SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa 

M
ùa Thường Niên Tuần V

Năm A
(Chúa Nhật) - Chẵn (Trong Tuần)



mấy ngày đầu Mùa Chay


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL




Chúa Nhật


Lời Chúa

 

 

Bài Ðọc I: Sir 15,16-21

"Người không truyền dạy cho một ai làm điều gian ác"

Bài trích sách Ðức Huấn ca.

Nếu người muốn tuân giữ các giới răn:

việc trung thành giữ các giới răn là tùy ở ngươi.

Người đặt trước mặt ngươi nước và lửa,

ngươi muốn cái gì, thì giơ tay ra trên đó.

Trước mặt con người là sự sống và sự chết, sự lành và sự dữ,

họ thích thứ nào, thì được thứ ấy.

Bởi chưng, Thiên Chúa đầy khôn ngoan, hùng dũng và toàn năng.

Người luôn luôn nhìn thấy mọi loài.

Chúa nhìn đến những kẻ kính sợ Người,

và thấu suốt mọi hành động của con người.

Người không truyền dạy cho một ai làm điều gian ác,

và không cho phép một ai phạm tội.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv. 118,1-2, 4-5, 17-18, 33-34

Ðáp: Phước đức những ai tiến thân trong luật pháp của Chúa.

Xướng 1) Phước đức những ai có đường lối tinh tuyền, họ tiến thân trong luật pháp của Chúa. Phước đức những ai giữ lời Chúa răn bảo, những người đó tận tâm tìm kiếm Chúa. - Ðáp.

2) Phần Chúa, Chúa ban bố huấn lệnh, để chúng được tuân giữ hết sức ân cần. Nguyện cho đường nẻo tôi vững chắc, để tuân giữ thánh chỉ của Chúa. - Ðáp.

3) Xin gia ân cho tôi tớ Chúa được sống, để tuân giữ những lời Chúa răn. Xin mở rộng tâm hồn con mắt của tôi, để quân chiêm những điều kỳ diệu trong Luật Chúa. - Ðáp.

4) Lạy Chúa, xin tỏ cho tôi biết đường lối thánh chỉ Ngài, để cho tôi được hoàn toàn tuân giữ. Xin giáo huấn tôi, để tôi tuân cứ luật pháp của Ngài, và để tôi hết lòng vâng theo luật đó. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 1Cor 2,6-10

"Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn thuở, để làm nên sự hiển vinh của chúng ta".

Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Corintô.

Anh em than mến, chúng tôi có bàn giải sự khôn ngoan

với những người toàn thiện, mà đó không phải là sự khôn ngoan của thế gian,'

cũng không phải của những bậc vua chúa thế trần,

hạng người đã bị dồn vào chỗ hư vong.

Nhưng chúng tôi thuyết sự khôn ngoan đầy nhiệm mầu của Thiên Chúa,

vẫn được giấu kín, mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn thuở,

để làm nên sự hiển vinh của chúng tôi.

Sự khôn ngoan đó, không một ai trong các vua chúa thế trần đã biết tới:

vì giả thử nhận biết, hẳn họ đã không đóng đinh Chúa sự hiển vinh.

Nhưng chúng tôi rao giảng như lời đã chép:

"Sự mắt chưa từng thấy và tai chưa từng nghe,

và lòng người cũng chưa từng mơ ước tới,

đó là tất cả những điều Thiên Chúa đã làm ra cho những ai yêu mến Người".

Bởi chưng Thiên Chúa đã mạc khải điều đó cho chúng tôi,

do Thánh Thần của Người.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Joan 1,14 và 12b

Alleluia! Alleluia! Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. Alleluia!

 

Phúc Âm: Mt 5, 17-37

"Người xưa đã bảo như thế, còn Ta, Ta bảo thật các con thế này".

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng:

"Các con đừng tưởng Ta đến để hủy bỏ lề luật hay các tiên tri:

Ta không đến để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn. Vì Ta bảo thật các con:

Cho dù trời đất có qua đi, thì một chấm một phẩy trong bộ luật

cũng không bỏ sót, cho đến khi mọi sự hoàn thành.

Bởi vậy, ai hủy bỏ một trong những điều luật nhỏ mọn nhất,

và dạy người khác làm như vậy, sẽ kể là người nhỏ nhất trong Nước Trời;

Trái lại, ai giữ và dạy người ta giữ những điều đó,

sẽ được kể là người cao cả trong Nước Trời.

Nếu các con không công chính hơn các luật sĩ và biệt phái,

thì các con chẳng được vào Nước Trời đâu.

Các con đã nghe dạy người xưa rằng:

Không được giết người.

Ai giết người, sẽ bị luận phạt nơi toà án.

Còn Ta, Ta bảo các con: Bất cứ ai phẩn nộ với anh em mình,

thì sẽ bị toà án luận phạt.

Ai bảo anh em là ngốc, thì bị phạt trước công nghị.

Ai rủa anh em là "khùng", thì sẽ bị vạ lửa địa ngục.

Nếu ngươi đang dâng của lễ nơi bàn thờ

mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với ngươi,

thì ngươi hãy để của lễ lại trước bàn thờ,

đi làm hòa với người anh em ngươi trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ.

Hãy liệu làm hòa với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó,

kẻo kẻ thù sẽ đưa ngươi ra trước mặt quan tòa,

quan tòa lại trao ngươi cho tên lính canh và ngươi sẽ bị tống ngục.

Ta bảo thật cho ngươi biết:

"Ngươi sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!"

Các con đã nghe nói với người xưa rằng:

"Chớ ngoại tình". Còn Ta, Ta bảo các con:

"Hễ ai nhìn xem phụ nữ mà ước ao phạm tội với họ,

thì đã ngoại tình với họ trong lòng rồi.

Nếu con mắt phải của con nên dịp tội cho con,

thì hãy móc nó mà ném xa con; vì thà mất một chi thể

còn lợi hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục.

Và nếu tay phải con nên dịp tội cho con, thì hãy chặt mà ném nó xa con;

vì thà mất một chi thể còn hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục".

Cũng có lời dạy rằng: "Ai ly dị vợi mình,

trừ trường hợp tà dâm, thì làm cớ cho vợ ngoại tình;

và ai cưới người vợ đã ly dị, cũng phạm tội ngoại tình".

Các con cũng đã nghe có lời bảo người xưa rằng:

"Chớ thề gian, nhưng hãy giữ trọn lời mình thề với Chúa".

Còn Ta, Ta bảo các con:

"Ðừng thề chi cả; đừng lấy trời mà thề,

vì trời là ngai Thiên Chúa; đừng lấy đất mà thề, vì đất là bệ chân Người;

đừng lấy Giêrusalem mà thề, vì là thành của Vua cao cả.

Cũng đừng chỉ đầu ngươi mà thề,

vì ngươi không thể làm cho một sợi tóc ra trắng hay đen được.

Nhưng lời nói của các con phải là: Có thì nói có,

không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra".

Ðó là lời Chúa.

 

Image result for Mt 5, 17-37

 

 

Suy niệm

 

"Ta không đến để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn"... "sự khôn ngoan đầy nhiệm mầu của Thiên Chúa"

 

Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Nhật VI Thường Niên Năm A, khá dài, với 20 câu ở gần cuối đoạn 5 của Phúc Âm Thánh ký Mathêu, bao gồm những lời giáo huấn của Chúa Giêsu về Bài Giảng Phúc Đức Trọn Lành sau phần mở đầu liên quan đến chính Các Phúc Đức Trọn Lành (Chúa Nhật IV Thường Niên Năm A) và vai trò "là muối đất" và "là ánh sáng thế gian" của thành phần tông đồ môn đệ của Người với thế giới nhân sinh (Chúa Nhật V Thường Niên Năm A).

Bài Phúc Âm 20 câu hôm nay Chúa Giêsu muốn so sánh, hay đúng hơn, muốn khẳng định giáo huấn của Người là những gì làm cho lề luật Thiên Chúa ban bố qua Moisen ở trong Cựu Ước của dân Do Thái được nên trọn, đạt được mục đích của lề luật, qua tinh thần của luật chứ không phải chữ nghĩa của luật: "Các con đừng tưởng Ta đến để hủy bỏ lề luật hay các tiên tri: Ta không đến để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn". Bởi thế, Chúa Giêsu dùng phương pháp so sánh về 3 điều tiêu biểu nhất, liên quan đến điều răn thứ 5 "chớ giết người", điều răn thứ 9 "chớ muốn vợ chồng người" và  điều răn thứ 8 "chớ làm chứng dối", như sau

1- Giết người: "Các con đã nghe dạy người xưa rằng: Không được giết người. Ai giết người, sẽ bị luận phạt nơi toà án. Còn Ta, Ta bảo các con: Bất cứ ai phẩn nộ với anh em mình, thì sẽ bị toà án luận phạt. Ai bảo anh em là ngốc, thì bị phạt trước công nghị. Ai rủa anh em là "khùng", thì sẽ bị vạ lửa địa ngục".

2- Ngoại tình: "Các con đã nghe nói với người xưa rằng: 'Chớ ngoại tình'. Còn Ta, Ta bảo các con: 'Hễ ai nhìn xem phụ nữ mà ước ao phạm tội với họ, thì đã ngoại tình với họ trong lòng rồi'";

3- Thề Nguyền: "Các con cũng đã nghe có lời bảo người xưa rằng: 'Chớ thề gian, nhưng hãy giữ trọn lời mình thề với Chúa'. Còn Ta, Ta bảo các con: 'Ðừng thề chi cả; đừng lấy trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa; đừng lấy đất mà thề, vì đất là bệ chân Người; đừng lấy Giêrusalem mà thề, vì là thành của Vua cao cả. Cũng đừng chỉ đầu ngươi mà thề, vì ngươi không thể làm cho một sợi tóc ra trắng hay đen được. Nhưng lời nói của các con phải là: Có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra".

Căn cứ vào các câu giáo huấn về 3 giới răn tiêu biểu quan trọng trên đây, chúng ta thấy, vì Bài Giảng Trên Núi là bài giảng về phúc đức trọn lành, giúp cho những ai muốn theo Người nhờ đó có thể sống xứng đúng với tư cách là con cái của Cha trên trời là Đấng trọn lành, mà Chúa Giêsu đã vạch ra cho các vị môn đệ đang nghe Người bấy giờ biết những ý nghĩa sâu xa của từng hành động luân thường đạo lý liên quan đến lề luật tự nhiên của Thiên Chúa. Thậm chí Ngưòi còn chỉ cho các vị biết cách để làm sao hoàn tất được giáo huấn trổi vượt của Người nữa, như chúng ta đọc thấy trong Bài Phúc Âm hôm nay.

Trước hết, về hành động "giết người", Người dạy rằng không phải chỉ ở chỗ làm mất mạng sống về thể lý của anh chị em mình, mà còn bao gồm cả việc phẫn nộ với họ, khinh bỉ họ và nguyền rủa họ nữa. Đó là lý do Thánh Gioan Tông Đồ đã khẳng định rằng: "Ai ghét anh em mình là kẻ sát nhân - Whoever hates his brother is a murderer" (1Gioan 3:15).

