Chúa Nhật Tuần IX Thường Niên (Nếu không bị trùng với và bị át đi bởi Lễ
Chúa Ba Ngôi như năm 2026 hay Lễ Mình Máu Thánh Chúa như năm 2016)
Bài Ðọc I: 1V 8,
41-43
"Khi người xứ lạ đến cầu nguyện,
Chúa đã nhậm lời nó".
Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, Salomon cầu
nguyện trong đền thờ rằng: "Người ngoại bang không phải thuộc dân Israel của
Chúa, vì danh Chúa, (bởi nó nghe nói danh Chúa cao cả, bàn tay Chúa mạnh mẽ
và cánh tay Chúa hùng dũng), nó từ xứ xa lạ mà đến; vậy khi nó cầu nguyện
tại nơi này, từ trời nơi Chúa ngự, (xin) Chúa nhậm lời nó, và ban cho nó mọi
sự như nó kêu cầu, để mọi dân trên thế giới biết sợ danh Chúa, cũng như dân
Israel của Ngài, và họ biết rằng danh Chúa được cao rao tại đền thờ này mà
con đã xây cất".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 116, 1.
2
Ðáp:Hãy
đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian (Mc 16, 15).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Toàn thể chư dân, hãy ngợi
khen Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người. - Ðáp.
2) Vì tình thương Chúa dành cho chúng
ta thật là mãnh liệt, và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời. - Ðáp.
Bài Ðọc II: Gl 1,
1-2. 6-10
"Nếu tôi còn làm vừa lòng thiên hạ,
thì tôi không phải là đầy tớ của Ðức Kitô".
Khởi đầu thư của Thánh Phaolô Tông đồ
gửi tín hữu Galata.
Phaolô, làm Tông đồ không phải do loài
người, hay do một người nào, mà là do Ðức Giêsu Kitô, và do Chúa Cha, Ðấng
đã cho Người từ cõi chết sống lại, và tất cả anh em đang ở với tôi, kính gửi
các cộng đoàn ở Galata.
Tôi ngạc nhiên thấy anh em thay lòng
đổi dạ chóng như thế đối với Ðấng đã kêu gọi anh em thông phần vào ân sủng
của Ðức Kitô, để anh em quay sang một tin mừng khác! Tin mừng khác làm gì
có, chỉ có những kẻ phá rối anh em và muốn anh em đảo lộn Tin Mừng của Ðức
Kitô. Nhưng cho dù chúng tôi, hay một thiên thần nào từ trời đến, giảng tin
mừng khác với Tin Mừng chúng tôi đã rao giảng cho anh em, thì người đó bị
chúc dữ! Như chúng tôi đã nói trước, và giờ đây tôi xin nói lại rằng: Nếu có
ai rao giảng cho anh em Tin Mừng khác hơn điều anh em đã lãnh nhận, thì
người đó bị chúc dữ!
Giờ đây, tôi phải làm vừa lòng người
ta hay là Thiên Chúa? Nào có phải tôi tìm cách làm vừa lòng người ta sao?
Nếu tôi còn làm vừa lòng thiên hạ, thì tôi không phải là đầy tớ của Ðức
Kitô.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Nếu
ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và
Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy". - Alleluia.
Phúc Âm: Lc 7, 1-10
"Cả trong dân Israel, Ta cũng chẳng
thấy lòng tin mạnh mẽ như vậy".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Luca.
Khi ấy, lúc Chúa Giêsu đã nói với dân
chúng xong, Người vào Capharnaum. Bấy giờ một viên sĩ quan có tên đầy tớ
thân tín bị bệnh gần chết, nghe nói về Chúa Giêsu, ông sai vài người kỳ lão
Do-thái đi xin Người đến cứu chữa đầy tớ ông. Họ đến gần Chúa Giêsu và van
xin Người rằng: "Ông ta đáng được Thầy ban cho ơn đó, vì thật ông yêu mến
dân ta, và chính ông đã xây cất hội đường cho chúng ta". Chúa Giêsu đi với
họ, và khi Người còn cách nhà viên sĩ quan không bao xa, thì ông này sai mấy
người bạn đến thưa Người rằng: "Lạy Thầy, không dám phiền Thầy hơn nữa, vì
tôi không xứng đáng được Thầy vào nhà tôi, cũng như tôi nghĩ tôi không xứng
đáng đi mời Thầy, nhưng xin Thầy phán một lời, thì đầy tớ tôi được lành
mạnh. Vì tôi chỉ là một sĩ quan cấp dưới, tôi cũng có những lính dưới quyền
tôi, tôi bảo người này đi, thì nó đi; tôi bảo người khác lại, thì nó lại; và
bảo đầy tớ tôi làm cái này thì nó làm". Nghe nói thế, Chúa Giêsu ngạc nhiên
và quay lại nói với đám đông theo Người rằng: "Ta nói thật với các ngươi, cả
trong dân Israel, Ta cũng chẳng thấy lòng tin mạnh mẽ như vậy". Và những
người được sai đi, khi về tới nhà, thấy tên đầy tớ (đã) lành mạnh.
Ðó là lời Chúa.
Suy niệm
"Này là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng"(Mathêu
3:17)- "hãy vâng nghe lời
Người"(Mathêu
17:5)
Phụng vụ lời Chúa nói chung và nhất là Phúc Âm là bài đọc chính yếu nói
riêng, được Giáo Hội sắp xếp theo tứ tự, nếu là Năm A, theo Phúc Âm Mathêu,
từ Tuần thứ 4 trở đi, bắt đầu Bài Giảng Trên Núi (bao gồm 3 đoạn Phúc Âm của
Thánh ký Mathêu), kéo dài cho tới Chúa Nhật Tuần Thứ IX tuần này. Hôm nay là
bài Phúc Âm kết thúc Bài Giảng Trên Núi.
Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu về chủ đề sống trọn lành của Người, từ CN
Tuần IV cho đến CN Tuần VII (đều ở trong đoạn 5), thứ tự liên quan đến 9 mối
phúc đức (CN IV), đến sứ vụ tông đồ của thành phần môn đệ của Người (CN V),
đến phần tiêu cực của đức ái trọn hảo liên quan tới các giới răn căn bản
nhất trong Thập Giới (CN VI), đến phần tích cực của đức ái trọn hảo với tha
nhân các vị cần phải tỏ ra như Cha trên trời (CN VII); CN Tuần VIII liên
quan đến đời sống nội tâm của các vị với Thiên Chúa (đoạn 6); và CN Tuần IX
liên quan đến việc áp dụng thực hành giáo huấn trọn lành của Người (đoạn 7).
Thật vậy, bài Phúc Âm cho Chúa Nhật IX Thường Niên cuối cùng của Mùa Thường
Niên hậu Giáng Sinh hôm nay bao gồm 2 phần, phần đầu về tầm quan trọng của Ý
Chúa so với việc cầu nguyện và việc làm phép lạ, và phần sau về đường lối để
sống khôn ngoan theo Ý muốn của Thiên Chúa đó là áp dụng thực hành lời của
Chúa Kitô giáo huấn về chủ đề trọn lành ở Bài Giảng Trên Núi.
Trước hết là tầm quan trọng của Ý Chúa so với việc cầu nguyện và việc làm
phép lạ:"Không
phải tất cả những ai nói với Ta: 'Lạy Chúa, lạy Chúa!', là được vào nước
trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Ta ở trên trời, kẻ ấy mới được vào
nước trời. Trong ngày đó, nhiều người sẽ nói với Thầy rằng: 'Lạy Chúa, lạy
Chúa, nào chúng tôi đã không nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa
mà trừ quỷ, và nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó ư?' Và bấy giờ Thầy sẽ
tuyên bố với chúng rằng: 'Ta chẳng hề biết các ngươi, hỡi những kẻ làm điều
gian ác, hãy lui ra khỏi mặt Ta'".
Sau nữa là đường lối để sống khôn ngoan theo Ý muốn của Thiên Chúa là áp
dụng thực hành lời Chúa Kitô:"Vậy
ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì giống như người khôn
ngoan đã xây nhà mình trên đá; mưa có đổ xuống, nước có tràn vào, gió bão có
thổi đến và lùa vào nhà đó, nhà vẫn không sập, vì nhà ấy được xây trên nền
đá. Và hễ ai nghe những lời Thầy nói đây mà không đem ra thực hành, thì
giống như người ngu đần, xây nhà mình trên cát, khi mưa sa nước lũ, gió thổi
và lùa vào nhà đó, nhà sẽ sập và sẽ trở nên đống hoang tàn".
Đúng thế, nếu chính bản thân của Đức Giêsu Kitô là tột đỉnh và là tất cả mạc
khải thần linh của Thiên Chúa, đến độ "ai thấy Thày là thấy Cha"
(Gioan 14:9), vì "Thày là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có
thể đến với Cha mà không qua Thày" (Gioan 14:6), Đấng Cha được Người là
Lời "tỏ ra" (Gioan 1:18). Và chính Chúa Cha đã chứng thực Đức Giêsu
Kitô là Con của Ngài ở Sông Jordan khi Người lãnh nhận Phép Rửa của Tiền Hô
Gioan Tẩy Giả: "Này là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng"
(Mathêu 3:17), là Đấng Thiên Sai Ngài sai đến "dẫn các con vào tất cả sự
thật" (Gioan 16:13) nên "hãy vâng nghe lời Người" (Mathêu
17:5), như 3 môn đệ thân tín nhất của Người đã nghe thấy thế trong biến cố
biến hình của Người trên núi cao.
Bởi vậy, tất cả giáo huấn về chủ đề trọn lành nơi Bài Giảng Trên Núi của Đức
Giêsu Kitô đều xuất phát từ trời, đều là mạc khải thần linh, một mạc khải
thần linh liên quan đến linh đạo trọn lành siêu việt của Kitô giáo, đến độ
chính tầm mức khôn ngoan nhất của loài người trong suốt giòng lịch sử của
mình chẳng những không hề nghĩ ra và không thể nghĩ tới, mà còn tự mình, con
người đời đời kiếp kiếp sẽ không thể nào áp dụng thực hành được giáo huấn
trọn lành siêu việt này nếu không có ân sủng thần linh, vì giáo huấn trọn
lành này có tác dụng biến đổi con người vô cùng hèn hạ khốn nạn tội lỗi yếu
đuối "nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành" (Mathêu
4:48), phản ảnh một Đức Giêsu Kitô "là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi
đàng".
Bài Giảng Trên Núi về chủ đề Trọn Lành phải là những gì quan trọng đến độ,
như Moisen trong Sách Đệ Nhị Luật khuyên dạy dân Do Thái ở Bài Đọc 1 hôm nay
như sau:"Các
ngươi hãy ghi lòng tạc dạ những lời này, và đeo nó nơi tay như bửu bối, và
hãy luôn để nó trước mắt các ngươi".Phần người nghe như
các môn đệ tông đồ của Chúa Kitô là đối tượng nhắm tới của giáo huấn này,vì
thế, cần phải trân quí trên hết mọi sự và theo đuổi cho tới cùng, "giống
như người khôn ngoan đã xây nhà mình trên đá", với tâm nguyện thiết tha
của Thánh Vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay:"Xin Chúa trở
thành núi đá cho con trú ẩn. Bởi Chúa là Ðá tảng, là chiến luỹ của con, vì
uy danh Ngài, Ngài sẽ dìu dắt và hướng dẫn con"(câu 2).
Nội dung và ý hướng của bài Giảng Trên Núi về chủ đề Sống Trọn Lành là giúp
cho chung con người và riêng Kitô hữu môn đệ Chúa Kitô nắm vững được chính
tinh thần của lề luật và làm cho lề luật được nên trọn đúng như ý muốn của
Thiên Chúa nơi bản thân mình, một cuộc sống trọn lành tự bản chất là đức ái
trọn hảo và theo chiều hướng đức ái trọn hảo, nhưng phản ảnh một "đức
tin thể hiện qua đức ái" (Galata 5:6), một điều kiện và là một yếu tố
bất khả thiếu để được công chính hóa, phản ảnh sự công chính nơi Thiên Chúa
đã được tỏ hiện đặc biệt qua Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu về giáo huấn
sống trọn lành, đúng như vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô đã xác tín và khẳng
định trong Thư Roma ở Bài Đọc 1 hôm nay:
"Anh
em thân mến, bây giờ sự công chính của Thiên Chúa đã tỏ hiện không tuỳ vào
lề luật, nhưng có lề luật và các tiên tri làm chứng. Sự công chính của Thiên
Chúa nhờ tin vào Ðức Giêsu Kitô sẽ ban cho mọi kẻ tin vào Người, không có gì
phân biệt: vì mọi người đều phạm tội và đã thiếu mất vinh quang của Thiên
Chúa, họ được công chính hoá cách nhưng không do ơn nghĩa của Người và nhờ
sự cứu chuộc nơi Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Thiên Chúa đã đặt làm của lễ đền tội,
nhờ tin vào máu của Người. Quả thế, chúng tôi thâm tín rằng con người nhờ
đức tin mà được công chính hoá, chứ không phải bởi việc làm theo lề luật".
Thứ Hai
Phụng Vụ Lời
Chúa
Bài Ðọc I:(Năm
II)2
Pr 1, 1-7
"Người ban cho anh em những lời hứa
quý báu, để nhờ đó anh em được thông dự vào bản tính Thiên Chúa".
Khởi đầu thư thứ hai của Thánh Phêrô
Tông đồ.
Tôi là Simon Phêrô, tôi tớ và tông đồ
của Ðức Giêsu Kitô, kính gửi những người thừa hưởng một đức tin quý giá
ngang hàng chúng tôi, nhờ sự công chính của Ðức Giêsu Kitô, là Thiên Chúa và
là Cứu Chúa của chúng ta.? Nguyện (chúc) ân sủng và bình an đổ xuống tràn
đầy cho anh em, trong ơn nhận biết Thiên Chúa và Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng
ta!
Bởi chưng quyền năng linh thiêng của
Người đã ban cho anh em mọi điều cần ích cho sự sống và lòng đạo đức, nhờ sự
nhận biết Ðấng dùng vinh quang và quyền năng kêu gọi chúng ta; nhờ Người mà
Thiên Chúa ban cho chúng ta những lời hứa cao trọng và quý báu, để nhờ đó,
anh em được thông dự vào bản tính Thiên Chúa, thoát khỏi cảnh đồi bại dục
tình thế tục.
Phần anh em, hãy gia tăng tất cả nhiệt
thành và lo sao để nhờ lòng tin mà được thêm sức mạnh, nhờ sức mạnh được
thêm thông biết, nhờ thông biết được thêm tiết độ, nhờ tiết độ được thêm
kiên nhẫn, nhờ kiên nhẫn được thêm đạo đức, nhờ đạo đức được thêm tình huynh
đệ, nhờ tình huynh đệ được thêm đức ái.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 90, 1-2.
14-15ab. 15c-16
Ðáp:Lạy
Chúa con, con tin cậy ở Ngài (x. c. 2b).
Xướng: 1) Bạn sống trong sự che chở
của Ðấng Tối Cao; bạn cư ngụ dưới bóng của Ðấng Toàn Năng. Hãy thưa cùng
Chúa: "Chúa là chiến lũy, là nơi con nương náu, lạy Chúa con, con tin cậy ở
Ngài". - Ðáp.
2) Vì người yêu mến Ta, Ta sẽ giải
thoát cho, Ta sẽ che chở người bởi lẽ người nhìn biết danh Ta. Người sẽ kêu
cầu Ta và Ta sẽ nhậm lời, Ta sẽ ở cùng người trong lúc gian truân. - Ðáp.
3) Ta sẽ cứu gỡ và làm vinh dự cho
người. Ta sẽ làm cho người thoả mãn cuộc đời trường thọ, và cho người nhìn
thấy ơn cứu độ của Ta. - Ðáp.
Alleluia: Gc 1, 21
Alleluia, alleluia! - Anh em hãy khiêm
nhu nhận lãnh lời giao ước trong lòng, lời đó có thể cứu thoát linh hồn anh
em. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 12,
1-12
"Chúng bắt cậu con trai giết đi và
quăng xác ra vườn nho".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn mà nói
với các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão rằng: "Có người trồng một vườn nho, rào
dậu xung quanh, đào bồn đạp nho và xây một tháp, đoạn cho tá điền thuê vườn
nho và trẩy đi phương xa.
"Ðến kỳ hạn, ông sai đầy tớ đến với tá
điền thu phần hoa lợi vườn nho. Nhưng những người này bắt tên đầy tớ đánh
đập và đuổi về tay không. Ông lại sai đầy tớ khác đến với họ. Người này cũng
bị chúng đánh vào đầu và làm sỉ nhục. Nhưng người thứ ba thì bị chúng giết.
Ông còn sai nhiều người khác nữa, nhưng kẻ thì bị chúng đánh đập, người thì
bị chúng giết chết.
"Ông chỉ còn lại một cậu con trai yêu
quý cuối cùng, ông cũng sai đến với họ, (vì) ông nghĩ rằng: "Chúng sẽ kiêng
nể con trai ta". Nhưng những tá điền nói với nhau rằng: "Người thừa tự đây
rồi, nào ta hãy giết nó và cơ nghiệp sẽ về ta". Ðoạn chúng bắt cậu giết đi
và quăng xác ra ngoài vườn nho. Chủ vườn nho sẽ xử thế nào? Ông sẽ đến tiêu
diệt bọn tá điền và giao vườn nho cho người khác. Các ông đã chẳng đọc đoạn
Thánh Kinh này sao: "Tảng đá những người thợ xây loại ra, trở thành đá góc
tường. Ðó là việc Chúa làm, thật lạ lùng trước mắt chúng ta".
Họ tìm bắt Người, nhưng họ lại sợ dân
chúng. Vì họ đã quá hiểu Người nói dụ ngôn đó ám chỉ họ. Rồi họ bỏ Người mà
đi.
Ðó là lời Chúa.
Suy Niệm Cảm Nghiệm
"Bắt
lấy giết đi"
Suy Niệm
Chủ đề "sự sống" của Mùa Phục Sinh tiếp tục
nơi phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay, Thứ Hai Tuần IX Thường Niên, thời điểm
Phụng vụ Thường niên cũng liên quan đến Sự sống được Chúa Kitô ở cùng Giáo
Hội cho đến tận thế, để nhờ Giáo Hội và qua Giáo Hội trong Chúa Thánh Thần,
tiếp tục thông ban cho tất cả loài người cho đến tận cùng trái đất và cho
tới khi Người lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Trước hết là dụ
ngôn về vườn nho của Thiên Chúa được
Ngài trồng
là chính dân Do Thái (xem Isaia 5:7), một dân tộc được Ngài tuyển chọn riêng
và chăm sóc đặc biệt, với Lề Luật của Ngài để bảo vệ họ khỏi nếp sống đa
thần hay ngẫu tượng như dân ngoại, như thể Ngài "rào
dậu chung quanh" họ, cùng với
các ngày lễ và nghi lễ phụng thờ được
Ngài thiết lập cho họ, như
thể Ngài "đào
bồn đạp nho" nơi
họ,
còn việc
Ngài "xây một cái tháp" ở
vườn nho của Ngài là dân Do Thái có thể hiểu là Đền Thờ Giêrusalem, nơi
Ngài ẩn ngự, hay cũng có thể là giao ước Ngài đã thiết lập với các vị tổ phụ của họ, và lời hứa của Ngài trở thành như niềm hy vọng
hướng về tương lai của họ.
Thế
nhưng, thành phần "tá điền" lãnh đạo
dân của Ngài đã chẳng những không mang lại "hoa
lợi vườn nho", lại còn tỏ ra hung dữ bạo
nghịch đối với thành phần tiên tri "đầy tớ"
của Ngài, được Ngài sai đến với họ, khi
họ "đánh đập
và đuổi về tay không" đối với người "đầy
tớ" đầu tiên, khi họ "đánh vào đầu và làm
sỉ nhục" đối với "đầy tớ" thứ hai, và khi
họ "sát hại"
người "đầy tớ" thứ ba. Thậm chí họ còn dám "sát hại" cả "người
con trai yêu quí" của Ngài là Đức Giêsu
Kitô khi Ngài sai Người đến với họ nữa, thành phần nhắm mục đích để
cướp đoạt "gia nghiệp"
của Người
Con, ở
chỗ họ lên án tử cho Con của Ngài nhân
danh "Thiên Chúa hằng
sống" (xem
Mathêu 26:63), nhân
danh chính Ngài để "bắt
cậu giết đi và quăng xác ra ngoài vườn nho".
Tất
nhiên, cho dù "họ lầm không biết việc họ
làm" (Luca 23:34; xem Tông Vụ 3:17), nhưng
tự bản chất việc của họ vẫn là những tội ác cần phải đền trả, ở chỗ, như dụ
ngôn của bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, Thiên Chúa là chủ vườn nho "sẽ
đến tiêu diệt bọn tá điền và giao vườn nho cho người khác", như
lịch sử cho thấy, vườn nho của Thiên Chúa đã
trở thành một Dân Tân Ước là
chính Giáo Hội Chúa Kitô, một Giáo Hội được chính Người thiết lập (xem
Mathêu 16:16), một Giáo Hội được xây dựng trên chính bản thân
của Người đã từng là "Tảng
đá bị những
người thợ xây loại bỏ đã trở
thành đá góc tường", như
Người ám chỉ trong bài Phúc Âm hôm nay.
