SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XIII Thường Niên 

Năm A (Chúa Nhật) Năm Chẵn (Trong Tuần)

TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh

 

Chúa Nhật

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: 2 V 4, 8-11. 14-16a

"Người đến trọ nhà mình, là một vị thánh của Thiên Chúa".

Trích sách Các Vua quyển thứ hai.

Một ngày nọ, Êlisê đi ngang qua miền Sunam. Ở đó có một bà sang trọng mời ông ở lại dùng bữa. Và từ đấy, mỗi khi ông đi ngang qua đó, ông đều đến nhà bà dùng bữa. Bà nói với chồng bà rằng: "Tôi biết rằng người thường trọ nhà mình là một vị thánh của Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy làm cho ông một căn phòng trên lầu, và đặt trong căn phòng đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cây đèn, để mỗi khi đến, ông ở đó".

Một ngày nọ Êlisê đến, ông lên căn phòng trên lầu và nghỉ tại đó. Ông nói (với Giêzê, tiểu đồng của ông): "Bà muốn chúng ta làm gì cho bà?" Giêzê nói rằng: "Thầy khỏi hỏi, bà ấy không có con, và chồng bà đã già". Êlisê bảo gọi bà ta. Nghe gọi, bà liền đến đứng trước cửa, ông nói với bà rằng: "Năm tới cũng vào thời kỳ này, bà sẽ bồng bế một bé trai".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 88, 2-3. 16-17. 18-19

Ðáp: Lạy Chúa, con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời (c. 2a).

Xướng: 1) Con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời, qua mọi thế hệ miệng con loan truyền lòng trung thành Chúa. Vì Ngài đã phán: "Tình thương của Ta đứng vững muôn đời"; trên cõi trời cao, Ngài thiết lập lòng trung tín. - Ðáp.

2) Phúc thay dân tộc biết hân hoan, lạy Chúa, họ tiến thân trong ánh sáng nhan Ngài. Họ luôn luôn mừng rỡ vì danh Chúa, và tự hào vì đức công minh Ngài. - Ðáp.

3) Vì Chúa là vinh quang quyền năng của họ; nhờ ân huệ Chúa, uy quyền của chúng tôi được suy tôn. Bởi chưng khiên thuẫn chúng tôi là của Chúa, và vua chúng tôi thuộc về Ðấng Thánh của Israel. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: Rm 6, 3-4. 8-11

"Chúng ta chịu mai táng với Ngài nhờ phép rửa, chúng ta phải sống đời sống mới".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi vì được thanh tẩy trong sự chết của Người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế. Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng: chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Ðức Kitô một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Ga 14, 6

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 10, 37-42

"Kẻ nào không mang lấy thập giá, thì không xứng đáng với Thầy; kẻ nào tiếp đón các con, là tiếp đón Thầy".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các tông đồ rằng: "Kẻ nào yêu mến cha mẹ hơn Thầy, thì chẳng xứng đáng với Thầy, và kẻ nào yêu mến con trai, con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó.

"Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; và kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy. Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của tiên tri; và kẻ nào đón tiếp người công chính với danh nghĩa người công chính, thì sẽ lãnh phần thưởng của người công chính. Kẻ nào cho một trong những người bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì quả thật, Thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu".

Ðó là lời Chúa.

Relationships We Keep, Bound in Jesus Christ -

Suy Niệm


Chỉ có Con Đường dẫn đến Sự Thật mới gặp Sự Sống


Có thể nói nội dung của tất cả Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật XIII Thường Niên Năm A tuần này nằm ở câu Alleluia:
"Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy" (Gioan 14:6).

Thật vậy, Chúa Kitô 'là đường" ở mầu nhiệm nhập thể của Người: "Không ai đến được với Cha mà không qua Thày" (Gioan 14:6), và "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), Đấng "hằng ở bên Cha đã tỏ Cha ra" (Gioan 1:18).

Chúa Kitô "là sự thật" ở mầu nhiệm khổ nạn và tử giá của Người để chứng thực "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16): "Khi nào quí vị treo Con Người lên, quí vị mới biết được Tôi là Ai" (Gioan 8:28).

Chúa Kitô "là sự sống" ở mầu nhiệm phục sinh và thăng thiên của Người, Đấng đã tự hiến mạng sống mình đi để lấy nó lại (xem Gioan 10:17-18) như một "Vị Mục Từ nhân lành hiến mạng sống mình vì chiên cho được sự sống và là sự sống viên mãn" (Gioan 10:11,10).

Bởi thế, không có Chúa Kitô sẽ chẳng bao giờ có ơn cứu độ: "Không có ơn cứu độ ở bất cứ một ai. Không có một danh nào dưới gầm trời này được ban cho con người nhờ đó chúng ta được cứu độ" (Tông Vụ 4:12).

Đó là sứ điệp cứu độ vô cùng quan trọng và khẩn thiết bất khả thiếu đối với phần rỗi đời đời của nhân loại, một sứ điệp Kitô giáo cần phải loan báo cho toàn thể nhân loại, đến độ chính Chúa Kitô đã phải đích thân tuyển chọn và sai các môn đệ của Người đi ngay khi Người còn sống, một biến cố đã được Thánh ký Mathêu trình thuật ở đoạn 10 và được Giáo Hội trích lại từ Chúa Nhật Tuần XI, XII và XIII hôm nay.

Nếu nội dung của bài Phúc Âm Chúa Nhật Tuần XII nhắm vào thành phần môn đệ thừa sai, ở chỗ các vị không được sợ hãi khi đến với "con chiên lạc nhà Israel" để loan truyền những gì các vị thấy "trong bóng tối" đức tin và "nghe nơi kín đáo" nội tâm, thì riêng Bài Phúc Âm và chung Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật tuần XIII này nhắm đến thành phần thính giả, thành phần cần phải lãnh nhận sứ điệp cứu độ này, ở chỗ, trước hết, họ cần phải đón nhận sứ điệp cứu độ của Người qua thành phần môn đệ thừa sai của Người, đến độ, như Người khẳng định:

"Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; và kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy. Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của tiên tri; và kẻ nào đón tiếp người công chính với danh nghĩa người công chính, thì sẽ lãnh phần thưởng của người công chính".

Đúng thế, ở đây, qua câu khẳng định này của Chúa Kitô, nếu "sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đức Kitô Cha sai" (Gioan 17:3) thì muốn "đón tiếp Thầy" và "đón tiếp Ðấng đã sai Thầy" còn cần phải "đón tiếp" cả thành phần môn đệ thừa sai của Người nữa: "Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy". Vì Người, theo tác động của Thánh Linh, vẫn liên tục tỏ mình ra trong lịch sử loài người, trong thời Cựu Ước đặc biệt là qua các vị tiên tri, và trong thời Tân Ước qua Giáo Hội của Người.

Tác dụng thần linh của việc chấp nhận thành phần tiên tri ngôn sứ trong Cựu Ước và thành phần môn đệ thừa sai trong Tân Ước là gì, nếu không phải là chính Ơn Cứu Độ được các vị rao giảng hay mang đến vào thời điểm lịch sử của các vị, đúng như lời minh định của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay: "Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của tiên tri; và kẻ nào đón tiếp người công chính với danh nghĩa người công chính, thì sẽ lãnh phần thưởng của người công chính".

Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy quả thực "Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của tiên tri" nơi trường hợp của "một bà sang trọng", "không có con, và chồng bà đã già", đối xử rất tốt với tiên tri Elisa là người hay "đi ngang qua miền Sunam" của bà, và vì thế, "mỗi khi ông đi ngang qua đó, ông đều đến nhà bà dùng bữa".

Chính vì bà đã "đón tiếp một vị tiên tri với danh nghĩa là tiên tri", như bà đã bày tỏ với chồng của bà: "Tôi biết rằng người thường trọ nhà mình là một vị thánh của Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy làm cho ông một căn phòng trên lầu, và đặt trong căn phòng đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cây đèn, để mỗi khi đến, ông ở đó", mà bà "sẽ lãnh phần thưởng của tiên tri", khi bà được chính vị tiên tri báo trước cho bà rằng: "Năm tới cũng vào thời kỳ này, bà sẽ bồng bế một bé trai", một phần thưởng tuy về thể lý nhưng lại xuất phát từ thế giá của một vị tiên tri mà bà tin tưởng và "đón tiếp".

Vậy còn "kẻ nào đón tiếp người công chính với danh nghĩa người công chính, thì sẽ lãnh phần thưởng của người công chính" ở trong cùng câu Chúa Giêsu nói trong Bài Phúc Âm hôm nay thì sao? Câu trả lời có thể tìm thấy ở những gì Thánh Phaolô viết cho Giáo đoàn Roma trong Bài Đọc 2 hôm nay. Nghĩa là liên quan đến Kitô hữu chúng ta, thành phần đã được công chính hóa bởi đức tin vào Chúa Kitô, Đấng "đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa", Đấng đã được các môn đệ thừa sai của Người, theo lệnh truyền phục sinh của Người (xem Mathêu 28:18-20) rao giảng như Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô này.

Nếu mỗi một người Kitô hữu môn đệ Chúa Kitô ý thức được như chính Thánh Phaolô xác tín và huấn dụ trong Bài Đọc II hôm nay: "tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi vì được thanh tẩy trong sự chết của Người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế", thì tất cả những ai "đón tiếp" họ, tức chấp nhận họ hay chấp nhận chứng từ "sống cho Thiên Chúa, trong Ðức Giêsu Kitô" của họ về một Chúa Kitô sống trong họ, tất cả những người đó "sẽ lãnh phần thưởng của người công chính" là đức tin cứu độ như chính Kitô hữu chứng nhân vậy.

