SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XIV Thường Niên B và Lẻ
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL


Chúa Nhật

 

Chúa Nhật 14 Quanh Năm Năm B

 

Bài Ðọc I: Ed 2, 2-5

"Ðây là nhà phản loạn, và họ sẽ biết rằng giữa họ vẫn có một tiên tri".

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Trong những ngày ấy, sau khi nói với tôi, Thần Linh nhập vào tôi, và đỡ tôi đứng dậy. Tôi nghe Người nói với tôi rằng: "Hỡi con người, Ta sai ngươi đến với con cái Israel, đến với dân nổi loạn phản nghịch Ta, chúng và cha ông chúng vi phạm giao ước của Ta cho đến ngày nay. Ta sai ngươi đến để nói với những con cái dầy mặt cứng lòng rằng: 'Chúa là Thiên Chúa phán như vậy'. Hoặc chúng nghe, hoặc chúng không nghe, vì đây là bọn phản loạn, và chúng sẽ biết rằng giữa chúng có một tiên tri".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 122, 1-2a. 2bcd. 3-4

Ðáp: Mắt chúng con nhìn vào Chúa, cho tới khi Người thương xót chúng con (c. 2cd).

Xướng: 1) Con ngước mắt nhìn lên Chúa, Ngài ngự trị ở cõi cao xanh. Kìa, như mắt những người nam tôi tớ, nhìn vào tay các vị chủ ông. - Ðáp.

2) Như mắt của những người tỳ nữ, nhìn vào tay các vị chủ bà, mắt chúng tôi cũng nhìn vào Chúa, là Thiên Chúa của chúng tôi như thế, cho tới khi Người thương xót chúng tôi. - Ðáp.

3) Nguyện xót thương, lạy Chúa, nguyện xót thương, vì chúng con đã bị khinh dể ê chề quá đỗi! Linh hồn chúng con thật là no ngấy lời chê cười của tụi giàu sang, nỗi miệt thị của lũ kiêu căng. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 2 Cr 12, 7-10

"Tôi rất vui sướng khoe mình về những sự yếu hèn của tôi, để sức mạnh của Ðức Kitô ngự trong tôi".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, để những mạc khải cao siêu không làm cho tôi tự cao tự đại, thì một cái dằm đâm vào thịt tôi, một thần sứ của Satan vả mặt tôi. Vì thế đã ba lần tôi van nài Chúa, để nó rời khỏi tôi. Nhưng Người phán với tôi rằng: "Ơn Ta đủ cho ngươi, vì sức mạnh của Ta được tỏ bày trong sự yếu đuối". Vậy tôi rất vui sướng khoe mình về những sự yếu hèn của tôi, để sức mạnh của Ðức Kitô ngự trong tôi. Vì thế, tôi vui thoả trong sự yếu hèn của tôi, trong sự lăng nhục, quẫn bách, bắt bớ và khốn khó vì Ðức Kitô: vì khi tôi yếu đuối, chính là lúc tôi mạnh mẽ.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: 1 Pr 1, 25

Alleluia, alleluia! - Lời Chúa tồn tại muôn đời, đó là lời Tin Mừng đã rao giảng cho anh em. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 6, 1-6

"Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà và các môn đệ cùng theo Người. Ðến ngày Sabbat, Người vào giảng trong hội đường, và nhiều thính giả sửng sốt về giáo lý của Người, nên nói rằng: "Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?" Và họ vấp phạm vì Người.

Chúa Giêsu liền bảo họ: "Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình". Ở đó Người không làm phép lạ nào được, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân, và Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin. Người đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy.

Ðó là lời Chúa.

Related image

 


sự sống âm ỉ

 

 

 

Bài Phúc Âm nói riêng và Phụng Vụ Lời Chúa nói chung cho Chúa Nhật XVI Thường Niên hậu Phục Sinh hôm nay dường như không cho chúng ta thấy được chủ đề "sự sống" của Mùa Phục Sinh kéo dài sang cả Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh một cách rõ ràng hay có liên hệ nào đó như các Chúa Nhật (XI, XII và XIII) vừa rồi, nhưng ở một khía cạnh sâu xa nào đó cũng gián tiếp liên quan đến "sự sống"

Thật vậy, trong bài Phúc Âm Chúa Nhật XVI hôm nay, Thánh ký Marco thuật lại biến cố "Chúa Giêsu trở về quê nhà" của Người là Nazarét, và "đến ngày Sabbat, Người vào giảng trong hội đường, và nhiều thính giả sửng sốt về giáo lý của Người", nhưng họ vẫn cảm thấy Người chẳng có gì đặc biệt hơn ai hết, khi họ nhìn về quá khứ của Người bằng con mắt quen thuộc có tính cách hoàn toàn thuần tự nhiên: 

"Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?"

Đối với Thánh ký Marco thì tâm tưởng, lời nói và thái độ mà dân làng của Người tỏ ra với Người như thế thì chẳng khác nào "họ vấp phạm vì Người", ở chỗ, họ không thể nào tin rằng Người lại có thể trổi vượt xuất chúng như thế. Và sở dĩ "họ vấp phạm vì Người" như vậy là do bởi một lý do tâm lý rất dễ hiểu và thật đáng thông cảm, như chính Chúa Giêsu đã cho họ biết trong bài Phúc Âm hôm nay, đó là: "Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình".

Thế nhưng, dù sao chính vì dân làng của Người dù "sửng sốt" về Người nhưng vẫn không cảm phục Người và không chấp nhận Người, nghĩa là, như Thánh ký Marco nhận định, "họ cứng lòng tin", đến độ làm cho Chúa Giêsu "ngạc nhiên", mà hậu quả tất yếu kèm theo đó là "Người không làm phép lạ nào được, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân" và "Người đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy"

Nếu so sánh với một trong 4 trường hợp liên quan đến môi trường mà hạt giống lời Chúa được gieo vãi, như Thánh ký Marco thuật lại về dụ ngôn hạt giống của Chúa Giêsu (xem 4:3-8), thì phải chăng thành phần dân làng Nazarét của Người thuộc loại "những hạt rơi trên đường đi là những người vừa nghe lời Chúa xong thì Satan đến lấy mất những gì được gieo nơi họ" (câu 15).

Và nếu "sự sống" được chất chứa trong "hạt giống" nói chung và nơi nhân của "hạt giống" nói riêng thì "sự sống" nơi "hạt giống" muốn nẩy nở và tăng trưởng trọn vẹn tầm vóc của mình lại lệ thuộc vào môi trường đất đai tốt xấu lúc ban đầuỞ trường hợp dân làng Nazarét trong bài Phúc Âm hôm nay có thể nói không phải là thứ "đất lành chim đậu", nên Chúa Giêsu mới phải "đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy".

Tâm trạng của dân làng Nazarét trong bài Phúc Âm hôm nay cũng là tâm trạng chung của loài người đối với những nhân vật mình vốn quen biết từ trước, nhất là của riêng dân Do Thái, một dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn, và đã từng thấy Ngài tỏ mình ra cho họ bằng đủ mọi dấu kỳ sự lạ liên tục trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, nhất là qua các vị tiên tri, nhưng hình như là "bụt nhà không thiêng", ở chỗ dân tôc này vẫn không làm sao thoát được tình trạng và khuynh hướng cứng đầu, cứng cổ, cứng lòng, thậm chí phản loạn nữa, đúng như lời Chúa phán qua Tiên Tri Êzêkiên trong bài đọc thứ 1 hôm nay:

"Trong những ngày ấy, sau khi nói với tôi, Thần Linh nhập vào tôi, và đỡ tôi đứng dậy. Tôi nghe Người nói với tôi rằng: 'Hỡi con người, Ta sai ngươi đến với con cái Israel, đến với dân nổi loạn phản nghịch Ta, chúng và cha ông chúng vi phạm giao ước của Ta cho đến ngày nay. Ta sai ngươi đến để nói với những con cái dầy mặt cứng lòng rằng: Chúa là Thiên Chúa phán như vậy. Hoặc chúng nghe, hoặc chúng không nghe, vì đây là bọn phản loạn, và chúng sẽ biết rằng giữa chúng có một tiên tri".

Thế nhưng, đối với thành phần được Thiên Chúa ưu đãi, không phải được Ngài gần gũi và tỏ mình ra cho thì trở thành siêu đẳng, không còn gì là tầm thường và hèn hạ theo bản tính tự nhiên của mình nữa. Trái lại, Ngài lại muốn họ tiếp tục ở trong trạng thái bất toàn ấy để có cơ hội tỏ bản tính "trọn lành" của Ngài ra cho họ và nơi họ. Điển hình là trường hợp Kitô hữu cho dù đã được thánh hóa bởi Phép Rửa nhưng vẫn mang bản tính yếu đuối với đầy những mầm mống tội lỗi đến độ có thể sa ngã phạm tội bất cứ lúc nào, thậm chí mất Thánh Sủng bởi trọng tội.

Trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô cũng tự thú với Kitô hữu Giáo Đoàn Corintô về trường hợp của ngài, một con người tự nhiên được Thiên Chúa cho lên tầng trời thứ ba, nơi mà mắt chưa hề xem và tai chưa hề nghe (2Corinto 12:3-4), một đặc ân được tu đức họ gọi là ngất trí xuất thần siêu đẳng chẳng mấy ai hưởng như ngài, nhưng, như ngài cho biết như sau:

"Để những mạc khải cao siêu không làm cho tôi tự cao tự đại, thì một cái dằm đâm vào thịt tôi, một thần sứ của Satan vả mặt tôi. Vì thế đã ba lần tôi van nài Chúa, để nó rời khỏi tôi. Nhưng Người phán với tôi rằng: 'Ơn Ta đủ cho ngươi, vì sức mạnh của Ta được tỏ bày trong sự yếu đuối'". 

Vấn đề ở đây là không phải Thiên Chúa chỉ tỏ mình ra cho con người qua những ơn lạ mà cả qua chính bản thân yếu hèn của họ nữa, thậm chí qua chính yếu hèn của họ việc tỏ mình ra của Ngài lại còn tỏ tường và hiển vinh hơn nữa. Đó là lý do trong bài đọc 2 hôm nay Thánh Phaolô đã chí lý cảm nhận và xác tín rằng: 


"Vậy tôi rất vui sướng khoe mình về những sự yếu hèn của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ngự trong tôi. Vì thế, tôi vui thoả trong sự yếu hèn của tôi, trong sự lăng nhục, quẫn bách, bắt bớ và khốn khó vì Đức Kitô: vì khi tôi yếu đuối, chính là lúc tôi mạnh mẽ".

Thánh Vịnh 122 trong bài Đáp Ca hôm nay cho thấy, nếu tận thâm tâm của một tâm hồn nhận biết mình hèn yếu, (như trường hợp của Thánh Phaolô trong bài đọc 2 hôm nay), thậm chí đã phạm những lỗi lầm đáng trách (như trường hợp của dân làng Nazarét trong bài Phúc Âm hôm nay), thì "sự sống" vẫn có thể nẩy mầm và Thiên Chúa vẫn có thể tỏ mình ra nơi ánh mắt của họ chỉ biết ngước trông lên tình thương và ơn cứu độ của Thiên Chúa: 


1) Con ngước mắt nhìn lên Chúa, Ngài ngự trị ở cõi cao xanh. Kìa, như mắt những người nam tôi tớ, nhìn vào tay các vị chủ ông. 

2) Như mắt của những người tỳ nữ, nhìn vào tay các vị chủ bà, mắt chúng tôi cũng nhìn vào Chúa, là Thiên Chúa của chúng tôi như thế, cho tới khi Người thương xót chúng tôi. 

3) Nguyện xót thương, lạy Chúa, nguyện xót thương, vì chúng con đã bị khinh dể ê chề quá đỗi! Linh hồn chúng con thật là no ngấy lời chê cười của tụi giàu sang, nỗi miệt thị của lũ kiêu căng. 

 



Thứ Hai

Bài Ðọc I: (Năm I) St 28, 10-22a

"Ông thấy một cái thang dựng đứng, thấy các thiên thần lên xuống trên thang, và nghe Thiên Chúa phán".

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, ông Giacóp ra khỏi xứ Bersabê, đi sang thành Haran. Khi ông tới một nơi kia, mặt trời đã lặn, ông muốn ngủ đêm lại đó, nên ông lấy một hòn đá nơi ấy mà gối đầu và ngủ tại đó. Ông chiêm bao thấy một cái thang, chân thang chấm đất và đầu thang chạm đến trời: các thiên thần lên xuống trên thang ấy.

Chúa ngự trên đầu thang và phán rằng: "Ta là Thiên Chúa Abraham tổ phụ ngươi, và là Thiên Chúa Isaac: Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi đất ngươi đang ngủ đây. Dòng dõi ngươi sẽ đông đúc như bụi trên mặt đất. Ngươi sẽ tràn sang đông, tây, nam, bắc, và nhờ ngươi và dòng dõi ngươi, mọi dân tộc trên thế giới này sẽ được chúc phúc. Bất cứ ngươi đi đâu, Ta sẽ gìn giữ ngươi và Ta sẽ dẫn ngươi vào đất này: Ta sẽ không bỏ ngươi cho đến khi Ta đã thi hành điều Ta hứa với ngươi".

Khi Giacóp tỉnh giấc mộng, ông nói: "Quả thực Chúa ngự nơi này mà tôi không biết". Ông run sợ mà nói rằng: "Nơi này đáng kinh hãi là dường nào! Ðây chẳng khác gì đền của Thiên Chúa và cửa thiên đàng". Sáng ngày Giacóp chỗi dậy, ông lấy hòn đá đã dùng gối đầu mà dựng lên làm bia ghi dấu, rồi đổ dầu lên trên. Ông gọi tên thành ấy là Bêthel, khi trước thành này gọi là Luza.