Như
thế có nghĩa là Thiên Chúa vẫn có thể biến tất cả những sự dữ gây ra bởi con
người để mang lại thiện hảo cho họ theo như ý định vô cùng nhân hậu và
quan phòng thần linh vô cùng khôn ngoan đầy quyền năng của
Ngài, đúng như lời rao giảng
ban đầu của Tông Đồ Phêrô ngỏ cùng cộng đồng Do Thái sau khi chữa lành ở
"cửa Đẹp" của đền thờ cho một người què từ lúc mới sinh: "Anh
em thân mến, tôi
biết rằng anh em đã tác hành
một cách vô thức như thành phần lãnh đạo của anh em đã làm. Thiên Chúa đã
làm cho nên trọn bằng cách thế đó những gì Ngài đã loan báo từ lâu qua các
vị tiên tri đó là Vị Thiên Sai của Ngài cần phải
chịu đau khổ"
(Tông Vụ 3:17-18).
Từ
một tảng đá bị thợ xây loại
bỏ là một Đức Kitô khổ nạn
và tử giá, Thiên Chúa đã biến thành tảng đá góc tường là một Chúa Kitô phục
sinh, Đấng "được toàn quyền trên trời
dưới đất" (Mathêu 28:18), để Người có thể
thông ban sự sống thần linh của Người cho nhân loại, qua Giáo Hội Nhiệm Thể
của Người, thành phần "tá điền" mới được sai đến để làm vườn nho của Người
và cho Người:
"Bởi thế, các
con hãy đi tuyển mộ môn đồ ở khắp mọi dân nước và rửa tội cho họ nhân danh
Cha và Con và Thánh Thần ..."
(Mathêu 28:19).
Cảm Nghiệm
Quả thực, đúng như lời Chúa Giêsu tuyên bố trong
bài Phúc Âm hôm nay về dụ ngôn vườn nho của Chúa và bọn tá điền gian ác (ám
chỉ thành phần lãnh đạo Do Thái giáo) đã sát hại các đợt đầy tớ được chủ sai
đến thu hoa lợi, thậm chí sát hại cả chính người con duy nhất vô cùng yêu
quí của chủ nữa để cướp gia tài của người con này: "Ông sẽ đến tiêu diệt
bọn tá điền và giao vườn nho cho người khác".
Căn cứ vào Bài Đọc 1 hôm nay thì "người khác" được chủ vườn nho
thuê muớn đến làm vườn nho của ông thay thế bọn tá điền gian ác trước kia đó
là thành phần Kitô hữu trong Giáo Hội được Người thiết lập. Và thành phần tá
điền Tân Ước được thuê đến làm vườn nho dân ngoại (không còn "vườn nho
của Chúa là nhà Israel" nữa - xem Isaia 5:7) đây đã được trang bị cho
đầy đủ quyền năng và tư cách cho sứ vụ xứng hợp này của họ.
Trước hết, về quyền năng, đó là họ có được một đức tin truyền thống như của
các vị tông đồ: "những
người thừa hưởng một đức tin quý giá ngang hàng chúng tôi". Thật vậy,
là thành phần được sống trực tiếp với Nhân Vật Lịch Sử Giêsu Nazarét,
các tông đồ cũng cần phải có và càng cần phải có đức tin đối với Nhân Vật
Lịch Sử này, liên quan đến một thực tại thần linh về Nhân Vật Lịch Sử ấy, đó
là chính sự thật thần linh siêu việt mà các vị, được Cha tỏ ra cho và qua vị
tông đồ đại diện là Phêrô, đã tuyên xưng một cách rất chính xác và chí lý
rằng: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16).
Kitô hữu hậu sinh, cho dù không hề thấy hay gặp Nhân Vật Lịch Sử Giêsu
Nazarét này, qua tông truyền (đức tin được truyền lại từ các tông đồ), cũng
có cùng một niềm tin như các vị, tin Nhân Vật Lịch Sử Nazarét "là Đức
Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống".
Sau nữa, về tư cách, đó là họ
"được thông dự vào
bản tính Thiên Chúa, thoát khỏi cảnh đồi bại dục tình thế tục". Thật
vậy, khi lãnh nhận Phép Rửa Thánh Tẩy Tái Sinh, Kitô hữu chẳng những được
thanh tẩy cho khỏi nguyên tội và tư tội (nếu chịu phép rửa đã lớn), nghĩa là
được cứu khỏi tội lỗi và sự chết, mà còn "được thông dự vào bản
tính Thiên Chúa", nhờ đó,nhờ tác dụng mãnh liệt của quyền lực
thần linh và ân sủng thần linh, họ cũng"thoát khỏi cảnh đồi
bại dục tình thế tục".
Tuy nhiên, thực tế sống đạo cho thấy, nơi bản thân
mình, Kitô hữu vẫn còn mầm mống nguyên tội, vẫn con đam mê nhục dục và tính
mê nết xấu, vẫn bị mù quáng nơi trí khôn và yếu nhược nơi ý chí, luôn xu
hướng về tội lỗi và có thể sa ngã phạm tội bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu và
bất cứ với cái gì, sống hoàn toàn phản lại lời hứa phép rửa của họ là từ bỏ ma
quỉ và tin vào Thiên Chúa.
Đó là lý do Thánh Phêrô trong Bài Đọc 1 hôm nay còn khuyên dạy thành phần
Kitô hữu tá điền Tân Ước rằng:
"Phần anh em, hãy gia tăng tất cả nhiệt
thành và lo sao để nhờ lòng tin mà được thêm sức mạnh, nhờ sức mạnh được
thêm thông biết, nhờ thông biết được thêm tiết độ, nhờ tiết độ được thêm
kiên nhẫn, nhờ kiên nhẫn được thêm đạo đức, nhờ đạo đức được thêm tình huynh
đệ, nhờ tình huynh đệ được thêm đức ái".
Theo ý nghĩa và chiều hướng của lời khuyên như
thế của vị giáo hoàng tiên khởi là tông đồ Phêrô này thì càng sống tông đồ
truyền giáo thì đức tin càng vững mạnh: "hãy gia tăng tất cả nhiệt thành
và lo sao để nhờ lòng tin mà được thêm sức mạnh", vì đức tin tự bản
chất là ánh sáng và không thể không chiếu sáng: "Ánh sáng đức tin- Lumen fidei" (nhan đề của bức Thông Điệp do ĐTC Biển Đức XVI viết
hầu hết và ĐTC Phanxicô ban hành ngày 29/6/2013, sau 3 tháng lên làm giáo
hoàng).
Và đó là lý do hoa trái của đức tin hay mục tiêu
của đức tin chính là đức bác ái yêu thương. Bởi thế, cuối cùng trong tiến
trình liên hệ nhân quả của một chuỗi nhân đức được Tông Đồ Phêrô liệt kê
cuối Bài Đọc 1 hôm nay, chúng ta thấy từ đức tin mạnh mẽ như móc xích đầu
tiên ấy: "sức mạnh" -> "thông biết" -> "tiết độ"
-> "kiên nhẫn" -> "đạo đức" -> "huynh đệ" -> đã
đi đến chỗ: "được thêm đức ái".
Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa những nhận thức thần
linh và cảm nhận thần linh rất thực nghiệm về những ai sống đức tin mãnh
liệt và đức ái dồi dào, như lời khuyên dạy của Tông Đồ Phêrô trong Bài Đọc 1
hôm nay, đó là họ sẽ trở nên siêu thoát:
"người yêu mến Ta, Ta sẽ giải thoát cho" (câu 2),và đạt đến cùng đích của mình là Thiên Chúa, Đấng Toàn
Thiện Trọn Hảo: "Ta sẽ cứu gỡ và làm vinh dự
cho người. Ta sẽ làm cho người thoả mãn cuộc đời trường thọ, và cho người
nhìn thấy ơn cứu độ của Ta" (câu 3).
Thứ Ba
Phụng Vụ Lời
Chúa
Bài Ðọc I:(Năm
II)2
Pr 3, 12-15a. 17-18
"Chúng ta mong đợi trời mới đất
mới".
Trích thư thứ hai của Thánh Phêrô Tông
đồ.
Anh em thân mến, anh em hãy mong chờ
và hối thúc ngày Chúa đến, ngày mà các tầng trời bốc cháy tiêu tan, và ngũ
hành bị thiêu rụi. Nhưng theo lời Người hứa, chúng ta mong đợi trời mới đất
mới, trong đó công lý sẽ ngự trị.
Anh em thân mến, bởi thế, trong lúc
chờ đợi, (hãy gắng sao nên vô tì tích trước nhan Người, trong bình an. Và)
anh em hãy coi lòng khoan dung của Thiên Chúa như là phương thế cứu rỗi.
Vậy, anh em thân mến, được biết trước
như thế, anh em hãy giữ mình, kẻo bị lôi cuốn theo sự lầm lạc của những kẻ
vô luân mà sa đoạ, mất lòng trung kiên của anh em. Anh em hãy lớn lên trong
ân sủng và trong sự hiểu biết Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Rỗi và là Chúa chúng
ta. Nguyện (chúc) vinh quang cho Người bây giờ và đến muôn đời. Amen!
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 89, 2.
3-4. 10. 14 và 16
Ðáp:Thân
lạy Chúa, Chúa là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia (c.
1).
Xướng: 1) Ôi Thiên Chúa, trước khi núi
non sinh đẻ, trước khi địa cầu và vũ trụ nở ra, tự thuở này qua thuở kia,
vẫn có Ngài. - Ðáp.
2) Thực ngàn năm ở trước thiên nhan,
tựa hồ như ngày hôm qua đã khuất, như một đêm thức giấc cầm canh. Chúa khiến
con người trở về bụi đất, Ngài phán: "Hãy trở về gốc, hỡi con người!" - Ðáp.
3) Thọ kỳ của chúng con số niên bảy
chục, nếu khoẻ mạnh ra thì được tám mươi, nhưng đa số là những năm lầm than
và phù phiếm, bởi chúng mau qua và chúng con cũng bay theo. - Ðáp.
4) Xin cho chúng con sớm được no phỉ
ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con. Xin
cho các bầy tôi nhìn thấy sự nghiệp của Chúa, và cho con cháu họ được thấy
vinh quang Ngài. - Ðáp.
Alleluia: 1 Pr 1,
25
Alleluia, alleluia! - Lời Chúa tồn tại
muôn đời, đó là lời Tin Mừng đã rao giảng cho anh em. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 12,
13-17
"Các ông hãy trả cho Cêsarê cái gì
thuộc về Cêsarê, và trả cho Thiên Chúa cái gì thuộc về Thiên Chúa".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Marcô.
Khi ấy, người ta sai mấy người thuộc
nhóm biệt phái và đảng Hêrôđê đến Chúa Giêsu để lập mưu bắt lỗi Người trong
lời nói. Họ đến thưa Người rằng: "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người
chân thật không vị nể ai, vì Thầy chẳng xem diện mạo, một giảng dạy đường
lối Thiên Chúa cách rất ngay thẳng. Vậy chúng tôi có nên nộp thuế cho Cêsarê
không? Chúng tôi phải nộp hay là không?" Nhưng Người biết họ giả hình, nên
bảo rằng: "Sao các ông lại thử Ta? Hãy đưa Ta xem một đồng tiền". Họ đưa cho
Người một đồng tiền và Người hỏi: "Hình và ký hiệu này là của ai?" Họ thưa:
"Của Cêsarê". Người liền bảo họ: "Vậy thì của Cêsarê, hãy trả cho Cêsarê;
của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa". Và họ rất đỗi kinh ngạc về Người.
Ðó là lời Chúa.
Suy Niệm Cảm Nghiệm
"Thần
trí tác
sinh"
Suy Niệm
"Sự sống" thần linh
hay cái chết thiêng liêng nơi con người được tỏ hiện ở chỗ họ có "trả
về cho Cesa những gì của Cesa và trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa",
như câu Chúa Giêsu trả lời cho "nhóm biệt
phái và đảng Hêrôđê" là thành phần "lập
mưu bắt lỗi Người trong lời nói".
Câu trả lời của
Người dù đã làm cho"họ
rất đỗi kinh ngạc về Người", như
bài Phúc Âm kết thúc, thế
nhưng,
trước khi trả
lời cho câu
họ đặt ra: "Vậy
chúng tôi có nên nộp thuế cho Cêsa không?", một
câu hỏi thật hóc búa, Người trả lờiđằng
nào cũng chết, "có" thì theo đế quốc Roma phản dân tộc, còn "không" thì tỏ
ra xui dân phản loạn với đế quốc này, Người đã
phải căn cứ vào một vật thể, đó là "đồng tiền", vì vấn đề "nộp thuế cho Cêsa"
liên quan đến "đồng tiền" của đế quốc Rôma.
Thế rồi sau khi "họ
đưa cho Người một đồng tiền và Người hỏi: 'Hình và ký hiệu này là của
ai đây?' Họ thưa: 'Của Cêsa'. Người liền bảo họ: 'Vậy thì của Cêsa, hãy trả
cho Cêsa; của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa'".
Câu trả lời này của Chúa
Giêsu không phải chỉ là một nguyên
tắc cần phải áp dụng vào lãnh vực chính
trị, ám
chỉ phải tuân phục quyền bính thích hợp, mà còn có một ý nghĩa sâu xa hơn
nữa, đó là dù có tuân phục quyền bính trần gian ("trả
cho Cêsa") nhưng với một tinh thần đức
tin siêu
nhiên vì
Chúa ("trả cho Thiên Chúa"), ở
chỗ, vì Chúa là Đấng quan phòng làm chủ lịch sử hơn là vì sợ con
người có
quyền bính: "Đừng sợ kẻ chỉ giết được
thân xác mà không thể nào hủy hoại được linh hồn. Đúng ra hãy
sợ Đấng có thể hủy
hoại cả hồn lẫn xác trong hỏa
ngục"
(Mathêu
10:28).
Chưa hết "của
Cesa trả cho Cesa, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa"
còn có nghĩa là "người ta không sống nguyên
bởi bánh mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán
ra" (Mathêu 4:4). Cho dù
cần phải "có thực mới vực được đạo",
thế nhưng,
vì con người được dựng nên để được sống đời đời chứ không phải chỉ sống trên
thế gian mau qua tạm gửi này thôi, nên "chính
thần trí mới cống hiến sự sống chứ xác thịt là thứ vô dụng"
(Gioan 6:63): "cái
gì sinh bởi xác thịt là xác thịt, cái gì sinh bởi Thần Linh là Thần Linh"
(Gioan 3:6).
Bởi
thế, trong Bài Giảng Phúc Đức Trọn Lành trên núi, Chúa Kitô đã khẳng định
với thành phần môn đệ của Người là "Không
ai có thể làm tôi hai chủ ... Các con không thể vừa làm tôi cho Thiên Chúa
vừa làm tôi cho tiền của được" (Mathêu
6:24). Nghĩa là "của Cesa hãy trả cho cesa
và của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa"
là thế.
Nếu "hình và ký hiệu"
trên đồng tiền được thành
phần âm mưu bắt bẻ Người bảo là
"của Cesa" ở đây và vì thế "của Cesa hãy trả cho Cesa", thì con người được
nên theo hình ảnh của Thiên Chúa và tương tự như Thiên Chúa (xem Khởi Nguyên
1:26-27), có thể so sánh như một đồng tiền có giá ở nơi "hình và ký hiệu"
của Thiên Chúa nên cần phải trả về cho Ngài những gì thuộc về Ngài. Đó là lý
do Thánh Âu Quốc Tinh, sau cuộc đời vừa lạc giáo về tâm thần vừa trác táng
về xác thể, đã có được một cảm nghiệm rất chí lý và xác thực là: "Chúa đã
dựng nên con cho Chúa nên lòng
con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa"
(Tự Thú I,1).
Cảm Nghiệm
Thật vậy, nếu con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và tương tự
như Thiên Chúa (xem Khởi Nguyên 1:26-27) thì quả thực chỉ có một mình Thiên
Chúa là tất cả moị sự của con người và cho con người, là nguyên ủy và là
cùng đích của họ, ngoài Ngài ra con ngưòi chắc chắn sẽ bị lầm lạc và chẳng
bao giờ có hạnh phúc chân thật, trọn hảo và bất tận, nếu con người không tìm
kiếm Ngài, nhận biết Ngài, chấp nhận Ngài và đáp ứng Ngài.
Đó là lý do, trong Bài Đọc 1 hôm nay, Thánh Phêrô chẳng những không cảnh
giác hay trấn an mà còn thúc giục Kitô hữu
"hãy mong chờ và
hối thúc ngày Chúa đến, ngày mà các tầng
trời bốc cháy tiêu tan, và ngũ hành bị thiêu rụi. Nhưng theo lời Người hứa,
chúng ta mong đợi trời mới đất mới, trong đó công lý sẽ ngự trị".
Thiên Chúa không phải chỉ là nguyên ủy và là cùng đích của con người mà còn
là đường lối cho con người nữa, là phương thế cứu độ của con người nữa, để
chính Ngài dẫn họ đến với Ngài, bằng không, tự mình, như chính kinh nghiệm
sống đạo của họ cho thấy, họ sẽ không thể nào có thể đến được với Ngài dù
Ngài đã đến với họ nơi Lời Nhập Thể, có thể nhận ra Ngài dù Ngài đã tỏ mình
ra cho họ nơi Cuộc Vượt Qua của Con Ngài, và có thể hiệp thông thần linh với
Ngài dù Ngài đã ban Thánh Thần cho họ khi họ lãnh nhận Phép Rửa nhất là Phép
Thêm Sức.
Đó là lý do, cũng trong Bài Đọc 1 hôm nay, Thánh Phêrô đã nhắc nhở Kitô hữu
rằng:
"Anh em thân mến, bởi thế, trong lúc
chờ đợi, (hãy gắng sao nên vô tì tích trước nhan Người, trong bình an. Và)
anh em hãy coi lòng khoan dung của Thiên Chúa như là phương thế cứu rỗi".
Nhất là khi con người sa ngã phạm tội, phải gánh chịu các hậu quả đau
thương bất hạnh xẩy đến cho cuộc đời tưởng rằng tìm được hạnh phúc ngay trên
đời này thì lại toàn là thất bại, thất vọng và thất lạc đáng tiếc và đáng
thương.
Chính vì thông cảm với thân phận của con người Kitô hữu đang hành trình đức
tin trần thế với đầy nhưng cạm bẫy sa ngã và trở ngại bỏ cuộc mà vị chủ
chiên đầu tiên thay cho Chúa Kitô trên trần gian này đã phấn khích họ bằng
những lời kết thúc bức thư thứ 2 của ngài ở Bài Đọc 2 hôm nay như sau:
"Vậy, anh em thân mến, được biết trước
như thế, anh em hãy giữ mình, kẻo bị lôi cuốn theo sự lầm lạc của những kẻ
vô luân mà sa đoạ, mất lòng trung kiên của anh em. Anh em hãy lớn lên trong
ân sủng và trong sự hiểu biết Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Rỗi và là Chúa chúng
ta. Nguyện (chúc) vinh quang cho Người bây giờ và đến muôn đời. Amen!"
Tâm hồn Kitô hữu nào sống trọn những lời khuyên
dạy của Thánh Phêrô trong Bài Đọc 1 hôm nay thì cũng cảm nghiệm thấy thấm
thía ý nghĩa của thân phận và đời sống trần gian của con người nơi những tâm
tình của Thánh Vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay:
1) Ôi Thiên Chúa, trước khi núi
non sinh đẻ, trước khi địa cầu và vũ trụ nở ra, tự thuở này qua thuở kia,
vẫn có Ngài.
2) Thực ngàn năm ở trước thiên nhan,
tựa hồ như ngày hôm qua đã khuất, như một đêm thức giấc cầm canh. Chúa khiến
con người trở về bụi đất, Ngài phán: "Hãy trở về gốc, hỡi con người!"
3) Thọ kỳ của chúng con số niên bảy
chục, nếu khoẻ mạnh ra thì được tám mươi, nhưng đa số là những năm lầm than
và phù phiếm, bởi chúng mau qua và chúng con cũng bay theo.
4) Xin cho chúng con sớm được no phỉ
ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con. Xin
cho các bầy tôi nhìn thấy sự nghiệp của Chúa, và cho con cháu họ được thấy
vinh quang Ngài.
Thứ Tư
Phụng Vụ Lời
Chúa
Bài Ðọc I:(Năm
II)2
Tm 1, 1-3. 6-12
"Con hãy làm sống lại ơn Thiên Chúa
trong con qua việc đặt tay của cha".
Khởi đầu thư thứ hai của Thánh Phaolô
Tông đồ gửi cho Timôthêu.
Phaolô, tông đồ của Ðức Giêsu Kitô,
bởi ý định của Thiên Chúa, thể theo lời hứa ban sự sống trong Ðức Giêsu
Kitô, gởi lời hỏi thăm Timôthêu, người con yêu dấu. Nguyện chúc ân sủng,
lòng từ bi và bình an của Thiên Chúa Cha và Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ở
cùng con. Cha cảm tạ ơn Thiên Chúa, Ðấng cha phụng thờ như tổ tiên cha đã
làm, với một lương tâm trong sạch, ngày đêm cha luôn luôn nhớ đến con, khi
cha cầu nguyện. Vì thế, cha khuyên con hãy làm sống lại ơn Thiên Chúa đã ban
cho con do việc đặt tay của cha. Vì chưng, Thiên Chúa không ban cho chúng ta
một thần trí nhát sợ, mà là thần trí dũng mạnh, bác ái và tiết độ. Vậy con,
con chớ hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta, và cho cha nữa, là tù nhân của
Người, nhưng con hãy đồng lao cộng tác với cha vì Tin Mừng, nhờ quyền năng
của Thiên Chúa, Ðấng đã giải thoát và kêu mời chúng ta bằng ơn thiên triệu
thánh của Người, không phải do công việc chúng ta làm, mà là do sự dự định
và ân sủng đã ban cho chúng ta từ trước muôn đời trong Ðức Giêsu Kitô, nhưng
bây giờ mới tỏ bày bằng sự xuất hiện của Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Chuộc
chúng ta. Người đã dùng Tin Mừng tiêu diệt sự chết và chiếu soi sự sống, và
sự không hư nát được tỏ rạng. Cha đã được đặt làm kẻ rao giảng, làm tông đồ
và làm thầy dạy các dân ngoại. Cũng do đó, cha phải chịu những thử thách
này, nhưng cha không hổ thẹn, vì cha biết cha tin vào Ðấng nào, và cha chắc
chắn rằng Người có quyền phép gìn giữ kho tàng của cha cho đến ngày đó.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 122,
1-2a. 2bcd
Ðáp:Lạy
Chúa, con ngước mắt nhìn lên Chúa (c. 1a).