Như thế, cuối cùng, tất cả được nên trọn theo Thánh Ý Chúa, theo Dự Án Cứu Độ thần linh của Thiên Chúa, một dự án cứu độ đã được hiện thực nơi Công Cuộc Cứu Độ của Chúa Kitô Nhập Thể và Vượt Qua, tột đỉnh của mạc khải thần linh nơi giòng lịch sử cứu độ của dân Do Thái, một công cuộc cứu độ Giáo Hội được thiết lập vẫn còn tiếp tục thông truyền Ơn Cứu Độ qua giòng lịch sử của nhân loại. Tất cả đều chỉ là những cách thế Vị Thiên Chúa là Tình Yêu vô cùng nhân hậu muốn sử dụng để tỏ lòng thương xót của Ngài cho loài người tội nhân vô cùng khốn nạn đáng thương, cần phải tin tưởng và chấp nhận vào Lòng Thương Xót của Ngài, như tâm tình của bài Đáp Ca hôm nay:

1) Con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời, qua mọi thế hệ miệng con loan truyền lòng trung thành Chúa. Vì Ngài đã phán: "Tình thương của Ta đứng vững muôn đời"; trên cõi trời cao, Ngài thiết lập lòng trung tín.

2) Phúc thay dân tộc biết hân hoan, lạy Chúa, họ tiến thân trong ánh sáng nhan Ngài. Họ luôn luôn mừng rỡ vì danh Chúa, và tự hào vì đức công minh Ngài.

3) Vì Chúa là vinh quang quyền năng của họ; nhờ ân huệ Chúa, uy quyền của chúng tôi được suy tôn. Bởi chưng khiên thuẫn chúng tôi là của Chúa, và vua chúng tôi thuộc về Ðấng Thánh của Israel.




Thứ Hai


Lời Chúa

 

 

Bài Ðọc I: (Năm II) Am 2, 6-10. 13-16

"Chúng sẽ dập đầu kẻ cùng khổ xuống bùn đất".

Trích sách Tiên tri Amos.

Ðây Chúa phán: "Vì ba tội ác của dân Israel, và vì bốn tội, Ta sẽ không rút lại quyết định của Ta nữa: vì chúng sẽ bán người công chính để lấy tiền, sẽ buôn kẻ nghèo khó để kiếm một đôi giầy! Chúng đã dập đầu kẻ khốn cùng nghèo khó xuống bùn đất, chặn lối người hèn hạ. Vì cả cha con chúng cùng tìm đến một cô gái để xúc phạm thánh danh Ta. Chúng nằm lên đống y phục thế nợ gần mỗi bàn thờ, chúng uống rượu của kẻ chúng đã bắt nộp phạt ngay trong ngôi chùa vị thần chúng thờ.

Ta đã tiêu diệt dân Amorrhê trước mặt chúng, dân ấy cao lớn như cây bá hương, và cường tráng như cây sồi. Ta đã tiêu diệt từ hoa trái trên cao đến tận gốc rễ dưới thấp. Chính Ta đã dẫn các ngươi ra khỏi đất Ai-cập, dẫn dắt các ngươi suốt bốn mươi năm trong sa mạc, để các ngươi chiếm lấy đất Amorrhê.

Này, Ta sẽ đè nặng trên các ngươi, làm cho các ngươi rên siết như tiếng rít của một chiếc xe chở đầy cỏ bị kẹt. Người mau lẹ cũng sẽ không trốn thoát được, kẻ mạnh sức cũng không dùng được sức mình, kẻ can trường cũng không thoát chết; người mang cung nỏ cũng không đứng vững, kẻ lanh chân cũng chẳng chạy thoát, người kỵ mã cũng hết đường trốn tránh; kẻ can đảm nhất trong muôn người can đảm, trong ngày đó, cũng sẽ phải trốn thoát mình trần".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 49, 16bc-17. 18-19. 20-21. 22-23

Ðáp: Hãy am hiểu điều đó, hỡi những người quên Thiên Chúa (c. 22a).

Xướng: 1) Tại sao ngươi ưa kể ra những điều huấn lệnh, và miệng ngươi thường nói về minh ước của Ta? Ngươi là kẻ không ưa lời giáo huấn, và ném bỏ lời Ta lại sau lưng? - Ðáp.

2) Gặp tên trộm cắp, ngươi liền bén gót chạy theo, và ngươi đồng lõa với những kẻ ngoại tình. Ngươi buông miệng để tha hồ nói xấu, và lưỡi ngươi thêu dệt những chuyện gian ngoa. - Ðáp.

3) Ngươi ngồi đâu là buông lời nói xấu anh em, làm tủi nhục cho người con cùng mẹ với ngươi. Ngươi làm thế mà Ta đành yên lặng? Ngươi đã tưởng rằng Ta giống như ngươi? Ta sẽ bắt lỗi, sẽ phơi bày trước mặt ngươi tất cả . - Ðáp.

4) Hãy am hiểu điều đó, hỡi những người quên Thiên Chúa, kẻo khi Ta bắt mang đi, thì không ai giải thoát cho. Ai hiến dâng lời khen ngợi, người đó trọng kính Ta; ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 118, 27

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 8, 18-22

"Con hãy theo Ta".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đám đông dân chúng vây quanh Người, thì Người ra lệnh sang qua bờ bên kia. Một luật sĩ đến thưa Người rằng: "Lạy Thầy, bất cứ Thầy đi đâu, con cũng xin theo Thầy". Chúa Giêsu trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ gối đầu". Một môn đệ khác thưa Người rằng: "Thưa Thầy, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã". Chúa Giêsu trả lời: "Con hãy theo Ta, và hãy để kẻ chết chôn kẻ chết".

Ðó là lời Chúa.

 

The Gospel of the day: 9th July – Archdiocese of Malta

Suy Niệm 

 

 

"Kẻ chết chôn kẻ chết"

 

 

Bài Phúc Âm cho ngày trong tuần hôm nay rất ngắn gọn, chỉ bao gồm 2 câu trả lời của Chúa Giêsu cho 2 trường hợp khác nhau. Trường hợp thứ 1 về "Một kinh sư tiến đến thưa Người rằng: 'Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo'" , và trường hợp thứ 2 về "Một người khác là người môn đệ thưa với Người: 'Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã.'" 


Chúa Giêsu đã trả lời cho vị kinh sư rằng "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu", và trả lời cho người môn đệ rằng: "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ".  


Trước hết, chúng ta thấy nơi 2 câu Chúa Giêsu trả lời như thế này: câu thứ nhất cho vị kinh sư hoàn toàn có tính chất khách quan, thách đố và mời gọiđể vị kinh sư này suy nghĩ xem có thể theo Người là một tôn sư homeless vô gia cư để rồi tự quyết định lấy. 

 

Trái lại, câu trả lời thứ hai của Người (hình như) cho một trong thành phần môn đệ đã theo Người ngỏ lời xin phép Người cho về nhà lo phần an táng thân phụ của mình, có tính cách chủ quan, cương quyết và nghiêm ngặt, như thể đã theo Người thì không được coi ai hơn Người, dù là thân nhân ruột thịt của mình, và vì thế đừng lo chuyện thế gian, hãy để cho thế gian lo chuyện thế gian, "phần con, hãy theo Thày" (Gioan 21:22). 

 

Cả 2 câu trả lời này đều phản ảnh Bài Giảng Trên Núi về các Phúc Đức Trọn Lành mà Người đã huấn dụ các môn đệ của Người. Câu trả lời thứ nhất liên quan đến mối phúc đức trọn lành "ai có lòng khó khăn ấy là phúc thật, vì chưng Nước Chúa Trời là của họ" (Mathêu 5:3), và câu trả lời thứ hai liên quan đến lời huấn dụ của Người: "Trước hết hãy tìm Nước Chúa và sự cống chính của Ngài, còn tất cả mọi sự khác sẽ được ban cho sau" (Mathêu 6:33). 

 

Tóm lại, qua hai câu trả lời này, Chúa Giêsu kêu gọi ai muốn theo Người thì phải sống trọn lành hơn, một sự sống như Người (câu trả lời 1) và với Người (câu trả lời 2), một sự sống nhờ đó mới có thể "nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành" (Mathêu 5:48). 

 

 Câu Chúa Giêsu huấn dụ người môn đệ nào đó "xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã" rằng "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ" không phải là một thứ huấn dụ dạy con cái bất hiếu với cha mẹ của mình, trái lại, Người muốn thăng hóa và thánh hóa tình nghĩa xác thịt, như Người đã đối xử với chính Mẹ của người sau khi Mẹ Người tìm thấy Người trong đền thờ sau 3 ngày lạc mất Người (xem Luca 2:49), hay khi Mẹ Người và anh chị em họ của Người ở bên ngoài muốn gặp Người (xem Luca 8:20). 

 

Bởi thế, phải hiểu cái "chết" trong câu Chúa Giêsu muốn nói đến ở đây không phải chỉ hoàn toàn về phần xác mà còn nhất là về phần hồn. Và vì thế lời khuyên của Chúa Giêsu ở đây có thể hiểu là ai muốn theo Người và muốn làm môn đệ đích thực của người thì phải làm sao sống vượt lên trên thế gian, đừng chiều theo khuynh hướng chết chóc của thế gian, khuynh hướng "chuộng tối tăm hơn ánh sáng" (Gioan 3:19), khuynh hướng thích đi vào con đường rộng dẫn đến diệt vong (xem Mathêu 7:13). Nhờ đó, họ chẳng những thoát khỏi cái chết của thế gian mà còn có thể cứu được thế gian khỏi tình trạng chết chóc thiêng liêng nữa bằng thế giá thánh đức của họ trước nhan Chúa. 

 

Cái chết được Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay và kêu gọi người môn đệ nào đó của Người "hãy để kẻ chết chôn kẻ chết", là cái chết về luân lý, như được Chúa đề cập đến qua miệng Tiên Tri Amos trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Vì ba tội ác của dân Israel, và vì bốn tội, Ta sẽ không rút lại quyết định của Ta nữa: vì chúng sẽ bán người công chính để lấy tiền, sẽ buôn kẻ nghèo khó để kiếm một đôi giầy! Chúng đã dập đầu kẻ khốn cùng nghèo khó xuống bùn đất, chặn lối người hèn hạ. Vì cả cha con chúng cùng tìm đến một cô gái để xúc phạm thánh danh Ta. Chúng nằm lên đống y phục thế nợ gần mỗi bàn thờ, chúng uống rượu của kẻ chúng đã bắt nộp phạt ngay trong ngôi chùa vị thần chúng thờ". 