Giacóp đã khấn rằng: "Nếu Thiên Chúa ở với con và gìn giữ con trên đường con đang đi, ban cho con cơm ăn áo mặc, và nếu con trở về nhà cha con bằng yên, thì Chúa sẽ là Thiên Chúa của con và hòn đá con dựng lên làm bia ghi dấu đây sẽ gọi là Nhà của Thiên Chúa".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 90, 1-2. 3-4. 14-15ab

Ðáp: Lạy Chúa con, con tin cậy ở Ngài (c. 2b).

Xướng: 1) Bạn sống trong sự che chở của Ðấng Tối Cao, bạn cư ngụ dưới bóng của Ðấng Toàn Năng, hãy thưa cùng Chúa: "Chúa là chiến lũy, nơi con nương náu; lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài".- Ðáp.

2) Vì chính Ngài sẽ cứu bạn thoát lưới dò của kẻ bẫy chim, và thoát khỏi quan ôn tác hại. Ngài sẽ che chở bạn trong bóng cánh của Ngài, và dưới cánh Ngài, bạn sẽ nương thân: lòng trung tín của Ngài là mã giáp và khiên thuẫn. - Ðáp.

3) Vì người quý mến Ta, Ta sẽ giải thoát cho, Ta sẽ che chở người bởi lẽ người nhìn biết danh Ta. Người sẽ kêu cầu Ta và Ta sẽ nhậm lời; Ta sẽ ở cùng người trong lúc gian truân. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 144, 14cd

Alleluia, alleluia! - Chúa trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 9, 18-26

"Con gái tôi vừa mới chết, nhưng xin Ngài đến, nó sẽ sống lại".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đang nói, thì có một vị kỳ mục kia đến lạy Người mà thưa rằng: "Lạy Ngài, con gái tôi vừa mới chết, nhưng xin Ngài đến đặt tay trên nó, thì nó sẽ sống lại". Chúa Giêsu chỗi dậy, và cùng với các môn đệ, đi theo ông ấy. Và này có người đàn bà bị bệnh loạn huyết đã mười hai năm, tiến lại đàng sau Người và chạm đến gấu áo Người. Vì bà nghĩ thầm rằng: Nếu tôi được chạm đến áo Người thôi, thì tôi sẽ được khỏi. Chúa Giêsu ngoảnh lại, trông thấy bà ta, liền phán rằng: "Này con, hãy vững lòng. Ðức tin của con đã cứu thoát con". Và người đàn bà được khỏi bệnh.

Khi Chúa Giêsu đến nhà vị kỳ mục, và thấy những người thổi kèn và đám đông đang xôn xao, thì bảo rằng: "Các ngươi hãy lui ra, con bé không có chết đâu, nó ngủ đó thôi". Họ liền nhạo cười Người. Và khi đã xua đám đông ra ngoài, Người vào cầm tay đứa bé và nó liền chỗi dậy. Tin này đồn đi khắp cả miền ấy.

Ðó là lời Chúa.

 

Evangelho de hoje (Mt 9,18-26) - Egídio Serpa | Egídio Serpa - Diário do  Nordeste

 


Như "cái thang" đưa con người từ đất lên trời


Bài Phúc Âm hôm nay, Thánh ký Mathêu thuật lại một sự kiện giống như Thánh ký Marcô đã thuật lại trong bài Phúc Âm Chúa Nhật XIII Thường Niên Năm B tuần trước. Tuy nhiên, Thánh ký Mathêu thuật lại có vẻ ngắn gọn hơn, ít chi tiết hơn Thánh ký Marco, bao gồm một số chi tiết khác hẳn nhau:

Hai chi tiết hoàn toàn khác nhau, thậm chí nghịch nhau như sau: Chi tiết thứ nhất đó là người đến xin Chúa cứu đứa con gái của mình là "một vị kỳ mục" chứ không phải là một "trưởng hội đường" như Thánh Marco cho biết, và chi tiết thứ hai đó là "con gái tôi vừa mới chết" chứ không phải "đang hấp hối" như trong Phúc Âm Thánh ký Marco.

Ngoài ra, còn hai chi tiết khác cả hai bài Phúc Âm đều giống nhau, đó là chi tiết về người đàn bà loạn huyết 12 năm được Chúa Giêsu chữa lành nhờ bà có lòng tin: "Này con, hãy vững lòng. Đức tin của con đã cứu thoát con", và chi tiết về người con gái vừa qua đời được Người đến cải tử hoàn sinh cho: "'Các ngươi hãy lui ra, con bé không có chết đâu, nó ngủ đó thôi'. Họ liền nhạo cười Người. Và khi đã xua đám đông ra ngoài, Người vào cầm tay đứa bé và nó liền chỗi dậy"

Về hai chi tiết hoàn toàn khác nhau, thậm chí nghịch nhau giữa bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu hôm nay và bài Phúc Âm của Thánh ký Marco hôm Chúa Nhật XIII Thường Niên Năm B tuần trước, chúng ta có thể đặt vấn đề tại sao, nhưng cả hai chỉ là những chi tiết phụ thuộc không đáng lưu ý bằng những gì chính yếu hơn, đó là việc Chúa Giêsu tỏ mình ra qua cái chết của người con gái này nơi cả 2 bài Phúc Âm (cho dù là hấp hối hay vừa chết), chẳng những cho cha mẹ của em (cho dù người bố của em là trưởng hội đường hay kỳ mục) mà còn cho cả dân chúng bấy giờ nữa. 

Nếu bài đọc 1 cho năm lẻ hôm nay được trích từ Sách Khởi Nguyên về giấc chiêm bao của tổ phụ Giacóp "thấy một cái thang, chân thang chấm đất và đầu thang chạm đến trời: các thiên thần lên xuống trên thang ấy", thì ý nghĩa của bài đọc này có liên hệ gì với bài Phúc Âm hôm nay nói riêng và phụng vụ Lời Chúa nói chung (bao gồm cả bài Đáp Ca) hay chăng? Thưa có - ở chỗ như thế này:

Cả việc chữa lành cho người đàn bà loạn huyết 12 năm lẫn việc cải tử hoàn sinh cho người con gái của gia chủ thân phụ xin Chúa Giêsu cứu giúp, đều được Chúa Giêsu thực hiện bằng những thứ tiếp xúc khác nhau với thân xác của Người: Trước hết, người đàn bà loạn huyết 12 năm được chữa lành nhờ "chạm đến gấu áo Người. Vì bà nghĩ thầm rằng: Nếu tôi được chạm đến áo Người thôi, thì tôi sẽ được khỏi", còn người con gái được cải tử hoàn sinh nhờ "Người vào cầm tay đứa bé". 

Có nghĩa là quyền năng chữa lành bệnh nạn tật nguyền và cải từ hoàn sinh của Chúa Giêsu là những gì xuất phát từ thân xác của Người, thậm chí từ cả "gấu áo" Người mặc, hay nói cách khác, thân xác của Người và những gì liên hệ tới Người đều có thể trở thành phương tiện cứu độ con người, như "cái thang" đưa con người từ đất lên trời. 

Thật vậy, tổ phụ Giacóp đã mơ thấy hình bóng của một Vị Cứu Tinh nơi hình ảnh "cái thang" có "các thiên thần lên xuống trên thang ấy", ám chỉ nhân tính của Người nói chung và thân xác của Người nói riêng, một nhân tính và một thân xác được các thiên thần hầu cận và phục vụ, như trong biến cố Người chay tịnh 40 ngày trong hoang địa ngay sau khi Người bị cám dỗ (xem Mathêu 4:11), hay biến cố Người sầu thương trong Vườn Cây Dầu trước khi Người toát mồ hôi như máu nhỏ xuống đất (xem Luca 22:43), hoặc biến cố Người phục sinh từ trong cõi chết có hai thiên thần ngồi trong mồ một vị đằng đầu và một vị đằng chân của vị thế thi thể Người được mai táng (xem Gioan 20:12).

Tâm trạng của con người sống với bản tính đã bị hư hoại bởi nguyên tội và mang nơi thân xác của mình những hậu quả của nguyên tội là đau khổ (như người đàn bà loạn huyết 12 năm) và sự chết (như đứa con gái của gia chủ thân phụ) trong bài Phúc Âm hôm nay đều cảm thấy cần được Thiên Chúa cứu độ, Đấng thực sự đã thực hiện việc cứu độ họ qua Con Một của Ngài đã hóa thân làm người mặc lấy bản tính con người là Chúa Giêsu Kitô. Tâm trạng của họ có thể phản ảnh qua bài Đáp ca hôm nay:

1) Bạn sống trong sự che chở của Đấng Tối Cao, bạn cư ngụ dưới bóng của Đấng Toàn Năng, hãy thưa cùng Chúa: "Chúa là chiến lũy, nơi con nương náu; lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài".

2) Vì chính Ngài sẽ cứu bạn thoát lưới dò của kẻ bẫy chim, và thoát khỏi quan ôn tác hại. Ngài sẽ che chở bạn trong bóng cánh của Ngài, và dưới cánh Ngài, bạn sẽ nương thân: lòng trung tín của Ngài là mã giáp và khiên thuẫn. 

3) Vì người quý mến Ta, Ta sẽ giải thoát cho, Ta sẽ che chở người bởi lẽ người nhìn biết danh Ta. Người sẽ kêu cầu Ta và Ta sẽ nhậm lời; Ta sẽ ở cùng người trong lúc gian truân. 


 

Thánh Antôn Zacaria Linh Mục (5/7)

 

12005 St Anton Maria Zacaria

 

 

Thánh Antôn Zaccaria, Linh mục, (1502-1539)
 
Thánh Antôn Maria Giacaria sinh năm 1502 tại Grêmôna, cha Ngài mất sớm, mẹ Ngài, người góa phụ trẻ 18 tuổi không còn biết tới hạnh phúc nào hơn trên trần gian là đào tạo tâm hồn người con nhỏ của mình. Thấy con thích làm việc hơn là chơi giỡn và biết kiên trì hy sinh hãm mình, bà rất mừng rỡ, chính bà cũng phát huy tình bác ái đối với người nghèo khổ, làm gương cho con.
 
Thành Grêmôna nơi Antôn sinh trưởng vừa mới hết chiến tranh. Sau cuộc chiếm đóng của người Pháp, dân thành lại phải chiến đấu với Ludorse Sforza. Tình cảnh thật khốn khổ. Ngày kia trên đường về học, cậu bé Antôn đã cởi tấm áo thêu của mình cho người nghèo mặc. Thấy vậy, người mẹ đã âu yếm ôm con vào lòng. Từ đó Antôn xin cho con được ăn mặc bình thường, có khi còn nhịn phần ăn cho người nghèo nữa.
 
Thân mẫu Antôn đã chọn cho Ngài những bậc thầy nổi danh về văn chương Hy lạp và Latinh. Vào tuổi 15, Antôn đã theo môn triết học ở Pavie, rồi lại theo đuổi y học ở Padua. Ở đại học người ta chế nhạo nếp sống nghèo khó của Ngài. Tốt nghiệp phải cấp bằng tiến sĩ ưu hạng, Ngài được rất nhiều khách hàng tín nhiệm. Nhưng đây lại là thời Luthênô nổi dậy. Antôn bỏ nghề thuốc để theo môn thần học.
 
Antôn Giacaria bắt đầu tụ tập trẻ em lại, Ngài nói cho chúng nghe về các chân lý cao trọng. Cha mẹ chúng cũng thường tới nghe dạy. Họ nói : - Nào chúng mình đến nghe thiên thần của Chúa.
 
Tay cầm thánh giá, thánh nhân rảo qua khắp các đường phố nói về ơn cứu chuộc và việc thống hối. Nơi nào bị chế nhạo, bị xỉ nhục, Ngài càng năng lui tới hơn.
 
Năm 1528, lúc được 26 tuổi, Antôn được thụ phong linh mục. Ngài đến ở Milan, thăm viếng các người đau khổ trong các nhà thương, nhà tù, nơi các xóm nghèo. Các nghĩa cử Ngài làm đã mang lại cho Ngài danh hiệu "người cha dân tộc". Ngài ngồi tòa hàng giờ để phục sinh các linh hồn. Ngài chống lại phái thệ phản và đối đầu với bất cứ ai muốn tấn công đức tin tinh tuyền. Cha Antôn có hai người bạn tông đồ là Mariggia và Ferrari. Đức giáo hoàng truyền cho các Ngài lập một hội dòng mới, các tu sĩ dòng thánh Phaolô. Các Ngài được trao cho việc coi sóc thánh đường thánh Barnabê, nên người ta gọi các Ngài là các cha Barnabê.
 
Thánh Antôn Maria Giacaria thường nói với các môn sinh: - "Đặc tính của những tâm hồn đại lượng là phục vụ không mong phần thưởng, chiến đấu không chờ lương bổng. Hãy tiến tới không ngừng và hướng tới sự hoàn thiện cao cả hơn. Hãy nói với Chúa Giêsu bị đóng đinh về tất cả những gì bạn thấy và lãnh ý Người, cho mình và cho người khác".
 
Ngài dạy họ phải quen với những phỉ báng khinh miệt nhưng không làm như vậy được nếu không hướng trọn ý tưởng về với Chúa, và nếu kinh nguyện chưa nên của ăn nuôi sống linh hồn. Các linh mục và cả hàng giáo sĩ đã bắt đầu. Chiều về anh em họp nhau lại để thú tội. Thánh nhân còn dẫn anh em rảo qua đường phố bằng cách vác Thánh giá mà rao giảng. Họ còn tự động cột giây vào cổ, làm những việc nặng nhọc trong khi một số khác đi ăn xin cho người nghèo.
 