Để tránh hành động giết người có tính cách tâm linh là ghen ghét ở chỗ phẫn nộ, khinh bỉ và nguyền rủa anh em mình, nhất là với những ai tác hại đến bản thân mình là nạn nhân của họ, Chúa Giêsu đã dạy thành phần môn đệ của Người rằng khi các vị là nạn nhân thì phải về làm hòa với phạm nhân của các vị trước khi dâng của lễ cho Thiên Chúa, nghĩa là hãy tự động quảng đại tha thứ cho phạm nhân của mình để xứng đáng cử hành "mầu nhiệm thánh" và mới xứng đáng dâng của lễ lên Đấng là Tình Yêu vô cùng nhân hậu đầy lòng thứ tha:

"Nếu ngươi đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với ngươi, thì ngươi hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ngươi trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ".

Sau nữa về hành động "ngoại tình", Người dạy rằng không phải chỉ ở chỗ giao hợp với nhau về xác thịt mà còn ở chỗ thèm muốn xác thịt của người nữ nữa. Và chính vì thế mà Người đã dạy phải làm sao để tránh dịp tội ở ngay bản thân mình, chứ không phải ở ngoại cảnh bên ngoài, dù người nữ nào đó có cố tình cám dỗ mình chăng nữa:

"Nếu con mắt phải của con nên dịp tội cho con, thì hãy móc nó mà ném xa con; vì thà mất một chi thể còn lợi hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục. Và nếu tay phải con nên dịp tội cho con, thì hãy chặt mà ném nó xa con; vì thà mất một chi thể còn hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục".

Sau hết về hành động thề nguyền, Người dạy rằng không phải chỉ ở chỗ "thề gian" nghĩa là không trung thành với lời thề của mình "nhưng hãy giữ trọn lời mình thề với Chúa", mà còn ở chỗ chẳng cần phải thề gì hết: "Có thì nói có, không thì nói không", sống một cách thành thật ở mọi nơi và trong mọi lúc, chứ không quanh quéo làm sao cho được như ý của mình, bất chấp sự thật, bất chấp thủ đoạn, theo đường lối của ngụy thần "là tên dối trá và là cha của những sự giả dối" (Gioan 8:44): "thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra".

Tất cả những gì Chúa Giêsu dạy trong Bài Phúc Âm hôm nay so với lề luật cũ để hoàn trọn lề luật của Thiên Chúa đã ban cho dân Do Thái phải nói là những điều hoàn thiện hóa bản tính tự nhiên của con người, nhất là bản tính đã bị băng hoại bởi nguyên tội luôn hướng hạ đầy tội lỗi xấu xa khốn nạn, và giáo huấn này chứng thực tất cả những gì khôn ngoan của trời cao được tỏ cho con người qua Chúa Giêsu Kitô.

Thật vậy, giáo huấn của Chúa Giêsu là Lời Nhập Thể trong Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy sự khôn ngoan của Thiên Chúa, một sự khôn ngoan cũng đã được vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô truyền giảng qua các giáo huấn hoàn toàn phản ảnh Phúc Âm, phản ảnh giáo huấn của Chúa Kitô, Đấng ngài chứng thực bằng chính đời sống của ngài, như ngài đã được Thiên Chúa mạc khải cho biết: "Thiên Chúa đã mạc khải điều đó cho chúng tôi, do Thánh Thần của Người", một sự khôn ngoan siêu việt được ngài khẳng định như sau:

"Chúng tôi thuyết sự khôn ngoan đầy nhiệm mầu của Thiên Chúa, vẫn được giấu kín, mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn thuở, để làm nên sự hiển vinh của chúng tôi.... 'Sự mắt chưa từng thấy và tai chưa từng nghe, và lòng người cũng chưa từng mơ ước tới, đó là tất cả những điều Thiên Chúa đã làm ra cho những ai yêu mến Người'".

Đó là lý do tác giả của Sách Huấn Ca trong Bài Đọc 1 hôm nay đã khẳng định về ý định của Thiên Chúa đối với con người trong việc Ngài ban hành các huấn lệnh của Ngài cho họ và trách nhiệm chọn lựa lành dữ và sống chết của họ đối với các huấn lệnh của Thiên Chúa:

Về ý định của Thiên Chúa đối với con người trong việc Ngài ban hành các huấn lệnh của Ngài cho họ: "Thiên Chúa đầy khôn ngoan, hùng dũng và toàn năng. Người luôn luôn nhìn thấy mọi loài. Chúa nhìn đến những kẻ kính sợ Người, và thấu suốt mọi hành động của con người. Người không truyền dạy cho một ai làm điều gian ác, và không cho phép một ai phạm tội".

Về trách nhiệm chọn lựa lành dữ và sống chết của họ đối với các huấn lệnh của Thiên Chúa: "Nếu người muốn tuân giữ các giới răn: việc trung thành giữ các giới răn là tùy ở ngươi. Người đặt trước mặt ngươi nước và lửa, ngươi muốn cái gì, thì giơ tay ra trên đó. Trước mặt con người là sự sống và sự chết, sự lành và sự dữ, họ thích thứ nào, thì được thứ ấy".

Để được như vậy, để có thể luôn đáp ứng ý muốn của Thiên Chúa qua các huấn lệnh mang lại sự sống của Thiên Chúa, con người tự bản chất vốn mù quáng và yếu đuối bởi bản tính đã bị hư hoại theo nguyên tội không thể nắm vững được đâu là những gì chân thật nhất, tốt lành nhất và đẹp lòng Chúa nhất để mà tuân theo một cách trung thành và dễ dàng, nên họ cần phải liên lỉ tỉnh thức và cầu nguyện theo chiều hướng của câu Đáp Ca hôm nay: "Lạy Chúa, xin tỏ cho tôi biết đường lối thánh chỉ Ngài, để cho tôi được hoàn toàn tuân giữ. Xin giáo huấn tôi, để tôi tuân cứ luật pháp của Ngài, và để tôi hết lòng vâng theo luật đó". 

 

"Nếu mỗi người chúng ta quyết định tránh chuyện đồn đại nhảm nhí thì cuối cùng chúng ta sẽ thành một vị thánh!"

 

(Huấn từ Truyền tin của ĐTC Phanxicô cho Chúa Nhật VI Thường niên)

 

Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay là một phần trong bài giảng được gọi là Bài Giảng Trên Núi, bài giảng quan trọng đầu tiên của Chúa Giêsu. Đề tài hôm nay đó là thái độ của Chúa Giêsu đối với Lề Luật Do Thái. Người phán: "Đừng nghĩ rằng Tôi đến để hủy bỏ lề luật và các tiên tri; Tôi đến không phải là để hủy bỏ mà để làm cho chúng nên viên trọn" (Mathêu 5:17). Như thế Chúa Giêsu không muốn loại trừ các giới luật được Thiên Chúa ban bố qua Moisen mà là để làm cho chúng nên viên trọn. Và ngay sau đó Người thêm rằng việc "viên trọn" Lề Luật cần đến một thứ công chính cao cả hơn, một tuân giữ chân thực hơn. Thật vậy, Người đã bảo các môn đệ của Người rằng: "Nếu sự công chính của các con không trổi vượt hơn sự công chính của các luật sĩ và Pharisiêu thì các con sẽ không được vào nước trời" (Mathêu 5:20).

 

Thế nhưng, đâu là ý nghĩa của việc "hoàn toàn viên trọn" Lề Luật này? Và sự công chính cao cả hơn là ở chỗ nào? Chính Chúa Giêsu trả lời cho chúng ta bằng một số thí dụ. Chúa Giêsu đã thực tế. Người bao giờ cũng sử dụng các ví dụ khi Người nói để làm sáng tỏ vấn đề Người muốn nói. Người đã bắt đầu với giới răn thứ 5 trong Thập Giới: "Các con đã nghe nói với người xưa rằng 'Các ngươi không được sát hại'... Thế nhưng, Thày bảo các con rằng hết những ai giận dữ anh chị em mình đều sẽ bị phân xử" (Mathêu 5:21-22). Như thế Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng lời nói ngôn từ cũng có thể sát hại nữa! Khi một người nào đó bị nói là họ có "miệng lưới rắn độc" thì điều ấy có nghĩa là chi? Nghĩa là lời nói ngôn từ của họ là những gì sát hại! Bởi vậy mà chúng ta chẳng những không được cố sát hại mạng sống của tha nhân chúng ta còn không được đổ chất độc giận dữ trên họ hay vu khống cho họ nữa. Chúng ta cũng không được nói xấu họ. Chúng ta bắt đầu bằng cách đồn đại nhảm nhí. Cả việc đồn đại nhảm nhí cũng sát hại vì nó giết chết tiếng tăm của một con người! Việc đồn đại nhảm nhí là những gì rất xấu xa ghê tởm - ugly! Mới đầu nó có thể là những gì thích thú, cho dù là chuyện giải trí đùa cợt, như chuyện mút kẹo vậy. Thế nhưng cuối cùng nó làm cho lòng của chúng ta đầy những đắng cay, và nó đầu độc chúng ta nữa. Tôi nói thật với anh chị em, tôi tin rằng nếu mỗi người chúng ta quyết định tránh chuyện đồn đại nhảm nhí thì cuối cùng chúng ta sẽ thành một vị thánh! Nó là một con đường tuyệt vời. Chúng ta có muốn thành thánh hay chăng? Có hay không? [Dân chúng ở quảng trường đáp: "Thưa có!"] Chúng ta có muốn gắn bó với chuyện đồn đại nhảm nhí như là một thói quen hay chăng? [Dân chúng ở quảng trường đáp: "Thưa không!"] Vậy, chúng ta đã đồng ý với nhau rồi nhé: không có vấn đề đồn đại nhảm nhí nữa nghe! Chúa Giêsu đã đề ra một đức ái trọn hảo cho những ai theo Người. Nó là một tình yêu mà cái đo lường duy nhất của nó đó là không có đo lường, là vượt lên trên tất cả mọi thứ tính toán. Tình yêu thương tha nhân là một thái độ căn bản đến độ thậm chí Chúa Giêsu nói rằng mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa không thể nào chân thực trừ phi chúng ta muốn làm hòa với tha nhân của chúng ta. Người đặt vấn đề ấy như thế này: "Vậy khi các con dâng của lễ ở bàn thờ mà bấy giờ nhớ rằng anh chị em của con có điều gì phạm đến các con thì các con hãy để của lễ của các con trước bàn thờ mà hãy đi làm hòa với anh chị em của các con trước đã, rồi sau đó hãy đến mà dâng lễ vật của các con" (Mathêu 5:23-24).  

 

Căn cứ vào tất cả những gì ở đây thì Chúa Giêsu không chỉ nhấn mạnh đến việc tuân giữ lỷ luật và hạnh kiểm bề ngoài. Người đi vào tận gốc rễ của Lề Luật, nhắm đến trên hết cái ý hướng và vì thế đến cõi lòng của con người là nơi xuất phát ra các hành động tốt xấu của chúng ta. Việc tác hành theo các chuẩn mực về pháp lý một cách tốt đẹp và chân thành vẫn chưa đủ, mà cần đến cả những động lực sâu xa hơn, những động lực thể hiện cho thấy một thứ khôn ngoan thầm kín, Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa, Sự Khôn Ngoan có thể lãnh nhận từ Thánh Linh. Phần chúng ta, nhờ đức tin vào Chúa Kitô, chúng ta có thể cởi mở bản thân mình ra cho tác động của vị Thần Linh này, Đấng làm cho chúng ta có thể sống tình yêu thần linh.

