn thiết, ngày 26 tháng 07 năm 1030, họ sinh được một người con trai và đặt tên là Stanislao. Họ chú tâm đào luyện con mình theo những tập quán đạo hạnh khiến Stanislao, từ nhỏ đã tỏ ra có tinh thần bác ái và nhiệt thành phụng sự Chúa.

Trong bầu khí đạo đức ấy, từ thuở nhỏ Stanislao đã nghe rõ tiếng Chúa kêu gọi đi làm Tông đồ Chúa. Trước hết Ngài đã theo học  triết học tại Đại học Gniezno. Sau đó Ngài sang Paris theo học Luật và Thần học ở tu viện Lorranin trong bảy năm trời. Khi cha mẹ qua đời, Ngài phải trở về Ba Lan.

Được thừa hưởng gia tài lớn cha mẹ để lại, nhưng thánh nhân đã quyết chí hiến thân phụng sự Chúa vì vậy Ngài đã đem của cải phân phát cho người nghèo khó rồi tiếp tục theo đuổi lý tưởng tu trì. Đức Giám mục Lampert đã phong chức linh mục cho Stanislao, năm 1062 và đặt làm Kinh sĩ tại nhà thờ chánh tòa địa phận.

Giữ chức vụ Kinh sĩ, Stanislao đã trở nên lừng danh về tài thuyết giảng và về chính đời sống gương mẫu thánh thiện của Ngài. Đức cha Lambert, toàn thể giáo sĩ và giáo dân đã bầu Stanislao lên kế vị. Vì khiêm tốn, thánh nhân quyết không chịu nhận. Nhưng năm 1072, vâng lời Đức Thánh Cha Alexandre II, Stanislao đã nhận làm Giám mục Krakow.

Đức cha Stanislao là một Giám mục thánh thiện và nhân hậu, nhất là đối với những ai đau khổ và nghèo đói. Những việc hoàn thành lớn lao của Đức Giám mục Stanislao bao gồm việc đem các vị Khâm sứ Tòa thánh tới Ba Lan, việc tái lập tòa Tổng Giám mục tại Gniezno. Việc tái lập này được thực hiện theo một thỏa ước là việc đội vương niệm cho quận vương Boleslaus lên ngôi vua Ba Lan, và được thực hiện vào năm 1076. Đức Giám mục Stanislao khích lệ vua Boleslaus thiết lập các đan viện Biển Đức để giúp phát triển việc Kitô giáo hóa nước Ba Lan.

Cuộc đối đầu với vua Boleslaus khởi sự với chuyện tranh dành đất đai. Đức Giám mục Stanislao có mua cho địa phận một mảnh đất bên bờ sông Vistula gần Lublin từ một người có tên là Phêrô (Piotr), nhưng khi ông này chết, thì con cái đòi lại mảnh đất đó. Nhà vua đã phán quyết cho gia đình của ông Phêrô này thắng kiện. Nhưng thánh Stanislau đã xin một thời gian ba ngày để ngài kháng án. Ngài đã cầu nguyện, và tới ngày thứ ba, thì cho ông Phêrô kia được sống lại để làm chứng cho việc mua đất là sự thật, và nhà vua đã bãi bỏ vụ kháng cáo chống lại tòa Giám mục đó.

Trong cuộc viễn chinh chống với đại đế Duchy của Kiev (nước Ucraina), Ðức Stanislao bị dính líu đến tình hình chính trị ở Ba Lan. Nổi tiếng là người thẳng thắn, ngài tấn công những hành động xấu xa của vua và người dân, nhất là các cuộc chiến bất chính cũng như các hành động vô luân của vua Boleslaus II vì ông đã cướp vợ của một nhà quý tộc.

Lúc đầu nhà vua tự ý xin lỗi và bày tỏ sự ăn năn sám hối, nhưng sau đó lại trở về con đường cũ. Ðức Stanislao tiếp tục công khai chống đối bất kể những hăm dọa về tội phản quốc và tử hình. Sau cùng ngài đã ra vạ tuyệt thông nhà vua và từ chối cử hành Thánh lễ mỗi khi có sự hiện diện của ông. Ðiên lên vì tức giận, nhà vua ra lệnh quân lính hạ sát vị Giám mục. Khi binh lính từ chối không tuân phục, chính tay ông đã giết Ðức Stanislao trong khi ngài cử hành Thánh lễ trong một nhà thờ ở ngoại ô thành phố. Sau đó thân thể của ngài bị chặt ra thành từng mảng và ném xuống ao ở phía ngoài nhà thờ. Nhưng bốn ngày sau, trên trời chỉ có bốn cánh phượng hoàng bay lượn ngăn cản tất cả không cho bất cứ con vật nào xâm phạm tới xác Thánh.

Bấy giờ Boleslas mới tỉnh ngộ và hối lỗi. Ông cho tổ chức lễ an táng thánh Stanislao rất trọng thể. Xác Thánh liền lại như mới qua đời vì bệnh tật và được chôn cất tại nhà thờ Chánh tòa Krakow.

Cuộc giết thánh Stanislao đã khuấy động lên sự phẫn nộ của dân chúng khắp đất Ba Lan và dẫn tới việc vua Boleslaus phải thoái vị khỏi ngai vàng, và đi sang nương náu tại nước Hung Gia Lợi, để cho em vua là Wadyslaw kế vị ông.

Ðức Stanislao là biểu hiệu của tinh thần dân tộc Ba Lan. Ngài được Ðức Giáo Hoàng Innôcentê IV phong Thánh năm 1253 và được đặt làm Quan thầy chính thức của Krakow.

 Lời bàn

Thánh Gioan Tẩy Giả, Tôma Becket, Tôma More và Stanislao là một vài ngôn sứ dám tố giác sự thối nát của những người có địa vị. Các ngài đã theo chân Ðức Giêsu Kitô, là người vạch ra sự sa đọa luân lý của các nhà lãnh đạo tôn giáo thời ấy. Ðó là một công việc đầy nguy hiểm đòi hỏi sự can đảm sống chứng nhân cho Tin Mừng.

Lm. Đaminh Phạm Xuân Uyển SDB

http://loichua.donboscoviet.org/ngay-11-thang-4-thanh-stanislao-giam-muc/

 

Thánh Phaolô đã viết cho Timôtêô như thế này: ”Nếu ta cùng chết với Đức Kitô, Ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người”

( 2Tm 2, 11-12 ). Thánh Stanislao đã kiên quyết cảnh cáo và khuyến dụ những con người phản nghịch, tội lỗi. Ngài đã xứng lãnh nhận triều thiên công chính.

THÁNH STANISLAO, NGƯỜI LÀ AI ?

Thánh Stanislao sinh tại miền Cracovie nước Balan ngày 26 tháng 7 năm 1030 trong một gia đình giầu sang, phú quí. Thánh nhân là con trai duy nhất trong gia đình quyền quí, giầu sang, nhưng Ngài không ham mê của cải, không màng danh vọng, chức quyền, ngay từ nhỏ, từ lúc thiếu thời, Ngài đã tỏ ra là người đầy là nhân ái và giầu lòng thương xót. Ngay từ lúc còn nhỏ, Ngài đã nhận ra tiếng Chúa gọi mời, Ngài bỏ mọi sự và đi theo tiếng mời gọi của Chúa, thánh nhân học triết và thần học, rồi lãnh nhận sứ vụ linh mục. Thánh nhân được cất nhắc lên bậc kinh sĩ, vị linh mục mới đã nổi tiếng về đời sống thánh thiện, tài đức, được nhiều người khen ngợi và biết tiếng. Thánh nhân dù rất nổi tiếng, nhưng lúc nào Ngài cũng khiêm nhượng, âm thầm và sống nhiệt thành với sứ vụ, với công việc được trao phó và sống hết sức bác ái với mọi người. Thánh nhân luôn nghiên cứu Thánh Kinh, tham khảo các giáo phụ và thần học. Vì sự khiêm nhượng và tài lãnh đạo, lòng nhân ái của Ngài, khi Đức giám mục giáo phận qua đời, Ngài đã được đề cử lên lãnh trách nhiệm giám mục cai quản địa phận vào năm 1072. Thánh nhân sống đời sống thánh thiện, đạo đức, Ngài ăn chay, đánh tội, bố thí hàng ngày và đi thăm những người đau ốm. Thánh nhân rất hiền lành, nhưng lại rất cương quyết chống lại, khuyến cáo và răn đe những người tội lỗi. Thánh nhân can đảm, mạnh dạn lên tiếng phản đối và tố cáo bạo vương Boleslas. Bị động tới lòng tự ái và nhỏ nhen, ích kỷ, bạo vương Boleslas đã xông tới bàn thờ chém đầu thánh nhân lúc thánh nhân đang cử hành thánh lễ. Bạo vương ra lệnh phân thây xác Ngài và truyền ném xác cho muông thú ăn thịt, nhưng không một con thú nào dám động đến xác thánh của Ngài. Trước việc kỳ diệu, lạ lùng ấy, bạo vương đã thống hối ăn năn, trở về và ngày tang lễ của thánh nhân trở thành ngày vui mừng, hân hoan.

GIÁO HỘI TUYÊN DƯƠNG THÁNH NHÂN

Vì lòng bác ái, những nhân đức siêu vời và những gương sáng thánh nhân để lại, nhất là việc lạ lùng Chúa làm nơi thân xác thánh nhân. Đức Thánh Cha Innocentê IV vào ngày 17 tháng 9 năm 1253  đã phong hiển thánh cho Ngài.

Lạy Chúa, để làm vinh danh Chúa, thánh giám mục Stanislao đã ngã gục dưới lưỡi gươm những kẻ bách hại mình. Xin cho chúng con cũng được một niềm tin vững mạnh, giúp chúng con trung thành với Chúa suốt cuộc đời chúng con (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Stanislao).

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

http://giaophanthaibinh.org/a7420/Ngay-11-4-Thanh-Stanislao-St-Stanislaus-giam-muc-tu-dao.aspx

https://dcvxuanloc.net/thanh-stanislao-giam-muc-tu-dao-ngay-114/

 

Thánh Stanislaô - Giám mục tử đạo

(Lễ nhớ ngày 11.4)

Thánh Stanislaô (Stanislaus) sinh ra tại Sezepanow, Ba Lan, vào ngày 26.7.1030 trong một gia đình giàu sang, phú quý, nhưng ngài không ham mê của cải, không màng danh vọng, chức quyền. Ngay từ lúc thiếu thời, ngài đã tỏ ra là người đầy nhân ái và giàu lòng thương xót. Sau khi cha mẹ qua đời, ngài phân chia tài sản của mình cho người nghèo, rồi đi theo tiếng mời gọi của Chúa. Thánh nhân học Triết và Thần học. Năm 1062, ngài được Đức cha Lampert, Giám mục giáo phận Krakow phong chức linh mục và đặt làm Kinh sĩ tại nhà thờ chánh tòa địa phận. Năm 1072, ngài lên kế vị Giám mục cai quản giáo phận Krakow. Trong vai trò giám mục, ngài tiến hành viếng thăm mục vụ các họ đạo mỗi năm, đổi mới tinh thần giáo sĩ và giáo dân. Đức Giám mục Stanislaô chiếm được tình cảm của mọi người. Họ hết sức cảm kích cách thức ngài quan tâm chăm sóc những người nghèo, những quả phụ và các trẻ mồ côi.

