Trong bài Phúc Âm hôm nay, Phúc Âm Thánh Ký Mathêu
(8:28-34) cho Thứ Tư Tuần XIII Thường Niên, Thánh ký Mathêu thuật lại
việc Chúa Giêsu trừ quỉ cho hai người bị quỉ ám. Bài Phúc Âm về tình
trạng bị quỉ ám ở miền này cũng đã được Thánh ký Marcô và Luca thuật
lại, với một số chi tiết khác nữa: chẳng hạn cả 2 vị thánh ký kia chỉ
cho biết là 1 bị quỉ ám chứ không phải 2, và Thánh Luca còn có chi tiết
người bị quỉ ám không mặc quần áo (8:27), còn Thánh ký Marco dài dòng
chi tiết hơn: người bị quỉ ám mạnh đến độ không ai có thể xiềng xích;
quỉ xưng mình là đạo binh cùng xin được ở lại vùng ấy; đàn heo chừng 2
ngàn con v.v. (6:3,9,10).
Có mấy chi tiết hay hay trong câu chuyện trừ quỉ
có một không hai lần
này của Chúa Giêsu: trước hết là chi tiết không
phải thân nhân của hai nạn
nhân xin Chúa Giêsu trừ quỉ cho họ; sau nữa
là chi tiết "hai
người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người", trong
khi đó
có lẽ 2 người này chưa
bao giờ đã
từng gặp
Chúa Giêsu mà lại nhận ra Người, chắc
là nhờ đám quỉ tinh quái ám
họ; sau hết
là chi tiết chính Chúa Giêsu không trực tiếp ra tay trừ bọn quỉ ấy, mà
chính bọn quỉ muốn xuất khỏi hai người bị chúng ám này, để tránh khỏi bị
Người khu trừ: "Bọn
quỷ nài xin Người rằng: 'Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi
nhập vào bầy heo kia'".
Qua câu
chuyện này chúng ta thấy ma quỉ nhận biết Chúa Kitô là ai và đến thế
gian để làm gì: "Hỡi
Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông? Chưa tới lúc mà ông đã
đến đây làm khổ chúng tôi sao?" Đúng
như lời Thánh Gioan viết trong Thư Thứ Nhất của ngài: "Chính là để
phá hủy các công
việc của ma quỉ mà
Con Thiên Chúa đã tỏ mình ra" (3:8).
Công việc của ma quỉ là gì, nếu không phải là những gì liên quan đến
chết chóc, nên hai người bị quỉ ám đã sống ở nơi "mồ mả" chết chóc, và
chết chóc lại liên quan đến xác thịt (cả về nghĩa đen lẫn nghĩa
bóng - "khuynh hướng của xác thịt thiên về sự chết" -
Roma 7:6), nên
bọn quỉ đã xin nhập vào đàn heo là loài vật vốn được tiêu biểu cho xác
thịt, khiến cho "tất
cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết".
Quả vậy, sau nguyên tội, con người như bị quỉ ám, bởi bản tính của loài
người đã bị nọc độc tội lỗi và chết chóc của
ma quỉ tiêm nhiễm vào, khiến họ bắt đầu
xu hướng về tội lỗi và rất dễ sa ngã phạm tội. Bởi nơi bản thân họ đã
chất chứa sẵn mầm mống tội lội là đam mê nhục dục cùng tính mê nết xấu,
những thứ mầm mống tội lỗi đóng vai trò làm nội công cho ma quỉ, như thể
con người bị ma quỉ cài đặt sẵn tần số tội lỗi nơi họ, đến độ nó chẳng
cần cám dỗ con người mà chỉ cần sử dụng bộ phận viễn khiến - remote
control từ
hỏa ngục là con người cũng đủ quay cuồng mù quáng làm theo ý muốn
gian ác của chúng.
Cho dù con người có lãnh nhận Phép Rửa chăng nữa, họ chỉ được khỏi
nguyên tội (nếu mới sơ sinh) và
tư tội (nếu đã khôn lớn) cùng
với các hình phạt kèm theo tội lỗi, nhưng bản tính của họ vẫn còn nguyên
mầm mống nguyên
tội là đam
mê nhục dục cùng tính mê nết xấu và
vẫn phải chịu hậu quả nguyên tội là đau khổ và chết chóc. Tuy nhiên, bởi Phép
Rửa họ có được sự sống thần linh, một sự sống của Đấng Vượt Qua "nắm
toàn quyền trên trời dưới đất" (Mathêu 28:18), nhờ đó
họ có thể cùng với
Chúa Kitô Phục
Sinh chiến thắng tội lỗi và sự chết.
Có lẽ một trong những lý do tại sao miền đất trong bài Phúc Âm hôm nay
lại có nhiều quỉ đến như vậy, ở chỗ 2 người bị quỉ ám chứ không phải là
1 như các nơi khác, và đông như đàn heo 2 ngàn con, là vì, như câu kết
bài Phúc Âm cho biết:
"Các người chăn heo chạy trốn về thành, báo
tin ấy và nói về các người bị quỷ ám. Thế là cả thành kéo ra đón Chúa
Giêsu. Khi gặp Người, Họ xin Người rời khỏi vùng của họ". Đáng
lẽ họ phải vui mừng vì một người trong làng của họ bị quỉ ám được thoát
khỏi xiếng xích sự chết mới phải, và do đó họ phải năn nỉ van xin Đấng
có quyền trừ qủi ở với họ để quỉ khỏi trở lại nữa, đằng này họ lại mời
Người đi, tỏ ra sợ Đấng trừ quỉ hơn hơn là sợ chính ma qủi vốn tác hại
họ, cả người (nạn nhân bị quỉ ám) lẫn thú (đàn heo). Và đó cũng chính là
lý do ma quỉ trước khi bị Chúa Giêsu trục xuất ra khỏi nạn nhân của
chúng thì đã ngỏ ý xin Người, như Thánh ký Marco cho biết, cho ở lại
vùng đất như là sào huyệt của chúng ấy!
Đó là lý do, qua miệng Tiên tri Amos ở bài Đọc I hôm nay, Thiên Chúa đã
nhắn gọi họ như sau: "Các
ngươi hãy tìm sự lành, và đừng tìm sự dữ, để các ngươi được sống. Và như
vậy, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh sẽ ở cùng các ngươi, như các ngươi
đã nói. Các ngươi hãy ghét sự dữ, và yêu sự lành, hãy lập công nơi cửa
thành, như vậy có lẽ Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, sẽ thương xót
những kẻ còn sót lại bởi chi tộc Giuse". Vì ở câu họa
của Bài Đáp Ca hôm nay, chính Thiên Chúa đã khẳng định: "Ai
đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho biết ơn Thiên Chúa cứu độ" .