 

Theo chiều hướng của giáo huấn ấy thì hết mọi giới lệnh đều cho thấy cái ý nghĩa trọn vẹn của nó như là một đòi hỏi của tình yêu, và tất cả mọi giới lệnh đều chất chứa nơi mình giới răn trọng đại nhất đó là yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thung tha nhân như bản thân mình vậy.

 

http://w2.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2014/documents/papa-francesco_angelus_20140216.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, chuyển dịch



 

Thứ Hai


Phụng Vụ Lời Chúa


Bài Ðọc I: (Năm II) Gc 1, 1-11

"Lòng tin của anh em được thử thách, rèn luyện đức kiên nhẫn, để anh em nên hoàn hảo và trọn vẹn".

Khởi đầu bức thơ của Thánh Giacôbê Tông đồ.

Giacôbê, đầy tớ của Thiên Chúa và của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, kính chào mười hai chi tộc sống phân tán khắp nơi. Anh em thân mến, anh em hãy vui mừng khi gặp mọi thử thách, anh em biết rằng lòng tin được thử thách rèn luyện đức kiên nhẫn. Còn kiên nhẫn phải đưa đến hành động hoàn hảo, để anh em nên hoàn hảo và trọn vẹn, không khiếm khuyết điều gì.

Nếu ai trong anh em thấy mình khiếm khuyết sự khôn ngoan, thì hãy xin cùng Thiên Chúa là Ðấng rộng lượng ban ơn cho mọi người mà không quở trách, và Người sẽ ban cho. Nhưng hãy lấy lòng tin tưởng mà xin, đừng hoài nghi, vì ai hoài nghi, thì giống như sóng biển bị gió cuốn đi và giao động. Con người hai lòng, do dự trong mọi đường lối, con người ấy đừng mong lãnh nhận gì nơi Chúa.

Người anh em khó hèn, hãy hiên ngang vì được suy tôn; còn người giàu mà trở nên khó hèn, thì cũng vậy, vì chưng ai nấy cũng sẽ qua đi như hoa cỏ. Mặt trời mọc lên nóng bức, làm cho cỏ héo hoa tàn, và vẻ đẹp của nó cũng tiêu tan; người giàu có cũng vậy, bôn ba đến mấy, cũng sẽ suy tàn.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 118, 67. 68. 71. 72. 75. 76.

Ðáp: Nguyện Chúa xót thương cho con được sống (c. 77a).

Xướng: 1) Trước khi bị khổ, con đã lạc lầm, nhưng giờ đây, lời sấm của Ngài con xin tuân. - Ðáp.

2) Chúa là Ðấng tốt lành và nhân hậu, xin dạy bảo con những thánh chỉ của Ngài. - Ðáp.

3) Con bị khổ nhục, đó là điều tốt, để cho con học biết thánh chỉ của Ngài. - Ðáp.

4) Ðối với con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn. - Ðáp.

5) Lạy Chúa, con biết sắc dụ Ngài công minh, và Ngài có lý mà bắt con phải khổ. - Ðáp.

6) Xin Chúa tỏ lòng thương hầu ủy lạo con, theo như lời đã hứa cùng tôi tớ Chúa. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 15, 15b

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 8, 11-13

"Tại sao thế hệ này lại xin điềm lạ?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, các người biệt phái xuất hiện và bắt đầu tranh luận với Chúa Giêsu. Họ xin Người một điềm lạ trên trời để thử Người. Người thở dài mà nói: "Tại sao thế hệ này lại xin điềm lạ? Quả thật, Ta bảo các ông hay: Sẽ chẳng cho thế hệ này điềm lạ nào". Rồi bỏ họ đó, Người lại xuống thuyền sang bờ bên kia.

Ðó là lời Chúa.


    Image result for Mark 8, 11-13

 

Suy nghiệm Lời Chúa

 

 

ĐỨC KITÔ - ĐIỀM LẠ

 

 

Hôm nay là Thứ Hai trong Tuần VI Thường Niên Năm Chẵn, Bài Phúc Âm của Thánh ký Marco thuật lại cho chúng ta biết về một cuộc đụng độ gây ra bởi thành phần vẫn theo dõi Chúa Giêsu để bắt bẻ Người và tìm cách tố cáo Người, một đối thủ không đội trời chung của họ trên đấu trường dân Do Thái, thành phần dân chúng không thông luật bằng họ, không giữ luật như họ, thậm chí còn được họ dạy luật cho, bấy giờ lại chẳng những tỏ lòng kính phục và tôn sùng nhân vật xuất hiện từ một nơi chẳng có danh tiếng gì, được gọi là Nazarét (chứ không phải ở gần giáo đô Giêrusalem như Tiền Hô Gioan Tẩy Giả), xứ Galilêa (chứ không phải xứ Giuđêa là nơi thuộc vương quốc Đavít), mà còn kéo nhau đổ xô tuốn đến với nhân vật này.

 

 Thánh Marco đã trình thuật lại cuộc đụng độ này như sau: "Khi ấy, các người biệt phái xuất hiện và bắt đầu tranh luận với Chúa Giêsu. Họ xin Người một điềm lạ trên trời để thử Người. Người thở dài mà nói: 'Tại sao thế hệ này lại xin điềm lạ? Quả thật, Ta bảo các ông hay: Sẽ chẳng cho thế hệ này điềm lạ nào'. Rồi bỏ họ đó, Người lại xuống thuyền sang bờ bên kia".

 

Dầu sao chúng ta cũng thấy rằng, về phía thành phần biệt phái trong bài Phúc Âm hôm nay, bất chấp thành kiến và ác cảm của mình, họ vẫn cứ tiếp tục nhẫn nại theo đuổi nhân vật Giêsu Nazarét, vì họ muốn biết nhân vật này thực sự là ai, từ đâu đến. Bởi thế, họ mới "xin Người một điềm lạ trên trời để thử Người", để xem Người uy quyền đến đâu theo kiểu trần gian của họ. Thế nhưng, cho dù Chúa Giêsu đã làm bao nhiêu là "điềm lạ" trong dân và cho dân chính mắt họ đã thấy, như việc Người chữa lành đủ mọi bệnh nạn tật nguyền của dân, hay khu trừ ma quỉ cho dân, thế mà họ vẫn chưa cho là "điềm lạ", vẫn cứ muốn "một điềm lạ" theo ý nghĩ, ý thích và ý muốn chủ quan của họ.

 

Bởi thế mà họ chẳng thế nào và chẳng bao giờ thấy được "một điềm lạ" nào như ý riêng của họ ở nơi Chúa Giêsu, như chính Người cũng đã khẳng định cho họ biết trong Bài Phúc Âm hôm nay: "Quả thật, Ta bảo các ông hay: Sẽ chẳng cho thế hệ này điềm lạ nào". Hành động tiếp ngay sau của Chúa Giêsu như được Phúc Âm thuật lại đó là: "Rồi bỏ họ đó, Người lại xuống thuyền sang bờ bên kia". Nghĩa là họ ở bờ bên này, và Người ở bờ bên kia, không thể gặp nhau, đúng hơn họ không thể gặp Người khi Người ở với họ, trái lại càng làm họ xa Người hơn, đúng như Người sau này quả quyết về họ và báo trước cho họ biết rằng nơi Người đi họ chẳng những không thể nào tới được, mà còn chết trong tội lỗi của họ ngay chính lúc họ đi tìm Người, nghĩa là muốn tìm biết Người nữa (xem Gioan 7:34, 8:21), và quả thực mọi sự đã xẩy ra đúng y như vậy, khi Thượng Tế Caipha sau này nhân danh Thiên Chúa để hỏi thẳng Người có phải là Đấng Thiên Sai hay không, và sau khi Người nói về mình thì bị Hội Đồng Đầu Mục Do Thái hầu như đồng thanh lên án tử cho Người (xem Mathêu 26:63-66).

 

Thật ra chính bản thân của nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét là "một điềm lạ" đối với chung dân Do Thái và riêng thành phần trí thức trong dân cũng như thành phần lãnh đạo của dân. Ở chỗ, Người chỉ là một con người tầm thường chẳng ai biết tới, xuất thân từ một sinh quán vô danh tiểu tốt trong lịch sử cứu độ của dân Do Thái, mà lại tự nhiên trở thành một nhân vật phi thường, có thẩm quyền về giảng dạy trước mặt dân chúng, cùng với quyền lực chữa lành và trừ quỉ cho dân, nhờ đó đã lôi kéo được cả dân của mình mà còn cả dân ngoại ở các vùng phụ cận nữa. Nhưng có lẽ Người là "một điềm lạ" nhất của họ là khi Người cứu được người khác mà không cứu được mình, như thể Người không thể xuống khỏi thập tự giá dù Người có thể (xem Mathêu 27:42). Đó mới là "một điềm lạ" thực sự cứu độ con người khỏi tội lỗi và sự chết mà "ai chấp nhận Người (nơi "điềm lạ" này) thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12).

 

Đúng thế, đối với thành phần trí thức trong dân Do Thái và thành phần lãnh đạo của dân do Thái thì nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét quả là một thử thách cả thể đối với họ, chẳng những về nguồn gốc bí ẩn của nhân vật này, mà còn về hành vi cử chỉ "dị chúng nhân" đầy vẻ bất bình thường thậm chí quái đản của nhân vật ấy nữa. Tuy nhiên, "cái khó nó bó cái khôn" mà nếu họ chân thành tìm kiếm chân lý khách quan hơn là chủ quan, ở chỗ khiêm tốn hạ mình xuống, thì mọi sự nơi nhân vậy này và về nhân vật này sẽ trở nên hoàn toàn khác hẳn. Đó là lý do Thánh Giacôbê Tông Đồ, vị tông đồ đặc biệt của dân Do Thái, như Tông Đồ Phaolô của Dân Ngoại, trong Bài Đọc I hôm nay đã khuyên nhủ họ sống khôn ngoan như sau:

 

"Anh em thân mến, anh em hãy vui mừng khi gặp mọi thử thách, anh em biết rằng lòng tin được thử thách rèn luyện đức kiên nhẫn. Còn kiên nhẫn phải đưa đến hành động hoàn hảo, để anh em nên hoàn hảo và trọn vẹn, không khiếm khuyết điều gì. Nếu ai trong anh em thấy mình khiếm khuyết sự khôn ngoan, thì hãy xin cùng Thiên Chúa là Ðấng rộng lượng ban ơn cho mọi người mà không quở trách, và Người sẽ ban cho. Nhưng hãy lấy lòng tin tưởng mà xin, đừng hoài nghi, vì ai hoài nghi, thì giống như sóng biển bị gió cuốn đi và giao động. Con người hai lòng, do dự trong mọi đường lối, con người ấy đừng mong lãnh nhận gì nơi Chúa".

 

Quả thực là như thế, thành phần trí thức trong dân Do Thái cũng như thành phần lãnh đạo của dân Do Thái sở dĩ muốn biết về nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét, muốn tìm kiếm chân lý mà lại quay ra sát hại chân lý, bởi vì, đúng như Thánh Giacôbê đã nhận định trong Bài Đọc I hôm nay: "ai hoài nghi, thì giống như sóng biển bị gió cuốn đi và giao động. Con người hai lòng, do dự trong mọi đường lối, con người ấy đừng mong lãnh nhận gì nơi Chúa".