Thời đó, nước Ba Lan đang dưới quyền cai trị của vua Bôleslas II. Ông này đã bắt cóc một phụ nữ đã có chồng để thỏa mãn dục vọng. Đức Stanislaô đã mạnh dạn tố cáo tội dâm ô đó. Nhà vua nổi cơn thịnh nộ và đe dọa ngài. Đức Giám mục Stanislaô không còn cách nào khác là phải rút phép thông công. Để trả thù, vua truyền lệnh cho hai trong số những cận vệ của mình đến giết hại Đức Giám mục Stanislaô. Họ đã cố gắng đến ba lần nhưng đều thất bại. Rồi chính nhà vua, trong một cơn cuồng giận, đã chạy vào nguyện đường của Đức Giám mục. Vua đã giết chết Giám mục Stanislaô khi ngài đang dâng thánh lễ. Hôm đó là ngày 11.4.1079. Hài cốt ngài được lưu giữ ở nhà thờ chánh tòa Krakow.

Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ sau khi Đức Giám mục Stanislaô qua đời. Mọi người đều gọi Stanislaô là vị Thánh Tử đạo. Ngày 17.9.1253, Đức Thánh Cha Innôcentê IV đã tôn phong Stanislaô lên bậc Hiển thánh. Ngài rất được tôn kính ở Ba Lan.

http://www.cgvdt.vn/lich/thanh-stanislao-giam-muc-tu-dao_a4827

 

Bất cứ ai đọc lịch sử Ðông Âu đều phải biết đến tên Stanislaus, vị giám mục thánh thiện nhưng bi thương của giáo phận Krakow. Cùng với các Thánh Tôma More và Tôma Becket, ngài thường được nhớ đến vì sự chống đối quyết liệt của ngài đối với một chính phủ hung bạo và bất chính thời ấy.

Thánh Stanislaus sinh trong một gia đình quý tộc ở Szczepanow gần Krakow. Ngài theo học các trường Công Giáo ở Gniezno, sau đó ở thủ đô Ba Lan, và ở Balê. Ngài thụ phong linh mục ở Gnesen và được bổ nhiệm làm tổng phó tế và người thuyết giáo của Ðức Giám Mục Krakow, là nơi tài hùng biện và gương mẫu của ngài đã giúp nhiều người thực sự hoán cải đời sống, trong đó có cả hàng giáo sĩ. Ngài trở thành giám mục của Krakow năm 1072.

Trong cuộc viễn chinh chống với Ðại Ðế Duchy của Kiev, Ðức Stanislaus bị dính líu đến tình hình chính trị ở Ba Lan. Nổi tiếng là người thẳng thắn, ngài tấn công những hành động xấu xa của vua và người dân, nhất là các cuộc chiến bất chính cũng như các hành động vô luân của Vua Boleslaus II vì ông đã cướp vợ của một nhà quý tộc.

Lúc đầu nhà vua tự ý xin lỗi và bày tỏ sự ăn năn sám hối, nhưng sau đó lại trở về con đường cũ. Ðức Stanislaus tiếp tục công khai chống đối bất kể những hăm dọa về tội phản quốc và tử hình. Sau cùng ngài đã ra vạ tuyệt thông nhà vua và từ chối cử hành Thánh Lễ mỗi khi có sự hiện diện của ông. Ðiên lên vì tức giận, nhà vua ra lệnh quân lính hạ sát vị giám mục. Khi binh lính từ chối không tuân phục, chính tay ông đã giết Ðức Stanislaus trong khi ngài cử hành Thánh Lễ trong một nhà nguyện ở ngoại ô thành phố.

Ðức Stanislaus là biểu hiệu của tinh thần dân tộc Ba Lan. Ngài được Ðức Giáo Hoàng Innôcentê IV phong thánh năm 1253 và được đặt làm quan thầy chính thức của Krakow.

Lời Bàn: Thánh Gioan Tẩy Giả, Tôma Becket, Tôma More và Stanislaus là một vài ngôn sứ dám tố giác sự thối nát của những người có địa vị. Các ngài đã theo chân Ðức Giêsu Kitô, là người vạch ra sự sa đọa luân lý của các nhà lãnh đạo tôn giáo thời ấy. Ðó là một công việc đầy nguy hiểm đòi hỏi sự can đảm sống chứng nhân cho Tin Mừng.

Lời Trích: "Những người khao khát muốn có quyền bính để có thể áp đặt luật lệ, mệnh lệnh và kiểm soát người khác, thì chính họ là những người sống vô kỷ luật và không kiềm chế" (Thánh Tôma More, Một Ðối Thoại Về Sự Tiện Nghi).

Nguồn: Báo Người Tín Hữu

https://www.longthuongxotchua.org/index.php/tai-lieu/blog/ngay-11-04-thanh-stanislaus-1030-1079

https://sites.google.com/site/guongcacthanh/guong-cac-thanh/thang-4/gt_04-11

 

 

Thứ Hai sau Chúa Nhật II Phục Sinh

 

Bài Ðọc I: Cv 4, 23-31

"Khi họ cầu nguyện xong, thì được đầy Thánh Thần và tin tưởng rao giảng lời Chúa".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, sau khi được phóng thích, Phêrô và Gioan trở về cùng các anh em, và thuật lại cho họ nghe tất cả những điều mà các thượng tế và kỳ lão đã nói. Vừa nghe thuật lại, họ đồng thanh cất tiếng nguyện cùng Thiên Chúa rằng: "Lạy Chúa, Chúa là Ðấng tạo thành trời đất, biển cả và mọi vật trong đó. Nhờ Thánh Thần, Chúa đã dùng miệng tổ phụ chúng con là Ðavít tôi tớ Chúa mà phán: "Tại sao chư dân chấn động, và các nước lại mưu đồ chuyện luống công? Các vua thiên hạ đều nổi dậy, các thủ lãnh toa rập với nhau chống lại Chúa và Ðấng Kitô của Người". Vì quả thật, tại thành Giêrusalem này, Hêrôđê và Phongxiô Philatô đã liên kết với các dân ngoại và dân Israel, mà chống lại tôi tớ thánh của Chúa là Ðức Giêsu, Ðấng Chúa đã xức dầu, để thực hiện những điều mà quyền năng và ý định Chúa đã dự liệu từ trước. Và lạy Chúa, giờ đây, hãy xem họ đang đe doạ, và xin ban cho các tôi tớ Chúa được đầy lòng tin tưởng rao giảng lời Chúa, cùng xin Chúa giơ tay chữa lành các bệnh nhân, làm những dấu lạ, và những việc phi thường nhân danh Thánh Tử của Chúa là Ðức Giêsu".

Khi họ cầu nguyện xong, thì nơi họ đang tập họp liền chuyển động, mọi người được tràn đầy Thánh Thần và tin tưởng rao giảng lời Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 2, 1-3. 4-6. 7-9

Ðáp: Phúc cho tất cả những ai tin tưởng nơi Chúa (c. 13b).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Tại sao chư dân chấn động, và các nước mưu đồ chuyện luống công: các vua mặt đất cùng nổi dậy, và bậc quân vương nhất tề âm mưu phản nghịch Chúa và Ðấng Kitô của Người. Họ nói: "Ðập tan xiềng xích chúng ra, gông cùm chúng, hãy ném cho xa bọn mình". - Ðáp.

2) Ðấng ngự trên thiên đình cười nhạo, Chúa mỉa mai cười chúng. Bấy giờ Người phán bảo chúng trong cơn thịnh nộ, và làm cho chúng rối loạn trong cơn lôi đình: "Nhưng Ta đã đặt vương nhi Ta trên núi Sion, núi thánh của Ta". - Ðáp.

3) Ta sẽ truyền rao thánh chỉ của Chúa: Chúa đã phán bảo cùng Ta: "Con là thái tử của Cha, hôm nay Cha đã sinh thành ra Con. Hãy xin Cha và Cha sẽ cho Con được chư dân làm phần sản nghiệp, và tận cùng cõi đất làm gia tài. Con sẽ cai trị chúng bằng cây gậy sắt, như bình thợ gốm, Con đem nghiền nát chúng ra". - Ðáp.

 

Alleluia: Mt 23, 19 và 20

Alleluia, alleluia! - Các con hãy đi giảng dạy muôn dân: Thầy sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 3, 1-8

"Nếu không tái sinh bởi trời, thì chẳng ai được thấy Nước Chúa".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, trong nhóm biệt phái, có người tên là Nicôđêmô, một đầu mục của người Do-thái. Ông đến thăm Chúa Giêsu ban đêm và thưa rằng: "Lạy Thầy, chúng tôi nhận biết Thầy là một vị tôn sư Thiên Chúa uỷ phái đến. Vì không ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người đó". Chúa Giêsu đáp: "Thật, Tôi bảo thật cho ông biết, nếu không tái sinh bởi trời, thì chẳng ai được thấy Nước Chúa". Nicôđêmô thưa Chúa rằng: "Một người đã già, làm sao có thể tái sinh? Không lẽ người ấy lại vào lòng mẹ mà sinh ra lần nữa sao?" Chúa Giêsu đáp: "Thật, Tôi bảo thật cho ông biết, nếu không tái sinh bởi nước và Thánh Thần, thì không ai được vào nước Thiên Chúa. Sự gì sinh bởi huyết nhục, thì là huyết nhục; và sự gì sinh bởi Thần Linh, thì là thần linh. Ông đừng ngạc nhiên vì nghe Tôi nói rằng: Các ngươi phải tái sinh bởi trời. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy".

Ðó là lời Chúa.






Cảm Nghiệm
Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Hai trong Tuần II Phục Sinh về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện hết sức minh nhiên trong chính bài Phúc Âm qua những lời Chúa Giêsu nói về chính việc tái sinh bởi trời, bởi trên cao với ông Nicôđêmô là một trong các viên chức thuộc Hội Đồng Đầu Mục Do Thái thời bấy giờ, mà điển hình nhất trong số thành phần tái sinh thần linh được bài đọc 1 hôm nay cho thấy đó là chính cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, một cộng đoàn bất khuất trước quyền lực tối tăm đầy đe dọa chết chóc bằng lòng tin tưởng mãnh liệt vào Đấng Phục Sinh quyền năng, một cộng đoàn được Người ở cùng nhờ Thánh Thần ngự xuống trên họ. 