Xướng: 1) Con ngước mắt nhìn lên Chúa,
Ngài ngự trị ở cõi cao xanh. Kìa, như mắt những người nam tôi tớ nhìn vào
tay các vị chủ ông. - Ðáp.
2) Như mắt của những người tỳ nữ nhìn
vào tay các vị chủ bà, mắt chúng tôi cũng nhìn vào Chúa là Thiên Chúa của
chúng tôi như thế, cho tới khi Ngài thương xót chúng tôi. - Ðáp.
Alleluia: Tv 129, 5
Alleluia, alleluia! - Con hy vọng rất
nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Chúa. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 12,
18-27
"Người không phải là Thiên Chúa kẻ
chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Marcô.
Khi ấy, có ít người phái Sađốc đến
cùng Chúa Giêsu; phái này không tin có sự sống lại và họ hỏi Người rằng:
"Thưa Thầy, luật Môsê đã truyền cho chúng tôi thế này: Nếu ai có anh em chết
đi, để lại một người vợ không con, thì hãy cưới lấy người vợ goá đó để gây
dòng dõi cho anh em mình. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ rồi chết
không con. Người thứ hai lấy người vợ goá và cũng chết không con, và người
thứ ba cũng vậy, và cả bảy người không ai có con. Sau cùng người đàn bà ấy
cũng chết. Vậy ngày sống lại, khi họ cùng sống lại, thì người đàn bà đó sẽ
là vợ của người nào? Vì cả bảy anh em đã cưới người đó làm vợ". Chúa Giêsu
trả lời rằng: "Các ông không hiểu biết Kinh Thánh, cũng chẳng hiểu biết
quyền phép của Thiên Chúa, như vậy các ông chẳng lầm lắm sao? Bởi khi người
chết sống lại, thì không lấy vợ lấy chồng, nhưng sống như các thiên thần ở
trên trời. Còn về sự kẻ chết sống lại, nào các ông đã chẳng đọc trong sách
Môsê chỗ nói về bụi gai, lời Thiên Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ta là Chúa
Abraham, Chúa Isaac và Chúa Giacóp". Người không phải là Thiên Chúa kẻ chết,
mà là Thiên Chúa kẻ sống. Vậy các ông thật lầm lạc".
Ðó là lời Chúa.
Suy Niệm Cảm Nghiệm
"Thiên Chúa kẻ sống"
Suy Niệm
Chủ đề "sự sống"
của Mùa Phục Sinh trở lại một cách tỏ tường hơn 2 ngày đầu tuần này ở phụng
vụ Lời Chúa hôm nay, Thứ Tư Tuần IX Thường Niên, qua lời Chúa Giêsu,
trong bài Phúc Âm của Thánh ký Marco (12:18-27), xác quyết với "ít
người phái Sađốc" là thành phần "không
tin có sự sống lại" rằng: "Ngài
không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống".
Một trong những
chứng cứ được phái Sađốc căn cứ vào để phủ nhận sự kiện sống lại, đó là
chính câu họ đặt ra chất vấn Chúa Giêsu:
"Thưa Thầy, luật Môsê đã truyền cho chúng tôi thế này: Nếu ai
có anh em chết đi, để lại một người vợ không con, thì hãy cưới lấy người vợ
goá đó để gây dòng dõi cho anh em mình. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất
cưới vợ rồi chết không con. Người thứ hai lấy người vợ goá và cũng chết
không con, và người thứ ba cũng vậy, và cả bảy người không ai có con. Sau
cùng người đàn bà ấy cũng chết. Vậy ngày sống lại, khi họ cùng sống lại, thì
người đàn bà đó sẽ là vợ của người nào? Vì cả bảy anh em đã cưới người đó
làm vợ".
Nghe như thế, Chúa Giêsu đã
khẳng định với họ rằng: "các ông thật
lầm lạc". Ở chỗ nào? Ở chỗ, như Người
vạch ra cho họ thấy, trước hết về lý do họ lầm lạc: "Các
ông không hiểu biết Kinh Thánh, cũng chẳng hiểu biết quyền phép của Thiên
Chúa", sau nữa về chính
vấn đề vợ chồng liên quan đến việc sống lại: "khi
người chết sống lại, thì không lấy vợ lấy chồng, nhưng sống như các thiên
thần ở trên trời. Còn về sự kẻ chết sống lại, nào các ông đã chẳng đọc trong
sách Môsê chỗ nói về bụi gai, lời Thiên Chúa phán cùng Môsê rằng: 'Ta là
Chúa Abraham, Chúa Isaac và Chúa Giacóp'".
"Thiên Chúa không phải là Thiên
Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống" là
một chân lý được chính Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa khẳng định trong
bài Phúc Âm hôm nay.
Trước hết, "Thiên
Chúa không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống" ám
chỉ mầu nhiệm thân xác của con người sẽ được sống lại, dù họ là người lành
hay kẻ dữ. Thật vậy, thân xác của loài người, sau nguyên tội và bởi nguyên
tội, "đã từ đất bụi phải trở
về với đất bụi"
(Khởi Nguyên 3:19). Thế nhưng, nhờ "Lời đã
hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) và Vượt
Qua mà thân xác của con người đã được giải cứu khỏi sự chết về thể lý, nghĩa
là sẽ được sống lại, trở thành thiêng liêng "như
thiên thần", không còn vấn đề liên hệ xác
thịt như trong đời sống vợ chồng nữa. Con người thực sự đã được Chúa Kitô cứu
chuộc cả linh hồn lẫn thân xác, chứ không phải chỉ nguyên
một minh linh
hồn bất tử mà
thôi, nhờ đó, thân xác
thiêng liêng mới có thể cùng với linh hồn vô hình tồn tại đến muôn đời muôn
kiếp.
Sau nữa, "Thiên
Chúa không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống" còn ám
chỉ Ngài là Thiên Chúa của thành phần công chính sống theo đức tin, như 3 vị
tổ phụ tiêu biểu của dân Do Thái là "Abraham,
Isaac và Giacóp", thành
phần nhận biết Ngài là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất nên đã chấp nhận ý
muốn của Ngài và đáp ứng những gì Ngài muốn, cho dù tương lai có mù
mịt không biết bỏ quê
cha đất tổ đi về đâu, thậm chí cho dù có phải chính tay sát hại đứa con duy
nhất của một giòng dõi đông như sao trời nhiều như cát biển theo lời
Chúa hứa, như trường hợp của tổ phụ Abraham (xem Khởi Nguyên 12:1-4 và 22:15-18),
cha của các kẻ tin (xem Roma
4:9-12).
Thật vậy, tất cả mọi xác phàm đều
sống lại, nhưng chỉ có kẻ nào tin tưởng "nhận
biết Cha là Thiên
Chúa chân thật duy nhất
và Đấng Cha sai là Đức Giêsu Kitô" (Gioan
17:3) mới được
"sự sống đời đời"
(cùng đoạn vừa dẫn),
với
một thân xác phục sinh vinh
hiển như thân xác phục sinh của Chúa Kitô (xem Philiphê 3:21).
Tuy nhiên, kể cả thành phần
bị hư đi trong hỏa ngục chăng nữa, thậm chí bao gồm cả Satan và ma quỉ, cho
dù không muốn, bấy giờ, trong cõi đời đời, cũng vẫn "nhận
biết Cha là Thiên
Chúa chân thật duy nhất
và Đấng Cha sai là Đức Giêsu Kitô".
Thế nhưng, sự "nhận biết" này ở
trong cõi hư mất không phải bởi Thánh Linh của Thiên Chúa ở trong họ như khi
họ chưa hư đi nữa, mà bởi họ không
thể nào chối bỏ được sự thật bất diệt này, hay nói
cách khác, bởi "Thiên Chúa là ánh sáng"
(1Gioan 1:5) không thể nào không chiếu soi, cho dù con người có chấp nhận
hay phủ nhận, một "ánh sáng thật"
(Gioan 1:9): "Ánh
sáng chiếu trong tăm tối, thứ tối tăm không thể nào át được ánh sáng"
(Gioan 1:5).
Cảm Nghiệm
Chính vì
"Thiên
Chúa không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống" mà
Ngài đã chẳng những tỏ mình ra cho riêng dân Do Thái qua suốt giòng lịch sử
cứu độ của họ cho tới khi Ngài tỏ hết mình ra "vào thời viên trọn"
(Galata 4:4) nơi Con của Ngài là Lời Nhập Thể Vượt Qua, mà còn cho chung
loài người qua chứng từ của Giáo Hội Chúa Kitô, một Nhiệm Thể được cấu trúc
liên hợp giữa Chúa Kitô là Đầu và các chi thể Kitô hữu của Người, nhất là
những chi thể gắn bó với Người như cành nho dính liền với thân nho để nhờ đó
họ có thể sinh nhiều hoa trái bằng chứng từ "đức tin thể hiện qua đức ái"
của họ (xem Galata 5:6).
Nhờ kết hợp với Chúa Kitô như cành nho dính liền với thân nho mà Kitô hữu
mới có thể được tràn đầy Thần Linh của Người mà làm chứng cho Người, theo
đúng ơn gọi và sứ vụ tông đồ truyền giáo là bản tính của người môn đệ Chúa
Kitô, như Thánh Phaolô Tông Đồ khuyên nhắc môn đệ Timothêu của ngài trong
Bài Đọc 1 hôm nay:
"Thiên Chúa không
ban cho chúng ta một thần trí nhát sợ, mà là thần trí dũng mạnh, bác ái và
tiết độ. Vậy con, con chớ hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta... nhờ quyền
năng của Thiên Chúa, Ðấng đã giải thoát và kêu mời chúng ta bằng ơn thiên
triệu thánh của Người, không phải do công việc chúng ta làm, mà là do sự dự
định và ân sủng đã ban cho chúng ta từ trước muôn đời trong Ðức Giêsu Kitô,
nhưng bây giờ mới tỏ bày bằng sự xuất hiện của Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Cứu
Chuộc chúng ta".
Chính bản thân của Thánh Phaolô, nhờ được "Thiên
Chúa không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống" tỏ
mình ra cho nơi Chúa Giêsu Kitô mà ngài đã thực sự trở thành tông đồ và sống
trọn ơn gọi cùng sứ vụ tông đồ của mình cho đến cùng, bất chấp mọi sự, như
chính ngài đã tự thú như nêu gương cho môn đệ Timothêu của mình ở cuối Bài
Đọc 1 hôm nay: "Cha
đã được đặt làm kẻ rao giảng, làm tông đồ và làm thầy dạy các dân ngoại.
Cũng do đó, cha phải chịu những thử thách này, nhưng cha không hổ thẹn, vì
cha biết cha tin vào Ðấng nào, và cha chắc chắn rằng Người có quyền phép gìn
giữ kho tàng của cha cho đến ngày đó".
Một chứng nhân Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại, hay bất cứ vị tông đồ hay thừa sai
truyền giáo nào cũng thế, muốn trung thành với ơn gọi chứng nhân của mình,
nhất là muốn cho sứ vụ tông đồ hay thừa sai của mình sinh hoa kết trái đều
phải sống sự sống của Vị
"Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống", nghĩa là họ cần phải hoàn toàn tin tưởng tín
thác vào Ngài, để cho Ngài chiếm đoạt và tỏ mình ra qua họ và nhờ họ. Hình
ảnh về họ và của họ đã được Thánh Vịnh gia diễn tả trong Bài Đáp Ca hôm nay
như thế này:
1) Con ngước mắt nhìn lên Chúa,
Ngài ngự trị ở cõi cao xanh. Kìa, như mắt những người nam tôi tớ nhìn vào
tay các vị chủ ông.
2) Như mắt của những người tỳ nữ nhìn
vào tay các vị chủ bà, mắt chúng tôi cũng nhìn vào Chúa là Thiên Chúa của
chúng tôi như thế, cho tới khi Ngài thương xót chúng tôi.
Thứ Năm
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I:(Năm
II)2
Tm 2, 8-15
"Lời của Thiên Chúa không bị xiềng
xích đâu, Nếu chúng ta cùng chết với Người, thì chúng ta sẽ cùng sống lại
với Người".
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô
Tông đồ gởi cho Timô-thêu.
Con thân mến, con hãy nhớ rằng Chúa
Giêsu Kitô bởi dòng dõi Ðavít đã từ cõi chết sống lại, theo như Tin Mừng cha
rao giảng. Vì Tin Mừng đó mà cha phải đau khổ đến phải chịu xiềng xích như
một kẻ gian ác, nhưng lời của Thiên Chúa đâu có bị xiềng xích. Vì thế, cha
cam chịu mọi sự vì những kẻ được tuyển chọn, để họ được hưởng ơn cứu độ cùng
với vinh quang trên trời trong Ðức Giêsu Kitô.
Ðây cha nói thật: Nếu chúng ta cùng
chết với Người, thì chúng ta cùng sống lại với Người. Nếu chúng ta kiên tâm
chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. Nếu chúng ta chối bỏ Người,
thì Người cũng sẽ chối bỏ chúng ta. Nếu chúng ta không tin Người, Người vẫn
trung thành, vì Người không thể chối bỏ chính mình Người.
Con hãy ghi nhớ những điều đó khi làm
chứng trước mặt Chúa. Con chớ tranh luận: vì cái đó không ích lợi gì cả, chỉ
làm hại người nghe mà thôi. Con hãy cố gắng đến trước mặt Chúa như một người
đã chịu thử thách, như một công nhân không bị khiển trách, như người ngay
thẳng rao giảng lời chân lý.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 24,
4bc-5ab. 8-9. 10 và 14.
Ðáp:Lạy
Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa (c. 4b).
Xướng: 1) Lạy Chúa, xin chỉ cho con
đường đi của Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. xin hướng dẫn con
trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con. - Ðáp.
2) Chúa nhân hậu và công minh, vì thế
Ngài sẽ dạy cho tội nhân hay đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong
đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài. - Ðáp.
3) Tất cả đường nẻo Chúa là ân sủng và
trung thành, dành cho những ai giữ minh ước và điều răn Chúa. Chúa thân mật
với những ai tôn sợ Chúa, và tỏ cho họ biết lời minh ước của Ngài. - Ðáp.
Alleluia: Ga 10, 27
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con
chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta". - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 12,
28b-34
"Thiên Chúa của ngươi là Thiên Chúa
duy nhất và ngươi hãy kính mến Người".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Marcô.
Khi ấy, có người trong nhóm Luật sĩ
tiến đến Chúa Giêsu và hỏi Người rằng: "Trong các giới răn, điều nào trọng
nhất?" Chúa Giêsu đáp: "Giới răn trọng nhất chính là: "Hỡi Israel, hãy nghe
đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Chúa,
Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi". Còn
đây là giới răn thứ hai: "Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi".
Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó". Luật sĩ thưa Người: "Thưa
Thầy, đúng lắm! Thầy dạy phải lẽ khi nói Thiên Chúa là Chúa duy nhất, và
ngoài Người, chẳng có Chúa nào khác. Yêu mến Chúa hết lòng, hết trí khôn,
hết sức mình, và yêu tha nhân như chính mình thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu
và mọi lễ vật hy sinh". Thấy người ấy tỏ ý kiến khôn ngoan, Chúa Giêsu bảo:
"Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu". Và không ai dám hỏi Người thêm
điều gì nữa.
Ðó là lời Chúa.
Suy Niệm Cảm Nghiệm
Tin Yêu Lẽ Sống
Suy Niệm
Phụng vụ Lời
Chúa cho Thứ Năm của
Tuần
IX Thường
Niên hôm nay bao gồm
bài Phúc Âm của Thánh ký Marco (12:28b-34) và bài đọc 1 trích từ Sách Tobia
(6:10-11a; 7:1,9-17; 8:4-10) cùng với bài Đáp Ca trích từ Thánh Vịnh 127
(1-2,3,4-5), tất cả đều phản ảnh ý nghĩa của chủ đề "sự sống" của Mùa Phục
Sinh ở một khía cạnh nào đó.
Trước hết,
lời Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm đã cho thấy "sự sống" thần linh là ở
chỗ kính mến Thiên Chúahếtbản
thân mình:"hết
lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức", cùng yêu
thương tha nhânnhưbản
thân mình:"hãy
yêu mến tha nhân như chính mình ngươi".
Giới
răn thứ hai "yêu
tha nhân như
bản thân mình"
là giới răn gắn liền bất khả phân ly với giới răn thứ nhất và là giới răn
bất khả châm chước. Đến độ, Chúa Giêsu đã khẳng định với vị luật sĩ hỏi
Người "trong các giới răn, điều nào trọng
nhất?"về
cả 2 giới răn bất khả phân ly nàyrằng:"Không
có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó",một
câu trả lời chí lý khiến nhà thông luật đặt vấn nạn đã phải công nhận một
cách rất chính xác rằng:"Yêu
mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức mình, và yêu tha nhân như chính
mình thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh",một
nhận thức tuyệt vời chỉ cần thực hành nữa là trọn vẹn nên vị luật sĩ đã được
Chúa Giêsu vừa khen tặng vừa phấn khích rằng: "Ông
không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu".
Thế
nhưng, vấn đề được đặt
ra ở đây là tại sao "Không có giới răn nào
trọng hơn hai giới răn đó"? Phải
chăng "yêu
thương là hoàn trọn lề luật" (Roma
13:10)!? Và phải
chăng yêu thương mới làm cho con người hiệp thông thần linh với Thiên
Chúa, ở chỗ tác động yêu thương chính là tác động con người nhận biết Ngài
là "Vị Thiên
Chúa chân thật duy nhất",
chỉ có Ngài là đáng yêu trước hết mọi sự và trên hết mọi sự, Đấng "đã
yêu chúng ta trước" (1Gioan
4:19), như Ngài đã tự tỏ mình ra đúng là như thế trong Lịch Sử Cứu Độ của
dân Do Thái: Ngài đã yêu thương dân của Ngài tuyển chọn một cách nhưng
không, đã yêu thương một cách trọn lành, đã yêu thương một cách thủy chung,
bất chấp dân này phản bội Ngài và liên lỉ gian dâm ngoại tình với tà thần
ngoại bang cùng ngẫu tượng của họ.
Vì Chúa Kitô "xuất
hiện lần thứ hai là để mang ơn cứu độ đến cho những ai thiết tha
trông đợi Người"
(Do Thái 9:28), tức "bền đỗ
cho đến cùng"
24:13) bằng lòng tin tưởng mãnh liệt vào Người, mà "đức
tin thể hiện qua đức ái" (Galata
5:6), một đức ái
chính là hoa trái của đức tin, là tầm vóc viên mãn của đức tin. Bởi thế,
trong cuộc chung
thẩm, để được sự sống đời đời hay bị luận phạt, con người sẽ bị Vị Thẩm Phán
Giêsu phán xét theo tiêu chuẩn đức ái về hành động đối với tha nhân - yêu
thương nhau như bản thân mình, mà thật ra là phán xét về đức tin đối với
Thiên Chúa - kính mến Thiên Chúa hết mình (xem Mathêu 25:37-39,44).
Cảm Nghiệm
"Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó", ở chỗ con người
phải kính mến Chúa hết mình và yêu tha nhân như mình, cả hai có thể được hội
tụ và phản ảnh nơi một tâm hồn đã đạt tới tột đỉnh của con
đường nhân đức trọn lành, khi được hiệp nhất nên một với Thiên Chúa, có một
tâm tình và đời sống như Chúa Kitô và với Chúa Kitô, đến độ sẵn sàng hy sinh
bản thân mình cho phần rỗi tha nhân, như gương của Vị Tông Đồ Dân Ngoại
Phaolô trong Bài Đọc 1 hôm nay:
"Con thân mến, con hãy nhớ rằng Chúa
Giêsu Kitô bởi dòng dõi Ðavít đã từ cõi chết sống lại, theo như Tin Mừng cha
rao giảng. Vì Tin Mừng đó mà cha phải đau khổ đến phải chịu xiềng xích như
một kẻ gian ác, nhưng lời của Thiên Chúa đâu có bị xiềng xích. Vì thế,
cha
cam chịu mọi sự vì những kẻ được tuyển chọn, để họ được hưởng ơn cứu độ cùng
với vinh quang trên trời trong Ðức Giêsu Kitô".
Hành động hiến thân hy sinh bản thân mình cho phần rỗi của anh chị em mình
như thế chắc chắc là hoa trái của một đời sống nội tâm đã đạt tới độ thần
hiệp về tu đức, một đời sống đầy những xác tín bất khuất và bất khả đổi
thay, tràn đầy hy vọng và gia tăng thần lực, như những xác tín vững chắc
được Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô đã nhắc nhủ môn đệ Timothêu của ngài trong
Bài Đọc 1 hôm nay:
"Ðây cha nói thật: Nếu chúng ta cùng
chết với Người, thì chúng ta cùng sống lại với Người. Nếu chúng ta kiên tâm
chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. Nếu chúng ta chối bỏ Người,
thì Người cũng sẽ chối bỏ chúng ta. Nếu chúng ta bất trung với Người thì Người vẫn
trung thành, vì Người không thể chối bỏ chính mình Người".