Thấy vậy, nhiều người thống hối và cải thiện đời sống. Thánh Antôn còn cổ động lòng sùng kính Thánh Thể khuyên năng rước lễ hơn. Thời đó người ta chỉ rước lễ một hai lần trong năm. Trước sự đổi mới này, nhiều người coi sự nhiệt thành của Ngài là cuồng tín dị đoan. Thánh nhân vẫn an lòng và cảm nghiệm điều Ngài thường nói : - Bạn sẽ được thấp nhập vào Chúa đến độ không còn lo tưởng đến những sự trên thế gian này nữa.
 
Năm 1530, Ngài giúp nữ công tước Torelli thành lập một hội dòng nữ. Đức giáo hoàng Phaolô III đã chuẩn y hội dòng này và đặt tên là "Dòng chị em các thiên thần".
 
Năm 1536, cha Antôn Giacaria từ chức bề trên nhà dòng mà Ngài đã giữ từ đầu để đi truyền giáo. Ngài rao giảng Phúc âm và giải hòa các cuộc tranh chấp. Công việc thật bề bộn, không thể lường trước được, dầu vậy thánh nhân vẫn trung thành với tác vụ, các cuộc tĩnh tâm và thư tín.
 
Tuy nhiên lần này, tại Guastalla, thánh nhân đã kiệt sức. Xa các môn sinh, Ngài lui về với thân mẫu. Bà khóc lóc khi thấy con. Nhưng Antôn nói :- Mẹ ơi ! Mẹ đừng khóc nữa. Chẳng bao lâu rồi mẹ cũng được vui mừng với con trong vinh quang bất tận mà bây giờ con đang tiến vào.
 
Ba giờ chiều ngày 5 tháng 7 năm 1539, linh mục trẻ 36 tuổi Antôn Maria Giacaria thở hơi cuối cùng trong tay mẹ hiền.
 
*
Ngày 05-07: Thánh ANTÔN MARIA GIACARIA  Linh mục (1502 - 1539)

Khi Martin Luther tấn công những lạm dụng trong Giáo Hội, lúc ấy một phong trào canh tân đang manh nha thành hình. Trong số những người của phong trào có Thánh Antôn Zaccaria
 
Thuộc dòng dõi quý tộc, cha của Antôn Zaccaria mất sớm khi ngài mới hai tuổi, và mẹ ngài, người goá phụ 18 tuổi, ở vậy nuôi con. Bà tận tụy dạy dỗ đạo lý cho con ngay từ nhỏ. Khi 22 tuổi, Antôn lấy bằng tiến sĩ y khoa và làm việc ở Cremona, giúp đỡ người nghèo và siêng năng hoạt động tông đồ. Ngoài phần xác của con bệnh, ngài còn lo lắng đến phần hồn của họ, ngài là một giáo lý viên và được thụ phong linh mục lúc 26 tuổi.
 
Ðược sai đến Milan trong một vài năm, Cha Antôn Zaccaria thành lập hai tu hội, một cho nam giới và một cho nữ giới. Mục đích của tu hội là canh tân xã hội đang sa sút vào thời ấy, bắt đầu từ hàng giáo sĩ và tu sĩ.
 
Vì rất cảm kích Thánh Phaolô, Cha Antôn Zaccaria đặt tên cho tu hội là Bácnabê -- tên bạn đồng hành của Thánh Phaolô -- và ngài hăng say rao giảng ở trong nhà thờ cũng như ngoài đường phố, tổ chức các nhóm truyền giáo và không xấu hổ khi công khai ăn năn sám hối. Ngài còn khuyến khích những hình thức sinh hoạt mới mẻ, như giáo dân cộng tác trong công việc tông đồ, siêng năng rước lễ, chầu Thánh Thể và rung chuông nhà thờ vào 3 giờ chiều thứ Sáu hàng tuần.
 
Sự thánh thiện của Cha Antôn đã khích lệ nhiều người thay đổi đời sống, và như tất cả các vị thánh khác, ngài cũng bị nhiều người chống đối. Hai lần, tu hội của ngài phải chịu sự điều tra của các giới chức trong Giáo Hội, và cả hai lần đều được miễn trừ.
 
Ðang khi trên đường công tác hòa giải, ngài bị bệnh nặng và được đưa về thăm người mẹ. Ngài từ trần ở Cremona khi mới 36 tuổi.

Lời Bàn
Sự hăng say canh tân của Thánh Antôn Zaccaria có lẽ khiến nhiều người ngày nay "thất vọng". Vào thời điểm mà nhiều người trong Giáo Hội lẫn lộn giữa thế quyền và thần quyền, thì lời rao giảng, lối sống của Thánh Antôn không khác gì một cản trở cần diệt trừ. Nhưng lối sống ấy đích thực là linh đạo của Ðức Kitô, một Ðấng bị đau khổ, bị đóng đinh. Chúng ta cũng không thể "cao trọng hơn Thầy", và con đường thập giá luôn luôn là con đường dẫn đến vinh quang.
 
Trích từ NguoiTinHuu.com

http://www.memaria.org/default.aspx?LangID=0&tabId=392&ArticleID=50627

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Là Đấng sáng lập dòng Banabê (theo tên nơi trụ sở dòng mẹ là tu viện Thánh Banabê ở Milan), Thánh Antôn Giacaria được kính nhớ theo ngày qua đời năm 1539 ở Crémone lúc 37 tuổi. Được phong thánh năm 1897.

Sinh năm 1502, tại Crémone nước Ý. Antôn được mẹ giáo dục theo tinh thần đạo hạnh. Chồng chết lúc bà mới mười tám tuổi, bà từ chối tái hôn để được toàn tâm toàn ý lo cho đứa con duy nhất là Antôn. Tuy còn nhỏ tuổi, Antôn đã khấn giữ khiết trinh trọn đời; sau khi tuyên thệ và từ chối không nhận tài sản cha để lại, Antôn theo học triết lý ở Pavie và ngành y tại Padone. Năm 1524, Antôn trở lại Crémone, dấn thân phục vụ các bệnh nhân. Cảm thấy được Ơn Gọi làm linh mục, Antôn chuẩn bị bước lên đời tư tế, dưới sự hướng dẫn của hai tu sĩ dòng Đaminh. Hai mươi sáu tuổi, năm 1528, Antôn thụ phong linh mục. Năm 1530, ngài tới định cư ở Milan. Tại đây, cùng với hai thành viên Hội Đấng Khôn Ngoan Vĩnh Cửu, ngài thành lập Hội dòng các Giáo sĩ Thánh Phaolô. Hội dòng có mục đích cải tạo hàng giáo sĩ cũng như giáo dân và đã được Đức Giáo Hoàng Clementê VII chuẩn thuận năm 1533.

Thánh Antôn Giacaria có thể được xem là người đi trước Thánh Carôlô trong cuộc phục hưng công giáo: khi Thánh Carôlô tới Milan, năm 1569, đã thấy các tu sĩ Banabê hoạt động ở đó từ nhiều năm trước.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện của ngày phác thảo diện mạo Thánh Antôn, người sống đồng thời với thời kỳ Luther nổi lên chống đối Roma (1520 – 1524). Lời nguyện xin Chúa ban cho chúng ta được sự hiểu biết khôn vời của Đức Kitô như đã ban cho Thánh Phaolô xưa và đã giúp Thánh Antôn Giacaria loan báo Lời Cứu Rỗi cho Hội Thánh.

Thánh Antôn đã thụ huấn tại trường học của Thánh Phaolô để “sống tình yêu Đức Kitô vượt mọi sự hiểu biết” (Ep 3, 19). Bởi thế, Người đã muốn là thầy thuốc chữa bệnh tâm hồn hơn thầy thuốc chữa bệnh phần xác. Nhiệt tình bác ái của thánh nhân biểu lộ qua việc chuyên cần giảng dạy giáo lý và công tác giáo dục; Ngài loan báo Lời Cứu Rỗi ngoài đường phố, trên các quảng trường, lôi kéo nhiều người trở lại, chấn chỉnh các tu viện, như ở Vicence và đem nhiều thành phố làm hòa lại với nhau.

Bài giảng cho các tu sĩ Banabê (Phụng vụ bài đọc) là một trong những bản văn quý hiếm của ngài còn giữ được (mười hai bức thư, sáu bài diễn văn và bản Hiến Pháp). Thánh Antôn Maria mô tả những công hiệu của cái khoa học làm ta “trở nên điên dại vì Đức Kitô” theo như giáo huấn của Thánh Tông Đồ mà thánh nhân gọi là “Đấng hướng dẫn và bảo vệ chúng ta”. Nhà cải cách không muốn thành lập một dòng tu gồm các tu sĩ hoặc tu huynh, nhưng muốn gồm những tông đồ được gọi vào sứ vụ phục vụ Lời và các bí tích, bởi ý đồ của người là muốn chống lại lạc giáo của Luther. Thánh nhân đã can đảm chịu đựng những hiểu lầm và bách hại gây nên cho mình trước khi được phục hồi sau hai phiên tòa mở ra để chống đối Ngài (1534 – 1537), do những người từng đồng hành trong các buổi đầu của viện do người thành lập. Thành viên của viện thời đầu được gọi là tu huynh Phaolô, về sau gọi là các tu sĩ Banabê; hội dòng đã được thành lập, dưới sự bảo trợ của Thánh Phaolô Tông Đồ, xem Người như Đấng hướng dẫn. Thánh Antôn Maria viết: “Dưới sự lãnh đạo của một thủ lãnh như thế, chúng ta không có quyền nhát đảm hay chạy trốn, cũng không được là những đứa con thoái hóa của một người cha như thế”. Từ hội dòng này có hai vị thánh: Thánh Phanxicô Xavie Bianchi và Thánh Alexandre Sauli, một trong những giám mục nổi tiếng nhất của cuộc cải cách do Công Đồng Tridentê khởi xướng.

Enzo Lodi

https://www.tonggiaophanhanoi.org/ngay-5-7-thanh-anton-maria-zacaria-linh-muc-1502-1539/

https://www.kath-vietnamesen.de/phung-vu-2/05-07-thanh-anton-maria-zacaria-linh-muc-1502-1539-le-nho-tuy-chon/

 

 

 

 

 


Thứ Ba


 

Bài Ðọc I: (Năm I) St 32, 22-32

"Tên ông sẽ được gọi là Israel, vì ông có sức mạnh chống lại Thiên Chúa".

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, Giacóp chỗi dậy sớm, đem hai vợ, hai người đầy tớ gái, và mười một người con đi sang qua khe suối Giabốc. Sau khi dẫn họ và đem tất cả của cải qua bên kia suối, ông ở lại một mình, và đây, có một người vật lộn với ông cho đến sáng. Người ấy thấy mình không thể vật ngã Giacóp được, nên đá vào gân đùi ông, và lập tức gân ấy khô bại. Người ấy nói với ông rằng: "Hãy buông ta ra, vì đã hừng đông rồi". Ông trả lời: "Tôi chỉ buông ông ra khi nào ông chúc lành cho tôi". Vậy người ấy hỏi: "Ông tên gì?" Ông trả lời: "Tôi tên là Giacóp". Người ấy lại nói: "Tên ông sẽ không còn gọi là Giacóp nữa, nhưng sẽ gọi là Israel, vì nếu ông có sức mạnh chống lại Thiên Chúa, ắt ông sẽ còn mạnh sức thắng được loài người". Giacóp hỏi người ấy: "Xin ông cho tôi biết ông tên gì?" Người ấy đáp: "Tại sao ông lại hỏi tên ta?" Bấy giờ người ấy chúc lành cho Giacóp chính nơi ấy. Giacóp đặt tên cho nơi ấy là Phanuel, và bảo rằng: "Tôi đã thấy Chúa nhãn tiền mà mạng sống tôi vẫn an toàn".

Khi ông đã ra khỏi Phanuel, thì mặt trời liền mọc lên, nhưng ông đi khập khễnh một chân. Vì lẽ đó, con cái Israel không ăn gân đùi cho đến ngày nay, vì gân đùi Giacóp bị khô bại: bởi thiên thần đã đá vào gân đùi ông, nên ông bị bại.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 16, 1. 2-3. 6-7. 8b và15

Ðáp: Phần con, nhờ công chính, sẽ được thấy thiên nhan (c. 15a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin nghe điều chính nghĩa của con; xin để ý đến lời con kêu cứu, lắng tai nghe con thốt ra từ cặp môi chân thành! - Ðáp.

2) Từ cái nhìn của Chúa hãy diễn ra sự phán quyết về con: vì mắt Ngài thấy rõ điều chân chính. Nếu Ngài lục soát lòng con, nếu ban đêm Ngài thăm viếng, nếu Ngài thử con trong lửa, Ngài sẽ không gặp điều gian ác ở nơi con. - Ðáp.

3) Con kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời con; lạy Chúa, xin lắng tai về bên con, xin nghe rõ tiếng con. Xin tỏ ra đức từ bi lạ lùng của Chúa, là Ðấng giải thoát khỏi bọn đối phương những ai tìm nương tựa tay hữu của Ngài. - Ðáp.

4) Xin che chở con trong bóng cánh tay Ngài. Phần con, nhờ công chính, sẽ được thấy thiên nhan; khi thức giấc, con no thoả nhìn chân dung Chúa. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 10, 27

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng biết Ta". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 9, 32-38

"Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, người ta đem đến Chúa Giêsu một người câm bị quỷ ám. Khi đã trừ quỷ, thì người câm nói được, đám đông dân chúng kinh ngạc và nói rằng: "Chưa bao giờ thấy xảy ra như vậy trong dân Israel". Nhưng các người biệt phái nói rằng: "Ông ta đã nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ".

