“Đâu có Thiên Chúa đấy có tương lai”

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI Tông Du Đức quốc 22-25/9/2011

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

tổng hợp và chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2011/index_germania_en.htm

trừ bài phỏng vấn đầu tiên theo Zenit

  (những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)

 

 

Trả lời phỏng vấn của phóng viên báo chí trên chuyến bay sang Đức sáng Thứ Năm 22/9

 

“Người ta có thể tái nhận thức về đặc tính chuyên biệt của việc là Giáo Hội, dân tộc của tất cả mọi dân tộc, dân Chúa, để nhờ đó cũng biết chịu đựng các thứ gương mù và hoạt động chống lại các thứ gương xấu ấy, thực sự làm thành cái mạng lưới to lớn này của Chúa”. 

 

Hỏi: Tâu Đức Thánh Cha, xin cho chúng con được mở đầu bằng một câu hỏi rất riêng tư. Đức Thánh Cha vẫn còn cảm thấy mình là người Đức tới đâu? Những khía cạnh nào Đức Thánh Cha vẫn còn thấy được – có lẽ không gia tăng cho lắm – cái ảnh hưởng bởi gốc gác Đức quốc của mình?

 

Đáp: Holderlin có lần đã nói: “Cái ảnh hưởng lớn nhất là cuộc sinh ra của người ta”, và dĩ nhiên tôi cũng cảm thầy như thế. Tôi được sinh ra ở Đức và người ta không thể và không được mất gốc. Tôi đã được huấn luyện về văn hóa ở Đức, ngôn ngữ của tôi là Đức – và ngôn ngữ là cách thức sống động và tác hành của tinh thần – và tất cả việc hình thành về văn hóa của tôi diễn ra ở môi trường ấy. Khi tôi đi làm thần học, tôi đã làm việc này theo cách thực nội tại tôi học được ở các Đại học đường Đức quốc, và, rất tiếc, tôi phải thú nhận rằng tôi tiếp tục đọc nhiều sách bằng Đức ngữ hơn các thứ ngôn ngữ khác. Vì thế, theo lối sống của mình, việc tôi là người Đức là những gì rất mãnh liệt. Việc thuộc về lịch sử của đất nước này, cùng với những gì là cao cả và hèn yếu của đất nước ấy, là những gì không thể và không được loại trừ.

 

Tuy nhiên, đối với một Kitô hữu, cần phải có thêm một yếu tố khác. Nhờ phép rửa, họ đã được tái sinh thành một dân tộc mới là dân hợp bởi tất cả mọi dân tộc, một dân bao gồm tất cả mọi dân tộc và tất cả mọi văn hóa, một dân họ thực sự thuộc về ngay giây phút đó mà vẫn không vì thế làm cho họ mất đi nguồn gốc tự nhiên của họ. Bởi thế, khi một người lãnh nhận một trách nhiệm cao cả, như trường hợp của tôi, khi tôi lãnh trách nhiệm cao cả nhất nơi dân tộc mới này, thì rõ ràng là họ đang càng ngày càng dìm sâu vào cộng đồng của Giáo Hội Công giáo, một dân tộc được làm nên bởi tất cả mọi dân tộc, một dân tộc đang trở nên sinh động và sâu xa hơn bao giờ hết, nó hình thành toàn thể cuộc sống của con người mà không vì nó mà bỏ đi quá khứ của họ. Bởi thế, tôi xin nói rằng nguồn gốc vẫn còn đó, gốc gác về văn hóa vẫn tồn tại, cũng thế với tình yêu đặc biệt và trách nhiệm riêng biệt, thế nhưng lại được hội nhập và nới rộng trong một tính chất phần tử rộng lớn hơn, trong một ‘civitas Dei – thành đô của Thiên Chúa”, như Thánh Âu Quốc Tinh nói, trong một dân tộc của tất cả mọi dân tộc là nơi tất cả chúng ta đều là anh chị em với nhau. 

 

Hỏi: Kính thưa Đức Thánh Cha, trong những năm vừa rồi đã xẩy ra tình trạng gia tăng những người bỏ Giáo Hội, một phần vì những lạm dụng tình dục trẻ em gây ra bởi các phần tử thuộc hàng giáo sĩ. Đức Thánh Cha cảm thấy ra sao về hiện tượng này? Đức Thánh Cha muốn nói gì với những ai muốn lìa bỏ Giáo Hội?

 

Đáp: Trước hết, chúng ta cần phải phân biệt lý do đặc biệt đối với cảm thức của họ trước những gương mù gây ra bởi các tội ác ấy, những tội ác đã xẩy ra trong thời gian gần đây. Tôi có thể hiểu rằng, theo chiều hướng của vấn đề này, nhất là khi họ là những người gần gũi, người ta có thể nói rằng: “Đó không phải là Giáo Hội của tôi. Đối với tôi, Giáo Hội là một quyền năng nhân bản hóa và luân lý hóa. Nếu các vị đại diện của Giáo Hội làm những gì ngược lại, tôi không thể sống với Giáo Hội này nữa”. Đây là một trường hợp đặc biệt.

 

Nói chung, những lý do thì nhiều đối với bối cảnh của tình trạng tục hóa trong xã hội của chúng ta. Tổng quan thì việc lìa bỏ này là bước cuối cùng trong một chuỗi dài xa cách Giáo Hội. Trong bối cảnh ấy, tôi nghĩ vấn đề ở đây là cần phải tự hỏi bản thân mình rằng: “Tại sao tôi ở trong Giáo Hội? Tôi ở trong Giáo Hội như ở trong một hiệp hội thể thao, một hiệp hội văn hóa v.v., trong đó tôi được thỏa đáng cho những xu hướng của tôi, để rồi nếu nó không được như vậy nữa thì tôi lìa bỏ? Hay việc tôi ở trong Giáo Hội là một cái gì đó sâu xa hơn?”

 

Tôi muốn nói rằng cần nhận biết là ở trong Giáo Hội không có nghĩa là trở thành phần tử của một hiệp hội, mà là ở trong một mạng lưới của Chúa, Đấng bắt cả cá tốt lẫn cá xấu từ giòng nước chết chóc để dẫn chúng về miền đất sự sống.

 

Có thể là trong cái mạng lưới này tôi ở với thứ cá xấu, và tôi cảm thấy khó chịu, thế nhưng thực sự ra thì tôi không ở đây cho người này hay cho người kia, mà là vì đó là cái mạng lưới của Chúa, một cái gì đó khác với tất cả mọi hiệp hội trần thế, một cái mạng lưới chạm tới nền tảng của hữu thể tôi. Khi nói với những người ấy, tôi nghĩ chúng ta cần phải xuống tận đáy của vấn đề: Giáo Hội là gì? Cái khác biệt của Giáo Hội ở chỗ nào? Tại sao tôi lại ở trong Giáo Hội, cho dù xẩy ra những gương mù khủng khiếp như thế?

 

Như thế người ta có thể tái nhận thức về đặc tính chuyên biệt của việc là Giáo Hội, dân tộc của tất cả mọi dân tộc, dân Chúa, để nhờ đó cũng biết chịu đựng các thứ gương mù và hoạt động chống lại các thứ gương xấu ấy, thực sự làm thành cái mạng lưới to lớn này của Chúa.

 

Hỏi: Đây không phải là lần đầu tiên có những nhóm người bày tỏ sự chống đối của họ về việc Đức Thánh Cha đến một xứ sở nào đó. Thedo truyền thống thì mối liên hệ của Đức quốc với Rôma là một mối liên hệ bị chỉ trích phê phán, một phần xẩy ra ngay trong môi trường của chính người Công giáo. Những đề tài tranh luận vốn xẩy ra vào một lúc nào đó như vấn đề bọc cao su làm tình an toàn, Thánh Thể, độc thân linh mục. Trước chuyến tông du của Đức Thánh Cha, thậm chí có cả những nghị viên quốc hội đã có những chủ trương chỉ trích ấy. Thế nhưng, trước chuyến tông du của Đức Thánh Cha đến Hiệp Vương Quốc bầu không khí cũng không có vẻ gì là thân thiện, mọi sự lại trở thành tốt đẹp. Đức Thánh Cha đã có những cảm nhận ra sao khi thực hiện chuyến tông du này về quê hương cũ của Đức Thánh Cha và ngỏ lời cùng dân Đức quốc?

 

Đáp: Trước hết, tôi xin nói là ở một xã hội tự do và trong một thời điểm tục hóa thì tình trạng xẩy ra những chống đối việc viếng thăm của vị Giáo Hoàng là chuyện bình thường. Họ có quyền bày tỏ cho tất cả mọi người thấy việc chống đối của họ: nó thuộc về quyền tự do của chúng ta và chúng ta cần phải nhìn nhận rằng chủ nghĩa thế tục, và nhất là việc chống lại Công giáo là những gì mạnh mẽ ở các xã hội chúng ta. Khi việc chống đối này được bày tỏ một cách dân sự thì không gì có thể trách móc họ được. Ngoài ra, vị Giáo Hoàng cũng thật sự nhận được rất nhiệu lòng cảm mến và rất nhiều niềm kính yêu. 

 

Ở Đức quốc có một số chiều kích về tình trạng chống đối này: đó là vấn đề chống đối xa xưa giữa văn hóa Đức quốc và văn hóa Rôma, những va chạm về lịch sử. Hơn thế nữa, chúng ta đang ở trong một xứ sở của Phong Trào Cải Cách, một phong trào đã nhấn mạnh đến những thứ khác biệt ấy. Thế nhưng, cũng có cả một đồng thuần lớn lao về đức tin Công giáo, một niềm xác tín gia tăng là trong thời điểm của mình chúng ta cần đến một quyền lực về luân lý. Chúng ta đang cần đến sự hiện diện của Thiên Chúa trong thời điểm của chúng ta.

 

Cùng với vấn đề chống đối là những gì tôi nghĩ là bình thường, còn có nhiều người đang hân hoan đợi chờ tôi, những người mong chờ một cuộc cử hành đức tin, được qui tụ lại với nhau, niềm vui của việc nhận biết Thiên Chúa và cùng nhau sống trong một tương lai có Thiên Chúa lấy tay dẫn dắt chúng ta và chỉ cho chúng ta thấy đường đi nước bước. Vì vậy, tôi hân hoan đến với Đức quốc của mình và tôi cảm thấy hạnh phúc được mang sứ điệp của Chúa Kitô đến cho đất nước của tôi. 

 

Hỏi: Một câu hỏi cuối cùng. Tâu Đức Thánh Cha, Đức Thánh Cha sẽ đến viếng thăm Erfurt là tu viện cổ của nhà cải cách Martin Luther. Anh chị em Kitô hữu Tin Lành và anh chị em Công Giáo đối thoại với họ đang sửa soạn tưởng niệm 500 năm phong trào Cải Cách. Đức Thánh Cha đang sửa soạn cho cuộc gặp gỡ này với sứ điệp ra sao, bằng những ý nghĩ như thế nào? Chuyến tông du này phải chăng được hiểu như là một cử chỉ huynh đệ với những người anh chị em ly khai Rôma?

 

Đáp: Khi tôi chấp nhận lời mời để thực hiện chuyến tông du này thì đối với tôi hiển nhiên là vấn đề đại kết với những người bạn Tin Lành của chúng ta là những gì cần phải trở thành điểm chính yếu và mạnh mẽ của chuyến hành trình ấy. Chúng ta sống trong một thời điểm của chủ nghĩa thế tục, như tôi đã nói, một thời điểm mà Kitô hữu có sứ vụ hiện thực hóa sứ điệp của Thiên Chúa cùng với sứ điệp của Chúa Kitô, sứ vụ khả dĩ hóa niềm tin, sứ vụ thẳng tiến với những ý nghĩ cao cả này, với sự thật. Có thế, cùng nhau, thành phần Công giáo và tin lành mới trở thành một yếu tố nồng cốt cho thời điểm của chúng ta, cho dù về cơ cấu chúng ta chưa hoàn toàn hiệp nhất, và thậm chí vẫn còn đó các trục trặc lớn lao, những vấn đề về nền tảng đức tin nơi Chúa Kitô, về Thiên Chúa Ba Ngôi và về con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Chúng ta cần phải liên kết và chúng ta cần phải chứng tỏ cho thế giới thấy sự hiệp nhất này cũng như đi sâu vào mối hiệp nhất ấy, một mối hiệp nhất là những gì thiết yếu trong giây phút lịch sử này.