 

Cái chết về luân lý này cũng được Thánh Vịnh gia nhắc tới trong Bài Đáp Ca hôm nay: "Gặp tên trộm cắp, ngươi liền bén gót chạy theo, và ngươi đồng lõa với những kẻ ngoại tình. Ngươi buông miệng để tha hồ nói xấu, và lưỡi ngươi thêu dệt những chuyện gian ngoa" (câu 2) 

 

 Đó là lý do trong Bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã khuyên một người môn đệ nào đó còn lo toan về cái chết của người thân trong gia đình này rằng: "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ". Còn trong Bài Đáp Ca, qua miệng Thánh Vịnh gia, Thiên Chúa đã vừa cảnh báo vừa kêu gọi những con người sống trong chết chóc của trần gian như thế rằng: "Ngươi làm thế mà Ta đành yên lặng? Ngươi đã tưởng rằng Ta giống như ngươi? Ta sẽ bắt lỗi, sẽ phơi bày trước mặt ngươi tất cả" (cảnh giác); "Hãy am hiểu điều đó, hỡi những người quên Thiên Chúa, kẻo khi Ta bắt mang đi, thì không ai giải thoát cho. Ai hiến dâng lời khen ngợi, người đó trọng kính Ta; ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ." (kêu gọi)

 

 


Thứ Ba


Bài Ðọc I: (Năm II) Am 3, 1-8; 4, 11-12

"Chúa phán: Ai lại chẳng nói tiên tri".

Trích sách Tiên tri Amos.

Hỡi con cái Israel, hãy nghe lời Chúa phán về các ngươi, và cả dòng giống mà Ta đã đem ra khỏi đất Ai-cập: "Trong muôn dân trên mặt đất, Ta chỉ nhận biết một mình các ngươi. Vì thế, Ta sẽ đến sát hạch các ngươi về mọi gian ác của các ngươi. Hai người, nếu không đồng ý với nhau, có bao giờ lại đi chung với nhau không? Khi chưa bắt được mồi, có bao giờ sư tử gầm lên giữa rừng không? Khi sư tử con chưa bắt được gì, có bao giờ người ta nghe thấy tiếng nó không? Nếu không có gì cạm bẫy, chim có bao giờ sa lưới không? Nghe tiếng kèn thổi trong thành, có bao giờ người dân không lo sợ không? Có tai hoạ nào trong thành mà không do Chúa điều khiển không? Thực ra, Chúa là Thiên Chúa không làm điều gì mà lại không mạc khải ý định của Người cho các tiên tri tôi tớ của Người. Sư tử gầm thét, ai lại không run sợ? Chúa là Thiên Chúa phán, ai lại chẳng nói tiên tri?

"Ta đã triệt hạ các ngươi như Thiên Chúa đã triệt hạ Sôđôma và Gômôra, các ngươi đã trở thành như thanh củi cháy dở rút khỏi đống lửa, thế mà các ngươi không trở lại với Ta! - Chúa đã phán như thế. Vì vậy, hỡi Israel, Ta sẽ làm cho ngươi những điều này: nhưng sau khi Ta đã làm cho ngươi như vậy, hỡi Israel, ngươi hãy sửa soạn đón rước Thiên Chúa của ngươi".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 5, 5-6. 7. 8

Ðáp: Lạy Chúa, xin dẫn con trong đức công minh (c. 9a).

Xướng: 1) Chúa không phải là Chúa tể ưa điều gian ác; kẻ độc dữ không được cư trú nhà Ngài; đứa bất nhân không thể đứng trước thiên nhan; Chúa ghét những kẻ làm điều gian ác. - Ðáp.

2) Ngài tiêu diệt những đứa nói man; người độc ác và gian giảo thì Chúa ghê tởm không nhìn. - Ðáp.

3) Phần con, bởi gội nhuần sủng ái, con sẽ vào tới hoàng đài của Chúa; con sấp mình gần bên thánh điện với lòng tôn sợ Ngài, thân lạy Chúa. - Ðáp.

 

Alleluia: 1 Sm 3, 9

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 8, 23-27

"Người chỗi dậy, truyền lệnh cho gió và biển, và biển yên lặng như tờ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thuyền, có các môn đệ theo Người. Và đây biển động dữ dội, đến nỗi sóng phủ lên thuyền, thế mà Người vẫn ngủ. Các môn đệ lại gần đánh thức Người dậy mà rằng: "Lạy Thầy, xin cứu lấy chúng con kẻo chết mất!" Chúa phán: "Hỡi những kẻ yếu lòng tin! Sao các con nhát sợ?" Bấy giờ Người chỗi dậy, truyền lệnh cho gió và biển. Và biển yên lặng như tờ! Cho nên những người ấy kinh ngạc mà rằng: "Ông này là ai mà gió và biển đều vâng phục?"

Ðó là lời Chúa.

When your life is threatened (Matthew 8:23-27) – Seeking the kingdom

Jesus Calms the Storm – by Ritchie Way - Good News Unlimited


Chúa mà giả vờ thì chỉ cần tỉnh bơ

Bài Phúc Âm hôm nay của Thánh ký Mathêu (8:23-27) tương tự như bài Phúc Âm của Thánh ký Marco cho Chúa Nhật XII Thường Niên vừa rồi. 

Tương tự ở 3 điểm sau đây: 1- thày trò đang ở trên cùng một thuyền thì "
biển động dữ dội, đến nỗi sóng phủ lên thuyền, thế mà Người vẫn ngủ"; 2- cảm thấy hoảng sợ "Các môn đệ lại gần đánh thức Người dậy mà rằng: 'Lạy Thầy, xin cứu lấy chúng con kẻo chết mất!'"; 3sau khi thấy Người dẹp yên bão tố xong thì các môn đệ tỏ vẻ kinh ngạc về Người: "Ông này là ai mà gió và biển đều vâng phục?".

Thế nhưng, có một chi tiết 
hơi khác nhau giữa 2 bài phúc âm cùng thuật về một biến cốđó là thái độ của Chúa Giêsu trước tâm trạng của các môn đệ khi gặp nạn bấy giờ. Trong khi ở bài Phúc Âm Thánh ký Marco Chúa Giêsu dẹp yên sóng gió đã rồi mới lên tiếng khiển trách lòng tin của các môn đệ: "Sao các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?", thì ở bài Phúc Âm Thánh ký Mathêu hôm nay Người lại khiển trách các vị trước khi ra tay dẹp yên bảo tố: "Hỡi những kẻ yếu lòng tin! Sao các con nhát sợ?" 

Trong c
âu Chúa Giêsu khiển trách sau khi dẹp yên bão tố, vấn đề sợ hãi trước rồi mới tới đức tin sau, như thể Người muốn nói với các vị rằng: "Vì các con sợ mới chứng tỏ rằng các con thật sự là yếu tin, nên Thày đã tỏ quyền năng của Thày ra để các con tin vào Thày hầu sau này có bị nạn các con không sợ hãi nữa"; còn ở câu Người khiển trách trước khi ra tay khuất phục sóng gió, vấn đề đức tin trước sợ hãi sau, như thể Người muốn nói với các vị rằng: "Vì các con yếu tin nên các con mới sợ, bởi vậy Thày sẽ tỏ cho các con biết Thày là ai để các con lần sau không cảm thấy sợ hãi nữa khi Thày đang ở với các con". 

Đúng thế, sự kiện Chúa Giêsu là Đấng ngủ ít làm nhiều, sáng sớm đã không thấy Người đâu, vì Người đã ẩn mình ở một nơi hoang vắng để cầu nguyện, cho đến khi các môn đệ tìm thấy Người (xem Marco 1:35-37), mà lại say ngủ trên thuyền đến độ bão tố ầm ầm nổi lên và nước tràn cả vào thuyền kèm theo tiếng kêu gào hô hoán trong cơn nguy tử của các môn đệ mà vẫn cứ ngủ được thì không phải là Người chơi trò "giả vờ" (Luca 24:30) hay sao? Chúa cố ý làm như thế, cố ý để xẩy ra như vậy, để lợi dụng mà tỏ mình ra và nhờ đó các môn đệ tin vào Người hơn. Bởi thế, Chúa mà giả vờ thì chỉ cần tỉnh bơ là xong, nghĩa là cứ tin vào Chúa vậy!

Đó là lý do, Tiên Tri Amos, trong Bài Đọc 1 hôm nay, đã khẳng định rằng:
 "Có tai hoạ nào trong thành mà không do Chúa điều khiển không? Thực ra, Chúa là Thiên Chúa không làm điều gì mà lại không mạc khải ý định của Người cho các tiên tri tôi tớ của Người". Và mục đích Ngài làm như thế không phải là để tiêu diệt con người, trái lại, làm cho con người tin vào Ngài mà được sống, như Ngài phán cũng qua miệng Tiên Tri Amos trong cùng Bài Đọc 1 hôm nay: "Nhưng sau khi Ta đã làm cho ngươi như vậy, hỡi Israel, ngươi hãy sửa soạn đón rước Thiên Chúa của ngươi".

Và đó cũng là lý do, một khi đã nhận biết Thiên Chúa, qua các việc Ngài làm, qua những gì Ngài tỏ mình ra cho họ nơi tất cả mọi hoàn cảnh và biến cố trong cuộc đời riêng tư của họ cũng như trong lịch sử loài người nói chung, tâm hồn họ, như được Bài Đáp Ca hôm nay nhận định và bày tỏ: 
"Phần con, bởi gội nhuần sủng ái, con sẽ vào tới hoàng đài của Chúa; con sấp mình gần bên thánh điện với lòng tôn sợ Ngài, thân lạy Chúa".


Thứ Tư


Bài Ðọc I: (Năm II) Am 5, 14-15. 21-24

"Ngươi hãy mang đi xa Ta giọng hát, lời ca của ngươi, và hãy biểu lộ sự chính trực như suối chảy mạnh".

Trích sách Tiên tri Amos.

