|
|
“Ta muốn t́nh yêu, chớ
không muốn hy lễ”. Chúng ta hăy nhận biết Chúa và hăy ra sức nhận biết Chúa. Người sẳn sàng xuất hiện như vừng đông, và sẽ đến cùng chúng ta như mưa thuận và như mưa xuân trên mặt đất. Hỡi Ephraim, Ta sẽ làm ǵ cho ngươi? Hỡi Giuđa, Ta sẽ làm ǵ cho ngươi? T́nh thương các ngươi như đám mây ban sáng, như sương sớm tan đi. V́ thế, Ta dùng các tiên tri nghiêm trị chúng, và Ta dùng lời từ miệng Ta phán ra mà giết chúng. Án phạt các ngươi bừng lên như ánh sáng. V́ chưng, Ta muốn t́nh yêu, chứ không phải hy lễ. Ta muốn sự hiểu biết Thiên Chúa hơn là của lễ toàn thiêu. Lời của Chúa.
Ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa Cứu độ. 1. Chúa là Thiên Chúa đă lên tiếng kêu gọi địa cầu, từ chỗ mặt trời mọc lên tới nơi lặn xuống. Ta không khiển trách ngươi về chuyện dâng lễ vật, v́ lễ toàn thiêu của ngươi đặt ở trước mặt Ta luôn. 2. Nếu Ta đói, Ta không cần phải nói với ngươi, v́ Ta là chủ địa cầu và mọi cái chứa đầy trong đó. Phải chăng Ta thèm ăn thịt ḅ, hay là Ta thèm uống tiết dê ư? 3. Hăy hiến dâng Thiên Chúa lời khen ngợi, và làm trọn điều khấn hứa cùng Đấng Tối Cao. Ngươi hăy kêu cầu Ta trong ngày khốn khó, Ta sẽ giải thoát ngươi và ngươi sẽ kính trọng Ta.
“Ông vững tin mà
làm sáng danh Chúa”. Anh em thân mến, mặc dầu Abraham tuyệt vọng, ông vẫn tin rằng ḿnh sẽ trở thành cha nhiều dân tộc, như có lời đă phán với ông rằng: “Ḍng dơi ngươi sẽ như thế”. Và ḷng tin ông không nao núng, mặc dầu ông nh́n đến thân xác cằn cỗi của ḿnh, -- v́ ông đă gần trăm tuổi, -- và tuổi già tàn tạ của Sara. Ông đă không cứng ḷng hồ nghi lời hứa Thiên Chúa, trái lại, ông vững tin mà làm sáng danh Thiên Chúa, ông biết chắc chắn rằng Thiên Chúa có quyền năng thi hành điều Người đă hứa. Bởi đấy, “việc đó đă được kể cho ông là sự công chính”. V́ khi chép rằng: “Đă được kể cho ông”, th́ không phải chỉ chép v́ ông mà thôi, mà v́ chúng ta nữa, là những kẻ tin vào Đấng đă cho Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, từ cơi chết sống lại, Người đă bị nộp v́ tội lỗi chúng ta, và đă sống lại để chúng ta được công chính hóa.
Lời của Chúa. Alleluia, alleluia. --- Chúa phán: “Nếu ai yêu mến Thầy, th́ sẽ giữ lới Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy”. -- Alleluia.
“Ta không đến để
kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi”. Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua, thấy một người ngồi ở bàn thu thuế, tên là Matthêô, Người phán bảo ông: “Hăy theo Ta”. Ông ấy đứng dậy đi theo Người. Và xảy ra là khi Người ngồi dùng bữa trong nhà, th́ có nhiều người thu thuế và tội lỗi đến ngồi đồng bàn cùng Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Những người biệt phái thấy vậy, liền nói với các môn đệ Người rằng: “Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như thế?” Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo rằng: “Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu! Các ông hăy đi học xem lời nầy có ư nghĩa ǵ: “Ta muốn ḷng nhân từ, chớ không phải là hy lễ”. V́ Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi”. Phúc Âm của Chúa.