Thứ Năm
Bài Ðọc I: (Năm
II) Am
7, 10-17
"Ngươi hãy đi nói tiên tri cho
dân Ta".
Trích sách Tiên tri Amos.
Trong những ngày ấy, một vị tư tế
ở Bêthel, là Amasia, sai người đến với Giêrôbôam, vua Israel, mà thưa
rằng: "Amos đã nổi loạn chống đức vua, ngay trong nhà Israel, xứ sở
không chịu nghe các lời của y". Vì đây, Amos nói rằng: "Giêrôbôam sẽ
chết vì gươm, và dân Israel sẽ bị đày xa xứ sở".
Và Amasia đã nói với Amos: "Hỡi
nhà tiên tri, hãy trốn sang đất Giuđa mà kiếm ăn và nói tiên tri. Ðừng ở
Bêthel mà tiếp tục nói tiên tri nữa. Vì đây là nơi thánh của vua, là đền
thờ của vương quốc". Nhưng Amos trả lời Amasia rằng: "Tôi không phải là
tiên tri, cũng không phải con của tiên tri: nhưng tôi là một mục tử,
chuyên trồng cây sung. Chúa đã bắt tôi khi tôi đi theo đoàn vật, và Chúa
bảo tôi: "Ngươi hãy đi nói tiên tri cho dân Israel của Ta". Và này, hãy
nghe lời Chúa phán: "Người bảo: Chớ nói tiên tri chống lại Israel, chớ
chỉ trích dòng họ kẻ theo dị thần". Chính vì thế mà Chúa phán như sau:
"Vợ ngươi sẽ gian dâm trong thành phố. Con trai con gái ngươi sẽ gục ngã
dưới lưỡi gươm. Ruộng vườn ngươi sẽ bị phân tán. Chính ngươi, ngươi sẽ
chết trên đất nhơ nhớp, và dân Israel sẽ bị đày ải xa quê hương mình".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 18,
8. 9. 10. 11
Ðáp: Phán
quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy (c. 10b).
Xướng: 1) Luật pháp Chúa toàn
thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. - Ðáp.
2) Giới răn Chúa chính trực, làm
hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. - Ðáp.
3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết,
còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy. -
Ðáp.
4) Những điều đó đáng chuộng hơn
vàng, hơn cả vàng ròng; ngọt hơn mật và hơn cả mật chảy tự tàng ong. -
Ðáp.
Alleluia: Ga 8,
12
Alleluia, alleluia! - Chúa phán:
"Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống". -
Alleluia.
Phúc Âm: Mt 9,
1-8
"Họ tôn vinh Thiên Chúa đã ban
cho loài người quyền năng như thế".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thuyền,
vượt biển mà về thành của Người. Bấy giờ người ta đem đến cho Người một
kẻ bất toại nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin, Chúa Giêsu nói với
người bất toại rằng: "Hỡi con, con hãy vững tin, tội con được tha rồi".
Bấy giờ mấy luật sĩ nghĩ thầm rằng: "Ông này nói phạm thượng". Chúa
Giêsu biết ý nghĩ của họ liền nói: "Tại sao các ngươi suy tưởng những sự
xấu trong lòng? Bảo rằng "Tội con được tha rồi", hay nói "Hãy chỗi dậy
mà đi", đàng nào dễ hơn? Nhưng (nói thế là) để các ngươi biết rằng trên
đời này Con Người có quyền tha tội". Bấy giờ Người nói với người bất
toại: "Con hãy chỗi dậy, vác giường mà về nhà con". Người ấy chỗi dậy và
đi về nhà. Thấy vậy dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho
loài người quyền năng như thế.
Ðó là lời Chúa.


Ngày 29 tháng 6
Thứ Hai
Lễ Thánh Phêrô và
Thánh Phaolô, Tông đồ
Lễ Trọng



Bài Ðọc I: Cv 12,
1-11
"Bây giờ tôi biết thật Chúa đã cứu
tôi khỏi tay Hêrôđê".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, vua Hêrôđê làm
khổ mấy người trong Hội thánh. Ông đã dùng gươm giết Giacôbê anh của Gioan.
Ông thấy việc ấy đẹp lòng người Do-thái, nên lại cho bắt cả Phêrô. Bấy giờ
là ngày lễ Bánh Không Men. Bắt được người, vua cho tống ngục, giao cho bốn
đội binh, mỗi đội bốn người canh giữ, có ý đợi sau lễ Vượt Qua, sẽ điệu
người ra cho dân. Phêrô bị giam trong ngục, nhưng Hội thánh vẫn luôn luôn
cầu nguyện cùng Chúa cho người. Ðến khi vua Hêrôđê sắp điệu người ra, thì
đêm ấy, Phêrô phải mang xiềng xích, nằm ngủ giữa hai tên lính, và có quân
canh giữ trước cửa ngục. Bỗng có thiên thần Chúa đứng kề bên, một luồng ánh
sáng chiếu giãi vào ngục; thiên thần đập vào cạnh sườn Phêrô, đánh thức
người dậy mà rằng: "Hãy chỗi dậy mau". Xiềng xích liền rơi khỏi tay người.
Thiên thần bảo người rằng: "Hãy thắt lưng và mang giày vào". Người làm y như
vậy. Thiên thần lại bảo rằng: "Hãy khoác áo vào mà theo ta".
Người liền đi ra theo thiên thần, mà
chẳng biết việc thiên thần làm có thật chăng, người tưởng như trong giấc
mộng. Qua khỏi chặng thứ nhất và chặng thứ hai, thì đến cửa sắt thông ra
thành. Cửa ấy tự nhiên mở ra. Thiên thần và Phêrô rảo qua một phố nọ, rồi
thiên thần biến đi. Phêrô hoàn hồn và nói rằng: "Bây giờ tôi biết thật Chúa
đã sai thiên thần cứu tôi khỏi tay Hêrôđê và khỏi mọi âm mưu của dân
Do-thái".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 33, 2-3.
4-5. 6-7. 8-9
Ðáp: Chúa đã cứu
tôi khỏi điều lo sợ (c. 5b).
Xướng: 1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi
lúc; miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh
diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. - Ðáp.
2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa,
cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và
Người đã cứu tôi khỏi điều lo sợ. - Ðáp.
3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui
tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã
nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. - Ðáp.
4) Thiên Thần Chúa hạ trại đồn binh
chung quanh những người sợ Chúa và bênh chữa họ. Các bạn hãy nếm thử và hãy
nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao; phúc đức ai tìm nương tựa ở
nơi Người. - Ðáp.
Bài Ðọc II: 2 Tm 4,
6-8. 17-18
"Từ đây triều thiên công chính đã
dành cho cha".