Các ngươi hãy tìm sự lành, và đừng tìm sự dữ, để các ngươi được sống. Và như vậy, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh sẽ ở cùng các ngươi, như các ngươi đã nói. Các ngươi hãy ghét sự dữ, và yêu sự lành, hãy lập công nơi cửa thành, như vậy có lẽ Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, sẽ thương xót những kẻ còn sót lại bởi chi tộc Giuse.

Ta khinh ghét và chê bỏ những ngày lễ trọng của các ngươi. Ta không thèm ngửi mùi hương trong các kỳ hội của các ngươi. Nếu các ngươi dâng cho Ta của lễ toàn thiêu và phẩm vật, Ta sẽ không chấp nhận. Ta cũng không nhìn đến các lễ khấn tốt đẹp của các ngươi; ngươi hãy mang đi cho xa Ta giọng hát, lời ca của ngươi. Ta sẽ không nghe tiếng đàn ca của ngươi. Sự công minh sẽ biểu lộ như nước chảy, và sự chính trực như suối chảy mạnh.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 49, 7. 8-9. 10-11. 12-13. 16bc-17

Ðáp: Ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho biết ơn Thiên Chúa cứu độ (c. 23b).

Xướng: 1) Hỡi dân tộc của Ta, hãy nghe Ta nói; hỡi Israel, Ta sẽ chứng tỏ lời phản đối ngươi: Ta là Thiên Chúa, Ðức Thiên Chúa của ngươi. - Ðáp.

2) Ta không khiển trách ngươi về chuyện dâng lễ vật, vì lễ toàn thiêu của ngươi đặt ở trước mặt Ta luôn. Ta không nhận từ nhà ngươi một con bò non, cũng không nhận từ đàn chiên ngươi những con dê đực. - Ðáp.

3) Vì ta sở hữu mọi muông thú sơn lâm, và muôn ngàn súc vật ở những miền non núi. Ta biết hết thảy mọi giống chim trời, và động vật sống nơi đồng ruộng, Ta cũng rõ. - Ðáp.

4) Nếu Ta đói, Ta không phải nói với ngươi, vì Ta là chủ địa cầu và mọi cái chứa đầy trong đó. Phải chăng Ta thèm ăn thịt bò, hay là Ta thèm uống tiết dê ư? - Ðáp.

5) Tại sao ngươi ưa kể ra những điều huấn lệnh, và miệng ngươi thường nói về minh ước của Ta? Ngươi là kẻ không ưa lời giáo huấn, và ném bỏ lời Ta lại sau lưng? - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 94, 8ab

Alleluia, alleluia. - Ước gì hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 8,28-34

"Ông đến lúc này để hành hạ các quỷ".

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu lên thuyền sang bờ bên kia, đến miền Giêrasa, thì gặp hai người bị quỷ ám từ các mồ mả đi ra, chúng hung dữ đến nỗi không ai dám qua đường ấy.

Và chúng kêu lên rằng: "Lạy Ông Giêsu, Con Thiên Chúa, chúng tôi có can chi đến ông? Ông đến đây để hành hạ chúng tôi trước hạn định sao?"

Cách đó không xa có một đàn heo lớn đang ăn.

Các quỷ nài xin Người rằng: "Nếu ông đuổi chúng tôi ra khỏi đây, thì xin cho chúng tôi nhập vào đàn heo".

Người bảo chúng rằng: "Cứ đi".

Chúng liền ra khỏi đi nhập vào đàn heo.

Tức thì cả đàn heo, từ bờ dốc thẳng, nhào xuống biển và chết chìm dưới nước.

Các người chăn heo chạy trốn về thành, báo tin ấy và nói về các người bị quỷ ám. Thế là cả thành kéo ra đón Chúa Giêsu. Khi gặp Người, Họ xin Người rời khỏi vùng của họ.

Ðó là Lời Chúa.

Chapter 22: The Man with the Evil Spirits - YouTube
Free Visuals: Jesus heals the demoniacs Jesus sails to the other ...



                                                                                                             
  Thà sống với ma quỉ hơn là với Đấng trừ quỉ


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Phúc Âm Thánh Ký Mathêu (8:28-34) cho Thứ Tư Tuần XIII Thường Niên, Thánh ký Mathêu thuật lại việc Chúa Giêsu trừ quỉ cho hai người bị quỉ ám. Bài Phúc Âm về tình trạng bị quỉ ám ở miền này cũng đã được Thánh ký Marcô và Luca thuật lại, với một số chi tiết khác nữa: chẳng hạn cả 2 vị thánh ký kia chỉ cho biết là 1 bị quỉ ám chứ không phải 2, và Thánh Luca còn có chi tiết người bị quỉ ám không mặc quần áo (8:27), còn Thánh ký Marco dài dòng chi tiết hơn: người bị quỉ ám mạnh đến độ không ai có thể xiềng xích; quỉ xưng mình là đạo binh cùng xin được ở lại vùng ấy; đàn heo chừng 2 ngàn con v.v. (6:3,9,10).

Có mấy chi tiết hay hay trong câu chuyện trừ quỉ có một không hai lần này của Chúa Giêsu: trước hết là chi tiết không phải thân nhân của 
hai nạn nhân xin Chúa Giêsu trừ quỉ cho họ; sau nữa là chi tiết "hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người", trong khi đó có lẽ 2 người này chưa bao giờ đã từng gặp Chúa Giêsu mà lại nhận ra Người, chắc là nhờ đám quỉ tinh quái ám họ; sau hết là chi tiết chính Chúa Giêsu không trực tiếp ra tay trừ bọn quỉ ấy, mà chính bọn quỉ muốn xuất khỏi hai người bị chúng ám này, để tránh khỏi bị Người khu trừ: "Bọn quỷ nài xin Người rằng: 'Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia'". 

Qua câu chuyện này chúng ta thấy ma quỉ nhận biết Chúa Kitô là ai và đến thế gian để làm gì: "Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây làm khổ chúng tôi sao?" Đúng như lời Thánh Gioan viết trong Thư Thứ Nhất của ngài: "Chính là để phá hủy các công việc của ma quỉ mà Con Thiên Chúa đã tỏ mình ra" (3:8). 

Công việc của ma quỉ là gì, nếu không phải là những gì liên quan đến chết chóc, nên hai người bị quỉ ám đã sống ở nơi "mồ mả" chết chóc,
 và chết chóc lại liên quan đến xác thịt (cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng - "khuynh hướng của xác thịt thiên về sự chết" - Roma 7:6), nên bọn quỉ đã xin nhập vào đàn heo là loài vật vốn được tiêu biểu cho xác thịt, khiến cho "tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết".

Quả vậy, sau nguyên tội, con người như bị quỉ ám, bởi bản tính của loài người đã bị nọc độc tội lỗi và chết chóc 
của ma quỉ tiêm nhiễm vào, khiến họ bắt đầu xu hướng về tội lỗi và rất dễ sa ngã phạm tội. Bởi nơi bản thân họ đã chất chứa sẵn mầm mống tội lội là đam mê nhục dục cùng tính mê nết xấu, những thứ mầm mống tội lỗi đóng vai trò làm nội công cho ma quỉ, như thể con người bị ma quỉ cài đặt sẵn tần số tội lỗi nơi họ, đến độ nó chẳng cần cám dỗ con người mà chỉ cần sử dụng bộ phận viễn khiến - remote control từ hỏa ngục là con người cũng đủ quay cuồng mù quáng làm theo ý muốn gian ác của chúng.
Cho dù con người có lãnh nhận Phép Rửa chăng nữa, họ chỉ được khỏi nguyên tội (nếu mới sơ sinh) và tư tội (nếu đã khôn lớn) cùng với các hình phạt kèm theo tội lỗi, nhưng bản tính của họ vẫn còn nguyên mầm mống nguyên tội là đam mê nhục dục cùng tính mê nết xấu và vẫn phải chịu hậu quả nguyên tội là đau khổ và chết chóc. Tuy nhiên, bởi Phép Rửa họ có được sự sống thần linh, một sự sống của Đấng Vượt Qua "nắm toàn quyền trên trời dưới đất" (Mathêu 28:18), nhờ đó họ có thể cùng với Chúa Kitô Phục Sinh chiến thắng tội lỗi và sự chết. 

Có lẽ một trong những lý do tại sao miền đất trong bài Phúc Âm hôm nay lại có nhiều quỉ đến như vậy, ở chỗ 2 người bị quỉ ám chứ không phải là 1 như các nơi khác, và đông như đàn heo 2 ngàn con, là vì, như câu kết bài Phúc Âm cho biết: "Các người chăn heo chạy trốn về thành, báo tin ấy và nói về các người bị quỷ ám. Thế là cả thành kéo ra đón Chúa Giêsu. Khi gặp Người, Họ xin Người rời khỏi vùng của họ". Đáng lẽ họ phải vui mừng vì một người trong làng của họ bị quỉ ám được thoát khỏi xiếng xích sự chết mới phải, và do đó họ phải năn nỉ van xin Đấng có quyền trừ qủi ở với họ để quỉ khỏi trở lại nữa, đằng này họ lại mời Người đi, tỏ ra sợ Đấng trừ quỉ hơn hơn là sợ chính ma qủi vốn tác hại họ, cả người (nạn nhân bị quỉ ám) lẫn thú (đàn heo). Và đó cũng chính là lý do ma quỉ trước khi bị Chúa Giêsu trục xuất ra khỏi nạn nhân của chúng thì đã ngỏ ý xin Người, như Thánh ký Marco cho biết, cho ở lại vùng đất như là sào huyệt của chúng ấy!

Đó là lý do, qua miệng Tiên tri Amos ở bài Đọc I hôm nay, Thiên Chúa đã nhắn gọi họ như sau:
 "Các ngươi hãy tìm sự lành, và đừng tìm sự dữ, để các ngươi được sống. Và như vậy, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh sẽ ở cùng các ngươi, như các ngươi đã nói. Các ngươi hãy ghét sự dữ, và yêu sự lành, hãy lập công nơi cửa thành, như vậy có lẽ Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, sẽ thương xót những kẻ còn sót lại bởi chi tộc Giuse". Vì ở câu họa của Bài Đáp Ca hôm nay, chính Thiên Chúa đã khẳng định: "Ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho biết ơn Thiên Chúa cứu độ" .