Những điều xác tín của Thánh Phaolô trong Bài Đọc 1 trên đây đều phản ảnh
nhận thức thần linh của Thánh Vịnh gia về đường lối của Thiên Chúa như đượcv
bày tỏ trong Bài Đáp Ca hôm nay:
1) Lạy Chúa, xin chỉ cho con
đường đi của Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. xin hướng dẫn con
trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con.
2) Chúa nhân hậu và công minh, vì thế
Ngài sẽ dạy cho tội nhân hay đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong
đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài.
3) Tất cả đường nẻo Chúa là ân sủng và
trung thành, dành cho những ai giữ minh ước và điều răn Chúa. Chúa thân mật
với những ai tôn sợ Chúa, và tỏ cho họ biết lời minh ước của Ngài.
Thứ Sáu
Phụng Vụ
Lời Chúa
Bài Ðọc I:(Năm
II)2
Tm 3, 10-17
"Kẻ sống đạo đức trong Ðức
Giêsu Kitô, đều chịu bắt bớ".
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô
Tông đồ gởi cho Timô-thêu.
Con thân mến, con đã noi theo cha
về giáo lý, đức hạnh, dự định, lòng tin, khoan dung, yêu thương, kiên
nhẫn, bắt bớ, đau khổ, như đã xảy đến cho cha ở Antiokia, Icôni và
Lystra. Biết bao cuộc bắt bớ cha đã phải chịu, và Chúa đã cứu cha thoát
khỏi tất cả. Vả lại, mọi kẻ muốn sống đạo đức trong Ðức Giêsu Kitô đều
chịu bắt bớ. Còn những kẻ tội lỗi và gian trá, thì sẽ đi sâu vào tình
trạng tệ hại hơn, vì họ lầm lạc và làm cho kẻ khác lầm lạc. Phần con,
con hãy bền vững trong các điều con đã học hỏi và xác tín, vì con biết
con đã học cùng ai, vì từ bé, con đã học biết Sách Thánh, và chính Sách
Thánh đã dạy con sự khôn ngoan để con được cứu rỗi nhờ tin vào Ðức Giêsu
Kitô. Tất cả Kinh Thánh đã được Chúa linh hứng, đều hữu ích để giảng
dạy, biện bác, sửa dạy và giáo dục trong đàng công chính, ngõ hầu người
của Thiên Chúa được hoàn hảo để sẵn sàng thực hiện mọi việc lành.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 118,
157. 160. 161. 165. 166. 168
Ðáp:Ðại
bình an cho những ai yêu luật pháp Chúa (c. 165).
Xướng: 1) Nhiều người bắt bớ và
nhiễu hại con, nhưng con chẳng sai trật lời nghiêm huấn của Chúa. - Ðáp.
2) Căn bản lời Chúa là sự thật,
mọi chỉ dụ công minh của Chúa tồn tại muôn đời. - Ðáp.
3) Các vua chúa bách hại con vô
lý, nhưng lòng con vẫn kính sợ lời Ngài. - Ðáp.
4) Ðại bình an cho những ai yêu
luật pháp Chúa, không có gì làm cớ cho họ sẩy chân. - Ðáp.
5) Lạy Chúa, con mong ơn Ngài phù
trợ, để thực thi những chỉ thị của Ngài. - Ðáp.
6) Con tuân giữ huấn lệnh và những
lời truyền của Chúa, vì bao đường lối của con hiện ở trước nhan Ngài. -
Ðáp.
Alleluia: Ga 14, 5
Alleluia, alleluia! - Chúa phán:
"Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống, không ai đến được với Cha mà
không qua Thầy. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 12,
35-37
"Sao họ có thể bảo Ðức Kitô là
Con vua Ðavít?"
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu cất tiếng giảng
dạy trong đền thờ rằng: "Sao các luật sĩ lại nói Ðấng Cứu Thế là con vua
Ðavít? Vì chính Ðavít được Chúa Thánh Thần soi sáng đã nói: Thiên Chúa
đã phán cùng Chúa tôi rằng: "Con hãy ngồi bên hữu Cha, cho đến khi Cha
đặt các kẻ thù con làm bệ dưới chân con". Chính Ðavít gọi Người là Chúa,
thì sao Người lại có thể là Con Ðavít được?" Và đám dân chúng thích thú
nghe Người nói.
Ðó là lời Chúa.
Suy Niệm Cảm Nghiệm
Sự sống chiếu soi
Suy Niệm
"Đám dân chúng thích thú nghe
Người nói".Bài
Phúc Âm hôm nay (Marco
12:35-37) đã được kết
thúc như thế. Bởi vì, họ thấy vấn đề được Người đặt ra rất là kỳ lạ nhưng hết
sức lý thú mà họ chắc chưa bao giờ nghĩ ra hay đặt vấn đề.
Theo bài Phúc Âm của Thánh ký
Marco thì đây không phải là vấn đề được thành phần thông luật vốn chất vấn
ngài đặt ra, mà chính Người tự nêu lên:
"Khi ấy, Chúa Giêsu cất tiếng giảng dạy trong
đền thờ rằng: 'Sao các luật sĩ lại nói Đấng Cứu Thế là con vua Đavít? Vì chính
Đavít được Chúa Thánh Thần soi sáng đã nói: Thiên Chúa đã phán cùng Chúa tôi
rằng: 'Con hãy ngồi bên hữu Cha, cho đến khi Cha đặt các kẻ thù con làm bệ dưới
chân con'. Chính Đavít gọi Người là Chúa, thì sao Người lại có thể là Con Đavít
được?'"
Ở đây, trong bài Phúc
Âm này, không thấy Thánh ký Marco thuật lại những lời giải đáp của Chúa Giêsu về
vấn nạn chính Người tự nêu lên ấy. Thế
nhưng, căn
cứ vào chính vấn nạn tự đặt ra này của Chúa Giêsu: "Chính
Đavít gọi Người là Chúa, thì sao Người lại có thể là Con Đavít được?", chúng
ta thấy dường như Người muốn kín đáo mạc khải cho dân Do Thái biết rằng Người là
vị Thiên Chúa nhập thể, có 2 bản tính, thiên tính và nhân tính.
Thiên tính ở chỗ: "Chính
Đavít được Chúa Thánh Thần soi sáng đã nói: Thiên Chúa đã phán cùng Chúa tôi
rằng: 'Con hãy ngồi bên hữu Cha, cho đến khi Cha đặt các kẻ thù con làm bệ dưới
chân con'".Nhân
tính ở chỗ: "Các luật sĩ lại
nói Đấng Cứu Thế là con vua Đavít... Chính Đavít gọi Người là Chúa".
Đây
là một mạc khải thần
linh do chính Đấng có 2 bản tính tỏ ra chứ không phải do loài người suy luận.
Loài người chỉ suy luận theo những dấu hiệu bề ngoài và lập luận theo lý
lẽ của trần gian mà
thôi. Ở chỗ, nếu "Đấng Cứu
Thế là con Vua Đavít", mà Vua Đavít là loài người thì tất nhiên con của vua
cũng phải là loài người và
chỉ là loài người như vua, chứ không thể nào lại là một Vị Thiên Chúa vô cùng
cao cả tự hữu và hằng hữu có trước vua và dựng nên vua.
Vấn đề ở đây
là tại sao Chúa Giêsu lại đặt vấn đề này ở đây, với mục đích gì? Thánh ký Marco
không cống hiến cho chúng ta một chút ánh sáng nào, trong khi đó Thánh Mathêu ở
cuối đoạn 22, đã cho biết thêm mấy chi tiết như sau: chi tiết thứ nhất đó là sở
dĩ Người đặt câu hỏi này là để răn cho thành phần Pharisiêu kiêu ngạo một bài
học biết mình trước mặt Người.
Thật vậy, theo trình thuật của
Thánh Mathêu thì sau khi thấy phái
Sađốc vừa bị Chúa Giêsu bịt miệng về vấn đề sống lại, (được
bài Phúc Âm hôm Thứ Tư tuần này thuật lại), nhóm
người Pharisiêu đã qui tụ lại như thể muốn chứng tỏ họ khôn ngoan thông giỏi hơn
nhóm Sađốc, với một câu hỏi khác còn độc hơn vấn đề của Sađóc nữa, đó là vấn đề
giới răn trọng nhất (được bài Phúc Âm hôm qua Thứ Năm thuật lại).
Thế rồi, sau khi Chúa Giêsu trả
lời cho nhóm Pharisiêu xong, Thánh ký Mathêu liền cho biết tiếp thế này: "Chúa
Giêsu đã đặt một câu hỏi ngược lại cho những người Pharisiêu qui tụ bấy giờ"
(22:41), đó là chính câu cũng được Thánh ký Marco thuật lại trong bài Phúc Âm
hôm nay, để rồi sau câu hỏi của Người, Thánh Ký Mathêu đã kết luận như sau: "Không
ai có thể trả lời, vì vậy, từ hôm ấy trở đi, chẳng có ai dám hỏi Người bất cứ
câu hỏi nào nữa"
(22: 46).
Thái độ tỏ ra thông luật mà lại
mù tịt trước vấn đề được Chúa Giêsu đặt ra như thế chứng tỏ thành phần thông
luật này chỉ là thứ đám con nít trước mặt một vị Đại Sư Thần Linh Giêsu vậy
thôi. Đó là lý do ngày mai chúng ta sẽ thấy Chúa Giêsu càng tỏ ra thẩm quyền của
mình đối với thành phần thông luật giả hình này như thế nào....
Cảm Nghiệm
Vần đề được Chúa Giêsu đặt ra trong Bài Phúc Âm hôm nay, theo mạc khải Thánh
Kinh, đó là "các vị luật sĩ nói Đấng
Cứu Thế là con vua Đavít", đúng như mạc khải Thánh
Kinh của Thiên Chúa, tuy họ chưa áp dụng nhận thức thánh kinh này vào chính
bản thân Chúa Kitô, tức họ chưa nhận ra Chúa Kitô, Đấng vì thế mà đang cố
gắng giúp cho họ nhận ra Người khi cố ý gợi lên thắc mắc về nguồn gốc thần
linh của "Đấng Cứu Thế là con vua
Đavít" theo nguồn gốc trần gian bởi huyết nhục của
Người: "Vì
chính Đavít được Chúa Thánh Thần soi sáng đã nói: Thiên Chúa đã phán cùng
Chúa tôi rằng: 'Con hãy ngồi bên hữu Cha,
cho đến khi Cha đặt các kẻ thù con làm bệ dưới chân con'".
Đối với Thánh Phaolô Tông Đồ, cũng như với tất cả những ai làm nhân chứng
cho Thiên Chúa, cho Chúa Kitô, đều phải là thành phần nhận biết chính Đấng
mình làm chứng, Đấng đã tỏ mình ra cho chung nhân loại cũng như cho từng con
người, nhất là cho thành phần được Người kêu gọi và sai đi làm chứng cho
Người, một tác động thần linh tỏ mình hoàn toàn phản ảnh mạc khải thần linh
trong Thánh Kinh, để nhờ đó mạc khải thần linh được ứng nghiệm nơi họ, khiến
họ rao giảng hay giảng dạy một cách đầy xác tín về những chân lý bất diệt
cứu độ, về một thực tại thần linh siêu việt, như lời Thánh Phaolô vừa khẳng
định vừa khuyên dạy môn đệ Timothêu của ngài trong Bài Đọc 1 hôm nay như
sau:
"Phần
con, con hãy bền vững trong các điều con đã học hỏi và xác tín, vì con biết
con đã học cùng ai, vì từ bé, con đã học biết Sách Thánh, và chính Sách
Thánh đã dạy con sự khôn ngoan để con được cứu rỗi nhờ tin vào Ðức Giêsu
Kitô. Tất cả Kinh Thánh đã được Chúa linh hứng, đều hữu ích để giảng dạy,
biện bác, sửa dạy và giáo dục trong đàng công chính, ngõ hầu người của Thiên
Chúa được hoàn hảo để sẵn sàng thực hiện mọi việc lành".
Bản thân của vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô là chứng từ chân thực nhất và sống
động nhất về những gì ngài khẳng định và khuyên dạy người môn đệ Timothêu
của ngài trên đây, vì ngài thực sự đã sống niềm tin bất khuất của ngài là
hoa trái của mạc khải thần linh chẳng những từ Thánh Kinh mà còn từ chính
Đấng đã đặc biệt tuyển chọn ngài và tỏ mình ra cho ngài, nhờ đó ngài đã bất
chấp tất cả như ngài thuật lại trong Bài Đọc 1 hôm nay như sau:
"Con thân mến, con đã noi theo cha về giáo
lý, đức hạnh, dự định, lòng tin, khoan dung, yêu thương, kiên nhẫn, bắt bớ,
đau khổ, như đã xảy đến cho cha ở Antiokia, Icôni và Lystra. Biết bao cuộc
bắt bớ cha đã phải chịu, và Chúa đã cứu cha thoát khỏi tất cả. Vả lại, mọi
kẻ muốn sống đạo đức trong Ðức Giêsu Kitô đều chịu bắt bớ".
Đúng thế, kinh nghiệm sống đức tin nói chung và hoạt động tông đồ nói riêng
của Kitô hữu, vì làm chứng cho chân lý là ánh sáng cho một thế giới của
những "conngười chuộng tối tăm hơn ánh sáng" (Gioan
3:19), cũng như làm chứng cho Đấng đã từng "trở nên cớ vấp phạm cho
nhiều người" (Luca 2:34), mà họ không thể nào tránh được số phận trở
thành mục tiêu chống đối của thế gian, nhưng vì mạc khải thần linh họ đã cảm
nghiệm để có thể làm chứng ấy sẽ càng ứng nghiệm hơn nữa nơi họ khi họ chịu
bách hại mà vẫn trung thành với mạc khải thần linh này nơi họ cho đến cùng,
như chính họ đã bày tỏ tâm tình tin yêu bất khuất của họ qua Bài Đáp Ca rất
thích hợp hôm nay:
1) Nhiều người bắt bớ và
nhiễu hại con, nhưng con chẳng sai trật lời nghiêm huấn của Chúa.
2) Căn bản lời Chúa là sự thật,
mọi chỉ dụ công minh của Chúa tồn tại muôn đời.
3) Các vua chúa bách hại con vô
lý, nhưng lòng con vẫn kính sợ lời Ngài.
4) Ðại bình an cho những ai yêu
luật pháp Chúa, không có gì làm cớ cho họ sẩy chân.
5) Lạy Chúa, con mong ơn Ngài phù
trợ, để thực thi những chỉ thị của Ngài.
6) Con tuân giữ huấn lệnh và những
lời truyền của Chúa, vì bao đường lối của con hiện ở trước nhan Ngài.
Thứ Bảy
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I:(Năm
II)2
Tm 4, 1-8
"Con hãy thi hành việc rao giảng
Phúc Âm. Phần cha, cha đã già yếu và Chúa sẽ trao cho cha triều thiên công
chính".
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô
Tông đồ gửi Timôthêu.
Con thân mến, cha khuyến cáo con trước
tôn nhan Thiên Chúa và Ðức Kitô, Ðấng sẽ thẩm phán kẻ sống và kẻ chết nhân
danh cuộc xuất hiện của chính Người và vương quốc của Người: Con hãy rao
giảng lời Phúc Âm, hãy xúc tiến việc đó, dầu thời thế thuận lợi hay không
thuận lợi, hãy thuyết phục, hãy khiển trách, hãy khuyên lơn với tất cả lòng
kiên nhẫn và quan tâm giáo huấn. Bởi vì sẽ có một thời, bấy giờ người ta
không chịu nghe theo giáo lý lành mạnh nữa, nhưng theo tình tư dục, họ đã
thu thập cho mình thực nhiều thầy, tai họ ngứa ngáy và họ ngoảnh tai đi cho
khỏi nghe chân lý để quay về với những chuyện hoang đường. Phần con, hãy
thận trọng trong hết mọi vấn đề, hãy can trường chịu đau khổ, hãy làm phận
sự người rao giảng Phúc Âm, hãy lo chu toàn bổn phận phục vụ của con, hãy
sống tiết độ.
Phần cha, cha đã già yếu, giờ ra đi
của cha đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy
đến cùng đường và đã giữ vững đức tin. Từ đây triều thiên công chính đã dành
cho cha. Và trong ngày đó, Chúa là Ðấng phán xét chí công sẽ trao lại cho
cha mũ triều thiên ấy, nhưng không phải cho cha mà thôi, mà còn cho những kẻ
yêu mến trông đợi Người xuất hiện.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 70, 8-9.
14-15ab. 16-17. 22
Ðáp:Miệng
con sẽ loan truyền sự Chúa công minh (x. c. 15).
Xướng: 1) Miệng con đầy lời ca ngợi
Chúa, và suốt ngày con ca hát vinh quang Ngài. Xin Chúa đừng bỏ con trong
lúc tuổi già, khi con đã kiệt sức, xin chớ bỏ rơi con.. - Ðáp.
2) Phần con sẽ luôn luôn trông cậy,
ngày ngày con sẽ thêm lời ngợi khen Chúa. Miệng con sẽ loan truyền sự Chúa
công minh, và suốt ngày con kể ra ơn Ngài giúp đỡ, thực con không sao mà kể
cho cùng. - Ðáp.
3) Con sẽ kể ra uy quyền Thiên Chúa,
lạy Chúa, con sẽ ca ngợi đức công minh của Ngài. Lạy Chúa, Chúa đã dạy con
từ hồi niên thiếu, và tới bây giờ con còn kể những sự lạ của Ngài. - Ðáp.
4) Phần con, với cây cầm thụ, con ca
lòng trung thành Ngài; lạy Chúa, với cây huyền cầm, con sẽ hát mừng Chúa,
lạy Ðấng thánh của Israel. - Ðáp.
Alleluia: Ga 15,
15b
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy
gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy,
thì Thầy đã cho các con biết". - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 12,
38-44
"Bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn
hết".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói cùng dân chúng
trong khi giảng dạy rằng: "Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi
lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế
nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt
hết tài sản của các bà goá: Họ sẽ bị kết án nghiêm nhặt hơn". Chúa Giêsu
ngồi đối diện với hòm tiền, quan sát dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm
người giàu bỏ nhiều tiền. Chợt có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là
một phần tư xu. Người liền gọi các môn đệ và bảo: "Thầy nói thật với các
con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bá goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn
hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng
thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống".
Ðó là lời Chúa.
Suy Niệm Cảm Nghiệm
tận cùng sự sống
Suy Niệm
Phụng
vụ Lời Chúa cho Thứ
Bảy Tuần IX Thường Niên hôm nay với bài Phúc Âm cuối cùng của Thánh ký Marco
(12:38-44) là Phúc Âm có 16 đoạn được Giáo Hội chọn đọc cho 9 tuần đầu của Mùa
Thường Niên, và cũng là đoạn áp cuốicủa Sách
Tobia (12:1-5,20) ở Bài Đọc 1. Chưa hết, hôm nay bài Đáp Ca không được trích từ
Thánh Vịnh như thường thấy mà lại được trích từ đoạn cuối cùng của chính Sách
Tobia.
Trước hết, bài
Phúc Âm được Thánh ký Marcô thuật lạinhận định
của Chúa Giêsu cho dân chúng biết về thành phần "luật sĩ" và lời khuyên dạy của
Người giành cho "các môn đệ" về hành động dâng cúng chẳng là gì của một bà góa.
Đây là một cảnh tượng
trái nghịch nhau được Thánh ký Marco ghép lại từ hai
trường hợp
hoàn toàn tương phản nhau, giữa thành phần luật sĩ thông thái và bà góa đơn
nghèo.
Trước
hết Chúa
Giêsu đã nặng lời chê trách và cảnh báo thành phần thông luật trước mặt công
chúng: "Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ
thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những
ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt
hết tài sản của các bà goá: Họ sẽ bị kết án nghiêm nhặt hơn".Trong
phán quyết này của Chúa
Giêsu, chúng ta thấy Người có nhắc đến thành phần "các bà góa", trong đó có một
bà góa được Người sử dụng để khuyên dạy các môn đệ của Người:
"Chúa Giêsu ngồi đối diện với hòm tiền, quan sát dân chúng bỏ
tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền. Chợt có một bà goá nghèo đến
bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu. Người liền gọi các môn đệ và bảo: 'Thầy nói
thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bá goá nghèo này đã bỏ
nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang
túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống'".
Quả
thật là
thế, sở dĩ bà góa được Chúa Giêsu nói đến và khen tặng như một tấm gương sáng
cho các môn đệ "bỏ nhiều hơn hết", hơn cả "lắm người giầu bỏ nhiều tiền" hơn bà
nữa, là vì trong khi các người khác, nhất là các người giầu "bỏ của mình dư
thừa", thì người đàn bá góa ấy lại "đang
túng thiếu",nhưng
bất chấp túng thiếu, thậm chí chẳng cần khôn ngoan, hành động đến như điên
dại, ở chỗ bà "đã
bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống".
Tinh thần và hành động
của bà góa này đúng là anh hùng trước nhan Chúa hơn là trước mặt người đời, nhất
là trước mặt thành phần giầu sang phú quí,thành
phần có thể còn tỏ ra khinh bỉ bà nữa là đằng khác. Bà
góa này vốn nghèo còn có thể càng nghèo hơn nữa bởi sự bóc lột của thành phần
luật sĩ bị Chúa Giêsu vạch mặt trong bài Phúc Âm: "Họ
giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá".
Thế
nhưng, trước nhan Chúa,
bà lại giầu sang hơn ai hết, vì bà có một sự sống nội tại siêu việt trên cả thành
phần thông luật Chúa hơn bà, thành phần có
thể đã bóc lột tiền
bạc ngặt nghèo của bà.
