Thứ Năm Tuần Thánh

 

Nhận Thức Tam Nhật Thánh

 

"Con Người đến để hiến mạng sống ḿnh làm giá chuộc cho nhiều người"

 

Theo Dự Án Cứu Rỗi của Thiên Chúa, như Nội Dung (trang 4) của cuốn sách này phác họa, th́ Phụng Niên có thể được chia làm 3 phần tiêu biểu cho 3 Mùa Phụng Vụ chính: "Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện", "Chúa Kitô: Sự Sống Thông Ban"' và "Chúa Kitô: Sự Sống Tái Sinh".

 

Chủ đề của chung Mùa Phụng Vụ thứ nhất, "Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện" bao gồm Mùa Vọng, Đại Lễ Giáng Sinh, Mùa Giáng Sinh và Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh. "Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện" là ai và ra sao, đă được Mùa Phụng Vụ thứ nhất của Phụng Niên tưởng niệm, như được tóm gọn ở trang 44 và được tŕnh bày ở phần nhất của cuốn sách này.

 

Tuy nhiên, vào Chúa Nhật 9 Thường Niên là Chúa Nhật kết thúc riêng Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh cũng như chung Mùa Phụng Vụ thứ nhất, thời gian Giáo Hội tưởng niệm và cử hành mầu nhiệm "Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện", con cái Giáo Hội đă thấy, qua Phụng Vụ Lời Chúa, đề cập đến (trang 142) việc làm chứng cho Tin Mừng Phục Sinh.

 

Tuy nhiên, để có thể thực sự và hoàn toàn "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Jn.5:24), nói cách khác, để chung con người và riêng Kitô hữu "được sống và sống viên trọn" (Jn.10:10), "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lư" (Phúc Âm lễ Ban Ngày Giáng Sinh) đă phải như một "mục tử nhân lành hiến mạng sống ḿnh v́ chiên" (Jn.10:11). Như thế, theo nội dung của chung Mùa Phụng Vụ thứ hai, dưới chủ đề: "Chúa Kitô: Sự Sống Thông Ban", Tam Nhật Thánh chính là và thật sự mới đúng là Thời Điểm Vượt Qua,  (Tam Nhật Thánh v́ thế c̣n được gọi là Tam Nhật Vượt Qua), thời điểm để Giáo Hội tái diễn trong Phụng Vụ của ḿnh biến cố "Con Người đến để hiến mạng sống ḿnh làm giá chuộc cho nhiều người".

 

Thật ra, những ngày sau Chúa Nhật Lễ Lá, cũng là Chúa Nhật Vượt Qua, được gọi chung là Tuần Thánh. Tuy nhiên, v́ những biến cố chính yếu liên hệ trực tiếp đến Biến Cố Vượt Qua, theo lịch sử, lại xẩy ra vào 3 ngày Thứ Năm, Thứ Sáu và Thứ Bảy, nên ở đây chỉ chú trọng đến Tam Nhật Vượt Qua mà thôi. Qua phần Phụng Vụ Lời Chúa, được Giáo Hội chọn làm những bài đọc có ư nghĩa riêng cho Tam Nhật Vượt Qua, con cái Giáo Hội nhận thấy có 3 ư chính sau đây:

 

1.         "Con Người hiến mạng": v́ yêu đến cùng (Thứ Năm)

2.         "Con Người hiến mạng": đến máu chảy ra (Thứ Sáu)

3.         "Con Người hiến mạng": đă sống lại rồi (Thứ Bảy)

 

 

 

"Con Người hiến mạng": v́ yêu đến cùng

(Thứ Năm Tuần Thánh)

 

 

Chiêm Ngắm Lời Chúa là Thần Linh:  Jn 13:1-15; Ex 12:1-8, 11-14; 1Cor 11:23-26

 

            "Trước ngày lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu nhận thấy rằng đă đến giờ Người bỏ thế gian này mà về cùng Cha. Người đă yêu thương thành phần riêng của Người ở thế gian này, và Người c̣n muốn tỏ bày ḷng của Người yêu họ cho đến cùng. Ma qủi đă dụ dỗ Giuđa, con của Simon -ch-Ca, nộp Chúa Giêsu' nên trong bữa ăn tối, Chúa Giêsu - biết rơ Người từ Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa là Cha, Đấng đă ban mọi sự cho Người - đă chỗi dậy khỏi bữa ăn và cởi áo ḿnh ra. Người lấy một cái khăn, quấn lại quanh ḿnh. Đoạn Người đổ nước vào chậu và bắt đầu rửa chân cho các môn đệ của Người, và lấy khăn quấn quanh ḿnh mà lau chân cho họ... Nếu Ta là Thày và là Chúa mà c̣n rửa chân cho các con th́ các con cũng phải rửa chân cho nhau. Điều Thày vừa làm là để làm gương cho các con: Thày đă làm thế nào, các con cũng phải làm theo như vậy":

 

"Chúa phán cùng Moisen và Aaron trong đất Ai Cập: 'Tháng này sẽ mở đầu cho năm niên lịch của các người' các người sẽ kể nó là tháng đầu tiên trong năm. Các người hăy bảo  toàn thể cộng đồng Ich Diên rằng: Vào ngày mùng 10 của tháng này, mỗi một gia đ́nh phải kiếm cho ḿnh một con chiên non (con chiên đực được một năm và vô t́ vết)... Các người phải giữ nó cho đến ngày 14 trong tháng, rồi cùng với toàn thể cộng đồng -ch Diên hiện diện, con chiên non sẽ được sát tế trong lúc chiều tối. Họ sẽ lấy một ít máu của nó mà bôi lên hai cánh cửa và khung cửa của mỗi nhà cùng chia phần con chiên non. Cũng vào đêm hôm ấy họ sẽ ăn thịt nướng của nó với bánh không men và rau đắng... Ngày này sẽ là một ngày lễ tưởng niệm của các người, mà mọi thế hệ của các người trong cuộc lữ hành sẽ cử hành kính Thiên Chúa như một thiết lập vĩnh viễn" -

 

"Chén chúc tụng là sự thông hiệp máu Chúa Kitô"' "Chúa Giêsu, vào đêm Người bị bội phản, cầm lấy bánh, sau khi tạ ơn, đă bẻ ra mà nói: 'Này là ḿnh Ta hiến cho các con. Các con hăy làm việc này mà nhớ đến Ta'. Cũng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén mà nói: 'Chén này là tân ước trong máu Ta. Khi nào các con uống, các con hăy làm mà nhớ đến Ta'. Bởi thế, mỗi lần anh em ăn bánh này và uống chén này là anh em công bố cái chết của Chúa, cho đến khi Người đến".

 

Cảm Nghiệm Lời Chúa là Sự Sống:

 

"Con Người hiến mạng: v́ yêu đến cùng". Có một điều đáng chú ư trong ngày Thứ Năm Thánh, đó là, trong Phụng Vụ Lời Chúa, Phúc Âm, bài đọc chính, lại không hề nói ǵ đến việc Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Tư Tế Thừa Tác, hai biến cố quan trọng nhất liên hệ đến chính việc Phụng Vụ của Giáo Hội, mà lại là bài đọc thứ hai. Chắn chắn Giáo Hội phải có ư ǵ khi chọn làm như thế. Một điều cũng cần chú ư ở đây nữa, đó là, trừ Phúc Âm của Thánh Lễ Vọng Phục Sinh trong ngày Thứ Bảy Thánh được trích từ bộ ba Phúc Âm Nhất Lăm, c̣n ngoài ra, trong hai ngày Thứ Năm và Thứ Sáu Tuần Thánh,  Phúc Âm được trích từ Phúc Âm theo thánh Gioan.

 

Phải chăng, v́  trong Chúa Nhật Vượt Qua, Phúc Âm Nhất Lăm tŕnh thuật Biến Cố Vượt Qua có tính cách khách quan, mà hai ngày Thứ Năm và Thứ Sáu Thánh này, hai ngày ở trong tuần sau Chúa Nhật Vượt Qua, Giáo Hội muốn dùng Phúc Âm thánh Gioan để vạch ra cho con cái ḿnh thấy rơ hơn phương diện chủ quan của Biến Cố Vượt Qua, phương diện nói lên nguyên động lực Vượt Qua của Chúa Kitô, ở chỗ "v́ yêu đến cùng", cũng như nói lên cách thức Người đă tỏ t́nh yêu đến cùng của Người, ở chỗ Người đă đổ hết máu ḿnh ra, hai chi tiết này không hề được Phúc Âm Nhất Lăm đề cập tới.

 

Theo tinh thần của toàn Biến Cố Vượt Qua, Chúa Kitô đă thực sự "muốn tỏ bày ḷng của Người yêu họ cho đến cùng" (Phúc Âm). Tuy nhiên, theo ư nghĩa được diễn đạt qua mạch văn của bài Phúc Âm, th́ Phụng Vụ Lời Chúa trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh nói đến việc "Người c̣n muốn tỏ bày ḷng của Người yêu họ cho đến cùng", ở ngay "trong bữa ăn tối" (Phúc Âm), khi Người "đă chỗi dậy khỏi bữa ăn và cởi áo ḿnh ra. Người lấy một cái khăn, quấn lại quanh ḿnh. Đoạn Người đổ nước vào chậu và bắt đầu rửa chân cho các môn đệ của Người, và lấy khăn quấn quanh ḿnh mà lau chân cho họ" (Phúc Âm).