 

Bởi thế, thành phần "xin Người một điềm lạ trên trời" mà không được cần phải có một tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay:

 

1) Trước khi bị khổ, con đã lạc lầm, nhưng giờ đây, lời sấm của Ngài con xin tuân.

2) Chúa là Ðấng tốt lành và nhân hậu, xin dạy bảo con những thánh chỉ của Ngài.

3) Con bị khổ nhục, đó là điều tốt, để cho con học biết thánh chỉ của Ngài.

4) Ðối với con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn.

5) Lạy Chúa, con biết sắc dụ Ngài công minh, và Ngài có lý mà bắt con phải khổ.

6) Xin Chúa tỏ lòng thương hầu ủy lạo con, theo như lời đã hứa cùng tôi tớ Chúa.

 

 

 


 

Thứ Ba


Phụng Vụ Lời Chúa

 

TRONG NĂM 2026 NGÀY THỨ BA 17/2 LẠI LÀ NGÀY MÙNG MỘT TẾT ÂM LỊCH, ĐƯỢC LÀM LỄ NHƯ NGÀY ĐẦU NĂM

 

(xin theo dõi ngay dưới ngày Thứ Ba này)

 

Bài Ðọc I: (Năm II) Gc 1, 12-18

"Chính Thiên Chúa không hề cám dỗ".

Trích thư của Thánh Giacôbê Tông đồ.

Phúc cho kẻ chịu thử thách, vì khi đã được tinh luyện, sẽ lãnh nhận triều thiên sự sống mà Thiên Chúa đã hứa ban cho những kẻ yêu mến Người. Khi bị cám dỗ, đừng ai nói rằng bị Thiên Chúa cám dỗ, vì Thiên Chúa không thể bị sự dữ cám dỗ, và chính Người cũng không hề cám dỗ ai. Nhưng mỗi người bị tình dục cám dỗ, bị nó xúi giục và dụ dỗ. Rồi khi tình dục đã thai nghén, thì sinh ra tội lỗi, và khi tội đã phạm rồi, thì sinh ra chết.

Anh em thân mến, anh em đừng lầm lẫn: mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do tự trời, bởi Cha sáng láng ban xuống, nơi Người không có thay đổi và cũng không có bóng dáng sự thay đổi. Người đã muốn sinh ra chúng ta bằng lời chân thật, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các tạo vật.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 93, 12-13a. 14-15. 18-19

Ðáp: Lạy Chúa, phúc thay người được Ngài dạy bảo (c. 12a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, phúc thay người được Ngài dạy bảo, và giáo hoá theo luật pháp của Ngài, hầu cho họ được thảnh thơi trong những ngày gian khổ. - Ðáp.

2) Vì Chúa sẽ không loại trừ dân tộc, và không bỏ rơi gia nghiệp của Ngài. Nhưng sự xét xử sẽ trở lại đường công chính, và mọi người lòng ngay sẽ thuận tình theo. - Ðáp.

3) Ðang lúc con nghĩ rằng chân con xiêu té, thì, lạy Chúa, ân sủng Ngài nâng đỡ thân con. Khi lòng con vướng thêm nhiều điều lo lắng, thì ơn Chúa ủi an làm vui sướng hồn con. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 118, 27

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 8, 14-21

"Các con hãy ý tứ giữ mình khỏi men biệt phái và men Hêrôđê".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, các môn đệ quên mang bánh và chỉ còn một chiếc bánh trong thuyền. Và Chúa Giêsu dặn bảo các ông rằng: "Các con hãy coi chừng và giữ mình cho khỏi men biệt phái và men Hêrôđê". Các môn đệ nghĩ ngợi và nói với nhau rằng: "Tại mình không có bánh". Chúa Giêsu biết ý liền bảo rằng: "Sao các con lại nghĩ tại các con không có bánh? Các con chưa hiểu, chưa biết ư? Sao các con tối dạ như thế, có mắt mà không xem, có tai mà không nghe? Khi Thầy bẻ năm chiếc bánh cho năm ngàn người ăn, các con đã thu được bao nhiêu thúng đầy miếng bánh dư, các con không nhớ sao?" Các ông thưa: "Mười hai thúng". - "Và khi Thầy bẻ bảy chiếc bánh cho bốn ngàn người ăn, các con đã thu được bao nhiêu thúng đầy miếng bánh dư?" Họ thưa: "Bảy thúng". Bấy giờ Người bảo các ông: "Vậy mà các con vẫn chưa hiểu sao?"

Ðó là lời Chúa.

Image result for Mark 8, 14-21


Suy nghiệm Lời Chúa


  

Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần VI Thường Niên Hậu Giáng Sinh hôm nay liên quan chính yếu đến lời cảnh báo của Chúa Giêsu với thành phần tông đồ là các môn đệ nồng cốt của Người: "Các con hãy coi chừng và giữ mình cho khỏi men biệt phái và men Hêrôđê". Thế nhưng, tiếc thay, thành phần môn đệ của Người hầu như toàn là thành phần quê mùa chất phác, hay có trí thức một chút như chàng Mathêu hoặc như Batôlômêo vì đầy lòng chân thành nên cũng chẳng nghĩ gì sâu xa. Bởi đó, sau khi nghe Thày mình nói như vậy, các vị bảo nhau rằng: "Tại mình không có bánh", bởi các vị lại cứ tưởng Người bảo các vị đừng ăn bánh của nhóm biệt phái và Hêrôđê, vì men liên quan đến bánh, mà hãy ăn số bánh mang theo thôi, trong khi đó "các môn đệ quên mang bánh và chỉ còn một chiếc bánh trong thuyền".

 

Bởi thế, Chúa Giêsu đã phải giải thích cho các môn đệ tông đồ của Người biết ý nghĩa những gì Người nói về "men biệt phái và men Hêrôđê". Tuy nhiên, Người hoàn toàn nói về bánh mà thôi, liên quan đến hai lần Người làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, như Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại: "Sao các con lại nghĩ tại các con không có bánh? Các con chưa hiểu, chưa biết ư? Sao các con tối dạ như thế, có mắt mà không xem, có tai mà không nghe? Khi Thầy bẻ năm chiếc bánh cho năm ngàn người ăn, các con đã thu được bao nhiêu thúng đầy miếng bánh dư, các con không nhớ sao?" Các ông thưa: 'Mười hai thúng'. - 'Và khi Thầy bẻ bảy chiếc bánh cho bốn ngàn người ăn, các con đã thu được bao nhiêu thúng đầy miếng bánh dư?' Họ thưa: 'Bảy thúng'. Bấy giờ Người bảo các ông: 'Vậy mà các con vẫn chưa hiểu sao?'"

 

Không thấy Thánh ký Marco cho biết thêm là các tông đồ có hiểu sau lời giải thích của Chúa Giêsu hay chăng. Nhưng, căn cứ vào lời giải thích này thì Người mới chỉ hé lộ phân nửa ý nghĩa về "men biệt phái và men Hêrôđê", men liên quan đến bánh. Nghĩa là, Người cố ý nhắc cho các tông đồ rằng tại sao các con lại sợ thiếu bánh chứ, khi Thày nói với các con rằng "các con hãy coi chừng và hãy giữ mình cho khỏi men biệt phái và men Hêrôđê", vì Thày có thể làm cho bánh hóa ra nhiều cơ mà, như các con đã thấy đó, dù hiện nay chúng ta chỉ có một chiếc bánh mang theo. Vậy một nửa ý nghĩa kia liên quan đến chính men là gì, Chúa Giêsu hoàn toàn không hề nói tới.

 

Tuy nhiên, nếu các tông đồ để ý, nhất là qua những lần đụng chạm giữa thành phần biệt phái và Thày của các vị, những lần cả Thày trò bị thành phần này theo dõi và hạch hỏi cùng bắt bí, sẽ hiểu được đâu là ý nghĩa của men được Thày của các vị nói tới, và căn dặn các vị phải "canh chừng và giữ mình", đó là những chủ trương sống đạo sai lạc và đời sống giả hình ham danh của họ. Chủ trương duy luật và tự công chính hóa nhờ việc giữ luật của họ bất chấp lòng nhân hậu là một thứ men, và đời sống giả hình ham danh của họ, thích ăn trên ngồi trước, làm việc gì cũng chỉ để khoe khoang lấy tiếng.

 

Đúng thế, gương mù gương xấu tự bản chất có tác dụng làm dậy lên tình trạng xấu xa tệ hại trong môi trường nhân sinh và gây ô nhiễm hay lây nhiễm một cách nhanh chóng. Bởi vì, nơi con người ta, vì lây nhiễm nguyên tội, vốn xu hướng về những gì là rộng rãi thoải mái và tầm thường trần tục, dễ dàng hùa theo những gì tự nhiên dễ dãi hơn là những gì khắt khe, khổ chế, khó khăn v.v. Nhất là những gì hợp với thị hiếu hay sở trường hoặc ước muốn cùng chủ trương của từng cá nhân con người. Có thể Chúa Giêsu đã lợi dụng chính lúc các tông đồ quên bánh mà nói đến men, đến gương mù gương xấu của thành phần trí thức và có thế giá dễ gây ảnh hưởng trong dân chúng, nhất là thành phần bình dân dễ tin và dễ theo, dễ bị lôi kéo, trong khi đó các tông đồ cũng ngây thơ vô tội đến độ có thể bị cuốn theo lúc nào không biết, chẳng hạn như các vị có lần đã tỏ ra ham danh chẳng thua gì nhóm biệt phái ở chỗ tranh giành ngôi thứ với nhau.

 

Phải, sở dĩ con người trần gian dễ bị gương mù gương xấu lôi cuốn và noi gương bắt chước là vì chính trong con người của mình họ đã có sẵn mầm mống xấu, có cùng tần số với gương mù gương xấu, dễ dàng chiều theo gương mù gương xấu. Yếu tố trong con người rất dễ nhậy cảm với gương mù gương xấu, rất dễ bốc cháy theo ngọn lửa gương mù gương xấu, theo Thánh Gicôbê trong Bài Đọc I hôm nay, đó là "tình dục" ở nơi họ, và gương mù gương xấu chẳng khác gì như một chước "cám dỗ": "Khi bị cám dỗ, đừng ai nói rằng bị Thiên Chúa cám dỗ, vì Thiên Chúa không thể bị sự dữ cám dỗ, và chính Người cũng không hề cám dỗ ai. Nhưng mỗi người bị tình dục cám dỗ, bị nó xúi giục và dụ dỗ. Rồi khi tình dục đã thai nghén, thì sinh ra tội lỗi, và khi tội đã phạm rồi, thì sinh ra chết".

 

Trong Bài Đọc I hôm nay, Thánh Giacôbê như thể còn đề ra cho chúng ta một phương cách để tránh khỏi tầm ảnh hưởng của gương mù gương xấu nữa, bởi vì, nếu "gương mù gương xấu" xuất phát từ con người, từ trần gian, một trần gian không thể nào thoát khỏi gương mù, thì ân sủng và phúc lành từ trời, được chất chứa nơi "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14), những gì chân thật nhất làm cho con người được tái sinh vào sự sống: "Anh em đừng lầm lẫn: mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do tự trời, bởi Cha sáng láng ban xuống, nơi Người không có thay đổi và cũng không có bóng dáng sự thay đổi. Người đã muốn sinh ra chúng ta bằng lời chân thật, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các tạo vật".