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô
Tông đồ gửi Timôthêu.
Con thân mến, phần cha, cha đã già
yếu, giờ ra đi của cha đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính
nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin. Từ đây triều thiên
công chính đã dành cho cha. Và trong ngày đó, Chúa là Ðấng phán xét chí công
sẽ trao lại cho cha mũ triều thiên ấy, nhưng không phải cho cha mà thôi, mà
còn cho những kẻ yêu mến trông đợi Người xuất hiện. Nhưng có Chúa phù hộ
giúp sức cho cha, để nhờ cha, việc giảng đạo nên trọn, và tất cả Dân Ngoại
được nghe giảng dạy: và cha đã thoát được khỏi miệng sư tử. Nguyện cho Người
được vinh quang muôn đời. Amen.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Mt 16, 18
Alleluia, alleluia! - Con là Ðá, trên
đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được.
- Alleluia.
Phúc Âm: Mt 16,
13-19
"Con là Ðá, Thầy sẽ trao cho con
chìa khoá nước trời".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt thành
Cêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: "Người ta bảo Con Người là ai?"
Các ông thưa: "Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác
lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó". Chúa Giêsu nói với các ông:
"Phần các con, các con bảo Thầy là ai?" Simon Phêrô thưa rằng: "Thầy là Ðức
Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống".
Chúa Giêsu trả lời rằng: "Hỡi Simon
con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải
cho con, nhưng là Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo cho con biết:
Con là Ðá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ
không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời. Sự gì con cầm
buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên
trời cũng cởi mở".
Ðó là lời Chúa.


ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ GIẢNG LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ THÀNH PHAOLÔ
Nhị vị Tông đồ Phêrô và Phaolô hiện lên trước chúng ta như những vị chứng
nhân. Các vị không bao giờ mệt mỏi trong việc rao giảng và hành trình như
những vị thừa sai từ mảnh đất của Chúa Giêsu đến chính Roma. Ở đó, các vị đã
cống hiến chúng từ tột dỉnh của mình, khi các vị hiến dâng mạng sống mình
như những vị tử đạo. Nếu chúng ta tiến vào cốt lõi của chứng từ ấy, chúng ta
mới có thể thấy các vị như những chứng nhân cho cuộc sống, những
chứng nhân cho việc thứ tha và những chứng
nhân cho Chúa Giêsu.
Những chứng nhân cho cuộc sống.
Tuy nhiên, đời sống của các vị không phải là trơn tru ngon lành gì. Cả hai
vị đều rất sùng đạo: Thánh Phêrô là một trong những môn đệ đầu tiên (xem
Gioan 1:41), và Thánh Phaolô là một con người “nhiệt thành với truyền thống
của tổ tiên” (Galata 1:14). Tuy nhiên, các vị cũng phạm những lầm lỗi to
lớn: Thánh Phêrô đã chối Chúa, còn Thánh Phaolô đã bách hại Giáo Hội của
Chúa. Cả 2 vị đều bị cảm thấy nhức nhối trước vấn nạn của Chúa Giêsu: “Simon
con Gioan, con có yêu mến Thày hay chăng? (Gioan 21:15); “Saolê, Saolê, tại
sao ngươi lại bắt bớ Ta?” (Tông Vụ 9:4). Thánh Phêrô đã cảm thấy buồn khổ
trước câu hỏi của Chúa Giêsu, còn Thánh Phaolô trở nên mù lòa trước những
lời của Người. Chúa Kitô đã gọi đích danh các vị và đã biến đổi cuộc đời của
các vị. Sau khi đã xẩy ra tất cả những điều ấy thì Người đặt tin tưởng vào
các vị, tin vào kẻ đã chối bỏ mình và tin vào kẻ đã bách hại thành phần môn
đồ của mình, tin vào hai tội nhân thống hối. Chúng ta có thể ngẫm nghĩ rằng
tại sao Chúa đã không muốn cống hiến cho chúng ta hai nhân chứng
hoàn toàn tinh
vẹn, lý lịch thanh bạch và đời sống bất khả trách cứ? Tại sao là Phêrô mà
không phải là Gioan? Tại sao là Phaolô mà không phải là Barnabê?
Đây là một bài học cả thể: khởi điểm của đời sống Kitô hữu không phải là
tính chất xứng đáng của chúng ta; thật vậy, Chúa có thể hoàn thành chíu xíu
nơi những ai nghĩ rằng mình tốt lành và đàng hoàng. Bất cứ khi nào chúng ta
coi mình thong minh hơn hay khá hơn người khác thì bấy giờ là
khởi điểm của tận cùng. Chúa không làm phép lạ nơi những ai coi mình là công
chính, nhưng với những ai cảm thấy mình bần cùng thiếu thốn. Người không bị
lôi cuốn bởi những gì là thiện hảo của chúng ta; đó không phải là lý do tại
sao Người yêu thương chúng ta. Người yêu thương chúng ta đúng như chúng ta
là; Người tìm kiếm những ai không tự mãn, nhưng sắn sang mở lòng mình ra cho
Người. Những con người giống như Thánh Phêrô và Phaolô là những con người
trong sang trước nhan Thiên Chúa. Thánh Phêrô liền thưa cùng Chúa Giêsu
rằng: “Con là một con người tội lỗi” (Luca 5:8). Thánh
Phaolô viết rằng ngài “nhỏ mọn nhất trong các tông đồ, không xứng đáng được
gọi là tông đồ” (1Corinto 15:9). Dọc suốt cuộc đời của mình, các vị bảo tồn
lòng khiêm nhượng này, cho đến cùng. Thánh Phêrô đã chết tử giá lộn ngược,
vì ngài không coi mình xứng đáng được nên giống Chúa. Thánh Phaolô luôn
thích thú với tên gọi của mình là “bé nhỏ - little”, quên đi tên gọi của
mình là Saolê, tên của vị vua đầu tiên của dân ngài. Cả 2 vị đều hiểu rằng
thánh thiện không phải là ở chỗ nâng mình lên mà là hạ mình xuống. Thánh
thiện không phải là một trận đấu, mà là vấn đề trao phó cho Chúa từng ngày
tình trạng nghèo khốn của mình, Đấng thực hiện những điều cao trọng cho
những ai thấp hèn. Đâu là bí quyết làm cho các vị kiên trì giữa nỗi yếu hèn
của các vị? Chính là ơn tha thứ của Chúa.
