CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH


 

BÀI ĐỌC I: Act 2:14a, 36-41

“Thiên Chúa đă tôn Người làm Chúa và làm Đấng Kitô”
Bài trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong ngày lễ Ngũ tuần, Phêrô vùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: “Xin toàn thể nhà Israel hăy nhận biết chắc rằng: Thiên Chúa đă tôn Đức Giêsu mà anh em đă đóng đinh, lên làm Chúa và làm Đấng Kitô”. Nghe những lời nói trên, họ đau đớn trong ḷng, nói cùng Phêrô và các Tông đồ khác rằng: “Thưa các ông, chúng tôi phải làm ǵ?”. Phêrô nói với họ: “Anh em hăy ăn năn sám hối, và mỗi người trong anh em hăy chịu phép rửa, nhân danh Đức Giêsu Kitô để được tha tội: và anh em nhận lănh ơn Thánh Thần. V́ chưng, đó là lời hứa cho anh em, con cái anh em, và mọi người sống ở phương xa mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi đến”. Phêrô c̣n minh chứng bằng nhiều lời khác nữa, và khuyên bảo họ mà rằng: “Anh em hăy tự cứu ḿnh khỏi ḍng dơi gian tà nầy”. Vậy những kẻ chấp nhận lời ngài giảng, đều chịu phép rửa, và ngày hôm ấy có thêm chừng ba ngàn người gia nhập đạo.

Lời của Chúa.
 

Đáp Ca:
Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

1.      Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi, trên đồng cỏ xanh ŕ, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.

2.      Người dẫn tôi qua những con đường đoan chánh, sở dĩ v́ uy danh Người. Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, v́ Chúa ở cùng tôi. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi ḷng tôi.

3.      Chúa dọn ra cho tôi mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu tôi th́ Chúa xức dầu thơm, chén rượu tôi đầy tràn chan chứa.

4.      Ḷng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa tôi sẽ định cư, cho tới thời gian rất ư lâu dài.


BÀI ĐỌC II: 1 Petr 2:20b-25

“Anh em đă trở về cùng Đấng canh giữ linh hồn anh em”
Bài trích thơ Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, khi làm việc lành, nếu anh em phải nhẫn nhục chịu đau khổ, đó mới là ân phúc trước mặt Thiên Chúa. Anh em được gọi làm việc đó, v́ Đức Kitô đă chịu đau khổ cho chúng ta, lưu lại cho anh em một gương mẫu để anh em theo vết chân Người. Người là Đấng không hề phạm tội, và nơi miệng Người không thấy điều gian trá. Bị phỉ báng, Người không phỉ báng lại; bị hành hạ, Người không ngăm đe; Người phó ḿnh cho Đấng xét xử công minh; chính Người đă gánh vác tội lỗi chúng ta nơi thân xác Người trên cây khổ giá, để một khi đă chết cho tội lỗi, chúng ta sống cho sự công chính; nhờ vết thương của Người, anh em đă được chữa lành. Xưa kia, anh em như những chiên lạc, nhưng giờ đây, anh em đă trở về cùng vị mục tử và Đấng canh giữ linh hồn anh em.

Lời của Chúa.


Alleluia, alleluia. — Chúa phán: “Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta”. — Alleluia.
 

PHÚC ÂM: Joan 10:1-10

“Ta là cửa chuồng chiên”
Bài trích Phúc Âm theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: “Thật, Ta bảo thật cùng các ngươi, ai không qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào lối khác, th́ người ấy là kẻ trộm cướp. C̣n ai qua cửa mà vào, th́ là kẻ chăn chiên. Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho, và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy. Kẻ ấy sẽ gọi đích danh từng con chiên ḿnh và dẫn ra. Khi đă lùa chiên ḿnh ra ngoài, kẻ ấy đi trước và chiên theo sau, v́ chúng quen tiếng kẻ ấy. Chúng sẽ không theo người lạ, trái lại, c̣n trốn tránh, v́ chúng không quen tiếng người lạ”. Chúa Giêsu phán dụ ngôn nầy, nhưng họ không hiểu Người muốn nói ǵ. Bấy giờ Chúa Giêsu nói thêm: “Thật, Ta bảo thật các Ngươi: Ta là cửa chuồng chiên. Tất cả những kẻ đă đến trước đều là trộm cướp. Và chiên đă không nghe chúng. Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, th́ sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và t́m thấy của nuôi thân. Kẻ trộm có đến th́ chỉ đến để ăn trộm, để sát hại và phá hủy. C̣n Ta, Ta đến để cho chúng sống và được sống dồi dào”.

Phúc Âm của Chúa.

Sống Lời Chúa Hôm Nay

 

 

“Tôi đến cho chiên được sự sống và được một sự sống viên trọn / viên măn”

  

 

Vấn Đề của Bài Phúc Âm hôm nay

 

Như đă chia sẻ trong các tuần vừa rồi, chủ đề Phụng Vụ Lời Chúa cho chung Mùa Phục Sinh là những ǵ thể hiện câu Chúa Giêsu khẳng định trong biến cố hồi sinh Lazarô: “Thày là sự sống lại và là sự sống” (Jn 11:25). “Thày là sự sống lại” là chủ đề cho chính Đại Lễ Phục Sinh cũng như cho Chúa Nhật II và III Mùa Phục Sinh, và “Thày là sự sống” là chủ đề cho 4 Chúa Nhật Mùa Phục Sinh c̣n lại, tức tới Chúa Nhật VII, trước Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống là Chúa Nhật mở màn cho Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh, tiếp theo Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh đă bị gián đoạn bởi Mùa Chay và Mùa Phục Sinh. Chính v́ “Thày là sự sống” là chủ đề của 4 Chúa Nhật Mùa Phục Sinh c̣n lại mà trong Chúa Nhật IV Phục Sinh hôm nay Chúa Giêsu mới nói đến ở câu kết thúc bài Phúc Âm Thánh Gioan về mục đích Nhập Thể và Vượt Qua của Người: “Tôi đến cho chiên được sự sống và được sự sống viên trọn (hay) sự sống viên măn”.