 

Đó là lý do Bài Đáp Ca hôm nay mới chất chứa một tâm tình rất hợp với phụng vụ Lời Chúa hôm nay, bao gồm cả Bài Đọc I lẫn Bài Phúc Âm:

 

1) Lạy Chúa, phúc thay người được Ngài dạy bảo, và giáo hoá theo luật pháp của Ngài, hầu cho họ được thảnh thơi trong những ngày gian khổ.

2) Vì Chúa sẽ không loại trừ dân tộc, và không bỏ rơi gia nghiệp của Ngài. Nhưng sự xét xử sẽ trở lại đường công chính, và mọi người lòng ngay sẽ thuận tình theo.

3) Ðang lúc con nghĩ rằng chân con xiêu té, thì, lạy Chúa, ân sủng Ngài nâng đỡ thân con. Khi lòng con vướng thêm nhiều điều lo lắng, thì ơn Chúa ủi an làm vui sướng hồn con.

 

 

 

Những Thánh Lễ cho Ngày Đầu Năm Âm Lịch

 

 


 

Thánh Lễ Tất Niên


Phúc Âm: Lc 1, 39-55

"Linh hồn tôi ngợi khen Chúa".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy, Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Elisabeth. Và khi bà Elisabeth nghe lời chào của Maria, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà, và bà Elisabeth được đầy Chúa Thánh Thần. Bà kêu lớn tiếng rằng: "Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm tôi? Vì này tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi. Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện".

Và Maria nói: "Linh hồn tôi ca ngợi Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ tôi, vì Người đã nhìn đến phận hèn tôi tớ Người, thực từ đây thiên hạ muôn đời sẽ khen rằng tôi có phước, vì Ðấng đã làm cho tôi những điều trọng đại, Người quyền năng, và Danh Người là thánh. Ðức từ bi Người tự đời nọ tới đời kia dành cho những ai kính sợ Người. Người đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai lòng trí kiêu căng. Người lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng, và nâng cao những người phận nhỏ; người đói khát, Người cho no đầy thiện hảo, bọn giàu sang, Người đuổi về tay không. Người đã nhận săn sóc Israel tôi tớ Người, bởi nhớ lại lòng từ bi của Người, như Người đã phán cùng tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và miêu duệ ông tới muôn đời".

Ðó là lời Chúa.

- - - - - - - - - - - - - -

Hoặc: Lc 17,11-19

"Người ấy đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Người".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, Người đi ngang qua biên giới Samaria và Galilêa. Lúc Người vào một làng kia, thì gặp mười người phong cùi đang đứng ở đàng xa, họ cất tiếng thưa rằng: "Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi".

Thấy họ, Người bảo họ rằng: "Các ngươi hãy đi trình diện với các tư tế".

Trong lúc họ đi đường, họ được lành sạch. Một người trong bọn họ thấy mình được lành sạch, liền quay trở lại, lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Người, mà người ấy lại là người xứ Samaria.

Nhưng Chúa Giêsu phán rằng: "Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu? Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại này". Rồi Người bảo kẻ ấy rằng: "Ngươi hãy đứng dậy mà về, vì lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi".

Ðó là lời Chúa.

 

B. Thánh Lễ Giao Thừa

 

Phúc Âm: Mt 5,1-10

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an.

Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp.

Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả.

Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương.

Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa.

Phúc cho những ai ăn ở thuận hòa, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ".

Ðó là lời Chúa.

- - - - - - - - - - - - - -

Hoặc: Mt 7,7-11

"Ai xin thì sẽ được".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Hãy xin thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ gặp; hãy gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì bất cứ ai xin thì sẽ nhận được; ai tìm thì sẽ gặp; ai gõ cửa sẽ mở cho. Nào ai trong các con thấy con mình xin bánh, mà lại đưa cho nó hòn đá ư? Hay là nó xin con cá mà lại trao cho nó con rắn ư? Vậy nếu các con, dù là kẻ xấu, còn biết lấy của tốt mà cho con cái, thì huống chi Cha các con, Ðấng ở trên trời, sẽ ban những sự lành biết bao cho kẻ cầu khẩn Người?"

Ðó là lời Chúa.

 

C. Thánh Lễ Minh Niên

(Cầu bình an cho Năm Mới)

 

Bài Ðọc I: Gen 1,14-18

"Những vật sáng hãy trở thành dấu chỉ thời gian, ngày và năm tháng".

Bài trích sách Sáng Thế.

Thiên Chúa còn phán: "Hãy có những vật sáng trên vòm trời và hãy phân chia ngày và đêm, và trở thành dấu chỉ thời gian, ngày và năm tháng, để soi sáng trên vòm trời và giãi sáng mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã làm nên hai vầng sáng lớn: Vầng sáng lớn hơn làm chủ ban ngày, và vầng sáng nhỏ hơn làm chủ ban đêm. Và Ngài cũng làm nên các tinh tú. Thiên Chúa đặt chúng trên vòm trời để soi sáng trên mặt đất và làm chủ ngày đêm, và phân chia ánh sáng với tối tăm. Thiên Chúa thấy tốt đẹp.

Ðó là lời Chúa.

- - - - - - - - - - - -

Hoặc: Num 6,22-27

"Họ sẽ kêu cầu danh Ta trên con cái Israel và Ta sẽ chúc lành cho chúng".

Bài trích sách Dân Số.

Chúa phán cùng Môisen rằng: "Hãy nói với Aaron và con cái nó rằng: Các ngươi hãy chúc lành cho con cái Israel, hãy nói với chúng thế nầy: Xin Chúa chúc lành cho con, và gìn giữ con, xin Chúa tỏ nhan thánh Chúa cho con, và thương xót con. Xin Chúa ghé mặt lại cùng con, và ban bằng yên cho con. Họ sẽ kêu cầu danh Ta trên con cái Israel, và Ta sẽ chúc lành cho chúng".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 48, 2-3. 6-7. 8-10. 11. 17-18

Ðáp: Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. (Mt 5, 3)

Hoặc Ðáp: Tiên vàn các con hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người. (Mt 6, 33a)

Xướng: 1) Hỡi các dân, xin nghe lấy chuyện nầy, xin hãy lắng tai, hết thảy những ai cư ngụ địa cầu, người phận nhỏ cũng như người quyền thế, kẻ giàu sang cũng như kẻ cơ bần! - Ðáp.

2) Tại sao tôi phải kinh hãi trong ngày tai họa, khi ác tâm quân thù mưu hại bao bọc quanh tôi? Bọn người nầy tin cậy vào tài sản, chúng tự hào bì có bạc vạn tiền muôn? - Ðáp.

3) Nhưng thực ra không ai tự cứu được bản thân, cũng không ai dâng được lên Chúa giá tiền chuộc mạng. Giá chuộc mạng quá đắt, không bao giờ người ta có đủ, hầu mong sống mãi đời đời, không phải nhìn coi sự chết. - Ðáp.

4) Bởi lẽ người ta thấy chết cả những người khôn, đứa dại đứa ngu cũng đều phải chết, để lại cho người khác tài sản của mình. - Ðáp.

5) Ðừng e ngại khi thấy ai giàu có, khi thấy tài sản nhà họ gia tăng; bởi lúc lâm chung, họ chẳng mang theo gì hết, và tài sản cũng không cùng họ chui xuống nấm mồ. - Ðáp.

- - - - - - - - - - - -

Hoặc: Tv 89, 2. 3-4. 5-6. 12-13. 14. 16

Ðáp: Lạy Chúa, xin Ngài củng cố sự nghiệp tay chúng tôi làm ra. (17c)

Xướng 1) Ôi Thiên Chúa, trước khi núi non sinh đẻ, trước khi địa cầu và vũ trụ nở ra, tự thuở nầy qua thuở kia, vẫn có Ngài. - Ðáp.

2) Thực ngàn năm ở trước thiên nhan, tựa hồ như ngày hôm qua đã khuất, như một đêm thức giấc cầm canh. Chúa khiến con người trở về bụi đất, Ngài phán: "Hãy trở về gốc, hỡi con người". - Ðáp.

3) Chúa khiến họ trôi đi, họ như kẻ mơ màng buổi sáng, họ như cây cỏ mọc xanh tươi. Ban sáng cỏ nở hoa và xanh tốt, buổi chiều nó bị xén đi và nó héo khô. - Ðáp.

4) Xin dạy chúng tôi biết đếm ngày giờ, để chúng tôi luyện được lòng trí khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại, chớ còn để tới bao giờ? xin tỏ lòng xót thương tôi tớ của Ngài. - Ðáp.

5) Xin cho chúng tôi sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng tôi mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng tôi. Xin cho các bầy tôi nhìn thấy sự nghiệp của Chúa, và cho con cháu họ được thấy vinh quang Ngài. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 1Cor 7,29-31

"Bộ mặt thế gian nầy đang qua đi".

Bài trích thơ thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Corintô.

Anh em thân mến, tôi nói cùng anh em điều nầy là: Thời giờ vắn vỏi; còn có cách là những ai có vợ, hãy như không có: những ai than khóc, hãy ăn ở như không khóc; những ai hân hoan, hãy ăn ở như không hân hoan; những ai mua sắm, hãy ăn ở như không có gì; những ai dùng sự đời nầy, hãy ăn ở như không tận hưởng, vì chưng bộ mặt thế gian nầy đang qua đi.

Ðó là lời Chúa

- - - - - - - - - - -

Hoặc: Jac 4,13b-15

"Anh em đâu có biết ngày mai sẽ ra sao".

Bài trích thơ của Thánh Giacôbê Tông đồ.

Anh em thân mến, bây giờ anh em nói: "Hôm nay hoặc ngày mai chúng tôi sẽ đến một thành nọ, rồi ở lại đó một năm mà buôn bán kiếm lời". Nhưng anh em đâu có biết ngày mai sẽ ra sao. Bởi vì đời sống anh em là cái gì? Là một chút hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi biến đi. Lẽ ra anh em phải nói rằng: "Nếu Chúa muốn, và nếu chúng tôi còn sống, chúng tôi sẽ làm điều nầy điều kia".

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia và Câu Xướng Trước Phúc Âm: Chron 29, 10. 11b

(Mùa Chay: bỏ Alleluia)

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel tổ phụ chúng tôi, Chúa đáng chúc tụng; mọi tạo vật trên trời dưới đất đều là của Chúa. - Alleluia.

Hoặc đọc: 

Alleluia, alleluia! - Trải qua mọi ngày, chúng tôi chúc tụng Chúa; và chúng tôi ca ngợi danh Chúa tới muôn đời. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 11, 25-30

"Ta dịu hiền và khiêm nhường trong lòng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu lên tiếng nói rằng: "Lạy Cha là Chúa trời đất, con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy. Mọi sự đã được Cha Ta trao phó cho Ta. Và không ai biết Con trừ ra Cha; và cũng không ai biết Cha trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho. Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ và bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhường trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng".

Ðó là lời Chúa.

- - - - - - - - - - - - - -

Hoặc: Ga 14, 23-27

"Thầy ban bình an của Thầy cho các con".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. Kẻ không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Lời mà các con nghe, không phải là của Thầy, nhưng là của Cha, Ðấng đã sai Thầy. Thầy đã nói với các con những điều này khi còn ở với các con. Nhưng Ðấng Phù Trợ, là Thánh Thần, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính người sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con. Thầy để lại bình an cho các con; Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng. Lòng các con đừng xao xuyến và đừng sợ hãi".

Ðó là lời Chúa.

