Chương 1

 

 

 

Ư Thức

Mầu Nhiệm Thánh Thể

 

 

 

Cử Hành Thánh Lễ:

Một Cách Trọn Vẹn Ư Thức và Chủ Động

 

 

C

ăn cứ vào ư hướng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, qua những ǵ Ngài viết trong Thông Điệp “Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể”, ban hành vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh 17/4/2003, cũng như trong Tông Thư “Xin Chúa Ở Với Chúng Con” (xin xem đặc biệt các khoản số 3, 5, 31; 18, 23, 27, 29), ban hành vào ngày Lễ Mẹ Mân Côi 7/10/2004, th́ quả thực vị Chủ Chăn Tối Cao của chúng ta đây muốn Mở Năm Thánh Thể (10/10/2004-29/10/2005) với mục đích là để cho chung Giáo Hội và riêng Kitô hữu “Ư Thức Mầu Nhiệm Thánh Thể và Cảm Nghiệm Phụng Vụ Thánh Thể” hơn.

 

Một cách, có thể nói là hay nhất, để thực hiện và đạt được mục đích của Năm Thánh Thể là “Ư Thức Mầu Nhiệm Thánh Thể và Cảm Nghiệm Phụng Vụ Thánh Thể” hơn, đó là việc Kitô hữu chúng ta làm sao để thực sự Ư Thức và Chủ Động Cử Hành Thánh Lễ một cách trọn vẹn, v́ Thánh Lễ bao gồm tất cả Mầu Nhiệm Thánh Thể và Phụng Vụ Thánh Thể, hay nói cách khác, Mầu Nhiệm Thánh Thể được hiện thực và tác hiệu nơi Phụng Vụ Thánh Thể cũng là việc Cử Hành Thánh Lễ.

 

Đó là lư do nội dung của bài viết dài này (cùng với bài Cảm Nghiệm Phụng Vụ Thánh Thể) xin được đặc biệt bàn về việc Cử Hành Thánh Lễ, ở chỗ, đào sâu vào ư nghĩa của chính cấu trúc Thánh Lễ, cũng như vào cả mối liên hệ chặt chẽ giữa các phần của Thánh Lễ. Tại sao Thánh Lễ được bắt đầu bằng phần thống hối? Tại sao Kitô hữu phạm trọng tội không được Hiệp Lễ song lại được Dâng Lễ là việc cử hành mầu Nhiệm Thánh? Phần phụng vụ Lời Chúa được cử hành trước phần phụng vụ Thánh Thể là để làm ǵ? Làm sao có thể thấu triệt được ư nghĩa của phần Phụng Vụ Lời Chúa theo Phụng Niên? Tại sao, có những nơi cộng đồng cử hành Thánh Lễ lại đứng suốt phần Phụng Vụ Thánh Thể? Đâu là ư nghĩa nơi tác động phụng vụ bẻ bánh của vị chủ tế trong lúc cộng đồng tham dự cùng nhau đọc lời kinh “Lạy Chiên Thiên Chúa”? Dự lễ mà không Hiệp Lễ có trọn vẹn hay chăng? v.v.

 

Người viết cảm thấy rằng, có hiểu biết được ư nghĩa sâu xa của Phụng Vụ Thánh Thể hay của việc Cử Hành Thánh Lễ là những ǵ vô cùng cao cả linh thiêng, được gọi là cực linh, chúng ta thực hiện hằng tuần, có người c̣n thực hiện hằng ngày, theo ư Giáo Hội, Kitô hữu chúng ta mới có thể cử hành hay tham dự Phụng Vụ Thánh Thể một cách “ư thức và chủ động một cách trọn vẹn”, theo ư hướng canh tân phụng vụ của Công Đồng Chung Vaticanô II (xem Hiến Chế Phụng Vụ Thánh, khoản số 14).

 

Và nhờ “ư thức và chủ động một cách trọn vẹn” này nơi Kitô hữu trong việc Cử Hành Phụng Vụ Thánh Thể, mà Mầu Nhiệm Thánh Thể, hay Chúa Giêsu Thánh Thể, như thân nho thông truyền nhựa sống thần linh cho cành nho của ḿnh thế nào, mới thấm nhuần vào tâm hồn Kitô hữu, làm cho đời sống Cảm Nghiệm Phụng Vụ Thánh Thể của Kitô hữu trổ sinh muôn vàn hoa trái là các chứng từ về Người như vậy (xem Jn 15:4-5). Thánh Thể quả thực, đúng như Công Đồng Chung Vaticanô II ư thức, chẳng những là tột đỉnh mà c̣n là nguồn mạch của đời sống Kitô hữu (xem Hiến Chế Tín Lư Về Giáo Hội Ánh Sáng Muôn Dân, 11; Hiến Chế Tín Lư Phụng Vụ Thánh, 10).

 

Trong Tông Thư "Mediator Dei" về Phụng Vụ Thánh, ban hành ngày 20/11/1947, Đức Thánh Cha Piô XII cũng đă huấn dụ và kêu gọi Kitô hữu Sống Phụng Vụ Thánh Thể theo chiều hướng cành nho với cây nho như sau:

 

• "Để việc tín hữu dâng Tế Vật thần linh trong Hiến Lễ lên Cha trên trời được phát sinh trọn vẹn công hiệu, họ cần phải làm thêm một việc nữa, đó là việc họ phải hiến dâng chính bản thân ḿnh làm thí vật" (đoạn 98).

 

• "V́ nhắc nhớ lại những mầu nhiệm về Đức Giêsu Kitô, do đó, Phụng Vụ thánh nỗ lực làm sao cho tất cả mọi tín hữu dự phần vào những mầu nhiệm này, để Đầu thần linh của Nhiệm Thể có thể sống tràn đầy thánh thiện của ḿnh trong tất cả mọi chi thể. Chớ ǵ linh hồn của Kitô hữu nên như bàn thờ, nhờ đó, từng giai đoạn khác nhau của Hiến Lễ được Vị Thượng Tế hiến dâng, được tái diễn thực sự..." (đoạn 152)

 

• "Bởi thế, Năm Phụng Vụ, được Giáo Hội chú trọng chăm sóc và gắn bó, không phải là một tiêu biểu của những biến cố đă qua, lạnh ngắt và vô hồn, hay là một sao chép trống rỗng và tầm thường về thời văng lai. Trái lại, Năm Phụng Vụ là Chính Đức Kitô hằng sống nơi Giáo Hội của Người. Ở nơi đây, Người tiếp tục cuộc hành tŕnh của t́nh thương vô biên mà Người đă bắt đầu từ cuộc đời trần thế của ḿnh, qua việc làm phúc, với ư định là làm cho con người nhận biết và sống những mầu nhiệm của Người... Nhờ Người gợi hứng và trợ giúp, cùng với ư chí hợp tác của ḿnh, chúng ta có thể nhận lănh ở nơi Người một nguồn sức sống, như những cành cây đối với thân cây và như những phần thể đối với đầu năo' như thế, từ từ nỗ lực, chúng ta có thể biến đổi chính ḿnh 'thành tầm vóc trọn vẹn của Đức Kitô'" (đoạn 165).

 

 

CỬ HÀNH THÁNH LỄ:

Ư THỨC MẦU NHIỆM THÁNH THỂ

 

 

Thật vậy, qua việc Cử Hành Thánh Lễ, Mầu Nhiệm Thánh Thể hiện thực tất cả bản chất của ḿnh là một Hiện Diện Thực Sự, là một Hy Tế Thập Giá, là một Sự Sống Hiệp Thông và là một Bảo Chứng Cánh Chung. Trong Tông Thư về Năm Thánh Thể “Xin Chúa ở với chúng con”, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă nói đến các chiều kích này của Mầu Nhiệm Thánh Thể ở khoản số 3 như sau:

 

• “Nhờ Thánh Thể, Chúa Kitô hiện thực trong thời gian mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Người. Nơi Thánh Thể, bản thân Người đă được lănh nhận như là ‘bánh sự sống từ trời xuống’ (Jn 6:51), và cùng với Người chúng ta nhận được bảo chứng sự sống đời đời cũng như được tiên hưởng bữa tiệc vĩnh hằng của Gia Liêm thiên quốc”.