 

Thế nhưng, về chủ đề “Thày là sự sống” cho Mùa Phục Sinh nói chung và ở bài Phúc Âm hôm nay nói riêng, chúng ta có thể đặt ra những vấn đề hết sức quan trọng sau đây:

 

Thứ nhất, “sự sống viên trọn (hay) sự sống viên măn” đây là ǵ? Như thế “sự sống” chưa viên trọn hay chưa viên măn đây là sự sống như thế nào?

 

Thứ hai, làm sao một cái chết về phần xác, một cái chết theo thể lư nơi Chúa Giêsu lại có thể mang lại sự sống thiêng liêng hay sự sống thần linh cho con người?

 

Thứ ba, nếu quả thực việc tử nạn về phần xác của Chúa Giêsu ban cho con người “sự sống” thần linh th́ Người ban bằng cách nào và con người làm sao để có thể lănh nhận?

 

1.       “Sự sống viên trọn (hay) sự sống viên măn” đây là ǵ? Như thế “sự sống” chưa viên trọn hay chưa viên măn đây là sự sống như thế nào?

 

Căn cứ vào ư nghĩa của toàn bài Phúc Âm hôm nay, “sự sống viên trọn” Chúa Giêsu cố ư nói đến ở đây là sự sống do chính Người ban cho con người. Đúng thế, không một con người trần gian, con người thuần túy nào có thể ban cho con người “sự sống viên trọn” này được. Phải chăng, đó là lư do Chúa Giêsu đă khẳng định trong bài Phúc Âm: “Tất cả những ai đến trước Tôi đều là những kẻ trộm cắp và cướp giật… Kẻ trộm đến chỉ để ăn trộm, sát hại và hủy diệt”?

 

Nếu nói chung loài người th́ “những kẻ trộm cắp và cướp giật… đến để sát hại và hủy diệt” đầu tiên đây phải là chính Adong và Evà, những con người chẳng những đă không truyền lại cho con cái ḿnh sự sống thần linh của t́nh trạng công chính nguyên thủy mà c̣n truyền lại cho gịng dơi ḿnh sự chết cả hồn lẫn xác nữa!

 

Nếu nói riêng dân Do Thái là đối tượng nghe Chúa Giêsu nói những lời này, th́ “những kẻ trộm cắp và cướp giật… đến để sát hại và hủy diệt” đây phải kể đến những vị vua của họ, ở cả hai miền Nam và Bắc, điển h́nh nhất là Solomon, đă dẫn dắt dân Chúa đi đến chỗ bỏ “Chúa là Thiên Chúa duy nhất” (Deut 6:9; xem 1Kgs 8:23) của ḿnh mà đi ngoại t́nh với tà thần, với các thứ thần ngoại bang, với ngẫu tượng, đến nỗi, cuối cùng, đă làm cho Đất Hứa bị xâm chiếm, Thành Thánh bị tục hóa và Dân Chúa bị lưu đầy bên Babylon (xem 2Kgs 24:15, 25:11; 1 Chr 36:20). Thậm chí cả Moisen và Đavít là hai nhân vật có thể nói nổi tiếng đệ nhất trong dân Do Thái, cũng không nhiều th́ ít thuộc về thành phần của “những kẻ trộm cắp và cướp giật… đến để sát hại và hủy diệt”. Moisen, dù là vị cứu tinh dân tộc thoát khỏi làm tôi dân Ai Cập, chính ông cũng không được vào Đất Hứa, chỉ v́ một lần đă không làm cho sự thiện hảo của Thiên Chúa tỏ hiện trước mặt dân chúng (xem Num 20:12). Đavít, dù là vị vua tốt lành nhất trong các vua Do Thái, thậm chí là vương tổ của một Đấng Cứu Thế (xem Lk 1:32), chính vua cũng đă gian dâm ngoại t́nh và sát nhân cướp vợ thuộc hạ của ḿnh.

 

C̣n Abraham và Gioan Tẩy Giả th́ sao, hai nhân vật cũng rất quan trọng này của dân Do Thái có thuộc về thành phần “những kẻ trộm cắp và cướp giật… đến để sát hại và hủy diệt” hay chăng? Đến đây chúng ta phải để ư đến một yếu tố nữa. Đó là, Chúa Giêsu không nói đến “tất cả những ai đến trước Tôi” khi trực tiếp so sánh họ với chính ḿnh Người mà thôi, Người c̣n nói đến mối liên hệ giữa họ và chiên nữa. Ở chỗ, nếu chiên c̣n nghe tiếng họ th́ quả thực họ chính là thành phần “qua cửa mà vào”, như Chúa Giêsu cũng đă khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay, tức thành phần thực sự chính hiệu là “mục tử của chiên”, chứ không phải “những kẻ trộm cắp và cướp giật”. Vậy, nếu các dân tộc được thừa hưởng phúc lành nơi gịng dơi của Tổ Phụ Abraham (xem Gen 22:18), và nếu dân Do Thái tuốn đến cùng Gioan Tẩy Giả ở Sông Dược Đăng (xem Mt 3:5), th́ Tổ Phụ Abraham và Gioan Tẩy Giả là những nhân vật Chúa Giêsu đă nói ở đầu bài Phúc Âm hôm nay: “ai qua cửa mà vào là mục tử của đoàn chiên”.