 

Vì lý do ấy, tôi rất biết ơn những người bạn của chúng ta, những người anh chị em của chúng ta, những người anh chị em Thệ Phản, thành phần đã khả dĩ hóa một dấu hiệu rất ý nghĩa này, đó là cuộc gặp gỡ ở đan viện được Luther bắt đầu cuộc hành trình thần học của mình, là buổi cầu nguyện trong nguyện đường ông được thụ phong linh mục và cùng nhau nói về trách nhiệm của chúng ta là Kitô hữu trong thời điểm hiện nay. Tôi rất sung sướng khi có thể biểu lộ mối hiệp nhất nền tảng này, bày tỏ việc chúng ta là anh chị em với nhau, và chúng ta cùng nhau hoạt động cho thiện ích của nhân loại, loan báo sứ điệp hân hoan của Chúa Kitô, của Thiên Chúa là Đấng mang dung nhan loài người và là Đấng đang nói với chúng ta.

 

Đáp từ nghênh đón ở Bellevue Castle, Berlin, Thứ Năm 22/11/2011

“Mặc dù chuyến đi này là một chuyến viếng thăm chính thức sẽ củng cố những mối liên hệ tốt đẹp đang có giữa Công Hòa Liên Bang Đức quốc với Tòa Thánh, tôi cũng không đến đây chỉ để theo đuổi những mục đích chuyên chính trị hay kinh tế, như các chính trị gia khác, mà còn để gặp gỡ dân chúng và nói với họ về Thiên Chúa”. 

 (Video)

 

Tôi hân hạnh được anh chị em ân cần nghênh đón ở Dinh Bellevue này. Tôi đặc biệt tri ân Tổng Thống Wulff đã mời tôi thực hiện chuyến viếng thăm chính thức này, chuyến viếng thăm đánh dấu lần thứ ba tôi đến với Cộng Hòa Liên Bang Đức quốc với tư cách là Giáo Hoàng….

 

Mặc dù chuyến đi này là một chuyến viếng thăm chính thức sẽ củng cố những mối liên hệ tốt đẹp đang có giữa Công Hòa Liên Bang Đức quốc với Tòa Thánh, tôi cũng không đến đây chỉ để theo đuổi những mục đích chuyên chính trị hay kinh tế, như các chính trị gia khác, mà còn để gặp gỡ dân chúng và nói với họ về Thiên Chúa. Bởi thế, tôi hân hoan thấy được một con số đông đảo thành phần công dân Đức quốc ở nơi đây. Xin đa tạ!

 

Thưa Ngài Tổng Thống, như ngài đã đề cập tới, chúng ta đang chứng kiến thấy một tình trạng lạnh nhạt gia tăng đối với tôn giáo trong xã hội, một tình trạng coi vấn đề sự thật như là một cái gì đó trở ngại cho việc thực hiện quyết định, nên thay vào đó đặt ưu tiên cho những quan tâm có tính chất thực dụng.

 

Cũng thế, cần phải có một nền tảng ràng buộc cho cuộc chung sống của chúng ta; bằng không, người ta sống một cách thuần cá nhân. Tôn giáo là một trong những nền tảng này cho có được một đời sống xã hội thành công. “Như tôn giáo cần đến tự do thì tự do cũng cần đến tôn giáo”. Những lời này vẫn còn hợp thời từ một vị đại giám mục và là nhà cải cách xã hội Wilhelm von Ketteler, vị đang được mừng 200 năm sinh nhật của mình năm nay. (Rede vor der ersten Versammlung der Katholiken Deutschlands, 1848. In: Erwin Iserloh [ed.]: Wilhelm Emmanuel von Ketteler: Sämtliche Werke und Briefe [Mainz, 1977], I, 1, p. 18).

 

Tự do cần một đến một thứ liên kết căn bản với một đòi hỏi cao hơn. Sự kiện có những thứ giá trị không được hoàn toàn phó mặc cho việc mạo dụng là việc bảo đảm thực sự cho quyền tự do của chúng ta. Con người, thành phần cảm thấy có trách nhiệm với sự thật và sự thiện, lập tức đồng ý với điều này, đó là tự do phát triển cho một sự thiện hảo cao cả hơn chỉ trong trách nhiệm mà thôi. Sự thiện ấy chỉ hiện hữu cho tất cả mọi người chúng ta với nhau; vì thế tôi bao giờ cũng phải quan tâm tới tha nhân của tôi. Tự do không thể sống còn nếu thiếu vắng các mối liên hệ.

 

Trong cuộc chung sống của loài người, tự do là những gì bất khả nếu không có tình liên đới. Những gì tôi làm gây thiệt hại cho người khác thì không phải là tự do mà là một đường lối tác hành đáng trách tác hại kẻ khác và cuối cùng cũng tác hại chính bản thân tôi. Tôi thực sự có thể phát triển như là một con người tự do chỉ bằng việc sử dụng các khả năng của mình cho cả phúc lợi của kẻ khác nữa. Điều này chẳng những đúng với những vấn đề riêng tư mà còn cho toàn thể xã hội nữa. Theo nguyên tắc phụ trợ này, xã hội cần phải cung cấp chỗ đứng đầy đủ cho những cơ cấu tổ chức bé nhỏ hơn để phát triển, và đồng thời, cần phải nâng đỡ họ để một ngày kia họ có thể tự mình đứng vững.

 

…. Cộng Hòa Liên Bang Đức Quốc đã trở nên những gì ngày nay nhờ quyền năng của tự do đã được hình thành nhờ trách nhiệm trước Thiên Chúa cũng như trước nhau. Nó cần đến năng lực này, một năng lực bao gồm hết mọi lãnh vực của loài người để tiếp tục phát triển cho đến nay. Nó cần đến năng lực ấy trong một thế giới cần đến một cuộc căn tân sâu xa về văn hóa cũng như cuộc tái nhận thức những thứ giá trị căn bản làm nền tảng cho một tương lai tốt đẹp hơn (Caritas in Veritate, 21).

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2011/september/documents/hf_ben-xvi_spe_20110922_welcome-berlin_en.html

 

 

 

 

Diễn từ với quốc hội ở Reichstag Building, Berlin Thứ Năm 22/9/2011

 

“Lời mời cho buổi thuyết trình này được gửi đến tôi với tư cách là Giáo Hoàng, với tư cách là Giám Mục Rôma, vị mang trọng trách cao cả nhất đối với Kitô hữu Công giáo. Khi ngỏ lời mời này quí vị đang nhìn nhận vai trò được Hội Thánh nắm giữ như là một đồng bạn trong cộng đồng của các dân tộc cũng như các quốc gia. Khởi đi từ trách nhiệm quốc tế tôi đang nắm giữ này, tôi cần phải trình bày cùng quí vị một vài tư tưởng về các nền tảng của một thứ free state of law”.

  

 (Video)

 

Ngài Tổng Thống Cộng Hòa Liên Bang,

Ông Chủ Tịch the Bundestag,

Bà Chưởng Ấn,

Bà Chủ Tịch the Bundestag,

Quí Vị Tôn Nữ Tôn Nam Phần Tử Quốc Hội,

 

Thật là một vinh dự và là một niềm vui cho tôi được nói trước tòa nhà đặc biệt này, trước Quốc Hội của đất nước Đức quốc bản xứ của tôi, một quốc hội gặp gỡ nơi đây như là một thứ đại diện được bầu chọn theo dân chủ cho nhân dân, để hoạt động cho thiện ích của Cộng Hòa Liên Bang Đức quốc. Tôi cần phải cảm ơn Ông Chủ Tịch the Bundestag cả về việc mời tôi ngỏ lời lẫn những lời tốt đẹp chào đón và cảm nhận để nghênh đón tôi. Vào lúc này đây, tôi hướng đến quí vị, những vị tôn nữ tôn nam, ít là như một người đồng hương của anh chị em, một con người suốt cả cuộc đời của mình vẫn hằng ý thức về những liên hệ mật thiết với nguồn gốc của mình, và vẫn rất chú trọng theo dõi những sinh hoạt của Đức quốc bản xứ cũa mình. Thế nhưng, lời mời cho buổi thuyết trình này được gửi đến tôi với tư cách là Giáo Hoàng, với tư cách là Giám Mục Rôma, vị mang trọng trách cao cả nhất đối với Kitô hữu Công giáo. Khi ngỏ lời mời này quí vị đang nhìn nhận vai trò được Hội Thánh nắm giữ như là một đồng bạn trong cộng đồng của các dân tộc cũng như các quốc gia. Khởi đi từ trách nhiệm quốc tế tôi đang nắm giữ này, tôi cần phải trình bày cùng quí vị một vài tư tưởng về các nền tảng của một thứ free state of law.

 

Xin cho phép tôi được bắt đầu những chia sẻ của tôi về các nền tảng của luật pháp [Recht] bằng một câu truyện ngắn trong Thánh Kinh. Ở Sách Chư Vương Quyển Thứ Nhất, câu truyện được thuật lại rằng Thiên Chúa đã cho vị Vua trẻ Solomon, trong cuộc lên ngôi của mình, được bày tỏ một yêu cầu. Nhà cầm quyền trẻ trung này sẽ ngỏ ý xin gì vào giây phút quan trọng ấy? Thành đạt ư? – giầu sang – trường thọ – tiêu diệt các quân thù ư? Ông đã không chọn điều gì trong các sự ấy. Thay vào đó, ông xin có được một con tim biết lắng nghe nhờ đó ông có thể cai trị dân Chúa, và nhận thức được lành dữ (cf 1Kgs 3:9). Qua câu truyện này, Thánh Kinh muốn nói với chúng ta những gì quan trọng nhất đối với một chính trị gia. Tiêu chuẩn nồng cốt và động lực hoạt động của họ với tư cách là một chính trị gia không được là vấn đề thành đạt, và chắc chắn không phải là những chiếm đạt về vật chất. Chính trị cần phải là một nỗ lực cho công lý, và vì thế nó phải tạo nên những điều kiện tiên quyết căn bản cho hòa bình. Dĩ nhiên là một chính trị gia sẽ tìm kiếm thành công mà thiếu nó họ sẽ không tạo được cơ hội cho hoạt động chính trị hiệu năng của mình gì hết. Tuy nhiên thành công cần phải phụ thuộc vào qui chuẩn của công lý, vào ý muốn thực hiện những gì là đúng đắn, cũng như vào sự hiểu biết về những gì là đúng. Thành công cũng có thể là những gì lôi cuốn và vì thế nó có thể mở đường dẫn đến việc sai lầm hóa những gì là đúng đắn, dẫn đến chỗ hủy hoại công lý. “Không có công lý – một Quốc Gia không còn là gì khác hơn là một đại băng đảng trộm cướp?” như Thánh Âu Quốc Tinh đã từng nói. Dân Đức quốc chúng ta, theo kinh nghiệm của mình, biết rằng những lời lẽ ấy không phải là thứ ám ảnh mung lung. Chúng ta đã từng thấy quyền lực đã tách biệt khỏi quyền lợi ra sao, quyền lực chống lại quyền lợi và chà đạp quyền lợi ra sao, để rồi Quốc Gia đã trở thành một khí cụ hủy diệt quyền lợi – một băng đảng trộm cướp được tổ chức cao tay, có khả năng đe dọa toàn thế giới và đẩy thế giới đến bờ vực thẳm. Việc phục vụ quyền lợi và việc chống lại cái thống trị của những gì là sai lầm là và mãi là công việc chính yếu của chính trị gia. Ở vào một thời điểm lịch sử khi mà con người nắm được quyền lực chưa từng có từ trước, thì công việc này lại càng trở thành  đặc biệt khẩn trương. Con người có thể hủy hoại thế giới. Con người có thể mạo dụng chính bản thân mình. Có thể nói họ có thể tạo nên con người và họ có thể chối bỏ nhân tính con người. Chúng ta làm sao để có thể nhật ra những gì là đúng đắn đây? Làm sao chúng ta có thể nhận thức giữa thiện và ác, giữa những gì thực sự là đúng và những gì có vẻ như đúng? Thậm chí cho đến nay những gì vua Solomon xin vẫn là vấn đề quyết liệt đối với các chính trị gia và lãnh vực chính trị ngày nay.