 

Tuy nhiên, việc Chúa Giêsu "muốn tỏ bày ḷng của Người yêu họ cho đến cùng" ở đây, không phải chỉ có ư nghĩa về mức độ của chính t́nh Người "đă yêu thương thành phần riêng của Người ở thế gian này" (Phúc Âm), mà c̣n có ư nghĩa yêu cả người môn đệ mà Người biết và sẽ loan báo rằng sẽ phản nộp Người (x.Jn.13:18,21).

 

Chính v́ thế, không phải hoàn toàn vô t́nh và ngẫu nhiên mà Lời Chúa "là Thần Linh" đă gắn liền hai chi tiết "yêu thương" và "phản nộp" lại với nhau. Điều này đă rơ ràng nơi Phúc Âm hôm nay: "Ma qủi đă dụ dỗ Giuđa, con của Simon -ch-Ca, nộp Chúa Giêsu' nên trong bữa ăn tối, Chúa Giêsu đă chỗi dậy khỏi bữa ăn và cởi áo ḿnh ra". Sự kiện này cũng hết sức tỏ tường nơi bài đọc thứ hai: "Vào đêm Người bị bội phản, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, sau khi tạ ơn, đă bẻ ra mà nói: 'Này là ḿnh Ta hiến cho các con. Các con hăy làm việc này mà nhớ đến Ta'".

 

Thật ra, việc Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể và Tư Tế Thừa Tác, như bài đọc thứ hai đề cập tới, đă đủ nói lên ḷng Người yêu thương thành phần riêng của Người đến cùng rồi, và thành phần được Người thương, cũng theo bài đọc 2, "mỗi lần (họ) ăn bánh này và uống chén này là (họ) công bố cái chết của Chúa, cho đến khi Người đến", v́ đó là, theo bài đọc thứ nhất, "một ngày lễ tưởng niệm của (họ), mà mọi thế hệ của (họ) trong cuộc lữ hành sẽ cử hành kính Thiên Chúa như một thiết lập vĩnh viễn". Thế nhưng, Chúa Giêsu chỉ thiết lập Bí Tích Thánh Thể sau khi đă rửa chân cho các môn đệ, trong đó cả cả Giuđa, môn đệ mà Người cố ư nói đến một cách khéo léo trước mặt các môn đệ khác: "'Không phải tất cả đă được rửa sạch', v́ Người biết kẻ phản bội Người" (Phúc Âm).

 

Như thế, căn cứ vào ư tứ được mạc khải qua lời Phúc Âm vừa trích dẫn trên đây, việc rửa chân cho các môn đệ của Chúa Giêsu chính là việc "Người muốn tỏ bày ḷng của Người yêu họ đến cùng", ở chỗ Người muốn tỏ bày ḷng của Người yêu thương đến cả người môn đệ, một trong số của các ngài, là kẻ sẽ bội phản Người. Bởi thế, trong toàn bộ Thánh Kinh nói chung và Phúc Âm nói riêng, không có một đoạn nào, bằng bài Phúc Âm của ngày Thứ Năm Tuần Thánh hôm nay, đă nói lên một cách sống động lời Chúa Giêsu minh định: "Thiên Chúa không sai Con xuống thế gian để luận phạt thế gian, song để thế gian có thể nhờ Người mà được cứu" (Phúc Âm Chúa Nhật 4 Mùa Chay năm B), và một cách đích xác lời Chúa Giêsu tuyên bố: "Con Người đến không phải để được hầu hạ mà là để hầu hạ" (Mt.20:28).

Ngoài ra, Chúa Giêsu "muốn tỏ bày ḷng của Người yêu họ cho đến cùng" như thế, tức yêu cả người môn đệ phản nộp ḿnh, được biểu hiệu qua việc rửa chân cho các môn đệ, là "để làm gương cho các con: Thày đă làm thế nào, các con cũng phải làm theo như vậy" (Phúc Âm). Đó cũng là lư do, cũng trong Bữa Tiệc Ly này, sau khi thiết lập Bí Tích Thánh Thể và Tư Tế Thừa Tác, Chúa Giêsu c̣n ban, qua các thánh Tông Đồ, cho Giáo Hội của Người Giới Luật Yêu Thương, một giới luật làm nên cũng như biểu hiệu cho Bản Chất Thần Linh của Giáo Hội: "Thày ban cho các con điều răn mới: đó là các con hăy yêu thương nhau. Thày đă yêu thương các con thế nào, các con cũng phải yêu thương nhau như vậy. Đó là dấu hiệu mà mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ của Thày" (Jn.13:34-35).

 

            Lạy Cha chúng con ở trên trời, Cha là "Đấng đă ban mọi sự cho Người" (Phúc Âm), Con Một của Cha, trong đó có chúng con là "thành phần riêng của Người ở thế gian" (Phúc Âm). Xin v́ t́nh của Người yêu thương chúng con cho đến cùng, một t́nh yêu hoàn toàn trung thực phản ảnh tấm ḷng giầu t́nh thương của Cha, sau khi chia gia tài cho đứa con của ḿnh, bị nó lấy đem đi phung phá vào cuộc sống buông tuồng của nó, vẫn trông mong nó trở về với ḿnh cho nó được sống. Chúng con xin dâng lên Cha "chén chúc tụng là sự thông hiệp máu Chúa Kitô" (đáp ca) như một Hy Tế Tạ Ơn đến muôn thuở muôn đời. Amen.

 

Hiện Thực Tam Nhật Thánh

 

Tam Nhật Thánh là thời điểm của tuần lễ sau Mùa Chay và trước Đại Lễ Phục Sinh Giáo Hội lập ra để tưởng niệm Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, Đấng "đă hiến ḿnh làm giá chuộc cho nhiều người" (Mt.20:28).

 

Phần Chúa Giêsu, tuy đă về trời, nhưng Người vẫn "luôn ở lại với (Giáo Hội) cho đến tận thế" (Phúc Âm Lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên năm A). Do đó, qua Phụng Vụ của Giáo Hội trong Tam Nhật Thánh, "Chúa Kitô: Sự Sống Thông Ban" vẫn tỏ ḿnh ra thực sự là "căn nguyên của ơn cứu độ đời đời cho những ai tùng phục Người" (bài đọc 2 Chúa Nhật 5 Mùa Chay năm B).

 

C̣n đối với mỗi Kitô hữu, thành phần "được công chính nhờ đức tin... chấp nhận Chúa Giêsu Kitô" (bài đọc 2 Chúa Nhật 9 Thường Niên năm A), th́ chung Phụng Niên và riêng mỗi Mùa Phụng Vụ chính là thời gian "ơn cứu độ gần hơn lúc mới chấp nhận đức tin" (bài đọc 2 Chúa Nhật 1 Mùa Vọng năm A), tức gần họ hơn lúc họ mới lănh nhận Bí Tích Rửa Tội.

 

Thế nhưng, người Kitô hữu cần phải tránh khỏi t́nh trạng đáng tiếc là "có một Đấng ở giữa qúi vị mà qúi vị không biết" (Phúc Âm Chúa Nhật 3 Mùa Vọng năm B).  Ngược lại, họ c̣n cần phải làm sao để thực sự cảm nghiệm "thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa" (Phúc Âm Chúa Nhật 2 Mùa Vọng năm C), được tỏ ra nơi "Chúa Kitô: Sự Sống Thông Ban", qua việc Giáo Hội tưởng niệm "Con Người hiến mạng sống ḿnh làm giá chuộc cho nhiều người" trong Tam Nhật Thánh này. Người Kitô hữu chỉ có thể làm cho hiện thực Biến Cố Tử Nạn cũng như Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô nơi con người của ḿnh, khi họ "phải coi ḿnh đă chết cho tội nhưng sống cho Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô" (bài đọc Tân Ước Thánh Lễ Vọng Phục Sinh).

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 

 

"Mầu nhiệm chức linh mục của Giáo Hội là ở chỗ chúng ta, những con người khốn nạn, nhờ bí tích này, có thể nói với cái tôi của Người: ‘vơi tư cách của Chúa Kitô – in persona Christi’".

 

ĐTC Biển Đức XVI: Thánh Lễ Truyền Dầu Sáng Thứ Năm Tuần Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ Thánh Phêrô

 

Quí Huynh thân mến trong hàng giáo phẩm và linh mục,

Anh Chị Em thân mến,

 

Thứ Năm Tuần Thánh là ngày Chúa Kitô trao cho 12 Tông Đồ nhiệm vụ tư tế để cử hành bằng bánh và rượu bí tích Ḿnh và Máu của Người cho tới khi Người trở lại, thay thế cho con chiên vượt qua và tất cả mọi hy tế Cựu Ước bằng tặng ân Ḿnh Máu của Người, tặng ân chính bản thân Người.

 

Như thế, việc thờ phượng mới là ở sự kiện, trước hết, Thiên Chúa ban cho chúng ta một tặng ân, và chúng ta, tràn đầy tặng ân này, trở nên tặng ân của Ngài: Tạo vật về với Tạo Hóa. Bởi vậy mà chức linh mục cũng trở thành một điều mới mẻ: Chức này không c̣n là một vấn đề hạ giáng nữa mà là một cuộc hội ngộ của bản thân nơi mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô. Người bao giờ cũng là Đấng ban phát và lôi kéo chúng ta lại với Người. Chỉ có một ḿnh Người mới có thể nói: ‘Này là Ḿnh Thày – này là Máu Thày’. 