- - - - - - - - - - - - - -

Hoặc: Ga 20,19-23

"Bình an cho các con".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: "Bình an cho các con!" Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: "Bình an cho các con! Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần. Các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại".

Ðó là lời Chúa.

- - - - - - - - - - - - - -

Hoặc: Mt 6,25-34

"Các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thầy bảo các con. Chớ áy náy lo lắng cho mạng sống mình: lấy gì ăn; hay cho thân xác các con: lấy gì mà mặc. Nào mạng sống không hơn của ăn, và thân xác không hơn áo mặc sao? Hãy nhìn xem chim trời, chúng không gieo, không gặt, không thu vào lẫm, thế mà Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng. Nào các con không hơn chúng sao? Nào có ai trong các con lo lắng áy náy mà có thể làm cho mình cao thêm một gang được ư? Còn về áo mặc, các con lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng coi chúng mọc lên thế nào? Chúng không làm lụng, không canh cửi. Nhưng Thầy nói với các con rằng: Ngay cả Salomon trong tất cả vinh quang của ông, cũng không phục sức được bằng một trong những đóa hoa đó. Vậy nếu hoa cỏ đồng nội, nay còn, mai bị ném vào lò lửa, mà còn được Thiên Chúa mặc cho như thế, huống chi là các con, hỡi những kẻ kém lòng tin? Vậy các con chớ áy náy lo lắng mà nói rằng: "Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì, hoặc sẽ lấy gì mà mặc?" Vì chưng, dân ngoại tìm kiếm những điều đó. Nhưng cha các con biết rõ các con cần đến những điều đó. Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các điều đó Người sẽ ban thêm cho các con. Vậy các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai, vì ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Ngày nào có sự khốn khổ của ngày ấy".

Ðó là lời Chúa.


Xin nghe bài chia sẻ ở cái link sau đây:

 

 

 

 

NĂM 2026 TỚI ĐÂY PHỤNG NIÊN BẮT ĐẦU CHUYỂN SANG MÙA CHAY

 

 

Mấy ngày đầu Mùa Chay

 

 

 

 

 

HẠNH THÁNH TRONG TUẦN

 

Ngày 17/02: Bảy Thánh Lập Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ

 

(Trong Tuần VI Thường niên)

 

Bảy anh em sáng lập dòng Tôi tớ Đức Mẹ

 

Có thể nào bạn tưởng tượng được có bảy người nổi tiếng của thành phố Saigon hoặc Hoa Thịnh Ðốn cùng tụ nhau lại, từ giã gia đình sự nghiệp và sống cô độc trong một cuộc đời tận hiến cho Thiên Chúa không? Ðiều đó đã xảy ra trong thế kỷ XIII, ở thành phố Firenza phồn thịnh và văn vật. Lúc ấy, thành phố này tan nát vì tranh chấp chính trị cũng như vì lạc giáo Cathari (trong những điều lầm lạc, họ cho rằng ma quỷ là chúa đối nghịch và Ðức Giêsu chỉ là một thiên thần). Ðời sống luân lý thời ấy thật thấp và tôn giáo dường như không có ý nghĩa gì. Năm 1240, bảy người quý phái của Firenza cùng quyết định ra khỏi thành phố đến một nơi cô quạnh để cầu nguyện và phục vụ Thiên Chúa.  

Thật vậy, bảy vị thánh này là bảy thương gia tên tuổi ở xứ Florence, thuộc dòng tộc Toscane, sống vào thế kỷ XIII. Sau khi được ơn soi sáng nhân ngày lễ Ðức Mẹ lên trời, bảy anh em đều có cùng một chí hướng tận hiến làm tôi Chúa và mở nước Ðức Mẹ, đã bán hết của cải phân phát cho người nghèo rồi lui về đồng quê ở trong một căn nhà tồi tàn để ngày đêm suy niệm sự thương khó Chúa Giêsu cùng những sự khổ đau của Mẹ Thánh Người.

- Cha Morandi sinh năm 1198 ở Florence, cao niên nhất và làm Bề Trên dòng trong 16 năm đầu và được Chúa gọi về ngày 01/01/1262.

- Cha Bonandi Untêmati chào đời năm 1206, tính hiền hòa và có nhiều tài. Ngài rất ưa thích đời sống thinh lặng suy niệm sự thương khó Chúa Giêsu và Ðức Mẹ. Người từ trần ngày 31/8/1257.

- Cha Monetto Antelara với trí thông minh hiếm có, ngài đã trau dồi văn chương và thần học. Ngày 20/8/1268, ngài được Chúa cất về trời.

- Cha Amideo sinh năm 1024, gia đình ngài bị tản mác vì chiến tranh. Tính tình luôn vui vẻ trẻ trung trong một tâm hồn quảng đại và trong trắng. Ngài mất ngày 18/4/1266.

- Cha Sottinêo và cha Ugucxio là hai người bạn thân thiết từ hồi thơ ấu. Sottinêo thích đời sống tĩnh mịch và suy niệm. Ugucxio yêu thích hoạt động bác ái giúp đỡ người nghèo và bệnh nhân. Cả hai là cánh tay phải của dòng và đều được Chúa cất về ngày 03/5/1282.

- Thầy Alêxu Phacônêri sinh năm 1200, trẻ tuổi nhất và sống lâu nhất trong dòng. Mặc dù được trí thông minh đặc biệt, nhưng luôn sống khiêm tốn, chân thành và trọng đức khiết tịnh. Ngài được Chúa gọi về khi đầy 110 tuổi.

Mộ các ngài được xây cất cùng một nơi và Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã phong các ngài lên bậc Hiển Thánh của Giáo Hội.

Dịp lễ Đức Mẹ Mông Triệu này, các ngài đã được Đức Mẹ thúc đẩy sống đời hoàn thiện. Sau khi bán hết của cải, công việc đầu tiên của họ là việc cấp dưỡng cho thân nhân (vì hai người vẫn còn lập gia đình và hai người nữa goá vợ) và phân phát cho những người nghèo hèn túng khổ và rút vào núi Senario, gần Firenza. Nơi đó “họ hoàn toàn tận hiến để phục vụ Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ Maria cách trung thành hơn”. Bản văn kể tiếp: “Để theo gương anh em, họ đón nhận thêm vài người… Tất cả tạo thành cộng đoàn Tôi Tớ Đức Mẹ, dựa trên sự khiêm nhường, sống chung theo quyết định của anh em và tuân giữ luật khó nghèo.” Bảy người cùng sống khó nghèo, khắc khổ bằng của ăn xin hằng ngày. Các ngài chọn luật dòng thánh Âu-tinh và thành lập dòng “Tôi tớ Đức Mẹ” . Mục đích của dòng là rao giảng Chúa Giêsu chịu đóng đinh và sự thương khó của Mẹ Maria.

Một người tu dòng này kể lại công cuộc lập dòng như sau: Đó là bảy người rất đáng kính trọng mà Đức Mẹ kết hợp lại thành một nhóm bảy ngôi sao, vì họ hợp nhất nhau cả hồn xác. Ngài đã dùng họ để khởi sự dòng tôi tớ Ngài.

Khi tôi vào dòng, không ai trong số bảy người đó còn sống, trừ một người tên A-lê-xi-ô. Đức Mẹ đã muốn để anh sống đến bây giờ hầu chúng tôi có thể biết về nguồn gốc dòng tu nhờ anh kể lại. Như chính tôi đã kinh nghiệm và thấy tận mắt đời sống của anh A-lê-xi-ô bấy giờ, không những có sức khuyến khích người ta nhờ gương sáng, mà còn làm cho người ta nhận ra được đời sống trọn lành của anh, của các bạn đồng nghiệp với anh và của dòng.

Được Chúa soi sáng và được Đức Mẹ thúc đẩy cách đặc biệt, khi đã quyết định sống thành cộng đồng, các anh bỏ nhà cửa và gia quyến; để lại cho họ những gì là cần thiết, còn bao nhiêu thì phân phát cho kẻ nghèo. Rồi các anh tìm những người có ý kiến hay, có đời sống tốt, có gương sáng đẹp để bày tỏ dự tính mình cho họ.

Thế là anh em trèo lên đỉnh núi Sê-na-ri-ô, dựng một cái nhà nhỏ theo ý mình, rồi đưa nhau lên ở trên đó. Tại đây, anh em mới nhận ra rằng không những mình phải nên thánh mà cũng còn phải chiêu mộ đồng nghiệp để phát triển dòng mới mà Đức Mẹ đã dùng mình để khởi công. Thế nên, sau khi đã quyết định nhận thêm người, anh em đã rước thêm một ít người khác và làm cho dòng to lớn thêm. Tất cả mọi công việc ấy, trước là do Đức Mẹ dựng lên, sau là nhờ tinh thần khiêm nhường của anh em; thành tựu nhờ anh em đồng tâm nhất trí, và bảo tồn được nhờ đức khó nghèo.

Cộng đoàn huynh đệ này, người Florence gọi là “Những Kẻ phục vụ – Servites”, dần dần nảy sinh thành một Dòng tôn giáo, dựa theo luật thánh Augustinô, thích ứng với các sống hiện tại của họ. Dòng Tôi Tớ Đức Bà được Hội Thánh công nhận vào năm 1304 và cả bảy bị thành lập được phong thánh vào năm 1888 do Đức Giáo Hoàng Léô XIII. Dòng đã dần dần thiết lập rộng ra tại các nước Pháp và Đức.

Mặc dầu dòng gặp trăm bề khó khăn lúc ban đầu, nhưng dòng đã thực sự phát triển mạnh mẽ.

Ngày nay Dòng Tôi Tớ Đức Bà có mặt trên Mỹ châu, Nam Phi, Australia và vùng Ấn Độ. Sống thành những cộng đoàn nhỏ, các tu sĩ này đáp ứng các đòi hỏi hiện tại: Giáo xứ, dạy dỗ, tuyên úy…

Nhà dòng đã chọn bốn đặc điểm sau đây làm quy luật sống:

Đặc điểm thứ nhất là về đời sống Hội Thánh: Cả bảy anh em đều nhất quyết giữ mình độc thân hoặc đời sống khiết tịnh trọn đời, mặc dầu có người chưa lập gia đình, người thì đã thành hôn, người khác lại đã thoát khỏi vướng bận phu thê vì lẽ bạn mình đã chết.

Điểm thứ hai liên hệ đến sự phồn vinh của thị xã: Là vì trong bảy anh em, người làm thương mại, kẻ trao đổi hàng hoá, người lại làm nghề buôn. Nhưng khi đã tìm được ngọc quý tức là dòng tu, thì không những anh em phân phát tất cả tài sản cho kẻ nghèo, mà còn vui vẻ dâng mình phục vụ Thiên Chúa và Đức Mẹ cách trung thành.

Điểm thứ ba là lòng kính mến Đức Mẹ. Ở Phơ-lô-răng, bấy giờ có một hội kính Đức Mẹ, thành lập đã từ xưa. Vì lẽ sự cổ xưa ấy, cũng như vì sự đông đảo và thánh thiện của những người trong hội, hội vượt xa các hội khác và được coi là hội lớn của Đức Mẹ. Bảy anh em trước khi đến sống chung với nhau, đã ở trong hội này, họ tỏ ra yêu mến Đức Mẹ cách đặc biệt.