Chính đức tin của bà và lòng trông cậy hoàn toàn vào Chúa của bà đã khiến bà có
những hành động phi thường trổi vượt đáng khâm phục. Bà đã
biết lợi dụng tiền bạc chẳng là bao của mình để trả về cho Chúa tất
cả những gì
Ngài ban cho bà. Sự sống
của bà do Chúa ban không thể lệ thuộc vào tiền bạc để sống hơn là vào chính
Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên bà và ban sự sống cho bà.
Cảm Nghiệm
Trong Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu cảnh cáo lối sống giả hình của thành
phần luật sĩ là những kẻ đóng vai thày dạy của dân chúng, và đã lên tiếng
khen bà góa bỏ tiền vào đền thờ với tất cả tấm lòng chân tình của mình đối
với Thiên Chúa.
Trong Bài Đọc 1 hôm nay cũng thế, một đàng Thánh Phaolô khuyên người môn đệ
Timôthêu của ngài về vai trò giảng dạy của vị này là "hãy thận trọng
trong hết mọi vấn đề, hãy can trường chịu đau khổ, hãy làm phận sự người rao
giảng Phúc Âm, hãy lo chu toàn bổn phận phục vụ của con, hãy sống tiết độ",
đàng khác, ngài cũng không ngần ngạinêu gương sống của ngài
cho người môn đệ của ngài thấy rằng ngài đã trọn đời hết tình dấn thân phụng
sự Thiên Chúa cho đến cùng: "Phần cha, cha đã già yếu, giờ ra đi của cha
đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng
đường và đã giữ vững đức tin".
Ý nghĩa của cả bài Phúc Âm lẫn Bài Đọc 1 hôm nay đều chất chứa một huấn dụ
sâu xa đó là sống thật lòng với Thiên Chúa, đừng giả hình gian dối, nhờ đó
con người mới tỏ ra nhận biết Thiên Chúa thật và mới có thể phụng sự Ngài
như Ngài mong muốn, mới có thể cảm tạ ngợi khen Ngài cho xứng đáng, đúng như
cảm nhận và tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay về những con người như vậy:
1) Miệng con đầy lời ca ngợi Chúa, và suốt ngày con ca hát vinh
quang Ngài. Xin Chúa đừng bỏ con trong lúc tuổi già, khi con đã kiệt sức,
xin chớ bỏ rơi con.
2) Phần con sẽ luôn luôn trông cậy, ngày ngày con sẽ thêm lời ngợi khen
Chúa. Miệng con sẽ loan truyền sự Chúa công minh, và suốt ngày con kể ra ơn
Ngài giúp đỡ, thực con không sao mà kể cho cùng.
3) Con sẽ kể ra uy quyền Thiên Chúa, lạy Chúa, con sẽ ca ngợi đức công
minh của Ngài. Lạy Chúa, Chúa đã dạy con từ hồi niên thiếu, và tới bây giờ
con còn kể những sự lạ của Ngài.
4) Phần con, với cây cầm thụ, con ca lòng trung thành Ngài; lạy Chúa,
với cây huyền cầm, con sẽ hát mừng Chúa, lạy Ðấng thánh của Israel.
HẠNH THÁNH TRONG TUẦN
Ngày 1 tháng 6
Thánh Giút-ti-nô, tử đạo
Thánh nhân là một triết gia và là anh hùng tử đạo. Người sinh tại
Phơ-la-vi-a Nê-a-pô-li, ở Sa-ma-ri, trong một gia đình ngoại giáo, đầu
thế kỷ II. Sau khi tin Chúa Ki-tô, người đã viết nhiều tác phẩm bênh vực
Ki-tô giáo. Trong số đó, còn lại hai tác phẩm “Minh giáo” gửi cho hoàng
đế An-tô-ni-ô và “Đối thoại với ông Tri-phông”, tranh luận với người
Do-thái. Người cũng mở một trường dạy triết lý ở Rô-ma. Bị một đồng
nghiệp tố cáo, người một lòng son sắt tuyên xưng đức tin trước mặt quan
toà và đã được phúc tử đạo cùng với sáu Ki-tô hữu khác, quãng năm 165,
thời hoàng đế Mác-cô Au-rê-li-ô.
Tôi đã theo đạo lý chân thật của các Ki-tô hữu
Bài đọc 2giờ
kinh sách ngày 1/6
Trích sử
liệu về cuộc tử đạo của thánh Giút-ti-nô và các bạn.
Sau khi bị bắt, các thánh được điệu tới tổng trấn Rô-ma, tên là
Rút-ti-cô. Lúc các ngài ra trước toà án, tổng trấn Rút-ti-cô nói với
thánh Giút-ti-nô : “Trước hết ngươi phải tin các thần minh và tôn
kính các hoàng đế.” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Các ông không thể tố
cáo hay bắt giam chỉ vì chúng tôi tuân lệnh Đức Giê-su Ki-tô, Đấng
cứu độ chúng tôi.”
Quan Rút-ti-cô nói : “Nhà ngươi xưng tụng học thuyết gì vậy ?” Thánh
Giút-ti-nô trả lời : “Tôi đã cố học đủ mọi thứ học thuyết, nhưng tôi
đã theo đạo lý chân thật của các Ki-tô hữu, dù đạo lý ấy không minh
nhiên đối với những người đang chìm đắm trong sự lầm lạc.”
Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Đạo lý ấy mà ngươi cho là minh nhiên ư,
hỡi tên khốn kiếp ?” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Phải, vì giáo huấn
đúng nên tôi theo đạo lý đó.”
Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Giáo huấn đó thế nào ?” Thánh Giút-ti-nô
trả lời : “Chúng tôi thờ Thiên Chúa của các Ki-tô hữu ; chúng tôi
tin Người là Đấng Tạo Thành duy nhất từ ban đầu, là Hoá Công toàn
thể thụ tạo hữu hình và vô hình ; và chúng tôi tin Chúa Giê-su Ki-tô
là Con Thiên Chúa, Đấng được các ngôn sứ tiên báo sẽ đến rao giảng
ơn cứu độ cho loài người và dạy dỗ các môn đệ Người tuyển chọn. Và
vì tôi là người phàm, nên tôi nghĩ chỉ có thể nói được một vài điều,
bởi lẽ thần tính của Người thì vô biên. Tôi công nhận uy tín của các
ngôn sứ khi các ngài tiên báo Người là Con Thiên Chúa như tôi vừa
nói. Quả thật, tôi biết các ngôn sứ được ơn trên báo cho biết trước
về cuộc giáng lâm của Người đến với nhân gian.”
Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Vậy ngươi là Ki-tô hữu ư ?” Thánh
Giút-ti-nô trả lời : “Đúng thế, tôi là Ki-tô hữu.”
Tổng trấn nói với thánh Giút-ti-nô : “Hãy nghe đây, hỡi kẻ được
tiếng là thông thái và tưởng mình biết đạo lý thật : nếu ngươi bị
đánh đòn và bị chặt đầu, ngươi có tin chắc là ngươi sẽ được lên trời
không ?” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Tôi hy vọng sẽ được ở trên đó,
nếu tôi chịu được những điều này, vì tôi biết rằng cho đến tận thế,
Chúa vẫn dành ơn ấy cho những ai ăn ở ngay lành.”
Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Vậy ngươi tưởng là ngươi sẽ được lên trời
và nhận phần thưởng đích đáng sao ?” Thánh Giút-ti-nô trả lời :
“Không phải là tưởng mà là biết rõ và chắc chắn như vậy.”
Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Thôi, ta hãy đi vào vấn đề, vào công việc
cần thiết và khẩn trương. Vậy các ngươi hãy đồng lòng tế thần đi.”
Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Không ai là người có lương tri mà lại bỏ
con đường đạo nghĩa để bước vào con đường vô đạo.”
Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Nếu không tuân lệnh, các ngươi sẽ phải
chịu khổ hình không chút xót thương.” Thánh Giút-ti-nô trả lời :
“Chúng tôi ao ước chịu khổ hình vì Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng tôi,
để được cứu độ, vì điều ấy mang lại cho chúng tôi ơn cứu độ và làm
cho chúng tôi vững tin trước toà chung thẩm của Chúa là Thiên Chúa
và Đấng cứu độ chúng tôi.”
Các vị tử đạo khác cũng nói như sau : “Ngài muốn làm thế nào tuỳ ý,
chúng tôi là Ki-tô hữu, chúng tôi không tế thần.”
Tổng trấn Rút-ti-cô tuyên án : “Ai không muốn tế thần và tuân lệnh
hoàng đế, đều phải bị đánh đòn và mang đi chặt đầu, phải chịu án tử
hình theo luật định.”
Các thánh tử đạo ngợi khen Chúa, đi tới pháp trường, bị chặt đầu và
hoàn tất cuộc tử đạo khi tuyên xưng Đấng Cứu Độ.
Xướng đápx.
Cv 20,21.24 ; Rm 1,16
XTôi
đã tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta,
không chút sợ hãi.
ĐMạng
sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá gì, miễn sao tôi chạy hết
chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận là làm chứng cho Tin
Mừng về ân sủng của Thiên Chúa.
XTôi
không hổ thẹn vì Tin Mừng. Quả thế, Tin Mừng là sức Thiên Chúa
dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin, trước là người Do-thái,
sau là người Hy-lạp.
ĐMạng
sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá gì, miễn sao tôi chạy hết
chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận là làm chứng cho Tin
Mừng về ân sủng của Thiên Chúa.
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Giút-ti-nô tử đạo ơn hiểu biết sâu
xa về Đức Ki-tô, nhờ suy tưởng mầu nhiệm Thập Giá mà thế gian coi là
điên dại. Nhờ lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con
thoát khỏi mọi tư tưởng sai lầm và cương quyết giữ vững niềm tin.
Chúng con cầu xin
Thánh JUSTINO, Tử đạo (+165)
Thánh Giustinô tử đạo sinh tại Nablus, Samaria, ở vào đầu thế kỷ
thứ II. Sinh trưởng trong một gia đình ngoại giáo, nhưng ngài
luôn nuôi dưỡng nhiệt tình tìm kiếm Thiên Chúa chân thật. Với
nhiệt tình này, ngài đã tiếp xúc với mọi người triết thuyết
đường thời và không thoả mãn được các đòi hỏi của trí khôn.
Trong tác phẩm “Đối thoại với Tryphon” (Dialogus cum Tryphone),
chính Thánh Giustinô kể lại cuộc tìm kiếm của mình: Trước hết,
ngài tin tưởng vào một người theo phái khắc kỷ. Những người này
chẳng dạy gì về Thiên Chúa. Ông ta nói rằng sư hiểu biết ấy
không cần thiết gì. Sau đó, ngài đến với một người theo thuyết
của Aristote. Ông này đòi thù lao quá cao, khiến sinh viên trẻ
là Giustinô phẫn uất: người ta không rao bán triết học.
Một người theo lý thuyết của Pythagore hỏi Ngài: Anh đã học âm
nhạc, thiên văn và địa lý chưa? Bởi vì để chiêm ngưỡng điều góp
phần tạo nên hạnh phúc cần phải biết học giải thoát tâm hồn khỏi
các đối tượng hữu hình để có thể tiếp nhận được những đối tượng
trong trí khôn và cho phép thấy được sự thiện mỹ nội tại.
Giustinô chưa biết gì về những môn học, nhưng lại thấy mình bị
thúc bách tìm kiếm Thiên Chúa hơn. Ngài gặp một người theo phái
Platon. Ngài nói: Sau nhiều đàm luận, tôi hiểu được những điều
vô hình ở mức độ cao hơn. Việc chiêm ngưỡng thế giới tư tưởng
chấp cánh cho tinh thần của tôi.
Dầu vậy, không có gì làm cho ngài thoả mãn được cơn khát chân
lý. Tại Ephesô, Giustinô gặp một cụ già đầy khôn ngoan. Ông
trách ngài đã thích lý sự về từ ngữ hơn sự kiện. Ông đã cho ngài
một lời khuyên cao cả là hãy tìm đọc Kinh Thánh: phải vượt qua
những giới hạn của trí khôn, phải đi xa trong thời gian hơn các
triết gia, phải nghe các tiên tri là những người nói bởi Chúa
Thánh Thần, nhất là phải cầu nguyện vì: Không ai có thể thấy hay
nghe được những điều này nếu Thiên Chúa và Đức Kitô không cho họ
hiểu biết.
Theo lời khuyên này, Giustinô đã khám phá ra Kitô giáo bảo đảm
hơn triết học nhiều. Từ đấy đức tin là quy luật xử thế và sự
thánh thiện lý tưỏng của ngài, ngài mở một trường học tại Rôma
và sống đời tông đồ đích danh. “Tôi sẽ nói sự thật, không một
đắn đo sợ sệt, cả vào lúc bị phân thay thành trăm mảnh”.
Gương mẫu của các thánh tử đạo đánh động ngài rất nhiều: Thấy
các ngài kiên vững trước cái chết, tôi thầm nói rằng họ không
thể sống trong sự dữ và ham mê các khoái lạc được nữa.
Ngài sẽ tìm được ở đâu sự thăng hoa cuộc sống lớn lao hơn là
trong Kitô giáo? Bởi vậy, ngài đã tìm mở rộng môi trường hoạt
động ra ngoài ranh giới lớp học và những cuộc tranh luận, bằng
việc viết nhiều tác phẩm để phổ biến tư tưởng tôn giáo. Ngày
nay, chúng ta chỉ còn giữ lại được 2 cuốn: Đối thoại với
Tryphone, và Hộ giáo (Apologiae). Nhưng với hai tác phẩm ấy,
Thánh Giustinô cũng tỏ ra là một nhà minh giáo có thế giá được
thế kỷ thứ II và là người đã phác hoạ ra nền thần học Kitô giáo.
Từ một đức tin vững chắc vào các chân lý Kitô giáo. Thánh
Giustinô đã không ngần ngại tìm hết khả năng trổi vượt của trí
khôn để 2 lần viết thơ can ngăn các bạo vương. Lần thứ nhất vào
năm 138. Ngài viết cho Antonin Le Pieux, và lần thứ hai cho
Marcô Aurelio. Cả hai lần ngài cố gắng chỉ dẫn đến kết quả là bị
kết án tử hình.
Giustinô và các bạn bị dẫn tới trước mặt tổng trấn Rusticus, một
người theo triết thuyết Khắc Kỷ. Ngài lớn tiếng tuyên xưng đức
tin. - Không ai có lương tri mà lại bỏ rơi chân lý để theo sự
lầm lạc cả.
Thánh nhân từ chối không chịu tố giác nơi các Kitô hữu hội họp.
Sau cùng, ngài và các bạn bi đánh đòn rồi bị chém đầu. Tài liệu
còn ghi lai nhiều chân lý mà thánh nhân đã phát biểu trong cuộc
đối thoại với Rustisus, chẳng hạn: Mọi nguyên tắc chính đáng mà
các triết gia và các nhà lập luật khám phá được và trình bày
cũng phải nhớ ở điều mà Ngôi Lời đã diễn tả một phần.
Ngài còn nói: Không ai tin Socrate đến độ chết vì điều ông ta
dạy. Chính vì những lý do khác hẳn với lĩnh vực văn chương mà
bao nhiêu giáo phụ đã lấy máu mình để ký nhận các công trình của
các ngài, chính tình yêu Thiên Chúa nhập lòng các ngài.
Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
1.
Thánh Justin người Samaria (miền
Trung nước Dothái thời Chúa Giêsu). Ông sống vào thế kỉ thứ 2. Cha ông không
dạy ông về tôn giáo nào cả.
Khi còn nhỏ, Justin ưa đọc văn thơ, lịch sử, khoa học. Lớn lên ông
tiếp tục học như thế, nhưng trong lòng ông muốn tìm hiểu đạo nào là thật?
Người ta kể: Một hôm, trong khi đi dạo bờ biển, Justin gặp một ông già. Hai
người nói chuyện. Justin nói rằng mình không có hạnh phúc và muốn tìm vị
Chúa thật mà trong các sách chàng đọc, không thấy nói tới. Ông già chỉ cho
Justin đọc Kinh thánh để biết về Chúa Giêsu, Đấng Cứu thế. Ông khuyến khích
Justin cầu nguyện để được hiểu biết về Thiên Chúa thật.
Justin từ hôm đó, bắt đầu cầu nguyện và đọc Kinh thánh, càng ngày ông càng
thích thú Lời Chúa, ông cũng rất thán phục người Công giáo đã dám chết cho
đức tin và tình yêu Chúa Giêsu.
Sau khi học đủ điều trong đạo, Justin xin được rửa tội để làm người Công
giáo.
2.
Theo đạo, viết sách bênh đạo, chết vì đạo: Ông
đến Rôma, mở trường triết học Kitô, tổ chức những cuộc tranh luận công khai
về đạo.
Một số người thời đó công kích niềm tin và sống đạo Kitô giáo, vì thế Justin
bắt đầu nói và viết để bênh vực đạo Chúa. Các sách của ông giúp chúng ta
hiểu hơn về Giáo hội Công giáo thời đầu. Ngày nay chỉ còn cuốn “Bênh đạo và
cuốn Đối thoại với Trypho”. Nhờ đó ta biết về nghi lễ Rửa tội quãng năm 160,
nghi lễ thời đó rất giống như nghi lễ ngày nay. Ông còn viết về sách “Nghi
thức Thánh lễ Misa sáng Chúa nhật” của các cộng đoàn Kitô hữu thời đó gồm:
đọc sách Thánh, bài dẫn giải Tin mừng, dâng bánh rượu, cho giáo dân rước lễ…
Năm 165, Justin bị bắt, vì ông là Kitô hữu. Nhưng ông quyết liệt không bỏ
đạo Chúa để tế thần theo ý vua quan.
3. Tranh
luận bênh vực đức tin:
Chúa đã ban cho thánh Justinô nhiều ơn, và người đã dùng những ơn này đáp
lại ơn Chúa kêu gọi. Khi người đã tìm ra sự thật, người đã theo đến cùng.
Quan Tổng Đốc Roma truyền lệnh :–
Hãy tế thần và vâng lệnh hoàng đế.
– Justin nói: Chẳng ai có quyền bắt chúng tôi tuân lệnh tế thần, vì
chúng tôi đã theo Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng tôi.
– Vậy anh theo chủ thuyết nào ?
– Tôi theo giáo lý chân thật của Chúa Kitô, mặc dù giáo lý ấy các
người lầm lạc không chấp nhận.
– Nếu không tuân lệnh, các ngươi sẽ bị phạt không nương tay.
– Chúng tôi ao ước được chịu khổ vì Chúa Kitô, vì sự khổ ấy sẽ đem
chúng tôi về Thiên đàng trên trời.
– Anh có nghĩ rằng anh sẽ được lên trời và lãnh phần thưởng xứng đáng
không?
– Không phải nghĩ, nhưng Thiên đàng có thực, tôi biết rất rõ và nắm
vững chắc chắn.
– Tất cả những kẻ không chịu tế thần và bất tuân lệnh hoàng đế đều bị đánh
đòn và bị chặt đầu đúng theo luật.
Quan án đã kết án tử hình cho ông Justin. Người đã bị chém đầu ngày 1 tháng
6 năm 166 tại Roma.
Phần
tôi, tôi có tìm Chúa trong Kinh thánh và cầu nguyện không? Xin Chúa Thánh
Thần giúp sức cho con.
Thánh Justin là một giáo dân và triết gia Kitô Giáo đầu tiên đã có
những sáng tác vĩ đại bảo vệ đức tin Kitô Giáo. Nhờ các văn bản ấy,
chúng ta biết về cuộc đời ngài.
Thánh Justin sinh ở Flavia Neapolis, Samaria khoảng năm 100. Cha mẹ
ngài là người ngoại giáo, gốc Hy Lạp. Ngài được giáo dục kỹ lưỡng và
đặc biệt yêu thích khoa hùng biện, thi ca và sử học. Khi còn trai
trẻ, ngài bị thu hút bởi triết thuyết Plato. Tuy nhiên, ngài nhận
thấy chỉ có Kitô Giáo mới trả lời được những thắc mắc lớn lao về đời
sống và sự hiện hữu.
Qua những tài liệu Kitô Giáo cũng như việc quan sát các gương anh
hùng tử đạo, Thánh Justin đã trở lại Kitô Giáo khi ngài 30 tuổi.
Ngài tiếp tục mặc áo choàng của các triết gia thời bấy giờ, và trở
nên triết gia Kitô Giáo đầu tiên. Ngài tổng hợp Kitô Giáo với các
yếu tính đặc sắc nhất trong triết lý Hy lạp. Theo quan điểm của
ngài, triết lý là một nhà mô phạm của Ðức Kitô, một nhà giáo dục dẫn
đưa người ta đến với Ðức Kitô.
Thánh Justin nổi tiếng là một người biện giáo thời bấy giờ. Ngài đi
đây đó và tranh luận với các người ngoại giáo, lạc giáo và Do Thái
Giáo. Khi người Kitô tiếp tục bị bách hại bởi nhà cầm quyền, ngài đã
công khai bảo vệ Kitô Giáo qua lời giảng dạy cũng như văn bản. Trong
các sáng tác của ngài, hiện nay chúng ta vẫn còn giữ được hai bản
văn gửi cho hoàng đế Rôma và cho Thượng Viện.
Sau cùng ngài bị bắt và bị đưa ra trước quan tổng trấn Rôma là
Rusticus. Khi được yêu cầu thờ cúng tà thần, Thánh Justin trả lời:
“Người có suy nghĩ đúng đắn không vì sự giả trá mà chối bỏ sự thật”.
Thánh Justin bị chém đầu ở Rôma năm 165.