 

Mầu nhiệm chức linh mục của Giáo Hội là ở chỗ chúng ta, những con người khốn nạn, nhờ bí tích này, có thể nói với cái tôi của Người: ‘vơi tư cách của Chúa Kitô – in persona Christi’. Người muốn thi hành chức linh mục của Người qua chúng ta. Chúng ta nhớ lại mầu nhiệm cảm kích này, một mầu nhiệm tác động chúng ta một lần nữa mỗi lần chúng ta cử hành bí tích, nhất là vào Thứ Năm Tuần Thánh. Để cái thường nhật không làm hư hại tới những ǵ là cao cả và nhiệm mầu, chúng ta cần phải đặc biệt tưởng nhớ như thế, chúng ta cần phải trở về với giây phút Người đặt tay Người trên chúng ta để chúng ta được tham dự vào mầu nhiệm này.

 

Bởi vậy, một lần nữa, chúng ta hăy suy niệm về những dấu hiệu được bí tích này cho chúng ta thấy. Tâm điểm là chính cử chỉ cổ kính của việc đặt tay, nhờ đó, Người chiếm hữu tôi khi nói: ‘Con thuộc về Cha’. Cùng với những lời này Người c̣n nói: ‘Con được bàn tay Cha bảo vệ. Con được trái tim Cha bao che. Con ở trong ḷng bàn tay của Cha, bởi thế, con cảm thấy ḿnh ở trong cái bao la của t́nh yêu Cha. Con hăy ở trong bàn tay Cha và hiến cho Cha bàn tay của con’.

 

Nên chúng ta hăy nhớ rằng, bàn tay của chúng ta đă được xức bằng dầu biểu hiệu cho Thánh Linh và quyền năng của Ngài. Tại sao lại phải là bàn tay? Bàn tay của con người là phương tiện cho con người hành động, nó là biểu hiệu cho khả năng của họ trong việc đối diện với thế giới, cho đến độ ‘nắm lấy nó trong tay’. Chúa đă đặt tay của Người trên chúng ta, và giờ đây Người muốn có bàn tay của chúng ta để chúng trở thành bàn tay của Người trên thế giới. Người muốn bàn tay này không c̣n là dụng cụ để vơ lấy sự vật, con người, thế giới về cho bản thân chúng ta, biến thế giới này thành sở hữu của chúng ta, trái lại, những bàn tay ấy là những ǵ truyền đạt cái giao chạm thần linh của Người, trở thành những ǵ phục vụ cho t́nh yêu thương của Người.

 

Người muốn những bàn tay ấy trở thành dụng cụ phục vụ, nhờ đó, chúng trở thành biểu hiện cho sứ vụ của trọn vẹn con người, một con người làm cho họ nên bảo quản viên của Người và mang Người đến cho con người. Nếu bàn tay của con người tiêu biểu một cách tượng trưng cho các tài năng của họ, nói chung là cho kỹ thuật như khả năng làm chủ thế giới, th́ bàn tay được xức dầu phải là dấu hiệu của khá năng con người ban phát, của việc kiến tạo nên một thế giới yêu thương – và đó là lư do chúng ta chắc chắn cần đến Thánh Thần.

 

Trong Cựu Ước, việc xức dầu là dấu hiệu của vấn đề chấp nhận việc làm: Vua chúa, tiên tri, linh mục là thành phần thực hiện và ban phát ngoài những ǵ được xuất phát từ chính bản thân họ. Ở một nghĩa nào đó, họ tước đoạt bản thân ḿnh để thi hành một việc phục vụ được trao hiến bản thân cho quyền sử dụng của người cao cả hơn chính họ.


Nếu ngày nay Chúa Giêsu xuất hiện trong Phúc Âm như Đấng Được Thiên Chúa Xức Dầu, như Đức Kitô Thiên Sai, th́ chính là v́ Người liên kết với Thánh Thần tác hành sứ vụ được Cha trao phó, nhờ đó, Người cống hiến cho thế giới một vương quyền mới, một chức tư tế mới, một đường lối mới làm ngôn sứ, một ngôn sứ không t́m ḿnh mà là sống cho Người theo chiều hướng thế giới được tạo thành. Hôm nay, một lần nữa, chúng ta hăy trao bàn tay của chúng ta cho Người tùy nghi sử dụng, và chúng ta hăy xin Người hăy luôn nắm lấy chúng ta trong tay và dẫn dắt chúng ta một lần nữa.

 

Nơi cử chỉ đặt tay của vị giám mục theo bí tích này, chính Chúa Kitô đă đặt tay ḿnh trên chúng ta. Dấu hiệu bí tích này tái diễn lại cả một hành tŕnh cuộc sống. Có lúc, như các vị môn đệ tiên khởi, chúng ta đă gặp gỡ Chúa Kitô và nghe Người kêu gọi rằng ‘Hăy theo Thày!’ Có lẽ ban đầu chúng ta đă theo Người một cách lưỡng lự, lùi bước và nghĩ rằng không biết đó có phải thực sự là đường chúng ta đi hay chăng.

 

Thế rồi, vào một lúc nào đó trong cuộc hành tŕnh này, có lẽ chúng ta đă có được cảm nghiệm của tông đồ Phêrô sau mẻ cá lạ, tức là chúng ta cảm thấy ngỡ ngàng bàng hoàng trước sự cao cả của Người, trước sự vĩ đại của việc làm ấy và trước cảnh thiếu kém của con người nghèo hèn của chúng ta, cho đến độ muốn thoái lui: ‘Ôi Chúa, xin hăy tránh xa con, v́ con là một kẻ tội lỗi’ (Lk 5:8). Thế nhưng, bấy giờ, với tấm ḷng hết sức nhân ái, Người đă nắm lấy tay chúng ta, kéo chúng ta đến với Người mà nói: ‘Đừng sợ! Có Thày ở với con. Thày không bỏ con đâu, nếu con không bỏ Thày!’

 

Và đă hơn một lần, một điều xẩy ra cho chúng ta như đă xẩy ra cho tông đồ Phêrô, khi ngài bước đi trên mặt nước để gặp gỡ Chúa th́ đùng một cái ngài không cảm thấy nước dưới chân nữa nên sắp bị ch́m xuống. Như tông đồ Phêrô, chúng ta cũng đă kêu lên: ‘Chúa ơi xin cứu con với!’ (Mt 14:30). Trước tất cả những ǵ là dữ dội của các yếu tố, làm thế nào chúng ta có thể thoát qua được những gịng nước ầm ầm tung tóe của thế kỷ và thiên kỷ vừa qua?  Thế nhưng, bấy giờ chúng ta đă nh́n vào Người… và Người đă nắm lấy tay của chúng ta và ban cho chúng ta một ‘sức nặng đặc biệt’ mới, đó là cái nhẹ nhàng của một thứ đức tin cuốn hút chúng ta lên cao.

 

Để rồi Người giơ tay ra nâng đỡ chúng ta và mang chúng ta đi. Người giữ chúng ta đứng vững. Chúng ta hăy luôn gắn mắt vào Người và hăy giơ tay ra cho Người. Chúng ta hăy để Người nắm lấy tay chúng ta th́ chúng ta sẽ không bị ch́m name, song sẽ phục vụ một sự sống mạnh hơn sự chết và phục vụ một t́nh yêu mạnh hơn hận thù. Niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống, là phương tiện nhờ đó Người nắm lấy tay chúng ta và dẫn dắt chúng ta. Một trong những lời nguyện cầu tôi yêu thích là lời nguyện cầu được phụng vụ đặt vào môi miệng chúng ta trước khi Hiệp Lễ, đó là ‘Xin đừng bao giờ bỏ con ĺa xa Chúa’. Chúng ta hăy nguyện xin để chúng ta không bao giờ xa ĺa mối hiệp thông với Thân Thể của Người, với chính Chúa Kitô, để chúng ta không bao giờ ĺa xa mầu nhiệm Thánh Thể. Chúng ta hăy Người đừng bao giờ buông tay chúng ta ra…

 

Chúa Kitô đă đặt tay của Người trên chúng ta. Người đă bày tỏ ư nghĩa của cử chỉ như thế qua những lời Người nói rằng: ‘Thày không c̣n gọi các con là tôi tớ nữa, v́ tôi tớ không biết ǵ về những việc chủ làm. Thày gọi các con là bạn hữu, v́ Thày đă nói với các con hết mọi sự Thày đă nghe nơi Cha Thày’ (Jn 15:15). Thày không c̣n gọi các con là tôi tớ mà là bạn hữu: Nơi những lời ấy người ta thậm chí có thể thấy được việc thiết lập thiên chức linh mục. Chúa Kitô làm cho chúng ta thành bạn hữu của Người, ở chỗ, Người kư thác cho chúng ta tất cả mọi sự; Người phó chính bản thân Người cho chúng ta để chúng ta có thể nói bằng cái tôi của Người: ‘in persona Christi capitis’. Ôi Người tin tưởng chúng ta biết là dường nào! Người thực sự phó ḿnh vào tay của chúng ta.