Điểm thứ tư là về đời sống thiêng liêng. Họ yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Họ quy hết mọi việc về Người, theo đúng như thứ tự đòi buộc. Họ tôn vinh Người trong tư tưởng, lời nói và việc làm.

Cả bảy vị thánh lập dòng đã được Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII tôn phong Hiển thánh, dịp lễ mừng 50 năm linh mục của ngài.

Cuộc sống của bảy vị lập dòng Tôi Tớ Đức Bà, ngoài những điểm khác, đặc biệt là tình yêu trìu mến với Đức Trinh Nữ Maria, và qua Mẹ, là Đức Giêsu. Theo linh đạo của dòng, tình yêu phải được sống trong tiếng thưa Vâng của Đức Maria, theo gương Mẹ đã trao ban suốt cuộc đời, đặc biệt dưới chân Thánh Giá.

Đời sống cộng đoàn được các thánh lập Dòng dựa trên sự khiêm tốn, hoà thuận, nghèo khó, luôn thực tập tình yêu đối với Thiên Chúa trên hết mọi sự, đồng thời phục vụ các Kitô hữu. Tình yêu đã nối kết họ giữa nhau và với Thiên Chúa, thúc đẩy họ đến với các thành thị loài người, thường trong thời gian huynh đệ tương tàn (thời của họ). Các tu sĩ dòng Tôi Tớ Đức Bà trở thành những người đi kiến tạo hoà bình và phục vụ kẻ khốn khổ.

Ơn gọi của bảy vị thánh lập Dòng để sống một cuộc đời anh hùng thánh thiện, đã thúc đẩy họ từ bỏ tất cả. “Và khi họ tìm được viên ngọc quí, không những họ chia sẻ tài sản cho người nghèo, mà còn tận hiến cách vui vẻ cho Thiên Chúa và cho Đức Trinh Nữ Maria để phục vụ thật trung thành”. Phúc Âm Thánh lễ gợi lên dụ ngôn người buôn ngọc quí (Mt13,44-46), trong khi bài đọc một nhắc đến đời sống cộng đoàn của bảy vị. Họ sống trên núi Senario cuộc sống cộng đoàn và cầu nguyện của Tông đồ xưa ở Giêrusalem, một lòng với Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Đức Giêsu (Cv 1,12-14).

Lạy Thiên Chúa từ bi, Chúa đã ban cho bảy vị thánh lập dòng Tôi Tớ Đức Mẹ lòng yêu mến nồng nàn, khiến các ngài sùng kính Đức Mẹ và nhiệt thành củng cố đức tin của dân Chúa. Xin cũng ban cho chúng con một lòng yêu mến nồng nàn như vậy (Lời nguyện Nhập lễ, lễ bảy thánh lập dòng tôi tớ Đức Mẹ).

Đaminh Maria cao tấn tĩnh tổng hợp

 

Thánh Phêrô Đamianô – Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh  
(1007-1072)

21-02

 

(Trong mấy ngày đầu Mùa Chay)

 

PeterDamian.jpg

 

ĐTC Biển Đức XVI: 9/9/2009 bài 88 - Thánh Phêrô Đamianô

 

Ngài sinh năm 1007 ở Ravenna, mồ côi cha mẹ khi còn nhỏ và sống với người anh ruột nhưng bị đối xử như người đầy tớ. Khi mới lớn một chút, ngài đã bị sai đi chăn heo. Một người anh khác, là giáo trưởng ở Ravena, thấy thương hại chú em bơ vơ nên đem ngài về nuôi nấng cho ăn học tử tế. Có lẽ vì nhớ ơn dưỡng dục của người anh này mà Phêrô đã lấy tên người anh, là Damian, thành tên của mình.


Phêrô là một học sinh có năng khiếu và sau đó trở thành một giáo sư nổi tiếng. Trong thời gian này, Phêrô cố làm quen với sự chay tịnh, sự cầu nguyện và ngài mặc áo nhặm bên trong áo thường để chống với các cám dỗ của lạc thú và mưu chước ma quỷ.


Sau một thời gian, ngài quyết tâm từ bỏ thế gian để sống đời ẩn tu với các tu sĩ Biển Ðức thuộc nhánh cải cách của Thánh Romuald ở Fonte Avellana. Các vị ẩn tu thường sống từng đôi trong một cái am cách xa nhau, để cầu nguyện và đọc sách thiêng liêng, với cuộc sống rất khắc khổ. Vì quá hăng say trong sự cầu nguyện và ngủ quá ít nên không bao lâu Phêrô bị bệnh mất ngủ trầm trọng. Ngài phải thận trọng kềm chế và săn sóc chính mình. Vì lý do đó, ngài dành nhiều thời giờ để nghiên cứu Kinh Thánh, và trở nên một thi sĩ sáng tác thơ đạo cũng nổi tiếng như trong văn chương đời trước đây.


Do một quyết định của toàn thể các vị ẩn tu, ngài phải chịu trách nhiệm lãnh đạo Cộng Ðoàn khi vị bề trên qua đời. Do đó, sau khi vị tu viện trưởng từ trần khoảng năm 1043, Phêrô đã dẫn dắt gia đình thánh thiện này với sự khôn ngoan và đạo đức. Ngài cũng thành lập thêm năm tu viện ẩn cư khác. Ngài duy trì tinh thần ẩn dật, bác ái và khiêm nhường. Nhiều vị ẩn tu dưới sự dẫn dắt của ngài là các ngôi sao sáng của Giáo Hội, kể cả Thánh Ðaminh Loricatus, Thánh Gioan ở Lodi là người kế vị ngài trong chức vụ tu viện trưởng ở Holy Cross.


Có lẽ vì là trẻ mồ côi và bị đối xử thật tệ hại khi còn nhỏ nên Phêrô Damian thật tốt với người nghèo. Trong các bữa ăn, lúc nào cũng có một hay hai người nghèo ăn chung với ngài, và đích thân ngài lo lắng cho nhu cầu của họ.


Trong nhiều năm, Phêrô Damian thường giúp các Giáo Hoàng trong công việc hòa giải giữa các tu hội kình chống nhau, hoặc giữa giáo sĩ, viên chức chính phủ và Tòa Thánh. Năm 1057, Ðức Giáo Hoàng Stephanô IX thuyết phục ngài từ bỏ đời ẩn dật và đặt ngài làm Giám Mục-Hồng Y của Ostia.


Ngài tích cực tẩy trừ nạn buôn bán chức vụ trong Giáo Hội, khuyến khích các linh mục sống độc thân, và thúc giục các linh mục triều sống thành cộng đoàn, giữ chương trình cầu nguyện. Ngài ao ước phục hồi sự kỷ luật nguyên thủy của các tu sĩ và linh mục, cảnh cáo họ về việc di chuyển không cần thiết, vi phạm đức khó nghèo và sống quá thoải mái. Ngài viết thư khiển trách Ðức Giám Mục Florence về việc chơi cờ, và Ðức Giám Mục Besancon về việc để giáo sĩ ngồi khi đọc thánh vịnh trong Kinh Nhật Tụng.


Ngài viết rất nhiều thư. Khoảng 170 lá hiện vẫn còn. Chúng ta cũng còn 53 bài giảng của ngài và bảy tiểu sử ngài viết. Ngài thích viết về gương mẫu và chuyện thật hơn là lý thuyết. Các bản văn phụng vụ của ngài cho thấy ngài có phong cách của một nhà văn.


Ngài thường xin Ðức Giáo Hoàng cho ngài từ chức Giám Mục-Hồng Y của Osia, và sau cùng Ðức Alexander II đồng ý với điều kiện là bất cứ khi nào cần ngài sẽ sẵn sàng làm việc trở lại.


Khi trở lại công việc ở Ravenna, ngài bị sốt nặng. Ngài từ trần ngày 22 tháng 2 năm 1072 với các tu sĩ đang vây quanh và đọc kinh Nhật Tụng. Ngài được chôn cất trong nguyện đường của tu viện. Thánh tích của ngài được chuyển dời vài lần. Lần di chuyển sau cùng vào năm 1898 ngài được an nghỉ trong nguyện đường kính Thánh Peter Damian của nhà thờ chính tòa Faenza, nước Ý Đại Lợi.

 

Ngài không được chính thức phong thánh nhưng Đức Giáo Hoàng Leo XII cho phép tôn kính ngài năm 1823 và tuyên xưng ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh ngày 27 tháng 9 năm 1828.

https://dongten.net/2020/02/20/hanh-cac-thanh-20-02-thanh-phero-damiano-giam-muc-tien-si-hoi-thanh-%E2%80%A81007-1072/

 

Vị tu sĩ và Hồng Y sẽ nắm giữ một vai trò hàng đầu trong Ktô giáo này chào đời năm 1007 tại Ravenne, trong một gia đình nghèo túng, đến nỗi một trong số các anh Ngài đã phải thốt lên khi Ngài sanh ra: - "Chỉ còn thiếu nỗi bất hạnh này nữa thôi. Sao lại phải có nhiều người thừa hưởng cái di sản nhỏ nhoi này vậy". Và người mẹ kiệt sức đã không muốn cho đứa trẻ sơ sinh bú sữa mà thất vọng bỏ mặc nó. Một bà hàng xóm giảng giải cho bà rằng: - "Những con báo con hùm không bỏ con chúng, trong khi chúng ta là những người Kitô hữu lại bỏ rơi con cái mình sao ? Đứa trẻ mà người ta xua đuổi này, một ngày kia biết đâu lại chẳng là niềm hân hạnh của gia đình ?"

 

Người đàn bà can đảm này không tin lời mình nói lắm, nhưng đã cung ứng những săn sóc đầu tiên cho đứa bé nghèo khổ. Người mẹ mắc cỡ nên âu yếm ẵm lấy đứa trẻ. Bà đặt tên là Phêrô.

 

Năm năm sau, Phêrô mồ côi cha mẹ, người được trao cho người anh đã giận dữ đón nhận cuộc sinh hạ của Ngài. Bị đối xử như người làm thuê Ngài phải chăn heo, ngủ chuồng của súc vật, mặc rách rưới và ăn bánh đen. Một ngày kia nhặt được đồng tiền, của trời ơi ngạc nhiên đối với đứa trẻ không hề ăn hàng, Ngài mang tiền đi xin lễ cho cha mẹ. Chính vì vậy mà dường như cha mẹ đã chúc lành cho cả đời đứa trẻ, con mình.

 

Đamianô, người anh cả của Ngài đã làm linh mục đưa Ngài về Ravenna ở với mình. Anh cho Ngài ăn học và Phêrô đã tỏ ra thông minh, đến nỗi Ngài đã sớm trở thành giáo sư. Đứa trẻ bị khinh miệt ngày trước, bây giờ dạy học tại Parma rồi tại Ravenna. Để bày tỏ lòng biết ơn với người anh cả, Ngài nhận tên mình là Phêrô Đamiano. Ngài được may mắn về mọi mặt. Nhiều gia đình quí, phải gọi Ngài tới ở. Song những thành công không làm cho Ngài thôi cầu nguyện ăn chay. Dưới bộ áo ngoài, Ngài mặc một chiếc áo nhặm.

 

Trước danh tiếng ngày càng gia tăng, Ngài tự nhủ: - Ích lợi gì nếu tôi dính bén vào được của cải chóng qua này? Bởi vì một ngày kia, tôi sẽ phải giã từ tất cả, tại sao ngay từ bây giờ tôi không hiến dâng chúng cho Thiên Chúa ?