"Thật, Tôi bảo thật cho ông biết, nếu không tái sinh bởi nước và Thánh Thần, thì không ai được vào nước Thiên Chúa. Sự gì sinh bởi huyết nhục, thì là huyết nhục; và sự gì sinh bởi Thần Linh, thì là thần linh. Ông đừng ngạc nhiên vì nghe Tôi nói rằng: Các ngươi phải tái sinh bởi trời. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy".
Trong câu Phúc Âm chính yếu trên đây, chúng ta thấy 4 điểm then chốt về sự kiện tái sinh thần linh sau đây:

1) Tái sinh thần linh: tác nhân - "bởi nước và Thánh Thần". Khi lãnh nhận Phép Rửa, Kitô hữu dự tòng đã thật sự được rửa bởi nước cho sạch nguyên tội (lẫn tư tội nếu là người lớn), và được xức dầu Thánh Linh. Tuy nhiên, "nước và Thánh Thần" ở đây đều có thể hiểu về Thánh Thần: "nước" ám chỉ Thánh Thần được Chúa Kitô Phục Sinh thông cho các tông đồ từ thân xác phục sinh của Người khi Người hiện ra với các vị vào buổi tối ngày thứ nhất trong tuần (xem Gioan 20:22; Gioan 7:37-39); "Thánh Thần" đây là Đấng được Chúa Kitô Thăng Thiên từ Cha sai đến (xem Gioan 15:26; Tông Vụ 1:8, 2:1-4). Như thế, "nước" đây là Thánh Thần được ban cho Kitô hữu dự tòng khi họ lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, và "Thánh Thần" đây là Đấng được ban cho Kitô hữu trưởng thành nơi Bí Tích Thêm Sức để họ có thể làm chứng cho Chúa Kitô.

2) Tái sinh thần linh: mục đích - "được vào nước Thiên Chúa", nghĩa là được Ơn Cứu Độ, được hiệp nhất nên một với Chúa Kitô, được hiệp thông thần linh với Ba Ngôi Chí Thánh là Cha và Con và Thánh Thần, như được thể hiện ở Giáo Hội sơ khai được Thánh ký Luca thuật lại trong Sách Tông Vụ ở Bài Đọc 1 hôm nay: "'Lạy Chúa, giờ đây, hãy xem họ đang đe doạ, và xin ban cho các tôi tớ Chúa được đầy lòng tin tưởng rao giảng lời Chúa, cùng xin Chúa giơ tay chữa lành các bệnh nhân, làm những dấu lạ, và những việc phi thường nhân danh Thánh Tử của Chúa là Ðức Giêsu'. Khi họ cầu nguyện xong, thì nơi họ đang tập họp liền chuyển động, mọi người được tràn đầy Thánh Thần và tin tưởng rao giảng lời Thiên Chúa".

3) Tái sinh thần linh: lý do - "sự gì sinh bởi huyết nhục, thì là huyết nhục; và sự gì sinh bởi Thần Linh, thì là thần linh". Nghĩa là tự bản chất và khuynh hướng của mình, con người chỉ sống theo bản tính tự nhiên trần tục của mình, bởi họ "sinh bởi máu huyết, bởi ước muốn nhục dục, bởi ý muốn con người" (Gioan 1:13) hèn hạ tội lỗi, nên chỉ hướng hạ và sa ngã phạm tội mà thôi, nếu họ không được cứu độ, được giải thoát để có thể "tôn thờ Thiên Chúa là thần linh trong tinh thần và chân lý" (Gioan 4:24), để có thể sống xứng đáng với "quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12), một cách tự do, theo các tác động thần linh, "như gió muốn thổi đâu thì thổi", được chính Chúa Kitô  khẳng định cuối bài Phúc Âm hôm nay.

4) Tái sinh thần linh: tác dụng - "Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy" (Bài Phúc Âm ngày mai). Vì việc tái sinh thần linh là hoa trái của Mầu Nhiệm Vượt Qua, ở chỗ, nhờ quyền năng phục sinh của Chúa Kitô toàn thắng tội lỗi và sự chết nhờ Thánh Thần của mình mà ai tin vào Người, nên một với Người chắc chắn sẽ được Người biến đổi, đến độ có thể làm được những gì xác thịt của họ vốn hướng hạ theo chiều hướng dân ngoại lăng loàn không thể nào làm được (xem Marco 16:16-18). Bởi thế, chính tình trạng mỗi ngày được biến đổi sau khi được tái sinh thần linh mà Kitô hữu thật sự đang sống trong thời điểm cánh chung, một thời điểm cánh chung được thể hiện ngay nơi thân xác của họ mỗi ngày được trở nên giống như thân xác vinh hiển của Chúa Kitô (xem Philiphê 3:21). Nhờ tái sinh Kitô hữu sống đức tin đã và đang thực sự được biến đổi, nghĩa là được phục sinh ngay khi còn sống trong chính thân xác của mình.

Ngoài ra, còn những chi tiết trong bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến nhân vật Nicôđêmô nữa, về thời điểm nhân vật này đến gặp Chúa Kitô và về chức phận biệt phái đầu mục của ông:

1- Về thời điểm nhân vật Nicôđêmô đến gặp Chúa Kitô - về ban đêm: Thời điểm đêm nay có thể hiểu được mấy ý nghĩa khác nhau: trước hết đêm tối ở đây ám chỉ nỗi sợ hãi của nhân vật này không muốn cho thành phần trong Hội Đồng Đầu Mục Do Thái của ông biết được ông đang làm một việc bất khả chấp đối với họ, nghĩa là việc trực tiếp tỏ ra kính phục và mến phục một nhân vật tầm thường xuất thân từ Nazarét là nơi chẳng có tiếng tăm gì v.v. Sau nữa, đêm tối ở đây cũng có nghĩa là tình trạng mù mờ của ông, một nhà thông luật của Do Thái giáo, về giáo huấn mới mẻ nhưng đầy thu hút của Chúa Giêsu, "ánh sáng thật đã đến trong thế gian" (Gioan 1:12) "ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12), một giáo huấn ông mới lờ mờ cảm nhận, cần phải được làm cho sáng tỏ. Sau hết, đêm tối ở đây còn bao gồm ý nghĩa về tình trạng chung nhân loại đang sống trong sự chết của tội lỗi, xuất phát từ nguyên tội, một cái chết bởi sống theo xác thịt, và vì thế nhân loại cần phải được tái sinh bởi trời, bởi nước và Thánh Linh.

2- Về chức phận của nhân vật Nicôđêmô - một biệt phái đầu mục: Nhân vật Nicôđêmô chẳng những là một biệt phái là thành phần giữ luật, thông luật và dạy luật, mà còn là một đầu mục có quyền hành quản trị tôn giáo của dân Do Thái nữa. Thế nhưng, nhờ thiện chí chân thành của ông trong việc tìm đến với Chúa Kitô, ông lại không thuộc về thành phần khôn ngoan thông thái bị Cha trên trời dấu những mầu nhiệm chỉ tỏ cho những kẻ bé mọn (xem Mathêu 11:25). Tuy nhiên, dù ông rất thích hợp với vai trò làm môn đệ tông đồ của Chúa Kitô, Người cũng không gọi ông như Người đã kêu gọi các tông đồ khác, chẳng những vì ông đang là một đầu mục của dân Do Thái bấy giờ, mà còn Người chỉ muốn thành phần tầm thường thôi, nhờ đó Người tỏ mình ra qua họ cho thế gian một cách hiển nhiên hơn, còn chính nhân vật Nicôđêmô thì sau khi được gặp Người và nghe thấy những gì chính yếu để được tái sinh, trở thành nhân chứng của Người ngay trong Hội Đồng Đầu Mục Do Thái của ông, như chúng ta đã thấy sau này khi ông tỏ ra bênh vực Người vậy (xem Gioan 7:50-51).



                                                                                                           

Thứ Ba sau Chúa Nhật II Phục Sinh

 

Bài Ðọc I: Cv 4, 32-37

"Họ một lòng một ý với nhau".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Bấy giờ tất cả đoàn tín hữu đông đảo đều đồng tâm nhất trí. Chẳng ai kể của gì mình có là của riêng, song để mọi sự làm của chung. Các tông đồ dùng quyền năng cao cả mà làm chứng việc Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta sống lại. Hết thảy đều được mến chuộng. Vì thế, trong các tín hữu, không có ai phải túng thiếu. Vì những người có ruộng nương nhà cửa đều bán đi và bán được bao nhiêu tiền thì đem đặt dưới chân các tông đồ. Và người ta phân phát cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu của họ. Ông Giuse, người mà các tông đồ đặt tên là Barnabê (nghĩa là con sự an ủi), một thầy tư tế, quê ở Cyprô, có một thửa ruộng, ông bán đi và đem tiền đặt dưới chân các tông đồ.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 92, 1ab. 1c-2. 5

Ðáp: Chúa làm vua, Ngài đã mặc thiên oai (c. 1a).

Xướng: 1) Chúa làm vua, Ngài đã mặc thiên oai. Chúa đã vận uy quyền, Ngài đã thắt long đai. - Ðáp.

2) Và Ngài giữ vững địa cầu, nó sẽ không còn lung lay. Ngai báu của Ngài thiết lập từ muôn thuở, tự đời đời vẫn có Chúa. - Ðáp.

3) Lời chứng bảo của Ngài rất đáng tin, lạy Chúa, sự thánh thiện là của riêng nhà Ngài, cho tới muôn muôn ngàn thuở. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 14, 18

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con và lòng các con sẽ vui mừng". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 3, 7-15

"Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: "Thật, Tôi bảo cho ông biết: Ông đừng ngạc nhiên vì nghe Tôi nói rằng: Các ngươi phải tái sinh bởi trời. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy".

Nicôđêmô hỏi lại rằng: "Việc ấy xảy ra thế nào được?" Chúa Giêsu đáp: "Ông là bậc thầy trong dân Israel mà ông không biết điều ấy sao? Thật, tôi bảo thật cho ông biết: Ðiều chúng tôi biết thì chúng tôi nói; điều chúng tôi thấy thì chúng tôi minh chứng. Nhưng các ông lại không nhận lời chứng của chúng tôi. Nếu khi Tôi nói về những sự dưới đất mà các ông không tin, khi Tôi nói những sự trên trời, các ông tin thế nào được? Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời. Cũng như Môsê treo con rắn nơi hoang địa thế nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên như vậy, để những ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời".

Ðó là lời Chúa.