 

Đối với hầu hết các vấn đề cần được luật pháp qui định thì vấn đề hỗ trợ của thành phần đa số có thể trở thành như là một qui tắc thích đáng. Tuy nhiên, hiển nhiên là đối với các vấn đề nền tảng của pháp luật, trong đó phẩm giá của con người và của nhân tính đang bị nguy nan, thì nguyên tắc đa số vẫn chưa đủ: hết mọi người ở trong vị thế có trách nhiệm đều phải đích thân tìm kiếm các thứ qui tắc cần phải tuân theo khi hình thành luật pháp. Ở vào thế kỷ thứ ba, đại thần học gia Origen đã đưa ra lời dẫn giải sau đây về việc chống lại Kitô hữu đối với một số guồng máy pháp luật: “Giả sử một người đang sống giữa những người dân Scythians là dân có luật pháp ngược lại với lề luật thần linh, và bị bắt buộc phải sống giữa họ… thì người này, vì lề luật đích thực, cho dù bất hợp lệ nơi dân Scythians, cũng được quyền thành lập các hiệp hội với thành phần đồng chí ngược lại với các thứ luật pháp của người dân Scythians” (Contra Celsum, Book 1, Chapter 1. Cf. A. Fürst, “Monotheismus und Monarchie. Zum Zusammenhang von Heil und Herrschaft in der Antike”, Theol.Phil. 81 [2006], pp. 321-338, quoted on p. 336; cf. also J. Ratzinger, Die Einheit der Nationen. Eine Vision der Kirchenväter [Salzburg and Munich, 1971], p. 60).

 

Niềm xác tín này là nhữrng gì đã tác động các phong trào phản kháng để hoạt động chống lại chế độ Nazi cũng như các chế độ độc tài chuyên chế khác, nhờ đó đã giúp ích rất nhiều cho công lý cũng như cho nhân loại nói chung. Đối với những người này thì vấn đề hiển nhiên bất khả phủ nhận đó là thứ luật lệ hiện hành ấy thực sự là những gì phi pháp. Tuy nhiên khi một chính trị gia dân chủ cần phải quyết định thì vấn đề về những gì bấy giờ thích hợp với lề luật của sự thật, những gì thực sự là đúng và có thể ban hành thành luật, thì lại không rõ ràng là bao nhiêu. Theo chiều hướng của những vấn đề nhân loại học đặc biệt thì những gì là đúng và có thể trở thành hiệu lực theo pháp luật thì ngày nay không còn đơn thuần hiển nhiên nữa. Vấn đề làm thế nào để nhận biết cái gì thực sự là đúng, nhờ đó mang lại công lý khi hình thành các thứ luật lệ không bao giờ còn là những gì giản dị nữa, và ngày nay, trước mức độ bao rộng nơi kiến thức của chúng ta cũng như khả năng của chúng ta, nó lại càng trở nên khó khăn hơn nữa.

 

Chúng ta làm thế nào để thấy được đâu là đúng? Theo lịch sử, những hệ thống luật lệ hầu hết bao giờ cũng được căn cứ vào tôn giáo: các quyết định liên quan tới những gì là hợp pháp nơi con người đều được căn cứ vào thần linh. Không như các đại tôn giáo khác, Kitô giáo không bao giờ đề ra một thứ luật được mạc khải cho Quốc Gia hay cho xã hội, tức là một lãnh vực pháp lý xuất phát từ mạc khải. Thay vào đó, Kitô giáo đã hướng tới thiên nhiên và lý trí như là các nguồn mạch chân thực của pháp luật – và hướng tới mối hòa hợp của lý trí khách quan với chủ quan, một thứ lý trí tự nhiên bao hàm cả hai lãnh vực đều bắt nguồn từ lý trí sáng tạo của Thiên Chúa. Bởi thế các thần học gia Kitô giáo đã đi theo chiều hướng của một phong trào triết lý và pháp lý được bắt đầu hình thành ở thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên. Trong bán thập niên đầu của thế kỷ này, luật lệ tự nhiên về xã hội đã được phát triển nhờ các triết gia Stoic giao tiếp với các bậc thày hàng đầu về Luật Pháp Rôma (Cf. W. Waldstein, Ins Herz geschrieben. Das Naturrecht als Fundament einer menschlichen Gesellschaft [Augsburg, 2010], pp. 11ff., 31-61). Qua cuộc gặp gỡ này, nền văn hóa pháp lý của Tây phương đã xuất phát, một thứ văn hóa đã và đang là tầm vóc then chốt cho nền văn hóa pháp lý của nhân loại. Cuộc thành hôn tiền Kitô giáo giữa pháp lý và triết lý này đã mở ra một con đường dẫn đưa qua Thời Trung Cổ Kitô giáo và những việc phát triển về pháp lý của Thời Minh Tri cho tới tận Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền cũng như tới Luật Căn Bản Đức Quốc 1949 của chúng ta, nhờ đó quốc gia của chúng ta đã dấn thân cho “các thứ nhân quyền bất khả vi phạm và bất khả phân ly như là nền tảng của hết mọi cộng đồng nhân loại cũng như của hòa bình và công lý trên thế giới”.

 

Đối với việc phát triển của luật pháp cũng như đối với việc phát triển của nhân loại thì vấn đề rất đáng chú ý đó là các thần học gia Kitô giáo đã đồng loạt chống lại luật lệ về tôn giáo có liên hệ với chủ nghĩa đa thần và thiên về triết lý, và họ đã nhìn nhận lý trí và thiên nhiên nơi mối liên hệ của chúng như là một nguồn mạch phổ quát hiệu năng của luật pháp. Bước tiến này đã được thực hiện bởi Thánh Phaolô trong Thư gửi Kitô hữu Rôma mà rằng: “Khi Dân Ngoại là thành phần không có Lề Luật (Ngũ Kinh của Do Thái) thì làm theo tự nhiên những gì luật đòi hỏi, họ là một thứ luật cho chính họ… họ chứng tỏ cho thấy rằng những gì luật lệ đòi hỏi đều được viết trong tâm can của họ, đồng thời lương tâm của họ cũng làm chứng như vậy nữa…” (Rm 2:14f). Ở đây chúng ta thấy hai quan niệm nống cốt về thiên nhiên và lương tâm, một thứ lương tâm không là gì khác hơn tấm lòng biết lắng nghe của Solomon, khác hơn  lý trí hướng về thứ ngôn ngữ của hữu thể. Nếu điều này dường như có thể giải thích rõ ràng về các nền tảng của pháp lý cho tới Thời Minh Tri, cho tới Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền sau Thế Chiến II và việc hình thành Bản Luật Căn Bản của chúng ta, thì đã xẩy ra một chuyển hướng thê thảm nơi trường hợp ở nửa thế kỷ vừa qua. Ngày nay ý nghĩ về luật tự nhiên được coi như là một thứ giáo điều chuyên biệt của Công giáo, không đáng mang ra bàn luận ở một môi trường phi Công giáo, kẻo người ta hầu như cảm thấy xấu hổ ngay cả việc đề cập tới từ ngữ này. Hãy để tôi vắn tắt tóm gọn tình trạng này đã xuất phát ra sao. Chính yếu là do ý nghĩ là có một vực thẳm không thể khỏa lấp giữa “là - is” và “phải - ought”. Cái “phải” không bao giờ xuất phát từ cái “là”, vì hai cái này ở hai lãnh vực hoàn toàn khác nhau. Lý do là vì trong lúc này thứ kiến thức về thực chứng của bản tính tự nhiên đã hầu như được phổ quát chấp nhận.  Nếu bản tính – theo lời của Hans Kelsen – được thấy như là “một tập hợp của các dữ kiện khách quan liên kết với nhau theo chiều hướng nhân quả”, thì thật sự là không có bất cứ một dấu hiệu nào về đạo lý có thể xuất phát từ bản tính tự nhiên này (Cf. Waldstein, op. cit., pp. 15-21). Một quan niệm thực chứng về thiên nhiên như thể thuần tác vụ, như các khoa học tự nhiên cho rằng nó là như thế, không có khả năng cung cấp bất cứ một nhịp cầu nối nào với đạo lý và luật lệ, thế nhưng, một lần nữa lại lại hướng chiều theo những đáp ứng tác vụ mà thôi.

 

Cũng thế nếu áp dụng vào lý trí, theo kiến thức về thực chứng được chủ trương rộng rãi chỉ là thứ kiến thức khoa học thực sự.  Bất cứ những gì bất khả kiểm chứng hay có thể sai lầm hóa thì theo kiến thức này không thuộc về lãnh giới của lý trí theo nghĩa hẹp. Vì thế, đạo lý và tôn giáo cần phải được đẩy vào lãnh vực chủ quan, và chúng vẫn là những gì ngoài lề đối với lãnh giới của lý trí theo nghĩa hẹp của ngôn từ. Ở đâu lý trí thực chứng chủ trị thứ lãnh vực loại trừ tất cả các lãnh vực khác này – và đó là trường hợp bao rộng trong tâm thức quần chúng của chúng ta – thì bấy giờ các nguồn mạch cổ xưa về kiến thức đối với đạo lý và luật pháp đều bị tẩy chay. Đó là một tình trạng thê thảm ảnh hưởng tới hết mọi người, và là một tình trạng cần đến một cuộc tranh luận công khai. Thật vậy, mục đích chính yếu của bài diễn văn này đó là để khẩn trương mời gọi khai mở cuộc tranh luận ấy.

 

Phương thức thực chứng đối với thiên nhiên và lý trí, vũ trụ quan thực chứng nói chung, là một chiều kích quan trọng của kiến thức và khả năng của con người chúng ta không thể nào bỏ qua. Thế nhưng nơi mình và tự mình nó không phải là một thứ văn hóa thích đáng với chiều rộng đầy đặn của thân phận con người. Ở đâu lý trí thực chứng cho mình là nền văn hóa thích hợp duy nhất và loại trừ đi tất cả những thực tại văn hóa khác xuống mức độ văn hóa hạ tầng, là nó làm giảm thiểu con người, thật sự là nó đe dọa nhân tính của họ. Tôi nói điều này đặc biệt chú trọng tới Âu Châu là nơi đang có những nỗ lực liên kết để nhìn nhận duy tính chất thực chứng như là một thứ văn hóa chung và là một thứ căn bản chung cho việc làm luật, giảm thiểu tất cả mọi minh thức khác và những thứ giá trị của nền văn hóa chúng ta thành mực độ nền văn hóa hạ tầng, mà hậu quả là Âu Châu so với các nền văn hóa khác trên thế giới bị rơi vào tình trạng kém văn hóa và đồng thời xuất hiện các phong trào quá khích và cực đoan để khỏa lấp đi cái trống rỗng. Nơi tính chất tự cho mình là chuyên nhất, thứ lý trí thực chứng không nhìn nhận gì khác ngoài tính chất thuần tác vụ thì giống như một chỗ chứa bằng bêtông không có cửa sổ, trong đó chính chúng ta cung cấp các điều kiện về ánh sáng và khí thở, không còn muốn tiếp nhận từ thế giới bao rộng của Thiên Chúa nữa. Nhưng chúng ta không thể che đậy được bản thân mình sự kiện là thậm chí trong thứ thế giới nhân tạo này, chúng ta vẫn lén lút rút lấy các vật liệu nguyên chất của Thiên Chúa, những gì chúng ta tái biến hóa thành các sản phẩm của riêng chúng ta. Những thứ cửa sổ này cần phải tái mở toang ra, chúng ta cần phải thấy thế giới bao rộng, thấy bầu trời và trái đất một lần nữa và học biết thích đáng sử dụng tất cả những điều ấy. 