 

1) Thánh Thể là một Hiện Diện Thực Sự nơi việc Cử Hành Thánh Lễ

 

Trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă xác tín Thánh Thể là một Hiện Diện Thực Sự ở khoản số 15 như sau:

 

• “Việc tái hiện thực một cách bí tích hiến tế của Chúa Kitô, một hiến tế được hiển vinh bởi cuộc phục sinh, nơi Thánh Lễ chất chứa một thứ hiện diện đặc biệt nhất như lời Đức Phaolô VI nói ‘được gọi là ‘có thực’, không phải kiểu loại trừ tất cả mọi kiểu hiện diện khác như những kiểu hiện diện ấy ‘không có thực’, song bởi đây là kiểu hiện diện trọn nghĩa nhất, một hiện diện chính yếu nhờ đó Chúa Kitô, Vị Thiên Chúa Làm Người, hiện diện một cách trọn vẹn và hoàn toàn’ (Encyclical Letter Mysterium Fidei [3 September 1965]: AAS 57 [1965], 764). Điều này là điều lập lại giáo huấn bền vững của Công Đồng Chung Triđentinô, đó là ‘việc thánh hiến bánh và rượu làm biến đổi tất cả bản thể bánh thành bản thể thân ḿnh của Đức Kitô Chúa chúng ta, và tất cả bản thể rượu thành bản thể máu của Người. Giáo Hội Công Giáo thánh thiện đă gọi việc biến đổi này một cách xác đáng và xứng hợp là việc biến thể’ (Session XIII, Decretum de ss. Eucharistia, Chapter 4: DS 1642)”.

Đúng thế, trong Thánh Lễ, ngay sau lời truyền phép của vị chủ tế trên bánh và rượu, th́ việc biến thể xẩy ra, biến bản thể bánh trở nên Ḿnh Thánh Chúa Giêsu và biến bản thể rượu trở nên Máu Thánh Chúa Giêsu. Bởi v́, nếu bản thể của tất cả mọi sự ở cái “là” của nó th́ sau lời truyền phép của chủ tế, cái “là” bánh thực sự không c̣n “là” bánh nữa (ngoài h́nh thức bánh), mà “là Ḿnh Thày” và cái “là” rượu không c̣n “là” rượu nữa (ngoài h́nh thức rượu), mà “là Máu Thày”.

 

Sở dĩ việc biến thể này có thể xẩy ra một cách mầu nhiệm trước con mắt đức tin Kitô Giáo nói chung và Giáo Hội Công Giáo nói riêng là v́ quyền năng của chính lời truyền phép, một lời truyền phép lập lại nguyên văn lời Chúa Kitô lập phép Thánh Thể xưa trong Bữa Tiệc Ly, “những lời là thần linh và là sự sống” (Jn 6:63), “những lời sự sống trường sinh” (Jn 6:68). Đúng thế, sở dĩ lời của Chúa Giêsu có thần lực toàn năng biến thể được bánh và rượu thành Ḿnh Thánh và Máu Thánh của Người là v́ lời của Người đầy Thánh Thần Thiên Chúa, Đấng được vị chủ tế, trong Kinh Nguyện Thánh Thể II, III và IV, ngay trước khi truyền phép kêu cầu ngự đến “thánh hóa những lễ vật này, để trở nên cho chúng tôi Ḿnh và Máu Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng tôi”.

 

Thật vậy, Thánh Thần Thiên Chúa là Tác Nhân trong Mầu Nhiệm Nhập Thể của “Lời hóa thành nhục thể” (Jn 1:14) thế nào (x Lk 1:35; Mt 1:20), đồng thời cũng là Tác Nhân trong Mầu Nhiệm Phục Sinh của Đấng Tử Giá ra sao (x Rm 8:11), những mầu nhiệm đă thực sự xẩy ra trên thế giới này hơn 2000 năm trước đây, những mầu nhiệm đă trở thành hiện thực với một Nhân Vật Lịch Sử mang tên Giêsu Nazarét được sinh ra ở Bêlem và tử nạn ở Giêrusalem, th́ Ngài cũng là Tác Nhân trong Mầu Nhiệm Thánh Thể là mầu nhiệm kéo dài Biến Cố Nhập Thể và Phục Sinh này.

 

Thế nhưng, để việc Hiện Diện Thực Sự của Chúa Giêsu Thánh Thể cực linh có thể xẩy ra, phụng vụ của Giáo Hội cần phải thực hiện những ǵ thiết yếu, như được Giáo Hội, qua Thánh Bộ Phượng Tự và Bí Tích tái xác nhận trong Bản Hướng Dẫn “‘Redemptionis Sacramentum’ Về Một Số Vấn Đề Cần Phải Tuân Giữ Hay Tránh Lánh Liên Quan Đến Thánh Thể Cực Linh” (ban hành ngày 23/4/2004), ở Chương 3 sau đây, liên quan đến chất liệu của bánh và rượu, đến kinh nguyện cũng như đến tác động của vị chủ tế trong phần cực trọng nhất của Thánh Lễ này.

 

• “Bánh được dùng để cử hành Hiến Tế Thánh Thể Cực Linh phải là thứ bánh không men, thuần túy lúa miến, và mới được làm để tránh bị hư hoại (Cf. Code of Canon Law, can. 924.2; Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 320). Bởi thế, thứ bánh được làm bởi chất khác, cho dù là bằng hạt giống, hay bị pha trộn với thứ chất khác với lúa miến cho đến độ vốn không được coi là bánh lúa miến, th́ không làm nên chất thể hiệu thành cho Hy Tế và Bí Tích Thánh Thể (Cf. S. Congregation for the Discipline of the Sacraments, Instruction, Dominus Salvator noster, 26 March 1929, n. 1: AAS 21 [1929] pp. 631-642, here p. 632). Thật là một lạm dụng trầm trọng trong việc trộn những chất khác, như trái cây, đường hoặc mật ong với bánh để làm thành Thánh Thể. Bánh Thánh cần phải được tỏ tường làm bởi những người chẳng những nổi bật về tính chất liêm chính của họ mà c̣n tài khéo làm việc này với những dụng cụ thích hợp nữa (Cf. ibidem, n. II: AAS 21 (1929) p. 635)” (khoản số 48).

 

• “Rượu được sử dụng trong việc cử hành cực linh Hiến Tế Thánh Thể phải là chất tự nhiên, từ trái nho, tinh khiết và nguyên tuyền, không bị pha trộn với các chất khác (Cf. Lk 22,18; Code of Canon Law, can. 924.1, 3; Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 322). Trong khi cử hành cần pha một chút nước lă. Hết sức cẩn thận bảo tŕ rượu được dùng cho việc cử hành Thánh Thể, đừng để bị chua (Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 323). Cấm không được sử dụng loại rượu không rơ về tính chất trung thực hay nguyên tuyền của nó, v́ Giáo Hội cần bảo đảm những điều kiện cần thiết đối với tính cách hiệu thành của các bí tích. Bất cứ v́ lư do nào cũng không được sử dụng những thức uống nào khác, v́ chúng không phải là chất thể hiệu thành”. (khoản số 50).

 

• “Chỉ được sử dụng những Kinh Nguyện Thánh Thể trong Sách Lễ Rôma hay được Ṭa Thánh có thẩm quyền chuẩn nhận, theo cách thức và từ ngữ đă được dọn sẵn. ‘Không thể chấp nhận việc có một số Linh Mục cho rằng ḿnh có quyền sáng chế ra những Kinh Nguyện Thánh Thể riêng’ (Pope John Paul II, Apostolic Letter, Vicesimus quintus annus, n. 13, AAS 81 (1989), hay thay đổi bản văn đă được Giáo Hội công nhận, hoặc xen vào những bản văn khác được những cá nhân riêng tư nào đó sáng tác (S. Congregation for the Sacraments and Divine Worship, Instruction, Inaestimabile donum, n. 5: AAS 72 (1980) pp. 335)”. (khoản số 51).

 

• “Việc công bố Kinh Nguyện Thánh Thể, tự bản chất là tột đỉnh của tất cả cuộc cử hành Thánh Thể, xứng hợp cho Linh Mục theo Chức Thánh của ngài. Bởi thế việc lạm dụng xẩy ra khi để cho một Phó Tế, một thừa tác viên giáo dân, hay bởi một phần tử cá nhân tín hữu, hoặc bởi chung tất cả mọi thành phần tín hữu đọc một số phần của Kinh Nguyện Thánh Thể. Vậy chỉ có Linh Mục mới được toàn quyền đọc Kinh Nguyện Thánh Thể mà thôi (Cf. Pope John Paul II, Encyclical Letter, Ecclesia de Eucharistia, n. 28: AAS 95 [2003] p. 452; Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 147; S. Congregation for Divine Worship, Instruction, Liturgicae instaurationes, n. 4: AAS 62 [1970] p. 698; S. Congregation for the Sacraments and Divine Worship, Instruction, Inaestimabile donum, n. 4: AAS 72 [1980] p. 334)”. (khoản số 52).

 

• “Trong khi vị Linh Mục công bố Kinh Nguyện Thánh Thể th́ ‘không đọc một kinh nguyện nào khác hay ca hát, và dương cầm hoặc các nhạc cụ khác đều phải lặng yên’ (Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 32), trừ những lời than của cộng đồng đă được xứng hợp cho phép, như đề cập dưới đây”. (khoản số 53).