Và Chúa Giêsu đi rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn. Người liền bảo môn đệ rằng: "Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa".

Ðó là lời Chúa.

 

 

My Reflections...: Reflection for July 9, Tuesday: Fourteenth Week in  Ordinary Time; Matthew 9:32-38

 

 

Một con người dám đấu với Thiên Chúa và "có sức mạnh chống lại Thiên Chúa"

 


Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu cho Thứ Ba Tuần XIV Thường Niên hôm nay bao gồm 2 sự kiện khác nhau: trước hết về việc Chúa Giêsu trừ quỉ, và sau đó về tình trạng chiên cần chủ chiên.

Về việc Chúa Giêsu trừ quỉ, Thánh ký Mathêu thuật lại ở phần trên của bài Phúc Âm hôm nay thế này: "Khi ấy, người ta đem đến Chúa Giêsu một người câm bị quỷ ám. Khi đã trừ quỷ, thì người câm nói được, đám đông dân chúng kinh ngạc và nói rằng: 'Chưa bao giờ thấy xảy ra như vậy trong dân Israel'. Nhưng các người biệt phái nói rằng: 'Ông ta đã nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ'".

Về tình trạng chiên cần chủ chiên, Thánh ký Mathêu thuật lại ở phần dưới của bài Phúc Âm hôm nay như sau: "Chúa Giêsu đi rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn. Người liền bảo môn đệ rằng: 'Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa'".

Ý tưởng chính yếu của bài Phúc Âm hôm nay đó là câu Thánh ký Mathêu ghi nhận về Chúa Giêsu rằng: "Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn". 

Đúng thế, tất cả những gì Thiên Chúa làm cho con người đều do bởi tình thương của Ngài trước thân phận tháp hèn và khốn khổ của con người, thành phần không thể tự cứu được mình mà chỉ hoàn toàn trông chờ vào Ngài, Đấng quả thực đã sai Con của Ngài đến với loài người, cũng chỉ vì thương con người, và Con của Ngài trở thành hiện thân sống động của tình thương Ngài đối với chung nhân loại và riêng thành phần nạn nhân của "mọi thứ bệnh hoạn tật nguyền" hay bị quỉ ám về thể lý, như "người câm bị quỷ ám" trong bài Phúc Âm hôm nay, nhất là thành phần đáng thương tiêu biểu của nhân loại ngay trước mắt Người bấy giờ không được ai giúp đỡ và phục vụ

Bởi thế, trong dự án thần linh của mình, Người cần tuyển mộ thêm một số cộng sự viên đắc lực với Người trong sứ vụ cứu độ bất khả thiếu của Người. Đó là lý do Người "liền bảo với các môn đệ" là thành phần được Người gọi theo Người, chứ không bảo chung dân chúng, rằng: '"Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa".

"Lúa chín đầy đồng" đây nghĩa là gì, nếu không phải là thành phần dân chúng đáng thương cần được cứu vớt, họ là thành phần bình dân chất phác thường cởi mở và dễ tin tưởng vào Chúa cùng chấp nhận Lời Chúa hơn thành phần luật sĩ và biệt phái vốn hay tự phụ kiêu căng nên khó tin, khó chấp nhận những gì không hợp với họ hay họ có thành kiến, ngay cả khi họ thấy Người trừ quỉ câm trong bài Phúc Âm hôm nay mà họ vẫn cho rằng "Ông ta đã nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ'". 

Và cũng vì thế mới xẩy ra tình trạng "thợ gặt thì ít", nghĩa là những người lãnh đạo tinh thần cho dân chúng thì nhiều đấy nhưng về phẩm thì vẫn quá ít ỏi và hiếm hoi, hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả (xem Gioan 10:8 - "tất cả những kẻ đến trước Tôi đều là trộm cướp)" vừa bất xứng về tinh thần và uy tín vừa bất khả về cung cách và hiệu quả, đến không phải là để phục vụ như Người mà chỉ lo hưởng thụ ở chỗ tìm cầu những gì là danh dự và uy quyền mà thôi (xem Mathêu 20:28 và đoạn 23). 

Do đó, cần phải "xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa", nghĩa là sai những con người sống tinh thần của Chúa Kitô và như Chúa Kitô đến mới có thể đáp ứng nhu cầu cùng lòng mong đợi của dân chúng, nhờ đó hoàn thành dự án cứu độ thần linh vô cùng nhân hậu của Thiên Chúa. 

"Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn" là những gì chứng tỏ cho thấy dù con người hèn yếu nhưng vẫn thắng được cõi lòng nhân hậu của Thiên Chúa, đến độ đã khiến cho Thiên Chúa phải cúi mình xuống phục vụ họ. 

Chẳng khác gì tổ phụ Giacóp trong bài đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, tuy là một con người yếu kém hơn "một người vật lộn với ông cho đến sáng" nhưng kể như vị tổ phụ này đã thắng trận đấu: "Người ấy thấy mình không thể vật ngã Giacóp được, nên đá vào gân đùi ông, và lập tức gân ấy khô bại". Chính chỗ "gân khô bại" bị "thiên thần đã đá vào gân đùi ôngấy, khiến "ông đi khập khễnh một chân" như thế cũng là và chính là dấu chứng tỏ "ông có sức mạnh chống lại Thiên Chúađúng như tên gọi "Israel" mới được vị ấy đặt cho ông cuối trận đấu.

Một con người dám đấu với Thiên Chúa và "có sức mạnh chống lại Thiên Chúa" như thế phải là một con người công chính, như tổ phụ Giacóp, cho dù là yếu hèn về mọi phương diện, như thành phần dân chúng trong bài Phúc Âm, nhưng càng vì thế họ lại càng hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, nhờ đó Thiên Chúa toàn năng có thể tỏ mình ra cho họ và qua họ, khiến họ trở thành quyền năng và vô đch như Thiên Chúa. Bài Đáp ca hôm nay đã bày tỏ tâm tình của một con người công chính đối với Thiên Chúa như sau:

1) Lạy Chúa, xin nghe điều chính nghĩa của con; xin để ý đến lời con kêu cứu, lắng tai nghe con thốt ra từ cặp môi chân thành! 

2) Từ cái nhìn của Chúa hãy diễn ra sự phán quyết về con: vì mắt Ngài thấy rõ điều chân chính. Nếu Ngài lục soát lòng con, nếu ban đêm Ngài thăm viếng, nếu Ngài thử con trong lửa, Ngài sẽ không gặp điều gian ác ở nơi con. 

3) Con kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời con; lạy Chúa, xin lắng tai về bên con, xin nghe rõ tiếng con. Xin tỏ ra đức từ bi lạ lùng của Chúa, là Đấng giải thoát khỏi bọn đối phương những ai tìm nương tựa tay hữu của Ngài. 

4) Xin che chở con trong bóng cánh tay Ngài. Phần con, nhờ công chính, sẽ được thấy thiên nhan; khi thức giấc, con no thoả nhìn chân dung Chúa. 



Thánh Maria Goretti đồng trinh tử đạo
ngày 6/7

About St. Maria Goretti - Patron Saint Article

Thánh Maria Goretti, đồng trinh tử đạo


Thứ Tư


 

Bài Ðọc I: (Năm I) St 41, 55-57; 42, 5-7a. 17-24a

"Chúng ta phải chịu thế này thật xứng đang, vì chúng ta đã phạm đến em chúng ta".

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, cả nước Ai-cập gặp nạn đói kém, dân chúng kêu vua Pharaon, xin cho họ của ăn. Vua trả lời họ rằng: "Các ngươi hãy đến cùng Giuse và ông bảo thế nào, các ngươi hãy làm như vậy". Cơn đói kém ngày càng gia tăng khắp mặt đất. Bấy giờ ông Giuse mở các kho lúa, bán cho người Ai-cập, vì họ cũng đói kém khổ sở. Khắp mọi nước, người ta tuôn đến Ai-cập để mua lương thực ăn cho đỡ đói.

Các con ông Giacóp cũng đi chung với những người khác đến Ai-cập để mua lúa, vì nạn đói cũng hoành hành trong đất Canaan. Giuse có quyền trên toàn lãnh thổ Ai-cập, nên ông bán lúa thóc cho hết mọi người. Khi các anh của Giuse sấp mình lạy ông, ông nhận ra các anh, nên ông nói giọng cứng cỏi như nói với khách lạ. Ông hỏi họ: "Các ngươi ở đâu đến?" Họ đáp: "Chúng tôi từ đất Canaan đến mua thực phẩm".

Giuse đã truyền giam họ trong ba ngày; đến ngày thứ ba, ông cho dẫn họ ra khỏi tù và bảo rằng: "Các ngươi hãy làm điều ta dạy bảo, thì sẽ được sống: vì ta kính sợ Thiên Chúa. Nếu các ngươi là người lương thiện thì một người trong các ngươi sẽ ở lại trong tù, còn những người khác hãy đem lúa về nhà. Rồi các ngươi hãy dẫn đứa em út các ngươi tới đây cho ta, để ta có thể tin lời các ngươi, và các ngươi sẽ khỏi chết. Họ đã làm như Giuse dạy bảo.

Bấy giờ họ mới nói với nhau rằng: "Chúng ta phải chịu thế này thật xứng đáng, vì chúng ta đã phạm đến em chúng ta. Chúng ta đã thấy tâm hồn em chúng ta khổ sở, khi nó năn nỉ chúng ta tha cho nó, nhưng chúng ta không chịu nghe. Vì thế nên chúng ta phải chịu nỗi khốn khổ này". Bấy giờ, một người trong anh em là Ruben nói rằng: "Chớ thì tôi đã chẳng bảo anh em đừng có phạm đến đứa trẻ sao". Nhưng không ngờ rằng Giuse hiểu tiếng họ, vì ông dùng thông ngôn mà nói với họ. Ông Giuse lánh mặt đi một chút mà khóc.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 32, 2-3. 10-11. 18-19

Ðáp: Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài (c. 22).

Xướng: 1) Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm; với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. Hãy ca mừng Người bài ca mới, hát mừng Người với tiếng râm ran. - Ðáp.

2) Chúa phá tan ý định của các nước, làm cho vô hiệu tư tưởng của chư dân. Ý định của Chúa tồn tại muôn đời, tư tưởng lòng Ngài còn mãi đời nọ sang đời kia. - Ðáp.

3) Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 14, 5

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 10, 1-7

"Các con hãy đến cùng chiên lạc nhà Israel".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ Người lại, và ban cho các ông quyền hành trên các thần ô uế để các ông xua đuổi chúng và chữa lành mọi bệnh hoạn, tật nguyền.

Ðây là tên của mười hai Tông đồ: Trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em của ông, Giacôbê con ông Giêbêđê và Gioan em của ông, Philipphê và Bartôlômêô, Tôma và Matthêu người thu thế, Giacôbê con ông Alphê và Tađêô, Simon nhiệt tâm và Giuđa Iscariô là kẻ nộp Người.

Chúa Giêsu đã sai mười hai vị này đi và truyền rằng: "Các con đừng đi về phía các dân ngoại và đừng vào thành của người Samaria. Tốt hơn, các con hãy đến cùng các chiên lạc nhà Israel. Các con hãy đi rao giảng rằng: 'Nước Trời đã gần đến'".

Ðó là lời Chúa.

 

 

 

Đâu là thành phần "những con chiên lạc nhà Israel": Họ là ai?

 


Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Tư Tuần XIV Thường Niên, tiếp ngay sau bài Phúc Âm hôm qua, ở chỗ, trong bài Phúc Âm hôm qua, Chúa Giêsu thấy dân chúng bơ vơ như chiên không chủ chăn, và ngỏ ý muốn có thêm cộng sự viên trong công cuộc cứu độ với Người kêu gọi, bằng cách kêu gọi các môn đệ hãy xin thêm thợ gặt đến làm mùa, thì trong bài Phúc Âm hôm nay "Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ Người lại, và ban cho các ông quyền hành trên các thần ô uế để các ông xua đuổi chúng và chữa lành mọi bệnh hoạn, tật nguyền". 

Thành phần được Chúa Giêsu ưu tuyển này là những ai, được Thánh ký Mathêu cho biết như sau: "Đây là tên của mười hai Tông đồ: Trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em của ông, Giacôbê con ông Giêbêđê và Gioan em của ông, Philipphê và Bartôlômêô, Tôma và Matthêu người thu thế, Giacôbê con ông Alphê và Tađêô, Simon nhiệt tâm và Giuđa Iscariô là kẻ nộp Người".

Và sứ vụ của 12 môn đệ được gọi là tông đồ này như thế nào, cũng được Thánh ký Mathêu cho biết như thế này: "Chúa Giêsu đã sai mười hai vị này đi và truyền rằng: 'Các con đừng đi về phía các dân ngoại và đừng vào thành của người Samaria. Tốt hơn, các con hãy đến cùng các chiên lạc nhà Israel. Các con hãy đi rao giảng rằng: 'Nước Trời đã gần đến'".

Ở đây có 2 vấn đề được đặt ra: thứ nhất là danh xưng môn đệ và tông đồ có khác nhau không, nếu có thì như thế nào? Và thứ hai là địa bàn hoạt động của các tông đồ tại sao chỉ giới hạn vào "các chiên lạc nhà Israel" mà thôi? 