 

Thế nhưng chúng ta làm điều này như thế nào? Chúng ta làm sao tìm đường thoát ra với thế giới bao rộng hơn, với tấm tranh to lớn hơn? Làm thế nào lý trí có thể tái nhận thức được cái cao cả của nó mà không bị chênh vênh rơi vào tình trạng vô tri? Làm thế nào thiên nhiên có thế tái nhập vào chiều sâu thực sự của nó, với tất cả những đòi hỏi của nó, với tất cả những chỉ dẫn của nó? Tôi muốn nhắc lại một trong những phát triển trong lịch sử chính trị mới đây, hy vọng rằng tôi sẽ chẳng những không bị hiểu lầm, mà còn không gây nên quá nhiều những cuộc bút chiến một chiều. Tôi muốn nói rằng cuộc xuất hiện của phong trào môi sinh ở chính trị Đức từ thập niên 1970, trong khi nó không thực sự mở toang các cửa sổ ra, nhưng đã và tiếp tục là một tiếng kêu cần đến một luống khí mới, một tiếng kêu không được coi thường hay dẹp bỏ, chỉ vì nó bị coi là vô tri quá nhiều. Giới trẻ đã đi đến chỗ ý thức được rằng một cái gì đó sai lầm trong mối liên hệ của chúng ta với thiên nhiên, rằng vấn đề không phải ở chỗ chúng ta tùy ý sử dụng vật liệu nguyên chất, mà là trái đất này có phẩm giá của nó và chúng ta cần phải tuân theo các hướng dẫn của nó. Nói như thế, tôi hoàn toàn không cổ võ bất cứ một đảng phái chính trị nào – tôi không có ý đồ gì hết. Nếu một cái gì đó sai lầm trong mối liên hệ giữa chúng ta với thực tại thì tất cả chúng ta cần phải nghiêm chỉnh suy nghĩ về tất cả tình trạng này và tất cả chúng ta đều được tác động đặt vần đề về chính nền tảng cho nền văn hóa của chúng ta. Xin cho tôi được nói thêm chút nữa về điểm này. Tầm quan trọng của vấn đề môi sinh không còn là những gì tranh cãi nữa. Chúng ta cần phải lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên và chúng ta cần phải đáp ứng một cách thích đáng. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh đến một điểm đối với tôi dường như bị khinh thường, hôm nay đây cũng như trong quá khứ: đó là cũng có cả một thứ môi sinh con người nữa. Cả con người nữa cũng có một bản tính mà họ cần phải tôn trọng và họ không được mạo dụng tùy ý. Con người không phải chỉ có thuần một thứ tự do tự tạo. Con người không tự tạo dựng nên mình. Họ có lý trí và ý muốn, thế nhưng họ cũng có cả bản tính, và ý muốn của họ có thứ tự lớp lang nếu họ biết tôn trọng bản tính của họ, biết lắng nghe nó và chấp nhận bản thân mình như họ là, như một con người không tạo dựng nên mình. Có như thế, chứ không cách nào khác, tự do đích thực của con người mới được nên trọn.

 

Chúng ta hãy trở lại với những quan niệm nồng cốt về thiên nhiên và lý trí là những gì chúng ta bắt đầu. Nhà đại xướng xuất chủ nghĩ thực chứng về pháp lý là Kelsen, ở vào tuổi 84 – năm 1965 – đã từ bỏ nhị nguyên thuyết “là” và “phải”. (Tôi thấy nó hay hay ở chỗ ý nghĩ hữu lý rõ ràng là vẫn còn khả dĩ ở vào tuổi 84!). Trước đó ông đã nói rằng các tiêu chuẩn chỉ có thể xuất phát từ ý muốn. Bởi thế, ông thêm, thiên nhiên chỉ có thể chất chứa các thứ tiêu chuẩn, nếu một ý muốn đặt các tiêu chuẩn ở đó. Thế nhưng, ông nói, điều này sẽ bao hàm một Thiên Chúa Hóa Công, Đấng đã tỏ ý muốn của mình ra nơi thiên nhiên. Ông nhận định rằng: “Bất cứ nỗ lực nào muốn bàn về chân lý của niềm tin này đều hoàn toàn phù phiếm” (Cf. Waldstein, op. cit., p. 19.). Tôi tự hỏi mình rằng “Thật sự là như vậy hay sao?” Thật sự là vô bổ để suy nghĩ là thứ lý trí khách quan biểu lộ mình nơi thiên nhiên không bao gồm một lý trí sáng tạo, một Thần Linh Sáng Tạo hay sao?

 

Đến đây thì gia sản về văn hóa của Âu Châu cần phải trợ giúp chúng ta. Niềm xác tín rằng có một vị Thiên Chúa Hóa Công là những gì làm phát xuất ra ý nghĩ về các thứ nhân quyền, ý nghĩ về bình đẳng nơi tất cả mọi dân tộc trước pháp lý, xuất phát ra việc nhìn nhận tính chất bất khả vi phạm của phẩm giá con người nơi từng con người cũng như nhận thức trách nhiệm của con người về những hành vi cử chỉ của họ. Ký ức về văn hóa của chúng ta được hình thành bởi những minh thức hữu lý này. Việc coi thường nó hay bãi bỏ nó như là một điều gì đó của quá khứ sẽ làm méo mó đi hoàn toàn nền văn hóa của chúng ta và cướp giật tính chất toàn vẹn của nó. Nền văn hóa này của Âu Châu đã xuất phát từ cuộc gặp gỡ giữa Giêrusalem, Athens và Rôma – từ cuộc gặp gỡ giữa chủ nghĩa vô thần của dân Do Thái, lý trí triết học của người Hy Lạp và luật pháp Rôma. Cuộc gặp gỡ tay ba này đã hình thành căn tính nội tại của Âu Châu. Trong việc nhận thức về trách nhiệm của con người trước Thiên Chúa cũng như trong việc nhìn nhận nhân phẩm bất khả vi phạm của từng con người, nó đã thiết lập các qui chuẩn về luật pháp: chính các qui chuẩn ấy chúng ta được kêu gọi để bênh vực vào thời điểm lịch sử của chúng ta đây.

 

Khi mặc lấy long bào, vị vua trẻ Solomon được mời gọi thực hiện một yêu cầu. Phần chúng ta thì sao nếu chúng ta là thành phần lập luật ngày nay được mời gọi để thực hiện một yêu cầu? Chúng ta sẽ xin gì đây? Tôi nghĩ rằng, thậm chí ngày nay, tối hậu vẫn không có gì khác chúng t among muốn hơn là một con tim biết lắng nghe – khả năng phân biệt lành dữ, nhờ đó thiết lập luật pháp đích thực, phục vụ công lý và hòa bình. Tôi xin cám ơn anh chị em đã lắng nghe!

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2011/september/documents/hf_ben-xvi_spe_20110922_reichstag-berlin_en.html

 

 

Với các vị đại diện thuộc Cộng Đồng Do Thái ở Reichstag Building, Berlin, Thứ Năm 22/9/2011

“Đối với Kitô hữu, không có vấn đề lịch sử cứu độ bị đứt đoạn. Việc cứu độ xuất phát từ người Do Thái (cf Jn 4:22). .. Bài Giảng trên Núi không hủy bỏ Lề Luật Moisen, mà cho thấy những khả thể tiềm tàng của nó và làm hiện lên những đòi hỏi toàn diện”.

 

(Video)

 

…

Trong cuộc viếng thăm của tôi ở Hội Đường Cologne 6 năm trước đây, Tôn Sư Teitelbaum đã nói về việc tưởng nhớ như là một trong những trụ cột cần thiết cho việc xây dựng một tương lai hòa bình. Hôm nay tôi đang ở một nơi tâm điểm của việc tưởng nhớ, một tưởng nhớ kinh hoàng chính ở nơi đây mà the Shoah, mà cuộc tru diệt đồng bào Do Thái ở Âu Châu của chúng ta đã được mưu đồ và hoạch định. Trước một  Nazi kinh khủng, đã có chừng nửa triệu người Do Thái sống ở Đức, và họ đã làm nên một yếu tố vững chắc cho xã hội Đức quốc. Sau Thế Chiến Thứ Hai, Đức quốc đã được coi là “Mảnh đất của Shoah”, nơi mà, đối với người Do Thái, trở nên coi như bất khả sống. Ban đầu khó có bất cứ nỗ lực nào thực hiện việc tái thiết các cộng đồng Do Thái xưa, cho dù cá nhân và gia đình người Do Thái đã liên tục đến từ phương Đông. Nhiều người trong họ đã di dân và xây dựng một đời sống mới, nhất là ở Hiệp Chủng Quốc hay Do Thái.

 

Ở nơi đây, việc tưởng nhớ cũng xẩy ra đối với cả the Kristallnacht xẩy ra từ ngày 9 đến 10 tháng 11 năm 1938. Chỉ một ít người mới có thể thấy được hoàn toàn mức độ của hành động khinh bỉ nhân loại này, như Berlin Cathedral Provost, Bernhard Lichtenberg, vị đã kêu lên từ bục giảng của Vương Cung Thánh Đường Thánh Hedwig rằng: “Bên ngoài, Đền thờ bị đốt cháy – cả nhà của Thiên Chúa nữa”. Tình trạng kinh hoàng cai trị của Nazi được căn cứ vào một thứ hoang đường về chủng tộc, một phần của cái hoang đường này là việc loại trừ đi Vị Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp, Vị Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô và của tất cả những ai tin vào Người. Tay Adolf Hitler cho mình là ‘quyền năng’ là một ngẫu tượng ngoại đạo, kẻ muốn chiếm chỗ của Vị Thiên Chúa của thánh kinh, Đấng Hóa Công và là Cha của tất cả mọi người. Việc từ chối không lắng nghe Vị Thiên Chúa duy nhất này bao giờ cũng làm cho con người ta coi thường cả phẩm giá của con người nữa. Con người có thể trở nên như thế nào khi họ chối bỏ Thiên Chúa và dung nhan của một con người có thể ra sao khi họ chối bỏ Vị Thiên Chúa này, thì những hình ảnh kinh hoàng khủng khiếp từ các trại tập trung ở vào lúc kết thúc chiến tranh đã cho thấy.

 

…

 

Đối với Kitô hữu, không có vấn đề lịch sử cứu độ bị đứt đoạn. Việc cứu độ xuất phát từ người Do Thái (cf Jn 4:22). Khi cuộc xung khắc giữa Chúa Giêsu với Do Thái giáo vào thời của Người được dẫn giải một cách nông cạn như là một thứ đổ vỡ với Cựu Ước là nó có khuynh hướng bị biến thành ý nghĩ về một cuộc giải phóng chủ trương một cách sai lầm rằng Ngũ Kinh chỉ là một thứ ban hành có tính cách nô bộc về những lễ nghi và tuân giữ bề ngoài. Tuy nhiên, thật ra Bài Giảng trên Núi không hủy bỏ Lề Luật Moisen, mà cho thấy những khả thể tiềm tàng của nó và làm hiện lên những đòi hỏi toàn diện. Nó hướng chúng ta tới nguồn mạch sâu xa nhất của hành động con người là tâm can, nơi xuất phát những chọn lựa giữa những gì là tinh tuyền và những gì nhơ nhớp, nơi đức tin, đức cậy và đức mến triển nở.

 

…

 

Tóm lại, chúng ta có thể kết luận rằng việc trao đổi giữa Giáo Hội Công Giáo và Do Thái Giáo ở Đức quốc đã trở sinh những hoa trái hứa hẹn. Những mối liên hệ bền bỉ của lòng tin tưởng đã được hình thành. Những người Do Thái và Kitô hữu chắc chắn có một trách nhiệm chung đối với việc phát triển xã hội, một thứ phát triển bao giờ cũng bao gồm cả chiều kích tôn giáo. Chớ gì tất cả những ai tham dự vào cuộc hành trình này cùng nhau tiến bước. Để kết thúc, xin Đấng Duy Nhất và Toàn Năng, Ha Kadosch Baruch Hu, ban cho chúng ta phúc lành của Ngài. Xin cám ơn quí vị.

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2011/september/documents/hf_ben-xvi_spe_20110922_jewish-berlin_en.html

 

 

 

 

Với các cộng đồng Hồi giáo tại Phòng Tiếp Tân của Sứ Thần Tòa Thánh ở Bá Linh Thứ Sáu 23/9/2011

 

“Hết mọi người cần phải gắn bó với cả những môn đồ thuộc các tôn giáo khác nữa hay không có tôn giáo nào: vị thế chung cho tất cả mọi người được thấy nơi việc nhìn nhận một số quyền lợi bất khả phân ly xứng hợp với bản tính của con người và có trước hết mọi công thức tích cực”.

  

 (Video)

 

…………

Bá Linh là một địa điểm tốt cho một cuộc gặp gỡ như thế này, chẳng những vì cò ngôi đền thờ Hồi giáo cổ nhất ở Đức quốc, mà còn Bá Linh có một dân số Hồi giáo đông nhất trong tất cả mọi thành phố ở Đức quốc này….

…………..

 

Giáo Hội Công Giáo mạnh mẽ tranh đấu cho việc nhìn nhận xứng hợp với chiều kích công cộng của lòng gắn bó với tôn giáo. Trong một xã hội đầy những đa nguyên lý thì đòi hỏi này không phải là không quan trọng. Theo tiến trình thì cần phải bảo đảm là kẻ khác bao giờ cũng phải được trân trọng đối xử. Mối tương kính này chỉ gia tăng theo chiều hướng thuận hợp với nhau về những thứ giá trị bất khả phân ly nào đó xứng với bản tính của con người, đặc biệt là phẩm giá bất khả vi phạm của từng con người được Thiên Chúa dựng nên. Việc thuận hợp này không hạn chế việc bày tỏ các tôn giáo riêng tư; trái lại nó để cho mỗi người minh chứng một cách tỏ tường cho những gì họ tin tưởng, không tránh né việc so sánh với những tôn giáo khác.