Lời Bàn
Là quan thầy các triết gia, Thánh Justin khích động chúng ta hãy
dùng các sức mạnh tự nhiên (nhất là sức mạnh của sự hiểu biết) để
phục vụ Ðức Kitô, và để hình thành đời sống Kitô Giáo trong nội tâm
chúng ta. Vì con người dễ bị sai lầm, nhất là đối với các vấn đề sâu
xa của đời sống và sự hiện hữu, chúng ta cũng phải sẵn sàng sửa đổi
và kiểm soát lại tư duy chúng ta trong sự soi dẫn của chân lý Kitô
Giáo. Do đó, chúng ta mới có thể nói như các thánh nhân uyên bác của
Giáo Hội: Tôi tin để có thể hiểu, và tôi hiểu để có thể tin.
Lời Trích
“Triết lý là sự am tường những gì hiện hữu, và là sự hiểu biết rõ
ràng về chân lý; và hạnh phúc là phần thưởng của sự am tường và sự
hiểu biết đó” (Thánh Justin, Ðối Thoại Với Trypho, 3).
Dường như không có tài liệu lịch sử nào nói về nguồn gốc của hai Thánh
Tử đạo Marcellino và Phêrô cả. Lịch sử chép rất vắn tắt về đời sống hai
Thánh Marcellino và Phêrô Tử đạo. Các ngài được phúc Tử đạo dưới thời
hoàng đế Diocletiano.
Theo truyền thuyết, Marcellino là một Linh mục chuyên lo việc dạy giáo
lý và Rửa tội cho tân tòng. Ngài nhiệt thành dạy đạo và đem nhiều người
trở lại với Chúa, nên bị những kẻ thờ thần ganh ghét, tố cáo.
Còn Phêrô là một người trừ quỷ nổi tiếng ở La Mã. Thánh nhân đã cứu
nhiều người khỏi ma quỷ ám hại, do đó, họ tin theo Chúa.
Nhờ được ơn trừ quỷ, Thánh Phêrô được rất nhiều người mộ mến. Ngược lại
cũng có nhiều người ghen tức và thù oán tìm cách giết hại. Những người
phù thủy ghen tương vì bị mất quyền lợi. Thế là cả hai vị Thánh đều bị
tố giác, dưới thời hoàng đế Diocletiano bắt đạo. Tỉnh trưởng Serene ra
lệnh tống giám Ngài. Bạn ông là Antemi có đứa con gái bị quỷ ám. Nghe
biết Phêrô có quyền trừ quỷ, ông giới thiệu bạn mình tới ngục thất để
gặp Thánh nhân. Gặp ông, Thánh nhân khuyên nhủ ông hãy tin vào Chúa
Giêsu và thờ phượng Thiên Chúa. Ông bực tức cho rằng Chúa không cứu nổi
Phêrô thì làm sao Thánh nhân cứu nổi con ông được. Rồi ngay đêm ấy khi
quân canh ngục còn đang thi hành nhiệm vụ thì Thánh nhân đã có mặt ở nhà
Antemi. Cả gia đình Antemi bỡ ngỡ và xin theo đạo. Paulina, con gái
Antemi được lành bệnh. Từ đó gia đình Antemi thành nơi tụ tập của các
tín hữu, Phêrô thường hay lui tới dạy đạo và Rửa tội cho các tân tòng.
Tức giận, Sereno ra lệnh hành hạ hai Thánh nhân một cách dã man rồi giam
ngục tối, nền rắc đầy miểng chai, và bỏ đói các ngài cho chết. Tuy nhiên
Chúa đã giải thoát cho các ngài trong một tuần lễ để lo cho các dự tòng
được chịu phép Rửa tội. Nghĩ rằng gia đình Antemi lập mưu cho cuộc vượt
thoát này, Sereno ra lệnh giết cả gia đình ông.
Các ngài chịu thống khổ vì Chúa bao nhiêu, thì cũng được an ủi, được
phần thưởng lớn lao bấy nhiêu, như Linh mục Origene xác quyết: “các sự
thống khổ của Đức Kitô tràn đến chúng ta thế nào, thì nhờ Đức Kitô, sự
an ủi chúng tôi cũng được tràn đầy thế ấy. Nếu vậy, thì chúng ta hãy hăm
hở nhận lấy những sự thống khổ của Đức Kitô; và ước gì chúng tràn đến
trên chúng ta, nếu chúng ta muốn được đầy tràn an ủi, bởi vì ai khóc lóc
sẽ được an ủi, nhưng không bằng nhau cho hết mọi người đâu. Bởi vì, nếu
sự an ủi bằng nhau cho hết mọi người thì đã không có lời chép rằng: Các
sự thống khổ của Đức Kitô tràn đến chúng tôi thế nào thì sự an ủi chúng
tôi cũng được đầy tràn thế ấy.
Sự chia sẻ những thống khổ của Đức Kitô thì tương đương với sự thống khổ
mà họ chịu với Người. Điều này bạn hãy nghe Đấng đã nói rất tin tưởng
rằng: chúng tôi biết rằng anh em đã thông phần thống khổ thế nào, thì
cũng được thông phần an ủi thế ấy.
Các ngài bị hành
hình khổ sở và giam trong ngục tối. Cuối cùng, khoảng năm 304, hai Thánh
Marcellino và Phêrô bị đem hành quyết. Khi thi hành án quyết, đao phủ
Dorote đã thấy linh hồn hai ngài bay về trời. Quá xúc động ông đã xin
tòng giáo và qua đời cách lành Thánh. Còn xác hai Thánh nhân được chôn
cất ở nghĩa trang Ad Duos Lauros đường Labicana.
Khi Giáo Hội được sống trong an bình, hoàng đế Constantin cho xây trên
mộ hai ngài một đại Thánh Đường rất nguy nga trên con đường Via
Merulana, nằm giữa đại Thánh Đường Đức Bà Cả và Đền Thờ Laterano. Chính
nơi đây hoàng đế đã cho chôn cất mẹ ngài. Tên hai Thánh nhân đã được
nhắc đến trong lễ quy Roma.
Lạy Chúa, khi ban ơn cho hai Thánh Tử đạo Marcellino và Phêrô cùng anh
dũng tuyên xưng đức tin, Chúa đã cho chúng con nghiệm thấy rằng: Chúa
hằng gìn giữ che chở Giáo Hội. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa
chúng con. Amen.
Không có tài liệu lịch sử nào nói về nguồn gốc của hai thánh tử đạo
Marcellino và Phêrô cả. Các Ngài được phúc tử đạo dưới thời Diocletianô.
Thánh Marcellino được ơn tử đạo còn thánh Phêrô được ơn trừ quỉ.
Nhờ được ơn trừ quỉ, thánh Phêrô được rất nhiều người mộ mến. Ngược lại
cũng có nhiều người ghen tức và thù oán tìm cách giết hại. Tỉnh trưởng
Sêrênô ra lệnh tống giam Ngài. Bạn ông là Antêmi có đứa con gái bị quỉ
ám. Nghe biết Phêrô có quyền trừ quỉ, ông giới thiệu bạn mình tới ngục
thất để gặp thánh nhân. Gặp ông, thánh nhân khuyên nhủ ông hãy tin vào
Chúa Giêsu và thờ phượng Thiên Chúa. Ông bực tức cho rằng: Chúa không
cứu nổi Phêrô thì làm sao thánh nhân cứu nổi con ông được. Rồi ngay đêm
ấy khi quân canh ngục còn đang thi hành nhiệm vụ thì thánh nhân đã có
mặt ở nhà Antêmi. Cả gia đình Antêmi bỡ ngỡ và xin theo đạo. Paulina,
con gái Antêmi được lành bệnh. Từ đó gia đình Antêmi thành nơi tụ tập
thường hay lui tới dạy đạo và rửa tội cho các tân tòng.
Tức giận, Sêrênô ra lệnh hành hạ hai thánh nhân một cách dã man rồi giam
ngục tối, nền rắc đầy miểng chai, và bỏ đói các Ngài cho chết. Tuy nhiên
Chúa đã giải thoát cho các Ngài trong một tuần lễ để lo cho các dự tòng
được chịu phép rửa tội. Nghĩ rằng gia đình Antemi lập mưu cho cuộc vượt
thoát này, Sêrênô ra lệnh giết cả gia đình ông.
Cuối cùng hai thánh nhân Marcellinô và Phêrô bị đem hành quyết. Khi thi
hành án quyết, đao phủ Đorotê đã thấy linh hồn hai Ngài bay về trời. Quá
xúc động ông đã xin tòng giáo và qua đời cách lành thánh. Còn xác hai
thánh nhân được chôn cất ở nghĩa trang Ad Duos Lauros đường Labicana.
Khi Giáo hội được sống trong an bình, người ta xây cất trên mộ hai Ngài
một thánh đường rất nguy nga. Tên Hai thánh nhân đã được nhắc đến trong
lễ quy Roma.
Ca hiệp lễ, lễ chung các thánh tử đạo có ghi:” Anh em đã một lòng gắn bó
với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp gian nan thử thách. Vì thế, Thầy sẽ
ban quyền cai trị cho anh em, để anh emđược đồng bàn ăn
uống với Thầy,trên vương quốc của Thầy”( Lc 22, 28-30 ).
Thánh Marcellinô và Phêrô là những chứng nhân cho Chúa, đã đổ máu đào để
minh chứng cho tình yêu của Chúa.
THÁNH MARCELLINÔ VÀ THÁNH PHÊRÔ:
Lịch sử không ghi lại nhiều về hai thánh này, người ta chỉ biết rõ rằng
thánh Phêrô được đặc ân Chúa ban cho trừ quỉ, Ngài đã làm nhiều phép lạ
do tình thương của Chúa, xua trừ ma quỉ ra khỏi nhiều người bị chúng ám
hại. Tiếng tăm của Ngài được loan truyền khắp nơi, Ngài đã thu hút được
nhiều thành phần trong xã hội, có nhiều người mộ mến Ngài, nhưng cũng
lắm kẻ ghen ghét, ganh tỵ, hận thù Ngài vì Ngài được nhiều người quí
mến, yêu chuộng. Thánh nhân đã sống đúng lời Chúa:” Ai liều mất mạng
sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”(
Mc 8, 35 ). Chính vì Ngài có ảnh hưởng rộng lớn và lôi cuốn được nhiều
ngườitheo Chúa. Viên tỉnh trưởng Sérène bắt Ngài và ra
lệnh tống ngục Ngài. Trong tù, thánh nhân đã làm gương sáng: sống hiền
lành, khiêm nhượng, làm phép lạ và đời thánh thiện của Ngài đã làm cho
cả gia đình Antêmi trở lại theo Chúa do phép lạ thánh nhân đã chữa khỏi
bệnh cho con gái Antêmi.
Thánh Marcellinô cũng bị tống ngục vì tội rao giảng và tội làm phép lạ,
tội rửa tội cho nhiều tân tòng. Thánh nhân dù bị tù tội, dù bị tra tấn
dã man vẫn một lòng kiên trung rao giảng, dậy giáo lý và tiếp tục rửa
tội cho nhiều người.Tỉnh trưởng Sérène quá bực tức vì
tinh thần kiên cường của hai thánh nhân, nên đã dùng nhiều cực hình dã
man nhất, tàn bạo nhất hầu làm nhụt chí hai vị, nhưng” vàng thử lửa,
gian nan thử đức”. Hai vi thánh vẫn kiên trì theo Chúa và không hề nản
lòng, nhụt chí. Chúa đã sai các thiên thần ban đêm đến giải cứu các Ngài
để các Ngài củng cố niềm tin cho các tân tòng. Tỉnh trưởng Sérène nghi
ngờ Antêmi đã tiếp tay để thánh Phêrô và Marcellinô trốn ngục, nên đã hạ
lệnh giết cả gia đình của Antêmi.
CHÚA THƯỞNG CÔNG HAI THÁNH MARCELLINÔ và PHÊRÔ:
Thánh vịnh 33, 18 có viết:” Người công chính kêu xin, và Chúa đã nhận
lời, giải thoát khỏi mọi cơn nguy khốn”. Thánh Marcellinô và Phêrô đã
được phúc tử đạo vào năm 304. Khi chém đầu các Ngài, tên đao phủ Đôrôtê
đã trông thấy linh hồn các Ngài bay về thiên quốc. Ông đã hối hận, xin
trở lại, chịu phép rửa và chết bình an trong tay Chúa.
“Lạy Chúa, khi ban ơn cho hai thánh tử đạo Marcellinô và Phêrô cùng anh
dũng tuyên xưng đức tin, Chúa đã cho chúng con nghiệm thấy rằng:” Chúa
luôn gìn giữ chở che Giáo Hội”. Vì lời hai thánh nguyện giúp cầu thay,
xin cho chúng con được bắt chước các Ngài luôn giữ vững niềm tin như thế
“( Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Marcellinô và Phêrô tử đạo ).
Cùng với hai mươi hai vị tử đạo U-găng-đa này, trang sử về các Chứng
Nhân Tử Đạo những thế kỷ đầu lại tái diễn. Rất nhiều vị trong số đó chỉ
mới là Ki-tô hữu được ít lâu. Bốn vị trong số đó được thánh Ca-rô-lô
Loan-ga thanh tẩy ngay trước lúc hành hình. Phần lớn các vị bị thiêu
sống ở Nu-mun-gun-gô (năm 1886) thuộc lớp tuổi từ mười sáu đến hai mươi
bốn. Vị trẻ nhất tên là Ki-di-tô mới có mười ba tuổi.
Vinh quang của các vị tử đạo là dấu chỉ về một cuộc tái sinh
Trích bài giảng của đức giáo hoàng Phao-lô VI trong lễ phong thánh
các vị tử đạo U-găng-đa.
Các vị tử đạo Phi Châu này đã thêm một trang mới vào Danh Bộ Các
Thánh Tử Đạo, vào cuốn sổ ghi tên những người chiến thắng. Trang
sách đó cho thấy những sự việc vừa bi thảm, lại vừa cao đẹp. Chúng
tôi coi đó là trang sử xứng đáng tiếp nối những bài tường thuật hiển
hách về Châu Phi ngày xưa. Chúng ta, những con người của thời đại
hôm nay, những người kém lòng tin, chúng ta vẫn tưởng rằng sẽ không
bao giờ lại có những trang sử hùng tráng như xưa.
Thánh Âu-tinh và nhà thơ Pơ-ru-đen-xi-ô đã kể lại những thành tích
đầy xúc động của các vị tử đạo ở Si-li-um, ở Các-tha-gô, và của các
vị tử đạo trong “Đoàn Người Trắng thành U-ti-ca” (300 vị chết trong
hầm vôi đang sôi). Thánh Gio-an Kim Khẩu thì hết lời tán dương các
vị tử đạo Ai-cập. Những thành tích của tất cả các vị vừa được nhắc
đến cùng với thành tích của các vị tử đạo trong cuộc bách hại của
những người Văng-đan xưa, ai có thể ngờ rằng thời nay lại được tiếp
nối bởi những câu chuyện mới không kém nét hào hùng, không kém phần
hiển hách.
Phi Châu ngày xưa có các vị đại tử đạo và các bậc chứng nhân đức
tin, những nhân vật nghìn năm không quên như thánh Síp-ri-a-nô,
thánh Phê-li-xi-ta, thánh Pe-pê-tu-a, và nhất là thánh cả Âu-tinh.
Trước đây, ai có thể tiên đoán rằng sau các vị đó sẽ có ngày chúng
ta còn được kể thêm danh tánh rất thân thương của thánh Ca-rô-lô
Loan-ga, thánh Mát-thi-a Mu-lum-ba, thánh Ca-lem-ba và hai mươi đồng
bạn tử đạo. Cả những vị thuộc Giáo Hội Anh Giáo đã chịu chết vì danh
Đức Ki-tô cũng cần phải được nêu danh nữa.
Các thánh tử đạo Phi Châu nói đây đã mở đầu một kỷ nguyên mới, không
phải là kỷ nguyên bách hại và tranh chấp, nhưng là kỷ nguyên tái
sinh về cả hai mặt đạo cũng như đời.
Phi Châu đã được tưới gội bằng máu của các vị tử đạo mới này, những
vị tử đạo đầu tiên trong kỷ nguyên chúng ta -ước chi cũng là những
vị cuối cùng, vì lễ toàn thiêu của các ngài cao quý và đắt giá biết
bao !- Phi châu đã được tự do và độc lập. Quả thật, Phi châu đang
tái sinh.
Người ta đã nghiền nát các ngài một cách tàn bạo. Thật khủng khiếp,
nhưng cũng đầy ý nghĩa, vì sự tàn bạo đó ai cũng thấy là đã làm phát
sinh những động lực mạnh mẽ khiến hình thành một dân mới -mới về
phương diện đạo đức-. Một nếp sống tinh thần mới phải được kiến tạo
để truyền lại cho hậu thế. Nếp sống đó phải là một biểu tượng nói
lên sự chuyển biến và phải chuyển biến thật sự. Trước đây là một lối
sống đơn sơ mộc mạc, tuy không thiếu những giá trị nhân bản đáng
quý, nhưng người ta lại bị ràng buộc trong tình trạng nô lệ chính
mình, khiến cho lối sống đó không còn đáng trọng, không đứng vững
được nữa. Nay phải bước qua một nền văn minh hướng tới những biểu lộ
cao quý nhất của tinh thần con người, tới những hình thái thượng
đẳng của cuộc sống xã hội.
Xướng đáp
XKhi
chúng ta lâm trận và chiến đấu cho đức tin, có Thiên Chúa chứng
giám, có các thiên sứ của Người chứng giám, và cả Đức Ki-tô cũng
chứng giám nữa.
ĐÔi
vinh hiển dường bao, hạnh phúc biết chừng nào, khi xông vào cuộc
chiến mà có Thiên Chúa hiện diện, có Đức Ki-tô làm trọng tài và
đội triều thiên cho người chiến thắng.
XTa
hãy võ trang cho đầy đủ, và sẵn sàng lâm chiến : tinh thần phải
vững mạnh, đức tin phải nguyên tuyền, và đức ái nồng nàn mãnh
liệt.
ĐÔi
vinh hiển dường bao, hạnh phúc biết chừng nào, khi xông vào cuộc
chiến mà có Thiên Chúa hiện diện, có Đức Ki-tô làm trọng tài và
đội triều thiên cho người chiến thắng.
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã cho máu tử đạo làm nảy sinh thêm nhiều Ki-tô hữu,
xin cho máu của thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn đã tưới xuống cánh
đồng Hội Thánh cũng đem lại một mùa lúa dồi dào. Chúng con cầu xin
THÁNH CARÔLÔ LWANGA và CÁC BẠN TỬ ĐẠO, (St. Charles Lwanga)
Ngày 03/6
Kitô giáo còn hoàn toàn mới lạ đối với Phi châu cho tới khi việc truyền bá
đạo Công giáo bắt đầu khai mào từ năm 1879. Các linh mục là những tu sĩ dòng
Thừa Sai Phi Châu. Các ngài được mọi người biết đến dưới tước hiệu “các cha
áo trắng” vì các ngài mang bộ tu phục màu trắng. Vua Mwanga chẳng biết Kitô
giáo rao giảng những gì nhưng ông cảm thấy bực mình khi một tín hữu Công
giáo là Giuse Mkasa khiển trách lối sống của ông. Vua đã sát hại một nhóm
Kitô hữu và cả vị giám mục thân yêu của họ. Vua cũng can dự vào sinh hoạt
đồng tính luyến ái. Ông đặc biệt ưa thích các chú tiểu đồng. Rồi sự bực mình
của vua Mwanga trở nên phẫn nộ và căm thù đối với Giuse Mkasa và tôn giáo
của anh. Một số giới chức tham tham của nhà vua đã kích động tâm trạng vua
với những lời xu nịnh gian trá. Thế là vào ngày 18 tháng Mười Một năm 1885,
Giuse Mkasa bị đem ra xử trảm. Cuộc bách hại khủng bố bắt đầu. Trước khi nó
kết thúc, hàng trăm người đã bị thiệt mạng. Hai mươi hai người trong số họ
được tôn phong lên bậc hiển thánh.
Với cái chết của Giuse Mkasa, Carôlô Lwanga trở thành thầy dạy đạo chính yếu
cho các chú tiểu đồng của vua. Vào ngày 26 tháng Năm năm 1886, vua Mwanga
nhận thấy một số tiểu đồng của ông là tín hữu Công giáo. Ông cho gọi Đênis
Sêbugwawo vào. Ông hỏi có phải Đênis đã dạy đạo cho các tiểu đồng không.
Đênis trả lời phải. Nhà vua liền chụp lấy ngọn giáo của mình và phóng xuyên
qua cổ họng chàng thanh niên. Rồi ông la lớn tiếng không cho phép ai được
rời khỏi tổng hành dinh của ông. Tiếng trống đấu tranh vang lên thâu đêm.
Trong một căn phòng kín ẩn, Carôlô Lwanga đã bí mật rửa tội cho bốn chú tiểu
đồng. Một em trong bọn trẻ là thánh Kizitô, chú bé mười ba tuổi có tính tình
vui tươi quảng đại. Kizitô là người bé nhất trong nhóm. Thánh Carôlô Lwanga
thường hay bảo vệ Kizitô thoát khỏi lòng ham muốn dâm dật của vua Mwanga.
Hầu như hai mươi hai vị thánh tử đạo Uganđa này đã bị giết chết vào cùng
ngày mùng 3 tháng Sáu năm 1886. Các ngài bị bắt đi bộ chừng năm mươi chín
cây số đến nơi hành quyết. Sau ít ngày bị giam tù, người ta ném các ngài vào
một đống lửa lớn. Mười bảy người trong số ấy là những chú tiểu đồng thuộc
vương gia. Một trong các cậu bé tử đạo là thánh Mbaga. Hôm ấy chính thân phụ
ngài là người đao phủ. Một vị tử đạo khác là thánh Anrê Kagwa, mất ngày 27
tháng Giêng năm 1887, cũng ở trong số hai mươi hai vị tử đạo được đức thánh
cha Phaolô VI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1964.