Trước hết về danh xưng "môn đệ" (disciple) và "tông đồ" (apostle), căn cứ vào Phúc Âm, chúng ta nên hiểu như thế này: 

1- "Môn đệ" là một ơn gọi, ơn gọi theo Chúa Kitô, còn "tông đồ" là sứ vụ đặc biệt, sứ vụ "làm chứng" cho Chúa Kitô, sứ vụ chính yếu của thành phần làm "môn đệ" Chúa Kitô
2- Bởi thế "tông đồ" căn bản cũng là "môn đệ" của Chúa Kitô, tức là thành phần theo Chúa Kitô, nên các Phúc Âm hay thuật lại rằng Chúa Giêsu đi với các môn đệ của mình hoặc Người nói với các môn đệ của Người, chứ hầu như không viết là với các tông đồ. Ngay trong bài Phúc Âm hôm nay cũng thấy: "Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ Người lại", chứ không phải gọi 12 tông đồ lại.
3- Trong thành phần theo Chúa Kitô được Thánh Luca cho biết là có 72 "môn đệ" (disciples), thế nhưng cả 3 Phúc Âm Nhất Lãm (Mathêu, Marco và Luca) đều liệt kê chỉ có 12 "tông đồ" (apostles), thành phần "tông đồ" có tên tuổi đàng hoàng, như trong bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, trong khi các "môn đệ" không được liệt kê tên tuổi như vậy, và các môn đệ này có thể bao gồm cả thành phần nữ giới theo phục vụ Chúa nữa, nhưng không cần toàn thời (full time) như các tông đồ, mà bán thời (part time) cũng được.
4- Để trở thành "tông đồ" cần phải hội đủ 3 điều kiện chính yếu bất khả thiếu: thứ nhất, phải được chính Chúa Kitô tuyển chọn + thứ hai, phải được chính Chúa Kitô tỏ mình ra cho + thứ ba, phải được chính Chúa Kitô sai đi. Thánh Phaolô cũng được gọi bằng danh xưng "tông đồ", (cho dù không sống trực tiếp với Người ngay từ đầu và có tên trong danh sách "tông đồ"), là vì ngài cũng hội đủ 3 yếu tố để làm "tông đồ" trên đây: cũng được chính Chúa Kitô tuyển chọn (xem Tông Vụ 9:15), cũng được chính Chúa Kitô tỏ mình ra cho (xem Tông Vụ 9:4-6) và cũng được chính Chúa Kitô sai đi (xem Tông Vụ 13:47)
Vấn đề thứ hai là địa bàn hoạt động của các tông đồ tại sao "các con đừng đi về phía các dân ngoại và đừng vào thành của người Samaria" mà chỉ giới hạn vào "các chiên lạc nhà Israel" thôi? Phải chăng tại vì dân ngoại (nhất là ở Galilêa) có thể nói đã biết nhiều về Chúa Giêsu, Đấng đã bắt đầu xuất hiện như ánh sáng chiếu trong tăm tối ở miền đất này, một sự kiện được Thánh ký Mathêu ghi nhận như sau: 
"Khi Chúa Giêsu nghe Gioan đã bị tống giam thì Người lui về Galilêa. Người bỏ Nazarét mà đi đến sống ở Capernaum gần địa hạt Zebulun và Naphtali, cho trọn những gì đã được Tiên Tri Isaia nói: "Miền Galilêa dân ngoại: dân sống trong tăm tối đã được thấy ánh sáng cả thể..." (Mathêu 4:12-16). 
Vì Galilêa là vùng đất của Dân Do Thái sống chung đụng với rất nhiều dân ngoại, một miền bắc hoàn toàn khác với miền nam Giuđêa thuần túy Do Thái và là nơi có giáo đô Giêrusalem, một miền bắc đã trở thành vùng hoạt động chính yếu của Chúa Giêsu, nơi Người cũng đã tuyển chọn 12 tông đồ, mà sau khi sống lại Người cũng đã hẹn với các tông đồ về lại Galilêa gặp Người (xem Mathêu 28:7) và các vị quả thực đã gặp Người ở đó (xem Mathêu 28:16) để được Người sai đi "tuyển mộ môn đồ khắp các dân nước" (Mathêu 28:19).
Galilêa còn là vùng đất không được Chúa Giêsu bao gồm trong lệnh truyền sai các tông đồ đi rao giảng khắp nơi trước khi Người thăng thiên về cùng Cha: "Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền GiuđêA, SamariA và cho đến tận cùng trái đất" (Tông Vụ 1:8).
Vậy đối tượng các tông đồ được sai đến là "các chiên lạc nhà Israel" - Chúa Giêsu có ý ám chỉ những ai đây, nếu không phải thành phần dân Do Thái lầm lạc, chứ không phải thành phần Do Thái thành tâm đang tìm kiếm chân lý và thiết tha trông đợi Đấng Thiên Sai, như một Nicôđêmô (xem Gioan 3:1-2). Họ ở đâu? Nếu không phải ở ngay Galilêa, chứ không ở đâu xa, vì họ là thành phần đáng thương nhất! 
Mà thành phần "các chiên lạc nhà Israelđây thực sự là ai, nếu không phải là nhóm biệt phái và luật sĩ, thành phần mà các môn đệ của Chúa Kitô cần phải trổi vượt hơn về thánh đức (xem Mathêu 5:20), và không được nhiễm lây men gương mù gương xấu của họ (xem Mathêu 16:6), thành phần luôn có thái độ cao ngạo và thù nghịch với Chúa Kitô, bằng những hành động rình rập, bắt bẻ, chống đối và chụp bắt Người.
Phải chăng đó là lý do Chúa Giêsu đã báo trước cho các tông đồ được Người sai đi rằng: "Thày sai các con đi như chiên giữa sói rừng" (Mathêu 10:16) và cảnh giác các vị về những gian nan khốn khó xẩy ra do đối phương gây ra cho các vị, nhưng Người trấn an và phấn khích các vị rằng: "Đừng sợ kẻ chỉ giết được sự sống phần xác nhưng không thể hủy diệt được linh hồn" (Mathêu 10:28)?
Ý nghĩa lời Chúa Giêsu sai các tông đồ đến với "con chiên lạc nhà Israel" rất hợp với bài đọc 1 hôm nay. Ở chỗ, trong khi dân ngoại Ai Cập được no đầy cơm gạo nhờ Giuse, một người em được cha là tổ phụ Giacóp thương yêu đặc biệt, nên đứa em này đã bị các anh ghen ghét ám hại.
Nhưng không ngờ mưu độc của các anh lại được Thiên Chúa quan phòng thần linh lợi dụng để biến Giuse thành quan đệ nhị nước Ai Cập, nhờ đó, qua Giuse, Ngài chẳng những cứu được đại gia đình của tổ phụ Do Thái Giacóp trong nạn đói bấy giờ mà còn mở con mắt lầm lạc của những người anh ác tâm, "những con chiên lạc nhà Israel" đầu tiên, như họ đã nhờ Giuse mà nhận biết lỗi lầm quá khứ của họ trong bài đọc 1 hôm nay:
"'Chúng ta phải chịu thế này thật xứng đáng, vì chúng ta đã phạm đến em chúng ta. Chúng ta đã thấy tâm hồn em chúng ta khổ sở, khi nó năn nỉ chúng ta tha cho nó, nhưng chúng ta không chịu nghe. Vì thế nên chúng ta phải chịu nỗi khốn khổ này'. Bấy giờ, một người trong anh em là Ruben nói rằng: 'Chớ thì tôi đã chẳng bảo anh em đừng có phạm đến đứa trẻ sao?'"
Bài Đáp Ca hôm nay chúc tụng Chúa (câu 1), bởi Ngài có thể thực hiện mọi sự theo ý định của Ngài, không ai có thể ngăn cản hay phá đám được (câu 2), như những gì Ngài đã định liệu cho đại gia đình tổ phụ Giacóp khi gặp nạn đói sau này, một ý định luôn thiên về thành phần kính sợ Ngài và tin tưởng cậy trông vào Ngài (câu 3), như Giuse trong bài đọc 1 hôm nay.  

 

1) Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm; với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. Hãy ca mừng Người bài ca mới, hát mừng Người với tiếng râm ran. 

2) Chúa phá tan ý định của các nước, làm cho vô hiệu tư tưởng của chư dân. Ý định của Chúa tồn tại muôn đời, tư tưởng lòng Ngài còn mãi đời nọ sang đời kia. 

3) Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn. 



Thứ Năm


Bài Ðọc I: (Năm I) St 44, 18-21. 23b-29; 45, 1-5

"Ðể cứu sống anh em mà Thiên Chúa đã sai em xuống Ai-cập trước anh em".

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, Giuđa lại gần mà nói thật thà với Giuse rằng: "Thưa ngài, xin ngài nghe tôi tớ của ngài nói đôi lời, xin ngài đừng phẫn nộ với tôi tớ của ngài, vì sau vua Pharaon ngài là chủ của tôi. Trước đây ngài đã hỏi các tôi tớ ngài rằng: "Các ngươi còn cha, còn đứa em nào nữa chăng?" Chúng tôi đã trả lời với ngài rằng: Chúng tôi còn cha già, và một đứa em út sinh ra lúc cha chúng tôi đã già. Anh áp út đã chết rồi: mẹ nó chỉ còn lại một mình nó, cha chúng tôi thương nó lắm. Vậy mà ngài đã bảo các tôi tớ ngài: "Hãy đem nó tới đây cho ta xem thấy nó". Chúng tôi đã thưa với ngài rằng: "Ðứa nhỏ không thể bỏ cha nó được". Nhưng ngài đã nói dứt khoát với các tôi tớ ngài rằng: "Nếu em út các ngươi không tới với các ngươi, thì các ngươi sẽ không thấy mặt ta nữa". Vậy khi chúng tôi trở về cùng tôi tớ của ngài là cha chúng tôi, chúng tôi đã thuật lại hết mọi điều ngài đã nói. Cha chúng tôi bảo rằng: "Các con hãy trở lại mua thêm ít lúa thóc nữa". Chúng tôi trả lời với người rằng: "Chúng con không thể đi được. Nếu em út đi với chúng con, thì chúng con cùng đi chung với nhau. Nếu em út không đi với chúng con, thì chúng con không dám đến trước mặt người". Cha chúng tôi nói: "Các con biết rằng bạn ta chỉ sinh ra cho ta hai đứa con trai, một đứa đã ra đi và các con đã nói nó phải thú dữ ăn thịt, và cho đến nay chưa thấy nó trở về; các con lại đem thằng này đi nữa, nếu dọc đường có gì rủi ro xảy đến cho nó, thì các con đưa cha già đầu bạc sầu não này xuống suối vàng cho rồi".

Khi ấy Giuse không thể cầm lòng nổi trước mặt mọi người đang đứng đấy, nên truyền cho mọi người ra ngoài, và không còn người nào khác ở đó lúc ông tỏ cho anh em biết mình, ông khóc lớn tiếng: những người Ai-cập và cả nhà vua đều nghe biết. Giuse nói với các anh em rằng: "Tôi là Giuse đây, cha còn sống không?" Các anh em sợ hãi quá nên không dám trả lời. Giuse nói với anh em cách nhân từ rằng: "Hãy đến gần tôi". Khi họ đến gần, ông lại nói: "Tôi là Giuse em các anh mà các anh đã bán sang Ai-cập. Các anh chớ khiếp sợ, và đừng ân hận vì đã bán tôi sang đất này, vì chưng để cứu sống các anh em mà Thiên Chúa đã sai tôi sang Ai-cập trước anh em".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 104, 16-17. 18-19. 20-21

Ðáp: Các ngươi hãy nhớ lại những điều kỳ diệu Chúa đã làm (c. 5a).

Xướng: 1) Chúa đã gọi cảnh cơ hàn về trên đất nước, và rút đi mọi sự nâng đỡ bằng cơm bánh. Ngài đã sai một người đi trước họ: Giuse đã bị bán để làm nô lệ. - Ðáp.

2) Thiên hạ đã lấy xiềng để trói chân người, và cổ người bị cột bằng xích sắt, cho tới khi ứng nghiệm lời tiên đoán của người, lời của Chúa đã biện minh cho người. - Ðáp.

3) Vua đã sai cởi trói cho người, Chúa của chư dân cũng đã giải phóng người. Vua đã tôn người làm chủ của mình, và làm chúa trên toàn diện lãnh thổ. - Ðáp.

  

Alleluia: Tv 94, 8ab

Alleluia, alleluia! - Ước gì hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 10, 7-15

"Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: "Các con hãy đi rao giảng rằng "Nước Trời đã gần đến". Hãy chữa những bệnh nhân, hãy làm cho kẻ chết sống lại, hãy làm cho những kẻ phong cùi được sạch và hãy trừ quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không. Các con chớ mang vàng bạc, tiền nong trong đai lưng, chớ mang bị đi đường, chớ đem theo hai áo choàng, chớ mang giày dép và gậy gộc, vì thợ thì đáng được nuôi ăn.

"Khi các con vào thành hay làng nào, hãy hỏi ở đó ai là người xứng đáng, thì ở lại đó cho tới lúc ra đi. Khi vào nhà nào, các con hãy chào rằng: "Bình an cho nhà này". Nếu nhà ấy xứng đáng thì sự bình an của các con sẽ đến với nhà ấy. Nhưng nếu ai không tiếp rước các con và không nghe lời các con, thì hãy ra khỏi nhà hay thành ấy và giũ bụi chân các con lại. Thật, Thầy bảo các con: Trong ngày phán xét, đất Sôđôma và Gômôra sẽ được xét xử khoan dung hơn thành ấy".

Ðó là lời Chúa.