 

Những dấu hiệu thiết yếu của việc truyền chức linh mục là tất cả những biểu lộ sâu xa của lời ấy: dấu hiệu đặt tay; trao sách – trao lời Người ủy thác cho chúng ta; trao chén biểu hiệu cho việc Người truyền đạt cho chúng ta mầu nhiệm sâu xa và thân mật nhất của Người. Trong tất cả những sự ấy c̣n có quyền năng tha tội nữa: Người cũng làm cho chúng ta tham dự vào việc Người nhận thức thấy t́nh trạng thảm thương của tội lỗi cùng với tất cả những ǵ là tối tăm trên thế giới, và trao cho ch́a khóa vào tay chúng ta để mở lại cửa Nhà Cha trên trời. Thày không c̣n gọi các con là tôi tớ nữa mà là bạn hữu. Đó là ư nghĩa sâu xa của việc làm linh mục, đó là trở thành bạn hữu của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta cần phải tái dấn thân cho mới thân hữu hằng ngày này.

 

T́nh thân hữu là để chia sẻ tâm tư và ước muốn. Trong mối hiệp thông này, Thánh Phaolô nói với chúng ta ở Thư gửi giáo đoàn Philiphê (x 2:2-5), chúng ta cần phải làm cho ḿnh tưởng nghĩ như Chúa Giêsu. Và mối hiệp thông về tâm tưởng này không phải chỉ là những ǵ về tri thức, mà là một thứ chia sẻ về những cảm thức cùng ư muốn nên cũng chia sẻ về cả hành động nữa.

 

Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải nhận biết Chúa Giêsu một cách thân t́nh hơn bao giờ hết, lắng nghe Người, chung sống với Người, bỏ giờ ra với Người. Việc lắng nghe Người – nơi việc ‘lectio dinina’, tức là việc đọc Thánh Kinh, không phải theo kiểu học thức mà là theo kiểu thiêng liêng; nhờ đó chúng ta biết cách gặp gỡ Chúa Giêsu là Đấng đang hiện diện và nói với chúng ta. Chúng ta cần phải suy nghĩ và phản tỉnh những lời của Người cũng như những hành động của Người trước nhan Người và cùng với Người.

 

Việc đọc Thánh Kinh là việc cầu nguyện, nó phải là việc cầu nguyện – nó phải xuất phát từ việc nguyện cầu và dẫn tới việc nguyện cầu. Các thánh kư nói với chúng ta rằng Chúa Kitô thường ẩn ḿnh ở trên núi cầu nguyện thâu đêm. Chúng ta cũng cần đến thứ ‘núi’ này: đó là độ cao nội tâm chúng ta cần phải leo lên, đó là ngọn núi nguyện cầu. Chỉ có thế mối thân hữu mới phát triển. Chỉ có thế chúng ta mới có thể thi hành công việc phục vụ tư tế của chúng ta, chỉ có thế chúng ta mới có thể đem Chúa Kitô và Phúc Âm của Người đến cho con người. Việc chỉ biết hăng say hoạt động thậm chí có thể là những ǵ anh hùng. Thế nhưng hoạt động bề ngoài, cuối cùng, vẫn chẳng sinh hoa kết trái và mất đi hiệu năng, nếu nó không được xuất phát từ mối hiệp thông sâu xa thân mật với Chúa Kitô.

 

Thời gian chúng ta giành cho việc làm này thực sự là thời gian của hoạt động mục vụ, của hoạt động mục vụ đích thực. Một linh mục trước hết là một con người nguyện cầu. Thế giới thường lạc hướng của ḿnh theo chiều hướng duy hoạt động cuồng loạn của nó. Hoạt động của nó và các khả năng của nó trở thành những ǵ hủy hoại, nếu không có sức mạnh của việc nguyện cầu là những ǵ xuất phát gịng nước sự sống có khả năng làm cho đất đai khô cằn trở nên mầu mở ph́ nhiêu. 

 

Thày không c̣n gọi các con là tôi tớ mà là bạn hữu. Yếu tính của thiên chức linh mục đó là làm bạn của Chúa Giêsu Kitô. Chỉ có thế chúng ta mới thực sự nói ‘thay cho Chúa Kitô – in persona Christi’, cho dù nội tâm chúng tax a ĺa Chúa Kitô vẫn không thể làm tổn thương tới tính cách hiệu thành của bí tích. Làm bạn với Chúa Giêsu, làm linh mục nghĩa là làm một con người nguyện cầu. Vậy chúng ta hăy t́nh bạn này và hăy thoát khỏi cảnh vô tri của những người tôi tớ quê mùa. Vậy chúng ta hăy biết làm sao để sống, để chịu khổ và để tác hành với Người và cho Người.

 

T́nh bằng hữu với Chúa Giêsu bao giờ cũng là t́nh bằng hữu đệ nhất với những ai thuộc về Người. Chúng ta có thể làm bạn của Chúa Kitô chỉ trong mối hiệp thông với toàn thể Chúa Kitô, tức với cả đầu lẫn thân, nơi sự sống dồi dào phong phú của Giáo Hội được sinh động bởi Chúa Kitô. Chỉ trong Giáo Hội, nhờ Chúa Kitô, Thánh Kinh mới là Lời sống động và hợp thời. Không có chủ thể sống động Giáo Hội ấp ủ các thời đại này, th́ Thánh Kinh bị đổ bể thành những bản văn thường bất nhất hỗn tạp, do đó trở thành một cuốn sách của quá khứ. Thánh Kinh là những ǵ sống động vào lúc này đây chỉ ở nơi nào có ‘Sự Hiện Diện’ thôi – nơi nào Chúa Kitô măi đồng thời với chúng ta: tức nơi thân thể Giáo Hội của Người.

 

Là linh mục tức là làm bạn với Chúa Giêsu Kitô, và điều này càng trở nên hơn thế nữa qua cả cuộc sống của chúng ta. Thế giới cần đến Thiên Chúa – không cần đến bất cứ một thần linh nào, mà là cần đến Vị Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, đến Vị Thiên Chúa hóa thành huyết nhục, Vị đă yêu thương chúng ta đến chết v́ chúng ta, Vị đă phục sinh và đă tao nên nơi bản thân Ngài một khoảng trống cho con người. Vị Thiên Chúa này cần phải sống trong chúng ta và chúng ta cần phải sống trong Ngài. Đó là ơn gọi linh mục của chúng ta: Chỉ có thế hoạt động linh mục của chúng ta mới sinh hoa kết trái mà thôi.

 

Tôi muốn kết thúc bài giảng này bằng một câu nói của Andres Santoro, vị linh mục của Giáo Phận Rôma bị sát hại ở Trebisonda đang khi nguyện cầu; Đức Hồng Y Cé đă nói cho chúng ta biết câu ấy trong Tuần Pḥng (đầu Mùa Chay cho giáo triều Rôma vừa rồi). Lời đó là: ‘Tôi ở nơi đây để sống giữa những thành phần dân chúng này, nhờ đó Chúa Giêsu hiện diện giữa họ qua xác thịt của tôi… Người ta có khả năng cứu độ chỉ bằng việc hiến ban xác thịt của ḿnh mà thôi. Sự dữ của thế giới này được hạ sinh và khổ đau được cảm nghiệm thấy, chính yếu là ở chỗ thấm nhập vào xác thịt riêng của người ta, như Chúa Giêsu đă làm’. Chúa Giêsu đă mặc lấy xác thịt của chúng ta. Chúng ta hăy hiến nó cho Người, để nhờ đó Người có thể vào đời mà đổi đời. Amen.

 
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 13/4/2006

 

 

 

"Sự thánh thiện của Thiên Chúa không phải chỉ là một thứ quyền năng rực rỡ khiến chúng ta phải kinh hoàng hăi sợ. Ngài là quyền lực yêu thương, nên Ngài là quyền lực thanh tẩy và tái sinh".

 

ĐTC Biển Đức XVI: Lễ Chiều Thứ Năm Thánh 13/4/2006 tại Đền Thờ John Lateran

‘Người đă yêu thương những kẻ thuộc về ḿnh th́ Người đă yêu thương họ tới cùng’ (Jn 13:1). Thiên Chúa yêu thương tạo vật của Ngài là con người. Ngài cũng yêu thương con người khi họ sa ngă và không bỏ rơi mặc thây họ cho rồi đời. Ngài yêu thương họ tới cùng. Bằng t́nh yêu của ḿnh Ngài đă đi cho tới cùng, cho tới cực độ: Ngài đă hạ giáng không c̣n vinh hiển thần linh của Ngài nữa. Ngài đă bỏ đi vinh hiển thần linh của Ngài và mặc lấy thân phận tôi đ̣i. Ngài đă xuống tận chỗ thấp hèn nhất của t́nh trạng sa đọa của chúng ta. Ngài đă qú xuống trước chúng ta và cống hiến chúng ta một việc làm của người tôi tớ. Ngài rửa chân bẩn thỉu của chúng ta để chúng ta có thể được thông phần với Ngài, để chúng ta được xứng đáng ngồi vào bàn với Ngài, một việc tự ḿnh chúng ta không bao giờ có thể làm và dám làm.