 

Ở Đức quốc – cũng như ở nhiều quốc gia khác, không chỉ ở các quốc gia Tây phương – cái mẫu cứ chung này được nhắc đến trong Hiến Pháp là văn kiện có nội dung về pháp lý có hiệu lực đối với hết mọi người công dân, dù họ thuộc về một cộng đồng đức tin hay không. 

 

Dĩ nhiên, việc bàn luận về viện hình thành hay nhất các nguyên tắc như về quyền tự do tôn thờ công cộng là những gì bao rộng và vẫn còn tiếp tục bàn luận, nhưng vấn đề quan trọng ở đây là Bản Luật Căn Bản Đức Quốc bày tỏ chúng một cách vẫn còn hiệu năng cho đến ngày nay với một khoảng cách 60 năm trời (cf. Art. 4:2). Trong bản luật này chúng ta thấy trước hết là cái nét đặc thù chung nằm ở ngay tâm điểm của việc con người chung sống và một cách nào đó cũng thấm nhập vào các thứ qui luật chính thức bề ngoài của việc hoạt động ở những cơ cấu tổ chức của đời sống dân chủ.

 

Chúng ta có thể hỏi mình là một văn kiện như thế – được viết lên ở một giai đoạn lịch sử hoàn toàn khác nhau, tức là ở một tình trạng hầu như theo văn hóa Kitô giáo – cũng thích hợp với Đức quốc ngày nay, một đất nước định vị trong một thế giới toàn cầu hóa và được đánh dấu bởi một mức độ đáng kể về đa nguyên nơi lãnh vực niềm tin về đạo giáo.

 

Lý do cho điều này đối với tôi dường như ở sự kiện là các vị cha ông của Bản Luật Căn Bản này, vào một thời điểm quan trọng, đã hoàn toàn nhận thức được nhu cầu cần phải tìm được một nền tảng thực sự vững chắc nhờ đó tất cả mọi người công dân có thể nhận ra và có thể phục vụ như là một nền tảng chống đỡ cho hết mọi người, bất kể những khác nhau của họ. Trong việc tìm kiếm này, lưu ý tới phẩm giá con người và trách nhiệm trước Thiên Chúa, họ không quan tâm đến niềm tin tôn giáo của riêng mình; thật vậy, đối với nhiều người trong họ, nguồn mạch cảm hứng thực sự đó là nhãn quan Kitô giáo về con người. Thế nhưng họ đã biết rằng hết mọi người cần phải gắn bó với cả những môn đồ thuộc các tôn giáo khác nữa hay không có tôn giáo nào: vị thế chung cho tất cả mọi người được thấy nơi việc nhìn nhận một số quyền lợi bất khả phân ly xứng hợp với bản tính của con người và có trước hết mọi công thức tích cực.

 

Như thế, một xã hội vào lúc ấy chính yếu hầu như đồng chủng đã đặt một nền tảng mà ngày nay chúng ta có thể coi là hiệu lực cho một kỷ nguyên mang tính cách đa nguyên, những nền tảng thực sự vạch ra những giới hạn hiển nhiên về tính chất đa nguyên: thật vậy, không thể hiểu được là một xã hội có thể sống còn lâu dài mà lại thiếu đồng thuận về các thứ giá trị đạo lý căn bản.

 

…………

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2011/september/documents/hf_ben-xvi_spe_20110923_muslim-berlin_en.html

 

 

Bài Giảng trong Thánh Lễ ở Olympic Stadium, Bá Linh Thứ Năm 22/9/2011

 

“Giáo Hội, như là rao giảng viên của lời Chúa và là nơi chất chứa các bí tích, liên kết chúng ta với Chúa Kitô, cây nho thực. Giáo Hội như ‘đầy trọn và hoàn trọn Đấng Cứu Chuộc’, như Đức Piô XII diễn tả (Pius XII, Mystici Corporis, AAS 35 [1943] p. 230: “plenitudo et complementum Redemptoris”), đối với chúng ta là bảo chứng của sự sống thần linh và là môi giới của những hoa trái được dụ ngôn về cây nho nói tới”.

  

(Video)

 ….

Trong dụ ngôn về cây nho, Chúa Giêsu không nói: “Các on là cây nho” mà nói “Thày là cây nho, các con là cành” (Jn 15:5). Nói cách khác, “Như cành được dính liền với cây nho thế nào thì các con cũng thuộc về Thày như thế! Thế nhưng, vì các con thuộc về Thày mà các con cũng thuộc về nhau nữa” Cái thuộc về nhau và về Người này không phải là một cái gì lý tưởng, mơ tưởng, là mối liên hệ tiêu biểu, mà – tôi hầu như muốn nói rằng – là một trạng thái truyền đạt sự sống về sinh lý của việc thuộc về Chúa Giêsu Kitô. Giáo Hội là thế, là mối hiệp thông sự sống này với Chúa Giêsu Kitô và cho nhau, một mối hiệp thông được bắt nguồn từ phép rửa và được sâu đậm cùng sống động hơn nữa nơi Thánh Thể. “Thày là cây nho thực” thực sự có nghĩa như thế này: “Thày là các con và các con là Thày” – một thứ đồng hóa vô tiền khoáng hậu về Chúa với chúng ta, với Giáo Hội.

 

Trên con đường đến Damascus, chính Chúa Kitô đã hỏi Saolê, một tên bách hại Giáo Hội rằng: “Tại sao ngươi lại bách hại Ta?” (Lk 9:4). Bằng những lời này, Chúa đã cho thấy cái định mệnh chung xuất phát từ mối hiệp thông nội tại về sự sống của Giáo Hội Người với chính Người, Đấng phục sinh. Người tiếp tục sống trong Giáo Hội của Người trên thế gian này. Người hiện diện giữa chúng ta, và chúng ta với Người. “Tại sao ngươi lại bắt bớ Ta?” Cuộc bách hại Giáo Hội của Người tối hậu nhắm vào Chúa Giêsu. Điều này đồng thời có nghĩa là khi chúng ta bị đàn áp vì đức tin của chúng ta thì chúng ta không lẻ loi cô độc: bởi Chúa Giêsu Kitô ở bên chúng ta và ở với chúng ta.

….

 

Nhiều người chỉ thấy cái hình thức bề ngoài của Giáo Hội. Điều này khiến Giáo Hội thuần túy trở thành như là một trong nhiều cơ cấu tổ chức thuộc xã hội dân chủ, những cơ cấu tổ chức có qui chuẩn và luật lệ bởi thế được áp dụng cho công việc thẩm định và xử trí một thực tại phức tạp như “Giáo Hội”. Ngoài ra, cảm nghiệm đau buồn đó là Giáo Hội chất chứa cả cá tốt lẫn cá xấu, cả lúa lẫn cỏ lùng, và nếu chỉ lưu ý tới những khía cạnh tiêu cực ấy, thì không còn thấy được mầu nhiệm cao cả và tuyệt vời của Giáo Hội nữa.

 

Bởi thế, việc thuộc về cây nho này, thuộc về “Giáo Hội”, không còn là một nguồn vui. Tình trạng bất mãn và bất bình bắt đầu lan tràn, khi những quan niệm nông nỗi và sai lầm của “Giáo Hội”, một “Giáo Hội mơ tưởng” của họ, không được cụ thể hóa! Bấy giờ chúng ta không còn nghe thấy bài ca hân hoan “Tạ ơn Chúa là Đấng yêu thương gọi con vào Giáo Hội của Người” được các thế hệ Công giáo xác tín hát lên.

 

Thế nhưng, chúng ta hãy trở lại với bài Phúc Âm. Vậy Chúa tiếp tục nói: “Hãy ở trong Thày và Thày ở trong các con. Như cành không thể tự sinh hoa kết trái thế nào thì các con cũng thế trừ phi các con ở trong Thày… vì ngoài Thày ra (chẳng hạn tách khỏi Thày hay ở ngoài Thày) các con không thể làm gì được” (Jn 15:4f).

 

Hết mọi người trong chúng ta đều phải đối diện với việc chọn lựa này. Chúa nhắc nhở chúng ta mối nguy cơ sẽ đến đâu khi Người tiếp tục dụ ngôn này: “Nếu ai không ở trong Thày thì họ như cành bị quăng ra mà khô héo đi và bị thu quén lại mà quăng vào lửa cho thiêu cháy đi” (Jn 15:6). Khi dẫn giải về bài phúc âm này, Thánh Âu Quốc Tinh đã nói rằng: “Cành nho chỉ thích đáng với hai việc, hoặc là cây nho hay là lửa thiêu; nếu nó không ở với cây nho thì chỗ của nó sẽ là lửa thiêu; và nó có thể thoát được lửa thiêu khi nó ở với cây nho” (In Ioan. Ev. Tract. 81:3 [PL 35, 1842]).

 

Quyết định này đòi hỏi chúng ta nơi đây làm cho chúng ta nhận thức một cách rõ ràng về tầm quan trọng sâu xa của những việc chọn lựa đời sống của chúng ta. Thế nhưng, đồng thời hình ảnh của cây nho là một dấu hiệu của niềm hy vọng và lòng cậy trông. Chính Chúa Kitô đến thế gian bằng việc nhập thể của mình để nên nguồn gốc cho chúng ta. Bất cứ điều gì khó khăn hay cằn cỗi xẩy ra cho chúng ta thì Người là nguồn mạch cống hiến cho chúng ta thứ nước sự sống giúp chúng ta dinh dưỡng và kiên cường. Người mang lấy trên mình tất cả tội lỗi mọi của chúng ta, mọi lo âu của chúng ta và mọi khổ đau của chúng ta, và Người thanh tẩy chúng ta và biến đổi chúng ta, một cách hết sức huyền nhiệm, thành những cành nho tươi tốt cung cấp rượu nho ngon lành.

 

Trong những lúc khốn khó như thế, đôi khi chúng ta cảm thấy như thể chính chúng ta ở trong máy ép nho, như những trái nho hoàn toàn bị nghiền nát. Thế nhưng chúng ta biết rằng nếu chúng ta liên kết với Chúa Kitô, chúng ta trở nên thành một thứ rượu chín mùi. Thiên Chúa có thể biến đổi thành yêu thương ngay cả những gì là nặng nề và áp lực trong đời sống của chúng ta. Vấn đề quan trọng là chúng ta “ở” trong Chúa Kitô, ở với cây nho. Vị thánh ký sử dụng chữ “ở” cả chục lần trong đoạn phúc âm ngắn này. Việc “ở trong Chúa Kitô” là những gì nổi bật cả đoạn phúc âm ấy. Trong thời đại bồn chồn và thiếu dấn thân của chúng ta, khi mà rất nhiều người lạc mất hướng đi và mất thăng bằng, khi mà lòng trung thành yêu thương trong đời sống hôn nhân và tình bằng hữu đã trở nên quá mỏng dòn và vắn vỏi, khi mà chúng ta cần phải kêu lên như các môn đệ trên đường đi về làng Emmaus rằng: “Lạy Chúa, xin ở với chúng con, vì trời gần tối và màn đêm đang bao phủ chúng con!” (cf Lk 24:29), nơi kỷ nguyên hiện nay, Vị Chúa phục sinh ban cho chúng ta một nơi nương náu, một chốn rạng ngời, hy vọng và tin tưởng, một chỗ nghỉ ngơi và an toàn. Khi mà tình trạng khô cằn và chết chóc đang chập chờn trên các cành nho, thì trong Chúa Kitô chúng ta thấy được tương lai, sự sống và niềm vui. Trong Người chúng ta bao giờ cũng thấy được sự thứ tha và cơ hội để bắt đầu lại, cơ được được biến đổi khi chúng ta được lôi kéo vào tình yêu thương của Người.

 

Việc ở trong Chúa Kitô nghĩa là, như chúng ta đã thấy trên đây, là ở trong cả Giáo Hội nữa. Toàn thể mối hiệp thông này của tín hữu được chặt chẽ tháp nhập vào cây nho, vào Chúa Kitô. Chúng ta thuộc về nhau trong Chúa Kitô. Trong mối hiệp thông này Người nâng đỡ chúng ta, đồng thời tất cả mọi phần tử cũng nâng đỡ nhau nữa. Chúng ta cùng nhau vững mạnh trước giông ba bão táp và bảo lệ lẫn nhau. Những ai tin tưởng thì không lẻ loi cô độc. Chúng ta không tin tưởng một mình, chúng ta tin tưởng với toàn thể Giáo Hội ở khắp mọi thời đại và mọi nơi chốn, với cả Giáo Hội thiên cung và Giáo Hội trần thế.