Chúng ta hãy nghĩ đến các vị như là nhân chứng cho ơn tha
thứ nữa. Nơi những sai phạm của mình, các vị đã được gặp gỡ
lòng thương xót lãnh liệt của Chúa, Đấng đã tái sinh các vị. Nơi việc tha
thứ của Người, các vị đã gặp được nỗi an bình và niềm vui khôn tả. Nghĩ lại
những sai phạm của mình, các vị đã trải qua những cảm giác lỗi lầm. Biết bao
nhiều lần Thánh Phêrô đã nghĩ lại việc ngài chối Chúa! Biết bao nhiêu hối
hận Thánh Phaolô đã cảm thấy vì đã gây đớn đau cho rất nhiều kẻ vô tội! Về
phương diện loài người, các vị đã sai phạm. Tuy nhiên, các vị đã gặp được
một tình yêu lớn lao hơn cả những sai phạm của các vị, một ơn tha thứ mạnh
lẽ để để chữa lành ngay cả các cảm giác tội lỗi của các vị. Chỉ khi nào
chúng ta cảm thấy ơn tha thứ của Thiên Chúa chúng ta mới thực sự cảm thấy
mình được tái sinh. Từ đó chúng ta mới bắt đầu lại, bắt đầu lại từ ơn tha
thứ; từ đó chúng ta mới tái nhận thức chúng ta thực sự là ai: trong việc
xưng thú các tội lỗi của chúng ta.
Là thành phần nhân chứng cho cuộc sống cũng như cho ơn tha thứ, Thánh Phêrô
và Phaolô cuối cùng đã trở thành các nhân chứng cho Chúa
Giêsu. Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa hỏi: “Người ta bảo Con Người là
ai?” Câu trả lời gợi lại các hình ảnh trong quá khứ: “Gioan Tẩy Giả, Elia,
Giêrêmia hay một trong các tiên tri”. Những con người đáng kể, nhưng tất cả
đều đã chết. Thay vào đó, Thánh Phêrô đáp lại rằng: “Thày là Đức Kitô”
(Mathêu 16:13-14,16). Đức Kitô, tức là Đấng Thiên Sai. Một lời không hướng
về quá khứ mà là về tương lai: Đấng Thiên Sai là một nhân vật đang được mong
đợi, Người là những gì mới mẻ, Đấng mang đến cho thế giới việc xức dầu của
Thiên Chúa. Chúa Giêsu không phải là quá khứ mà là hiện tại và là tương lai.
Người không phải là một nhân vật xa cách cần phải tưởng nhớ mà là nhân vật
được Thánh Phêrô thân tình nói rằng: “Thày là Đức Kitô”. Đối với những ai là
nhân chứng của Người thì Chúa Giêsu không phải chỉ là một nhân vật lịch sử;
Người là một con người sống động: Người là những gì mới mẻ, không phải là
vật gì chúng ta đã thấy, là những gì là mới mẻ của tương lai chứ không phải
là ký ức trong quá khứ.
Chứng nhân, bởi thế, không phải là ai đó biết chuyện về Chúa Giêsu, mà là
người cảm nghiệm thấy chuyện tình với Chúa Giêsu. Cuối cùng thì chứng nhân
chỉ công bố điều này là Chúa Giêsu đang sống động và Người là bí quyết của
đời sống. Thật vậy, Thánh Phêrô, sau khi nói rằng: “Thày là Đức Kitô” thì
nói tếp rằng: “Con Thiên Chúa hằng sống” (câu 16). Chứng
nhân xuất phát từ một cuộc gặp gỡ Đức Giêsu sống động. Ở tâm điểm đời sống
của Thánh Phaolô, chúng ta cũng thấy cùng ngôn từ xuất phát từ cõi lòng của
Thánh Phêrô: Đức Kitô. Thánh Phaolô lập đi lập lại danh
xưng này gần 4 trăm lần trong các bức thư của ngài! Đối với ngài, Chúa Kitô
chẳng những là một mô phạm, một mẫu gương, một điểm qui chiếu: Người là
chính sự sống nữa. Thánh Phaolô viết: “Đối tôi sống là Chúa Kitô” (Philiphe
1:21). Chúa Giêsu là hiện tại và là tương lai của ngài, đến độ ngài coi qua
khứ như cặn bã so với kiến thức siêu việt
về Chúa Kitô (xem Philiphe 3:7-8).
Thưa anh chị em, trước sự hiện diện của những vị nhân chứng này, chúng ta
hãy tự vến xem: “Tôi có lập lại hằng ngày việc tôi gặp gỡ riêng với Chúa
Giêsu hay chăng?” Chúng ta có tò mò tìm hiểu về Chúa Giêsu, hay có chuyên
chú đến các vấn đề của Giáo Hội hay các tin về đạo giáo hay chăng? Chúng ta
có thể thiết lập các mạng điện toán hay các báo chí mà nói về
các sự linh thánh hay chăng? Thế nhưng điều này vẫn ở lãnh vực về những gì
dân chúng nói? Chúa Giêsu chẳng màng chi tới các thứ thăm dò, lịch sử
quá khứ hay thống kê. Người không tìm kiếm những biên soạn về tôn giáo, lại
càng không tìm kiếm thành phần Kitô hữu “trang nhất – front page” hay “theo
thống kê”. Người tìm kiếm những chứng nhân nói cùng Người từng ngày rằng:
“Lạy Chúa, Chúa là sự sống của con”.
Được gặp gỡ Chúa Giêsu và được cảm nghiệm thấy ơn tha thứ của Người, các vị
Tông Đồ này đã làm chứng về Người bằng sống cuộc đời mới: các vị không còn
nhìn lại quá khứ, mà là hiến trọn bản thân mình. Các vị không còn mãn nguyện
nửa vời nữa, mà là theo đuổi mức độ duy nhất có thể đối với những ai theo
Chúa Giêsu, đó là mức độ của một tình yêu vô hạn. Các vị được “tuôn đổ như
là một
thứ tửu tế” (xem
2 Timôthêu 4:6). Chúng ta hãy xin ơn đừng trở thành thứ Kitô hữu ương ương
dở dở, sống nửa vời, để cho tình yêu của chúng ta trở thành nguội lạnh.
Chúng ta hãy tái nhận thức chúng ta thực sự là ai qua mối lien hệ hằng ngày
với Chúa Giêsu, và nhờ quyền năng của ơn Người tha thứ. Như Người đã hỏi
Thánh Phêrô, giờ đây Người cũng hỏi chúng ta: “Con bảo Thày là ai?”, “Con có
yêu mến Thày hay chăng?” Chúng ta hãy để cho những lời này thấm nhập cõi
lòng của chúng ta và tác động chúng ta không tiếp tục thỏa nguyện với những
gì là tối thiểu mà là nhắm đến những cao điểm, nhờ dó cả chúng ta nữa có thể
trở nên thành phần chứng nhân sống động cho Chúa Giêsu.