“Tôi muốn ḷng nhân lành hơn là của lễ”
Giai Đoạn Mùa Thường Niên: Liên Kết Phụng Niên
Mùa Thường Niên được chia ra làm 2 giai đoạn, giai đoạn sau Mùa Giáng Sinh và giai đoạn sau Mùa Phục Sinh. Giai đoạn Mùa Thường Niên sau Mùa Giáng Sinh thường kéo dài từ 5 tuần (Năm A: 2002; B: 1991, 1997; C: 1986, 1989) tới 9 tuần lễ (Năm B: 2000). Căn cứ vào giai đoạn dài ngắn của Mùa Thường Niên (sau Mùa Giáng Sinh) mà Mùa Thường Niên (sau Mùa Phục Sinh) được tiếp tục lại, sớm nhất vào tuần 9 (Năm C; 1989) và muộn nhất vào tuần 13 (Năm A: 1987; B: 2000; C: 1992). Từ trước đến nay (2002), chỉ có năm 1989 là liên tục, nghĩa là không mất một tuần nào giữa hai giai đoạn này: Ở chỗ, Mùa Thường Niên của năm 1989 này sau Mùa Giáng Sinh được kết thúc vào tuần thứ 5, và sau Mùa Phục Sinh cũng như sau sau 3 Chúa Nhật Lễ Trọng (Thánh Thần, Ba Ngôi, Thánh Thể bắt đầu Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh) được tái tục vào tuần thứ 9.
Ngoài ra, Mùa Thường Niên có năm liên tục sau khoảng cách có năm bị hụt mất một tuần. Chẳng hạn chu kỳ Năm A, năm 1987 và 1990 cùng được kết thúc sau Mùa Giáng Sinh ở tuần thứ 8 (ngày 1/3/1987 và 25/2/1995), nhưng sau Mùa Phục Sinh th́ năm 1987 tiếp tục vào tuần thứ 13 (28/6), tức thiếu tuần thứ 9, c̣n năm 1990 tiếp tục vào tuần 12 (ngày 24/6), tức liên tục không mất một tuần nào. Một trường hợp khác cũng trong chu kỳ A, năm 1993 và 1996, cả hai được kết thúc sau Mùa Giáng Sinh vào tuần thứ 7 (21/2/1993 và 18/2/1996), nhưng sau Mùa Phục Sinh, th́ năm 1993 tiếp tục vào tuần 12 (20/6), tức mất tuần thứ 8, c̣n năm 1996 tiếp tục vào tuần 11 (16/6), tức không mất một tuần nào. Riêng năm 2002 của chu kỳ A hôm nay, sau Mùa Giáng Sinh được kết thúc ở tuần thứ 5 (ngày 10/2), nhưng sau Mùa Phục Sinh và sau Ba Lễ Trọng, Mùa Thường Niên sau Mùa Phục Sinh được bắt đầu từ tuần thứ 10 (ngày 9/6), tức mất tuần thứ 6.
Một trong những lư do tại sao có sự kiện dài ngắn, sớm muộn và thiếu đủ này nơi Mùa Thường Niên giữa hai giai đoạn sau Mùa Giáng Sinh và Mùa Phục Sinh, có thể là v́ sự kiện đủ và đúng của các Mùa Phụng Vụ khác, Mùa Vọng (đủ 4 tuần hay tối thiểu đủ 4 Chúa Nhật) và Mùa Giáng Sinh (phải được cử hành vào đúng ngày 25/12 hằng năm), Mùa Chay (đủ 5 Chúa Nhật hay đúng 40 ngày kể từ Thứ Tư Lễ Tro đến Chúa Nhật Lễ Lá), Tuần Thánh (từ Chúa Nhật Lễ Lá cũng là Chúa Nhật Thương Khó kết Mùa Chay 40 ngày) và Mùa Phục Sinh (7 tuần lễ hay đủ 50 ngày trước Lễ Ngũ Tuần cử hành Biến Cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống).