 

• “Ở một số nơi xẩy ra việc lạm dụng là vị Linh Mục bẻ bánh thánh vào lúc truyền phép trong Thánh Lễ. Việc lạm dụng này phản với truyền thống của Giáo Hội. Nó cần phải bị bác bỏ và sữa lại liền”. (khoản số 55).

 

2) Thánh Thể là Hy Tế Thập Giá nơi việc Cử Hành Thánh Lễ

 

Trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă xác tín Thánh Thể là một Hy Tế Thập Giá ở khoản số 11, 12 và 14 thứ tự sau đây:

 

• “Khi Giáo Hội cử hành Thánh Thể, cuộc tưởng niệm việc Chúa chịu chết và sống lại, th́ biến cố cứu độ trọng yếu này trở nên hiện tại thực sự và ‘công cuộc cứu chuộc của chúng ta được thể hiện’ (Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 3). Hy tế này quyết liệt cho phần rỗi loài người đến nỗi Chúa Giêsu Kitô đă hiến dâng hy tế này và về cùng Cha chỉ sau khi Người đă để lại cho chúng ta phương tiện để chia sẻ vào hy tế ấy như thể chúng ta đă hiện diện ở đó bấy giờ. Mỗi một phần tử tín hữu đều có thể tham dự vào hy tế này và hái được vô tận hoa trái của hy tế ấy” (khoản số 11).

 

• “Trong việc thiết lập Hiến Tế Thánh Thể này, Người không chỉ nói: ‘Này là ḿnh Thày’, ‘Này là máu Thày’, mà c̣n thêm: ‘hiến cho các con’, ‘đổ ra cho các con’ (Lk 22:19-20). Chúa Giêsu không chỉ nói rằng những ǵ Người bấy giờ đang ban cho họ để ăn và uống là ḿnh Người và máu Người; Người c̣n cho thấy ư nghĩa hy sinh của Hiến Tế Thánh Thể và làm cho hiến tế của Người hiện diện một cách bí tích, một hiến tế sắp được hiến dâng trên Thập Giá cho phần rỗi của tất cả mọi người. ‘Thánh Lễ đồng thời không thể tách biệt với việc tưởng niệm hiến tế, một hiến tế Thập Giá được kéo dài và là một bữa tiệc thánh hiệp thông với ḿnh máu Chúa Kitô’ (Catechism of the Catholic Church, 1382)”. Thánh Lễ làm cho hiến tế Thập Giá hiện thực; Thánh Lễ không thêm vào hiến tế ấy cũng như không tăng thêm cho hiến tế ấy (Cf. Ecumenical Council of Trent, Session XXII, Doctrina de ss. Missae Sacrificio, Chapter 2: DS 1743: “It is one and the same victim here offering himself by the ministry of his priests, who then offered himself on the Cross; it is only the manner of offering that is different”). Những ǵ được lập lại là việc cử hành tưởng niệm của hiến tế ấy, ‘việc tưởng nhớ tái hiện thực’ của hiến tế này (memorialis demonstratio) (Pius XII, Encyclical Letter Mediator Dei [20 November 1947]: AAS 39 [1947], 548), việc làm cho hiến tế cứu chuộc tối hậu duy nhất của Chúa Kitô lúc nào cũng hiện thực qua thời gian. Bản chất hiến tế của mầu nhiệm Thánh Thể, bởi thế, không được hiểu như là một điều ǵ tách biệt, không dính dáng ǵ với Thập Giá hay chỉ gián tiếp liên quan đến hiến tế Canvê”.

 

• “Cuộc vượt qua của Chúa Kitô chẳng những bao gồm cuộc khổ nạn và tử nạn của Người mà c̣n cả cuộc phục sinh của Người nữa. Điều này được nhắc nhớ qua lời cộng đồng tung hô sau phần truyền phép: ‘Chúng tôi tuyên xưng việc Chúa sống lại’. Hy Tế Thánh Thể hiện thực chẳng những mầu nhiệm khổ nạn và tử nạn của Chúa Cứu Thế mà c̣n cả mầu nhiệm phục sinh làm hiển vinh hiến tế của Người nữa. Chính v́ là Đấng hằng sống và phục sinh mà Chúa Kitô mới có thể trở thành “bánh ban sự sống” (Jn 6:35,48), ‘bánh sống’ (Jn 6:51) trong Bí Tích Thánh Thể”.

 

Việc Hiện Diện Thực Sự của Chúa Giêsu trong Bánh Thánh và Rượu Thánh sau lời truyền phép không phải là một hiện diện thần linh có thật song thụ động mà là chủ động: chủ động chẳng những nơi vai tṛ chủ tế của vị linh mục thay cho Chúa Giêsu hiến dâng Hy Tế Thập Giá một cách bí tích trên bàn thờ, mà c̣n nơi chủ đích của việc biến thể nữa, một việc biến thể từ một tấm bánh thành một Thân Thể (không phải một thân thể mới được sinh ra trong hang lừa máng cỏ ở Bêlem mà là) bị trao nộp ở Giêrusalem, và từ một chén rượu thành Máu Giao Ước (không phải máu của Lời mới nhập thể trong ḷng Trinh Nữ Maria ở Nazarét mà là) đổ ra trên đồi tử giá Canvê.

 

Đó là lư do Chúa Giêsu không thiết lập Bí Tích Thánh Thể là để trở thành Hiện Diện Thực Sự của Người ở với Giáo Hội trên thế gian cho tới tận thế (x Mt 28:20), mà chính yếu là để hiện thực và tái diễn Hy Tế Thập Giá của Người. Bởi thế, ngay trong lời truyền phép, lời Chúa Giêsu đă tuyên bố thiết lập Bí Tích Thánh Thể, Người c̣n truyền cho các tông đồ hiện diện bấy giờ nói riêng và thành phần thừa kế các vị nói chung rằng: “Các con hăy làm việc này mà nhớ đến Thày” (Lk 22:19). Lời truyền chức tư tế này của Chúa Giêsu cho các vị tông đồ không phải chỉ là những lời Người muốn bảo các tông đồ và thành phần thừa kế các vị là hăy (“làm việc này” là) đọc lại lời Người phán trên bánh và rượu để biến bánh và rượu nên Ḿnh Thánh và Máu Thánh Người, mà là hăy cử hành, hăy tưởng nhớ đến Người, ở chỗ “loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến” (Lời Tuyên Xưng “Mầu Nhiệm Đức Tin” sau truyền phép).

 

V́ Mầu Nhiệm Thánh Thể chính yếu là Hy Tế Thập Giá, một Hy Tế cần phải được liên lỉ tưởng niệm và cử hành như thế, mà phụng vụ của Giáo Hội rất lưu tâm đến địa điểm cử hành, hoàn cảnh cử hành và các đồ thánh để Hy Tế Tử Giá vô cùng cao trọng được cử hành một cách xứng đáng, như được tái xác nhận trong Bản Hướng Dẫn “‘Redemptionis Sacramentum’ Về Một Số Vấn Đề Cần Phải Tuân Giữ Hay Tránh Lánh Liên Quan Đến Thánh Thể Cực Linh” ở Chương 5 như sau:

 

• “’Việc cử hành Thánh Thể cần phải được thực hiện ở một nơi thánh, trừ trường hợp đặc biệt cần thiết. Trong trường hợp cần thiết ấy, việc cử hành phải được thực hiện ở một nơi đứng đắn xứng hợp’ (Code of Canon Law, can. 932.1; S. Congregation for Divine Worship, Instruction, Liturgicae instaurationes, n. 9: AAS 62 (1970) p. 701). Vị Giám Mục giáo phận sẽ là vị phán quyết về tính cách cần thiết này, tùy theo từng trường hợp một”. (khoản số 108)

 

• “’Các vị Linh Mục phải thường xuyên cử hành Thánh Thể, luôn nhớ rằng công cuộc cứu chuộc nơi mầu nhiệm Hiến Tế Thánh Thể được liên lỉ thể hiện. Thật vậy, việc cử hành Thánh Thể hằng ngày là những ǵ hết sức đáng làm, v́, cho dù không có sự hiện diện của thành phần tín hữu, th́ việc cử hành này cũng là một tác động của Chúa Kitô và của Giáo Hội, và khi thực hiện việc cử hành này là vị Linh Mục làm trọn vai tṛ chính yếu của các vị’ (Code of Canon Law, can. 904; cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church, Lumen gentium, n. 3; Decree on the Ministry and Life of Priests, Presbyterorum ordinis, n. 13; cf. also Ecumenical Council of Trent, Session XXII, 17 September 1562, On the Most Holy Sacrifice of the Mass, Chapter 6: DS 1747; Pope Paul Pp. VI, Encyclical Letter Mysterium fidei, 3 September 1965: AAS 57 [1965] pp. 753-774, here pp. 761-762; cf. Pope John Paul II, Encyclical Letter, Ecclesia de Eucharistia, n. 11: AAS 95 [2003] pp. 440-441; S. Congregation of Rites, Instruction, Eucharisticum mysterium, n. 44: AAS 59 [1967] p. 564; Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 19)”. (khoản số 110)