Hôm nay chúng ta làm phép những chiếc áo bào tổng giám mục cho các vị TGM
được bổ nhiệm trong năm qua. Áo bào này nhắc nhở đến con chiên mà vị mục tử
được kêu gọi vác trên vai của mình. Nó là dấu hiệu cho thấy các vị mục tử
không sống cho bản thân mình mà là cho chiên. Nó là một dấu hiệu cho thấy để
có được sự sống chúng ta cần phải thí nó đi, bỏ nó đi…. (mấy lời cuối
cùng ĐTC ngỏ cùng các vị đại diện Tòa Thượng Phụ Đại Kết…)
http://w2.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2019/documents/papa-francesco_20190629_omelia-pallio.html
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết
nhấn mạnh tự ý bằng mầu
Các Thánh Tử Đạo Roma Tiên Khởi
30/6 Thứ Ba

“Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát
khỏi. Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gẫy”
(Tv 33, 20-21).
Các Thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma đã anh dũng bảo vệ đức tin để
làm chứng cho Chúa Giêsu. Các Ngài đã làm vinh danh Chúa và đã làm cho đức
tin rực sáng. Các Ngài xứng đáng lãnh nhận triều thiên Nước Trời và góp phần
xây dựng giáo đoàn Roma trần thế.
Các Thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma là các vị anh hùng gồm một số
rất đông đã đổ máu đào để tuyên xưng danh Chúa, làm chứng cho Chúa dưới thời
bạo Chúa Néron: Các Ngài đã bị người ta vu khống là đã đốt thành Roma, phá
hủy thành, nên các Ngài đã bị Néron ra lệnh hành quyết, xử tử bằng mọi cực
hình, bằng mọi phương cách tàn bạo, dã man. Có những vị đã bị nhốt tù, đánh
đập tàn ác, bỏ đói cho đến chết. Có những vị bị thú vật cắn xé, dầy vò, đùa
giỡn, những vị khác bị đốt, bị nung trên giường sắt, có những vị bị treo
ngược trên thập giá, có những vị khác bị đốt cháy sáng như những ngọn đuốc
trong đêm đen. Tuy nhiên, cảm nghiệm Lời Chúa nói: "Anh em vẫn một lòng gắn
bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp gian nan thử thách. Vì thế, Thầy sẽ ban
quyền cai trị cho anh em để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy, trên
vương quốc của Thầy” (Lc 22, 28 - 30) hoặc “Các thánh đã theo chân Đức Kitô,
được vui mừng trên thiên quốc. Các Ngài đã đổ máu mình ra, vì lòng yêu mến
Đức Kitô, nên luôn được hoan hỷ với Người" (Ca nhập lễ, lễ nhiều Thánh tử
đạo). Các thánh tử đạo đã hân hoan chịu chết.
“Hạt giống gieo xuống đất không thúi đi...”, các Thánh tử đạo tiên khởi của
giáo đoàn Roma là những môn đệ của các tông đồ, các Ngài đã được Chúa
thương, tuyển lựa để nên như của lễ đầu mùa hiến dâng cho Thiên Chúa và trở
nên hạt giống đức tin gieo vào lòng đất cho hoa trái được nẩy nở tốt tươi.
Các Ngài đã đổ máu ra để làm phát sinh Hội Thánh Roma. Các Ngài xứng đáng
được Chúa thưởng công và Giáo Hội tôn vinh vì các Ngài vẫn một lòng gắn bó
với Chúa (Lc 22, 28).
Lạy Chúa, Chúa đã dùng máu các thánh tử đạo thánh hiến giáo đoàn Roma trong
những bước đầu. Vì các thánh đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ đức tin, xin
cho cuộc chiến thắng vẻ vang của các Ngài làm cho chúng con được bền lòng
vững chí (Lời
nguyện nhập lễ, lễ các Thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma).
(Sưu tầm)
https://tgpsaigon.net/bai-viet/cac-thanh-tu-dao-tien-khoi-cua-giao-doan-roma-42710
Sau khi Chúa Giê-su về trời, và đặc biệt là sau cuộc bách hại nhắm vào các
Ki-tô hữu tại Giê-ru-sa-lem, các môn đệ của Ngài đã mau chóng có mặt tại rất
nhiều nơi. Và trong một thời gian ngắn sau đó, các Ki-tô hữu đã hiện diện
tại kinh thành muôn thuở. Vì là một nhóm nhỏ, lại có lối sống khác biệt một
cách căn bản đối với dân ngoại, nên các Ki-tô hữu tiên khởi của Giáo đoàn
Rô-ma đã bị nhìn xem với con mắt nghi kỵ. Trong các năm đầu tiên của Giáo
hội, các Ki-tô hữu luôn phải sống trong sự chế nhạo và dè bửu. Dù vậy, cộng
đoàn Ki-tô hữu càng ngày càng lớn mạnh, càng thêm đông số và càng được nhiều
người biết tới.