 



Thứ Năm

Bài Ðọc I: (Năm II) Am 7, 10-17

"Ngươi hãy đi nói tiên tri cho dân Ta".

Trích sách Tiên tri Amos.

Trong những ngày ấy, một vị tư tế ở Bêthel, là Amasia, sai người đến với Giêrôbôam, vua Israel, mà thưa rằng: "Amos đã nổi loạn chống đức vua, ngay trong nhà Israel, xứ sở không chịu nghe các lời của y". Vì đây, Amos nói rằng: "Giêrôbôam sẽ chết vì gươm, và dân Israel sẽ bị đày xa xứ sở".

Và Amasia đã nói với Amos: "Hỡi nhà tiên tri, hãy trốn sang đất Giuđa mà kiếm ăn và nói tiên tri. Ðừng ở Bêthel mà tiếp tục nói tiên tri nữa. Vì đây là nơi thánh của vua, là đền thờ của vương quốc". Nhưng Amos trả lời Amasia rằng: "Tôi không phải là tiên tri, cũng không phải con của tiên tri: nhưng tôi là một mục tử, chuyên trồng cây sung. Chúa đã bắt tôi khi tôi đi theo đoàn vật, và Chúa bảo tôi: "Ngươi hãy đi nói tiên tri cho dân Israel của Ta". Và này, hãy nghe lời Chúa phán: "Người bảo: Chớ nói tiên tri chống lại Israel, chớ chỉ trích dòng họ kẻ theo dị thần". Chính vì thế mà Chúa phán như sau: "Vợ ngươi sẽ gian dâm trong thành phố. Con trai con gái ngươi sẽ gục ngã dưới lưỡi gươm. Ruộng vườn ngươi sẽ bị phân tán. Chính ngươi, ngươi sẽ chết trên đất nhơ nhớp, và dân Israel sẽ bị đày ải xa quê hương mình".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 18, 8. 9. 10. 11

Ðáp: Phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy (c. 10b).

Xướng: 1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. - Ðáp.

2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. - Ðáp.

3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy. - Ðáp.

4) Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng; ngọt hơn mật và hơn cả mật chảy tự tàng ong. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 8, 12

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 9, 1-8

"Họ tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người quyền năng như thế".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thuyền, vượt biển mà về thành của Người. Bấy giờ người ta đem đến cho Người một kẻ bất toại nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng: "Hỡi con, con hãy vững tin, tội con được tha rồi". Bấy giờ mấy luật sĩ nghĩ thầm rằng: "Ông này nói phạm thượng". Chúa Giêsu biết ý nghĩ của họ liền nói: "Tại sao các ngươi suy tưởng những sự xấu trong lòng? Bảo rằng "Tội con được tha rồi", hay nói "Hãy chỗi dậy mà đi", đàng nào dễ hơn? Nhưng (nói thế là) để các ngươi biết rằng trên đời này Con Người có quyền tha tội". Bấy giờ Người nói với người bất toại: "Con hãy chỗi dậy, vác giường mà về nhà con". Người ấy chỗi dậy và đi về nhà. Thấy vậy dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người quyền năng như thế.

Ðó là lời Chúa.

 

GOSPEL REFLECTIONS DAILY: HEALING THE PARALYTIC – JULY 1ST ...

 

 

 


ằng nào dễ hơn"

Chủ đề "sự sống" của Mùa Phục Sinh tiếp tục với bài Phúc Âm cho Thứ Năm Tuần XIII Thường Niên hậu Phục Sinh hôm nay, trong đó, Thánh ký Mathêu (9:1-8) đã thuật lại việc Chúa Giêsu chữa một người bại liệt để tỏ quyền năng tha tội của Người, một sự kiện tha tội liên quan đến sự sống thần linh

"Đức Giê-su xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt: 'Này con, cứ yên tâm, con đã được tha tội rồi!'" 

 Thật vậy, chính vì nguyên tội mà con người đã bị chết về phần hồn (xem Khởi Nguyên 2:17) kèm theo cả cái chết về phần xác là hậu quả tất yếu của tội lỗi nữa (xem Khởi Nguyên 3:19). Tất cả những khổ đau con người phải chịu trên trần gian này đều là biểu hiệu của sự chết cả về tâm linh lẫn thể xác. Chứng bại liệt nơi thân xác của con người, như nạn nhân trong bài Phúc Âm hôm nay, chẳng những là hậu quả của nguyên tội mà còn là biểu hiệu cho tình trạng bất lực của con người mang bản tính nhiễm lây nguyên tội nữa. 


Đó là lý do, một khi con người được tha tội là con người được giải phóng về phần hồn, và vì bệnh nạn tật nguyền về phần xác gây ra bởi tội lỗi mà họ cũng có thể thoát được những chứng bệnh họ đang mắc phải, như trường hợp của người bất toại ở bài Phúc Âm hôm nay. Cho dù được khỏi tội mà không khỏi bệnh con người có tâm hồn trong sạch theo lòng tin tưởng vẫn có thể sống với bệnh tật một cách an bình, thậm chí còn lợi dụng được cả bệnh tật để làm vinh danh Chúa nữa (xem Gioan 9:3). 

Có ích gì cho con người nếu thân xác được lành mạnh mà lại lạm dụng nó để
 sống đời tội lỗi chứ. Nếu thà mất đi một phần thân thể mà được vào Nước Trời còn hơn lành cả thân xác mà bị quẳng vào hỏa ngục (xem Mathêu 5:29), thì đúng như Chúa Giêsu nói với thành phần "kinh sư nghĩ bụng rằng: 'Ông này nói phạm thượng'", "trong hai điều: một là bảo: 'Con đã được tha tội rồi', hai là bảo: 'Đứng dậy mà đi', điều nào dễ hơn?"

Đối với Thiên Chúa thì "con đã được tha tội rồi" thì "dễ hơn", còn đối với loài người thiển cận và dính bén với trần thế thì "đứng dậy mà đi" thì "dễ hơn", "dễ hơn" ở chỗ họ (nếu là nạn nhân) được "dễ" chịu hơn, vì được khỏi bệnh, và ở chỗ họ (thành phần khán giả hay chứng dự) "dễ" nhận hơn vì thấy được tỏ tường quyền năng thần linh. 

B
ởi thế, Chúa Giêsu đã phải chiều theo khuynh hướng của loài người, hay nói đúng hơn, đã lợi dụng yếu điểm tò mò của loài người để tỏ mình ra cho họ, nhờ đó họ có thể thấy được vị thế thần linh siêu việt của Người, một vị thế vượt trên tất cả mọi vị tiên tri trong lịch sử của họ, hơn cả Moisen là vị cứu tinh dân tộc của họ cũng đã thực hiện không ít dấu lạ, một vị thế thần linh ở nơi quyền tha tội của Người, một con người như họ và ở giữa họ

"Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội - bấy giờ Đức Giê-su bảo người bại liệt: 'Đứng dậy, vác giường đi về nhà!' Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế".

 Tuy nhiên, cho dù Thiên Chúa có quyền tha tội cho con người qua Con của Ngài một cách "dễ" dàng như thế, Ngài vẫn không "dễ" dãi với Con của Ngài, trái lại, Thiên Chúa "đã không dung tha cho Con của Ngài, một phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Roma 8:32), nghĩa là Ngài muốn, hay đúng hơn, Ngài "bắt" Người Con duy nhất vô cùng dấu yêu của Ngài phải khổ nạn và tử giá vô cùng hèn hạ và ô nhục như một hy tế đền bù tội lỗi của nhân loại và cho nhân loại, một tội phạm đến Ngài là Đấng vô cùng thì cũng phải có một Đấng vô cùng là Con Ngài đền thay mới cân xứng.

 
Đúng Đúng thế, bệnh nạn tật nguyền, khổ đau đầy ải và chết chóc là hậu quả của tội lỗi, của nguyên tội ngay từ ban đầu, mà tội lỗi là ở chỗ bất tuân phục, loại bỏ những gì là chân thật và thiện hảo để theo đuổi những gì là gian dối và bất hảo theo ý riêng của mình. Bài Đọc 1 hôm nay được trích từ Sách Tiên Tri Amos đã cho thấy một trường hợp điển hình, đó là Amasia, vị tư tế ở Bêthel đã tỏ ra chống lại Tiên Tri Amos vì vị tiên trì này đã dám nói lên sự thật phản lại vua (Giêrôbôam) và nhân dân Israel (Israel là vương quốc ở miến bắc khi nước Do Thái được chia thành 2 vương quốc, trong đó vương quốc Giuđa thuộc triều đại Vua Đavít ở miền nam là nơi có Thành Thánh và Đền Thờ Giêrusalem): "Giêrôbôam sẽ chết vì gươm, và dân Israel sẽ bị đày xa xứ sở".  với chính vị tư tế chống đối này, vị tiên tri còn tiên báo: "Vợ ngươi sẽ gian dâm trong thành phố. Con trai con gái ngươi sẽ gục ngã dưới lưỡi gươm. Ruộng vườn ngươi sẽ bị phân tán. Chính ngươi, ngươi sẽ chết trên đất nhơ nhớp, và dân Israel sẽ bị đày ải xa quê hương mình".


Cho dù con người có chống lại Thiên Chúa và các giới răn hay huấn lệnh của Ngài, thì chỉ hại cho chính "kẻ nào dám giơ chân đạp mũi nhọn" mà thôi, chứ Ngài và Lời Ngài tự bản chất bất diệt và chỉ nhờ đó con người mới đạt đến tầm vóc viên trọn của mình mà thôi, đúng như Bài Đáp Ca hôm nay tuyên nhận:
 

1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt.

2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt.

3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy.

4) Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng; ngọt hơn mật và hơn cả mật chảy tự tàng ong.

 


Thứ Sáu

Bài Ðọc I: (Năm II) Am 8, 4-6. 9-12

"Ta sẽ cho nạn đói trên đất này: nhưng không phải là đói cơm bánh, mà là đói lời Chúa".