 

• “Các chén thánh chứa đựng Ḿnh và Máu Chúa phải được làm theo đúng các qui tắc truyền thống và của các sách phụng vụ (Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis, nn. 327-333). … Bởi thế, không thể chấp nhận cho sử dụng trong việc cử hành Thánh Lễ các thứ chén thông dụng, các thứ chén thiếu phẩm chất, hay không có tính cách nghệ thuật tí nào hoặc chỉ là những thứ để đựng, như những thứ chén được làm bằng thủy tinh, bằng sành, bằng đất sét hay bằng các thứ chất liệu dễ vỡ khác. Cần phải áp dụng qui tắc này với cả những thứ kim loại hay các thứ chất liệu sẽ bị xét dỉ hay hư hỏng (Cf. ibidem, n. 332; Congregation for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments,, Instruction, Inaestimabile donum, n. 16: AAS 72 [1980] p. 338)”. (khoản số 117)

 

• “Linh Mục, một khi đă trở lại bàn thờ sau phần cho Rước Lễ, th́ đứng tại bàn thờ hay tại một bàn cân xứng, để lau đĩa thánh và tráng chén thánh theo các qui định của Sách Lễ rồi lau chén bằng khăn sạch. Nếu có Phó Tế bấy giờ th́ vị này trở lại bàn thờ với Linh Mục để tráng chén. Tuy nhiên, đặc biệt trong trường hợp có một số chén thánh cần phải được tráng lau, th́ được phép cứ để đó, đậy lại đàng hoàng, ở trên bàn thờ hay bàn phụ lễ, để vị Linh Mục hay Phó Tế tráng lau ngay sau khi tan Lễ. Ngoài ra, người được chính thức ủy nhiệm vai tṛ phụ tế cũng có thể giúp vị Linh Mục hay Phó Tế tráng lau và sắp xếp các chén thánh ở bàn thờ hay bàn phụ lễ. Nếu không có vị Phó Tế th́ người được chính thức ủy nhiệm vai tṛ phụ tế này mang các chén thánh sang bàn phụ lễ rồi tráng chén, lau khô và sắp xếp các chén thánh ấy theo kiểu cách b́nh thường (Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis, nn. 163, 183, 192)”. (khoản số 119)

 

• “Các vị Mục Tử phải chú trọng đến những khăn được sử dụng cho bàn thánh, nhất là những khăn đụng chạm tới các h́nh Thánh Thể, cần phải luôn sạch sẽ cũng như cần phải được giặt sạch theo đường lối truyền thống. Để làm điều này, rất nên đổ nước sau lần giặt bằng tay đầu tiên vào cống máng đổ đồ thánh của nhà thờ hay đổ xuống đất ở một nơi xứng đáng. Sau đó, lần giặt thứ hai có thể được làm theo kiểu cách thông thường”. (khoản số 120)

 

• “Chiếc áo thụng dài trắng mặc ở bên trong áo lễ cần phải được cột lại bằng một giây thắt lưng, trừ khi chiếc áo này được làm theo kiểu thắt bụng không cần giây cột. Cần phải đeo chiếc khăn quàng vai trắng trước khi mặc chiếc áo dài trắng này, nếu chiếc áo thụng dài trắng không hoàn toàn che hết bộ y phục thường dân ở cổ (Cf. ibidem, n. 336)”. (khoản số 122)

 

• “Áo lễ xứng hợp với vị Linh Mục cho việc cử hành Thánh Lễ hay cho các tác động linh thánh khác trực tiếp liên quan đến Thánh Lễ, trừ khi có những qui định khác, là một chiếc áo lễ mặc ở bên ngoài chiếc áo thụng dài trắng và giây choàng ở bên trong” (Cf. ibidem, n. 337). Cũng thế, vị Linh Mục, khi mặc áo lễ theo qui định chữ đỏ th́ không được bỏ đeo giây choàng ở bên trong”. (khoản số 123)

 

3) Thánh Thể là Sự Sống Hiệp Thông nơi việc Cử Hành Thánh Lễ

 

Trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă xác tín Thánh Thể là một Sự Sống Hiệp Thông qua việc Kitô hữu Hiệp Lễ cũng như bằng Tặng Ân Thánh Thần Người ban cho những ai lănh nhận Ḿnh Máu Thánh của Người, ở khoản số 16 và 17 thứ tự sau đây:

 

• “Hiệu năng cứu độ của hiến tế này được hoàn toàn hiện thực khi lănh nhận ḿnh máu Chúa lúc hiệp lễ. Hiến Tế Thánh Thể tự bản chất nhắm đến việc hiệp nhất nội tâm của tín hữu với Chúa Kitô qua việc hiệp lễ; chúng ta lănh nhận chính Đấng đă hiến ḿnh cho chúng ta, chúng ta lănh nhận thân thể Người đă trao nộp cho chúng ta trên Thập Giá cũng như lănh nhận máu Người ‘đă đổ ra cho nhiều người được tha tội’ (Mt 26:28). Chúng ta được lời Người nhắc nhớ rằng: ‘Như Cha hằng sống đă sai Tôi và Tôi sống bởi Cha thế nào, th́ ai ăn Tôi cũng sẽ sống bởi Tôi như vậy’ (Jn 6:57). Chính Chúa Giêsu đă bảo đảm với chúng ta rằng việc hiệp nhất này, một thứ hiệp nhất được Người so sánh với việc hiệp nhất sự sống Ba Ngôi, được thực sự thể hiện. Thánh Thể thực sự là một bữa tiệc Chúa Kitô đă tự hiến ḿnh làm của dưỡng nuôi chúng ta. Vào lần đầu tiên Chúa Giêsu nói về thứ dưỡng nuôi này, thành phần nghe Người bấy giờ lấy làm lạ lùng và bối rối khiến Vị Thày này bắt buộc phải nhấn mạnh đến chân lư khách quan của những lời Người nói: ‘Thật vậy, thật vậy, Tôi nói cho quí vị hay, trừ phi quí vị ăn thịt Con Người và uống máu của Người, bằng không quí vị sẽ không có sự sống nơi bản thân quí vị’ (Jn 6:53). Đây không phải là thứ lương thực bóng bẩy mỹ từ, bởi v́ ‘Thịỉt Tôi thực sự là của ăn và máu Tôi thực sự là của uống’ (Jn 6:55)”.

 

• “Qua việc chúng ta được hiệp thông với ḿnh máu của Người, Chúa Kitô cũng ban cho chúng ta Thần Linh của Người nữa. Thánh Ephrem viết: ‘Người đă gọi thứ bánh này là thân ḿnh của Người và Người đă làm cho bánh ấy tràn đầy Người cùng với Thần Linh của Người… Ai lấy đức tin mà ăn bánh ấy là ăn Lửa và Thần Linh… Hăy nhận lấy mà ăn, tất cả anh chị em, và hăy ăn Thánh Linh nơi bánh này. V́ đó thật là ḿnh của Tôi nên ai ăn bánh ấy sẽ được sự sống đời đời’ (Sermo IV in Hebdomadam Sanctam: CSCO 413/Syr. 182, 55). … Trong Sách Lễ Rôma, vị chủ tế nguyện rằng: ‘Xin ban cho chúng con là những kẻ được nuôi dưỡng bởi ḿnh máu Người được tràn đầy Thánh Thần của Người, và được trở nên một thân thể, một tinh thần duy nhất trong Chúa Kitô’ (Eucharistic Prayer III). Như thế, nhờ tặng ân Ḿnh Máu của Người, Chúa Kitô làm tăng lên trong chúng ta tặng ân Thần Linh Người đă được tuôn đổ xuống trên chúng ta qua Phép Rửa cũng như đă được ban xuống cho chúng ta như ‘dấu ấn’ qua bí tích Thêm Sức”.