Tuy nhiên, cho dù hai giai đoạn sau Mùa Giáng Sinh và Mùa Phục Sinh có liên tục hay mất một tuần nào đi nữa, Mùa Thường Niên vẫn không bị ảnh hưởng ǵ về ư nghĩa của ḿnh. Đúng thế, v́ giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn gắn liền với một Mùa Phụng Vụ như thế, mà Mùa Thường Niên sau Mùa Giáng Sinh và Mùa Thường Niên sau Mùa Phục Sinh có một ư nghĩa, nội dung và chiều hướng khác nhau. Nếu ư nghĩa, nội dung và chiều hướng của Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh, được bắt đầu từ Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, là Mầu Nhiệm Chúa Kitô Sự Sống Tỏ Ḿnh, th́ Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh, được bắt đầu từ Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, là Mầu Nhiệm Chúa Kitô Sự Sống Tái Sinh. V́ chủ đề cho cả Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh là Mầu Nhiệm Chúa Kitô Sự Sống Tái Sinh, mà Giáo Hội của Người đă nhập cuộc, qua việc rao giảng về Người và làm chứng cho Người, cho tới khi Người lại đến trong vinh quang, một biến cố được Giáo Hội để kết thúc Phụng Niên của Giáo Hội với Lễ Chúa Kitô Vua. Có thể nói, nếu Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh, chủ đề của Phụng Vụ (Lời Chúa) hướng về Mầu Nhiệm Chúa Kitô Sự Sống Tỏ Ḿnh, qua những việc Người làm chứng về ḿnh theo tác động của Thánh Thần, th́ Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh, chủ đề của Phụng Vụ (Lời Chúa) hướng về Mầu Nhiệm Chúa Kitô Sự Sống Tái Sinh, qua chứng từ của Giáo Hội được thực hiện bởi tác động của Thánh Linh. Bởi thế, cốt lơi của các bài đọc Phụng Vụ Lời Chúa của Mùa Thường Niên (Hậu Phục Sinh) phải được hiểu theo chiều hướng Giáo Hội, chiều hướng Chứng Từ Giáo Hội, hơn là chiều hướng Chúa Kitô Tự Chứng.
Chúa Nhật X Thường Niên Năm A: Ư Nghĩa Phụng Vụ
Căn cứ vào chiều hướng Phụng Vụ này, bài Phúc Âm Chúa Nhật X Năm A của Mùa Thường Niên (Hậu Phục Sinh) đây cần phải được hiểu như thế nào mới đúng?
Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại sự việc Chúa Giêsu kêu gọi viên thu thuế Mathêu theo Người, rồi sau đó đă đích thân vào nhà của viên thu thuế này dùng bữa, nên Người đă bị nhóm Pharisiêu x́ xầm trách móc với các môn đệ của Người về việc Người chung đụng với hạng người xấu xa, nhưng Người đă nói rơ cho họ biết rằng: “Tôi đến không phải là để kêu gọi những kẻ tự cho ḿnh là người công chính mà là những người tội lỗi”. Theo chiều hướng của Mùa Thường Niên (Hậu Phục Sinh) về chủ đề Mầu Nhiệm Chúa Kitô Sự Sống Tái Sinh qua Chứng Từ Giáo Hội, bài Phúc Âm này cần phải được áp dụng vào trường hợp Giáo Hội, nghĩa là, Giáo Hội muốn làm chứng cho Chúa Kitô, muốn Chúa Kitô được thế gian nhận biết, thành phần môn đệ theo Người cũng phải giống như Người, ở chỗ, sống bằng t́nh thương, thương tội nhân, đến với tội nhân, chứ đừng tránh họ chỉ v́ khinh họ, như thành phần Pharisiêu xưa. Và chỉ có thế, chỉ khi nào môn đệ của Chúa Kitô biết thương người như thế, họ mới chứng thực sự họ là thành phần công chính, một t́nh trạng công chính bởi được cứu độ khỏi tội lỗi và sự chết nhờ Chúa Kitô Vượt Qua. Đó là lư do trong bài đọc hai, Thư Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Rôma đă kết thúc như sau: “Chúa Giêsu là Đấng đă bị trao nộp cho tử thần v́ tội lỗi của chúng ta song đă sống lại v́ sự công chính của chúng ta”.