Khi các cộng đoàn Ki-tô giáo càng lớn mạnh, và khi toàn bộ tư tưởng Ki-tô
giáo càng ngày càng được biết tới, trong khi tư tưởng này lại biện phân một
cách căn bản với giới ngoại giáo, thì cũng là lúc sự chống đối nhắm vào tôn
giáo non trẻ có vẻ như rất nguy hiểm cho nhà nước này, cũng càng ngày càng
tăng lên. Hoàng đế Nê-rô (54-68) đã phát động một cuộc bách hại nhắm vào các
Ki-tô hữu, và cuộc bách hại này đã kéo dài tới hơn 250 năm. Vào tháng 07 năm
64, một cuộc hỏa hoạn đã xảy ra tại thành phố Rô-ma. Theo tương truyền,
chính hoàng đế Nê-rô đã ra lệnh thực hiện cuộc hỏa hoạn đó để lấy hứng làm
thơ. Tuy nhiên, cuộc hỏa hoạn đã diễn ra ngoài tầm kiểm soát và đã gây ra
rất nhiều thiệt hại, nên đã khiến dân chúng nổi loạn. Để tìm cách chối tội
và trấn an dân chúng, hoàng đế Nê-rô đã đổ lỗi cho các Ki-tô hữu rằng, họ là
những người đã thiêu đốt thành phố. Và vì thế, rất đông tín hữu đã bị bắt
giam. Tất nhiên, các tín hữu đã không bao giờ thừa nhận việc gây hỏa hoạn,
nhưng họ lại công khai tuyên xưng Đức Tin Ki-tô giáo của mình. Và việc công
khai tuyên xưng Đức Tin như thế là đủ để bị khép vào án tử hình. Và để thực
hiện án tử hình trên các Ki-tô hữu, hoàng đế Nê-rô đã không cho phép thi
hành việc hành hình họ một cách đơn giản, nhưng ông ta đã nghĩ ra những cuộc
tra tấn và những cách hành hình hết sức man rợ, chẳng hạn như cho sư tử đói
vào xé xác các Ki-tô hữu, hay cho đóng đi các Ki-tô hữu vào Thập Giá rồi tẩm
dầu vào thân thể họ, sau đó châm lửa đốt như một ngọn đuốc sống v.v…
Sử gia Tacitus, người Rô-ma và cũng là một người ngoại giáo, đã mô tả lại
trong cuốn thứ 15 bộ biên niên sử của ông về cuộc bách hại này. Theo những
lời ông viết, một số người rất đông đã bị hành hình:
Để tránh tiếng đồn rằng, chính ông là người đã đốt thành phố Rô-ma, „hoàng
đế Nê-rô đã tìm cách đổ lỗi cho người khác, và ra lệnh trừng phạt những
người bị căm thù vì tội ác của họ, đó là những người mà dân chúng gọi là
Ki-tô hữu. Danh xưng này bắt nguồn từ ông Ki-tô; ông này đã bị hành hình bởi
tổng trấn Phong-xi-ô Phi-la-tô, dưới thời trị vì của hoàng đế Tiberius… Vì
thế, trước tiên người ta bắt giam tất cả những ai tuyên xưng rằng, mình là
Ki-tô hữu; sau đó, những người này khai ra rằng, họ thuộc về một đám người
rất đông. Họ không chỉ bị kết tội là những kẻ gây ra vụ đốt phá, nhưng còn
bị quy cho tội rằng, họ là những kẻ thù ghét tất cả mọi người. Người ta biến
những kẻ bị kết án tử hình thành những vở kịch. Người ta nhốt họ vào trong
những chiếc chuồng dành cho thú vật, và để cho họ bị cắn xé bởi những con
chó, người ta đóng đinh họ vào Thập Giá rồi châm lửa để đốt họ, và sau khi
màn đêm ập xuống, người ta đốt họ như là đốt những ngọn đuốc. Hoàng đế Nê-rô
đã giao vườn thượng uyển của hoàng cung cho người ta thực hiện những vở kịch
này, cũng như đã ra lệnh tổ chức một hý trường để biểu diễn những màn kịch
này: Trong cảnh một người lái xe, ông hòa mình vào giữa đám đông, hay đứng
trên xe của mình…“
Người ta cho rằng, số các Ki-tô hữu bị hành hình trong cuộc bách hại của
hoàng đế Nê-rô là rất nhiều và không thể đếm nổi. Còn theo Thánh Hieronymus,
có tổng cộng 979 Ki-tô hữu đã bị hành hình trong vụ này. Hầu hết những Ki-tô
hữu đó đều là những người vô danh, giờ đây không ai biết đến danh tánh hay
tên tuổi của họ. Vì thế, trong suốt một thời gian dài, các vị Tử Đạo này đã
không được Giáo hội cử hành Lễ kính nhớ.
Mãi tới năm 1923, một Đại Lễ kính chung tất cả các Thánh Tử Đạo mới được cử
hành lần đầu tiên tại Rô-ma. Sau đó, từ năm 1969, với cuộc cải tổ Lịch Phụng
Vụ, ngày Lễ này đã chính thức được ghi vào trong lịch Kính Các Thánh chung
của toàn Giáo hội Công Giáo, và được đổi tên thành Lễ Kính Các Thánh Tử Đạo
Tiên Khởi của Giáo đoàn Rô-ma. Kể từ đó, Giáo hội cử hành Lễ này vào ngày 30
tháng 06, sau Đại Lễ Kính Hai Thánh Phê-rô và Phao-lô Tông Đồ, ở bậc Lễ Nhớ
không buộc.
Lm. Đa-minh Thiệu
https://daminhtamhiep.net/2016/06/cac-thanh-tu-dao-tien-khoi-cua-giao-doan-ro-ma/
Những người mà chúng ta mừng kính hôm nay đều có một điểm chung: đó là
các ngài đã hy sinh từ bỏ mạng sống mình vì Chúa Kitô. Các ngài được
phúc tử vì đạo bởi các ngài là những người đã noi theo lối Đức Chúa
Giêsu.
Những người mà chúng ta mừng kính hôm nay đều có một điểm chung: đó là
các ngài đã hy sinh từ bỏ mạng sống mình vì Chúa Kitô. Các ngài được
phúc tử vì đạo bởi các ngài là những người đã noi theo lối Đức Chúa
Giêsu. Vào năm 64, khi đám cháy bất ngờ phát tỏa trong thành Rôma ngày
16 tháng Bảy. Người ta đều cho rằng chính hoàng đế là người phải lãnh
trách nhiệm. Khi hai phần ba thành phố Rôma bị thiêu rụi, sự căm tức
phẫn nộ bắt đầu dâng cao. Nêrô hoảng hồn lo sợ. Ông cần một người đứng
mũi chịu sào; và thế là, ông đã đổ tội vụ gây ra hỏa hoạn cho các Kitô
hữu.
 |
|
Tất cả những vị đó đều là môn đệ của các thánh tông đồ, các
ngài đã được hiến dâng cho Chúa như của lễ đầu mùa |
Taxitô, một sử gia danh tiếng thời ấy, đã ghi nhận rằng các Kitô hữu đã
phải chịu những cái chết thật dã man hiểm độc. Một số bị ném cho các thú
hoang ăn thịt. Số khác bị trói vào các cột trụ và trở nên những “ngọn
đuốc người” thắp sáng các đường phố Rôma. Chúng ta không biết được chính
xác tổng số các vị anh hùng là bao nhiêu, nhưng chứng từ đời sống và lễ
vật của các ngài đã gây một ấn tượng đặc biệt cho mọi người. Cuộc bách
hại khủng bố đầu tiên của Nêrô dù là hoàng đế Rôma cũng chẳng kéo dài
mãi được. Giáo hội càng bị bách hại thì Giáo hội càng phát triển. Các
thánh tử vì đạo đã trả một giá rất đắt để những ai bước theo các ngài sẽ
có được cơ hội giữ vững đức tin.
Chúng ta hãy cầu xin các thánh tử đạo tiên khởi Rôma ban cho lòng can
đảm để trung thành với những điều Giáo hội truyền dạy. Các thánh tử đạo
này cũng nhắc nhớ chúng ta hãy nên nghiêm túc học hỏi về đức tin và đọc
các sách vở Công giáo lành mạnh.