 

Phụng Vụ Thánh Thể, sau Phụng Vụ Lời Chúa, trong mỗi Thánh Lễ được chia ra làm ba phần, phần dâng lễ, phần hiến lễ và phần hiệp lễ. Nếu phần Hiến Lễ là phần của Mầu Nhiệm Thánh Thể liên quan đến Hy Tế Thập Giá được Giáo Hội, qua vị chủ tế, hiến dâng lên Chúa Cha, th́ phần Hiệp Lễ là phần của Mầu Nhiệm Thánh Thể liên quan đến Sự Sống Hiệp Thông, được Giáo Hội, qua vị chủ tế, cũng như qua các thừa tác viên Thánh Thể hay thừa tác viên ngoại lệ cho Rước Lễ, ban phát cho những tín hữu xứng đáng và tin tưởng lănh nhận Hy Tế Thập Giá, lănh nhận Chiên Thiên Chúa.

 

Đúng thế, Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể không phải chỉ để làm cơ sở cho Người có thể Hiện Diện Thực Sự, hay để hiện thực hóa Hy Tế Thập Giá của Người vậy thôi, mà c̣n để trở thành Sự Sống Hiệp Thông cho chung Giáo Hội cũng như cho riêng các phần thể của ḿnh mầu nhiệm của Người nữa. Đó là lư do, ngay mấy chữ đầu của lời truyền phép, lời Người phán để thiết lập bí tích Thánh Thể, Người đă kêu gọi các tông đồ nói riêng và Giáo Hội nói chung là “các con hăy cầm lấy mà ăn” và “các con hăy nhận lấy mà uống”.

 

Dĩ nhiên, về phương diện phụng vụ, phần Thánh Lễ quan trọng nhất là phần Hiến Lễ, qua tác động chủ tế hiến dâng Thánh Thể lên Chúa Cha ngay sau khi chủ tế truyền phép Thánh Thể. Thế nhưng, nếu Hy Tế Thập Giá đă vĩnh viễn hiệu thành (x Heb 7:27, 9:12) th́ việc hiện thực và tái diễn hy tế này trên bàn thờ không phải chỉ là việc để làm cho hy tế ấy nên trọn, mà là việc làm cho hy tế ấy trở thành viên măn hơn, đúng như ư định Chúa Giêsu muốn, đó là việc Người là Vị “Chủ Chiên nhân lành thí mạng sống v́ chiên cho chiên được sự sống và là một sự sống viên măn hơn” (Jn 10:10).

 

Như thế, phần Hiệp Lễ cũng là phần rất quan trọng và cần thiết đối với cả Chúa Giêsu Thánh Thể lẫn thành phần môn đệ của Người. Đối với Chúa Giêsu Thánh Thể, Hiệp Lễ là phần rất quan trọng và cần thiết, bởi v́ Người muốn thông ban “Sự Sống viên măn” phát xuất từ Hy Tế Thập Giá của Người cho thành phần đă tin nhận Người qua Phép Rửa và đă nhận được “sự sống” từ Người, một sự sống cần phải được bảo tŕ và tăng trưởng cho tới khi đạt đến tầm vóc viên măn của ḿnh trong Chúa Kitô (x Eph 4:13,15). Đối với Kitô hữu, Hiệp Lễ là phần rất quan trọng và cần thiết, bởi v́, có tiếp nhận Chúa Giêsu Thánh Thể, Đấng đă tự hiến để Giáo Hội được thánh hóa trong chân lư (x Jn 17:19), con người và hoạt động của họ mới có thể được biến đổi một cách mầu nhiệm, như rượu bánh trên bàn thờ “là hoa mầu ruộng đất và lao công của con người” (lời dâng lễ vật) được biến thể Ḿnh Thánh và Máu Thánh của Người.

 

V́ được đón nhận Chúa Giêsu Hiện Diện Thực Sự trong Ḿnh Thánh và Máu Thánh cực linh của Người mà, theo Chương 4 của Bản Hướng Dẫn “‘Redemptionis Sacramentum’ Về Một Số Vấn Đề Cần Phải Tuân Giữ Hay Tránh Lánh Liên Quan Đến Thánh Thể Cực Linh”, thành phần thừa tác viên trao ban Thánh Thể cũng như thành phần lănh nhận Thánh Thể cần phải để ư đến những điều kiện và tác động xứng đáng sau đây:

 

• “Theo thông lệ của Giáo Hội th́ mỗi người cần phải xét ḿnh kỹ lưỡng và ai ư thức được trọng tội của ḿnh th́ không được cử hành hay lănh nhận Ḿnh Thánh Chúa Kitô trước khi lănh nhận bí tích giải tội, trừ khi có lư do quan trọng như trường hợp không có cha giải tội; trong trường hợp ấy họ phải nhớ rằng họ buộc phải ăn năn tội cách trọn, và phải có ư hướng đi xưng tội sớm bao nhiêu có thể”. (khoản số 81)

 

• “Các vị thừa tác viên Công Giáo chỉ được ban các Phép Bí Tích cho tín hữu Công Giáo mà thôi, thành phần cũng chỉ được phép lănh nhận các phép bí tích này từ các vị thừa tác viên Công Giáo, trừ những trường hợp được đề cập đến ở khoản Giáo Luật 844.2-4 và 861.2 (Cf. Code of Canon Law, n. 844.1; Pope John Paul II, Encyclical Letter Ecclesia de Eucharistia, nn. 45-46: AAS 95 [2003] pp. 463-464; cf. also Pontifical Council for the Promotion of Christian Unity, Directory for the application of the principles and norms on ecumenism, La recherche de l’unité, nn. 130-131: AAS 85 [1993] 1039-1119, here p. 1089). Ngoài ra, không được tách biệt những điều kiện bao hàm khoản Giáo Luật 844.4, những điều kiện không thể miễn trừ (Cf. Pope John Paul II, Encyclical Letter Ecclesia de Eucharistia, n. 46: AAS 95 [2003] pp. 463-464); bởi thế mà cần phải hội đủ tất cả mọi điều kiện này”. (khoản số 85)

 

• “’Để cho dấu hiệu Hiệp Lễ được nổi bật tỏ tường hơn nữa như là một việc tham dự vào Hiến Tế đang được cử hành’ (Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 85), tín hữu tốt nhất lănh nhận bánh thánh được truyền phép ngay trong cùng Thánh Lễ được cử hành (Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Constitution on the Sacred Liturgy, Sacrosanctum Concilium, n. 55; S. Congregation of Rites, Instruction, Eucharisticum mysterium, n. 31: AAS 59 [1967] p. 558; Missale Romanum, Institutio Generalis, nn. 85, 157, 243)”. (khoản số 89)

 

• “’Tín hữu phải qú hay đứng khi Rước Lễ, tùy theo Hội Đồng Giám Mục ấn định’, những ấn định như được Ṭa Thánh chuẩn nhận. ‘Tuy nhiên, nếu đứng mà Rước Lễ th́ cần phải tỏ ra cung kính trước khi lănh nhận Bí Tích này, theo các qui tắc tương tự qui định’ (Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 160)”. (khoản số 90)

 

• “Mặc dù mỗi người tín hữu bao giờ cũng có quyền lănh nhận Thánh Thể bằng lưỡi tùy ư (Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 161), song nếu có người nào muốn lănh nhận Bí Tích này bằng tay, ở những miền Hội Đồng Giám Mục được phép Ṭa Thánh cho thực hiện cử chỉ ấy, th́ họ có thể lănh nhận bánh thánh như thế. Tuy nhiên, phải cẩn thận bảo đảm là bánh thánh được người lănh nhận rước chịu trước mặt vị thừa tác viên, không để một ai cầm h́nh bánh mà đi. Nếu thấy có nguy cơ bị tục hóa th́ không được cho tín hữu Rước Lễ bằng tay (Congregation for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments, Dubium: Notitiae 35 [1999] pp. 160-161)”. (khoản số 92)

 

• “Cần phải bảo tŕ vấn đề cầm đĩa hứng khi cho tín hữu Rước Lễ hầu tránh t́nh trạng bánh thánh hay vụn bánh thánh có thể bị rơi xuống (Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 118)”. (khoản số 93)

 

• “Không được phép cho tín hữu ‘tự ḿnh cầm, tệ hơn nữa, trao cho nhau’ bánh thánh hay chén thánh (Ibidem, n. 160). Ngoài ra, về vấn đề này, cần phải loại trừ việc lạm dụng cho nhau Rước Lễ giữa đôi tân hôn trong Lễ Hôn Phối”. (khoản số 94).