 

The Gospel of the day: 7th July – Archdiocese of Malta

 


Thái độ "giũ bụi chân" của một vị tổ phụ


Bài Phúc Âm cho ngày Thứ Năm Tuần XIV Thường Niên hôm nay, cũng như cho 2 ngày còn lại trong tuần này, đều chất chứa những lời huấn dụ của Chúa Giêsu về sứ vụ được sai đi của các tông đồ.
Riêng trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã căn dặn và nhắn nhủ các tông đồ mấy điểm chính yếu sau đây: sứ điệp rao giảng (1); năng lực rao giảng (2); tinh thần rao giảng (3); thái độ giao tiếp (4).
1- Sứ điệp rao giảng - Nước Trời: "Các con hãy đi rao giảng rằng 'Nước Trời đã gần đến'". Nếu các tông đồ được tuyển chọn trong số các môn đệ là để làm chứng cho Chúa Kitô, và nếu các vị được sai đến với riêng "con chiên lạc nhà Israelđược cho là thành phần biệt phái và luật sĩ ở Galilêa, thì "Nước Trời" đây có thể hiểu là chính Chúa Kitô mà thành phần biệt phái và luật sĩ ở Galilêa là những "con chiên lạc nhà Israel" cần phải tin tưởng để được cứu độ và nên công chính thực sự.
2- Năng lực rao giảng - Cứu chữa: "Hãy chữa những bệnh nhân, hãy làm cho kẻ chết sống lại, hãy làm cho những kẻ phong cùi được sạch và hãy trừ quỷ". Nếu "Nước Trời" được hiểu là chính Chúa Kitô là Đấng các tông đồ được Người sai đi rao giảng, mà Chúa Kitô "đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì hư hoại" (Luca 19:10), thì các tông đồ là môn đệ của Người cũng được Người thông ban cho quyền năng cứu chữa của Người và như Người, một quyền năng cứu độ nhân loại mà thành phần luật sĩ và biệt phái lãnh đạo tinh thần của dân chúng không thể nào có được.
3- Tinh thần rao giảng - Tin tưởng: "Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không. Các con chớ mang vàng bạc, tiền nong trong đai lưng, chớ mang bị đi đường, chớ đem theo hai áo choàng, chớ mang giày dép và gậy gộc, vì thợ thì đáng được nuôi ăn". Vì sứ vụ rao giảng của các tông đồ được Chúa Kitô trao cho thì đó là việc của Người làm qua các vị, hơn là chính công việc "của" các vị, nên các vị không cần phải lo toan những gì phụ thuộc liên quan đến bản thân của các vị, mà chỉ cần lưu ý đến những gì trực tiếp liên quan đến sứ vụ rao giảng của các vị. 
4- Thái độ rao giảng - Khách quan vô tư: "Nếu ai không tiếp rước các con và không nghe lời các con, thì hãy ra khỏi nhà hay thành ấy và giũ bụi chân các con lại". Tất nhiên, ở đâu cũng thế, với ai cũng vậy (kể cả với chính Chúa Kitô), có người ủng hộ, tin tưởng, và có người coi thường, không ưa. Phần các tông đồ, sau khi đã hết sức chu toàn sứ vụ rao giảng của mình đúng như những gì Chúa Kitô mong muốn mà vẫn không gặt hái được thành quả mong muốn thì hãy cứ bình an, không cần phải lo gì hết, các vị không phải chịu trách nhiệm ("giũ bụi chân") về những ai không nghe.
Trong bài đọc 1 hôm nay, sau khi nghe tâm sự của chung 10 người anh và riêng người cha của mình liên quan đến người con út trong gia đình, được Giuđa là người con trong 12 anh em của tổ phụ Giacóp đại diện thành thật thân thưa bày tỏ với mình bấy giờ là tể tướng của một đại quốc Ai Cập, thì bấy giờ: "Giuse không thể cầm lòng nổi trước mặt mọi người đang đứng đấy, nên truyền cho mọi người ra ngoài, và không còn người nào khác ở đó lúc ông tỏ cho anh em biết mình, ông khóc lớn tiếng: những người Ai-cập và cả nhà vua đều nghe biết". 
Câu nói của Giuse ở cuối bài đọc 1 hôm nay cho thấy Giuse quả thực, như các tông đồ được Chúa Kitô sai đi rao giảng cho "chiên lạc của Nhà Israel", đã nói cho 10 người anh là những "chiên lạc của Nhà Israel" đầu tiên, về quá khứ của họ ra tay mưu hại Giuse, về "Nước Trời" là ý định thần linh vô cùng khôn ngoan của Thiên Chúa, kèm theo thái độ của Giuse đối với các anh bằng việc "giũ bụi chân" không chấp nhất các anh của mình, như sau: "Tôi là Giuse em các anh mà các anh đã bán sang Aicập. Các anh chớ khiếp sợ, và đừng ân hận vì đã bán tôi sang đất này, vì chưng để cứu sống anh em mà Thiên Chúa đã sai tôi sang Aicập trước anh em".
Bài Đáp ca hôm nay đã nói về chính bản thân và thân phận cùng sứ vụ của Giuse trong dự án thần linh của Thiên Chúa và trong lịch sử cứu độ của Dân do Thái như sau:

1) Chúa đã gọi cảnh cơ hàn về trên đất nước, và rút đi mọi sự nâng đỡ bằng cơm bánh. Ngài đã sai một người đi trước họ: Giuse đã bị bán để làm nô lệ. 

2) Thiên hạ đã lấy xiềng để trói chân người, và cổ người bị cột bằng xích sắt, cho tới khi ứng nghiệm lời tiên đoán của người, lời của Chúa đã biện minh cho người. 

3) Vua đã sai cởi trói cho người, Chúa của chư dân cũng đã giải phóng người. Vua đã tôn người làm chủ của mình, và làm chúa trên toàn diện lãnh thổ. 




Thứ Sáu

 

 

 

Bài Ðọc I: (Năm I) St 46, 1-7. 28-30

"Cha chết cũng vui lòng, vì Cha đã trông thấy mặt con".

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, ông Israel ra đi, đem theo tất cả những gì ông có và đến Giếng Thề; tại đây ông dâng hy tế lên Thiên Chúa của Isaac, cha của ông. Ban đêm trong một thị kiến, ông nghe Chúa gọi ông và nói với ông rằng: "Hỡi Giacóp, Giacóp!" Ông liền thưa: "Này con đây". Thiên Chúa nói tiếp: "Ta là Thiên Chúa rất hùng mạnh của cha ngươi, nên ngươi đừng sợ, hãy xuống xứ Ai-cập, vì ở đó Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân tộc vĩ đại. Ta sẽ xuống đó với ngươi. Cũng chính Ta sẽ đưa ngươi trở về, (sau khi) tay Giuse đã vuốt mắt cho ngươi".

Bấy giờ Giacóp bỏ Giếng Thề mà đi: các con cái đưa ông và vợ con lên các xe Pharaon đã phái đến rước cha già và tất cả những gì ông có ở Canaan; ông sang Ai-cập với tất cả dòng dõi ông, gồm con trai, con gái và cháu chắt.

Bấy giờ Giacóp sai Giuđa đi trước báo tin cho Giuse biết mà đón rước cha tại Ghêsen. Khi ông đến đó, thì Giuse thắng xe đi đón cha tại Ghêsen. Vừa thấy cha, ông ôm cổ cha mà khóc. Giacóp nói với Giuse rằng: "Cha chết cũng vui lòng, vì cha đã trông thấy mặt con và biết con còn sống".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 36, 3-4. 18-19. 27-28. 39-40

Ðáp: Người hiền được Chúa ban ơn cứu độ (c. 39a).

Xướng: 1) Hãy trông cậy Chúa và hãy làm lành, để được cư ngụ trong đất nước, thọ hưởng an ninh. Hãy hân hoan tin tưởng vào Chúa, Người sẽ ban cho sự lòng bạn thỉnh cầu. - Ðáp.

2) Chúa chăm lo cho mạng sống người nhân đức, và phần gia nghiệp họ còn mãi muôn đời. Ngày tai hoạ, những người đó không tủi hổ, và trong nạn đói, họ sẽ được ăn no. - Ðáp.

3) Hãy tránh ác và hãy làm lành, hầu được an cư tới ngàn thu, bởi vì Chúa yêu điều chân lý, và không bỏ rơi những tôi tớ trung thành. - Ðáp.

4) Người hiền được Chúa ban ơn cứu độ: trong cơn khốn khó, Người là chỗ họ dung thân, Chúa bang trợ và giải thoát họ. Người giải thoát và cứu họ khỏi lũ ác nhân, vì họ đã nương tựa vào Người. - Ðáp. 

 

Alleluia: Tv 129, 5

Alleluia, alleluia! - Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy vào Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 10, 16-23

"Không phải chính các con nói, nhưng là Thánh Thần của Cha các con".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: "Này, Thầy sai các con đi như những con chiên ở giữa sói rừng. Vậy các con hãy ở khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như bồ câu. Các con hãy coi chừng người đời, vì họ sẽ nộp các con cho công nghị, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ. Các con sẽ bị điệu đến nhà cầm quyền và vua chúa vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại được biết. Nhưng khi người ta bắt nộp các con, thì các con đừng lo nghĩ phải nói thế nào và nói gì? Vì trong giờ ấy sẽ cho các con biết phải nói gì; vì chưng, không phải chính các con nói, nhưng là Thánh Thần của Cha các con nói trong các con.

"Anh sẽ đem nộp giết em, cha sẽ nộp con, con cái sẽ chống lại với cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đỗ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ. Khi người ta bắt bớ các con trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác. Thầy bảo thật các con: Các con sẽ không đi khắp hết các thành Israel trước khi Con Người đến".

Ðó là lời Chúa.

 

Mt 10: 16-23 - GIÁO PHẬN PHÚ CƯỜNG


"khi người ta bắt bớ các con trong thành này, hãy trốn sang thành khác" 

tức là "Ta sẽ xuống đó với ngươi. Cũng chính Ta sẽ đưa ngươi trở về"


 

Tiếp tục bài huấn dụ sai đi của mình với các tông đồ, trong bài Phúc Âm cho Thứ Sáu Tuần XIV Thường Niên tuần này, Chúa Giêsu nói đến số phận gian nan khốn khổ bất khả phân ly với sứ vụ chứng nhân của các vị. 

 

"Này, Thầy sai các con đi như những con chiên ở giữa sói rừng. Vậy các con hãy ở khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như bồ câu. Các con hãy coi chừng người đời, vì họ sẽ nộp các con cho công nghị, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ. Các con sẽ bị điệu đến nhà cầm quyền và vua chúa vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại được biết". 

Thế nhưng, Chúa Giêsu đồng thời cũng trấn an các vị với 3 điều để các vị có thể tin tưởng chống đỡ, khôn ngoan tồn tại cho đến khi hoàn thành sứ vụ của các vị như sau:

"Nhưng khi người ta bắt nộp các con, thì các con đừng lo nghĩ phải nói thế nào và nói gì? Vì trong giờ ấy sẽ cho các con biết phải nói gì; vì chưng, không phải chính các con nói, nhưng là Thánh Thần của Cha các con nói trong các con.

... Vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đỗ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ. Khi người ta bắt bớ các con trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác. Thầy bảo thật các con: Các con sẽ không đi khắp hết các thành Israel trước khi Con Người đến".

Điều thứ nhất trong 3 điều này đó là tin tưởng chống đỡ: "khi người ta bắt nộp các con, thì các con đừng lo nghĩ phải nói thế nào và nói gì? Vì trong giờ ấy sẽ cho các con biết phải nói gì; vì chưng, không phải chính các con nói, nhưng là Thánh Thần của Cha các con nói trong các con". Đúng thế, vì là việc của Thiên Chúa, Ngài sẽ lo việc của Ngài và bảo vệ thành phần thừa sai của Ngài, nhất là trong những lúc chúng từ của họ lên đến mức tột đỉnh và hùng hồn nhất.

Điều thứ hai trong ba điều đó là khôn ngoan tồn tại: "Khi người ta bắt bớ các con trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác". Ở đây Chúa Giêsu cho phép các tông đồ được trốn tránh những bách hại xẩy ra, không phải vì sợ chết cho bằng vì lợi ích cho chung đoàn chiên, không phải vì liều lĩnh cho bằng quí trọng mạng sống. Chính Chúa Giêsu mấy lần cũng tự thoát khỏi tay những kẻ tìm bắt Người khi chưa tới giờ của Người (xem Luca 4:30; Gioan 8:59).

Điều thứ ba trong ba điều đó là hoàn thành sứ vụ: "Các con sẽ không đi khắp hết các thành Israel trước khi Con Người đến". Câu này có thể Chúa Giêsu ám chỉ đến Cuộc Vượt Qua của Người hơn là đến việc Người tái giáng lần thứ hai. Nghĩa là các tông đồ chưa rao giảng xong cho thành phần "chiên lạc của Nhà Israel" thì đã đến thời điểm các vị cần phải theo Người lên Giêrusalem, nơi Người 3 lần đã tiên báo cho các vị về số phận kết thúc của Người ở đó.

Nếu "khi người ta bắt nộp các con, các con đừng lo nghĩ phải nói thế nào và nói gì?" và "khi người ta bắt bớ các con trong thành này, hãy trốn sang thành khác" thì cũng thế, trong bài đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, khi đại gia đình của tổ phụ Giacóp gặp nạn đói ở đất Canaan, Thiên Chúa cũng đã lo liệu trước mọi sự cho tổ phụ Giacóp cùng với toàn thể đại gia đình 72 người của ông, trong việc tỏ cho ông biết ý định của Ngài muốn gia đình ông lánh nạn sang Ai Cập để tránh nạn đói này ở Canaan là nơi Ngài đã hứa ban đất ấy cho dân Do Thái, và cũng là nơi Ngài còn hứa với chính tổ phụ Giacóp rằng Ngài sẽ đem họ từ Ai Cập trở về mảnh đất hứa này:

"Ta là Thiên Chúa rất hùng mạnh của cha ngươi, nên ngươi đừng sợ, hãy xuống xứ Ai-cập, vì ở đó Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân tộc vĩ đại. Ta sẽ xuống đó với ngươi. Cũng chính Ta sẽ đưa ngươi trở về, (sau khi) tay Giuse đã vuốt mắt cho ngươi".