 

Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa xa vời, quá xa vời và cao cả đối với những ǵ là tầm thường của chúng ta. Cho dù là Ngài cao cả Ngài vẫn có thể chú trọng tới những cái tầm thường của chúng ta. Cho dù là Ngài cao cả, nhưng linh hồn của con người, một con người được t́nh yêu hằng hữu dựng nên ấy, lại không phải là những ǵ bé nhỏ, song cao cả và đáng được Ngài yêu thương. Sự thánh thiện của Thiên Chúa không phải chỉ là một thứ quyền năng rực rỡ khiến chúng ta phải kinh hoàng hăi sợ. Ngài là quyền lực yêu thương, nên Ngài là quyền lực thanh tẩy và tái sinh.

 

Thiên Chúa hạ giáng và biến thành một người tôi tớ, rửa chân cho chúng ta để chúng ta được ngồi vào bàn với Ngài. Tất cả mầu nhiệm của Chúa Kitô được thể hiện nơi điều này. Ư nghĩa của việc cứu chuộc được tỏ hiện nơi việc ấy. Chậu nước mà Ngài thanh tẩy chúng ta là t́nh Ngài yêu thương sẵn sàng chấp nhận chết đi. Chỉ có t́nh yêu mới có quyền năng thanh tẩy chúng ta khỏi ô uế bẩn thỉu và nâng chúng ta lên tầm mức cao cả của Thiên Chúa. Chính Ngài là bồn nước thanh tẩy chúng ta, Đấng hoàn toàn hiến ḿnh cho chúng ta đến độ chạm tới vực thẳm khổ đau và chết chóc của họ. Ngài liên lỉ là t́nh yêu thanh tẩy chúng ta nơi các bí tích thánh tẩy – bí tích rửa tội và thống hối – Ngài tiếp tục qú xuống dưới chân chúng ta để cống hiến cho chúng ta một việc làm của thành phần tôi tớ, đó là việc thanh tẩy; Ngài làm cho chúng ta xứng đáng với Thiên Chúa. T́nh yêu của Ngài khôn tận; Ngài thực sự yêu thương cho tới cùng.

 

Chúa Kitô nói: ‘Các con thanh sạch nhưng không phải tất cả mọi người trong các con đâu’ (Jn 13:10). Trong câu này Ngài đă tỏ cho chúng ta thấy tặng ân thanh tẩy cao cả Ngài cống hiến cho chúng ta, v́ Ngài muốn ngồi vào bàn chung với chúng ta, trở nên lương thực cho chúng ta. ‘Thế nhưng không phải là tất cả đâu’; đây là mầu nhiệm tối tăm của vấn đề khước từ, một mầu nhiệm đă xẩy ra cho Giuđa mà chúng ta cần phải suy nghĩ thực sự trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh này, ngày Chúa Giêsu ban ḿnh cho chúng ta. T́nh yêu của Chúa Kitô vô giới hạn thế mà con người lại đặt giới hạn cho t́nh yêu này.

 

‘Các con thanh sạch những không phải là tất cả các con đâu’. Cái ǵ làm cho con người ra ô uế bẩn thỉu? Đó là thái độ khước từ t́nh yêu, không muốn được yêu thương, không yêu thương. Đó là thái độ cao ngạo cho rằng không cần thanh tẩy, khép ḿnh trước sự thiện hảo cứu độ của Thiên Chúa.

 

Thái độ cao ngạo không muốn thú nhận và nh́n nhận rằng chúng ta cần được thanh tẩy. Nơi Giuđa, chúng ta thấy bản chất của thái độ khước từ một cách rơ ràng hơn nữa. Hắn nghĩ về Chúa Giêsu theo những ǵ là quyền lực và thành đạt. Đối với hắn, chỉ có thực tại về     quyền lực và thành đạt mà thôi, c̣n t́nh yêu chẳng có nghĩa ǵ cả. Và hắn là một con người thèm muốn: Tiền bạc là những ǵ c̣n quan trọng hơn cả mối hiệp thông với Chúa Giêsu, quan trọng hơn cả Thiên Chúa và t́nh yêu của Ngài. Bởi đó, hắn cũng trở thành một tên dối trá, hắn cả gan ăn thua đủ với sự thật; hắn sống trong gian dối và nhắm mắt lại trước sự thật là Thiên Chúa. Bởi thế hắn bị cứng ḷng, không thể ăn năn hối cải, không thể bắt đầu tin tưởng trở về như người con hoang đàng mà bỏ đi cuộc đời băng hoại.

 

‘Các con thanh sạch nhưng không phải là tất cả đâu’. Chúa Kitô muốn cảnh giác chúng ta ngày nay trước cái tự măn đến độ đặt giới hạn cho t́nh yêu vô hạn của Ngài. Ngài mời gọi chúng ta hăy bắt chước sự khiêm tốn của Người, hăy tin tưởng vào sự khiêm tốn này, hăy để ḿnh bị ‘nhiễm lây’ nó. Ngài mời gọi chúng ta hăy trở về nhà, bất kể chúng ta cảm thấy sai lạc đến đâu đi nữa và hăy để choi sự thiện hảo thanh tẩy của Ngài thăng hóa chúng ta và làm cho chúng ta được hiệp thông với Ngài, với chính Thiên Chúa.

 

Chúng ta hăy suy nghĩ một câu nữa từ đoạn Phúc Âm bất tận này, đó là câu: ‘Thày đă làm gương cho các con’ (Jn 13:15), để ‘các con cũng phải rửa chân cho nhau’ (Jn 13:14). Việc rửa ‘chân cho nhau’ này là ở chỗ nào? Nó đặc biệt có nghĩa là ǵ? Hết mọi việc lành làm cho kẻ khác – nhất là cho những ai bị khổ đau và những ai ít được cảm mến – là việc rửa chân vậy. Chúa Kitô kêu gọi chúng ta làm việc này, đó là hạ ḿnh xuống, tỏ ra khiêm nhượng và can đảm hành thiện, cũng như tỏ ra sẵn sàng chấp nhận bị khước từ nhưng vẫn tin tưởng vào sự thiện hảo và kiên tŕ với sự thiện hảo.

 

Thế nhưng vẫn c̣n một chiều kích sâu xa hơn nữa. Chúa Kitô tẩy rửa t́nh trạng ô uế bẩn thỉu của chúng ta bằng sự thiện hảo có quyền năng thanh tẩy của ngài. Việc rửa chân cho nhau trước hết nghĩa là không ngừng tha thứ cho nhau, nghĩa là luôn luôn bắt đầu lại cho dù nó có thể là luống công vô ích. Nó có nghĩa là thanh tẩy nhau bằng việc chịu đựng lẫn nhau và chấp nhận những ǵ người khác phải chịu đựng chúng ta; nó có nghĩa là thanh tẩy nhau, cống hiến cho nhau quyền năng thánh hóa của Lời Chúa và đưa nhau đến với bí tích của t́nh yêu thần linh.

 

Chúa Kitô thanh tẩy chúng ta và bởi đó chúng ta mới dám ngồi vào bàn với Ngài. Chúng ta hăy cầu xin để Ngài ban cho tất cả chúng ta ân sủng để trở thành khách vào một ngày nào đó và vĩnh viễn ở bàn tiệc cưới vĩnh hằng. Amen!


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 15/4/2006

 

 

 

“Chúng ta được hạ sinh từ Thánh Thể… Thiên Chức Linh Mục cũng là một mầu nhiệm đức tin”


ĐTC GPII gửi Thư Thứ Năm Tuần Thánh 2004 Cho Hàng Linh Mục


Các Linh Mục thân mến!


1.     Thật là vui mừng và cảm mến khi viết Bức Thư Thứ Năm Tuần Này này cho anh em, theo truyền thống được bắt đầu từ Lễ Phục Sinh đầu tiên của Tôi với tư cách là Giám Mục Rôma 25 năm trước đây. Cuộc hội ngộ hằng năm của chúng ta qua Bức Thư này là một cuộc hội ngộ đặc biệt huynh đệ, nhờ việc chúng ta chia sẻ chung về Thiên Chức Linh Mục của Chúa Kitô, và việc chia sẻ này diễn ra vào khung cảnh phụng vụ của một ngày thánh được đánh dấu bằng hai việc cử hành quan trọng, đó là Lễ Truyền Dầu ban sáng và Lễ Tiệc Ly ban chiều.


Tôi nghĩ đến anh em nhất là khi anh em tụ họp lại ở vương cung thánh đường thuộc các Giáo Phận khác nhau của anh em bên những Vị Bản Quyền đương nhiệm của anh em để lập lại những lới hứa linh mục của anh em. Lễ nghi sống động này xẩy ra sau việc thánh hiến các thứ Dầu Thánh, nhất là Dầu Thơm Olive, và là lễ nghi rất xứng hợp với Lễ Truyền Dầu, một Lễ cho thấy h́nh ảnh Giáo Hội là một dân tư tế được thánh hóa nhờ các phép bí tích và được sai đi khắp thế giới như hương thơm của Đức Kitô Cứu Thế (2Cor 2:14-16).


Vào lúc trời tối, Tôi thấy anh em tiến vào Căn Thượng Lầu để bắt đầu Tam Nhật Thánh. Chính ở “căn lầu rộng” (Lk 22:12) ấy Chúa Giêsu đă kêu mời chúng ta hăy trở lại vào mỗi Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, và cũng chính ở nơi đó , hơn bất cứ ở đâu khác, Tôi hết sức vui mừng được gặp gỡ anh em thân yêu của Tôi trong thiên chức linh mục. Ở tại Bữa Tiệc Ly, chúng ta đă được sinh ra là những linh mục: v́ thế chúng ta vừa hoan hỉ vừa phải qui tụ lại với nhau một lần nữa ở Căn Thượng Lầu này, để nhắc nhở nhau, bằng ḷng thành thực tri ân, sứ vụ cao quí của chúng ta.