 

• “Một tín hữu giáo dân ‘đă lănh nhận Thánh Thể Cực Linh cũng được phép chịu một lần nữa cùng ngày khi tham dự Cử Hành Thánh Thể, như được qui định ở khoản Giáo Luật 921.2’ (Cf. Code of Canon Law, can. 917; Pontifical Commission for the Authentic Interpretation of the Code of Canon Law, Response to Dubium, 11 July 1984: AAS 76 (1984) p. 746)”. (khoản số 95)

 

• “Không thể chấp nhận được việc phân phát những tấm bánh không được truyền phép hoặc các thứ ăn được cũng như không ăn được trong khi cử hành Thánh Lễ hay trước đó theo cách thức Hiệp Lễ, trái với những qui định của các sách phụng vụ. Việc làm này không thích hợp với truyền thống của Lễ Nghi Rôma và gây ra lộn xộn nơi thành phần tín hữu Chúa Kitô liên quan tới tín điều về Thánh Thể của Giáo Hội. Ở một số nơi nào được phép thực hiện việc ban phép lành cho bánh sau Thánh Lễ để phân phát th́ ở đó cần phải cẩn thận hướng dẫn giáo lư đàng hoàng về việc làm ấy. Thật vậy, không được tạo ra những việc làm tương tự khác giống như vậy hay không được sử dụng những bánh bất thánh hiến vào mục đích này”. (khoản số 96)

 

• “Để thể hiện trước tín hữu một cách rơ ràng hơn nữa dấu hiệu trọn vẹn về việc tham dự vào bữa tiệc Thánh Thể, th́ kể cả các phần tử giáo dân thuộc thành phần tín hữu của Chúa Kitô cũng được Rước Lễ dưới hai h́nh, ở những trường hợp được qui định trong các sách phụng vụ, một việc rước lễ hai h́nh được dẫn tiến và tiếp tục hỗ trợ bằng việc dạy giáo lư xứng hợp liên quan tới những nguyên tắc tín lư về vấn đề này là những ǵ được Công Đồng Chung Triđentinô xác định (Cf. Ecumenical Council of Trent, Session XXI, 16 July 1562, Decree on Eucharistic Communion, Chapters 1-3: DS 1725-1729; Second Vatican Ecumenical Council, Constitution on the Sacred Liturgy, Sacrosanctum Concilium, n. 55; Missale Romanum, Institutio Generalis, nn. 282-283)”. (khoản số 100)

 

• “Người rước lễ không được phép tự ḿnh nhúng bánh thánh vào rượu thánh, hay không được rước bằng tay bánh thánh được nhúng rượu thánh. Bánh thánh được dùng để nhúng vào rượu thánh cần phải được làm bằng chất thể cứng chắc cũng như phải được truyền phép; triệt để cấm sử dụng bánh bất thánh hiến hay các chất thể khác”. (khoản số 104)

 

• “Căn cứ vào những ǵ được qui định bởi giáo luật, ‘ai ném bỏ những h́nh Thánh Thể hay lấy đi hoặc giữ để phạm thánh th́ vạ tuyệt thông tiền kết latae sententiae chỉ có Ṭa Thánh mới giải được; ngoài ra, nếu là một giáo sĩ th́ chịu h́nh phạt khác nữa, kể cả việc bị loại khỏi hàng ngũ giáo sĩ’ (Cf. Code of Canon Law, can. 1367). Bất cứ hành động nào tự ư và trầm trọng bất kính phạm đến các h́nh Thánh Thể đều được coi là thuộc về trường hợp này. Bởi thế, bất cứ ai tác hành ngược lại những qui tắc ấy, chẳng hạn như vứt bỏ những h́nh Thánh Thể vào cống máng đổ đồ thánh, hay vào một nơi bất xứng, hoặc trên đất, đều phải bị trừng phạt được qui định (Cf. Pontifical Council for the Interpretation of Legislative Texts, Response to dubium, 3 July 1999: AAS 91 [1999] p. 918). Ngoài ra, tất cả đều phải nhớ rằng một khi đă hoàn tất việc cho Rước Lễ trong Thánh Lễ, cần phải giữ những qui định của Sách Lễ Rôma, nhất là những ǵ thuộc Máu Chúa c̣n sót lại, theo qui tắc, phải lập tức được vị Linh Mục hay thừa tác viên khác uống hết, c̣n các bánh thánh dư cũng phải được vị Linh Mục rước ở bàn thờ hay được mang đến chỗ cất giữ Thánh Thể (Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis, nn. 163, 284)”. (khoản số 107)

 

• “Thừa tác viên ngoại lệ cho Rước Lễ có thể cho Rước Lễ chỉ khi nào thiếu Linh Mục và Phó Tế, chỉ khi nào vị Linh Mục bị ngăn trở v́ yếu sức hay tuổi già hoặc một lư do nào chính đáng khác, hay chỉ khi nào con số tín hữu lên Rước Lễ đông đến nỗi chính việc cử hành Thánh Lễ sẽ bị kéo dài một cách không nhất thiết (Cf. S. Congregation for the Discipline of the Sacraments, Instruction, Immensae caritatis, n. 1: AAS 65 [1973] pp. 264-271, here pp. 265-266; Pontifical Commission for the Authentic Interpretation of the Code of Canon Law, Responsio ad propositum dubium, 1 June 1988: AAS 80 [1988] p. 1373; Congregation for the Clergy et al., Instruction, Ecclesiae de mysterio, Practical Provisions, art. 8 ậ 2: AAS 89 [1997] p. 871). Tuy nhiên, điều này phải được hiểu là việc kéo dài chút xíu, đối với hoàn cảnh và văn hóa địa phương, vẫn không phải là trường hợp có đủ lư do”. (khoản số 158)

 

4) Thánh Thể là Bảo Chứng Cánh Chung nơi việc Cử Hành Thánh Lễ

 

Trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă xác tín Thánh Thể là một Bảo Chứng Cánh Chung ở khoản số 18 như sau:

 

• “Lời tung hô của cộng đồng sau phần truyền phép được chấm dứt một cách rất thích đáng với câu diễn tả cái trục cánh chung là yếu tố làm nên đặc tính của việc cử hành Thánh Thể (x 1Cor 11:26), đó là câu ‘cho đến khi Chúa lại đến’. Thánh Thể là một vươn rộng kéo dài tới đích điểm, là một tiên hưởng niềm vui trọn vẹn như Chúa Kitô hứa hẹn (x Jn 15:11); Thánh Thể là tiên vọng được thừa hưởng nước trời một cách nào đó, là ‘một bảo chứng cho vinh quang mai hậu’ (Solemnity of the Body and Blood of Christ, Second Vespers, Antiphon to the Magnificat). Thánh Thể chất chứa tất cả những ǵ là tin tưởng đợi trông ‘với một niềm hân hoan hy vọng về việc tái giáng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế của chúng ta’ (Missale Romanum, Embolism following the Lord's Prayer). Những ai được Chúa Kitô dưỡng nuôi bằng Thánh Thể không cần phải đời chờ cho đến đời sau mới thừa hưởng sự sống trường sinh, v́ họ đă chiếm hữu được sự sống này ngay trên trần gian, như là những hoa trái đầu mùa của một t́nh trạng toàn măn mai hậu, một t́nh trạng sẽ làm cho con người nên hoàn thành trọn vẹn. V́ nơi Thánh Thể, chúng ta cũng có cả bảo chứng về việc phục sinh của thân xác vào ngày tận thế: ‘Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi th́ có sự sống đời đời, và Tôi sẽ làm cho họ sống lại trong ngày sau hết’ (Jn 6:54). Lời bảo chứng cho việc sống lại sau này ấy phát xuất từ sự kiện là xác thịt của Con Người được ban hiến như lương thực, là thân thể của Người ở trong t́nh trạng vinh hiển sau cuộc phục sinh. Lănh nhận Thánh Thể là chúng ta thực sự tiêu hóa ‘cái bí mật’ của việc phục sinh vậy”.

 

Cũng trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, ở khoản số 58, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II c̣n lập lại chiều kích cánh chung của Mầu Nhiệm Thánh Thể liên quan đến Mẹ Maria nói chung và Ca Vịnh Ngợi Khen của Mẹ nói riêng như sau:

 

• “Ca Vịnh Ngợi Khen c̣n phản ảnh cả chiều kích cánh chung của Thánh Thể nữa. Mọi lần Con Thiên Chúa lại đến với chúng ta nơi ‘cảnh bần cùng’ của các h́nh thể bí tích là bánh và rượu th́ các hạt giống của một gịng lịch sử mới lại được đâm rễ vào thế giới này, một lịch sử mà kẻ quyền năng ‘bị hạ xuống khỏi ngai ṭa của ḿnh’ và ‘những ai thấp hèn được nâng lên’ (cf. Lk 1:52). Mẹ Maria hát lên bài ca vịnh về ‘trời mới’ và ‘đất mới’ là những ǵ thể hiện nơi Thánh Thể việc trông ngóng của chúng, và ở một nghĩa nào đó, cả chương tŕnh và dự án của chúng nữa”.