Phải, chính v́ Chúa Giêsu đă sống lại cho sự công chính của chúng ta, mà vào buổi tối ngày thứ nhất trong tuần, khi hiện ra với các tông đồ, Người đă thở hơi trên các vị mà phán: “Các con hăy nhận lấy Thánh Linh. Các con tha tội cho ai th́ tội người ấy được tha, các con cầm tội ai th́ tội người ấy bị cầm lại” (Jn 20:22-23). Qua hơi thở phát ra từ Thánh Thể Phục Sinh của Chúa Giêsu mà chẳng những các tông đồ được công chính hóa, mà các vị c̣n được ban cho quyền năng công chính hóa tha nhân nữa. Như thế, thừa tác vụ của Giáo Hội là thừa tác vụ của ḷng thương xót. Và các vị thừa tác là thành phần lănh nhận ḷng thương xót của Chúa, ḷng thương xót đă công chính hóa các vị, để các vị có thể ban phát cho thành phần tội nhân đáng thương như các vị. Đó là thừa tác vụ t́nh thương, một thừa tác vụ chẳng những liên quan trực tiếp đến thiên chức tư tế thừa tác của thành phần môn đệ Chúa Kitô trong việc ban phát Bí Tích Rửa Tội và Giải Tội. Thế nhưng, chưa hết, trước khi thừa tác vụ t́nh thương này có cơ hội thực hiện, trước hết cần phải có chứng từ t́nh thương được phát xuất từ tất cả mọi thành phần môn đệ Chúa Kitô, kể cả giáo dân lẫn giáo sĩ, để trở thành động lực thúc đẩy con người thế gian đến với Chúa, hay là một hấp lực lôi kéo con người tội nhân về với Chúa.
Bởi vậy, dù đă được công chính hóa bởi Phép Rửa, Kitô hữu vẫn không thể là chứng nhân của Chúa Kitô Tử Giá và cho Chúa Kitô Phục Sinh, nếu họ không sống t́nh thương của Chúa Kitô và như Chúa Kitô với những người đáng thương, về thể lư (nghèo nàn hay đau khổ) cũng như về luân lư (gian ác hay tội lỗi). Thậm chí họ không được tỏ thái độ khinh thường hay mất thiện cảm với những người anh em cũng là môn đệ Chúa Kitô nhưng không thuộc về Giáo Hội Công Giáo. Điển h́nh nhất là đối với quí giáo sĩ Hoa Kỳ đang bị tố cáo lạm dụng t́nh dục trẻ em, cũng như đối với những vị mục tử đă hành sử nội vụ, cuối cùng đă đi đến chỗ làm thiệt hại cho Giáo Hội địa phương nói riêng (nhất là về tài chính) và Giáo Hội hoàn vũ nói chung (thế giá và uy tín). Trong trường hợp này, theo chứng từ t́nh thương, Kitô hữu chúng ta cũng không được có những lời lẽ và thái độ chia rẽ hơn là xây dựng. Thậm chí đối những tay phá đạo, từ bên trong (cấp tiến) cũng như bên ngoài (bêu xấu như trong vụ nạn linh mục t́nh dục hiện nay tại Hoa Kỳ), Kitô hữu chúng ta cũng vẫn phải sống chứng từ t́nh thương, một chứng từ cần hơn bao giờ hết trong trường hợp này và đối với những thành phần này. Bởi v́, Chúa nói: “Tôi muốn t́nh thương hơn là lễ vật”.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa là T́nh Yêu Vô Cùng Nhân Hậu của Cha trên trời, Đă đến thế gian để cứu vớt chứ không phải để hủy diệt, Để đi t́m từng con chiên lạc mà mang về nhà Cha. Hỡi Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria Xin cho chúng con biết nh́n anh chị em chúng con bằng ánh mắt và con tim của Ḷng Thương Xót Chúa như Mẹ. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|