 


Cảm Nghiệm

Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Ba trong Tuần II Phục Sinh về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm qua những lời Chúa Giêsu khẳng định với nghị viên Nicôđêmô trong Hội Đồng Đầu Mục Do Thái bấy giờ về tính chất chân thực của sự kiện hay điều kiện cần phải tái sinh thần linh để có thể được tự do làm con cái Thiên Chúa dưới tác động của Thánh Thần như gió muốn thổi đâu thì thổi, mà điển hình nhất trong số thành phần tái sinh thần linh được bài đọc 1 hôm nay cho thấy đó là chính cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, một cộng đoàn bác ái yêu thương nhau như trong một gia đình có cùng một Cha trên trời, cùng một Đầu là Chúa Kitô và cùng một hồn sống là Thánh Linh. 

Bài Đọc I (Tông Vụ 5:17-26):

"Bấy giờ tất cả đoàn tín hữu đông đảo đều đồng tâm nhất trí. Chẳng ai kể của gì mình có là của riêng, song để mọi sự làm của chung...  Vì thế, trong các tín hữu, không có ai phải túng thiếu. Vì những người có ruộng nương nhà cửa đều bán đi và bán được bao nhiêu tiền thì đem đặt dưới chân các tông đồ. Và người ta phân phát cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu của họ".

Phúc Âm (Gioan 3:9-13):

"Nicôđêmô hỏi lại rằng: 'Việc ấy xảy ra thế nào được?' Chúa Giêsu đáp: 'Ông là bậc thầy trong dân Israel mà ông không biết điều ấy sao? Thật, tôi bảo thật cho ông biết: Ðiều chúng tôi biết thì chúng tôi nói; điều chúng tôi thấy thì chúng tôi minh chứng. Nhưng các ông lại không nhận lời chứng của chúng tôi. Nếu khi Tôi nói về những sự dưới đất mà các ông không tin, khi Tôi nói những sự trên trời, các ông tin thế nào được? Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời".

Trong câu phúc âm chính yếu trên đây, "những sự dưới đất" "những sự trên trời" mà Chúa Giêsu muốn nói đến ở đây với nghị viên Nicôđêmô là thành phần thiên về Luật Moisen là gì, nếu không phải "những sự dưới đất" đây là chính sự việc tái sinh thần linh hơn là nghi thức cắt bì của Do Thái giáo trong Cựu Ước, và "những sự trên trời" đây là mạc khải thần linh, là dự án cứu độ mầu nhiệm của Thiên Chúa, là chính Nước Thiên Chúa mà chỉ những ai tái sinh thần linh mới được thừa hưởng. 

Thật vậy, nếu không được tái sinh "bởi trời" hay "bởi nước và Thánh Linh", như Chúa Kitô đã đề cập đến với nghị viên Nicôđêmô trong bài Phúc Âm hôm qua thì không một con người tạo vật nào vốn "sinh bởi xác thịt là xác thịt" có thể "vào Nước Thiên Chúa" đó là được hiệp thông thần linh với Thiên Chúa, thông phần vào bản tính thần linh của Ngài, sống sự sống thần linh với Ngài và như Ngài.

Chính Chúa Kitô, ở ngay đầu bài Phúc Âm hôm nay đã cho biết thành phần được "tái sinh bởi trên cao", "bởi nước và Thánh Linh" hoàn toàn khác với và trổi vượt trên những ai không được hay chưa được tái sinh. Ở chỗ: "Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy".

Đúng thế, những ai được "tái sinh bởi Thần Linh" là thành phần được trở nên con cái của Thiên Chúa, được Thiên Chúa ban Thần Linh của Ngài cho, để nhờ đó có thể nhận biết Ngài như Ngài là và yêu mến Ngài như Ngài xứng đáng, với tư cách là con của Ngài, thành phần, nhờ tác động của Thần Linh trong họ "như gió muốn thổi đâu thì thổi", họ chỉ biết tuân theo một cách ngoan ngoãn và mau chóng, bằng "đức tin tuân phục" (Roma 1:5) như Mẹ Maria trong Biến Cố Truyền Tin, hoàn toàn tin tưởng phó thác cho Ngài, không cần "biết gió từ đâu tới và sẽ đi đâu".



Ngày 13/4
Thánh Martinô I Giáo hoàng, Tử đạo
(590-655)

Người trẻ xin ơn đương đầu với mọi nghịch cảnh
Mời bấm vào đây để nghe

Hiện nay, toàn Giáo hội cũng như toàn thế giới đang trong những ngày đau thương tang tóc vì dịch bệnh. Con số những người tử vong mỗi ngày làm cõi lòng mỗi người chúng ta quặn đau. Có lẽ, hơn lúc nào hết từng người trong chúng ta đều học được những sứ điệp mà những khó khăn gian khổ, những chết chóc chia lìa mà trận đại dịch này có thể dạy chúng ta. Trong “Tông huấn Đức Kitô đang sống” Đức Thánh Cha Phanxicô nói với các bạn trẻ: “Thiên Chúa ở đó, nơi chúng ta nghĩ Ngài đã bỏ rơi chúng ta và không còn hy vọng cứu rỗi gì nữa. Đó là một nghịch lý, nhưng đối với nhiều Kitô hữu, đau khổ và bóng tối đã trở thành... những nơi gặp gỡ Thiên Chúa.” 1 Chắc hẳn chúng ta sẽ cảm nghiệm được điều này, trong suốt mấy tháng dài của đại dịch và trong khi chúng ta chiêm ngắm cuộc đời thánh Máctinô I - Giáo hoàng và chiêm ngắm mầu nhiệm cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su trong tuần thánh.

Thánh Máctinô I là linh mục của thành phố Rôma, sinh năm 590. Ngài nổi tiếng là người thánh thiện và thông thái. Vào tháng 7/649, Máctinô lên ngôi giáo hoàng khi gần 60 tuổi. Khi ấy, người ta tranh cãi nhau về vấn đề giáo lý đức tin – thuyết “nhất ý” nơi Đức Kitô. Đức Giáo hoàng Máctinô I liền triệu tập Công đồng Latêranô, với mục đích giải thích cách rõ ràng minh bạch các chân lý mạc khải, những điều mà buộc chúng ta phải tin. Hoàng đế Constan II thành Constantinôpôli không hiểu rõ những việc làm của Đức Giáo hoàng Máctinô I. Vì thế, ông đã ra lệnh cấm mọi tranh luận về vấn đề này, ra lệnh bắt giam Giáo hoàng. Đức Giáo hoàng Máctinô bị dẫn bộ sang Constantinôpôli, bị đối xử tàn nhẫn, phải ra toà và bị kết án tử hình trong một vụ kiện đầy xuyên tạc, sau đó bị lưu đày tại Crinêa. Vì phải sống trong cơ cực, cô độc, và muôn vàn ngược đãi, nên Đức Giáo Hoàng Máctinô I đã qua đời ngày 13/4/655 2

Chiêm ngắm mẫu gương của thánh Giáo hoàng Máctinô I, chúng ta xin Chúa cho chúng ta “được kiên cường bất khuất để đương đầu với nghịch cảnh trong cuộc sống trần gian.” Xin cho chúng ta mặc lấy tâm tình của thánh Giáo hoàng Máctinô, xin Thiên Chúa “ban cho các tâm hồn được vững vàng trong đức tin chân chính, được mạnh mẽ chống lại mọi kẻ lạc giáo và thù nghịch với Hội thánh chúng ta.” Thánh Giáo hoàng Máctinô I còn nêu cao tấm gương về sự trung thành với chân lý và kiên cường trong đau khổ thử thách khi Ngài nói: “Cho dù người ta cắt tôi ra trăm mảnh, tôi cũng không bao giờ chấp nhận lạc giáo.”
3

Trong cương vị Giáo hoàng, vị lãnh đạo tối cao của Hội thánh, Đức Giáo hoàng cần phải bảo vệ đức tin tinh tuyền; trong vai trò của một nhân viên y tế trong cơn đại dịch, vị lương y phải tìm cách và phải lên tiếng bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng; trong vị trí của người lãnh đạo quốc gia, người đứng đầu phải lo cho dân nước, người lãnh đạo phải lo cho người dân được an toàn; trong cuộc sống của mỗi người ở mỗi cương vị, bổn phận của chúng ta là phải chu toàn trọng trách cho dù là nhiệm vụ nhỏ bé nhất, cho dù có gặp những khó khăn thử thách cam go nhất. Tất cả chúng ta không được phép đổ lỗi cho hoàn cảnh, không được phép đổ lỗi cho người khác, không được phép thoái thác vô trách nhiệm. Trong trường hợp nghịch cảnh ùa đến mà chúng ta đã làm hết sức, hãy viết đoạn kết cuộc đời mình bằng câu mà thánh Phaolô gởi cho ông Timôthê: “Tôi đã thi đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững đức tin” (2Tm 4,7) như bác sĩ Lý Văn Lượng đã viết trong câu kết của bài thơ trước khi qua đời.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con đến xin Chúa an ủi chúng con, vì chúng con đang gặp đau khổ, chúng con đau khổ lắm Chúa ơi! Xin cho chúng con tìm được niềm an ủi vì tin rằng còn có Chúa yêu thương chúng con, và bảo đảm cho chúng con được ơn cứu độ.

Lạy Chúa Giêsu, con hướng tâm hồn lên cùng Chúa, xin đừng để con hoài nghi thánh ý Ngài. Xin cho con biết đón nhận những gì xảy đến và cho con hiểu rằng: Chúa luôn yêu thương quan phòng gìn giữ con. Xin đừng để con thất vọng dù bao gian nan khốn khó xảy đến trong đời con. Xin cho con kiên nhẫn chờ đợi Chúa đáp lời. Xin đừng để con đắng cay chua xót khi gặp đau khổ. Xin chỉ cho con đường lối phải đi, xin cho con nhận ra rằng con rất cần đến Chúa, con cần đến Chúa trong mọi giây phút của cuộc đời con. Xin thánh Giáo hoàng Martino cầu cho chúng con. Amen



1 ĐTC Phanxicô “Tông huấn Đức Kitô đang sống” (Christus Vivit), số 149.
2 https://tonggiaophanhanoi.org/phung-vu/hanh-cac-thanh/11459-ngay-13-04-thanh-mac-ti-no-i-giao-hoang-tu-dao.html
   http://tinmung.net/CACTHANH/DanhChoBanTre/CacThanhBanTreINDEX.htm

3 Trích lời nguyện trong Sách Lễ Roma ngày 13/4.

http://daminhrosalima.net/phut-cau-nguyen-moi-ngay/ngay--134---thanh-martino-i-giao-hoang-tu-dao-29076.html
Thánh martino Giáo Hoàng Tử Đạo 16/4

Ngày 13/4: Thánh Martinô I, Giáo hoàng tử đạo

Thánh Martinô I là linh mục của thành phố Rôma. Ngài nổi tiếng là người thánh thiện và thông thái. Vào tháng Bảy năm 649, Martinô lên ngôi giáo hoàng. Khi người ta tranh cãi nhau về những chân lý buộc phải tin, giáo hoàng Martinô I liền triệu tập một hội nghị các giám mục. Cuộc họp này là Công đồng Lateranô, có mục đích giải thích cách rõ ràng minh bạch các chân lý mạc khải, những điều mà chúng ta phải tin. Tuy thế, có một vài Kitô hữu đã không hài lòng về việc này. Giáo hoàng Martinô biết rằng sự giải thích cắt nghĩa của Công đồng là điều chân thật. Bổn phận của ngài với cương vị giáo hoàng là phải giảng dạy chân lý cho dân chúng.