 

Thế nhưng, thế nào là “qua cửa mà vào” để thực sự “là mục tử của đoàn chiên”, nếu không phải “qua” đây tức là theo Chúa Kitô, “cửa của đoàn chiên”, như Người đă tự xưng trong bài Phúc Âm hôm nay: “Ta là cửa đoàn chiên”. Đó là lư do, trên bờ biển hồ Tibêria, sau khi trao cho Tông Đồ Phêrô quyền vụ thay Người chăm sóc đàn chiên của Người, cũng như sau khi tiên báo cho Phêrô biết trước thân phận hy sinh v́ chiên của ngài, Chúa Kitô Phục Sinh đă kêu gọi Vị Mục Tử Đệ Nhất này rằng: “Hăy theo Thày” (Jn 21:19). Tổ Phụ Abraham và Gioan Tẩy Giả, dù sinh ra trước Chúa Giêsu, thực sự cũng đă theo sát Người. Ở chỗ, Chúa Kitô là “vị mục tử tốt lành hiến mạng sống ḿnh v́ chiên” (Jn 10:11) thế nào, như Người tuyên bố ngay đầu bài Phúc Âm Thánh Gioan Năm B hôm nay, Tổ Phụ Abraham cũng đă sẵn sàng bỏ mạng sống ḿnh là chính Isaac cho Thiên Chúa (xem Gen 22:12) như vậy, và Gioan Tẩy Giả cũng đă bỏ mạng sống ḿnh để bảo vệ công lư (xem Mt 14:3,4,10) như thế.

 

Đến đây chúng ta có thể giải đáp được vấn đề thứ nhất của bài Phúc Âm hôm nay, vấn đề về “sự sống viên trọn (life in full), hay sự sống viên măn (abundant life) ”. “Sự sống viên trọn (hay) sự sống viên măn” đây chính là sự sống “ở trong Thày… th́ trổ sinh muôn vàn hoa trái” (Jn 15:5), nghĩa là sự sống được thực sự hiệp nhất nên một với Chúa Kitô, hoàn toàn phản ảnh Người, đến nỗi, làm cho chiên của Người có thể thấy họ và qua họ mà nhận biết Người.

 

2.       Làm sao một cái chết về phần xác, một cái chết theo thể lư nơi Chúa Giêsu lại có thể mang lại sự sống thiêng liêng hay sự sống thần linh cho con người?

 

Nếu “chết là hết”, và “hết” đây không phải là “hết” tồn tại mà là “hết” biết hay không c̣n biết ǵ nữa, như thực vật không c̣n biết sinh hoạt theo định luật thiên nhiên, động vật không c̣n biết phản ứng theo bản năng sinh tồn, nhân vật không c̣n biết tác hành theo cảm thức tâm linh, th́ sống thực sự là biết, biết sinh động theo bản tính của ḿnh. C̣n biết là c̣n sống. Trên b́nh diện siêu linh cũng vậy, sống chính là biết, đúng như Chúa Giêsu đă khẳng định trong đoạn mở đầu của Lời Nguyện Tiệc Ly: “Sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha Sai là Giêsu Kitô” (Jn 17:3).

 

Vậy, để làm cho con người đă hư đi theo nguyên tội, đă hư đi nơi hai nguyên tổ v́ không nhận biết Thiên Chúa Hóa Công của ḿnh, qua việc bất tuân phục lệnh truyền của Ngài, có thể được “sự sống đời đời”, tức có thể “nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha Sai là Giêsu Kitô”, theo dự án cứu độ của Thiên Chúa, Lời cần phải Nhập Thể và Vượt Qua. Như thế, đường lối cứu độ của Thiên Chúa, hay đường lối Thiên Chúa muốn dùng để có thể ban “sự sống đời đời” cho con người, đó là tỏ ḿnh ra cho họ để họ có thể “nhận biết” Ngài, như chính Ngài là Đấng hằng sống, Đấng hằng biết ḿnh, “Đấng Là” (Ex 3:14). Và Ngài đă tỏ ḿnh ra cho con người hết cỡ ở chỗ, “vào thời cuối cùng” (Heb 1:2), “lúc thời gian viên trọn” (Gal 4:4), Ngài đă ban chính Con Một ḿnh cho họ: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban Con duy nhất của ḿnh, để ai tin Con th́ không phải chết song được sự sống đời đời” (Jn 3:16).

 

Là phản ảnh vinh quang Cha, là hiện thân đích thực của bản thể Cha” (Heb 1:3), “Lời đă hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta” (Jn 1:14) mục đích chính yếu là “để tỏ Cha ra” (Jn 1:18), bằng việc “làm chứng cho chân lư” (Jn 18:37), một “chân lư” duy nhất lưỡng diện: “Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Giêsu Kitô”. V́ “từ trời xuống không phải để làm theo ư ḿnh mà là ư Đấng đă sai” (Jn 6:38), tất cả mọi việc Lời Nhập Thể nói và làm trên trần gian này đều là những việc Người “tỏ Cha ra”, Đấng đă sai Người, nhờ đó, thế gian cũng nhận biết Người được Cha sai, tức nhận biết vai tṛ là Đấng Thiên Sai của Người.

 

Thế nhưng, tột đỉnh của việc Lời Nhập Thể “đến trong thế gian để làm chứng cho chân lư” này, tức “làm chứng” cho thực tại Cha ở nơi Người và Người ở nơi Cha ấy: “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” (Jn 17:21), chỉ có thể được tỏ hiện sáng ngời nhất qua Cuộc Vượt Qua nói chung, và nơi Cuộc Tử Giá của Người nói riêng, đúng như Người đă khẳng định với dân Do Thái: “Khi nào các người treo Con Người lên, các người mới nhận ra Là Tôi” (Jn 8:28). Phải, chính khi Chúa Giêsu bị treo trên thập giá là lúc Người làm cho chân lư sáng tỏ ngay nơi nhân tính của Người, một nhân tính bao gồm “tất cả mọi người”: “Khi nào Tôi bị treo lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo tất cả mọi người lên cùng Tôi” (Jn 12:32). Nói cách khác, biến cố Lời Nhập Thể tử giá là việc Người tỏ ḿnh ra nơi nhân tính của Người thực tại “Người là hiện thân đích thực của bản thể Cha”. Tử Giá chính là “đường lối” vô cùng khôn ngoan Lời Nhập Thể đă dùng để tỏ ḿnh ra Người quả “là sự thật và là sự sống” (Jn 14:6).