(theo tinmung.net)
http://www.cgvdt.vn/lich/hanh-cac-thanh/cac-thanh-tu-dao-tien-khoi-cua-giao-doan-roma_a3007
Sau Jerusalem và Antioch, Roma là trung tâm quan trọng
nhất của Giáo Hội thời sơ khai. Nhiều tín hữu đã đến sinh sống tại Roma: một
số là Do Thái, nhưng phần đông là dân ngoại tòng giáo.
Hôm nay, chúng ta mừng kính các tín hữu đã chịu bách hại
dưới thời bạo vương Nero, sau cuộc hỏa hoạn năm 64 tại Roma.
Sống gương mẫu giữa thế gian.
Đức tin Kitô Giáo đã sớm lan truyền đến Roma, trung tâm
của thế giới văn minh vào thời kỳ ấy. Có lẽ các tín hữu đầu tiên tại thủ đô
của đế quốc Roma là những người Do Thái tòng giáo. Họ đã tiếp nhận đức tin
tại Jerusalem hoặc một thành phố nào đó thuộc miền Tiểu Á, nơi đã được thánh
Phaolô giảng đạo. Đức tin được truyền bá từ người này sang người nọ, giữa
những nhóm bạn hữu và thân nhân… Thánh Phêrô đã đến Roma vào khoảng năm 43
và củng cố cho cộng đồng Kitô Giáo bé nhỏ tại đây. Từ Roma, đạo thánh đã lan
truyền sang nhiều miền khác của đế quốc. Hoàn cảnh an bình của đế quốc Roma
thời ấy tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu các luồng tư tưởng
và thông tin về những điều mới lạ, tất cả đều góp phần cho việc truyền bá
Kitô Giáo. Các con đường khởi từ Roma dẫn đến các vùng xa xăm nhất của đế
quốc, các đoàn tàu thương mại thường xuyên vượt Địa Trung Hải, tất cả đều
thuận lợi cho việc truyền bá Kitô Giáo khắp đế quốc.1
Thật khó mà trình bày tiến trình cải hóa và trình tự của
kinh nghiệm tác động đến từng cá nhân trở lại với Kitô Giáo tại Roma trong
thế kỷ I, cũng như hiện nay, vì mỗi cuộc trở lại luôn là một phép lạ của ơn
thánh và sự đáp ứng của từng cá nhân với ơn Chúa. Chắc chắn cuộc sống gương
mẫu của các tín hữu, hương thơm của Chúa Kitô – bonus odor Christi2 – cũng
là một tác nhân có tính quyết định, ảnh hưởng đến môi trường làm việc qua
các yếu tố như niềm vui, đức bác ái, sự cảm thông dành cho mọi người, đời
sống khổ hạnh, và tư cách nhân bản cao thượng… Các tín hữu nam nữ là những
người phấn đấu sống đức tin trọn vẹn giữa những hoạt động thường ngày.
Daniel là một thanh niên, Joseph là một nô lệ. Có người như Aquila làm nghề
bán vải nhuộm trong một cửa hàng; người thì làm lính canh ngục; có người như
Cornelius làm bách quân trưởng; Timothêu là người yếu bệnh; Onesimus là nô
lệ bỏ trốn. Tất cả những loại người khác nhau này đều được đức tin qui hồi.
Những nghề nghiệp và điều kiện của họ không tạo nên ngãng trở. Mọi người đều
có thể nên thánh, nam và nữ, trẻ và già, nô lệ và tự do, binh lính và dân
thường.3
Sách Tông Đồ Công Vụ ghi lại cho chúng ta một câu chuyện
thật hay về tinh thần hiếu khách của các tín hữu Roma đối với thánh Phaolô
khi ngài bị giải về đó như một người tù. Thánh Luca viết, Các anh em ở Roma
nghe tin chúng tôi tới thì đến tận chợ Appius và Ba Quán để đón chúng tôi.
Thấy họ, Phaolô tạ ơn Thiên Chúa và thêm can đảm.4 Thánh Phaolô đã được thêm
can trường nhờ những biểu hiệu của tình bác ái huynh đệ.
Các tín hữu thời ấy không bỏ những hoạt động xã hội và
nghề nghiệp. Bằng cuộc sống và lời nói, các tín hữu coi mình là thành viên
trong thế giới, và tin Chúa muốn họ phải là muối, là ánh sáng. Một tác giả
cổ thời đã tóm tắt điều ấy như sau: Linh hồn đối với thể xác là gì, thì các
tín hữu đối với thế giới cũng như vậy.5
Hôm nay, chúng ta hãy xét xem chúng ta có như các tín hữu
tiên khởi, nêu gương sáng trong những công việc chúng ta làm để lôi kéo tha
nhân về với Chúa Kitô hay không? Chúng ta có xây đắp tha nhân bằng cuộc sống
điều độ, cách tiêu dùng, thái độ vui tươi, cách làm việc tử tế, sống trung
tín và công bình khi làm việc với thuộc quyền và đồng nghiệp, tham gia các
việc từ thiện, và không bao giờ nói xấu bất kỳ ai hay không?
Thái độ trong nghịch cảnh.
Các tín hữu tiên khởi thường gặp những trở ngại và hiểu
lầm nghiêm trọng, và không ít trường hợp, các ngài đã hy sinh mạng sống để
bảo toàn niềm tin vào Thầy Chí Thánh. Hôm nay, chúng ta mừng kính chứng từ
của các vị tử đạo Roma, những người đã chịu chết sau cuộc hỏa hoạn năm 64.6
Tai ương này đã nên cớ cho nhà cầm quyền tiến hành cuộc bách hại thảm khốc
đầu tiên. Chúng ta đọc trong một bản văn cổ thời của Kitô Giáo như sau: Mô
phạm rạng sáng nhất cho chúng ta là thánh Phêrô và thánh Phaolô, hai đấng đã
được kể thêm vào số đông các người được ưu tuyển, những người đã chịu nhiều
đau khổ và nhục hình chỉ vì sự ganh ghét.7
Những tân toan và hiểu lầm mà các giáo hữu tân tòng phải
chịu không hẳn lúc nào cũng đưa họ đến phúc tử đạo. Họ thường phải chịu
những điều mà Chúa Thánh Thần đã cảnh báo trong Thánh Kinh: Thực vậy, những
ai ước muốn sống đời sống trong Chúa Giêsu Kitô sẽ phải chịu bắt bớ.8 Nhiều
khi sự thù nghịch của dân ngoại đối với các môn đệ Chúa Kitô bộc phát chỉ vì
họ không thể chịu nổi kết quả mỹ mãn và lòng sùng kính rộ nở trong sinh hoạt
của Kitô Giáo. Đôi khi, cuộc bách hại bùng lên chỉ vì các tín hữu kiêng lánh
các nghi thức lễ giáo truyền thống vốn được coi là bằng chứng cho sự trung
thành với đế quốc và hoàng đế. Hậu quả là hễ ai theo Kitô Giáo sẽ liều bị
hiểu lầm và công kích vì không chịu đồng hóa, không sống như mọi người.