Bài Đáp Ca hôm nay đã bày tỏ cảm nhận tin tưởng cậy trông nơi Vị Thiên Chúa quan phòng thần linh đầy quyền năng và yêu thương, nhất là trong lúc những gian nan khốn khó:

1) Hãy trông cậy Chúa và hãy làm lành, để được cư ngụ trong đất nước, thọ hưởng an ninh. Hãy hân hoan tin tưởng vào Chúa, Người sẽ ban cho sự lòng bạn thỉnh cầu. 

2) Chúa chăm lo cho mạng sống người nhân đức, và phần gia nghiệp họ còn mãi muôn đời. Ngày tai hoạ, những người đó không tủi hổ, và trong nạn đói, họ sẽ được ăn no. 

3) Hãy tránh ác và hãy làm lành, hầu được an cư tới ngàn thu, bởi vì Chúa yêu điều chân lý, và không bỏ rơi những tôi tớ trung thành. 

4) Người hiền được Chúa ban ơn cứu độ: trong cơn khốn khó, Người là chỗ họ dung thân, Chúa bang trợ và giải thoát họ. Người giải thoát và cứu họ khỏi lũ ác nhân, vì họ đã nương tựa vào Người. 

 

 

Thánh Augustinus Zhao Rong và Các Bạn Tử Đạo Người Trung Hoa

Vào ngày mồng 09 tháng 07 hàng năm, Giáo hội Công giáo cử hành Lễ kính nhớ Thánh Augustinus Zhao Rong và các bạn Tử Đạo. Thực ra, Lễ kính Thánh nhớ Augustinus Zhao Rong và các bạn Tử Đạo là ngày Lễ của nhiều vị Tử Đạo người Trung Hoa, cụ thể là của 120 vị, với tuổi đời khác nhau. Các Ngài đã trao hiến mạng sống mình cho Thiên Chúa trong những năm từ 1648 tới 1930. Một số trong các Ngài vẫn còn trong độ tuổi thiếu nhi, và số khác thì đã cao niên: Vị trẻ nhất là 7 tuổi, và vị cao niên nhất là 97 tuổi. Phần lớn trong số các Ngài đều là những người Giáo dân Trung Hoa, bao gồm những bậc cha mẹ, những người con, các Giáo Lý Viên và những công nhân. Cũng có một số Giáo sĩ và Tu sĩ, cả bản địa lẫn người nước ngoài. Trong số những vị Tử Đạo không được sinh ra tại đất Trung Hoa nhưng người ta vẫn kể các Ngài vào trong số những Vị Thánh Tử Đạo Trung Hoa, gồm nhiều Nữ Tu, Linh mục, đặc biệt là các Nữ Tu và Linh mục Dòng Thánh Đa-minh, rồi đến các Linh mục và Tu sĩ Dòng Tên cũng như các Linh mục và Tu sĩ Dòng Thánh Phan-xi-cô.

Các vị Tử Đạo Trung Hoa đã được tôn phong lên bậc Chân Phúc vào nhiều thời gian khác nhau, nhưng cùng được tôn phong lên bậc Hiển Thánh vào ngày mồng 01 tháng 10 trong Năm Thánh 2000 bởi Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II. Chính quyền cộng sản Trung Quốc tỏ ra vô cùng bất bình với biến cố Phong Thánh nêu trên. Tuy nhiên, sự quan phòng của Thiên Chúa lại vô cùng nhiệm màu, Ngài đã biến sự bực dọc và bất bình đến lỗ mãng của chính quyền cộng sản Trung Quốc thành điều tốt lành cho các tín hữu và cho Giáo hội tại quốc gia này: Vì chính quyền Trung Cộng đã bày tỏ sự bực dọc và bất bình với vụ này một cách quá đáng, nên nhiều người, không phải chỉ tại Trung Hoa đại lục, tại Hồng Kong, tại Đài Loan hay tại Ma-cao, nhưng còn tại nhiều nơi khác trên toàn thế giới, đã lưu tâm tới biến cố Phong Thánh đó. Rất nhiều người đã dành thời gian để tìm hiểu về cuộc đời và cái chết của các Vị Tử Đạo Trung Hoa, bởi sự ồn ào của chính quyền Trung Cộng đã khiến người ta đặt câu hỏi: Tại sao những người ấy lại được Phong Thánh? Và tại sao chính quyền Trung Cộng lại chống đối việc Phong Thánh đó?

Những gì được kể về các vị Tử Đạo Trung Hoa thật ấn tượng: Một vị đã tỏ ra vô cùng hạnh phúc khi người ta dẫn Ngài tới nơi hành hình Thập Giá, Ngài đã khóc vì sung sướng và đã tạ ơn Chúa, vì Ngài được phúc chịu Tử Đạo với cùng một cách thức như Đấng Cứu Chuộc của Ngài. Một vị Tử Đạo khác đó là Thánh Chi Zhuzi, chỉ mới 18 tuổi, đã chịu Tử Đạo trong cùng thời gian với Thánh Augustinus Zhao Rong. Khi người ta chặt đứt cánh tay phải của Ngài và chuẩn bị lột da Ngài khi Ngài vẫn còn đang sống, Ngài đã kêu lên rằng: „Từng miếng thịt của tôi và từng giọt máu của tôi sẽ làm chứng rằng, tôi là một Ki-tô hữu!“ Trong số các vị Tử Đạo có một Linh mục đã bị một người khác tiết lộ nơi ẩn náu của Ngài khi anh ta nhận được 30 đồng bạc; cũng có một vị khác đã được phúc Tử Đạo chỉ sau hai ngày kể từ khi được lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy; và có hai Linh mục Dòng Tên đã được phúc Tử Đạo ngay trong lúc đang cử hành Thánh Lễ.

Ki-tô giáo đến Trung Hoa qua ngả Syria, nơi mà Giáo hội ngày nay cũng đang phải sống với tính cách là nhóm thiểu số và đang phải trải qua sự bách hại. Những báo cáo về Giáo hội tại Trung Hoa chỉ cho thấy rằng, con số các tín hữu Công giáo tại Trung Hoa đã tăng lên rất nhiều, bất chấp sự đàn áp, sự trục xuất, bất chấp chủ nghĩa cộng sản và chiến dịch văn hóa. Tuy nhiên, trong hiện tại, các vụ phong chức Giám mục bất hợp pháp đang là những vết thương đầy đớn đau trong cộng đoàn Giáo hội, như Đức Bê-nê-đíc-tô XVI đã viết như thế trong một bức thư gửi cho người người Công giáo Trung Hoa vào năm 2007. Nhưng dù bị áp bức tư bề, Giáo hội tại Trung Hoa vẫn đang tiếp tục phát triển.

Lm Đa-minh Thiệu O.Cist

http://www.simonhoadalat.com/suyniem/saints/Thang7/Ngay9.htm

 

1310436309839089416_574_0
Ngày hôm nay, Giáo Hội cử hành thánh lễ tôn kính các vị tử đạo Trung Hoa. Các ngài là những người đã nêu gương anh dũng trong đời sống đức tin Kitô giáo dọc theo lịch sử của đất nước này. Thánh Augustinô Triệu Vinh (趙榮 Zhao Rong) đã anh dũng tử đạo để minh chứng đức tin, là một trong số 120 tín hữu Công giáo đã hy sinh suốt từ năm 1648 đến năm 1930.
Tháng 4 năm 1785, Đức Cha Jean-Gabriel Taurin Dufresse (1750-1815), thuộc hội Thừa Sai Paris và là Giám Quản Tông Tòa giáo phận Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, bị bắt và bị giải về Bắc Kinh, vì tội dám rao giảng Kitô Giáo trên vương quốc Trung Hoa.
Trên đường đi, Đức Cha được một nhóm binh sĩ hộ tống. Trong nhóm binh sĩ có một người ngoại giáo tên Triệu Vinh. Thái độ điềm tĩnh và hiền từ, khiêm tốn của vị Giám Mục thừa sai ngoại quốc đánh động sâu xa tấm lòng chàng trai Triệu Vinh.
Sau cuộc hành trình đó, chàng Triệu Vinh xin giải ngũ và tìm hiểu học hỏi về Kitô Giáo, một tôn giáo mà theo chàng, có thể trao ban cho con người sức mạnh vô song, thực thi nhân đức anh hùng.
Sau khi được rửa tội với tên thánh Agustino, Triệu Vinh không ngừng ở địa vị một giáo dân. Chàng tiến một bước xa hơn. Agustino xin gia nhập chủng viện và sau đó thụ phong Linh mục.
Cha Agustino Triệu Vinh được chỉ định coi sóc một giáo xứ Quảng Nguyên cũng thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Cha nhiệt thành rao giảng Lời Chúa, ban các Bí Tích và đưa rất nhiều người ngoại giáo theo Kitô Giáo.
Cha có chương trình mục vụ rất đặc biệt. Cha lần lượt đi từ làng này sang làng khác. Cứ mỗi lần đến một làng, Cha dành ra ba ngày đầu để giải thích Lề Luật Chúa, nói về 7 mối tội đầu, về các ân xá và về các bí tích. Cha đặc biệt nói về cuộc Khổ Nạn của Đức Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Rỗi nhân loại. Lời giảng của Cha vừa hùng hồn vừa chân thành đến độ làm cho mọi người nghe, ai nấy đều cảm động đến rơi nước mắt. Sau ba ngày giảng dạy là thời gian Cha ngồi tòa giải tội. Đây là lúc Cha lắng nghe từng tín hữu, khuyên bảo và chỉ dạy họ điều khôn ngoan, cách thức phải cẩn trọng trong lúc Đạo Công Giáo bị cấm cách và bị bắt bớ trong toàn nước Trung Hoa. Sau cùng, Cha Agustino Triệu Vinh ban bí tích rửa tội cho các tân tòng và cử hành Thánh Lễ cho tất cả các tín hữu Công Giáo.
Vào cuối năm 1814, Cha Agustino Vinh có linh cảm mình sẽ được đổ máu đào làm chứng cho Đạo Công Giáo. Cha nói với Cha Benedetto Dương:
– Giờ tôi đã già lại bệnh tật nên có lẽ tôi không trốn thoát khỏi cuộc lùng bắt của các binh lính. Xin Cha cầu nguyện nhiều cho tôi. Xin Thiên Chúa cho tôi ơn can đảm chịu đau khổ, để làm vinh danh Ngài.
Đầu năm 1815, Cha Agustino Triệu Vinh ngã bệnh nặng. Tuy thế, Cha vẫn tiếp tục chu toàn nhiệm vụ chủ chăn. Một ngày, có người đến mời Cha đi kẻ liệt. Dầu liệt giường, Cha vẫn nhận lời, nhờ người cáng Cha đến nhà người hấp hối. Sau khi ban các bí tích sau hết, và bệnh nhân êm ái trút hơi thở cuối cùng, Cha lại lên cáng ra về.
Giữa đường, Cha gặp nhóm lính đi tuần. Người dẫn đầu tỏ dấu nghi ngờ. Ông ra lệnh chặn cáng Cha lại và hỏi:
– Ông có phải tín hữu Công Giáo không?
Cha Agustino Triệu Vinh điềm tĩnh trả lời:
– Phải, tôi là Linh Mục Công Giáo!
Lời thú nhận quá tốt và quá đủ để bọn lính ập tới, lôi Cha xuống cáng và còng tay Cha lại .. Cha bị giải về Thành Đô. Tại đây, Cha bị đánh đập tàn nhẫn. Bọn lính tìm đủ mọi cực hình để làm cho Cha nản lòng bỏ Đạo. Nhưng Cha già Vinh vẫn kiên vững như đá. Bọn lính tức giận hét lớn:
– Sao Chúa của ông không xuống đây để bảo vệ ông?
Cha hiền từ trả lời:
– Thiên Chúa che chở linh hồn tôi, ban cho tôi đủ sức mạnh hầu tôi có thể chịu khổ vì Ngài. Các ông là kẻ phàm tục và điên rồ, các ông không thể nào hiểu niềm an bình và hạnh phúc mà Thiên Chúa tuôn đổ vào tâm lòng con người đâu!
Nghe Cha Agustino Triệu Vinh nói thế, bọn lính càng hăng máu dữ tợn hơn. Chúng giáng xuống thân xác đau yếu và già cả của Cha những trận đòn khủng khiếp. Cha yên lặng chịu đựng, không hé môi nói nửa lời than trách. Đánh chán rồi, bọn lính lại lôi Cha về phòng giam và bỏ Cha nằm đó, thập tử nhất sinh.
Dĩ nhiên Cha già Agustino Triệu Vinh không sống được lâu với trận đòn dữ tợn như thế. Ngày 27 tháng Giêng năm 1815, Cha êm ái trút hơi thở cuối cùng trong phòng giam, hưởng thọ 73 tuổi, trước khi chính thức nhận bản án tử hình do nhà vua châu phê.
Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Cha Agustino Triệu Vinh được Đức Giáo Hoàng Lêo XIII tuyên chân phúc cùng với Đức Cha Jean-Gabriel Taurin Dufresse và 8 vị tuẫn đạo Trung Hoa khác.
Chúa Nhật 1-10-2000, trong khung cảnh Đại Năm Thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II tuyên 120 vị Tuẫn Đạo Trung Hoa vào sổ bộ các Hiển Thánh, đứng đầu danh sách là Cha Agustino Triệu Vinh. Danh sách các vị anh hùng này bao gồm 76 giáo dân, một số em thiếu nhi thậm chí mới bảy tuổi, 8 chủng sinh, 24 linh mục và 6 giám mục. Trong số này, có 88 vị là người gốc Trung Hoa và 34 vị là các nhà truyền giáo đến từ nhiều quốc gia khác nhau, nhưng các vị đã nhận Trung Hoa là quê hương của mình.
 Chúng ta hãy noi gương thánh Augustinô Zhao Rong và các bạn tử đạo Trung Hoa. Như các ngài, chúng ta hãy sống niềm tin của mình cách vui tươi. Chúng ta hãy can đảm sống cho sự thật dù đôi lúc đó không phải là điều dễ thực hiện.
Tài liệu của nhà thờ thánh Phanxico Xavie (Chợ Lớn)

https://ungsinhdongten.net/thanh-augustino-zhao-rong-va-cac-ban-tu-dao-2/


 Ngày 9 tháng 7

Thánh Augustinô Zhao Rong và các bạn tử đạo

Ngày hôm nay, Giáo hội cử hành thánh lễ tôn kính các vị tử đạo Trung Hoa. Các ngài là những người đã nêu gương anh dũng trong đời sống đức tin Kitô giáo dọc theo lịch sử của đất nước này. Thánh Augustinô Zhao Rong, đã anh dũng tử đạo để minh chứng đức tin, là một trong số 122 tín hữu Công giáo đã hy sinh suốt từ năm 1648 đến năm 1930.