 

Chiều Kích Cánh Chung của Mầu Nhiệm Thánh Thể nơi Thánh Lễ được thể hiện và báo trước ngay nơi việc truyền phép, ngay khi Thánh Thần xuống thánh hóa lễ vật bằng lời truyền phép của vị chủ tế. Bởi v́, ngay lúc ấy, ngay lúc bánh và rượu là hoa mầu ruộng đất và lao công của con người được biến thể thành Ḿnh Thánh và Máu Thánh Chúa Kitô Phục Sinh.

 

Đúng thế, Chúa Giêsu Thánh Thể thông ban Sự Sống Hiệp Thông cho Kitô hữu chi thể của Người để họ được “sự sống viên măn hơn”, một sự sống trường sinh của thành phần sống cho Vị “Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống” (Lk 20:38).

 

Thế nhưng, Sự Sống Hiệp Thông đây không phải chỉ là sự sống giữa cá nhân Kitô hữu với Chúa Giêsu Thánh Thể họ Hiệp Lễ, mà là Sự Sống Hiệp Thông với Chúa Giêsu trong Giáo Hội là Nhiệm Thể của Người, cả Giáo Hội trần thế, lẫn Giáo Hội hiển vinh trên trời với Giáo Hội thanh tẩy trong luyện h́nh. Đó là lư do trong Phần Hiến Lễ, ở đoạn cuối, Kinh Nguyện Thánh Thể đă bao gồm cả Giáo Hội tam diện này, thứ tự (theo Kinh Nguyện Thánh Thể III) là Giáo Hội thiên quốc (qua việc xin Thánh Mẫu và các thánh chuyển cầu), rồi tới Giáo Hội lữ hành (qua việc cầu cho đích danh Đức Thánh Cha và vị Giám Mục địa phương cũng như hàng giáo phẩm toàn cầu), và Giáo Hội thanh luyện (qua việc cầu cho các linh hồn đă ra đi).

 

Ngoài ra, Sự Sống Hiệp Thông Kitô hữu nhận lănh trong Thánh Lễ qua việc Hiệp Lễ là một sự sống viên măn, tức sự sống đầy những hoa trái cứu độ của Chúa Kitô, một sự sống nơi Thân Nho Chúa Kitô cần phải làm sao để cũng trổ sinh muôn vàn hoa trái nơi từng Cành Nho Kitô hữu. Bởi thế, Sự Sống Hiệp Thông Thánh Thể đây liên quan đến cả việc tông đồ truyền giáo nữa, tức liên quan đến việc để làm sao cho thế gian nhận biết Chúa Kitô, và nhờ đó cũng được thông dự vào Sự Sống Hiệp Thông này, đúng như ước nguyện của Chúa Giêsu trong Lời Nguyện Hiến Tế kết Bữa Tiệc Ly: “Con sống trong họ, Cha sống trong Con, để sự hiệp nhất của họ được trọn vẹn. Nhờ đó thế gian nhận biết rằng Cha đă sai Con và Cha đă yêu thương họ như đă thương yêu Con” (Jn 17:23).

 

Hai khía cạnh hiệp thông Giáo Hội và tông đồ truyền giáo trên đây của Mầu Nhiệm Thánh Thể nơi việc Cử Hành Thánh Lêă đă được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đề cập đến trong Tông Thư về Năm Thánh Thể “Xin Chúa Ở Với Chúng Con” ở Chương III (Thánh Thể là Nguồn Mạch và là Biểu Hiện của Hiệp Thông, đặc biệt ở khoản số 19 và 20) và ở Chương IV (Thánh Thể là Nguyên Lư và là Dự Án ‘Truyền Giáo’, đặc biệt ở khoản số 24 và 25).

 

Thánh Thể là Nguồn Mạch và là Biểu Hiện của Hiệp Thông

 

• “Khi các môn đệ đi Emmau xin Chúa Giêsu hăy ở ‘với’ các vị, Người đă đáp lại bằng việc ban cho họ một tặng ân c̣n cao trọng hơn thế nữa, đó là, nhờ Bí Tích Thánh Thể, Người t́m được cách để ở ‘trong’ các vị. Nhận lănh Thánh Thể tức là đi vào mối hiệp thông sâu xa với Chúa Giêsu. ‘Các con hăy ở trong Thày như Thày ở trong các con’ (Jn 15:4). Mối liên hệ về việc ‘ở’ với nhau một cách sâu xa này cho chúng ta được nếm hưởng trước thiên đường ngay trên trần gian này. Đó không phải là điều ước mong lớn lao nhất của con người hay sao? Đó không phải là những ǵ Thiên Chúa đă nghĩ đến khi Ngài thực hiện trong lịch sử dự án cứu độ của Ngài hay sao? Thiên Chúa đă gieo vào tâm can con người một ‘nỗi đói khát’ Lời của của Ngài (x Am 8:11), một nỗi đói khát chỉ được thỏa nguyện chỉ khi nào được hoàn toàn hiệp nhất với Ngài mà thôi. Chúng ta có thể ‘thỏa măn’ Thiên Chúa ngay trên trái đất này nơi mối hiệp thông Thánh Thể được ban cho chúng ta đây, với niềm khát vọng được hoàn toàn măn nguyện trên cơi thiên cung”. (khoản số 19)

 

• “Sự liên kết đặc biệt này nơi ‘mối hiệp thông’ Thánh Thể không thể hiểu được một cách đầy đủ hay cảm nghiệm thấy một cách trọn vẹn ngoài mối hiệp thông Giáo Hội. Tôi đă nhấn mạnh đến điều này nhiều lần trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể Ecclesia de Eucharistia. Giáo Hội là Thân Ḿnh của Chúa Kitô: chúng ta tiến bước ‘với Chúa Kitô’ ở chỗ chúng ta liên kết ‘với thân thể của Người’. Chúa Kitô đă thiết lập và làm phát triển mối hiệp nhất này bằng việc tuôn đổ Thánh Linh của Người xuống. Và chính Người liên lỉ xây dựng mối hiệp nhất ấy bằng sự hiện diện Thánh Thể của Người. Chính tấm bánh Thánh Thể duy nhất làm cho chúng ta nên một thân thể duy nhất, v́ ‘chúng ta tất cả cùng tham phần vào một tấm bánh duy nhất’ (1Cor 10:17). Nơi mầu nhiệm Thánh Thể, Chúa Giêsu muốn xây dựng Giáo Hội như là một mối hiệp thông, theo khuôn mẫu tối hậu đă được Người nói lên trong lời nguyên tư tế của Người: ‘Như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha, để họ cũng được ở trong Chúng Ta, hầu thế gian tin rằng Cha đă sai Con’ (Jn 17:21)”. (khoản số 20)

 

Thánh Thể là Nguyên Lư và là Dự Án ‘Truyền Giáo’

 

• “Hai môn đệ đi Emmau, khi nhận ra Chúa, ‘liền lập tức lên đường’ (x Lk 24:33), để tường tŕnh những ǵ các vị đă thấy và đă nghe. Một khi chúng ta đă thực sự gặp gỡ Đấng Phục Sinh bằng việc tham phần vào ḿnh máu của Người th́ chúng ta không thể giữ lấy cho ḿnh niềm vui chúng ta cảm nghiệm thấy. Việc gặp gỡ Chúa Kitô, liên lỉ được tăng phát và vững mạnh qua Thánh Thể, làm phát sinh trong Giáo Hội cũng như nơi mỗi Kitô hữu lời hiệu triệu thúc bách thực hiện việc làm chứng từ và truyền bá phúc âm hóa. Tôi đă nhấn mạnh đến điều này trong bài giảng loan báo Năm Thánh Thể, dựa theo lời của Thánh Phaolô: ‘Mỗi lần anh em ăn bánh này và uống chén ấy là anh em loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi Người lại đến’ (1Cor 11:26). Vị Tông Đồ này chặt chẽ liên kết bữa ăn với việc loan báo, v́ việc tham dự vào mối hiệp thông với Chúa Kitô để tưởng niệm Cuộc Vượt Qua của Người cũng có nghĩa là cảm thức được nhiệm vụ cần phải trở nên một thừa sai truyền giáo cho biến cố được hiện thực theo lễ nghi này (Cf. Homily for the Solemnity of the Body and Blood of Christ [10 June 2004]: L'Osservatore Romano, 11-12 June 2004, p.6). Việc giải tán ở cuối mỗi Thánh Lễ là việc ủy thác trách nhiệm cho Kitô hữu, kêu gọi hăy hoạt động để truyền bá Phúc Âm và làm cho xă hội thấm nhiễm các giá trị Kitô giáo”. (khoản số 24)

 