Trích sách Tiên tri Amos.

Ðây Thiên Chúa phán: "Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp kẻ nghèo khó và muốn tiêu diệt hết những kẻ bần cùng trong cả nước. Các ngươi bảo: "Bao giờ qua tuần trăng mới để chúng tôi bán hàng! Khi nào hết ngày Sabbath để chúng tôi bán lúa mạch. Chúng tôi sẽ giảm lường đong, tăng giá và làm cân giả. Chúng tôi sẽ lấy tiền mua người nghèo, lấy đôi dép đổi lấy người túng thiếu. Chúng tôi sẽ bán lúa mục nát".

Chúa là Thiên Chúa phán: "Ngày ấy Ta sẽ khiến mặt trời lặn ngay giữa chính ngọ, và sẽ khiến mặt đất ra tối tăm giữa ban ngày. Ta sẽ làm cho các ngày đại lễ của các ngươi trở nên ngày tang tóc, cho các bài ca trở thành lời khóc than. Ta sẽ lấy bao bố đặt trên lưng các ngươi và khiến mọi người trọc đầu. Ta sẽ làm cho ngày ấy trở thành như ngày tang mất con một, và sau cùng nó trở nên ngày cay đắng".

Thiên Chúa lại phán: "Rồi đây sẽ đến ngày Ta cho nạn đói đến trên đất này, nhưng không phải là đói cơm bánh hay khát nước đâu, nhưng là đói nghe lời Chúa. Người ta sẽ di chuyển từ biển này qua biển nọ, từ bắc đến đông: họ đi vòng quanh tìm kiếm lời Chúa, nhưng chẳng thấy.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 118, 2. 10. 20. 30. 40. 131

Ðáp: Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4, 4).

Xướng: 1) Phúc đức những ai giữ lời Ngài nghiêm huấn, những người đó tận tâm tìm kiếm Ngài. - Ðáp.

2) Với tất cả tâm can con tìm Chúa, xin chớ để con lạc xa chỉ thị Ngài. - Ðáp.

3) Sở dĩ linh hồn con mòn mỏi, là vì luôn luôn khao khát thánh dụ của Ngài. - Ðáp.

4) Con đã chọn con đường chân lý, con quyết tâm theo các thánh chỉ của Ngài. - Ðáp.

5) Này đây, con khao khát huấn lệnh của Ngài; theo lượng công minh Ngài, xin cho con được sống. - Ðáp.

6) Con há miệng để hút nguồn sinh khí, và con ham muốn những chỉ thị của Ngài. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 94, 8ab

Alleluia, alleluia! - Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 9, 9-13

"Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc: Ta muốn lòng nhân từ, chớ không phải là hy lễ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua, thấy một người ngồi ở bàn thu thuế, tên là Matthêu. Người phán bảo ông: "Hãy theo Ta". Ông ấy đứng dậy đi theo Người. Và xảy ra là khi Người ngồi dùng bữa trong nhà, thì có nhiều người thu thuế và tội lỗi đến ngồi đồng bàn cùng Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Những người biệt phái thấy vậy, liền nói với các môn đệ Người rằng: "Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như thế?" Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo rằng: "Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu! Các ông hãy đi học xem lời này có ý nghĩa gì: "Ta muốn lòng nhân từ, chứ không phải là hy lễ". Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi".

Ðó là lời Chúa.



Jesus Calls Matthew, the Tax Collector | Life of Jesus


"với bọn thu thuế và quân tội lỗi"

Nếu bài Phúc Âm hôm qua liên quan đến quyền năng tha tội của Chúa Giêsu thì bài Phúc Âm cho Thứ Sáu Tuần XIII Thường Niên hôm nay (Mathêu 9:9-13), tiếp ngay sau bài Phúc Âm hôm qua, liên quan đến tội nhân, đúng hơn liên quan đến sứ vụ của Người đối với thành phần tội nhân.

Đúng thế, sau khi gọi "
một người tên là Mathêu đang ngồi tại trạm... 'Anh hãy theo tôi!'", Chúa Giêsu đã đến nhà của viên thu thuế này để "dùng bữa ... có nhiều người thu thuế và tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ", và hậu quả xẩy ra là: "Thấy vậy, những người Pharisiêu nói với các môn đệ Người rằng: 'Sao Thầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như thế chứ?'".

Nếu chính vì loài người tội lỗi mà "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14), thì sứ vụ của Người đó là "tìm kiếm và cứu vớt những gì hư hoại" (Luca 19:10), nên Người càng cần phải làm sao để có thể đến gần với họ hơn ai hết và hơn bao giờ hết, nhờ đó họ có thể cảm nghiệm được tình thương của Người mà trở về nhà Cha của Người. Đó là lý do: "Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói: 'Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi'".

Trước mặt Thiên Chúa loài người không ai là người công chính, tất cả đều là tội nhân đáng thương và cần được cứu độ, bao gồm cả
 tổ phụ Abraham vốn được xưng "là cha của tất cả các kẻ tin" (Roma 4:11), thậm chí kể cả đệ nhất tạo vật về ân sủng là Mẹ Maria, cho dù được hoài thai vô nhiễm nguyên tội, cũng đã chân nhận là mình được cứu độ (được gìn giữ một cách đặc biệt nhờ hưởng trước ơn cứu chuộc của Chúa Kitô Con Mẹ), như lời Mẹ tuyên xưng trong Ca Vịnh Ngợi Khen của Mẹ: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hân hoan trong Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi" (Luca 1:46-47), huống chi là thành phần biệt phái (Pharisiêu) trong dân Do Thái, thành phần bị Chúa Giêsu thậm tệ quở trách là "đồ giả hình", "thứ gian trá", "những hướng đạo viên mù quáng" (xem Mathêu toàn đoạn 23). 

Đời sống và thái độ của họ tỏ ra như thể họ là "
Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc". Thế nhưng, họ đã hoàn toàn lầm lạc, chỉ sống theo chữ nghĩa của lề luật hơn là tinh thần của lề luật, và sử dụng chính lề luật để xét đoán xấu cùng lên án tha nhân và khinh bỉ thành phần "thu thuế và tội lỗi", nghĩa là để sát hại hơn là để cảm thông và cứu giúp, hoàn toàn ngược với cốt lõi của dự án thần linh, phản lại với cõi lòng yêu thương vô cùng nhân hậu của Thiên Chúa. Đó là lý do trong bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã khuyên thành phần biệt phái kiêu hãnh về đời sống công chính hoàn toàn giả tạo của họ rằng: "Hãy về mà học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân lành chứ đâu cần lễ tế".

Sự kiện Chúa Giêsu tha tội cho người bất toại bằng quyền tha tội của Người, nhưng lại bị thành phần biệt phái đặt vấn đề về thẩm quyền của Người hơn là tin vào Người. Tuy nhiên, lần này không phải là lần đầu tiên mà là thói quen bắt bẻ của họ, nhất là đối với ai trổi vượt hơn họ, như một nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét được dân chúng mộ mến cảm phục hơn họ, nên bị họ theo dõi sát nút. Bởi thế, lời Thiên Chúa cảnh báo qua miệng Tiên Tri Amos trong Bài Đọc 1 hôm nay rất thích hợp với họ về tình trạng họ có mắt mà không thấy, và luôn cảm thấy vui ít buồn nhiều như thế này:


"Ngày ấy Ta sẽ khiến mặt trời lặn ngay giữa chính ngọ, và sẽ khiến mặt đất ra tối tăm giữa ban ngày. Ta sẽ làm cho các ngày đại lễ của các ngươi trở nên ngày tang tóc, cho các bài ca trở thành lời khóc than. Ta sẽ lấy bao bố đặt trên lưng các ngươi và khiến mọi người trọc đầu. Ta sẽ làm cho ngày ấy trở thành như ngày tang mất con một, và sau cùng nó trở nên ngày cay đắng".

Thế nhưng, cho dù vì tội lỗi của mình mà họ phải chịu hậu quả như vậy, Thiên Chúa quan phòng thần linh vẫn lợi dụng tình trạng bất hạnh và bất xứng của họ để giúp họ có thể nhận biết chân lý về bản thân họ cũng như về Thiên Chúa, nhờ đó họ mới hướng về Chúa và khao khát lời Chúa, như chính Thiên Chúa đã báo trước, cũng qua miệng Tiên Tri Amos này, trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Rồi đây sẽ đến ngày Ta cho nạn đói đến trên đất này, nhưng không phải là đói cơm bánh hay khát nước đâu, nhưng là đói nghe lời Chúa. Người ta sẽ di chuyển từ biển này qua biển nọ, từ bắc đến đông: Họ đi vòng quanh tìm kiếm lời Chúa, nhưng chẳng thấy."

Chính vì cơn đói Lời Chúa mà không no thỏa này, không no thỏa như vậy, ở chỗ "Họ đi vòng quanh tìm kiếm lời Chúa, nhưng chẳng thấy", như chính thái độ của họ luôn theo dõi Chúa Kitô là Lời Chúa mà "chẳng thấy" được tất cả sự thật, Lời Chúa, ở một nghĩa nào đó, lại trở thành lương thực hằng ngày của họ và cho họ, lại trở thành những gì họ khát khao theo đuổi một cách vô thức, đúng như câu họa của Bài Đáp Ca hôm nay: "Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra".



Thứ Bảy

Bài Ðọc I: (Năm II) Am 9, 11-15

"Ta sẽ đem dân Ta bị lưu đày trở về, và sẽ trồng họ trên đất của họ".

Trích sách Tiên tri Amos.

Ðây Chúa phán: "Trong ngày ấy, Ta sẽ dựng lại nhà xếp của Ðavít đã xiêu đổ, Ta sẽ lấp những lỗ hổng nơi tường, trùng tu lại những gì đổ nát. Ta sẽ xây dựng lại như ngày xưa, để chúng chiếm hữu những gì còn sót của Êđom và tất cả các dân tộc, vì chúng đã xưng tụng danh Ta".