Một số người có thế lực không hiểu rõ những việc làm của giáo hoàng Martinô. Một trong số họ là hoàng đế Constan II thành Constantinôpôli. Ông đã sai thuộc hạ của ông tới Rôma bắt giáo hoàng Martinô I và giải về Constantinôpôli. Những người thuộc hạ đã đến bắt cóc giáo hoàng. Lập tức họ đưa ngài ra khỏi đền thờ thánh Gioan Latran và đẩy ngài lên một chiếc tàu. Rồi, giáo hoàng Martinô lâm bệnh nhưng họ vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Vào tháng Mười năm 653, họ giam ngài tại Constantinôpôli độ ba tháng. Trong thời gian này, mỗi ngày họ chỉ cho giáo hoàng Martinô chút ít thực phẩm và nước uống. Thậm chí ngài không được phép tự mình tắm rửa. Sau đó, giáo hoàng Martinô I bị đưa ra xét xử, bị công khai làm nhục và bị lên án tử. Nhưng sau đó, họ lại mang ngài trở về nhà tù và giam ngài thêm ba tháng nữa. Đức Thượng phụ Giáo chủ Phaolô của Constantinôpôli đã xin tha chết cho ngài. Vì vậy, Martinô I đã bị án lệnh trục xuất thay vì phải chết. Người ta đặt giáo hoàng Martinô I trên một chiếc tàu chở ngang qua Biển Đen. Vào tháng Tư năm 654, tàu đổ bộ trên bán đảo Nga gọi là “bán đảo Crinêa.”

Họ làm cho giáo hoàng Martinô I phải chú ý trước sự thờ ơ lãnh đạm của những người phụ trách việc giam giữ ngài. Giáo hoàng Martinô I đã viết một bài tường thuật về những ngày buồn thảm ấy. Ngài nói rằng mình cảm thấy rất đau buồn khi bị chính những người thân thuộc và các thành viên trong Giáo hội Rôma quên lãng. Ngài biết rằng họ sợ nhà vua. Nhưng ít ra, đức Martinô I nói, hẳn là họ cũng có thể gởi cho ngài những đồ tiếp tế như ngũ cốc, dầu mè và các nhu cầu thông thường khác. Nhưng họ đã không làm. Họ đã bỏ rơi giáo hoàng chỉ vì sợ hãi!

Thời gian lưu đầy của giáo hoàng Martinô I kéo dài hai năm. Ngài qua đời khoảng năm 656. Giáo hoàng Martinô I được tôn phong là thánh tử đạo vì những đau khổ khủng khiếp ngài đã chịu. 

Đôi khi chúng ta bị rơi vào cạm bẫy ghen tị với những người có chức vị quyền hành. Chính lúc đó chúng ta hãy cầu xin với thánh giáo hoàng Martinô I. Chúng ta hãy xin thánh nhân thay thế tham vọng ấy bằng một tâm hồn can đảm.


https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-13-4-thanh-martino-igiao-hoang-tu-dao-40219




Thánh Martinô I sinh tại Tôđi, miền Umbria.

Đức Giáo Hoàng đặt ngài làm đại diện ở Constantinophe. Tại đây, ngài đã nhiệt thành chống lại Nhất ý thuyết. Lạc giáo này dạy rằng : nơi Chúa Giêsu chỉ có một ý chí, ý chí thần linh. Như vậy là họ chối bỏ ý chí riêng của nhân tính Ngài.
 
Năm 649, khi Đức Thêodôre qua đời, thánh Martinô được cử lên ngôi kế vị thánh Phêrô. Ngay tháng 10 năm này, ngài đã triệu tập công đồng Lêtêranô để kết án lạc thuyết.
 
Làm như vậy ngài đã liều chuốc lấy phản ứng độc hại của Contance II, một hoàng đế trẻ theo lạc giáo, và muốn bắt Giáo hội phải chấp nhận sắc lệnh "Type" về giáo lý của ông. Ngày 17 tháng 6 năm 653, quan thái thú đại diện hoàng đế là Calliopas ở Ravenna Italia đã bắt Đức Giáo Hoàng trong nhà thờ chính tòa. Ngài bị tố cáo đồng lõa trong cuộc phản loạn của quan thái thú tiền nhiệm là Olympius.
 
Sau đó ngài bi đưa về Constantinôple bằng tàu. Sẵn đau khổ vì bệnh đau khớp xương, cuộc hành trìnnh còn khổ cực thêm vì bị mất thực phẩm tối thiểu, bị cấm không được tắm rửa.
 
Ngày 17 tháng 9, ngài tới Constantinôple và bị giam trong một nhà tù cho tới ngày 20 tháng 12. Tại một tòa án giả tạo với sư hiện diện của hoàng đế, ngài bị truất ngôi và bị kết án tử hình.
 
Bị bỏ rơi trong ngục thất, thánh Martinô vô cùng cực khổ vì lạnh. Một phụ nữ lén cho ngài một chiếc giường và một chiếc nệm. Khi ấy, Thượng phụ giáo chủ Constantinôple hấp hối, ông ta sợ bị đoán phạt trước tòa Chúa nên xin Hoàng đế đừng xử tử tù nhân. Nhưng thánh Martinô lại bị lưu đày tới Cherson ở Crimea.
 
Tại đây, ngài qua đời vì thiếu thốn, có lẽ vào ngày 03 tháng 4 năm 656.



Trong ca hiệp lễ, lễ thánh giáo hoàng hay giám mục có viết: “Lạy Chúa, Chúa biết rõ mọi sự, Chúa biết con thương Chúa” (lời của thánh Phêrô). Thánh Mác-ti-nô I là vị giáo hoàng đã kiên trung đổ máu đào làm chứng cho Chúa phục sinh vì Người yêu mến Chúa.

 

THÁNH MÁC-TI-NÔ I :

 

Ngay trong ca nhập lễ, ta đọc thấy:’’Chúa đã lập với vị thánh này một giao ước bình an, đặt Người làm thủ lãnh và ban cho Người chức tư tế, tồn tại đến muôn đời” (Hc 45, 30 ). Thánh Mác-ti-nô sinh tại Todi miền Ombrie, nước Ý trong một gia đình đạo đức. Ngay từ nhỏ, thánh nhân đã hấp thụ một nền giáo dục tốt về mọi mặt. Vì thế, vào năm 649, ngay những ngày đầu tiên, thánh nhân ngự trên Ngai Giáo Hoàng, Ngài đã cố gắng thuyết phục các anh em lạc giáo, bè rối và ly giáo, nhất là nhóm ly khai Phaolô đệ Constantinople được Hoàng Đế Constance bao che, đỡ đầu, đang hoành hành và lan tràn khắp nơi. Để làm công việc hết sức khó khăn, đòi hỏi can đảm, hăng say và đầy cương quyết, thánh Mác-ti-nô I đã triệu tập công đồng chung từ ngày 5 tới ngày 31 tháng 10 năm 649, gồm 500 giám mục để lên án bọn lạc giáo và ly giáo. Đang khi công đồng chung họp, Hoàng Đế Constance sai Olympius tới để đuổi Đức Giáo Hoàng và giải tán công đồng. Tuy nhiên, ý Chúa rất nhiệm mầu, Olympius bị bệnh chết cách thảm thương. Constance không chịu dừng bước, Hoàng Đế lại sai Théodore Calliopas đến tiếm chiếm đền thờ Latran và cung điện của Đức Thánh Cha, rồi bắt Ngài giam ở đảo Naxos năm 653, để sau này đưa về Constantinople. Thánh nhân bị bỏ tù ở Constantinople, bị tra tấn, khinh bỉ, ngược đãi vì danh Chúa Giêsu.

 

THIÊN CHÚA TÔN VINH NGƯỜI:

 

Thánh vịnh 112, 1 có viết: “Hạnh phúc thay, người kính sợ Chúa, những ưa cùng thích mệnh lệnh Chúa truyền ban”. ” Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng, chiếu rọi kẻ ngay lành: đó là người từ bi nhân hậu và công chính” (Tv 112, 4). Thánh Mác-ti-nô I đã can đảm hiến dâng cuộc đời mình trong hy tế thập giá với Đức Kitô. Thánh nhân, sau đó bị đầy qua Hy Lạp, ở tại Chersonèse. Thiên Chúa đã cất Người về với Ngài vào năm 654, đúng như lời thánh vịnh viết : “Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong vui sướng…”. Thánh nhân đã ra đi trong nước mắt, nhưng đã về trong hân hoan, hạnh phúc. Thiên Chúa đã thưởng Ngài vì Ngài đã yêu đến hy sinh mạng sống để làm chứng cho tình yêu như Chúa Giêsu (Ga 15, 13).

Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã cho thánh Giáo Hoàng Mác-ti-nô tử đạo, được can đảm không lùi bước trước lời đe dọa, cũng chẳng nao núng khi chịu cực hình. Xin cho chúng con được kiên cường bất khuất để đương đầu với nghịch cảnh trong cuộc sống trần gian (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Mác-ti-nô, giáo hoàng, tử đạo).

 

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

https://dcvxuanloc.net/thanh-martino-i-giao-hoang-tu-dao-ngay-134/





Thứ Tư sau Chúa Nhật II Phục Sinh

 

Bài Ðọc I: Cv 5, 17-26

"Kìa, những người mà các ông tống ngục, hiện đang đứng giảng dạy dân chúng trong đền thờ".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, vị thượng tế và mọi người thuộc phe ông, tức là phái Sađốc, đầy lòng phẫn nộ; họ ra tay bắt các tông đồ tống ngục. Nhưng đến đêm, Thiên Thần Chúa mở cửa ngục, dẫn các ngài đi và nói: "Hãy đi vào đền thờ giảng dạy cho dân chúng biết mọi lời hằng sống này". Nghe lệnh ấy, sáng sớm các ngài vào đền thờ và giảng dạy.