• “Thánh Thể chẳng những cung ứng sức mạnh nội tâm cần thiết cho sứ vụ truyền giáo này, mà c̣n, ở một nghĩa nào đó, chính là dự án của sứ vụ truyền giáo nữa. V́ Thánh Thể là một kiểu cách hiện hữu được truyền từ Chúa Giêsu đến mỗi Kitô hữu là thành phần nhờ chứng từ của họ mà việc hiện hữu ấy được tràn lan khắp xă hội và văn hóa. Để điều này được thực hiện, mỗi một phần tử thuộc thành phần tín hữu, bằng việc suy niệm chung riêng, cần phải ḥa hợp với những giá trị được Thánh Thể diễn đạt, với những thái độ được Thánh Thể soi động, với những quyết định được Thánh Thể tác động”. (khoản số 25)

 

Thế nhưng, cũng chính v́ Mầu Nhiệm Thánh Thể là Sự Sống Hiệp Thông liên quan đến Giáo Hội nên cũng liên quan tới cả vấn đề Đại Kết Kitô Giáo, một vấn đề đang nhắm đến mục tiêu hiệp nhất một cách trọn vẹn, ở chỗ tất cả Kitô hữu được chung dự cùng một bàn tiệc Thánh Thể và một cách hữu h́nh, ở chỗ chỉ có một chủ chiên duy nhất đại diện Chúa Kitô thừa kế Thánh Phêrô. Về vấn đề Mầu Nhiệm Thánh Thể với vấn đề Đại Kết Kitô Giáo liên quan tới việc cử hành phụng vụ nói chung và Thánh Lễ nói riêng, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă xác định những vấn đề cần phải tuân giữ về phụng vụ, ở khoản số 44, 45 và 46 trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thế thứ tự sau đây:

 

• “Chính v́ mối hiệp nhất ấy của Giáo Hội, một mối hiệp nhất được Thánh Thể thể hiện bằng hiến tế của Chúa cũng như bằng việc rước lấy ḿnh máu Người, mà nhất định cần phải hoàn toàn hiệp thông nơi những liên hệ về việc tuyên xưng đức tin, về các bí tích cũng như về việc quản trị giáo hội, chứ không thể cùng nhau cử hành cùng một phụng vụ Thánh Thể cho đến khi các liên hệ ấy được hoàn toàn tái thiết lập. Bất cứ việc đồng cử hành nào như thế đều không phải là phương tiện tác hiệu, mà c̣n trở thành một ngăng trở, cho việc đạt đến mối hiệp thông trọn vẹn, v́ hành động ấy làm suy yếu đi cảm quan về khoảng cách chúng ta đang ở trước mục tiêu này, cũng như v́ hành động ấy gây ra hay tăng thêm những mập mờ liên quan đến một trong những sự thật của đức tin. Con đường tiến đến mối hiệp nhất trọn vẹn chỉ có thể được thực hiện trong chân lư mà thôi. Về phương diện này, những vấn đề cấm đoán theo luật lệ Giáo Hội không hề có ǵ là mập mờ cả (Cf. Code of Canon Law, Canon 908; Code of Canons of the Eastern Churches, Canon 702; Pontifical Council for the Promotion of Christian Unity, Ecumenical Directory, 25 March 1993, 122-125, 129-131: AAS 85 [1993], 1086-1089; Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter Ad Exsequendam, 18 May 2001: AAS 93 [2001], 786), mà hoàn toàn hợp với qui tắc về luân lư đă được Công Đồng Chung Vaticanô II phác họa (“Divine law forbids any common worship which would damage the unity of the Church, or involve formal acceptance of falsehood or the danger of deviation in the faith, of scandal, or of indifferentism”: Decree on the Eastern Catholic Churches Orientalium Ecclesiarum, 26)”.

 

• “Tuy không bao giờ được phép đồng cử hành trong t́nh trạng chưa hiệp thông trọn vẹn, nhưng vẫn được phép ban Thánh Thể ở các trường hợp đặc biệt cho những người thuộc về các Giáo Hội hay các Cộng Đồng Giáo Hội chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo. Thật vậy, trong trường hợp này, mục đích là để đáp ứng nhu cầu thiêng liêng hệ trọng liên quan đến phần rỗi đời đời của cá nhân người tín hữu, chứ không phải là để thể hiện một thứ liên hiệp thông là những ǵ vẫn c̣n bất khả cho đến khi những mối liên hệ hữu h́nh thuộc mối hiệp thông giáo hội hoàn toàn được tái thiết. Đó là phương sách của Công Đồng Chung Vaticanô II, khi công đồng này nêu lên những hướng dẫn để đáp ứng các Kitô Hữu Đông Phương v́ ḷng ngay phân ly với Giáo Hội Công Giáo, thành phần tự ư muốn xin lănh nhận Thánh Thể từ một thừa tác viên Công Giáo và đă dọn ḿnh xứng đáng (Decree on the Eastern Catholic Churches Orientalium Ecclesiarum, 27). Phương sách này sau đó đă được chuẩn nhận bởi cả hai bộ Giáo Luật là những bộ luật cũng để ư tới, với những điều chỉnh cần thiết, trường hợp các Kitô Hữu không phải là Kitô Hữu Đông Phương chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo nữa (Cf. Code of Canon Law, Canon 844, 3-4; Code of Canons of the Eastern Churches, Canon 671, 3-4)”.

 

• “Trong Thông Điệp Ut Unum Sint, Tôi đă bày tỏ cảm nhận riêng của Tôi đối với những qui tắc ấy, những qui tắc đă có thể góp phần vào việc ban phát ơn cứu độ cho những linh hồn có một nhận thức xứng hợp: ‘Thật là vui mừng khi nhận thấy rằng các vị thừa tác viên Công Giáo, trong những trường hợp đặc biệt, có thể ban bí tích Thánh Thể, Thống Hối và Xức Dầu Bệnh Nhân cho các Kitô hữu chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo nhưng lại là những người hết sức muốn lănh nhận các bí tích ấy, tự động xin lănh nhận các bí tích này và bày tỏ đức tin như Giáo Hội Công Giáo tuyên xưng liên quan đến các bí tích ấy. Ngược lại, trong các trường hợp đặc biệt và trong các hoàn cảnh riêng biệt, những người Công Giáo cũng có thể xin lănh nhận các bí tích ấy từ những vị thừa tác viên thuộc các Giáo Hội thật sự có những bí tích này’ (No. 46: AAS 87 [1995], 948). Những điều kiện ấy, những điều kiện bất khả châm chước, cần phải được cẩn thận tôn trọng, cho dù được áp dụng cho những trường hợp đặc biệt riêng, v́ nếu chối bỏ một hay những sự thật đức tin liên quan đến các bí tích này, trong đó, có cả sự thật liên quan tới nhu cầu thuộc chức linh mục thừa tác trong việc ban phát thành hiệu các bí tích này, khiến cho người xin lănh nhận các bí tích ấy không hội đủ điều kiện xứng hợp để được phép lănh nhận. Ngược lại cũng thế, những người Công Giáo không được rước lễ nơi những cộng đồng không có bí tích Truyền Chức Thánh thật sự (Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Decree on Ecumenism Unitatis Redintegratio, 22)”.
 

 

Thánh Thể

là tưởng niệm các việc toàn năng của Thiên Chúa

 

“’Tác động tưởng nhớ’ là ‘mang đến cho cơi ḷng’ theo kư ức và cảm t́nh, song nó cũng là việc cử hành một sự hiện diện nữa. ‘Chỉ có một ḿnh Thánh Thể, việc tưởng niệm thực sự mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô, mới có khả năng làm cho việc tưởng nhớ đến t́nh yêu của Người tồn tại mà thôi. V́ thế, Thánh Thể là việc Giáo Hội âm thầm tỉnh thức, bằng không, không có hiệu năng thần linh của niềm hứng khởi liên tục rất ngọt ngào này, không có quyền năng thấm nhập của ánh mắt Vị Hôn Phu gắn nh́n ḿnh, Giáo Hội rất dễ bị rơi vào quên lăng, vô cảm và bất trung” (Tông Thư Patres Ecclesiae, III: Ench. Vat., 7, 33). Lời mời gọi tỉnh thức này làm cho các phụng vụ Thánh Thể vươn tới việc Chúa đến sau hết, tới việc Giêrusalem trên trời xuất hiện. Nơi Thánh Thể, Kitô hữu phát triển niềm hy vọng được vĩnh viễn gặp gỡ Chúa của ḿnh”.

 

(ĐTC GPII: bài Giáo Lư 25 “Thánh Thể là tưởng niệm các việc toàn năng của Thiên Chúa”, đoạn 5, trong loạt bài trong Đại Năm Thánh 2000, Thứ Tư 4/10/2000; trích dịch từ Tuần san L’Osservatore Romano,

ấn bản Anh ngữ, 11/10/2000)