 

Giáo Hội, như là rao giảng viên của lời Chúa và là nơi chất chứa các bí tích, liên kết chúng ta với Chúa Kitô, cây nho thực. Giáo Hội như “đầy trọn và hoàn trọn Đấng Cứu Chuộc”, như Đức Piô XII diễn tả (Pius XII, Mystici Corporis, AAS 35 [1943] p. 230: “plenitudo et complementum Redemptoris”), đối với chúng ta là bảo chứng của sự sống thần linh và là môi giới của những hoa trái được dụ ngôn về cây nho nói tới. Bởi thế, Giáo Hội là tặng ân tuyệt vời nhất của Thiên Chúa. Vậy nên Thánh Âu Quốc Tinh mới nói: “ai yêu mến Giáo Hội bao nhiêu thì có Thánh Linh bấy nhiêu” (In Ioan. Ev. Tract. 32:8 [PL 35:1646]). Với Giáo Hội và trong Giáo Hội chúng ta có thể loan báo cho tất cả mọi dân tộc rằng Chúa Kitô là nguồn mạch sự sống, rằng Người hiện hữu, rằng Người là Đấng cao cả cần chúng ta lưu tâm, cần chúng ta mong mỏi thật nhiều. Người đã ban chính mình Người và vì thế Người ban cho chúng ta Thiên Chúa, hạnh phúc và tình yêu. Bất cứ ai tin tưởng vào Chúa Kitô thì có tương lai. Vì Thiên Chúa không muốn những gì là tàn héo, chết chóc, ersatz, và sau cùng bị vùi dập: Người muốn những gì là phong phú và sống động, Người muốn sự sống viên trọn và Người ban cho chúng ta sự sống viên mãn.

 

Anh Chị Em thân mến! Tôi chúc cho anh chị em tất cả, cho chúng ta tất cả, như thế này, đó là khám phá ra một cách sâu xa hơn nữa niềm vui được ở với Chúa Kitô trong Giáo Hội, cùng với tất cả những thử thách của Giáo Hội và các thời điểm đen tối, là tìm thấy niềm an ủi và ơn cứu chuộc giữa những thách đố xẩy ra, và tất cả chúng ta được càng ngày càng trở thành một thứ rượu nho quí báu làm cho Chúa Kitô hân hoan và mang lại yêu thương cho thế giới. Amen.

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2011/documents/hf_ben-xvi_hom_20110922_olympiastadion-berlin_en.html

 

 

 

 

Huấn từ trong buổi Kinh Tối Kính Đức Trinh Nữ Maria ở Chapel of the Shrine, Etzelsbach Thứ Sáu 23/9/2011

 

“Lòng tôn sùng Thánh Mẫu tập trung vào việc chiêm ngưỡng về mối liên hệ giữa Người Mẹ và Người Con thần linh của Mẹ”

 

(Video)

 

 

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Tôi xin gửi chào nồng nàn nhất đến tất cả mọi anh chị em, tất cả những ai đến Etzelsbach đây vào giờ cầu nguyên này. Từ hồi còn trẻ tôi đã nghe rất nhiều về Eichsfeld tới nỗi có lúc tôi nghĩ rằng tôi cần phải đích thân thấy nó và cùng cầu nguyện với anh chị em…

 

Bởi vậy tôi rất vui mừng vì ước muốn viếng thăm Eichsfeld của tôi đã được nên trọn, và giờ đây ở Etzelsbach này tôi xin tạ ơn Mẹ Maria cùng với anh chị em. Như bài thánh ca của những khách hành hương hát rằng “ở trong thung lũng thanh vắng dấu yêu dưới những cây chanh lá cam xưa này”, Mẹ Maria ban cho chúng ta được sống an toàn và sức mạnh mới. Trong hai chế độ độc tài chuyên chế vô thần, những chế độ tìm cách cắt đứt dân chúng khỏi niềm tin cha ông của họ, những dân cư của Eichsfeld chắc chắn đã tìm thấy được một cửa mở và là một chốn an bình nội tâm ở đền thánh tại Etzelsbach này. Mối thân tình đặc biệt với Mẹ Maria được gia tăng từ tất cả những điều ấy, là những gì chúng ta tìm cách vun trồng hơn nữa, không chỉ qua việc cử hành Giờ Kinh Tối kính Đức Trinh Nữ Maria hôm nay.

 

Khi Kitô hữu ở tất cả mọi thời đại và nơi chốn hướng về Mẹ Maria là họ tác hành theo niềm xác tín tự nhiên là Chúa Giêsu không thể nào từ chối người mẹ của mình những gì mẹ xin; và họ cậy dựa vào niềm tin cậy bất khả chuyển lay rằng Mẹ Maria cũng là mẹ của chúng ta – một người mẹ đã cảm nghiệm tất cả mọi niềm sầu thương nhất, vị đã cảm thấy tất cả mọi thương đau của chúng ta với chúng ta và nghĩ cách chế ngự chúng theo lòng từ mẫu của mình. Biết bao nhiêu người qua các thế kỷ đã thực hiện những cuộc hành hương đến kính viếng Mẹ Maria, để tìm được niềm ủi an và sức mạnh trước hình ảnh Mẹ Sầu Bi, như ở Etzelsbach này!

 

Chúng ta hãy nhìn lên hình ảnh của Mẹ: một người đàn bà ở vào tuổi trung tuần, mí mắt nặng trĩu khóc thương, trầm ngâm nhìn vào một khoảng cách nào đó, như thể đang chiêm niệm trong lòng mình về hết mọi sự đã xẩy ra. Trên hai gối của Mẹ là một thân thể vô hồn Con Mẹ, Mẹ nhẹ nhàng và âu yếm ôn lấy Người như một tặng vật cao quí. Chúng ta thấy những dấu vếr đóng đinh nơi thân xác trần trụi của Người. Cánh tay trái của thi thể này thong xuống đất. Có lẽ pho tượng Pietà này, như nhiều pho tượng khác, ban đầu đã được đặt trên bàn thờ. Chúa Giêsu tử giá mới bằng cánh tay giang thẳng của Người chỉ về những gì đang diễn tiền trên bàn thờ, nơi hy tế thánh đã được Người hoàn tất trở nên hiện diện trong Thánh Thể.

 

Một đặc tính đặc biệt của bức ảnh thánh ở Etzelsbach này là vị thế của thân thể Đức Mẹ. Nơi hầu hết các hình ảnh bức tượng Pietà thì đầu của Chúa Giêsu tử nạn nằm hướng về bên trái để người quan sát có thể thấy cạnh sườn bị thương của Vị Chúa Tử Giá này. Thế mà ở Etzelsbach đây cạnh sườn bị thương tích này lại được che giấu đi, vì thân mình quay về hướng khác. Tôi cảm thấy như có một ý nghĩa sâu xa nào đó được chất chứa nơi bức ảnh này, một ý nghĩa chỉ trở nên sáng tỏ nhờ âm thầm chiêm niệm, ở chỗ, nơi bức ảnh Etzelsbach này, trái tim của Chúa Giêsu và của Mẹ Người hướng vào nhau; những trái tim gắn bó với nhau. Hai trái tim trao đổi yêu thương. Chúng ta biết rằng trái tim cũng là nơi cảm nhận sâu xa nhất và cảm thương thân mật nhất. Trong trái tim của Mẹ Maria có chỗ cho một thứ tình yêu mà Người Con Thần Linh của Mẹ muốn tuôn đổ xuống trên thế giới.

 

Lòng tôn sùng Thánh Mẫu tập trung vào việc chiêm ngưỡng về mối liên hệ giữa Người Mẹ và Người Con thần linh của Mẹ. Trong lời nguyện cầu và những khổ đau của mình, trong niềm tri ân cảm tạ và hân hoan vui sướng, tín hữu liên lỉ khám phá ra được những chiều kích mới và những tính chất mà mầu nhiệm này có thể giúp vào việc bày tỏ cho chúng ta, chẳng hạn khi hình ảnh Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria được thấy như là một biểu hiệu cho mối hiệp nhất yêu thương sâu xa và trọn vẹn của Mẹ với Chúa Giêsu. Nó không phải là việc hiện thực hóa bản thân mình, là ước muốn chiếm hữu cho mình và hình thành nên mình, những gì thực sự giúp cho con người có thể triển nở theo kiểu cách đời sống tân tiến gợi lên cho chúng ta, thứ kiểu cách dễ hướng về một thứ hình thức giả tạo của lòng vị kỷ. Trái lại, nó là một thái độ tự hiến, tự trống rỗng, một thái độ hướng về trái tim Mẹ Maria và vì thế về trái tim của Chúa Kitô cũng như về tha nhân của chúng ta: đó là những gì giúp chúng ta có thể gặp thấy bản thân mình.

 

“Chúng ta biết rằng trong hết mọi sự Thiên Chúa làm đều cho thiện ích của những ai yêu mến Ngài, những ai được kêu gọi theo mục đích của Ngài” (Rm 8:28), như chúng ta vừa nghe trong bài đọc từ Bức Thư gửi cho Kitô hữu Rôma. Với Mẹ Maria, Thiên Chúa đã thực hiện cho thiện ích trong hết mọi sự, và Ngài đã không ngừng, qua Mẹ Maria, làm cho thiện ích được lan tràn hơn nữa trên thế giới này. Khi nhìn xuống từ cây Thập Tự giá, từ ngai tòa ân sủng và cứu độ, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta Mẹ Maria của Người để làm mẹ của chúng ta. Ở vào giây phút người hy hiến bản thân mình cho nhân loại thì Người làm cho Mẹ Maria trở thành như con kênh đào của những giòng sông ân sủng chảy ra từ Thập Giá. Ở dưới chân cây Thập Giá, Mẹ Maria trở thành vị đồng hành của chúng ta và là vị bảo hộ cho cuộc hành trình của đời sống. ‘Bằng tình yêu từ mẫu của mình, Mẹ chăm sóc cho những người anh chị em của Con của Mẹ, thành phần vẫn còn hành trình trên thế gian bị bủa vây bởi những hiểm nguy và khốn khó, cho tới khi họ được dẫn vào nhà vinh phúc của mình”, như Công Đồng Chung Vaticanô II diễn tả cho thấy (Lumen Gentium, 62). Phải, thật vật, trong đời sống chúng ta trải qua những lúc thăng trầm, thế nhưng Mẹ Maria là Đấng chuyển cầu cho chúng ta với Người Con của Mẹ và giúp chúng ta khám phá ra quyền lực tình yêu thần linh của Người, và mở lòng chúng ta ra cho tình yêu ấy.

 

Niềm tin tưởng của chúng ta nơi việc chuyển cầu quyền năng của Người Mẹ của Thiên Chúa và lòng tri ân của chúng ta đối với ơn trợ giúp chúng ta hằng cảm nghiệm thấy là những gì thực sự thúc đẩy chúng ta nghĩ vượt ra ngoài cả những nhu cầu của giây phút nào đó. Điều mà Mẹ Maria thực sự muốn nói với chúng ta là gì, khi Mẹ cứu vãn chúng ta khỏi một cuộc thử thách nào đó? Mẹ muốn giúp cho chúng ta nắm bắt được chiều rộng và chiều sâu của ơn gọi Kitô hữu chúng ta. Bằng niềm ân cần của một người mẹ, Mẹ muốn làm cho chúng ta hiểu rằng tất cả đời sống của chúng ta cần phải là một đáp ứng cho tình yêu của Thiên Chúa chúng ta, Đấng giầu lòng xót thương. Mẹ dường như muốn nói với chúng ta rằng: ‘Các con hãy hiểu rằng Thiên Chúa, Đấng là nguồn của tất cả mọi sự tốt lành thiện hảo và là Đấng không bao giờ muốn bất cứ sự gì ngoài hạnh phúc đích thật của các con, có quyền đòi hỏi các con một đời sống hoàn toàn và hân hoàn tuân theo ý muốn của Ngài, đồng thời nỗ lực giúp cho những người khác cũng làm như thế’. Ở đâu có Thiên Chúa thì ở đấy có tương lai. Thật vậy – khi chúng ta để cho tình yêu của Thiên Chúa thấm nhập và hình thành tất cả cuộc sống của chúng ta, thì thiên đình mở ra. Bấy giờ mới có thể hình thành hiện tại để nó càng xứng hợp hơn nữa với Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Bấy giờ những điều nhỏ bé của đời sống thường ngày mới có ý nghĩa và những thứ trục trặc to tát mới có thể được giải quyết.

 

Tin tưởng như thế, chúng ta hãy cầu cùng Mẹ Maria; tin tưởng như vậy, chúng ta hãy tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Thiên Chúa của chúng ta. Amen.