Carôlô
Lwanga là thánh bổn mạng của giới trẻ da mầu Phi châu. Ngài và các bạn tử
đạo đã hết sức hiểu rõ và quý trọng ơn đức tin của mình. Các ngài đã là
những anh hùng! Chúng ta hết thảy hãy cầu xin cùng thánh Carôlô Lwanga và
các thánh tử đạo Phi châu này. Hãy xin các ngài chỉ cho chúng ta biết cách
làm chứng cho Đức Chúa Giêsu và Giáo hội như các ngài.
Dân da đen
sống ở miền Ouganda, Trung Phi thuở ấy chưa hề nghe đến tên Chúa. Ma quỷ
còn thống trị họ với mọi thứ phù phép. Họ chém giết lẫn nhau và ăn thịt
nhau nữa. Trẻ em bị bỏ rơi. Đàn bà bị coi như thú vật phải làm việc mệt
nhọc và bị sát hại theo sở thích của đàn ông.
Ngày kia hai cha thừa sai Lourdel và Livinhac đến với họ sau một cuộc
hành trình đầy cực khổ. Các Ngài đến gặp nhà vua trong chòi của ông và
buổi đầu mọi sự tốt đẹp. Các Ngài tận tụy phục vụ.
Dân da đen đã không bao giờ tưởng tượng được điều các vị thừa sai nói
cho lại là điều tốt đẹp như vậy: Họ có một người cha trên trời đã yêu
thương họ đến nỗi đã ban con mình là Chúa Giêsu đến cứu chuộc họ, và
Chúa Giêsu lại chết trên thánh giá đã họ được về trời với Người, như thế
họ lại không yêu mến vâng phục Người để được gặp lại Người trong hạnh
phúc bất tận sao? Để được như vậy, họ quyết yêu thương nhau theo luật
Chúa để nên tốt hơn. Khi đã cố gắng lãnh phép Rửa tội. Chúa Giêsu đổ
tràn ơn thánh vào trong lòng họ và kết hợp với họ trong Bàn tiệc Thánh
Thể.
Nhà Vua cũng rất thích điều các Cha nói. Những điều các Ngài rao giảng
làm cho các phù thủy và bọn người Ả rập buôn người giận dữ. Một thị động
bị vu oan và bị thiêu sống. Anh ta xin được rửa tội và đã can đảm chịu
cực hình, các nhà thừa sai cảm thấy cơn bách hại đã đến nên vội rửa tội
cho những người đã được chuẩn bị rồi rút lui với một số trẻ em các Ngài
đã chuộc lại được. Các Ngài rút lui về bờ hồ phía nam, là nơi bệnh đậu
mùa đang giết hại rất nhiều người. Số đông trẻ em sắp chết đều được rửa
tội.
Các Ngài nói với một em bé 9 tuổi: Hãy cầu nguyện xin Chúa Giêsu cứu
chữa con. Nhưng em bé trả lời: – Bây giờ được làm con Thiên Chúa, con
không sợ chết nữa.
Được ba năm, nhà vua qua đời, các vị thừa sai trở lại, dân chúng mừng
rỡ. Dân được rửa tội trước đã rửa tội cho nhiều người khác nữa. Việc
tông đồ khởi sắc nhưng một viên chức của Tân vương đã gieo nghi ngờ đối
với các thành quả của các Kitô hữu, nhất là đối với Giuse Mukasa, thủ
lãnh các thị đồng, người đã chống lại sự vô luân của ông. Ông ta tâu vua
rằng: các Kitô hữu mưu chiếm ngôi vua. Các phủ thủy bảo rằng bọn khởi
xướng phải chết. Vua tin họ và Giuse bị thiêu sống. Lý hình muốn trói
Ngài lại nhưng Ngài nói: – Tôi chết vì đạo mà lại tìm cách thoát thân
sao? Một Kitô hữu không có sợ chết đâu.
Nhà vua nghĩ rằng bản án nầy sẽ làm cho các Kitô hữu khiếp sợ. Trái lại,
ngày càng có nhiều người theo đạo. Khi đi săn về, ông gọi tiểu đồng
Mwafou 14 tuổi lại, và khi biết rằng em đang học đạo với một thiếu niên
tên là Denis, ông truyền dẫn Denis lại, la lớn:
Tên nô lệ khốn khiếp, ngươi dạy đạo hả? Và ông dùng lưỡi dao tẩm thuốc
độc hạ sát Denis.
Giận dữ đi ra, ông gặp Honôrat và hỏi: – Mày cũng là Kitô hữu hả? –
Phải.
Và Hônôrat bị tra khảo, bị xẻ thịt. Bấy giờ vua khám phá ra một tân tòng
là Giacôbê và tra gông vào cổ. Về nhà ông thúc trống tập họp các đao phủ
lại. Bọn đao phủ và các phù thủy nhảy múa như được thoát khỏi ngục.
Ngược lại tại các nhà thị đồng quang cảnh như thần tiên. Carôlô Lwanga,
chiến sĩ anh dũng nhất của triều đình đã rửa tội cho em bé Kizitô và ba
trẻ em khác, dọn mình cho các em chịu chết cách thánh thiện.
Ngày 28 tháng 5, nhà vua truyền thiêu sống các thị đồng dám cầu nguyện.
Mwa-Ga là con một đao phủ. Ba em khẩn khoản xin em trốn đi, nhưng em từ
chối. Một chiến sĩ Kitô giáo nói với vua: – Con lên trời và cầu nguyện
cho Đức Vua.
Các phạm nhân mạnh dạn tiến đi chịu khổ hình, gặp Pontianô tên đao phủ
hỏi anh: – Mày biết cầu nguyện không?
Vừa trả lời "biết" Pontianô bị chém đầu ngay. Những người khác nói: – Ở
trên trời Pontianô sẽ cầu nguyện cho chúng ta được can đảm chịu chết.
Các vị tử đạo bị kềm cứng trong gông cùm trong khi người con của đao phủ
bị ép đến với cha mẹ. Họ phải đợi sáu ngày để chuẩn bị giàn thiêu, đã
đến ngày xử, Mwaga nhảy xổ đến nhập bọn tại pháp trường, các vị tử đạo
nói với nhau: – Chính tại nơi đây chúng mình được thấy Thiên Chúa.
Các Ngài bị đặt trên các tấm phên như những cây đuốc sống. Người ta đốt
chân các vị tử đạo để mong các Ngài thôi cầu nguyện, nhưng các Ngài đã
trả lời: – Còn sống, chúng tôi sẽ không ngừng cầu nguyện.
Một phù thủy nói với các Ngài: Thiên Chúa sẽ không giải thoát các Ngài
đâu. Brunô trả lời: – Ông không đốt cháy linh hồn chúng tôi được đâu,
nhưng nó sẽ bay lên thiên đàng.
Giàn thiêu được đốt lên. Lời kinh lạy cha của các thánh còn vượt trên
những tiếng la hét man rợ và những tiếng nổ lốp đốp của lò lửa. Người ta
biết được là các Ngài đã chết khi hết nghe tiếng các Ngài cầu nguyện.
Ông vua da đen tự nhiên chắc rằng sau tội ác này, chẳng còn bóng dáng
Kitô hữu nào trong xứ sở của ông nữa. Nhưng ngày nay, Ouganda có hơn nửa
triệu tín hữu.
“
Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc, dành sẵn
cho các ngươi, ngay từ lúc tạo thành trời đất”( Mt 25, 34 ).Thánh Carôlô
Lwanga và các bạn tử đạo đã làm cho Hội Thánh Ouganda càng lúc càng phát
triển. Các Ngài xứng đáng lãnh nhận triều thiên trên trời.
HỘI THÁNH OUGANDA ĐƯỢC LỚN LÊN NHỜ MÁU CÁC THÁNH CARÔLÔ LWANGA và CÁC
BẠN TỬ ĐẠO:
“ Máu của
các Kitô hữu làm nẩy sinh Giáo Hội” hay “ Máu vị tử đạo là hạt giống của
các Kitô hữu”. Thánh Carôlô Lwanga luôn khích lệ, động viên các bạn kiên
cường, tuyên xưng danh Chúa dẫu có phải hy sinh tới cả mạng sống của
mình. Các thánh tử đạo Ouganda thuộc mọi lứa tuổi: có vị như Matthias
mới lên 5 tuổi, thánh Kitô mới có 13 và các vị khác lớn hơn từ 16 tới 24
tuổi đời. Các Ngài đã hy sinh thí mạng sống của mình, đã đi con đường
đức tin, con đường thập giá, con đường tình yêu như Thầy chí thánh
Giêsu, những hình phạt như ném đá, voi dày, đòn vọt, gông cùm, xiềng
xích không làm chùn bước các Ngài. Các Ngài đã cảm nghiệm sâu xa lời
của Chúa:”Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác, ngoài Đức Giêsu
Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá”( 1Co 2, 2 ) .
Hai mươi hai thánh tử đạo Ouganda trong đó có bốn vị chưa được chịu phép
rửa tội, thánh Carôlô đã động viên, dậy dỗ và rửa tội cho họ trước khi
các Ngài được phúc tử đạo. Hội Thánh Ouganda chỉ thực sự được phát triển
và lớn mạnh nhờ máu của các vị tử đạo mà Giáo Hội mừng kính hôm nay.
CHÚA THƯỞNG CÔNG CÁC NGÀI:
Cảm nghiệm sâu xa lời sách khải huyền:” Ai thắng, Ta sẽ cho ăn quả cây
sự sống, trồng ở trên thiên đàng của Thiên Chúa”( Kh 2, 7 ). Thánh
Carôlô Lwanga và hai mươi mốt bạn được phúc tử đạo, đã lãnh triều thiên
nước trời. Chúa thưởng công các Ngài, Giáo Hội trần thế tôn vinh các
Ngài. “Lạy Chúa, Chúa đã cho máu tử đạo làm nẩy sinh thêm nhiều Kitô
hữu. Xin cho máu của thánh Carôlô Lwanga và các bạn đã tưới xuống cánh
đồng Hội Thánh cũng đem lại một mùa lúa dồi dào”( Lời nguyện nhập lễ, lễ
thánh Carôlô Lwanga và các bạn tử đạo ).
Gương thánh nhân:
Năm 1880, giữa lúc dân nước U-găn-đa còn sống trong lầm lạc, thờ lạy bụt
thần, thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn đã đem đạo Chúa đến cho họ.
Lúc đầu, nhà vua rất vui mừng đón tiếp và sẵn sàng ủng hộ ngài. Nhờ đó,
thánh nhân được tự do đi khắp nơi rao giảng cho mọi người biết Chúa. Dân
chúng rất cảm kích khi nghe Ngài nói đến sự thương khó và cuộc tử nạn của
Chúa Giêsu. Họ không thể tưởng tượng được một vị Chúa cả vì thương họ đã bỏ
trời sinh xuống làm người nghèo khổ như họ, và chịu chết đóng đinh khổ nục
trên thập giá để cứu rỗi họ, đem hạnh phúc đến cho họ. Từ đó họ hết lòng
thương mến Chúa và xin lãnh nhận bí tích rửa tội, để thờ kính Đấng đã hết
lòng thương mến họ.
Thấy thế, các thầy
phù thuỷ và
buôn bán nô lệ ghen tức, vì họ bị mất ảnh hưởng, quyền lợi. Họ tố cáo với
nhà vua là những người theo đạo Thiên Chúa mưu phản. Sẵn lúc đó, nhà vua
đang bực tức vì những người có đạo chỉ trích đời sống vô luân của ông ta.
Thế nên ông ta ra lệnh bắt Ca-rô-lô và 18 người Công giáo. Và để cho dân
chúng khiếp sợ không còn ai dám theo đạo nữa, ông ta kết án thiêu sống thánh
nhân cùng với những người bị bắt. Nhưng thay vì làm cho đạo Chúa bị bế tắc,
ông đã giúp cho Châu Phi mở ra một kỷ nguyên mới:” Kỳ nguyên tái sinh về
phương diện Tôn giáo
và xã hội”, như lời Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói, vì máu các thánh tử đạo
là hạt giống sinh ra người có đạo. Chúng ta hãy nghe
lời Đức Giáo Hoàng nói, trong dịp lễ phong thánh cho thánh Ca-rô-lo- Loan-ga
và các bạn của Ngài:
“Ai có thể đoán được rằng tiếp theo các thánh tử đạo và tu sĩ thời danh ngày
xưa ơ Phi châu như: Síp-ri-a-nô, Fê-li-xi-ta và Pê-pê-tu-a, nhất là thánh
Aâu-tinh, ngày nay lại có những vị thời danh như Ca-rô-lô- Loan-ga,
Mát-thi-a Mô-lum-ba, Ca-len-ba cùng với 20 đồng bạn tử đạo người công giáo.
Ta cũng không thể quên những vị khác thuộc Anh giáo đã dám bỏ mạng mình vì
danh Chúa Kitô. Các vị tử đạo này của Châu Phi mở ra một kỷ nguyên mới…dĩ
nhiên không nên nghĩ là kỷ nguyên cấm đạo và đàn áp tôn giáo mà là kỷ nguyên
tái sinh về phương diện tôn giáo và xã hội. Được tưới gội bằng máu của các
thánh tử đạo mới này, những tử đạo đầu tiên của thời đại mới ( và ước gí là
những tử đạo cuối cùng, vì lẽ, lễ hy sinh của các Ngài thật cao quý! ) một
Phi Châu tự do và độc lập đang được tái sinh.
Sự chết bi thảm của
các ngài thật quá lạ lùng và ý nghĩa, đến nỗi có thể tìm thấy ở đó đủ những
bài học, để kiến tạo một dân mới
về lòng đạo đức: xây dựng một truyền thống tinh thần mới để truyền lại cho
hậu thế, một truyền thống đủ khả năng tượng trưng diễn tả và đem lại một
tiến bộ cho dân tộc, đi từ một nền vănhoá thô
sơ có nhiều giá trị nhân bản cao quý, nhưng cũng không tránh khỏi còn hoen ố
nhược điểm và phần nào đang đóng kín, hẹp hòi, để tiến tới một nếp sống chân
chính cởi mở, thuận lợi cho tinh thần con người có được những bộc lộ cao
thượng hơn, và cuộc sống xã hội có được những hình thức cao cấp hơn.”
Quyết tâm:Noi
gương thánh Ca-rô-lôLoan-ga, tôi sẵn sàng chịu gian nan khốn khó, để đem
Chúa đến cho những người chưa biết Chúa và để làm chứng đạo Chúa là đạo
thật.
Lời nguyện: Lạy
Chúa, Chúa đã cho máu thánh tử đạo làm nảy sinh nhiều Kitô hữu, xin cho máu
thánh Loan-ga và các bạn đã tưới xuống cánh đồng Hội thánh cũng đem lại một
mùa lúa dồi dào.
Người ta ấn định ngày này để nhớ đến 22 vị thánh tử đạo Châu Phi da đen,
bị giết tại Ouganda giữa 26 tháng 5; 3 tháng 6 năm 1886; và 27 tháng 1
năm 1887. Ngày 3 tháng 6 nhắc lại cuộc tử đạo của Thánh Charles Lwanga
và 12 bạn chịu thiêu sống sau khi chịu nhiều cực hình khủng khiếp, tại
Rubaga (03.06.1886). Các ngài là những của lễ hy tế đầu tiên trong cuộc
bách hại do Mwanga chủ xướng. Ông là vị vua thâm độc và khát máu trong
miền Đại Hồ (Grands Lacs). Các ngài được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XV
phong chân phước năm 1920 và được Đức Phaolô VI phong hiển thánh năm
1964, nhân chuyến viếng thăm của ngài tại Châu Phi.
Ouganda trước tiên được các linh mục Hội truyền giáo Châu Phi (Pères
Blancs) rao giảng Tin Mừng năm 1879. Năm 1882, họ bị đuổi khỏi nơi này,
nhưng hai năm sau họ trở lại theo lời yêu cầu của vua Mwanga. Sau đó,
chính ông lại bách hại các Kitô hữu hết sức tàn bạo.
Để trả thù, một viên chức bị bắt trong khi âm mưu chống vua Mwanga đã
thúc đẩy vua trước hết giết một số Kitô hữu và giám mục Anh Giáo
Hannington (1885), bị cáo gian làm gián điệp. Sau đó vua sai chém đầu
Joseph Mukusu, trưởng đội những người phục vụ. Họ bị cáo là“những
người cầu nguyện”
(17 tháng 11 năm 1885).
Charles Lwanga là người đầu bếp mới của triều đình, đã chuẩn bị cho mười
hai bạn được phúc tử đạo. Sau khi bị kết án tử hình, các ngài bị dẫn đến
địa điểm hành hình ở Kampala. Trong lúc đó, người bạn của vua là André
Kagwa, bị chặt đầu rồi hỏa thiêu. Hôm sau, một nhân vật nổi tiếng khác
cũng bị giết cách tàn bạo, đó là Matthias K.Mulumba. Các văn kiện của vụ
án phong thánh đều ví Matthias K. Mulumba như “đoá
hoa đẹp nhất trên chiếc triều thiên”
của các thánh tử đạo này.
Sau khi trở lại đạo và chịu phép thánh tẩy, ngài không còn quan tâm đến
các danh vọng bổng lộc ban cho ngài với tư cách là nhân vật cao cấp
trong triều, ngài nói: “Tôi không phải là một người nô lệ, nô lệ của Đức
Giêsu Kitô sao ?”
Sau vài ngày cần thiết chờ đợi để chuẩn bị ra pháp trường và trong khi
vài kiếm đồng đã bị giết chết dọc đường, người ta xiềng xích các tù
nhân. Người đầu tiên phải lên giàn hỏa thiêu là Charles Lwanga. Rồi
những người khác, lần lượt bị thiêu sống. Trong nhóm họ có con trai của
người trưởng toán lý hình. Anh không chấp nhận được tha bổng và trả lời
cha: “Vua
đã ra lệnh cho cha phải giết con. Con muốn chết vì Đức Giêsu Kitô”.
Jean-Marie Jamari được mệnh danh là bậc “tiền
bối”do
bởi dáng vẻ oai nghi trang trọng và luôn sẵn sàng giúp đỡ người thân
cận, hai năm sau cũng bước theo các bạn tử đạo của mình; ngài bị nhấn
chìm trong hồ ngày 27 tháng 1 năm 1887.
Do đó, thật xứng đáng khi Đức Piô XI công bố Charles Lwanga là thánh Bảo
Trợ cho Công Giáo Tiến Hành và giới trẻ châu Phi.
2- Thông điệp và tính thời sự
a. Lời nguyện trong ngày lễ được mở đầu bởi câu nói danh tiếng của
Tertullien, cũng là một giáo dân châu Phi: “Lạy
Chúa, Chúa đã cho máu tử đạo làm nảy sinh thêm nhiều Kitô hữu...”
và lời nguyện tiếp theo:
“Xin cho máu của thánh Lwanga và các bạn đã tưới xuống cánh đồng Hội
thánh cũng đem lại một mùa lúa dồi dào”.
Nhân chuyến hành hương sang châu Phi năm 1964, Đức Phaolô VI đã cử hành
Thánh lễ phong thánh trên các hũ đựng di hài các thánh tử đạo. Như thế
Ngài lặp lại truyền thống của thánh Cyprien là cử hành hy tế Tạ Ơn trên
các mộ thánh tử đạo thành Carthage. Như để nhấn mạnh câu nói danh tiếng
của Tertullien, Đức Giáo Hoàng tuyên bố rằng các tân thánh tử đạo này
của châu Phi như thêm một mắc xích mới vào chuỗi các vị tử đạo của châu
Phi xưa: “Thánh Augustinô và nhà thơ Prudence đã kể lại những thành tích
đầy xúc động của các vị tử đạo ở Scillium, ở Carthage, và của các vị tử
đạo trong “Đoàn Người Trắng thành Utique” (300 vị chết trong hầm vôi
đang sôi). Thánh Gioan Kim Khẩu hết lời tán dương các vị tử đạo Ai-cập,
cùng với thành tích của các vị tử đạo trong cuộc bách hại của những
người Vandales xưa…”
b. Lời nguyện trên lễ vật gợi lại việc các thánh tử đạo trẻ tuổi đã từ
chối và chống lại những lời khiếm nhã của Đức vua, họ thà chết hơn là
phạm tội. Như thế, họ làm sống dậy các hành vi và cử chỉ của các thánh
tử đạo vào những thế kỷ đầu tiên trong lòng Giáo hội trẻ trung vừa được
rao giảng Tin Mừng từ thế kỷ XIX.
c. Lời nguyện hiệp lễ giúp chúng ta nắm được ý nghĩa hiện thực của ngày
lễ nhớ các thánh tử đạo Ouganda.“Chính
trong hy lễ Tạ Ơn mà các ngài đã tìm được sự dũng cảm để chịu đựng các
nỗi cực hình”.
Chúng ta cũng thế, giữa muôn vàn thử thách, chúng ta sẽ nhận lấy, trong
mầu nhiệm hy lễ Tạ Ơn, một niềm tin và lòng bác ái tinh tuyền, không
khiếm khuyết.
Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo (khoảng 673-754)
Ngày 5/6
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Cuộc tử đạo của thánh giám mục thành Mayence và 52 người bạn đã diễn ra ngày
5 tháng 6 năm 754. Trong khi dâng Thánh lễ ở Dokkum, thuộc Frise miền Bắc
(Hà Lan ngày nay), các Ngài đã bị dân Frisons sát hại, dẫu rằng họ đã được
các ngài loan báo Tin Mừng của Chúa. Lễ nhớ thánh Boniface ca ngợi ngài là
vị Tông Đồ vĩ đại của nươc Đức. Ngài hoạt động truyền giáo đến tận vương
quốc dân Francs.
Mãi đến năm 1874, theo lời yêu cầu của các Nghị phụ Công đồng Vaticanô I,
người ta mới đưa lễ nhớ thánh Boniface vào lịch Giáo triều Rôma. Tuy nhiên
thánh nhân đã được tôn kính không những tại Đức, mà còn ở Anh là quê quán
của ngài. Nơi đây, một Công đồng đã ban tặng người tước hiệu Đấng Thánh Bảo
Trợ, bên cạnh thánh Grégoire Cả và thánh Augustin de Cantorbéry.
Winfrid sinh khoảng năm 673 tại vương quốc Anglo-saxon Wessex, nước Anh.
Ngài được giáo dục trong các Đan viện Biển Đức miền Exeter và Nutshulling và
khấn dòng năm 715.
Vì mong ước ra đi loan báo chân lý đức tin cho dân ngoại, lần đầu tiên ngài
đến Frise năm 716. Nhưng nỗ lực này kết thúc trong thất bại. Năm 719, Đức
Giáo Hoàng Grégoire II trao ngài sứ vụ loan báo Tin Mừng cho những kẻ thờ tà
thần ở Đức, và cho gọi ngài bằng tên của một vị thánh tử đạo người Rôma:
Bonifacius. Năm 722, ngài được phong giám mục, trực thuộc Tòa thánh nên
không có giáo phận riêng.
Sau khi loan báo Tin
Mừng cho miền Hesse – nơi đây ngài đã hạ ngã Cây sồi thiêng Donar, gần
Geismar vào năm 725 – ngài sang Thuringe, lưu lại nơi này bảy năm và lập
nhiều Đan viện. Sau đó,Đức
Giáo Hoàng Grégoire III trao
cho ngài một cánh đồng truyền giáo mới ở Bavière và phong ngài làm Tổng giám
mục năm 732. Boniface ở lại đó 9 năm, cho đến năm 741, vào thời điểm này
ngài lập các giáo phận quan trọng thuộc giáo tỉnh như Salzbourg, Freising,
Ratisbonne, Passau.
Để hoàn thành tốt hơn sứ vụ loan báo Tin Mừng, thánh giám mục xin Đức Giáo
Hoàng Zacharie quyền đặc miễn của Giáo Hoàng cho Đan viện Fulda mà ngài vừa
thành lập năm 744: đây là quyền đặc miễn đầu tiên trong lịch sử.
Năm 747, dưới áp lực của các môi trường người Francs, xem Boniface như một
người Anglo-saxon nguy hiểm, nên Pépin le Bref đã tách Boniface ra khỏi các
nơi ấy. Sau cùng, vào ngày lễ Chúa Thánh Thần năm 754, ngài bị một nhóm
người ngoại đạo sát hại cùng với 52 bạn, trong khi ngài đang rao giảng Tin
Mừng cho miền Frise miền Bắc. Các thánh tích của ngài luôn được sùng kính
tại Đan viện Fulda. Chính vì luôn trung thành tưởng nhớ đến ngài mà các giám
mục Đức thường qui tụ về thành phố này.
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời nguyện mới trong
Thánh lễ được trích từ sách lễ Ambroise và Paris. Lời nguyện xin thánh giám
mục Boniface chuyển cầu“cho
chúng ta giữ vững lòng tin và lấy cả cuộc đời can đảm tuyên xưng lòng tin mà
thánh tử đạo đã dùng lời nói rao giảng và lấy máu đào để chứng minh”.
Nhờ tích cực hoạt động Tông Đồ trong nhiều vùng đất châu Âu, và cũng nhờ
tiếp xúc dễ dàng với các Giáo Hoàng và các vị vua chúa, ngài đã hỗ trợ việc
chuyển giao quyền Giáo Hoàng từ thời Byzantin sang thời Francs.
Phương pháp truyền giáo của Boniface dựa trên hai điểm chính: trước hết tìm
kiếm sự hậu thuẫn của vua chúa và quan quyền mà không bao giờ phương hại sự
tự do của Hội thánh; sau đó, kêu gọi sự hỗ trợ của các Đan viện, là những
trung tâm đích thực của đời sống Kitô giáo và rao giảng Tin Mừng.
Khi phân chia vương quốc của Charles Martel năm 741; Carloman được hưởng
vùng Austrasie, đã nhờ Boniface giúp loại bỏ những sự lạm dụng trong việc
chuyển nhượng bổng lộc danh tước, và buông lỏng kỷ cương trong giới giáo sĩ
và ngay cả các đan sĩ Celte phiêu bạt. Để đạt mục đích này, Boniface đã
triệu tập một Công đồng chung các giám mục Francs tại Soisson năm 742. Công
đồng này kéo dài trong ba năm và đã đưa ra sắc lệnh cải tổ quan trọng trong
Giáo hội Francs.
Các Đan viện là những trung tâm sinh hoạt Phụng Vụ và cũng là trung tâm văn
hóa xã hội. Việc phát triển xây dựng các Đan viện là một trong những đặc
điểm quan trọng trong việc thánh nhân xây dựng và tái tổ chức các Giáo hội,
như ở Bavière, Thuringe hay tại các quốc gia nói tiếng Pháp. Thánh Boniface
cũng là tác giả sách ngữ pháp, hệ thống đo lường và sáng tác nhiều thơ văn.
Bài đọc – Kinh sách đề
xuất một lá thư của thánh giám mục Boniface qua đó chúng ta thấy được các
đặc tính của vị mục tử như ngài: “…Chúng
ta chớ như những con chó câm, những lính canh thinh lặng, những kẻ chăn thuê
chạy trốn sói dữ; nhưng chúng ta hãy là những mục tử chuyên chăm, biết lo
lắng cho đoàn chiên Chúa Kitô, biết rao giảng mọi ý định của Thiên Chúa cho
hết mọi người, thuộc mọi tầng lớp cũng như tuổi tác, cho kẻ lớn cũng như
người bé, cho người giàu cũng như kẻ nghèo, trong mức độ Thiên Chúa giúp sức
cho, lúc thuận tiện cũng như lúc gặp phải nghịch cảnh, theo cách thức như
thánh Grégoire đã chép trong sách mục vụ” (Thư 78).
Thánh Noberto sinh khoảng năm 1080 tại Xanten, Ngài là con út trong một gia
đình vương giả và có họ với nhà vua. Theo truyền thống cao thượng, Ngài đã
được dự tính cho làm linh mục. Nhưng thời còn niên thiếu, Noberto đã sống
quá xa lý tưởng. Giàu có của cải cũng như dồi dào sinh hư, lại có bản chất
dễ dãi, Noberto cho mình vào những buổi lễ linh đình và những cuộc vui chơi
thế gian. Không bao giờ một ý tưởng đứng đắn lại có thể xóa tan được những
ảo tưởng Ngài nuôi dưỡng trong lòng.
Điều may mắn là khi ham vui như vậy, Ngài vẫn không sao nhãng việc học hành.
Nhờ vậy, Noberto thông hiểu mọi khoa học, vua Henry mến chuộng Noberto và
thâu dụng vào triều đình. Tuy nhiên Noberto vẫn tiếp tục nếp sống xưa. Biết
rằng: chỉ có nhân đức mới mang lại hạnh phúc cho tâm hồn, nhưng Noberto lại
yêu chuộng "xiềng xích" và không can đảm bẻ gãy được.
Một ngày kia Noberto cỡi ngựa đến một làng ở miền Wesphale. Ngài dẫn theo
một giai nhân đi tìm thú vui. Khi đến giữa một đồng cỏ thì một cơn giông tố
nổi lên sấm chớp dữ dằn. Khó tìm được một nơi trú ngụ, nên Ngài phi ngựa
nước rút mong sớm tới đích. Nhưng một cú sét đánh ngay vào chân ngựa. Con
vật hoảng hốt hất tung Kỵ sĩ xuống đất. Noberto nằm bất tỉnh tại chỗ như
chết trong một giờ. Tỉnh dậy Noberto kêu lên như thánh Phaolô ngày trước : -
Lạy Chuá, Chúa muốn con làm gì ?
Một tiếng nói bên trong đáp lại : - Hãy tránh sự dữ và làm điều lành.
Noberto chỗi dậy và quyết đền bù đời sống đã qua. Khi trở lại triều đình ,
Ngài trở về Xanten, sống những thinh lặng nội tâm, mặc áo nhặm và dành trọn
thời gian cho viêc suy gẫm cầu nguyện. Từ đó, Ngài đã không còn đặt một giới
hạn nào cho bậc trọn lành nữa, Ngài đã dành hai năm sám hối để dọn mình chịu
chức linh mục và chỉ dâng thánh lễ đầu tiên sau 40 ngày chuẩn bị trực tiếp,
Ngài bán hết mọi của cải, phân phát cho người nghèo rồi đi chân không đến
xin Đức giáo hoàng ban quyền cho đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi. Những bài
giảng nhất là chính đời sống gương mẫu của Ngài đã tạo nên được nhiều cuộc
hối cải là lùng. Chính trong khi thực hiện nỗ lực tông đồ này mà thánh
Noberto đã thiết lập tu viện ở Premontré, thường được gọi là dòng áo trắng.
Năm 1126, Noberto được đặt làm Tổng giám mục tại Magdburg. Đức tân giám mục
vẫn không giảm bớt khắc khổ đi chân không, Ngài nỗ lực đổi mới giáo phận với
nhiệt tâm của một thánh nhân bậc nhất. Trong nỗ lực ấy, Ngài phải chịu dựng
biết bao là khó khăn, người ta tìm cách cản trở đến độ muốn mưu sát Ngài,
nhưng lòng quả cảm và sự nhẫn nại đã đưa Ngài tới thành công. Trong một ít
năm, Ngài đã sửa lại được những lạm dụng và làm cho mọi chỗ nên đạo đức hơn.
Ngài thường nói: - Tôi đã ở trong triều đình đã rút vào đơn độc, đã được đặt
nhiều chức vụ, nhưng tôi đã không tìm thấy được điều gì đẹp hơn là được
phụng sự Chúa và thuộc trọn về Ngài.
Ở vào địa vị tổng giám mục, thánh Noberto từ đây cũng ảnh hưởng tới Giáo hội
ngày càng nhiều hơn. Ngài là bạn của thánh Bernađô và đã giúp đỡ thánh nhân
chống lại giáo hoàng giả Anacletus, Ngài cũng đã thành công trong việc chống
lại lạc thuyết của Chúa trong bí tích Thánh Thể. Sau bao nhiêu nỗ lực để đổi
mới lòng đạo đức trong giáo phận thánh Noberto qua đời vì kiệt sức vào năm
1134.
“ Chúa đã chọn vị thánh này làm thượng tế, và mở kho tàng của Chúa cho
người, để cho người được sung mãn muôn ơn”( ca nhập lễ thánh Giáo Hoàng hay
Giám Mục ). Thánh Nôbertô đã được Chúa tuyển chọn lên hàng Giám Mục, Ngài đã
hy sinh quên mình đến cạn kiệt sức lực vì Chúa Kitô và vì Giáo Hội, Giáo
phận.
MỘT CON NGƯỜI. MỘT CUỘC ĐỜI:
Thánh Nôbertô sinh ra trong một gia đình quyền uy, thế giá, giầu sang, phú
quí vào năm 1085 tại miền Phénanie. Ngay từ nhỏ thánh nhân đã được dậy dỗ
cẩn thận để có thể nối nghiệp cha mình lúc đó đang có thế giá, chức vị trong
triều đình. Nhờ óc thông minh, lòng ham học, sự phán đoán chính xác và sự
phấn đấu cầu tiến không biết mệt mỏi, thánh nhân đã thành công trên đường
học vấn, thi đậu và được tuyển thẳng vào làm việc trong triều đình của Hoàng
Đế Henri V.Thánh nhân tuysống trênnhung lụa quyền hành, thế giá trong tay
nhưng Ngài vẫn cảm nghiệm:” Phù vân là phù vân”...Mọi sự trên đời như bóng
mây, như gió thổi, như mây bay, Ngài cảm nghiệm sâu sắc lời Chúa nói với
người thanh niên giầu có:” Hãy về bán hết của cải, phân chia cho kẻ nghèo
khó, rồi hãy đến theo Ta”. Thánh nhân đã ước ao đi tìm một cái gì tuyệt đối,
cao thượng hơn, đẹp đẽ hơn. Nên, nghe được tiếng Chúa mời gọi, thánh nhân đã
bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu. Thánh nhân đã cố gắng tu tập, sau khi lãnh
nhận sứ vụ linh mục, Ngài đã nhiệt thành rao giảng Tin Mừng và đem được
không biết bao linh hồn quay về với Chúa. Thánh nhân có đức tính nổi bật
nhất là yêu thương người nghèo, sống tinh thần nghèo khó như lời Chúa nói
trong tám mối phúc:” Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó vì nước trời
là của họ”( Mt 5, 1tt...). Thánh nhân đã hoán cải được biết bao tâm hồn tội
lỗi nhờ sự hy sinh và lòng nhiệt thành, đạo đức, thánh thiện của Ngài.
Thánh Nôbertô vâng lệnh Ðức Giáo Hoàng và được đặt làm gám mục Mardebourg. Với một
tấm lòng say mê Chúa, với một tâm hồn đạo đức, thánh thiện, thánh Nôbertô
luôn vâng lời vì thế năm 1120, Ngài đã tuân hành ý của Đức Thánh Cha Calixtô
II, thiết lập một tu viện tại miền Prémontré với ý hướng, tôn chỉ :”sống
nghiêm nhặt và chuyên về cầu nguyện”. Danh tiếng tốt lành của Ngài lan tỏa
và trí thông minh sáng suốt của Ngài đã là nét son cho Ngài vì thế Ngài đã
được bổ nhiệm làm Giám Mục giáo phận Mardebourg. Trên ngôi vị Giám Mục,
thánh Nôbertô đã phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách: phục hưng lại
nền luân lý lúc đó đang bị suy đồi, bảo vệ quyền lợi của Giáo Hội đang bị
giới quyền thế đàn áp. Thánh nhân đặc biệt lưu tâm tới sự độc thân của giới
linh mục vì nước trời. Thánh nhân đã làm việc không ngơi nghỉ, với cương vị
Giám Mục, Ngài đã làm được biết bao việc tốt đẹp cho Địa Phận, cho Giáo Hội.
THÁNH NÔBERTÔ CÓ CÔNG NHIỀU VỚI GIÁO HỘI:
Thánh Nôbertô đã rất có công đối với Hội Thánh: đặc biệt Ngài đã giúp Đức
Giáo Hoàng Innocentê II cách đắc lực khi công đồng Reims được triệu tập.
Thánh nhân cũng phải đương đầu mạnh mẽ, quyết liệt với nhóm ly giáo Pierre
de Léon. Thánh nhân đã làm việc không ngừng nghỉ. Nên, sau cùng vì quá mệt
mỏi, kiệt quệ với công việc, thánh nhân lâm bệnh nặng và ra đi trở về với
Chúa vào ngày 06 tháng 6 năm 1134 tại địa phận Mardebourg, nước Pháp. “Lạy
Chúa, Chúa đã thương ban cho Hội Thánh một vị giám mục rất nổi danh về đời
sống cầu nguyện và lòng nhiệt thành của người mục tử là thánh Nôbertô. Vì
lời thánh nhân chuyển cầu, xin Chúa sai những người mục tử vừa ý Chúa đến
hướng dẫn chúng con tới nguồn ơn cứu độ”( Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh
Nôbertô, giám mục ).
Thánh Norbertô sinh ở Xanten, Rhineland, nước Đức, khoảng năm 1080. Khi là
thanh niên, Norbertô rất yêu chuộng thế gian và các vui thú của nó. Ðó là
thói quen từ một gia đình quyền quý và được nối tiếp trong sinh hoạt của
triều đình nước Ðức. Không một cuộc vui nào mà anh không có mặt. Ðể đảm bảo
cho việc thăng quan tiến chức trong triều đình, anh không do dự chấp nhận
chức kinh sĩ, là một chức thánh, và các lợi lộc tài chánh của chức vụ đó.
Tuy nhiên, anh đã do dự khi trở thành một linh mục với tất cả các trách
nhiệm của ơn gọi ấy. Các biến cố xảy ra trong đời là để Thiên Chúa thức tỉnh
con người. Một ngày kia, trong cơn bão Norbertô đã ngã ngựa và bất tỉnh gần
một giờ đồng hồ dưới cơn mưa tầm tã. Khi tỉnh dậy, câu đầu tiên anh tự hỏi
là, “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Và tận đáy tâm hồn, anh nghe như có
câu trả lời, “Hãy tránh xa sự dữ và làm việc lành. Hãy tìm kiếm bình an và
theo đuổi sự bình an ấy.” Anh bắt đầu một cuộc đời cầu nguyện và sám hối.
Sau khi chịu chức linh mục năm 1115, Cha Norbertô thay đổi hoàn toàn đến độ
các bạn bè cũ trong triều đình đều cho là ngài giả hình. Ngài phản ứng bằng
cách phân phát hết của cải cho người nghèo và đến xin đức giáo hoàng cho
phép ngài đi rao giảng. Với hai linh mục bạn, Cha Norbertô đi khắp Âu Châu
để truyền giáo. Và để ăn năn đền tội, ngài đi chân đất giữa mùa đông buốt
giá.
Không may, hai linh mục bạn đã lâm bệnh và từ trần. Tuy nhiên, ngài bắt đầu
được cảm tình của các giáo sĩ trước đây từng khinh miệt ngài. Ðức giám mục
của Laon muốn ngài canh tân các kinh sĩ trong giáo phận, nhưng các kinh sĩ
lại không muốn thay đổi theo kiểu của Cha Norbertô, họ cho là quá khắt khe.
Vị giám mục không muốn mất con người thánh thiện này, nên đã tặng cho Cha
Norbertô một phần đất đai để ngài có thể khởi sự một cộng đoàn. Trong thung
lũng cô tịch có tên là Premontre, ngài đã khởi sự một tu hội với mười ba
kinh sĩ. Dù với quy luật khắt khe, hay có lẽ chính vì sự khắt khe, nhiệm
nhặt đó mà càng ngày tu hội càng thu hút được nhiều người, kể cả các kinh sĩ
trước đây từng chống đối ngài.
Dù được sự giúp đỡ của các nhân vật thế lực trong triều, Cha Norbertô biết
không sức mạnh nào có thế lực cho bằng uy quyền của Thiên Chúa, do đó, tu
hội Premonstratensian đặc biệt sùng kính Thánh Thể, và các tu sĩ đã thành
công trong việc hoán cải các người lạc giáo, hoà giải các kẻ chống đối Giáo
Hội và kiên cường đức tin cho các tín hữu. Trong tu hội của thánh Norbertô,
chúng ta còn nhận ra được dấu vết của sự tham dự của giáo dân vào trong cuộc
sống của dòng tu. Đó là trường hợp bá tước Theobald muốn đến với thánh
Robertô. Ngài nhận ra được rằng bá tướcTheolbald không được gọi để nhận lãnh
các chức thánh, mà là được gọi thi hành các nhiệm vụ của sống đời hôn nhân
và trần thế. Nhưng ngài không hoàn toàn loại bỏ Theobald, mà con ban cho ông
ta một qui luất và những cách thi thố lòng sùng kính, thậm chí cả bộ áo dòng
để mặc hầu minh định ông ta thuộc về nhà dòng.
Chính trong cuộc đi tham dự lễ cưới của bá tước Theobald này, Cha
Norbertô được Hoàng Ðế Lothair để ý và chọn ngài làm giám mục của
Magdebourg. Với nhiệt huyết canh tân giáo hội, ngài đã cải tổ giáo phận và
gặp nhiều sự chống đối cũng như có lần bị ám sát hụt. Chán nản vì giáo dân
không muốn cải tổ, ngài bỏ đi nhưng được hoàng đế và đức giáo hoàng gọi lại.
Khi hai vị giáo hoàng đối địch nhau được bầu lên sau sau cái chết của Ðức
Giáo hoàng Honorius II, Ðức Norbertô đã giúp hàn gắn Giáo Hội bằng cách thúc
giục hoàng đế hậu thuẫn cho vị giáo hoàng được chọn đầu tiên, là Ðức
Innôxentê II. Vào cuối đời, Ðức Norbertô được chọn làm tổng giám mục, nhưng
ngài đã từ trần sau đó không lâu, khi 53 tuổi.
Lời Bàn
Một thế giới khác biệt không thể hoàn thành bởi những người thờ ơ, lãnh đạm.
Ðiều đó cũng đúng với Giáo Hội. Giáo Hội không thể nào thay đổi phù hợp với
tinh thần của Công Ðồng Vatican II nếu hàng giáo sĩ và giáo dân không tha
thiết với việc xây dựng đức tin. Noi gương Thánh Norbertô, chúng ta phải
trung thành với Giáo Hội, nhiệt tâm sùng kính Thánh Thể để có sức mạnh giúp
chúng ta sống theo đường lối của Ðức Kitô.
Lời Trích
Trong dịp tấn phong linh mục của tu hội, Thánh Norbertô giảng, “Ôi linh mục!
Bạn không còn cho chính bạn vì bạn là tôi tớ và thừa tác viên của Ðức Kitô.
Bạn không còn thuộc chính mình vì bạn là hôn phu của Giáo Hội. Bạn không còn
là chính bạn vì bạn là người