Lúc bấy giờ vị thượng tế và các người thuộc phe ông đến, triệu tập công nghị và tất cả các vị kỳ lão trong dân Israel, rồi sai người vào tù dẫn các tông đồ ra. Khi thủ hạ đến nơi, mở cửa ngục, không thấy các tông đồ, họ liền trở về báo cáo rằng: "Thật chúng tôi thấy cửa ngục đóng rất kỹ lưỡng, lính canh vẫn đứng gác ngoài cửa, nhưng khi chúng tôi mở cửa ra, thì không thấy ai ở bên trong cả".

Khi nghe các lời đó, viên lãnh binh cai đền thờ và các thượng tế rất lúng túng, không biết rõ công việc đã xảy đến cho các tông đồ. Lúc đó có người đến báo tin cho họ rằng: "Kìa, những người mà các ông đã tống ngục, hiện đang đứng giảng dạy dân chúng trong đền thờ". Bấy giờ viên lãnh binh cùng các thủ hạ tới dẫn các tông đồ đi mà không dùng bạo lực, vì sợ bị dân chúng ném đá.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 33, 2-3. 4-5. 6-7. 8-9

Ðáp: Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe (c. 7a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. - Ðáp.

2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ. - Ðáp.

3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. - Ðáp.

4) Thiên Thần Chúa hạ trại đồn binh chung quanh những người sợ Chúa và bênh chữa họ. Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao; phúc đức ai nương tựa ở nơi Người. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 14, 26

Alleluia, alleluia! - Thánh Thần sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 3, 16-21

"Thiên Chúa đã sai Chúa Con đến để thế gian nhờ Người mà được cứu độ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời, vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin Người Con ấy, thì không bị luận phạt. Ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa và đây là án luận phạt: là sự sáng đã đến thế gian và người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng, vì hành động của họ xấu xa. Thật vậy, ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng, và không đến cùng sự sáng, sợ những việc làm của mình bị khiển trách, nhưng ai hành động trong sự thật, thì đến cùng sự sáng, để hành động của họ được sáng tỏ, là họ đã hành động trong Thiên Chúa.


Cảm Nghiệm

Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Tư trong Tuần II Phục Sinh về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm qua những lời Chúa Giêsu tiếp tục nói với nghị viên Nicôđêmô trong Hội Đồng Đầu Mục Do Thái bấy giờ, từ "những sự dưới đất" là sự kiện tái sinh thần linh (như trong 2 bài phúc âm đầu tuần Thứ Hai và Thứ Ba), đến "những sự trên trời" về chính thực tại thần linh là tình yêu Thiên Chúa, Đấng đã muốn "những gì sinh bởi xác thịt là xác thịt" nơi con người được tái sinh thành "những gì sinh bởi thần linh là thần linh" nhờ Con của Ngài, trái với thành phần chưa được tái sinh thần linh trong bài đọc 1 hôm nay, thành phần tìm hết cách để triệt hạ các tông đồ làm chứng cho Đấng Phục Sinh cho dù họ thấy chứng cớ bất khả chối cãi nơi bản thân các vị và các việc các vị làm trong / cho cộng đồng dân chúng bấy giờ. 

Bài Đọc I (Tông Vụ 5:17-26):
"Trong những ngày ấy, vị thượng tế và mọi người thuộc phe ông, tức là phái Sađốc, đầy lòng phẫn nộ; họ ra tay bắt các tông đồ tống ngục. Nhưng đến đêm, Thiên Thần Chúa mở cửa ngục, dẫn các ngài đi và nói: 'Hãy đi vào đền thờ giảng dạy cho dân chúng biết mọi lời hằng sống này'. Nghe lệnh ấy, sáng sớm các ngài vào đền thờ và giảng dạy.

"Lúc bấy giờ vị thượng tế và các người thuộc phe ông đến, triệu tập công nghị và tất cả các vị kỳ lão trong dân Israel, rồi sai người vào tù dẫn các tông đồ ra. Khi thủ hạ đến nơi, mở cửa ngục, không thấy các tông đồ, họ liền trở về báo cáo rằng: 'Thật chúng tôi thấy cửa ngục đóng rất kỹ lưỡng, lính canh vẫn đứng gác ngoài cửa, nhưng khi chúng tôi mở cửa ra, thì không thấy ai ở bên trong cả'.

"Khi nghe các lời đó, viên lãnh binh cai đền thờ và các thượng tế rất lúng túng, không biết rõ công việc đã xảy đến cho các tông đồ. Lúc đó có người đến báo tin cho họ rằng: 'Kìa, những người mà các ông đã tống ngục, hiện đang đứng giảng dạy dân chúng trong đền thờ'. Bấy giờ viên lãnh binh cùng các thủ hạ tới dẫn các tông đồ đi mà không dùng bạo lực, vì sợ bị dân chúng ném đá".

Phúc Âm (Gioan 3:16-21):
"Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời, vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin Người Con ấy, thì không bị luận phạt. Ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa".
Trong bài phúc âm hôm nay, ở phần cuối Chúa Giêsu đã nói riêng về lý do tại sao con người không chấp nhận mạc khải thần linh, không tin vào Con Một Thiên Chúa được ban cho họ để cứu độ họ

"Đây là án luận phạt: là sự sáng đã đến thế gian và người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng, vì hành động của họ xấu xa. Thật vậy, ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng, và không đến cùng sự sáng, sợ những việc làm của mình bị khiển trách, nhưng ai hành động trong sự thật, thì đến cùng sự sáng, để hành động của họ được sáng tỏ, là họ đã hành động trong Thiên Chúa". 
Ở câu Phúc Âm trên đây, Chúa Giêsu đã khẳng định rằng: "Người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng, vì hành động của họ xấu xa. Thật vậy, ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng, và không đến cùng sự sáng, sợ những việc làm của mình bị khiển trách". 

Đúng thế, thực tế cũng cho thấy rõ ràng là "Người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng, vì hành động của họ xấu xa". Và chính vì thế, vì "hành động của họ xấu xa" mà họ mới "ghét sự sáng, và không đến cùng sự sáng, sợ những việc làm của mình bị khiển trách".

Những hành động cụ thể chứng tỏ con người yêu tối tăm hơn ánh sáng, sợ ánh sáng và không dám ra trước ánh sáng như: không chấp nhận tội lỗi của mình để khỏi phải sửa mình nhờ đó có thể tiếp tục sống thoải mái theo bản tính tự nhiên, hay giải thích Lời Chúa hay luật Chúa theo khuynh hướng dễ dãi của mình để khỏi phải bỏ mình tuân giữ, hoặc sau khi cầu xin cho biết ý Chúa và biết được đâu là ý của Ngài rồi thì chối bỏ, chạy trốn, không dám theo.

Thánh phần của phe vị thượng tế và bè Sađốc trong bài đọc một hôm nay là những con người điển hình nhất "yêu tối tăm hơn ánh sáng", sợ ánh sáng, không dám ra trước ánh sáng, không dám chấp nhận sự thật, trái lại, càng muồn dập tắt ánh sáng, chôn vuì sự thật, một thực tại thần linh bất diệt không ai có thể chống lại được.

 

Thứ Năm sau Chúa Nhật II Phục Sinh

 

Bài Ðọc I: Cv 5, 27-33

"Chúng tôi là nhân chứng các lời đó cùng với Thánh Thần".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Hôm ấy, khi các thủ hạ dẫn các tông đồ đi, họ đem các ngài ra trước công nghị. Vị thượng tế hỏi các ngài rằng: "Ta đã ra lệnh cấm các ngươi nhân danh ấy mà giảng dạy. Thế mà các ngươi đã giảng dạy giáo lý các ngươi khắp cả Giêrusalem; các ngươi còn muốn làm cho máu người đó lại đổ trên chúng tôi ư?" Phêrô và các tông đồ trả lời rằng: "Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta. Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã cho Ðức Giêsu sống lại, Ðấng mà các ông đã giết khi treo Ngài trên thập giá. Thiên Chúa đã dùng quyền năng tôn Ngài làm thủ lãnh và làm Ðấng Cứu Ðộ, để ban cho Israel được ăn năn sám hối và được ơn tha tội. Chúng tôi là nhân chứng các lời đó cùng với Thánh Thần, Ðấng mà Thiên Chúa đã ban cho mọi kẻ vâng lời Người?" Khi nghe những lời đó, họ liền phẫn nộ và tìm mưu giết các ngài.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 33, 2 và 9. 17-18. 19-20

Ðáp: Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe (c. 7a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao; phúc đức ai tìm nương tựa ở nơi Người. - Ðáp.

2) Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Ngài cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. - Ðáp.

3) Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương giập nát. Người hiền đức gặp nhiều bước gian truân, nhưng Chúa luôn luôn giải thoát. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 16, 7 và 13

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy sẽ sai Thần Chân Lý đến, người sẽ dạy các con biết tất cả sự thật". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 3, 31-36

"Ðức Chúa Cha thương mến Con Ngài, nên ban toàn quyền trong tay Con Ngài".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, ông Gioan nói để làm chứng về Chúa Giêsu rằng: "Ðấng từ trên cao mà đến thì vượt trên hết mọi người. Kẻ bởi đất mà ra, thì thuộc về đất và nói những sự thuộc về đất. Ðấng từ trời mà đến thì vượt trên hết mọi người. Ðiều gì Người thấy và nghe, thì Người làm chứng về điều đó. Nhưng lời chứng của Người không ai chấp nhận. Ai chấp nhận lời chứng của Người, thì quả quyết Thiên Chúa là Ðấng chân thật. Ðấng được Thiên Chúa sai đến thì nói lời của Thiên Chúa, vì được Chúa ban cho thần linh khôn lường. Cha yêu mến Con, nên đã ban mọi sự trong tay Con. Ai tin vào Con thì có sự sống đời đời. Còn ai không tin vào Con, thì sẽ không được thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên người ấy".

Ðó là lời Chúa.

 

 

Cảm Nghiệm

Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Năm trong Tuần II Phục Sinh về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm qua những lời chứng của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả về thế giá khả tín của Chúa Giêsu liên quan đến 2 vấn đề then chốt Người đã mạc khải cho nghị viên Nicôđêmô biết, bao gồm cả vấn đề "những sự dưới đất" là việc tái sinh thần linh, lẫn vấn đề "những sự trên trời" là tình yêu của Thiên Chúa muốn cứu độ con người nơi Con của Ngài, một Người Con mà các tông đồ đã được rửa trong Thánh Thần, trong bài đọc 1 hôm nay, tỏ ra hiên ngang rao giảng và làm chứng, bất chấp lệnh cấm đoán của Hội Đồng Đầu Mục Do Thái vẫn tiếp tục cố tình muốn bóp nghẹt sự thật, muốn tránh né trách nhiệm về hậu quả họ đã gây ra cho Người Con của Thiên Chúa. 