Rất có thể Thiên Chúa không đòi chúng ta phải đổ máu để
minh chứng đức tin, nhưng nếu Người cho phép một cuộc thử thách như thế xảy
ra, chúng ta hãy nài xin Chúa ban ơn để có thể hiến thân minh chứng tình yêu
đối với Người. Tuy nhiên, bằng cách này hay cách khác, chúng ta sẽ gặp đủ
các hình thức ganh ghét, bởi vì theo Chúa Giêsu nghĩa là chắc chắn sẽ gặp
thập giá. Khi chúng ta phó mình trong tay Chúa, Người thường để chúng ta nếm
mùi ưu phiền, cô đơn, chống đối, vu khống, lăng mạ, chế giễu. Những biến cố
này có thể phát xuất từ bên trong lẫn bên ngoài Giáo Hội. Chúa muốn đào tạo
nhào nặn chúng ta nên giống Người. Thiên Chúa thậm chí còn để chúng ta bị
gọi là đồ điên dại và ngu xuẩn… Đây là cách Chúa Giêsu đào luyện những linh
hồn Người ưu ái, nhưng đồng thời, Người không quên ban cho họ một niềm bình
an và điềm tĩnh.9
Chúng ta phải lợi dụng những nghịch cảnh để sống bác ái
một cách anh hùng, nhất là với những người có thể vì hiểu lầm mà không coi
chúng ta ra gì. Thái độ của chúng ta có thể bao hàm một sự tự vệ chính đáng
khi cần, nhất là để tránh gương mù hoặc gây tổn thương cho người thứ ba.
Những nghịch cảnh rất hữu ích vì giúp thanh luyện chúng ta khỏi tội lỗi và
khuyết điểm, cho chúng ta cơ hội để đền tạ giúp người khác, và sau cùng, là
để thăng tiến trên đường nhân đức và tình yêu đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa
nhiều khi muốn thanh luyện chúng ta như vàng trong lửa. Lửa tẩy luyện vàng
khỏi cặn ghét và làm gia tăng giá trị của vàng thế nào, thì Thiên Chúa cũng
đối xử các tôi trung, những người trông cậy và kiên trung giữa thử thách như
thế.10
Nếu chỉ vì chúng ta theo Chúa Kitô mà phải chịu những
nghịch cảnh và gian truân, khi ấy chúng ta hãy vui mừng tạ ơn Thiên Chúa,
Đấng đã cho chúng ta được chịu đau khổ vì Người như các Tông Đồ xưa. Lòng họ
hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Chúa Giêsu.11
Các Tông Đồ khi ấy chắc chắn đã nhớ lại lời Thầy Chí
Thánh, như hôm nay chúng ta tưởng nhớ đến các ngài trong ngày lễ kính các
thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma: Phúc cho các con khi vì Thầy mà
bị người ta sỉ vả, bách hại, và vu khống đủ điều xấu xa. Các con hãy vui
mừng hân hoan, vì phần thưởng dành cho các con ở trên trời thật trọng hậu.12
Làm việc tông đồ trong mọi hoàn cảnh.
Mặc dù chịu vu khống, sỉ vả, lăng mạ đủ điều trong các
cuộc bách hại, nhưng tiền nhân trong đức tin của chúng ta vẫn thực hiện việc
tông đồ một cách hiệu quả. Các ngài vẫn nói cho mọi người về Chúa Kitô, kho
tàng mà các ngài đã may mắn tìm được. Hơn nữa, thái độ chịu đựng thanh thản
và vui tươi của các ngài giữa nghịch cảnh, ngay cả phải chết, đã trở thành
lý do khiến nhiều người tìm đến với Thầy Chí Thánh.
Cái chết của các vị tử đạo là hạt giống sinh các tín
hữu.13 Giáo đoàn Roma sau cuộc bách hại đã mất rất nhiều tín hữu, nhưng vẫn
được củng cố và vươn tiến mạnh mẽ. Những năm sau đó, Tertullian đã viết:
Chúng tôi mới chỉ hôm qua, vậy mà đã lan tràn khắp thế giới và mọi sự của
các người: các thành phố, hải đảo, thị trấn, làng mạc, quân đội, dinh thự,
nghị viện, diễn đàn. Chúng tôi chỉ để lại cho các người những đền chùa mà
thôi…14
Trong môi trường và hoàn cảnh hiện tại, nếu vì trung
thành với đức tin mà chúng ta phải gặp một khó khăn nào đó, chúng ta hãy
biết rằng sự phiền hà này sẽ trở nên ích lợi cho mọi người. Chính những lúc
ấy, chúng ta có lý do và nhu cầu phải nói một cách hiền từ về những điều kỳ
diệu của đức tin, về tặng ân lớn lao các bí tích, về vẻ đẹp của đời sống
trinh khiết thánh thiện. Chúng ta hãy tin rằng chúng ta được kén chọn để
chiến thắng trong cuộc chiến đời này, và cuộc sống quang vinh đời sau đang
chờ đợi chúng ta không bao lâu nữa. Không gì có thể sánh được với hạnh phúc
được sống với Chúa Kitô. Mặc dù chúng ta nghèo nàn, chịu nhiều bệnh tật đau
đớn, bị vu khống sỉ vả, nhưng nếu có Chúa Giêsu là chúng ta có tất cả. Hiệu
quả của sự ý thức này sẽ biểu hiện ra lối sống bên ngoài. Chúng ta biết,
trong mọi lúc, ngay cả trong những cảnh ngộ ấy, chúng ta vẫn phải là muối
đất, là ánh sáng thế gian, như Thầy Chí Thánh đã dạy chúng ta.
Đề cập đến các triết gia thời xưa, thánh Justin đã có lý
khi nói rằng, Tất cả những điều tốt lành họ nói đều thuộc về chúng ta là các
Kitô hữu, bởi vì chúng ta tôn thờ và yêu mến Thiên Chúa. Ngôi Lời nhiệm xuất
từ Thiên Chúa tự hữu, vì yêu thương chúng ta, đã nhập thể để chia sẻ những
đau thương và chữa lành cho chúng ta.15
Với phụng vụ hôm nay, chúng ta hãy cầu nguyện: Lạy Chúa,
Chúa đã thánh hóa Giáo Hội Roma bằng máu các vị tử đạo tiên khởi. Xin cho
chúng con tìm được sức mạnh từ sự can trường và hân hoan trong chiến thắng
của các ngài.16
https://www.dongcong.net/DoiSongKH/LeQuanhNam/Thang6/21.htm