Chúa hoàn thành những việc Chúa đã phán như thế. Và Chúa còn phán: "Ðây đã đến những ngày mà người cày ruộng tiếp nối người thợ gặt, kẻ ép nho tiếp nối người gieo giống. Từ các núi non, rượu nho mới sẽ chảy tuôn tràn, và từ các đồi, rượu sẽ vọt ra lai láng. Ta sẽ đem Israel dân Ta bị lưu đày trở về. Họ sẽ xây lại các thành phố bị bỏ hoang và cư ngụ tại đó. Họ sẽ trồng nho và sẽ uống rượu nho. Họ sẽ lập vườn, và sẽ ăn quả sinh ra ở nơi ấy. Ta sẽ trồng họ trên đất của họ, và không khi nào họ bị nhổ ra khỏi đất Ta đã ban cho họ. Chúa là Thiên Chúa của ngươi phán như thế".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 84, 9. 11-12. 13-14

Ðáp: Chúa phán bảo về sự bình an cho dân tộc của Người (c. 9).

Xướng: 1) Tôi sẽ nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán bảo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ phán bảo về sự bình an, bình an cho dân tộc và các tín đồ của Chúa, và cho những ai thành tâm trở lại với Người. - Ðáp.

2) Lòng nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau; đức công minh và sự bình an hôn nhau âu yếm. Từ mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh tự trời nhìn xuống. - Ðáp.

3) Vâng, Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và đất nước chúng tôi sẽ sinh bông trái. Ðức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lối bước của Người. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 24, 4c và 5a

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Chúa và xin hướng dẫn con trong chân lý của Ngài. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 9, 14-17

"Làm sao các phù rể có thể buồn rầu khi tân lang còn đang ở với họ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, [Chúa Giêsu sang miền Giêsarênô,] các môn đệ Gioan đến gặp Người mà hỏi: "Tại sao chúng tôi và những người biệt phái thì giữ chay, còn môn đệ của Ngài lại không?" Chúa Giêsu nói với họ rằng: "Làm sao các khách dự tiệc cưới có thể buồn rầu khi tân lang đang còn ở với họ? Rồi sẽ có ngày tân lang ra đi, bấy giờ họ mới giữ chay. Không ai lấy vải mới mà vá vào áo cũ, vì miếng vải mới làm áo dúm lại, và chỗ rách lại càng tệ hơn. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, bầu da vỡ, rượu đổ ra, và bầu da hư mất. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu da mới, và cả hai được nguyên vẹn".

Ðó là lời Chúa.



"rượu mới bầu mới"

Bài Phúc Âm hôm nay (Mathêu 9:14-17), Thứ Bảy Tuần XIII Thường Niên, ghi lại câu trả lời của Chúa Giêsu về vấn đề được "các môn đệ ông Gioan" (Tẩy Giả) đặt ra: "Tại sao chúng tôi và các người Pharisiêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?".

Câu trả lời của Chúa Giêsu cho họ là: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay. Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế là giữ được cả hai".

Bài Phúc Âm hôm nay tiếp ngay sau bài Phúc Âm hôm qua, mà bài Phúc Âm hôm qua về việc Chúa Giêsu cùng với các môn đệ của Người ngồi ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi ở nhà viên thu thuế Mathêu sau khi chàng được Người kêu gọi theo Người. Có thể vì thế mà việc thày trò của Người mới trở thành vấn đề (gương mù) ngứa mắt cho thành phần môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả 
vốn chay tịnh nhiệm nhặt theo gương thày của họ. 

Bởi vì, thành phần môn đệ của vị tiền hô ấy chắc chắn không thể nào quên được những gì vị thày rất khả kính của họ đã hết lời nói hay nói tốt về Đức Kitô là "một Đấng đến sau nhưng cao trọng hơn tôi, tôi không đáng cởi giây giầy cho Người" (Gioan 1:27). Thế mà giờ đây nhân vật được thày họ ca tụng hết mình ấy lại ngồi "ăn nhậu" ngon lành với bọn thu thuế và tội lỗi đáng khinh bỉ và xa lánh trong xã hội!

Tuy nhiên, trong câu chất vấn của những người môn đệ theo Tiền Hô Gioan Tẩy Giả không hề đặt vấn đề với chính Chúa Giêsu mà chỉ đặt vấn đề về các môn đệ của Người mà thôi 
"Tại sao chúng tôi và các người Pharisiêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?". Có lẽ họ thấy các môn đệ hầu hết có vẻ quê mùa của Người ăn uống một cách tự nhiên thoải mái không kiêng cữ gì, chẳng những lần này ở nhà của viên thu thuế Mathêu mà còn ở những lần khác nữa hay chăng, trong khi Chúa Giêsu Thày của họ có ngồi chung bàn ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi cũng vẫn tỏ ra tư cách xứng đáng là một bậc sư phụ của các vị.

Trong c
âu trả lời của mình, Chúa Giêsu đã ám chỉ Người là "chàng rể" và các môn đệ của Người là thành phần "khách dự tiệc cưới". Không biết nhóm môn đệ chất vấn Chúa Giêsu có hiểu câu trả lời bóng bẩy nhưng đầy ý nghĩa sâu xa của Người hay chăng. 

Chỉ biết rằng, có thể Người cố ý nói là khi Người còn ở với 
các môn đệ và sống với các môn đệ thì các vị chưa cần phải chay tịnh, "cho đến khi chàng rể bị đem đi rồi thì bấy giờ họ mới ăn chay", nghĩa là cho tới khi Người "đi để dọn chỗ cho các con" (Gioan 14:3), tức là "đi" tử nạn, nhờ đó cho dù "các con sẽ than van khóc lóc còn thế gian thì hân hoan, nhưng nỗi sầu thương của các con trong một thời gian sẽ trở thành niềm vui" (Gioan 16:20), như hai tông đồ Phêrô và Gioan đã cảm thấy "tràn đầy hân hoan" chính khi các vị bị cấm đoán và hành hạ (xem Tông Vụ 5:41). 

Trường hợp của hai tông đồ Phêrô và Gioan này đúng là trường hợp "
rượu mới thì đổ vào bầu mới": nếu "rượu mới" đây ám chỉ giáo huấn trọn lành của Chúa Kitô, thì "bầu mới" (chứ không phải "bầu cũ" ám chỉ tinh thần vị luật như khuynh hướng và lối sống của nhóm luật sĩ và biệt phái) để có thể đựng thứ "rượu mới" này đó là tinh thần vị tha, là "lòng nhân lành" mà Chúa Kitô đã mong muốn trong bài Phúc Âm hôm qua, một "lòng nhân lành" rất thích hợp với thứ "rượu mới" là "giới răn mới" của Người (Gioan 13:34), và nhờ đó mới có thể hiện thực "giới răn mới" này được: ở chỗ "các con hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương các con" (Gioan 13:34). 

Như thế có nghĩa là cho dù ở trong trường hợp "khi chàng rể còn ở với họ" hay "khi chàng rể bị đem đi rồi" mà một khi trong tâm hồn của người môn đệ Người vẫn có Người, thì họ không bao giờ mất niềm vui, một niềm vui vô cùng bất tận, vì họ được Người ban cho họ một thứ bình an thần linh đích thực "không như thế gian ban" (Gioan 14:27), một thứ bình an Vượt Qua của một Đấng Phục Sinh, toàn thắng tội lỗi và sự chết mà mang lại sự sống thần linh bất tử cho những ai tín phục Người.

Đó là ý nghĩa sâu xa của những gì Thiên Chúa phán qua miệng Tiên Tri Amos trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Trong ngày ấy, Ta sẽ dựng lại nhà xếp của Ðavít đã xiêu đổ, Ta sẽ lấp những lỗ hổng nơi tường, trùng tu lại những gì đổ nát... Từ các núi non, rượu nho mới sẽ chảy tuôn tràn, và từ các đồi, rượu sẽ vọt ra lai láng. Ta sẽ đem Israel dân Ta bị lưu đày trở về. Họ sẽ xây lại các thành phố bị bỏ hoang và cư ngụ tại đó. Họ sẽ trồng nho và sẽ uống rượu nho. Họ sẽ lập vườn, và sẽ ăn quả sinh ra ở nơi ấy. Ta sẽ trồng họ trên đất của họ, và không khi nào họ bị nhổ ra khỏi đất Ta đã ban cho họ. Chúa là Thiên Chúa của ngươi phán như thế".

Bài Đáp Ca hôm nay cũng đề cập đến vấn đề "bình an", ngay ở câu họa: "Chúa phán bảo về sự bình an cho dân tộc của Người", và bao gồm các câu xướng liên quan đến một thứ bình an được Ngài dành "cho những ai thành tâm trở lại với Người" như sau:

 

1) Tôi sẽ nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán bảo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ phán bảo về sự bình an, bình an cho dân tộc và các tín đồ của Chúa, và cho những ai thành tâm trở lại với Người.

2) Lòng nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau; đức công minh và sự bình an hôn nhau âu yếm. Từ mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh tự trời nhìn xuống.

3) Vâng, Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và đất nước chúng tôi sẽ sinh bông trái. Ðức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lối bước của Người.

 

 

 

HẠNH THÁNH TRONG TUẦN

 

 

Ngày 29 tháng 6

Thứ Hai

Lễ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, Tông đồ

Lễ Trọng

 

sspp-eccusa.org

Parish Feast Day Liturgy Sts. Peter and Paul on Wednesday, June 28 ...

 

 

Bài Ðọc I: Cv 12, 1-11

"Bây giờ tôi biết thật Chúa đã cứu tôi khỏi tay Hêrôđê".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, vua Hêrôđê làm khổ mấy người trong Hội thánh. Ông đã dùng gươm giết Giacôbê anh của Gioan. Ông thấy việc ấy đẹp lòng người Do-thái, nên lại cho bắt cả Phêrô. Bấy giờ là ngày lễ Bánh Không Men. Bắt được người, vua cho tống ngục, giao cho bốn đội binh, mỗi đội bốn người canh giữ, có ý đợi sau lễ Vượt Qua, sẽ điệu người ra cho dân. Phêrô bị giam trong ngục, nhưng Hội thánh vẫn luôn luôn cầu nguyện cùng Chúa cho người. Ðến khi vua Hêrôđê sắp điệu người ra, thì đêm ấy, Phêrô phải mang xiềng xích, nằm ngủ giữa hai tên lính, và có quân canh giữ trước cửa ngục. Bỗng có thiên thần Chúa đứng kề bên, một luồng ánh sáng chiếu giãi vào ngục; thiên thần đập vào cạnh sườn Phêrô, đánh thức người dậy mà rằng: "Hãy chỗi dậy mau". Xiềng xích liền rơi khỏi tay người. Thiên thần bảo người rằng: "Hãy thắt lưng và mang giày vào". Người làm y như vậy. Thiên thần lại bảo rằng: "Hãy khoác áo vào mà theo ta".