"Hôm ấy, khi các thủ hạ dẫn các tông đồ đi, họ đem các ngài ra trước công nghị. Vị thượng tế hỏi các ngài rằng: 'Ta đã ra lệnh cấm các ngươi nhân danh ấy mà giảng dạy. Thế mà các ngươi đã giảng dạy giáo lý các ngươi khắp cả Giêrusalem; các ngươi còn muốn làm cho máu người đó lại đổ trên chúng tôi ư?' Phêrô và các tông đồ trả lời rằng: 'Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta. Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã cho Ðức Giêsu sống lại, Ðấng mà các ông đã giết khi treo Ngài trên thập giá. Thiên Chúa đã dùng quyền năng tôn Ngài làm thủ lãnh và làm Ðấng Cứu Ðộ, để ban cho Israel được ăn năn sám hối và được ơn tha tội. Chúng tôi là nhân chứng các lời đó cùng với Thánh Thần, Ðấng mà Thiên Chúa đã ban cho mọi kẻ vâng lời Người?' Khi nghe những lời đó, họ liền phẫn nộ và tìm mưu giết các ngài".

Nếu "Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời và sự sống này ở nơi Con của Ngài" (1Gioan 5:11), mà chỉ có ai tin vào Chúa Kitô mới được sự sống mà thôi (xem Gioan 3:16). Mà sự sống đây được Chúa Kitô ban phát cho dân của Người bấy giờ như của ăn mang lại sự sống đời đời (xem Gioan 6:27) là chính bản thân Người nói chung, là mạc khải thần linh của Người, qua lời Người nói và việc Người làm.

Đó là lý do Tiền Hô Gioan Tẩy Giả trong bài Phúc Âm hôm nay đã làm chứng về bản thân đầy thế giá và đáng tin của Chúa Kitô: "Khi ấy, ông Gioan nói để làm chứng về Chúa Giêsu rằng: 'Ðấng từ trên cao mà đến thì vượt trên hết mọi người. Kẻ bởi đất mà ra, thì thuộc về đất và nói những sự thuộc về đất. Ðấng từ trời mà đến thì vượt trên hết mọi người. Ðiều gì Người thấy và nghe, thì Người làm chứng về điều đó. Nhưng lời chứng của Người không ai chấp nhận. Ai chấp nhận lời chứng của Người, thì quả quyết Thiên Chúa là Ðấng chân thật. Ðấng được Thiên Chúa sai đến thì nói lời của Thiên Chúa, vì được Chúa ban cho thần linh khôn lường. Cha yêu mến Con, nên đã ban mọi sự trong tay Con. Ai tin vào Con thì có sự sống đời đời. Còn ai không tin vào Con, thì sẽ không được thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên người ấy'".

Vị Tiền Hô này còn khẳng định những lời Người nói hay việc Người làm (chứng) đều mang lại sự sống cho những ai tin tưởng vào Người: "Ai chấp nhận lời chứng của Người, thì quả quyết Thiên Chúa là Ðấng chân thật.... Ai tin vào Con thì có sự sống đời đời". Và chính vì "lời chứng của Người không ai chấp nhận", "cái gì sinh bởi xác thịt là xác thịt" (Bài Phúc Âm Thứ Hai Tuần II Phục Sinh) và "Kẻ bởi đất mà ra, thì thuộc về đất và nói những sự thuộc về đất" (Phúc Âm hôm nay), mới cần đến "Ðấng từ trời mà đến thì vượt trên hết mọi người" để tỏ cho họ biết, nhờ đó họ có thể được "tái sinh bởi trời" (Phúc Âm Thứ Hai Tuần II Phục Sinh), như một "con người sinh bởi Thần Linh" (Bài Phúc Âm Thứ Ba Tuần II Phục Sinh).

 

 

Thứ Sáu sau Chúa Nhật II Phục Sinh

 

Bài Ðọc I: Cv 5, 34-42

"Các ngài hân hoan ra về, vì thấy mình xứng đáng chịu sỉ nhục vì danh Ðức Giêsu".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Bấy giờ, có người biệt phái tên là Gamaliel, cũng là luật sĩ, có thế giá trong dân, đứng lên giữa công nghị, truyền dẫn các tông đồ ra ngoài trong giây lát, rồi nói với các người trong công nghị rằng: "Hỡi chư vị Israel, xin hãy thận trọng về việc chư vị định làm đối với những người này. Vì trước đây ít ngày, có tên Thêôđa nổi lên, tự xưng là một nhân vật, có độ bốn trăm người theo mình, y đã bị giết, và nhóm người theo y đều tan rã và không còn gì nữa. Sau y, lại có tên Giuđa người Galilêa, cũng nổi lên trong những ngày kiểm tra dân số, lôi kéo dân chúng theo mình, rồi chính hắn cũng chết, mọi kẻ theo hắn đều tan rã. Và bây giờ, tôi xin chư vị đừng can dự gì đến những người này, cứ để mặc họ: vì nếu một mưu toan hay việc này là do loài người, thì sẽ tự tan rã; nhược bằng bởi Thiên Chúa, thì chư vị không thể phá tan được, kẻo lỡ ra mang tội chống đối Thiên Chúa". Họ đồng ý. Họ cho gọi các tông đồ vào, ra lệnh đánh đòn các ngài, và cấm tuyệt đối không được nhân danh Ðức Giêsu mà giảng dạy nữa, đoạn tha các ngài về. Vậy các ngài ra khỏi công nghị, lòng hân hoan, vì thấy mình xứng đáng chịu sỉ nhục vì Danh Ðức Giêsu. Và hằng ngày, tại đền thờ hay tại tư gia, các ngài cứ tiếp tục giảng dạy, và loan truyền Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 26, 1. 4. 13-14

Ðáp: Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi (c. 4ab).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? - Ðáp.

2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Ngài. - Ðáp.

3) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa. - Ðáp.

 

Alleluia: Cl 3, 1

Alleluia, alleluia! - Nếu anh em sống lại làm một với Ðức Kitô, thì anh em hãy kiếm những sự cao siêu trên trời, nơi Ðức Kitô, đang ngự bên hữu Thiên Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 6, 1-15

"Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi sang bên kia biển Galilêa, cũng gọi là Tibêria. Có đám đông dân chúng theo Người, vì họ đã thấy những phép lạ Người làm cho những kẻ bệnh tật. Chúa Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái đã gần tới. Chúa Giêsu ngước mắt lên và thấy đám rất đông dân chúng đến với Người. Người hỏi Philipphê: "Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?" Người hỏi như vậy có ý thử ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm. Philipphê thưa: "Hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút".

Một trong những môn đệ, tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa cùng Người rằng: "Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người". Chúa Giêsu nói: "Cứ bảo người ta ngồi xuống". Nơi đó có nhiều cỏ, người ta ngồi xuống, số đàn ông độ năm ngàn. Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích. Khi họ đã no nê, Người bảo các môn đệ: "Hãy thu lấy những miếng còn lại, kẻo phí đi". Họ thu lại mười hai thúng đầy bánh vụn do năm chiếc bánh lúa mạch người ta đã ăn mà còn dư.

Thấy phép lạ Chúa Giêsu đã làm, người ta đều nói rằng: "Thật ông này là Ðấng Tiên tri phải đến trong thế gian". Vì Chúa Giêsu biết rằng người ta sẽ đến bắt Người để tôn làm vua, nên Người lại trốn lên núi một mình.

Ðó là lời Chúa.






Cảm Nghiệm


Chủ đề
"Thày là sự sống" của ngày Thứ Sáu trong Tuần II Phục Sinh 
về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm qua việc Chúa Giêsu làm phép lạ (lần đầu) hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng theo đuổi Người, một hành động Người làm với sự hợp tác của các môn đệ, thành phần mà, sau khi Người sống lại từ cõi chết và lên trời, đã chứng tỏ mình thực sự được tái sinh thần linh, như trong bài đọc 1 hôm nay cho thấy, ở chỗ, các vị càng vui mừng vì được chịu khổ vì Đấng Phục Sinh và cứ tiếp tục tỏ ra bất khuất trong việc rao giảng và làm chứng cho những gì các vị đã thấy và đã nghe nơi Người.

Phúc Âm (Gioan 6:1-15):
"Lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái đã gần tới. Chúa Giêsu ngước mắt lên và thấy đám rất đông dân chúng đến với Người. Người hỏi Philipphê: 'Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?' Người hỏi như vậy có ý thử ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm. Philipphê thưa: 'Hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút'. Một trong những môn đệ, tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa cùng Người rằng: 'Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người'. Chúa Giêsu nói: 'Cứ bảo người ta ngồi xuống'. Nơi đó có nhiều cỏ, người ta ngồi xuống, số đàn ông độ năm ngàn. Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích. Khi họ đã no nê, Người bảo các môn đệ: 'Hãy thu lấy những miếng còn lại, kẻo phí đi'. Họ thu lại mười hai thúng đầy bánh vụn do năm chiếc bánh lúa mạch người ta đã ăn mà còn dư."
Bài Đọc I (Tông Vụ 5:34-42):
"'Tôi xin chư vị đừng can dự gì đến những người này, cứ để mặc họ: vì nếu một mưu toan hay việc này là do loài người, thì sẽ tự tan rã; nhược bằng bởi Thiên Chúa, thì chư vị không thể phá tan được, kẻo lỡ ra mang tội chống đối Thiên Chúa'. Họ đồng ý. Họ cho gọi các tông đồ vào, ra lệnh đánh đòn các ngài, và cấm tuyệt đối không được nhân danh Ðức Giêsu mà giảng dạy nữa, đoạn tha các ngài về. Vậy các ngài ra khỏi công nghị, lòng hân hoan, vì thấy mình xứng đáng chịu sỉ nhục vì Danh Ðức Giêsu. Và hằng ngày, tại đền thờ hay tại tư gia, các ngài cứ tiếp tục giảng dạy, và loan truyền Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô".
"Hai môn đệ khác" trong bài Phúc Âm không được Thánh ký Gioan kể đến trên bở biển hồ Tibêria sau khi Chúa Kitô Phục Sinhnhư 5 tông đồ khác (xem Gioan 21:2) phải chăng là Anrê, em của tông đồ Phêrô (xem Gioan 1:40-41), và Philiphê, bạn của Nathanael (xem Gioan 1:43-45), 2 cặp môn đệ đã "đến và xem chỗ Người ở" (Gioan 1:39), và cũng chỉ có 2 môn đệ này, ở Phúc Âm phép lạ bánh hóa ra nhiều Thứ Sáu tuần trước, được Thánh ký Gioan đề cập tới trong việc cung cấp 5 ổ bánh và 2 con cá cho Chúa Giêsu? Phải chăng 5 chiếc bánh và 2 con cá này có liên quan đến 7 môn đệ rủ nhau đi đánh cá ở bài Phúc Âm hôm nay, 5 môn đệ có tên liên quan đến 5 ổ bánh và 2 môn đệ không có tên liên quan đến 2 con cá.