 

Thế là Ngài từ bỏ cuộc sống dễ dãi và gia nhập dòng Camaldules, Ngài chọn cái gì nặng nhọc nhất và lui vào vô tịch ở nhà dòng Phonte Avellna. Đời khổ hạnh và cầu nguyện sắp biến Ngài thành một vị thánh lớn. Ngài chỉ muốn khiêm tốn vâng phục và thống hối, nhưng trong khi ẩn mình đi, thì năm 1043, vì vâng lời, Ngài đã được đặt làm tu viện trưởng. Khi đó, Ngài tăng số các tu sĩ, lập nhiều tu viện, giúp đỡ các dòng khác. Ý kiến của Ngài luôn hướng thượng, đến nỗi người ta nói rằng: Ngài được Thánh Thần soi sáng.

 

Giáo hội đang trải qua một thời u buồn và người tu sĩ nghèo khổ hôm qua sắp giữ một vai trò lớn lao làm giảm bớt đau đớn của Roma. Những nết xấu bỉ ổi đè nặng trên triều đại Giáo hoàng. Lời nói của Thánh Thần lẫn sự hiện diện của Ngài chưa đủ, Ngài viết một tác phẩm, "cuốn sách về thành Gomorrha", để lột trần những lạm dụng đang làm cho Giáo hội phải tủi hổ. Còn chính Ngài, để làm cân bằng cho sự yếu đuối của những giám mục bất xứng, đã tự mình đền tội đánh đòn hàng ngày đến độ chảy máu, dành giờ để hát mười thánh vịnh như Ngài đã khuyên nhủ các tu sĩ. Ngài ăn chay ba ngày mỗi tuần.

 

Phêrô Đamianô đã muốn là một tu sĩ rốt cùng suốt đời. Nhưng năm 1057, Đức Stephanô IX đã đặt Ngài làm Hồng Y giám mục Ostia. Ngài phản đối, nhưng Đức Thánh Cha khi giảng giải cho Ngài đã cầm tay xỏ nhẫn và đeo thánh giá cho Ngài. Trách vụ giao phó cho Ngài thật lớn lao. Phêrô Damianô hiến trọn tâm hồn cho gia đình mới rộng lớn này. Ngài đón nhận mọi khó khăn, chiến đấu chống các lạc giáo, chấm dứt các xáo trộn của Giáo hội Milanô dẹp tan những bất đồng với xã hội giáo hoàng. Những lo lắng mệt nhọc không cản trở Ngài sẵn sàng hiến dâng đời mình, dù chỉ cho một linh hồn thôi.

 

Dù kiệt sức, Ngài vẫn dậy sớm để giải tội, không nản lòng, Ngài săn sóc những người bất hạnh, phân phát áo mặc bánh ăn cho họ, thăm viếng các bệnh nhân. Mỗi ngày để nhắc lại tình yêu của Chúa Kitô, Ngài rửa chân cho 12 người nghèo. Đối với những người về quê lập nghiệp, Ngài gửi đồ trợ giúp họ, Ngài nhân hậu đồng đều đối với những người giàu có, những người cũng gặp khó khăn và cố gắng làm cho họ sống bác ái vị tha hơn. Thư từ còn làm cho ảnh hưởng của Ngài lan rộng hơn.

 

Sau bao nhiêu nhọc mệt và phục vụ, Phêrô trở nên già nua, Đức Thánh cha cho phép Ngài trở lại với nếp sống nhà dòng, Ngài đã muốn căn phòng xấu nhất, ăn thứ bành dành cho heo, hành hạ mình bằng dây lưng sắt, tìm đền bù cho các tội nhân và thánh hóa mình hơn nữa. Ngài nói:

 

- Một chiến sĩ của Chúa Kitô phải biết mình có thể tiến đến đâu trên đường nhân đức.

 

Phêrô Đamianô đã định ngày thứ sáu phải được thánh hiến bằng chay tịnh và thống hối, để kính nhớ Chúa Giêsu đã chịu chết trên thánh giá, và ngày thứ bảy kính Đức Mẹ, Đấng mà Ngài đã soạn một bản kinh Nhật tụng để chúc khen.

 

Tuy đã cao niên, nhưng khi Đức Thánh Cha xin Ngài làm đại diện cho mình tại Pháp. Thánh nhân lên đường ngay. Ngài viếng thăm nhiều địa phận, dẹp tan nhiều cuộc cãi vã, đi tới tận Nước Đức, hoà giải nhà vua với vợ mình là hoàng hậu Berthe, mẹ vua xin được Ngài hướng dẫn. Rồi Ngài tiêu diệt các bè rối tại Florence và mang an bình lại cho Ravenna. Phêrô Đamianô lên cơn sốt ở Faenza. Tu viện Nữ Vương các thánh thiên thần tiếp đón Ngài, Ngài đã qua đời năm 1072 đang khi xin các tu sĩ vây quanh mình đọc kinh nhật tụng. Chính Ngài đã trước tác mộ bia của mình như sau : - "Mọi cái hôm nay đều phải qua đi để cho điều tồn tại mãi mãi tới gần. Hãy mộ mến những sự trên trời hơn những sự dưới đất, mộ mến điều tồn tại hơn cái rữa tàn. Ước gì tinh thần bạn đạt tới những đỉnh cao, tới được những nơi phát ra sự sống bạn".

http://conggiao.info/thanh-phero-damiano-giam-muc-tien-si-1007-1072-d-13910

II. BÀI HỌC

Bài học quí giá nhất khi đọc lại cuộc đời thánh thiện của các vị thánh đối với chúng ta là bàn tay của Thiên Chúa qua việc gìn giữ Giáo Hội của Người.

Thánh Phêrô Đamianô sống vào lúc Giáo Hội gặp nhiều phong ba bão tố. Hai vết thương đã đục khoét và làm bạc nhược sức sống của Giáo hội hơn cả là: “Tội buôn bán đồ thánh và đời sống phóng túng của hàng giáo sĩ. Tội xấu xa đó còn len lỏi vào cả ngai tòa thánh Phêrô do con người phóng túng của Biển đức X “.

Chúng ta có thể tưởng tượng Giáo hội thời kỳ ấy lâm vào một tình trạng rối ren, suy đồi đến mức nào không ?

Trong khoảng từ năm 1045- 1049, nghĩa là chưa đầy năm năm mà ngôi tòa thánh Phêrô đã có tới sáu lần thay ngôi đổi chủ.

Ấy là chưa kể đến những chuyện giáo chủ giả danh, những tội “buôn thần bán thánh”, những thói ăn chơi đàng điếm của hàng giáo sĩ và giáo dân… Hoàn cảnh đồi bại đó đã là nguyên cớ thúc đẩy bao người ly khai với Giáo hội để lập thành những bè đảng và giáo phái. Nhắc lại trang sử đen tối đó chính là thức tỉnh mối đau lòng của những tâm hồn đạo đức và có tâm huyết như Đamianô, nhưng đồng thời cũng khơi thêm ngọn lửa mến yêu và tin tưởng của chúng ta đối với Giáo hội, vì biết rằng “nếu Giáo hội chỉ là một tổ chức hoàn toàn nhân loại khác, thì chính những đớn hèn và đồi bại của hàng giáo sĩ đã giết chết Giáo hội từ lâu không để Giáo hội tồn tại đến ngày nay “. Nhưng sở dĩ trải qua bao cuộc thăng trầm cũng như qua bao cơn bách hại mà Giáo hội còn sống và trẻ trung là vì Giáo hội còn có Chúa ở với để nâng đỡ phù trì; vì Giáo hội còn là một tổ chức của Chúa, như lời Chúa Giêsu đã phán trước khi về trời: “Ta sẽ ở với các con cho đến tận cùng nhân thế”.

Chính vì thế mà chúng ta hãy hết lòng yêu mến Giáo Hội và tin vào Tình thương của Chúa và luôn góp phần nhỏ bé của chúng ta vào việc làm cho Giáo Hội của Chúa mỗi ngày mỗi thánh thiện và tốt đẹp hơn.

Lễ cung hiến Đền thờ vừa mới xây xong, Đức Giám mục chủ sự nêu đích danh từng người đã cộng tác cách này hay cách khác vào công việc chung. Khi ngài vừa dứt lời và sắp ban phép lành thì một em bé đứng gần bên nói lớn:

Bình tĩnh, Đức Giám mục hướng về em hỏi:

Được khuyến khích bởi sự chú ý của Đức Giám mục, em bé mạnh dạn trả lời:

- Thưa Đức cha, mỗi buổi trưa con đều đem cơm cho ba con xây đền thờ này.

Đức Giám mục và toàn thể cộng đoàn vỗ tay hoan hô sự đơn sơ và ý nghĩ ngộ nghĩnh của em. Rồi cộng đoàn đồng ý là em cũng góp phần vào việc chung dù không phải là công việc quan trọng và cực nhọc, nhưng với hạn tuổi cho phép, em đã góp phần của mình và đáng được ghi danh cám ơn như những người khác.

Mỗi người chúng ta, trong mọi hoàn cảnh đều có thể góp phần của mình vào công việc chung của Thiên Chúa, để xây dựng Giáo hội và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Giáo hội là đền thờ của Thiên Chúa mà mỗi người Kitô là một viên gạch đủ loại lớn nhỏ. Đền thờ này đã bị rạn nứt bởi những chia rẽ, những thiếu sót, những tội lỗi của các thành phần Dân Chúa, của mỗi người chúng ta. Vậy mỗi người đều có bổn phận góp phần mình để tái thiết sự hiệp nhất của Giáo hội.

Không một đóng góp chân thành nào dù nhỏ mọn đến đâu mà không được Thiên Chúa ghi công, và ân sủng của Thiên Chúa sẽ làm cho những đóng góp đó trổ sinh những hoa trái tốt đẹp.

Mỗi người môn đệ Chúa Kitô chúng ta là thành phần của xã hội và do đó được mời gọi đóng góp tích cực xây dựng xã hội ngày thêm tốt đẹp hơn. Chúng ta không thể tiêu cực chỉ trích những tệ đoan xã hội, nhưng hãy tích cực đóng góp vào những công việc tốt để xây dựng. Những đóng góp đó có được nhìn nhận và ghi công hay không, điều này không quan trọng, nhưng sẽ là điều đáng buồn nếu người môn đệ của Chúa không trở thành “Ánh sáng”, thành “Muối đất”, thành “Men” trong bột. Để xây dựng một xã hội mà trong đó con người sống xứng đáng với phẩm giá của mình hơn.

Không trổ sinh hoa trái tốt lành người Kitô có thể không còn là người Kitô đích thực nữa, chỉ “hữu danh vô thực” mà thôi. Lời Chúa quở trách những người Pharisêu sống đạo giả hình đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết đủ mọi thứ ô uế” (Mt 23,27).

Lạy Chúa, xin giúp con canh tân đời sống, và dấn thân hết khả năng để làm ích cho Giáo hội, và phục vụ xã hội con đang sống vì tình yêu Chúa.

Xin đừng để ai sút tài kém đức vì chịu ảnh hưởng của con; đừng để ai vì đồng hành với con mà không còn trong trắng, chân chất, dịu dàng và cao quý như trước.

Xin cho con luôn nhớ rằng: điều vĩ đại nhất con có thể làm cho Chúa là con đối xử tốt với anh chị em con. Amen.

https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-21-02-thanh-phero-damiano-53738