  

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2011/september/documents/hf_ben-xvi_spe_20110923_vespers-etzelsbach_en.html

 

 

 

Bài Giảng cho Thánh Lễ ở Touristic airport, Freiburg im Breisgau Chúa Nhật 25/9/2011

“Chúng ta hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng mà quyền năng của Ngài biểu lộ hơn hết nơi tình thương và ơn tha thứ… Chúng ta cần cởi mở bản thân cho Ngài để quyền năng tình thương của Ngài có thể chạm đến con tim của chúng ta.”.

(Video)

… Trong bài đọc một chúng ta đã nghe Thiên Chúa biểu lộ quyền năng của tình thương Ngài nơi lịch sử của dân Israel ra sao. Kinh nghiệm về cuộc Lưu Đầy ở Babylon đã khiến cho dân chúng rơi vào một cuộc khủng hoảng đức tin: Tại sao lại xẩy ra tai ương ấy? Có lẽ Thiên Chúa không thực sự quyền năng gì hết?

 

Có các thần học gia, trước tất cả những gì là khiếp đảm xẩy ra trong thế giới ngày nay, nói rằng Thiên Chúa có lẽ không thể nào là Đấng toàn năng. Đáp lại thái độ này, chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa, Đấng Tạo Thành toàn năng dựng nên trời đất. Và chúng ta hân hoan cùng tạ ơn vì Thiên Chúa là Đấng toàn năng. Đồng thời chúng ta ý thức rằng Ngài hành sử quyền năng của Ngài khác với đường lối chúng ta thường thực hiện. Ngài đã đặt hạn chế cho quyền năng của Người, bằng việc công nhận tự do nơi tạo vật của Ngài. Chúng ta hân hoan và tạ ơn về tặng ân tự do. Tuy nhiên, khi chúng ta thấy những điều kinh hãi xẩy ra như hậu quả của nó thì chúng ta cảm thấy run sợ. Chúng ta hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng mà quyền năng của Ngài biểu lộ hơn hết nơi tình thương và ơn tha thứ. Anh chị em tín hữu thân mến, chúng ta hãy tin tưởng rằng Thiên Chúa muốn cứu độ dân của Ngài. Ngài muốn chúng ta được cứu độ, muốn tôi được cứu độ, muốn từng người được cứu độ. Ngài luôn kề cận với chúng ta, nhất là trong những lúc hiểm nguy và thay đổi sâu xa, và trái tim của Ngài nhức nhối vì chúng ta, Ngài vươn tới chúng ta. Chúng ta cần cởi mở bản thân cho Ngài để quyền năng tình thương của Ngài có thể chạm đến con tim của chúng ta. Chúng ta cần phải tự nguyện sẵn sàng từ bỏ sự dữ, thoát ra khỏi tình trạng dửng dưng lạnh lùng của mình và giành chỗ cho lời của Ngài. Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta. Ngài không kiềm chế nó. Ngài đợi chờ chúng ta thưa ‘vâng’, như thể Ngài van xin chúng ta thưa ‘vâng’.

 

Trong Phúc Âm Chúa Giêsu sử dụng đề tài căn bản cho việc giảng dạy ngôn sứ này. Người kể về dụ ngôn hai người con trai được cha kêu gọi đi làm vườn nho. Đứa con thứ nhất đáp: ‘Con không đi đâu’ nhưng sau đó hối hận mà đi. Người con kia thưa cùng cha rằng ‘vâng con đi’ song lại không đi. Khi Chúa Giêsu hỏi trong hai người con này thì đứa nào làm theo ý muốn của người cha thì thành phần lắng nghe trả lời đúng rằng ‘người con thứ nhất’ (Mt 21:29-31). Ý nghĩa của dụ ngôn này đã rõ ràng, đó là vấn đề không phải là lời nói song là việc làm, việc ăn năn hoán cải và sống đức tin. Như chúng ta đã nghe, Chúa Giêsu hướng ý nghĩa này về các vị trưởng tế và kỳ lão trong dân Israel, tức là hướng về thành phần chuyên gia về đạo giáo của dân chúng. Thoạt tiên họ thưa ‘dạ’ với ý muốn của Thiên Chúa, nhưng lòng đạo đức của họ trở thành những gì là hình thức và Thiên Chúa không còn nghĩa lý gì với họ nữa. Thế nên họ thấy sứ điệp của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả và sứ điệp của Chúa Giêsu là những gì rắc rối phiền hà. Chúa Giêsu kết thúc dụ ngôn này bằng những lời lẽ khó nghe như sau: ‘Thật vậy, thành phần thu thuế và gái điếm còn vào Nước Thiên Chúa trước các người. Vì Gioan đã đến cùng các người một cách chính trực nhưng các người không tin ông, nhưng các người thu thuế và gái điếm lại tin ông, và cho dù các người thấy đó các người sau đó vẫn không ăn năn thống hối mà tin vào ông” (Mt 21:32). Được chuyển dịch thành ngôn từ của thời đại hiện nay, thì lời phát biểu này có thể âm vang như thế này: những người bất khả thần tri, thành phần liên lỉ quan tâm tới vấn đề về Thiên Chúa, những người mong muốn có được một con tim tinh tuyền nhưng chịu khổ vì tội lỗi của mình, thì gần với Nước Thiên Chúa hơn là những tín hữu có đời sống đức tin hình thức và là những người coi Giáo Hội như là một cơ cấu thuần túy, không để cho Giáo Hội chạm đến con tim của họ, hay để cho đức tin chạm đến con tim của họ.

 

Những lời này phải làm cho chúng ta tất cả lắng đọng suy nghĩ, thật ra chúng cần phải quấy rối chúng ta. Tuy nhiên, nó không có nghĩa là hết mọi người sống trong Giáo Hội và làm việc cho Giáo Hội đều cần phải được coi là xa cách Chúa Giêsu và Nước Thiên Chúa. Hoàn toàn không phải thế! …( đến đây ĐTC bày tỏ lòng biết ơn đối với kể đến những hoạt động tông đồ mục vụ ở Đức)… . Thế nhưng theo tinh thần giáo huấn của Chúa Giêsu thì vẫn cần một điều gì hơn nữa – một con tim cởi mở để tình yêu của Chúa Kitô chạm đến nó, nhờ đó, cống hiến cho tha nhân của chúng ta, những người cần đến chúng ta, một cái gì đó hơn là một thứ dịch vụ về kỹ thuật: nó cống hiến yêu thương là những gì người khác có thể thấy được Chúa Kitô là Vị Thiên Chúa hằng sống. Vậy chúng ta hãy tự hỏi mình xem, theo chiều hướng của bài Phúc Âm hôm nay, mối liên hệ riêng tư giữa tôi với Thiên Chúa ra sao: trong việc cầu nguyện, trong việc tham dự Lễ Chúa Nhật, trong việc đào sâu đức tin của tôi bằng cách suy niệm Thánh Kinh và học hỏi Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo? Các bạn thân mến, tóm lại, việc canh tân của Giáo Hội sẽ chỉ xẩy ra qua việc sẵn sàng hoán cải cũng như bằng việc canh tân đức tin.

 

Phúc Âm cho Chúa Nhật này, như chúng ta thấy, nói về 2 người con, thế nhưng ở đằng sau hai người con này, một cách huyện nhiệm, có một người con thứ ba. Người con thứ nhất nói ‘không’ nhưng lại làm theo ý của cha. Người con thứ hai nói ‘có’ nhưng không làm theo những gì người cha xin. Người con thứ ba vừa thưa ‘vâng’ vừa làm theo những gì người cha xin. Người con thứ ba này là Con Một của Thiên Chúa, là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã qui tụ tất cả chúng ta lại ở nơi đây. Chúa Giêsu, khi vào trần gian đã thưa: ‘Ôi Thiên Chúa, này con xin đến để làm theo ý của Ngài” (Heb 10:7). Người không chỉ nói ‘vâng’, mà Người còn thực hiện tiếng ‘vâng’ này, và Người đã chịu khổ vì nó, thậm chí chết trên thập tự giá (x Phil 2:6-8)…..

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2011/documents/hf_ben-xvi_hom_20110925_freiburg_en.html

 

 

 

Với thành phần Công giáo tham gia vào đời sống Giáo Hội và xã hội, ở Concert Hall, Freiburg im Breisgau Chúa Nhật 25/9/2011

 

“Động lực chính yếu cho vấn để thay đổi đó là sứ vụ tông đồ của thành phần môn đệ và của chính Giáo Hội”.

 

 (Video) 

 

…………

Qua một số thập kỷ, giờ đây chúng ta đang cảm thấy tình trạng tụt dốc nơi việc hành đạo và chúng ta đang chứng kiến thấy con số đáng kể của thành phần lãnh nhận phép rửa đang xa rời với đời sống của Giáo Hội. Tình trạng này làm nẩy lên vấn nạn, đó là Giáo Hội không được thay đổi hay sao? Giáo Hội không cần phải thích ứng những vai trò và cấu trúc của mình với ngày nay để vươn tới với thành phần đang tìm kiếm và nghi hoặc ngày nay hay sao?

 

Mẹ Chân Phước Têrêsa có lần được hỏi theo ý kiến của mẹ đâu là điều đầu tiên cần phải thay đổi trong Giáo Hội. Câu trả lời của mẹ đó là: quí vị và tôi đây.

 

Có hai điều hiển nhiên từ câu chuyện ngắn này. Một đàng Mẹ Têrêsa muốn nói với người phỏng vấn mẹ rằng: Giáo Hội không phải chỉ là một người nào khác, không phải chỉ là hàng giáo phẩm, bao gồm Giáo Hoàng và các vị giám mục mà thôi: chúng ta tất cả là Giáo Hội, chúng ta là thành phần lãnh nhận phép rửa. Đàng khác, điểm mở đầu của mẹ là như thế này: phải, có những lý do để thay đổi. Có nhu cầu cần phải đổi thay. Hết mọi Kitô hữu và toàn thể cộng đồng tín hữu được kêu gọi để liên lỉ thay đổi.

 

Vấn đề đổi thay này như thế nào về phương diện thực hành? Phải chăng chúng ta đang nói về một loại canh tân được người chủ nhà thực hiện trong việc tái sắp xếp hay sơn phết lại căn nhà của họ? Hay chúng ta đang nói về một thứ sửa sai, được phác họa để đưa chúng ta về nguồn và giúp cho đường lối của chúng ta linh động hơn và trực tiếp hơn? Chắc chắn những yếu tố và các yếu tố khác đang góp phần và chúng ta không thể nào đi sâu vào tất cả các vấn đề này ở đây. Tuy nhiên, động lực chính yếu cho vấn để thay đổi đó là sứ vụ tông đồ của thành phần môn đệ cũng như của chính Giáo Hội.

 

Nói cách khác, Giáo Hội cần phải liên lỉ tái dấn thân mình cho việc truyền giáo của mình. Ba Phúc Âm nhất lãm đề cao các khía cạnh khác nhau của công việc truyền giáo. Việc truyền giáo trước hết được bắt nguồn từ cảm nghiệm riêng tư: ‘Các con là những chứng nhân” (Lk 24:28); nó được diễn đạt nơi các mối liên hệ: “Các con hãy tuyển mộ thành phần môn đồ nơi tất cả mọi dân nước” (Mt 28:19); và nó loan truyền một sứ điệp đại đồng: “Các con hãy rao giảng phúc âm cho tất cả mọi tạo vật” (Mk 16:15). Tuy nhiên, vì những đòi hỏi và hạn chế của thế giới, việc làm chứng này luôn bị lu mờ, các môn liên hệ bị xa tránh và sứ điệp bị tương đối hóa. Nếu Giáo Hội, theo lời của Đức Phaolô VI, giờ đây đang nỗ lực “để mô phỏng theo lý tưởng của Chúa Kitô” thì điều này “chỉ có thể xẩy ra nơi tác hành và suy nghĩ của Giáo Hội hoàn toàn khác với thế giới quanh mình, một thế giới Giáo Hội dù sao cũng nỗ lực gây ảnh hưởng” (Thông Điệp Ecclesiam Suam, 58). Để hoàn thành việc truyền giáo của mình, Giáo Hội sẽ luôn luôn cần phải tách mình khỏi hoàn cảnh chung quanh của mình, ở một nghĩa nào đó trở thành “phi thế gian”.