Hai con cá Anrê và Philiphê trong bài Phúc Âm hôm nay phải chăng ám chỉ các ngài cũng là những con cá được Chúa Kitô câu bắt được, giờ đây, phải được Người nướng lên mới ăn được, như Người đã làm ở bờ biển hồ Tibêria cho 7 môn đệ bắt được mẻ cá 153 con ăn, nghĩa là phải trở thành hy tế cho phần rỗi nhân loại, phải chết đi cho dân được sống. Đó là lý do trong bài Phúc Âm hôm nay, 12 thúng còn dư chỉ thu được từ 5 ổ bánh, hoàn toàn không thấy nói đến từ cá, vì bánh đây ám chỉ Chúa Kitô, Đấng được các môn đệ làm chứng bằng hy tế của mình cho loài người nhận biết Người hơn là chính các vị.

Đúng thế, các con cá tông đồ đều đã được Thày nướng lên cho chín, và các vị không thể nào để cho Người nướng lên như thế nếu các vị không sống đức tin, hoàn toàn tin tưởng phó thác trong bàn tay đầy quyền năng của Người. Mà đức tin liên quan đến tác động "nhìn" hay "thấy" hoặc "gặp", những tác động cần phải có của đức tin nhưng phụ thuộc vào đức tin hơn là đức tin phụ thuộc vào chúng. Đó là lý do trong dịp lễ Vượt Qua ở Giêrusalem, hai môn đệ Philiphê và Anrê này, (chứ không phải các vị khác, bởi 2 vị này hình như biết tiếng Hy Lạp), đã là những môn đệ trung gian môi giới được người Hy Lạp ở đó bấy giờ ngỏ ý "chúng tôi muốn gặp Đức Giêsu" (Gioan 12:20-22).






                                                                                                                               Thứ Bảy sau Chúa Nhật II Phục Sinh

Bài Ðọc I: Cv 6, 1-7

"Họ chọn bảy người đầy Thánh Thần".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, số môn đồ gia tăng, nên xảy ra việc các người Hy-lạp kêu trách các người Do-thái, vì trong việc phục vụ hằng ngày, người ta khinh miệt các bà goá trong nhóm họ. Nên Mười Hai Vị triệu tập toàn thể môn đồ đến và bảo: "Chúng tôi bỏ việc rao giảng lời Chúa mà lo đi giúp bàn, thì không phải lẽ. Vậy thưa anh em, anh em hãy chọn lấy bảy người trong anh em có tiếng tốt, đầy Thánh Thần và khôn ngoan, để chúng tôi đặt họ làm việc đó. Còn chúng tôi, thì sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ lời Chúa". Cả đoàn thể đều tán thành lời các ngài và chọn Têphanô, một người đầy đức tin và Thánh Thần, và chọn Philipphê, Prôcô, Nicanô, Timon, Parmêna và Nicôla quê ở Antiôkia. Họ đưa mấy vị đó đến trước mặt các Tông đồ. Các ngài cầu nguyện và đặt tay trên các vị đó. Lời Chúa lan tràn, và số môn đồ ở Giêrusalem gia tăng rất nhiều. Cũng có đám đông tư tế vâng phục đức tin.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 32, 1-2. 4-5. 18-19

Ðáp: Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, như chúng con đã trông cậy Chúa (c. 22).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Người hiền đức, hãy hân hoan trong Chúa, ca ngợi là việc của những kẻ lòng ngay. Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. - Ðáp.

2) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. - Ðáp.

3) Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 19, 28

Alleluia, alleluia! - Thầy bởi Cha mà ra, và đã đến trong thế gian; bây giờ Thầy lại bỏ thế gian mà về cùng Cha. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 6, 16-21

"Họ thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Chiều đến, các môn đệ Chúa Giêsu xuống bờ biển. Rồi lên thuyền, sang bên kia, trẩy về hướng Capharnaum. Trời đã tối, mà Chúa Giêsu vẫn chưa đến với họ. Bỗng cuồng phong thổi lên, biển động mạnh. Khi chèo đi được chừng hai mươi lăm hay ba mươi dặm, thì họ thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển, tiến lại gần thuyền, họ hoảng sợ. Nhưng Người nói với họ: "Chính Thầy đây, đừng sợ". Họ định rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc ấy, thuyền đã đến nơi họ định tới.

Ðó là lời Chúa.







Cảm Nghiệm

Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Bảy trong Tuần II Phục Sinh về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm qua việc Chúa Giêsu đi trên biển đến với các tông đồ đang sang bên kia bờ và bị sóng gió trong đêm tối, một hành động Người làm để củng cố đức tin cho các vị, để từ từ các vị được Người tái sinh thần linh, thành phần mà, sau khi Người sống lại từ cõi chết và lên trời, còn được rửa trong Thánh Linh nữa, như trong bài đọc 1 hôm nay cho thấy, ch "chuyên lo cầu nguyện và phục vụ lời Chúa" là những gì chính yếu trong sứ vụ và thừa tác vụ mục tử của các vị.

Bài Đọc I (Tông Vụ 6:1-7):

"Trong những ngày ấy, số môn đồ gia tăng, nên xảy ra việc các người Hy-lạp kêu trách các người Do-thái, vì trong việc phục vụ hằng ngày, người ta khinh miệt các bà goá trong nhóm họ. Nên Mười Hai Vị triệu tập toàn thể môn đồ đến và bảo: 'Chúng tôi bỏ việc rao giảng lời Chúa mà lo đi giúp bàn, thì không phải lẽ. Vậy thưa anh em, anh em hãy chọn lấy bảy người trong anh em có tiếng tốt, đầy Thánh Thần và khôn ngoan, để chúng tôi đặt họ làm việc đó. Còn chúng tôi, thì sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ lời Chúa'. Cả đoàn thể đều tán thành lời các ngài và chọn Têphanô, một người đầy đức tin và Thánh Thần, và chọn Philipphê, Prôcô, Nicanô, Timon, Parmêna và Nicôla quê ở Antiôkia. Họ đưa mấy vị đó đến trước mặt các Tông đồ. Các ngài cầu nguyện và đặt tay trên các vị đó. Lời Chúa lan tràn, và số môn đồ ở Giêrusalem gia tăng rất nhiều. Cũng có đám đông tư tế vâng phục đức tin".

Phúc Âm (Gioan 6:16-21):

"Chiều đến, các môn đệ Chúa Giêsu xuống bờ biển. Rồi lên thuyền, sang bên kia, trẩy về hướng Capharnaum. Trời đã tối, mà Chúa Giêsu vẫn chưa đến với họ. Bỗng cuồng phong thổi lên, biển động mạnh. Khi chèo đi được chừng hai mươi lăm hay ba mươi dặm, thì họ thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển, tiến lại gần thuyền, họ hoảng sợ. Nhưng Người nói với họ: 'Chính Thầy đây, đừng sợ'. Họ định rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc ấy, thuyền đã đến nơi họ định tới".
Trong bài phúc âm hôm nay, chúng ta thấy hoàn toàn hợp với đời sống đức tin tu đức của Kitô giáo chúng ta nói chung và mỗi người chúng ta nói riêng:
Trước hết, sự kiện "trời đã tối, mà Chúa Giêsu vẫn chưa đến với họ" quả thực là tình trạng mỗi khi vắng bóng Thiên Chúa, nhất là khi chúng ta tìm kiếm Ngài mà chẳng thấy Ngài đâu, ngược lại Ngài lại tự ẩn mặt đi hay cố ý khuất dạng khỏi cảm giác hay lý trí của chúng ta, chúng ta cảm thấy lẻ loi cô độc và sợ hãi.

Sau nữa, sự kiện "bỗng cuồng phong thổi lên, biển động mạnh" là sự kiện lưỡng diện cho thấy, trước hết, đối với nạn nhân trong cuộc thì thật là bất hạnh và nguy hiểm, mà thường bao giờ không có Chúa, như ở trong tối tăm đức tin thì thế nào cũng gặp "ma", gặp thử thách và cám dỗ, tuy nhiên, đối với chính Đấng muốn tỏ mình ra thì đó lại là sự kiện báo trước việc Ngài sắp xuất hiện, như các hiện tượng thiên nhiên (sấm xét. chớp sáng, động đất, lửa cháy v.v.) trước mỗi cuộc thần hiển của Thiên Chúa trong hành trình về Đất Hứa của Dân Do Thái. Bởi thế, ngay sau sự kiện "bỗng cuồng phong nổi lên, biển động mạnh" thì "Chúa Giêsu đi trên mặt biển tiến lại gần thuyền". 

Sau hết, sự kiện "họ định rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc ấy, thuyền đã đến nơi họ định tới" cho thấy, một khi có sự hiện diện của Chúa thì mọi sự trôi chảy và linh hồn cảm thấy tiến nhanh trên đường nhân đức, nhất là sau mỗi lần thắng vượt được th thách, nhờ đó đức tin càng mạnh và đời sống siêu nhiên càng tăng trưởng lạ lùng ngoài sức tự nhiên cố gắng trước đó mãi mà hầu như vẫn dậm chân tại chỗ.

Bài Phúc Âm hôm nay, tiếp theo ngay sau bài Phúc Âm hôm qua về phép lạ bánh hóa ra nhiều để nuôi dân chúng, ám chỉ đề tài "Thày là sự sống" cho Mùa Phục Sinh còn lại sau Tuần Bát Nhật Phục Sinh, nhưng lại là Bài Phúc Âm hầu như chẳng thấy chi tiết nào liên quan đến sự sống một cách hiển nhiên như bài Phúc Âm ngay trước đó hôm qua. Tuy nhiên, "Thày là sự sống" được tỏ hiện bằng những cách thức và hình thức khác nhau, chứ không phải giống nhau. Ở chỗ, chính vì "Thày là sự sống", một sự sống bất diệt và toàn năng, mà Người chẳng những có thể khống chế được sự dữ xẩy ra trong thiên nhiên như bão tố ở bài Phúc Âm hôm nay, mà còn nhờ đó, nhờ quyền năng đầy sự sống thần linh này làm cho các tông đồ tin mà được sống nữa. Tuyệt vời.


Xin xem thêm: Phụng Vụ Lời Chúa - Những Nét Chính Yếu của Mùa Phục Sinh trong Sách Tông Đồ Công Vụ