 

Lời Nhập Thể “là sự thật” ở chỗ “Người là hiện thân đích thực của bản thể Cha”. Bởi thế, Người đồng thời cũng “là sự sống” nơi Thiên Chúa, v́ Thiên Chúa tự hữu, hằng hữu, hiện hữu là Thiên Chúa tự biết ḿnh, hằng biết ḿnh và hiện biết ḿnh, và “ḿnh” nơi Thiên Chúa đây không phải là chính “Lời ở nơi Thiên Chúa” (Jn 1:1), là “sự sống ở nơi Cha đă trở nên hữu h́nh cho chúng ta” (1Jn 1:2) hay sao? Đó là lư do Tông Đồ Gioan đă khẳng định cảm nghiệm thần linh của ḿnh như sau: “Thiên Chúa đă ban cho chúng ta sự sống đời đời và sự sống đời đời này ở nơi Con của Ngài. Ai có Con là có sự sống; ai không có Con Thiên Chúa th́ không có sự sống” (1Jn 5:11-12).

 

3.       Nếu quả thực việc tử nạn về phần xác của Chúa Giêsu ban cho con người “sự sống” thần linh th́ Người ban bằng cách nào và con người làm sao để có thể lănh nhận?

 

Đúng thế, nếu “Thiên Chúa đă ban cho chúng ta sự sống đời đời và sự sống đời đời này ở nơi Con của Ngài”, th́ quả thực “Ai có Con là có sự sống; ai không có Con Thiên Chúa th́ không có sự sống” (1Jn 5:11-12). “” ở đây theo Thánh Kư Gioan, là “nhận biết” (Jn 1:10), là “chấp nhận” (Jn 1:11) Lời Nhập Thể: “Ai chấp nhận Người th́ Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa” (Jn 1:12). Và để loài người có thể “nhận biết”, có thể “chấp nhận” Lời Nhập Thể để được “quyền làm con Thiên Chúa”, Chúa Kitô Phục Sinh đă phải sai thành phần chứng minh tiên khởi của ḿnh “đi khắp thế gian loan báo tin mừng cho tất cả mọi tạo vật. Ai tin vào tin mừng và lănh nhận phép rửa th́ được cứu rỗi, c̣n ai không tin th́ bị luận phạt” (Mk 16:15-16). Đến đây chúng ta thấy lư do hiện hữu và vai tṛ thực sự của thành phần chứng nhân tiên khởi là Nhóm Tông Đồ Đoàn là ở chỗ, như Tông Đồ Gioan xác nhận: “Những ǵ chúng tôi đă thấy và đă nghe, chúng tôi loan báo cho anh em, để anh em cũng được chia sẻ sự sống với chúng tôi…” (1Jn 1:3).

 

Như thế, để có thể “có sự sống”, loài người nói chung, kể cả Tông Đồ Đoàn, đều phải “nhận biết”, phải “chấp nhận” Lời Nhập Thể. Thậm chí thành phần chứng nhân tiên khởi có được sai đi rao giảng và làm phép rửa khắp thế gian đi nữa, ngay bản thân các vị cũng đă phải lănh nhận phép rửa bởi chính Chúa Kitô Phục Sinh bằng “phép rửa trong Thánh Thần” (Jn 1:33), khi “Người thổi hơi trên các vị mà nói: ‘Các con hăy lănh nhận Thánh Thần’” (Jn 20:22). Bởi v́, như Chúa Giêsu đă khẳng định với Nicôđimô: “Tôi bảo thật cho ông biết, không ai có thể thấy vương quốc của Thiên Chúa, nếu không được tái sinh từ trên cao… tái sinh bởi nước và Thần Linh” (Jn 3:3,5).

 

Tuy nhiên, hai vấn đề được đặt ra ở đây là: Thứ nhất, nếu con người cần phải “chấp nhận” để được “ban quyền làm con Thiên Chúa”, mà muốn “chấp nhận” con người cần phải có ư thức, th́ một khi con người lănh nhận bí tích rửa tội lúc mới sinh hay c̣n nhỏ, chưa có hay chẳng có ư thức ǵ, th́ phép rửa có thành hay chăng - tại sao lại phải lănh nhận phép rửa ngay từ khi mới sinh? Thứ hai, nếu “chấp nhận” là tác động của ḷng muốn tự nó đă đủ để được “sự sống”, như trường hợp những kẻ được rửa tội bằng ḷng mến không kịp lănh nhận phép rửa, th́ tại sao c̣n cần phải lănh nhận phép rửa nữa – phép rửa được Chúa Giêsu lập ra để làm ǵ?

 

Về vấn đề thứ nhất, vấn đề lănh nhận phép rửa khi mới sinh chưa biết ư thức “chấp nhận”, đây là vấn đề điều kiện thực tế thuộc về phía loài người. Tuy nhiên, theo nguyên tắc, loài người không sinh ra con cái khi chúng có ư thức rồi, khi chúng biết những vị sinh ra chúng là ai, mà là chính lúc chúng chưa có ư thức ǵ cả. Cũng thế, về phương diện siêu nhiên, dù ở tuổi tác nào, thậm chí dù c̣n trong ḷng mẹ, miễn là giống nhau ở chỗ chưa nhận biết Thiên Chúa, chưa ư thức Ngài là ai, con người cũng có thể hay hội đủ điều kiện để trở thành con cái Thiên Chúa. Đó là lư do việc sinh sản là việc của cha mẹ hơn là của con cái. Không phải con cái hội đủ điều kiện làm người, ở chỗ có ư thức, rồi cha mẹ mới sinh nó ra, mà v́ nó chưa có ǵ. Có thể nói, chính v́ chưa có ư thức, chưa biết ǵ mới cần được sinh ra, mới cần có khả năng bẩm sinh để ư thức.