 

Việc truyền giáo của Giáo Hội được bắt nguồn từ mầu nhiệm Thiên Chúa ba ngôi, từ mầu nhiệm yêu thương tạo dựng của Ngài. Và tình yêu không phải là một cái gì đó trong Thiên Chúa, mà là Thiên Chúa, chính Ngài là tình yêu thao bản tính. Và tình yêu thần linh không muốn hiện hữu cho duy bản thân mình, theo bản chất, tình yêu muốn tuôn trào bản thân mình ra. Tình yêu đã xuống với nhân loại, với chúng ta, một cách đặc biệt qua việc nhập thể và tự hiến của Con Thiên Chúa: vì sự kiện ấy Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, như bước ra khỏi cái khuôn khổ của thần tính mình, mặc lấy xác thịt và trở thành con người, không phải chỉ để củng cố thế giới tính chất thế tục của nó và là đồng bạn của nó, để cho nó diễn tiến như nó là, mà là để biến đổi nó. Biến cố Chúa Kitô bao gồm sự kiện không thể tưởng nổi về những gì các vị Giáo Phụ của Hội Thánh gọi là một sacrum commercium, một cuộc trao đổi giữa Thiên Chúa và con người. Các vị Giáo Phụ giải thích vấn đề ấy như thế này: chúng ta chẳng có gì để dâng cho Thiên Chúa, chúng ta chỉ có tội lỗi của chúng ta để đặt trước nhan của Ngài. Và điều này Ngài đã lãnh nhận và biến nó thành của Ngài, trong khi đó Ngài lại ban cho chúng ta chính mình Ngài và vinh quang của Ngài: một cuộc trao đổi thực là chênh lệch, một cuộc trao dổi được hoàn tất nơi đời sống và cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Người thực sự trở nên một ‘tội nhân’, Người đã chuốc lấy tội lỗi vào bản thân mình, nhận lấy những gì của chúng ta và ban cho chúng ta những gì của Người. Thế nhưng, như Giáo Hội tiếp tục phản tỉnh và sống đức tin, vấn để trở nên rõ ràng là chúng ta chỉ có thể dâng lên cho Người tội lỗi của chúng ta, thế nhưng Người đã tăng cường cho chúng ta, tự sâu xa bên trong Người ban cho chúng ta khả năng, để cống hiến cho Người một cái gì đó tích cực nữa, đó là tình yêu của chúng ta – cống hiến cho Người nhân tính một cách tích cực. Hiển nhiên là chỉ nhờ lòng quảng đại của Thiên Chúa mà con người, một tên hành khất, một kẻ lãnh nhận sự phong phú của các ân huệ thần linh, mới có thể dâng cho Thiên Chúa một cái gì đó; mà Thiên Chúa làm cho chúng ta có thể tiếp nhận tặng ân Ngài ban, bằng cách làm cho chúng ta có thể trở thành kẻ cống hiến bản thân mình cho Ngài.

 

Giáo Hội nặng nợ tất cả cuộc hiện hữu của mình đối với cuộc trao đổi chênh lệch này. Giáo Hội không có gì của riêng mình để dâng cho Đấng đã thiết lập Giáo Hội, nhờ đó Giáo Hội có thể nói rằng đó là một cái gì tuyệt vời chúng ta đã thực hiện! Lý do hiện hữu của Giáo Hội là ở chỗ làm một dụng cụ cho việc cứu chuộc, để mình được thấm đẫm lời Chúa và đem thế giới đến với mối hiệp nhất yêu thương với Thiên Chúa. Giáo Hội được dìm sâu vào việc Đấng Cứu Chuộc vươn tới con người. Khi Giáo Hội thực sự là mình thì Giáo Hội luôn thăng tiến, Giáo Hội liên lỉ phục vụ việc truyền giáo Giáo Hội đã lãnh nhận từ Chúa. Bởi thế Giáo Hội bao giờ cũng cần phải hướng tới một cách mới mẻ việc chăm sóc cho thế giới là nơi Giáo Hội thuộc về, và hiến mình cho họ để hiện thực và tiếp tục cuộc trao đổi thánh được bắt đầu nơi việc Nhập Thể.

 

Tuy nhiên, trong giòng lịch sử cụ thể của Giáo Hội, một khuynh hướng liên lỉ nữa cũng được bộc lộ, tức là Giáo Hội trở nên tự mãn, dừng lại trong thế giới này, trở thành tự đủ và thích ứng mình với những tiểu chuẩn trần thế. Không phải là không thường xẩy ra trường hợp Giáo Hội đặt nặng việc tổ chức và cơ cấu hóa hơn là ơn gọi của Giáo Hội hướng về Thiên Chúa, ơn gọi của Giáo Hội hướng thế giới về một Đấng khác.

 

Để hoàn tất một cách trọn vẹn công việc đích thực này của mình, Giáo Hội cần phải liên lỉ canh tân nỗ lực trong việc tách mình khỏi khuynh hướng có tính chất trần tục và một lần nữa trở nên cởi mở đối với Thiên Chúa. Thực hiện như thế là Giáo Hội thực hiện lời Chúa Giêsu nói: ‘Họ không thuộc về thế gian như Con không thuộc về thế gian” (Jn 17:16), và chính nhờ cách thức này mà Người hiến mình cho thế gian. Người ta hầu như có thể nói rằng lịch sử trợ giúp Giáo Hội đây qua những giai đoạn tục hóa khác nhau, những giai đoạn đã góp phần quan trọng cho việc Giáo Hội thanh tẩy và canh tân nội tâm.

 

Những hướng chiều tục hóa – một là bằng việc chiếm đoạt những sản vật của Giáo Hội, hay loại trừ những đặc ân hoặc những gì tương tự – bao giờ cũng chất chứa một cuộc sâu xa giải phóng Giáo Hội cho khỏi các hình thức của vấn đề tục hóa, vì theo tiến trình thì Giáo Hội thực sự gạt ra bên ngoài cái giầu sang trần thế và một lần nữa hoàn toàn tha thiết với đức khó nghèo trần thế. Trong việc này Giáo Hội chia sẻ thân phận của chi tộc Levi, một chi tộc theo trình thuận Cựu Ước là chi tộc duy nhất trong dân Do Thái không có cho mình đất đai của cha ông, chấp nhận chính Thiên Chúa, lời Chúa và các dấu chỉ của Ngài là gia phần của mình. Ở vào những lúc như thế trong lịch sử, Giáo Hội chia sẻ với chi tộc này những đòi hỏi của một đức khó nghèo hướng về thế giới, để được tách khỏi những ràng buộc về vật chất của mình: có thế hoạt động truyền giáo của Giáo Hội mới lấy lại được uy tín.

 

Lịch sử đã cho thấy rằng, khi Giáo Hội trở nên ít trần tục hơn thì chứng từ truyền giáo của Giáo Hội mới rạng ngời hơn. Một khi được giải thoát khỏi những gánh nặng và đặc quyền về vật chất và chính trị, Giáo Hội mới có thể hiệu năng vươn rộng hơn nữa, và bằng một đường lối thực sự là Kitô giáo đối với toàn thế giới, Giáo Hội mới có thể thực sự cởi mở trước thế giới. Giáo Hội có thể sống thản nhiên hơn ơn gọi của mình đối với thừa tác vụ tôn thờ thần linh và phục vụ tha nhân. Công việc truyền giáo, một công việc liên hệ với việc tôn thờ Kitô giáo và cần phải minh định cấu trúc của nó, trở nên tỏ tường hơn. Giáo Hội hướng mình về thế giới không phải để chiếm đoạt con người ta cho một cơ cấu tổ chức bằng quyền năng cho là do mình, mà là để dẫn họ bằng cách đưa họ về với Đấng mà mỗi một người có thể nói như Thánh Âu Quốc Tinh rằng Ngài gần gũi con hơn là chính con với bản thân con (cf Tự Thú III,6,11). Ngài là Đấng vô cùng trổi vượt trên tôi nhưng lại rất sâu xa trong tôi đến độ Ngài thực sự là nội tâm của tôi. Hình thức hướng về thế giới này nơi Giáo Hội cũng giúp vào việc cho thấy cá nhân Kitô hữu có thể hướng về thế giới bằng những cách thức hiệu nghiệm và thích đáng.  

 

Ở đây không phải là vấn đề tìm một sách lược mới để tái tấu Giáo Hội. Trái lại, nó là vấn đề gạt ra một bên những gì thuần phương thức và tìm kiếm những gì hoàn toàn trong sáng, không đồng hạnh hóa hay coi thường bất cứ những gì ngoài sự thật nơi trường hợp hiện tại của chúng ta, nhưng sống đức tin một cách trọn vẹn ngay bây giờ theo ánh sáng hoàn toàn rực rỡ của ngày sống, hoàn toàn chiếm đoạt nó, và tước lột nó khỏi bất cứ sự gì chỉ có vẻ thuộc về đức tin mà thật ra chỉ là những gì thuần hiệp định hay thói quen.

 

Nói cách khác, đối với dân chúng thuộc mọi thế hệ, chứ không riêng gì chúng ta, đức tin Kitô giáo là những gì chướng. Đối với dân chúng thuộc mọi thế hệ thì tin tưởng tất cả những cái sau đây đều là liều lĩnh, tin tưởng rằng vị Thiên Chúa hằng hữu phải biết chúng ta và chăm sóc cho chúng ta, rằng cái bất khả giác ở vào một lúc đặc biệt nào đó đã trở thành khả giác, rằng Đấng bất tử cần phải chịu khổ và chết trên Thập Giá, rằng chúng ta là thành phần hữu tử được hứa hẹn phục sinh và sự sống đời đời.

 

Cái chướng này, một cái chướng không thể nào bị loại trừ ngoại trừ người ta tẩy chay chính Kitô giáo, bất hạnh thay đã bị khuất lấp trong thời gian gần đây bởi những thứ chướng đớn đau khác nơi thành phần rao giảng đức tin. Một tình trạng nguy hiểm đang xuất hiện khi những cái chướng này đang chiếm chỗ của cái chướng Thập Giá – skandalon chính yếu và vì thế những cái chướng ấy đẩy Thánh Giá ra ngoài tầm tay với, che lấp đi những đòi hỏi thực sự của Phúc Âm Kitô giáo ở đằng sau cái bất xứng của những ai loan báo Phúc Âm.

 

Bởi vậy, đây là lúc càng phải nhận thức được cái hình thức đúng đắn của việc tách khỏi thế gian, để dứt khoát tách khỏi cái tính chất trần tục của Giáo Hội. Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là rút lui khỏi thế giới: hoàn toàn ngược lại. Một Giáo Hội trút nhẹ gánh nặng của tính chất trần tục thì ở trong một vị thế, ít là qua các hoạt động bác ái của mình, làm trung gian mối giới sức mạnh ban sự sống của đức tin Kitô giáo cho những ai đang thiếu thốn, những ai đang khổ đau và những ai chăm sóc họ. “Đối với Giáo Hội, bác ái không phải là một thứ hoạt động an sinh ai cũng có thể làm được, mà là thuộc về bản tính của Giáo Hội, một thể hiện bất khả châm chước của chính việc Giáo Hội hiện hữu” (Deus Caritas Est, 25). Đồng thời hoạt động bác ái của Giáo Hội dù sao cũng cần phải được liên lỉ hướng tới những đòi hỏi xứng đáng trong việc tách biệt khỏi tính chất trần tục, nếu không muốn hoạt động bác ái này bị tàn héo đi tận gốc rễ trước tình trạng tính chất của Giáo Hội càng ngày càng bị hao mòn. Chỉ có mối liên hệ sâu xa với Thiên Chúa mới làm cho nó có khả năng hoàn toàn vươn tới kẻ khác, giống như việc thứ thiếu vươn tới tha nhân làm nghèo nàn đi mối liên hệ với Thiên Chúa vậy.

 

Bởi thế, việc hướng về các mối quan tâm của thế giới, đối với Giáo Hội, nghĩa là việc tách khỏi tính chất trần tục, khi làm chứng cho cái chính yếu của tình yêu Thiên Chúa theo Phúc Âm bằng lời nói và việc làm, ngay lúc này đây, một công việc đồng thời cũng hướng ra bên ngoài thế giới hiện tại, vì đời sống hiện tại này cũng liên kết chặt chẽ với sự sống đời đời. Với tư cách cá nhân cũng như với tư cách cộng đồng Giáo Hội, chúng ta hãy sống tính chất đơn thành của tình yêu cao cả này, một tình yêu vừa là những gì đơn giản nhất mà lại khó khăn nhất trên trái đất này, vì nó không đòi gì khác hơn là việc ban tặng bản thân mình. 

……….

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2011/september/documents/hf_ben-xvi_spe_20110925_catholics-freiburg_en.html