2.     Chúng ta đă được hạ sinh từ Thánh Thể. Nếu chúng ta thực sự nói rằng toàn thể Giáo Hội sống bởi Thánh Thể (“Ecclesia de Eucharistia vivit”), như Tôi đă tái xác nhận trong Thông Điệp mới đây, chúng ta có thể nói tương tự như thế về thiên chức linh mục thừa tác: một thiên chức linh mục thừa tác được hạ sinh, sống động và sinh hoa kết trái từ Thánh Thể “de Eucharistia” (cf. Council of Trent, Sess. XXII, canon 2: DS 1752). “Không thể nào có Thánh Thể nếu không có chức linh mục, cũng như không thể nào có chức linh mục nếu không có Thánh Thể” (cf. "Gift and Mystery. On the Fiftieth Anniversary of My Priestly Ordination," New York, 1996, pp. 77-78).


Thừa tác vụ thánh, một thừa tác vụ không bao giờ được biến thành một chiều kích thuần hành sự, v́ nó thuộc về cấp độ “bản chất”, làm cho vị linh mục có thể tác hành thay cho Chúa Kitô “in persona Christi” mà giây phút tột đỉnh xẩy ra là lúc vị linh mục thánh hiến bánh và rượu, lập lại những cử chỉ và lời nói của Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly.


Trước thực tại phi thường này, chúng ta cảm thấy ngỡ ngàng và chất ngất trước sự khiêm hạ thật thẳm sâu của một Vị Thiên Chúa “cúi xuống” để liên kết bản thân ḿnh với con người! Nếu chúng ta bị cảm kích trước máng cỏ Sinh Nhật, khi chúng ta chiêm ngưỡng Lời Nhập Thể, th́ chúng ta phải cảm thấy ra sao trước bàn thờ là nơi, nhờ bàn tay tầm thường của vị linh mục, Chúa Kitô hiện thực hóa Hiến Tế của Người trong thời gian? Chúng ta chỉ c̣n biết qú xuống mà âm thầm tôn thờ mầu nhiệm đức tin siêu việt này mà thôi.


3.     Mầu nhiệm đức tin “mysterium fidei”, vị linh mục công bố lời này sau khi truyền phép. Thánh Thể là một mầu nhiệm đức tin, tuy nhiên, chính thiên chức linh mục, nhờ phản ảnh Thánh Thể, cũng là một mầu nhiệm đức tin nữa (x. ibid, p. 78). Cũng là một mầu nhiệm thánh hóa và yêu thương, việc làm của Chúa Thánh Thần, một việc biến bánh và rượu trở nên Ḿnh và Máu của Chúa Kitô, tác hành nơi con người của vị thừa tác viên vào lúc chịu chức linh mục. Có một tương giao đặc biệt giữa Thánh Thể và chức linh mục, một tương giao bắt nguồn từ Căn Thượng Lầu, ở chỗ, hai Bí Tích này được hạ sinh cùng một lúc và định mệnh của cả hai được gắn liền với nhau bất khả phân ly cho đến tận thế.


Đến đây chúng ta chạm đến những ǵ được gọi là “tính cách tông đồ của Thánh Thể” (x Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia, 26-33). Bí tích Thánh Thể, như bí tích Ḥa Giải, được Chúa Kitô trao phó cho các Thánh Tông Đồ và đă được các vị cùng với những ai thừa kế các vị truyền lại cho mọi thế hệ. Vào lúc mở màn cho cuộc sống công khai của ḿnh, Đấng Thiên Sai đă kêu gọi 12 Vị, chỉ định các vị “ở với Người” và sai các vị đi truyền giáo (x Mk 3:14-15). Ở Bữa Tiệc Ly, việc các Tông Đồ “ở với” Chúa Giêsu đă lên đến tuyệt đỉnh. Bằng việc cử hành bữa Vượt Qua và thiết lập Thánh Thể, vị Tôn Sư thần linh làm cho ơn gọi của họ nên trọn. Khi nói rằng “các con hăy làm việc này mà nhớ đến Thày”, là Người đóng ấn tín lên sứ vụ của các vị, và bằng việc liên kết các vị với chính bản thân Người trong mối hiệp thông về bí tích, Người truyền cho các vị phải kéo dài tác động rất thánh này để nhớ đến Người.

Khi công bố những lời “Các con hăy làm điều này…”, Chúa Giêsu nghĩ đến những người thừa kế của các Tông Đồ, đến những ai sẽ tiếp tục sứ vụ các ngài bằng việc phân phát lương thực sự sống cho đến tận cùng trái đất. Bởi thế, chư huynh linh mục thân mến, một cách nào đó, ở Căn Thượng Lầu, chúng ta cũng được kêu gọi một cách riêng tư, mỗi một người trong chúng ta, “bằng một t́nh yêu thương huynh đệ” (Lời Nguyện Mở Đầu Lễ Truyền Dầu), để lănh nhận từ đôi thay thánh hảo của Chúa Bánh Thánh Thể và bẻ Bánh này ra để làm lương thực ban phát cho Dân Chúa trên lộ tŕnh họ tiến qua thời gian về quê hương thiên đ́nh vĩnh cửu.


4.     Thánh Thể, như thiên chức linh mục, là tặng ân của Thiên Chúa “hoàn toàn vượt trên quyền năng của cộng đồng” và cộng đồng “lănh nhận qua việc thừa kế của hàng giáo phẩm được truyền từ các Thánh Tông Đồ” (Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia, 29). Công Đồng Chung Vaticanô II dạy rằng “vị linh mục thừa tác, bằng linh quyền có được… thay cho Chúa Kitô làm hiệu nghiệm hóa Hy Tế Thánh Thể và nhân danh toàn thể dân chúng hiến dâng Thánh Thể lên Thiên Chúa” Hiến Chế Tín Lư Lumen Gentium, 10). Cộng đồng tín hữu, hiệp nhất trong đức tin cũng như trong Thần Linh và là cộng đồng được trang bị bằng nhiều tặng ân khác nhau, cho dù có là nơi Chúa Kitô “hiện diện nơi Giáo Hội của Người, nhất là nơi những việc cử hành phụng vụ của Giáo Hội” (Hiến Chế Phụng Vụ Thánh, 7), tự ḿnh vẫn không thể cử hành Thánh Thể hay cung cấp thành phần thừa tác thánh chức.


Bởi thế, thật là chính đáng khi dân Kitô giáo dâng lời cảm tạ Thiên Chúa về tặng ân Thánh Thể và tặng ân linh mục, đồng thời cũng không ngừng cầu nguyện để Giáo Hội không bao giờ bị thiếu hụt linh mục. Con số linh mục không bao giờ đủ đáp ứng các nhu cầu truyền bá phúc âm hóa không ngừng tăng phát cũng như nhu cầu chăm sóc mục vụ cho tín hữu. Ở một số nơi trên thế giới t́nh trạng thiếu hụt linh mục là tất cả những ǵ khẩn trương, v́ ngày nay con số linh mục đang bị giảm sút không đủ thay thế bởi thế hệ trẻ. Ở những nơi khác, cám ơn Chúa, chúng ta thấy một mùa xuân hứa hẹn ơn gọi. Dân Chúa cũng càng ngày càng ư thức được nhu cầu cần phải cầu nguyện và tích cực hoạt động để cổ vơ ơn gọi linh mục và đời tận hiến.


5.     Ơn gọi thật sự là một tặng ân của Thiên Chúa mà chúng ta cần phải liên lỉ nguyện cầu. Theo lời mời gọi của Chúa Giêsu, chúng ta cần cầu cùng Chủ mùa hay sai thợ đến làm mùa của Ngài (x Mt 9:37). Việc cầu nguyện được hỗ trợ bằng cách âm thầm hiến dâng các nỗi khổ đau, vẫn là cách thức trước hết và hiệu nghiệm nhất của hoạt động mục vụ cổ vơ ơn gọi. Cầu nguyện nghĩa là gắn mắt nh́n lên Chúa Kitô, tin tưởng rằng từ Người, Vị Thượng Tế duy nhất, cũng như từ hiến tế thần linh của Người, sẽ phát xuất, qua công cuộc của Chúa Thánh Thần, muôn vàn hạt giống ơn gọi cần thiết cho đời sống và sứ vụ của Giáo Hội ở mọi thời đại.


Chúng ta hăy dừng lại ở Căn Thượng Lầu để chiêm ngưỡng Đấng Cứu Chuộc, Đấng đă thiết lập Bị Tích Thánh Thể và thiên chức linh mục trong Bữa Tiệc Ly. Trong đêm thánh ấy, Người đă gọi tên của mỗi và mọi vị linh mục xuất hiện trong thời gian. Người đă nh́n đến mỗi một người trong họ bằng cùng một ánh mắt đầy ưu ái phấn khởi Người đă nh́n Simon và Anrê, nh́n Giacôbê và Gioan, nh́n Nathanael ở dưới cây vả, và nh́n Mathêu đang ngồi ở bàn thâu thuế. Chúa Giêsu đă mời gọi chúng ta, và, bằng các đường lối khác nhau, Người tiếp tục mời gọi nhiều người khác nữa làm thừa tác viên cho Người.