 

Về phương diện siêu nhiên cũng vậy, tự ḿnh, con người không thể nào có Ư Thức Thần Linh, tức có thể nhận biết Thiên Chúa như Ngài Là, nếu không có chính Thần Linh của Ngài, “Vị Thần Linh thấu suốt mọi sự, kể cả thâm tâm của Thiên Chúa” (1Cor 2:10). Bởi thế, con người mới cần được Thiên Chúa sinh ra, và cũng bởi thế Thiên Chúa mới sinh ra con người, mới ban Thần Linh của Ngài cho họ, để nhờ đó họ có thể “được sự sống” là nhận biết Ngài. Có thể nói, khi “Thiên Chúa ban Thần Linh của Con Ngài cho ḷng chúng ta” (Gal 4:6) là Ngài đă tái sinh chúng ta, là chúng ta “được tái sinh từ trên cao” (Jn 3:3), được rửa trong Thánh Thần rồi vậy, như trường hợp điển h́nh của gia đ́nh Cornêliô đă lănh nhận Thánh Thần trong đang khi nghe Tông Đồ Phêrô giảng dạy, trước khi chính thức được Vị Tông Đồ này làm phép rửa cho (xem Acts 10:44,46).

 

Thật ra, theo đường lối b́nh thường, như Thánh Phêrô đề cập đến trong Bài Giảng Tiên Khởi được Sách Tông Vụ ghi lại ở bài đọc một hôm nay, phải “lănh nhận phép rửa” đă rồi mới “được tặng ân Thánh Thần”. Ở đây, trong trường hợp gia đ́nh Cornêliô đang lắng nghe Lời Chúa, “tặng ân Thánh Thần” lại được ban cho con người trước khi họ “lănh nhận phép rửa”,  cho thấy hai điều hết sức quan trọng: thứ nhất, Thánh Thần được xuất phát từ chính cửa miệng của Chúa Kitô Phục Sinh (xem Jn 20:22), tức từ mô thể Lời Chúa vốn có quyền năng thanh tẩy (xem Jn 15:3), chứ không phải từ nguyên bởi chất thể nước rửa tội; và thứ hai, Thánh Thần là chính mạch nước vọt lên sự sống đời đời nơi ḷng của những ai tin vào Chúa Kitô, Lời Nhập Thể (xem Jn 7:38-39; 4:14), hơn là do nguyên điều kiện cần phải có là tác động “chấp nhận” của con người.

 

Ngoài ra, theo b́nh thường, v́ Thiên Chúa tỏ ḿnh ra nơi Lời Nhập Thể, nghĩa là qua Nhân Tính của Lời, mà Nhân Tính của Lời đă trở thành phương tiện, nhất là sau biến cố Phục Sinh, “đă trở thành một thần linh ban sự sống” (1Cor 15:45), thành Bí Tích để thông ban Thánh Thần (xem Jn 20:22), và con người chúng ta muốn đến với Chúa Kitô phải đến với Bí Tích, đến qua Bí Tích, một tác động chứng tỏ chúng ta “chấp nhận” Lời Nhập Thể. Mà đến với Bí Tích là con người đồng thời cũng đến với Giáo Hội là chính Bí Tích Hiệp Thông lại vừa là Thừa Tác Viên ban “sự sống”, và qua việc này con người c̣n tỏ ra “chấp nhận” Lời Nhập Thể nơi Chứng Từ Thần Linh của Người là Giáo Hội nữa.

 

Có thể nói, nếu Thiên Chúa sinh ra con người từ trên cao bằng việc tự động ban Thần Linh của Ngài cho họ, thường bằng Chứng Từ Giáo Hội, th́ việc con người lănh nhận phép rửa là việc họ được Thần Linh Thiên Chúa, với tư cách là “quyền năng Đấng Tối Cao” (Lk 1:35) này tác động, để họ có thể tỏ ư muốn “chấp nhận” Lời Nhập Thể, qua Giáo Hội Thừa Tác, nhờ đó, họ được Lời Nhập Thể “ban cho quyền làm con Thiên Chúa” (Jn 1:12). Ở chỗ, họ được hiệp thông với Lời Nhập Thể, tức được có cùng một Thần Linh của Lời Nhập Thể, để họ có thể “được sự sống và được một sự sống viên măn” của một người con Thiên Chúa như chính Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô: “đẹp ḷng Cha mọi đàng” (Mt 3:17, 17:5).

 

Tóm lại, một khi lănh nhận Thần Linh của Con, con người sẽ đi đến chỗ hiệp nhất nên một với Chúa Kitô trong Giáo Hội của Người, chẳng khác ǵ “như cành nho dính liền với thân nho” (Jn 15:5). Và cũng chỉ khi nào con người “ở trong Thày như Thày ở trong các con” (Jn 15:4), theo khuôn mẫu “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” (Jn 17:21), con người “mới sinh nhiều hoa trái”. Nghĩa là con người mới chẳng những “được sự sống mà được sự sống viên măn hơn” (Jn 10:10), một Sự Sống Thần Linh Thiên Chúa đă ban cho con người nơi Lời Nhập Thể và Vượt Qua.