Vào năm 1815, một Giám mục tên Gioan Gabriel Đufresse bị bắt. Lúc ấy, việc thực hành đạo Kitô bị coi là một hành vi chống lại luật lệ của đất nước Trung Hoa. Một anh lính Trung Hoa canh giữ Đức Giám mục rất đỗi khâm phục ngài bởi sự bình thản và lòng kiên nhẫn đối với cuộc bách hại. Sau khi Giám mục Đufresse bị giết, người lính này đã xin gia nhập Giáo hội. Anh được chịu phép Thanh tẩy và nhận tên là Augustinô. Sau này, Augustinô gia nhập chủng viện và học làm linh mục.

Thụ phong linh mục chẳng bao lâu, Augustinô cũng bị bắt vì là Kitô hữu. Người ta đã tra tấn Augustinô dữ dội hầu làm cho ngài chối bỏ niềm tin vào Đức Kitô. Thế nhưng, những đau khổ ấy lại chỉ giúp cho Augustinô Zhao Rong thêm can đảm và làm xác tín hơn niềm tin của ngài. Augustinô Zhao Rong bị lên án tử và tên ngài được ghi vào danh sách các tín hữu Trung Hoa anh dũng đã hy sinh mạng sống để làm chứng cho niềm tin của mình.

Danh sách các vị anh hùng này bao gồm 76 giáo dân, một số em thiếu nhi thậm chí mới bảy tuổi, 8 chủng sinh, 24 linh mục và 6 Giám mục. Trong số này, có 88 vị là người gốc Trung Hoa và 34 vị là các nhà truyền giáo đến từ nhiều quốc gia khác nhau, nhưng các vị đã nhận Trung Hoa là quê hương của mình.

Chúng ta hãy noi gương thánh Augustinô Zhao Rong và các bạn tử đạo Trung Hoa. Như các ngài, chúng ta hãy sống niềm tin của mình cách vui tươi. Chúng ta hãy can đảm sống cho sự thật dù đôi lúc đó không phải là điều dễ thực hiện.

https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/thanh-augustino-zhao-rong-va-cac-ban-tu-dao-42614




Thứ Bảy


Bài Ðọc I: (Năm I) St 49, 29-33; 50, 15-24

"Thiên Chúa sẽ thăm viếng anh em, và dẫn anh em ra khỏi đất này".

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, Giacóp trối lại cho các con rằng: "Cha sắp về sum họp cùng dân cha. Các con hãy chôn xác cha gần mồ cha ông, trong hang đôi ngoài cánh đồng của Êphron, người Hêthê, ngang thung lũng Mambrê trong đất Canaan, mà Abraham đã mua của Êphron, người Hêthê, để làm nghĩa trang. Nơi đó đã mai táng Abraham và bạn ông là Sara, nơi đó cũng đã mai táng Isaac và bạn ông là bà Rébecca, nơi đó cũng đã mai táng bà Lia". Trối cho các con xong, Giacóp rút chân lên giường và trút hơi thở, trở về sum họp với dân người.

Khi Giacóp đã qua đời, anh em của Giuse lo sợ và nói với nhau rằng: "Có khi Giuse còn nhớ sự sỉ nhục đã phải chịu mà trả đũa lại điều ác mà chúng ta đã làm chăng?" Họ liền sai người đến nói với Giuse rằng: "Trước khi chết, cha ngài đã trối lại cho chúng tôi là hãy lấy lời cha mà nói với người rằng: "Cha xin con hãy quên tội ác và lỗi lầm của các anh con đã làm cho con". Chúng tôi cũng xin ngài tha thứ tội ác của các tôi tớ Thiên Chúa của cha ngài". Nghe vậy, Giuse bật khóc lên. Các anh em của Giuse đến sấp mình xuống đất mà nói rằng: "Chúng tôi là tôi tớ của ngài". Giuse đáp rằng: "Anh em đừng sợ! Nào chúng ta có thể chống lại thánh ý Chúa sao? Các anh đã lo nghĩ sự dữ cho tôi, nhưng Thiên Chúa đã đổi nó ra sự lành để tôi được vinh hiển như anh em thấy hôm nay và để cứu sống nhiều dân tộc. Anh em đừng sợ, chính tôi sẽ nuôi dưỡng anh em và con cái anh em". Ông đã an ủi và lấy lời êm dịu hiền lành mà nói với anh em.

Giuse và gia quyến cha của ông đã cư ngụ trong nước Ai-cập, và ông sống được một trăm mười tuổi. Ông đã được thấy con cái của Ephraim đến ba đời. Con cái của Makir, là con của Manassê cũng đã sinh ra trên đầu gối Giuse. Các việc ấy đã qua đi, Giuse đã nói cùng anh em: "Sau khi tôi chết, Thiên Chúa sẽ thăm viếng anh em, và dẫn anh em ra khỏi đất này và đưa đến đất mà Người đã thề hứa ban cho Abraham, Isaac và Giacóp".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 104, 1-2. 3-4. 6-7

Ðáp: Các bạn khiêm cung, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh (Tv 68, 33).

Xướng: 1) Hãy ca tụng Chúa, hãy hoan hô danh Người, hãy kể ra sự nghiệp Chúa ở giữa chư dân. Hãy xướng ca, đàn hát mừng Người, hãy tường thuật mọi điều kỳ diệu của Chúa. - Ðáp.

2) Hãy tự hào vì danh thánh của Người, tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui. Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. - Ðáp.

3) Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Người, hỡi con cháu Giacóp, những kẻ được Người kén chọn. Chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Người bao trùm khắp cả địa cầu. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 118, 27

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 10, 24-33

"Các con đừng sợ những kẻ giết được thân xác".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Môn đệ không hơn thầy, và tôi tớ không hơn chủ mình. Môn đệ được bằng thầy, tôi tớ được bằng chủ mình thì đã là khá rồi. Nếu họ đã gọi chủ nhà là Bêelgiêbul thì huống hồ là người nhà của Ngài. Vậy các con đừng sợ những người đó, vì không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Ðiều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà.

"Các con đừng sợ kẻ giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn. Các con hãy sợ Ðấng có thể ném cả xác lẫn hồn xuống địa ngục. Nào người ta không bán hai chim sẻ với một đồng tiền đó sao? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi. Vậy các con đừng sợ: các con còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần.

"Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ chối nó trước mặt Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời".

Ðó là lời Chúa.


Mạnh Dạng Tuyên Xưng Thầy - Suy Niệm Thứ Bảy Tuần XIV Thường Niên C
"Anh em đừng sợ! Nào chúng ta có thể chống lại thánh ý Chúa sao?"

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Bảy Tuần XIV Thường Niên, Chúa Giêsu tiếp tục huấn từ sai đi của Người với 12 tông đồ. Người tiếp tục bằng những lời trấn an các vị: "đừng sợ", sau khi đã tỏ cho các vị biết về số phận đầy gian nan khốn khổ của thành phần thừa sai như các vị trong bài Phúc Âm hôm qua.
"Đừng sợ" những ai chụp mũ xuyên tạc cho mình: "Môn đệ không hơn thầy, và tôi tớ không hơn chủ mình. Môn đệ được bằng thầy, tôi tớ được bằng chủ mình thì đã là khá rồi. Nếu họ đã gọi chủ nhà là Belzebul thì huống hồ là người nhà của Ngài. Vậy các con đừng sợ những người đó".
"Đừng sợmới có thể rao giảng làm chứng: "Vậy các con đừng sợ những người đó, vì không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Điều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà".
Ở đây Chúa Giêsu muốn nói đến sức mạnh vô địch của sự thật, một sự thật có sức giải phóng con người (xem Gioan 8:32), một "sự thật" cho dù có bị che giấu hay đè nén cuối cùng cũng được "thổ lộ". Bởi thế, Chúa Giêsu đã khuyên dạy các tông đồ rằng: "điều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà".
Phải chăng "điều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng" đây có nghĩa là những gì linh hồn Kitô hữu biết được qua đêm tối tăm đức tin như một cảm nghiệm thần linh, một xác tín siêu nhiên, cần phải loan truyền một cách trung thực như "nói nơi ánh sáng" hay "giữa ban ngày", "và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà" có nghĩa là những gì Kitô hữu cảm nhận được khi lắng đọng tâm hồn cầu nguyện thì hãy mang công bố công khai như "trên mái nhà"?
"Đừng sợ" thậm chí cả những ai sát hại mạng sống của mình: "Các con đừng sợ kẻ giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn. Các con hãy sợ Đấng có thể ném cả xác lẫn hồn xuống địa ngục. Nào người ta không bán hai chim sẻ với một đồng tiền đó sao? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi. Vậy các con đừng sợ: các con còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần".
Ở đây Chúa Giêsu đã khôn khéo sử dụng những thí dụ cụ thể để chẳng những trấn an các môn đệ "đừng sợ" mà còn củng cố lòng tin tưởng của các vị nữa, bằng cách so sánh giá trị trổi vượt của các vị với loài chim, cũng như bằng hình ảnh tóc trên đầu rụng xuống, cả hai đều được Thiên Chúa quan phòng thần linh lưu ý, dù chúng chẳng là gì như sợi tóc rụng xuống hay chắng đáng gì như giá của 2 con chim sẻ.   
"Đừng sợ" mới có thể tuyên xưng đức tin: "Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy là Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ chối nó trước mặt Cha Thầy là Đấng ngự trên trời".
"Đừng sợ" trong bài Phúc Âm hôm nay cũng có thể áp dụng cho 10 người anh của Giuse, những người anh mà sau khi thân phụ Giacóp của các ông chết rồi thì lo sợ bị Giuse là đứa em các ông đã ám hại trước kia không còn nể cha nữa ra tay trả thù, đến độ đã phải cùng nhau lên tiếng xin lỗi em mình:
"Khi Giacóp đã qua đời, anh em của Giuse lo sợ và nói với nhau rằng: 'Có khi Giuse còn nhớ sự sỉ nhục đã phải chịu mà trả đũa lại điều ác mà chúng ta đã làm chăng?' Họ liền sai người đến nói với Giuse rằng: 'Trước khi chết, cha ngài đã trối lại cho chúng tôi là hãy lấy lời cha mà nói với người rằng: Cha xin con hãy quên tội ác và lỗi lầm của các anh con đã làm cho con'. Chúng tôi cũng xin ngài tha thứ tội ác của các tôi tớ Thiên Chúa của cha ngài".
Thế nhưng, chính Giuse em của các ông đã trấn an các ông cũng bằng chữ "đừng sợ" kèm theo một câu trả lời tràn đầy đức tin vào Thiên Chúa và bác ái yêu thương nhau vì Chúa và trong Chúa, một câu trả lời chẳng khác gì như một huấn dụ cho thành phần đàn anh lầm lỗi của mình như sau:  
"Anh em đừng sợ! Nào chúng ta có thể chống lại thánh ý Chúa sao? Các anh đã lo nghĩ sự dữ cho tôi, nhưng Thiên Chúa đã đổi nó ra sự lành để tôi được vinh hiển như anh em thấy hôm nay và để cứu sống nhiều dân tộc. Anh em đừng sợ, chính tôi sẽ nuôi dưỡng anh em và con cái anh em".
Bài Đáp Ca hôm nay dâng lời ca tụng Thiên Chúa là Đấng đã làm những việc kỳ diệu, vì Ngài là chủ cả địa cầu, Đấng con người cần phải tìm kiếm thiên nhan và loan truyền công cuộc của Ngài:

1) Hãy ca tụng Chúa, hãy hoan hô danh Người, hãy kể ra sự nghiệp Chúa ở giữa chư dân. Hãy xướng ca, đàn hát mừng Người, hãy tường thuật mọi điều kỳ diệu của Chúa. 

2) Hãy tự hào vì danh thánh của Người, tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui. Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. 

3) Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Người, hỡi con cháu Giacóp, những kẻ được Người kén chọn. Chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Người bao trùm khắp cả địa cầu.