Từ Căn Thượng Lầu này, Chúa Kitô không ngừng t́m kiếm và mời gọi. Ở đây chúng ta thấy được nguồn gốc và nguồn mạch nguyên thủy của việc mục vụ thực sự cổ vơ ơn gọi linh mục. Anh em thân mến, chúng ta hăy coi ḿnh là những người đầu tiên lănh trách nhiệm ở lănh vực này, sẵn sàng giúp cho tất cả những ai Chúa Kitô muốn kêu gọi đến với thiên chức linh mục của Người biết đáp ứng một cách quảng đại lời Người mời gọi.


Tuy nhiên, trước hết, hơn bất cứ nỗ lực nào khác hoạt động cho ơn gọi, không thể nào thiếu được ḷng trung thành của chúng ta. Vấn đề cần ở đây là việc chúng ta dấn thân theo Chúa Kitô, là ḷng chúng ta yêu mến Thánh Thể, là việc chúng ta sốt sắng cử hành Thánh Thể, là việc chúng ta sùng bái tôn thờ Thánh Thể, và là ḷng nhiệt thành của chúng ta trong việc trao ban Thánh Thể cho anh chị em của chúng ta, nhất là cho thành phần bệnh nhân. Chúc Giêsu Thượng Tế tiếp tục mời gọi những người thợ mới đến làm vườn nho cho Người, thế nhưng trước hết Người muốn tùy thuộc vào sự hợp tác chủ động của chúng ta. Các vị linh mục mến yêu Thánh Thể có khả năng truyền đạt cho trẻ em và giới trẻ “cái chất ngất Thánh Thể” đă được Tôi t́m cách khêu lên nơi Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia (x. đoạn 6). Nói chung th́ họ là những vị linh mục dẫn chúng tới con đường làm linh mục, như lịch sử ơn gọi của chúng ta dễ dàng cho thấy.


6.     Chư huynh linh mục thân mến, theo chiều hướng này, Tôi xin anh em, trong số những hoạt động của ḿnh, anh em hăy đặc biệt lưu ư tới các em giúp lễ, thành phần như là một “mảnh vườn” của ơn gọi linh mục. Nhóm giúp lễ được anh em hướng dẫn như là một phần thuộc cộng đồng giáo xứ, có thể cảm nghiệm thấy cái giá trị của nền giáo dục Kitô giáo và trở thành một loại tiền chủng viện. Anh em hăy giúp giáo xứ, như là một gia đ́nh bởi nhiều gia đ́nh, coi những em giúp lễ như con cái của họ, như “những chồi Olive chung quanh bàn” của Chúa Giêsu Kitô là Bánh Sự Sống (x Ps 127:3).


Nhờ sự giúp đỡ của các gia đ́nh và các giáo lư viên, anh em hăy đặc biệt quan tâm đến nhóm giúp lễ, để qua việc phục vụ bàn thờ của họ, mỗi người trong họ biết lớn lên trong t́nh yêu Chúa Giêsu, biết nh́n nhận Người thực sự hiện diện trong Thánh Thể, và biết cảm nghiệm cảm được vẻ đẹp của phụng vụ. Cần phải cỏ vơ và khích lệ những hoạt động của thành phần giúp lễ ở cầp giáo phận hay địa phương, lưu ư tới những lứa tuổi khác nhau. Trong những năm thi hành thừa tác vụ giáo phẩm của ḿnh ở Krakow, Tôi đă thấy được nhiều thiện ích đạt được từ mối quan tâm đến việc huấn luyện về nhân bản, tu đức và phụng vụ của chúng. Khi trẻ em hay giới trẻ hân hoan và nhiệt tâm giúp lễ là chúng cống hiến cho bạn bè của chúng một chứng từ hùng hồn cho tầm quan trọng và vẻ đẹp của Thánh Thần. Nhờ óc tưởng tượng sinh động của chúng, cũng như nhờ sự dẫn giải và gương sáng của các vị linh mục cùng bạn bè lớn tuổi nhơn ḿnh, th́ ngay cả những trẻ em c̣n bé cũng có thể phát triển trong đức tin và phát triển ḷng yêu mến những thực tại thiêng liêng.


Sau hết, anh em đừng quên rằng chính anh em là những “Vị Tông Đồ” tiên khởi của Chúa Giêsu Thượng Phẩm. Chứng từ của anh em đáng giá hơn bất cứ những ǵ khác. Thành phần giúp lễ thấy anh em dâng Lễ Chúa Nhật và ngày thường là chúng thấy nơi đôi tay của anh em Thánh Thể “diễn ra”, trên bộ mặt của anh em phản ảnh mầu nhiệm Thánh Thể, và trong tâm can của anh em chúng cảm thấy được kêu gọi sống yêu thương cao cả hơn. Chớ ǵ, đối với chúng, anh em là những người cha, những thày dạy, và những chứng nhân của ḷng sùng mộ Thánh Thể cũng như của đời sống thánh thiện!


7.     Anh em linh mục thân mến, sứ vụ đặc biệt của anh em trong Giáo Hội đ̣i anh em phải là “bạn hữu” của Chúa Kitô, liên lỉ chiêm ngưỡng dung nhan của Người bằng tấm ḷng đơn sơ tại học đường của Đức Maria Rất Thánh. Anh em hăy cầu nguyện không ngừng, như Thánh Tông Đồ đă khuyên dụ (x 1Thess 5:17), và khuyến khích tín hữu hăy cầu nguyện cho ơn gọi, cho việc kiên tŕ của những vị đă được kêu gọi sống đời linh mục cũng như cho việc thánh hóa tất cả mọi vị linh mục. Anh em hăy giúp cho cộng đồng của anh em biết yêu mến trọn vẹn hơn nữa cái “tặng ân và mầu nhiệm” đặc biệt là thiên chức linh mục thừa tác này.


Trong khung cảnh nguyện cầu của Thứ Năm Tuần Thánh, một lần nữa Tôi xin lập lại một số lời nguyện của Kinh Cầu Chúa Giêsu Kitô Tư Tế Và Hiến Tế (x tác phẩm Tặng Ân và Mầu Nhiệm, trang 108-114), là những lời nguyện cầu Tôi đă đọc nhiều năm và được nhiều lợi ích thiêng liêng:


Iesu, Sacerdos et Victima,
Chúa Giêsu là Vị Tư Tế và Vật Hiến Tế
Iesu, Sacerdos qui in novissima Cena formam sacrificii perennis instituisti,
ChúaGiêsu trong Bữa Tiệc Ly đă thiết lập một h́nh thức hiến tế đời đời
Iesu, Pontifex ex hominibus assumpte,
Chúa Giêsu là Vị Thượng Tế được tuyển chọn giữa loài người
Iesu, Pontifex pro hominibus constitute,
Chúa Giêsu được phong làm Thượng Tế v́ loài người
Iesus, Pontifex qui tradidisti temetipsum Deo oblationem et hostiam,
Chúa Giêsu là Vị Thượng Tế hiến ḿnh cho Chúa Cha như lễ dâng và tế vật
miserere nobis!
cầu cho chúng con!

Ut pastores secundum cor tuum populo tuo providere digneris,
Xin Chúa nhân lành ban cho dân Chúa các vị mục tử như ḷng mong ước của Chúa
ut in messem tuam operarios fideles mittere digneris,
Xin Chúa nhân lành sai những người thợ trung thành đến làm mùa cho Chúa
ut fideles mysteriorum tuorum dispensatores multiplicare digneris,
Xin Chúa nhân lành tăng thêm những vị trung thành phân phát các mầu nhiệm của Chúa
Te rogamus, audi nos!
Xin Chúa nhậm lời chúng con!

8. Tôi xin kư thác cho mỗi một người trong anh em cũng như trao phó thừa tác vụ hằng ngày của anh em cho Mẹ Maria, Mẹ của Các Vị Linh Mục. Trong khi lần hạt mân Côi, mầu nhiệm ánh sáng thứ năm dẫn chúng ta tới chỗ chiêm ngắm tặng ân Thánh Thể bằng đôi mắt của Mẹ Maria, đến chỗ say đắm t́nh yêu “đến cùng” của Chúa Giêsu (Jn 13:1) trong Căn Thượng Lầu, cũng như nơi việc hiện diện khiêm hạ của Người trong hết mọi nhà tạm. Chớ ǵ Trinh Nữ Maria cầu cho anh em được ơn không bao giờ coi thường mầu nhiệm được trao phó vào tay anh em. Bằng tất cả tấm ḷng tri ân cảm tạ Chúa về tặng ân Ḿnh Máu lạ lùng của Người, chớ ǵ anh em trung thành kiên tŕ với thừa tác vụ tư tế của anh em.

Hỡi Mẹ Maria, Mẹ của Chúa Kitô, Vị Thượng Tế của chúng con, xin Mẹ cầu bầu để Giáo Hội luôn luôn có nhiều ơn gọi thánh thiện, có các vị thừa tác viên phục vụ bàn thánh trung thành và quảng đại!

Chư huynh linh mục thân mến, Tôi chúc cho anh em và cộng đồng của anh em một Lễ Phục Sinh Thánh Thiện và Tôi ưu ái ban phép lành của Tôi cho tất cả anh em.