 

Vấn đề thực hành sống đạo:

 

Khi lănh nhận Bí Tích Rửa Tội là Kitô hữu đă “được sự sống và được sự sống viên măn”, v́ Bí Tích này làm cho họ được hiệp nhất nên một với Chúa Kitô trong Giáo Hội và được trở nên con cái Thiên Chúa. Nếu “sự sống viên măn hơn” là sự sống hiệp nhất nên một với Chúa Kitô, là sự sống ở trong Thày, th́ chỉ bao lâu sống trong Lời Nhập Thể là Chúa Kitô, Kitô hữu mới thật sống “sự sống viên măn”, mới có thể “trổ sinh muôn vàn hoa trái”. Mà muốn sống “sự sống viên măn”, tức muốn hiệp nhất nên một với Chúa Kitô, Kitô hữu cần phải tuân giữ lời của Chúa Kitô, giới răn yêu thương của Chúa Kitô: “Như Cha đă yêu Thày thế nào, Thày cũng yêu các con như vậy. Các con hăy sống trong t́nh yêu của Thày, nếu các con tuân giữ các giới răn của Thày, như Thày đă giữ các mệnh lệnh của Cha và đă sống trong t́nh yêu của Ngài. Thày nói với các con tất cả những điều này là để niềm vui của Thày trở thành của các con, cũng như để cho niềm vui của các con được nên trọn” (Jn 15:9-11).

 

Như thế, “sự sống viên măn hơn” nơi Kitô hữu c̣n là “sự sống” đầy niềm vui của Chúa Kitô và với Chúa Kitô. Mà “niềm vui” đây là hoa trái của hay biểu hiệu cho Thánh Thần (x Gal 5:22; Lk 10:21), là dấu chứng tỏ “đầy Thánh Thần” (Lk 1:41-42), bởi đó, “sự sống viên măn hơn” nơi Kitô hữu sống trong Chúa Kitô c̣n là sự sống tràn đầy Thánh Thần, sinh hoa trái Thánh Thần, Vị Thánh Thần của Tối Phục Sinh (x Jn 20:22) tỏ hiện quyền lực nơi Ngày Ngũ Tuần (x Acts 2:1-4)!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 

CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN NHÂN LÀNH

                                                                                            (Lm. Anphong Trần Đức Phương)

·        

NGÀY CẪU NGUYỆN ĐẶC BIỆT CHO CÁC CHỦ CHĂN TRONG GÍAO HỘI.

·         NGÀY CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI  (World Day of Prayer for Vocation).

·         KINH CẦU NGUYỆN CHO  CÁC LINH MỤC ĐỤƠC ƠN THÁNH HÓA.

·         KINH CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI (Vocation Prayer).

 

 Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh, thường được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Câu xướng trước Phúc Âm cuả các năm A, B và C đều trích trong Phúc Âm Thánh Gioan (10,14): “Ta là Mục tử nhân lành, Ta biết chiên của Ta, và chiên của Ta  biết Ta!” Các bài Phúc Âm năm A, B và C đều trích trong Phúc Âm của Thánh Gioan:10, 1-10 (Năm A); 10,11-18 (Năm B); 10, 27-30 (Năm C).

 

Trong các bài Tin Mừng trên đây, Chúa Giêsu xác định Ngừoi chính là cửa của đoàn chiên, và  cũng chính là người chăn chiên nhân lành. Chỉ những chủ chiên nào đi theo cửa của Ngừơi (theo đường lối của Người) mới là chủ chiên thật (Gioan 10,2).

 

Suy nghĩ về Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, Cha M. D. Phillippe, O.P. viết những lời suy niệm sau đây:

 

“Mọi công việc trong cuộc đời truyền giáo của Chúa Kitô, vị Chủ Chăn Nhân Lành, đều đơn  giản là những công việc của t́nh thương xót đối với đoàn chiên, đối với mọi người. Tuy nhiên, chính nơi cơn “hấp hối” tại vườn  “Cây Dầu” và trên Thánh Giá mà chúng ta cảm nghiệm được trọn vẹn Ḷng Thương Xót của Chúa.

 

“Mọi khổ đau của những người tội lỗi, mọi hậu quả của tội lỗi, Chúa Kitô đều vui ḷng mang lấy vào ḿnh. Không một khổ đau nào của nhân loại xa lạ với Chúa Kitô. Người thấu suốt tất cả và mang lấy tất cả vào trong thâm sâu của trái tim Người. Người đă sống những giây phút thật căng thẳng mà không ai có thể cảm nghiệm được. Người mang lấy tất cả v́ t́nh yêu vô biên đối với mọi người chúng ta. T́nh thương xót của Chúa thật huyền diệu và đi đến tuyệt đỉnh!

 

“Là vị Mục Tử nhân lành, Chúa Kitô biết những điều Người phải làm. Người biết từng con chiên với những yếu đuối và những nhu cầu của từng con chiên. Người biết rằng để trở nên một Mục Tử nhân lành theo đúng ư nghĩa, người chủ chăn phải yêu mạng sống của con chiên hơn mạng sống của ḿnh; phải muốn đặt ḿnh vào hạng những người tội lỗi, vào hạng những người bị ruồng bỏ để có thể cứu vớt mọi người; phải dám ‘tự hủy ra không’ để có thể chấp nhận mọi bất hạnh, khinh chê, và bị coi như tầm thường hơn hết mọi người!

 

Khổ h́nh Thập Giá với ư nghĩa đặc biệt trọn vẹn của khổ đau để cứu chuộc, đă tỏ cho chúng ta thấy rơ t́nh thương xót vô biên của Chúa. Không từ chối ǵ cả, Người đă chấp nhận mọi khổ đau, mọi nhục nhă, mọi gánh nặng tới mức không c̣n có thể chịu đựng hơn được nữa. Như vậy, ḷng Thương Xót của Chúa không phải chỉ ở chỗ t́m đến để giúp đỡ những người yếu đuối , mà c̣n ở chỗ, như một người mẹ, cúi ḿnh xuống tận những kẻ đă sa ngă và cúi xuống sâu hơn họ để cứu vớt họ và nâng họ lên (chứ không phải kéo họ lên ; Người đă vác con chiên lạc lên vai và đưa về đoàn,  đưa  về lại cuộc sống).

 

Tự hạ ḿnh xuống sâu thẳm,  Chúa Kitô đă muốn bị coi như kẻ đáng tội hơn cả Babara (Mat-theu 27,16...), như một kẻ tội phạm công khai, như một kẻ nói phạm thượng, như một kẻ thù của lề luật Moise, kẻ không chịu giữ ngày Sabat, một kẻ nguy hiểm quấy phá dân chúng. Hơn nữa, Chúa Kitô c̣n muốn trở nên như một đồ vật mà người ta che mắt không dám nh́n, đến nỗi khi đă chết rồi c̣n bị người ta đâm vào cạnh sườn thấu tới trái tim.

 

“Như vậy, T́nh thương xót của Chúa là một thực thể bao quát tất cả con người , không một chi thể nào trong thân thể của Người  không bị thương tích, và linh hồn Người cảm thấy buồn sầu đến chết đi trong cơn hấp hối (Mat-thêu 26,38).

 

Hy lễ thập giá thật là một sự tôn thờ tuyệt đỉnh và cũng biểu lộ t́nh Chúa thương xót đến tuyệt đỉnh. Nơi trái tim của Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá vừa mang sự Thờ Phượng (Chúa Cha), vừa mang t́nh thương xót nhân loại như anh em để giúp đỡ họ, an ủi họ, chuộc lấy mọi tội lỗi của họ và đem lại cho họ nguồn sống mới.” (Dịch theo bản tiếng Anh, trong Magnificat, April 2005, Fourth Sunday of Easter; những chữ ở ngoặc đơn là chú thích của người dịch).

 

Đọc những ḍng trên đây, chúng ta càng hiểu biết sâu xa hơn t́nh thương xót cuả Chúa Giêsu, Đấng Chăn chiên nhân lành, đối với đoàn chiên như thế nào, đến nỗi đă chấp nhận mọi khổ đau đến cùng cực và đổ đến giọt máu cuối cùng cho đoàn chiên của Chúa! Và khi không c̣n sống ở trần gian nữa, Người vẫn tiếp tục “nuôi sống đoàn con” bằng chính Ḿnh và Máu Thánh Người hiện diện thật sự trong H́nh Bánh và H́nh Rượu (Bí tích Thánh Thể), và thánh hóa đoàn chiên bằng các “phép Bí tích nhiệm mầu.”

 

Thực sự, qua hoạt động của Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu vẫn ở với Giáo Hội “ mọi ngày cho đến tận thế!”( Mattheu 28,20) Chúa Giêsu vẫn là vị Chủ Chăn chính điều hành Giáo Hội và qua các thời đại Chúa luôn luôn dẫn dắt đoàn chiên Chúa nhờ sự lănh đạo của các vị chủ chăn Chúa chọn. Chúa đă chọn Thánh Phêrô và các Thánh Tông đồ và thành lập Giáo Hội Chúa kể từ ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Ngài và thánh hóa các Ngài. Từ đó, qua từng thế kỷ, Chúa vẫn tiếp tục gọi và chọn một số người để làm Chủ chiên chăn dắt Đoàn chiên Chúa.

 

Chúa chọn ai?

 

“Chúa chọn những người mà Chúa muốn (Matco 3,13 ) và trao cho những nhiệm vụ theo Thánh ư Chúa: Người th́ làm Tông đồ, người th́ làm Ngôn sứ, người th́ chuyên rao giảng Tin mừng, người chuyên lo việc quản trị và giảng dạy... (Thơ Epheso 4,11). Không ai có quyền đặt ḿnh vào địa vị trong Giáo Hội, nhưng tất cả đều do Chúa chọn và cắt đặt .

 

“Nhưng tại sao Chúa chọn con?”

 

Vào những ngày sắp chịu chức Linh Mục, theo sự hướng dẫn của Cha Linh hướng và Cha Giảng Pḥng (giảng tĩnh tâm để chuẩn bị chịu chức Linh mục) tôi thường cầu nguyện và nói thầm với Chúa: “Tại sao Chúa chọn con?”... Rồi vào ngày Lễ Truyền Chức cũng như dịp Lễ “Mở Tay” (Lễ Tạ Ơn) tôi thật cảm động khi nghe ca đoàn hát: “Không phải v́ con Chúa chọn con! Nhưng v́ bí nhiệm t́nh yêu Chúa!.

 

Vâng, “không phải v́ con Chúa chọn con” nhưng Chúa chọn “những ai mà Chúa muốn” (Matcô 3,13), sau khi Chúa đă lên núi một ḿnh để cầu nguyện suốt đêm ( Luca 6,12 ). Đó thật là một sự kỳ diệu của Ơn Gọi theo Thánh Ư Chúa. Chúa gọi Phêrô dù Ông đă “chối Chúa tới ba lần dù Chúa đă cảnh cáo Ông trước!” và lại c̣n đặt Ông làm Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội. Chúa đă chọn Phaolô ngay trên con đường Ông đi t́m bắt và bách hại đoàn chiên non trẻ của Chúa! Và suốt đời Ông vẫn phải mang những “yếu đuối” của ḿnh ‘Ai yếu đuối mà tôi không yếu đuối!’... (2 Cor. 11,29 ) Mọi người được Chúa gọi và chọn đều cảm thấy ḿnh bất xứng và thật lo lắng trước trách nhiệm được trao phó”  như Đức Đương Kim Giáo Hoàng Benedicto XVI, khi được bầu chọn lên ngôi Giáo Hoàng, trong “Lời Tâm T́nh Đầu Tiên của Ngài” cũng chia sẻ kinh nghiệm đó: “Tôi cảm thấy bất xứng và... thật lo lắng trước trách nhiệm được trao phó...” nhưng “Ơn Chúa đủ cho tôi!”  (2Cor. 12,9…); nên Đức Giáo Hoàng cũng nói tiếp: “Tôi cảm thấy như bàn tay quyền năng của Thiên Chúa nắm chặt lấy tay tôi. Tôi như nh́n thấy ánh mắt tươi cười của Chúa và lắng nghe Chúa nói với tôi đặc biệt vào lúc này: “Con đừng sợ!”. Với tâm t́nh đó, những người được chọn đều khiêm tốn như Mẹ Maria để thưa lời “Xin Vâng!”.