Tại Vatican ngày 28/3, Chúa Nhật Thứ Năm Mùa Chay, năm 2004, năm thứ 26 của giáo triều Tôi.

Gioan Phaolô II

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu của Ṭa Thánh được Zenit phổ biến ngày 6/4/2004

 
 
 

 

RỬA CHÂN & THÁNH THỂ

Trần Mỹ Duyệt

 

RỬA CHÂN

 

Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly. Tại sao Ngài không rửa mặt hay rửa tay các ông mà chỉ rửa chân?

 

Theo quan niệm thông thường chân, nhất là đi chân đất phản ảnh một cái ǵ dơ bẩn hoặc dễ dơ bẩn, và v́ thế rửa chân có ư nghĩa làm cho sạch sẽ không chỉ riêng cho đôi bàn chân, mà cả con người nữa. Do đó, người được rửa th́ sạch sẽ, thơm tho, và thoải mái hơn. Riêng người rửa th́ phải hạ ḿnh xuống và chấp nhận cái dơ bẩn qua hành động rửa chân ấy. Tóm lại, nếu người được rửa sạch sẽ, thơm tho bao nhiêu, th́ người rửa phải chấp nhận khom lưng, cúi ḿnh, và vất vả lau chùi bấy nhiêu. Và trong trường hợp ấy, người rửa là người đầy tớ hay đóng vai kẻ hầu hạ; c̣n người được rửa đóng vai chủ nhân hay kẻ cả. V́ chỉ có kẻ làm công, người giúp việc mới rửa chân cho chủ ḿnh, cho người trên chứ có bao giờ người chủ, người trên lại cúi ḿnh rửa chân cho người làm công, giúp việc hoặc người dưới ḿnh.

 

Nhưng Chúa Giêsu đă làm điều khác với những ǵ mà con người thường làm. Ngài rửa chân cho các môn đệ. Ngài làm việc này không những v́ yêu thương,  mà c̣n là một bài học giáo dục cần thiết Ngài muốn dậy các ông, và qua các ông Ngài dậy dỗ hết mọi người chúng ta. Ngài nói về hành động rửa chân của ḿnh: “Anh em gọi ta là Thầy, là Chúa th́ phải lắm, v́ đúng thật ta như vậy. Vậy nếu ta là Chúa và là Thầy mà c̣n rửa chân cho anh em, th́ anh em cũng phải rửa chân cho nhau. V́ ta đă làm gương để anh em cũng bắt chước mà làm như ta đă làm cho anh em” (Gioan 13:13-15). Tóm lại, hành động rửa chân của Chúa Giêsu mang 3 ư nghĩa rơ ràng: 1) Làm sạch những đôi chân dơ bẩn. 2) Phản ảnh tinh thần phục vụ. 3) Phản ảnh đức ái cao cả của Thiên Chúa.

 

1. Làm sạch những đôi chân dơ bẩn: Chúng ta có thể khẳng định được rằng khi Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ là Ngài rửa sạch những dơ bẩn của đôi chân các ông. Chắc chắn rằng Chúa không rửa cho có lệ, và cũng không rửa kiểu h́nh thức như nghi lễ Rửa Chân mà chúng ta thường thấy vào các dịp Thứ Năm Tuần Thánh. Hôm đó, các linh mục, giám mục, hồng y, hoặc giáo hoàng chỉ “rửa lại” những đôi chân đă được “rửa sạch” trước đó. Những đôi chân ngày hôm đó đă được xức nước hoa, và đi giầy, đi dép sạch sẽ.

 

Tuy nhiên, khi rửa những đôi chân dơ bẩn của các môn đệ, Chúa Giêsu không chỉ nhằm đến những kết quả thể lư, những kết quả có tính cách vật chất. V́ nếu cần, Chúa Giêsu chỉ bảo các ông hăy tự ḿnh đi rửa lấy, bởi v́ tất cả đă trưởng thành và đă lớn tuổi. Do đó, ư nghĩa của hành động rửa chân ở đây, hiển nhiên mang tính cách siêu nhiên, tính cách luân lư và đạo đức. Chúa Giêsu có ư nói với các môn đệ và chúng ta rằng, những ǵ làm cho con người ra dơ bẩn bao gồm chân, tay, ḿnh mẩy, mà cả tâm hồn, trí khôn, và ḷng muốn nữa, tất cả đều phải được rửa, phải được lau lọt và làm cho sạch.

 

Riêng để rửa những tội lỗi của con người, Chúa Giêsu đă phải dùng đến mồ hôi, nước mắt, và máu ḿnh. H́nh ảnh Ngài hấp hối trong vườn Cây Dầu, h́nh ảnh Ngài mồ hôi nhễ nhăi vác thập giá lên Núi Sọ. Và h́nh ảnh Ngài chịu chết treo trên thập giá đổ đến giọt máu cuối v́ phần rỗi của nhân loại cho chúng ta thấy, việc sửa sạch, gột sạch và xó tan vết tích tội Nguyên Tổ, tội của từng người chúng ta là một việc làm rửa sạch, và làm cho sạch mà qua việc rửa chân cho môn đệ đă hé mở cho chúng ta biết. Một h́nh ảnh về cái chết và sự hy sinh cao cả của Chúa Giêsu.

 

2. Phản ảnh tinh thần phục vụ: Ngoài h́nh ảnh rửa cho sạch thể xác, và rửa sạch tâm hồn. Việc Chúa tự thắt lưng, bưng nước đến và quỳ gối trước mỗi môn đệ để rửa và lau chân các ông đă nói lên tinh thần phục vụ và tôi tới của Chúa Giêsu. Ngài tự ḿnh trở thành tôi tớ và kẻ hầu hạ. Không ai có thể cưỡng ép hoặc bắt Ngài làm việc đó. V́ như Ngài đă nói với các môn đệ: ““Anh em gọi ta là Thầy, là Chúa th́ phải lắm, v́ đúng thật ta như vậy” (Gioan 13:13).

 

Việc Chúa Giêsu làm trong Bữa Tiệc Ly cũng là việc mà Ngài đă làm trong suốt cuộc sống dương thế của Ngài. Trước mặt Thiên Chúa Cha hay giữa anh chị em Ngài là chúng ta, luôn luôn lúc nào Ngài cũng là “Non ministrari set ministrarae” -  Phục vụ không hưởng thụ.  

 

Nhưng tại sao Chúa Giêsu lại trở thành người phục vụ? V́ Ngài biết cuộc đời con người trên dương thế vui ít, buồn nhiều. Đau khổ và nước mắt. Do đó, Ngài muốn tự trở nên kẻ hầu bàn, người rửa chân để chia sẻ và cảm nhận một cách rốt ráo những oan kiên và đau khổ của kiếp người, hầu mang lại cho nó giá trị cứu rỗi.

 

Chúa Giêsu là “tôi tớ” của Chúa Cha. Chúng ta là tôi tớ của người “tôi tớ” này. Nhờ đó, sự phục vụ của chúng ta đồng nghĩa với hành động phục vụ của Chúa Giêsu. Chúng ta t́m được ư nghĩa phục vụ này trong Tin Mừng khi nói về ngày Chung Thẩm trong đó kẻ lành, người dữ đều bị phán xét về một hành động: hành động phục vụ: “Khi ta đói các ngươi đă cho ăn, khát cho uống. Khi ta là khách lạ, các ngươi đă tiếp rước, ḿnh trần cho áo mặc. Khi ta đau ốm các ngươi đă yên ủi, tù tội đến viếng thăm” (Mt 25: 35-36). Một điều ngạc nhiên là cả người lành và người dữ đều không ngờ là ḿnh đă làm những việc ấy cho Chúa. Họ chỉ biết được điều này khi Ngài nói với họ: “Ta bảo cho các ngươi hay, khi các ngươi làm những việc ấy cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của ta đây, là các ngươi đă làm cho chính ta” (Mt 25:40).

 

3. Phản ảnh Đức Ái cao cả của Thiên Chúa: Chúa đă làm gương và dậy chúng ta làm như vậy: “V́ ta đă làm gương để anh em cũng bắt chước mà làm như ta đă làm cho anh em” (Gioan 13:15). Do đó, đây không chỉ là một lời khuyên, nhưng là một lệnh truyền. Bởi v́ việc chúng ta phục vụ - rửa chân cho nhau - là một hành động diễn tả và phản ảnh t́nh yêu cao cả của Thiên Chúa.

 

“Thiên Chúa là t́nh yêu” (1 Gioan 2:8). Do đó, Ngài không làm ǵ hơn là ban phát, chia sẻ, và dậy chúng ta về t́nh yêu. Nhưng t́nh yêu lại là một cái ǵ thiêng liêng, cao cả, nên con người chỉ nhận ra t́nh yêu qua những dấu chỉ của nó, đó là sự phục vụ.

 

Chúng ta làm ǵ biết và thấy được t́nh yêu Thiên Chúa nếu không thấy Chúa Giêsu - Thiên Chúa mặc xác phàm. Và chúng ta cũng không thể khám phá ra Chúa Giêsu nếu như không có những hành động phục vụ rơ ràng của Ngài. Ngài rao giảng, chữa lành, nuôi dân chúng, thực hiện những phép lạ, và nhất là trao ban chính ḿnh Ngài cho nhân loại qua Bí Tích Thánh Thể và sự tự hiến trên thập giá. Đó là cách thức Thiên Chúa phục vụ con người.