 

Như vậy, chúng ta mới hiểu tại sao Chúa Giêsu đă “lên núi thức suốt đêm để cầu nguyện” (Luca 6,12) trước khi chọn các Tông đồ. Hơn nữa trong đêm trước khi tự trao ḿnh để chịu cuộc khổ nạn để cứu chuộc nhân loại, trong Bữa Tiệc Ly, Chúa  đă cúi ḿnh xuống để rửa chân cho các Tông đồ để dạy cho các Ông  bài hoc phục vụ trong khiêm tốn  và Chúa đă tâm t́nh và căn dặn các tông đồ nhiều điều mà Phúc Âm theo Thánh Gioan đă ghi lại suốt các đoạn 13, 14, 15; c̣n toàn đoạn 17 ghi lại những lời Chúa Giêsu cầu nguyện thiết tha với Đức Chúa Cha cho các Tông đồ đang hiện diện, cũng như cho các Chủ chăn qua mọi thời đại; đặc biệt trong câu “Con không xin Cha cất họ ra khỏi thế gian; nhưng xin ǵn giữ họ khỏi mọi sự dữ!” (Gioan, 17,15).

 

Trong thời gian giúp các giáo xứ Hoa Kỳ, khi gặp gỡ Giáo dân, thường có những người sau khi chào hỏi đă nói với tôi một cách thân t́nh “Thank you Father for being a priest!” (Cám ơn Cha đă là một Linh Mục!”. Chúng ta thường có ḷng yêu mến và hằng cầu nguyện cho các chủ chăn trong Giáo hội; nhưng đặc biệt trong ngày Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, chúng ta hăy dâng nhiều hy sinh và lời cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng cũng như cho các chủ chăn trong toàn thể Giáo Hội, cách riêng các chủ chăn Chúa sai đến làm việc giữa chúng ta.

 

Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh cũng là Ngày Thế Giới đặc biệt cầu nguyện cho Ơn Gọi (World Day of Prayer for Vocations): Trong Thánh lễ cũng như trong các kinh nguyện, chúng ta hăy dâng lời cầu nguyện cho có nhiều người được Chúa gọi và chọn để trở nên các nhà Truyền giáo và Chủ Chăn để rao giảng và chăn dắt Đoàn chiên Chúa.Chúng ta cũng  cầu xin với  Mẹ Maria, Mẹ Hàng Gíao Sĩ, chuyển cầu cho chúng ta.

 

KINH  CẦU  CHO  CÁC  LINH  MỤC.

 

   Lạy Chúa Giêsu/ là linh mục cao trọng, là Đấng tế lễ đời đời. Bởi ḷng quá yêu dấu loài người là anh em của Chúa, nên Chúa đă mở kho tàng Trái Tin cực thánh Chúa, mà lập ra chức vị linh mục, th́ nay chúng tôi cũng xin Chúa khấn đổ vào ḷng các linh mục / nhửng ḍng nước trường sinh / bởi ḷng thương yêu vô cùng Trái Tim Chúa.

       Xin Chúa sống trong ḿnh các linh mục/ và dùng các Ngài, mà ban phát ơn lành của ḷng thương xót Chúa. Xin Chúa hành động với các linh mục, và dùng các Ngài/ mà hành động trong thế gian.

 Lại xin Chúa làm cho các linh mục được hoàn toàn giống Chúa, mà trung thành bắt chước các nhân đức cao trọng của Chúa, để nhân danh Chúa/ và nhờ quyền phép Chúa Thánh Thần, các Đấng ấy nhiệt thành/ làm những việc xưa Chúa đă làm/ mà cứu người ta cho được rỗi.

 Lạy Đấng Cứu Chuộc loài người! Xin Chúa nh́n xem biết bao nhiêu kẻ /đang nằm trong bóng tối tăm lầm lạc. Xin Chúa xem đến vô số giáo hữu theo đường tội lỗi/ ḥng sa xuống vực sâu.

 Xin Chúa trông đến biết bao người bần cùng đói khát, những người dốt nát mê muội, và nhửng kẻ yếu đuối nhát hèn/ đang rên rỉ than khóc/ v́ không có linh mục coi sóc, giữ ǵn.

 Xin Chúa dùng các linh mục mà ở lại với chúng con. Xin Chúa sống trong ḿnh các linh mục, và dùng các Ngài mà hành động, và trở lại dưới thế gian này/ mà dạy dỗ, tha thứ, yên ủi, tế lễ/ và kết hợp mối t́nh yêu mến, ràng buộc ḷng Chúa với loài người chúng con cho đến trọn đời. Amen

 

      KINH CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI

 

Lạy Thiên Chúa chí ái, Giáo Hội Chúa đă được Chúa thương ban cho những linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ, các thành viên tu hội đời, các tông đồ giáo dân / luôn tận hiến để  hằng ngày đem Chúa đến cho mọi ngừơi trên  khắp thế giới . Xin Chúa giúp các vị đó  luôn kiên cường  trong sứ vụ. Xin Chúa cũng kêu gọi thêm nhiều người  cùng tham gia trong công cuộc phục vụ dân Chúa . Amen.