Người liền đi ra theo thiên thần, mà chẳng biết việc thiên thần làm có thật chăng, người tưởng như trong giấc mộng. Qua khỏi chặng thứ nhất và chặng thứ hai, thì đến cửa sắt thông ra thành. Cửa ấy tự nhiên mở ra. Thiên thần và Phêrô rảo qua một phố nọ, rồi thiên thần biến đi. Phêrô hoàn hồn và nói rằng: "Bây giờ tôi biết thật Chúa đã sai thiên thần cứu tôi khỏi tay Hêrôđê và khỏi mọi âm mưu của dân Do-thái".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 33, 2-3. 4-5. 6-7. 8-9

Ðáp: Chúa đã cứu tôi khỏi điều lo sợ (c. 5b).

Xướng: 1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc; miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. - Ðáp.

2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi điều lo sợ. - Ðáp.

3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. - Ðáp.

4) Thiên Thần Chúa hạ trại đồn binh chung quanh những người sợ Chúa và bênh chữa họ. Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao; phúc đức ai tìm nương tựa ở nơi Người. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 2 Tm 4, 6-8. 17-18

"Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu.

Con thân mến, phần cha, cha đã già yếu, giờ ra đi của cha đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin. Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha. Và trong ngày đó, Chúa là Ðấng phán xét chí công sẽ trao lại cho cha mũ triều thiên ấy, nhưng không phải cho cha mà thôi, mà còn cho những kẻ yêu mến trông đợi Người xuất hiện. Nhưng có Chúa phù hộ giúp sức cho cha, để nhờ cha, việc giảng đạo nên trọn, và tất cả Dân Ngoại được nghe giảng dạy: và cha đã thoát được khỏi miệng sư tử. Nguyện cho Người được vinh quang muôn đời. Amen.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Mt 16, 18

Alleluia, alleluia! - Con là Ðá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 16, 13-19

"Con là Ðá, Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt thành Cêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: "Người ta bảo Con Người là ai?" Các ông thưa: "Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó". Chúa Giêsu nói với các ông: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?" Simon Phêrô thưa rằng: "Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống".

Chúa Giêsu trả lời rằng: "Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là Ðá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời. Sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở".

Ðó là lời Chúa.

 

Matthew 16,13-19 | Digital Catholic Missionaries (DCM)

 

 

 

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ GIẢNG LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ THÀNH PHAOLÔ

 

Nhị vị Tông đồ Phêrô và Phaolô hiện lên trước chúng ta như những vị chứng nhân. Các vị không bao giờ mệt mỏi trong việc rao giảng và hành trình như những vị thừa sai từ mảnh đất của Chúa Giêsu đến chính Roma. Ở đó, các vị đã cống hiến chúng từ tột dỉnh của mình, khi các vị hiến dâng mạng sống mình như những vị tử đạo. Nếu chúng ta tiến vào cốt lõi của chứng từ ấy, chúng ta mới có thể thấy các vị như những chứng nhân cho cuộc sống, những chứng nhân cho việc thứ tha và những chứng nhân cho Chúa Giêsu.

Những chứng nhân cho cuộc sống. Tuy nhiên, đời sống của các vị không phải là trơn tru ngon lành gì. Cả hai vị đều rất sùng đạo: Thánh Phêrô là một trong những môn đệ đầu tiên (xem Gioan 1:41), và Thánh Phaolô là một con người “nhiệt thành với truyền thống của tổ tiên” (Galata 1:14). Tuy nhiên, các vị cũng phạm những lầm lỗi to lớn: Thánh Phêrô đã chối Chúa, còn Thánh Phaolô đã bách hại Giáo Hội của Chúa. Cả 2 vị đều bị cảm thấy nhức nhối trước vấn nạn của Chúa Giêsu: “Simon con Gioan, con có yêu mến Thày hay chăng? (Gioan 21:15); “Saolê, Saolê, tại sao ngươi lại bắt bớ Ta?” (Tông Vụ 9:4). Thánh Phêrô đã cảm thấy buồn khổ trước câu hỏi của Chúa Giêsu, còn Thánh Phaolô trở nên mù lòa trước những lời của Người. Chúa Kitô đã gọi đích danh các vị và đã biến đổi cuộc đời của các vị. Sau khi đã xẩy ra tất cả những điều ấy thì Người đặt tin tưởng vào các vị, tin vào kẻ đã chối bỏ mình và tin vào kẻ đã bách hại thành phần môn đồ của mình, tin vào hai tội nhân thống hối. Chúng ta có thể ngẫm nghĩ rằng tại sao Chúa đã không muốn cống hiến cho chúng ta hai nhân chứng hoàn toàn tinh vẹn, lý lịch thanh bạch và đời sống bất khả trách cứ? Tại sao là Phêrô mà không phải là Gioan? Tại sao là Phaolô mà không phải là Barnabê?

Đây là một bài học cả thể: khởi điểm của đời sống Kitô hữu không phải là tính chất xứng đáng của chúng ta; thật vậy, Chúa có thể hoàn thành chíu xíu nơi những ai nghĩ rằng mình tốt lành và đàng hoàng. Bất cứ khi nào chúng ta coi mình thong minh hơn hay khá  hơn người khác thì bấy giờ là khởi điểm của tận cùng. Chúa không làm phép lạ nơi những ai coi mình là công chính, nhưng với những ai cảm thấy mình bần cùng thiếu thốn. Người không bị lôi cuốn bởi những gì là thiện hảo của chúng ta; đó không phải là lý do tại sao Người yêu thương chúng ta. Người yêu thương chúng ta đúng như chúng ta là; Người tìm kiếm những ai không tự mãn, nhưng sắn sang mở lòng mình ra cho Người. Những con người giống như Thánh Phêrô và Phaolô là những con người trong sang trước nhan Thiên Chúa. Thánh Phêrô liền thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Con là một con người tội lỗi” (Luca 5:8). Thánh Phaolô viết rằng ngài “nhỏ mọn nhất trong các tông đồ, không xứng đáng được gọi là tông đồ” (1Corinto 15:9). Dọc suốt cuộc đời của mình, các vị bảo tồn lòng khiêm nhượng này, cho đến cùng. Thánh Phêrô đã chết tử giá lộn ngược, vì ngài không coi mình xứng đáng được nên giống Chúa. Thánh Phaolô luôn thích thú với tên gọi của mình là “bé nhỏ - little”, quên đi tên gọi của mình là Saolê, tên của vị vua đầu tiên của dân ngài. Cả 2 vị đều hiểu rằng thánh thiện không phải là ở chỗ nâng mình lên mà là hạ mình xuống. Thánh thiện không phải là một trận đấu, mà là vấn đề trao phó cho Chúa từng ngày tình trạng nghèo khốn của mình, Đấng thực hiện những điều cao trọng cho những ai thấp hèn. Đâu là bí quyết làm cho các vị kiên trì giữa nỗi yếu hèn của các vị? Chính là ơn tha thứ của Chúa.

Chúng ta hãy nghĩ đến các vị như là nhân chứng cho ơn tha thứ nữa. Nơi những sai phạm của mình, các vị đã được gặp gỡ lòng thương xót lãnh liệt của Chúa, Đấng đã tái sinh các vị. Nơi việc tha thứ của Người, các vị đã gặp được nỗi an bình và niềm vui khôn tả. Nghĩ lại những sai phạm của mình, các vị đã trải qua những cảm giác lỗi lầm. Biết bao nhiều lần Thánh Phêrô đã nghĩ lại việc ngài chối Chúa! Biết bao nhiêu hối hận Thánh Phaolô đã cảm thấy vì đã gây đớn đau cho rất nhiều kẻ vô tội! Về phương diện loài người, các vị đã sai phạm. Tuy nhiên, các vị đã gặp được một tình yêu lớn lao hơn cả những sai phạm của các vị, một ơn tha thứ mạnh lẽ để để chữa lành ngay cả các cảm giác tội lỗi của các vị. Chỉ khi nào chúng ta cảm thấy ơn tha thứ của Thiên Chúa chúng ta mới thực sự cảm thấy mình được tái sinh. Từ đó chúng ta mới bắt đầu lại, bắt đầu lại từ ơn tha thứ; từ đó chúng ta mới tái nhận thức chúng ta thực sự là ai: trong việc xưng thú các tội lỗi của chúng ta.

Là thành phần nhân chứng cho cuộc sống cũng như cho ơn tha thứ, Thánh Phêrô và Phaolô cuối cùng đã trở thành các nhân chứng cho Chúa Giêsu. Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa hỏi: “Người ta bảo Con Người là ai?” Câu trả lời gợi lại các hình ảnh trong quá khứ: “Gioan Tẩy Giả, Elia, Giêrêmia hay một trong các tiên tri”. Những con người đáng kể, nhưng tất cả đều đã chết. Thay vào đó, Thánh Phêrô đáp lại rằng: “Thày là Đức Kitô” (Mathêu 16:13-14,16). Đức Kitô, tức là Đấng Thiên Sai. Một lời không hướng về quá khứ mà là về tương lai: Đấng Thiên Sai là một nhân vật đang được mong đợi, Người là những gì mới mẻ, Đấng mang đến cho thế giới việc xức dầu của Thiên Chúa. Chúa Giêsu không phải là quá khứ mà là hiện tại và là tương lai. Người không phải là một nhân vật xa cách cần phải tưởng nhớ mà là nhân vật được Thánh Phêrô thân tình nói rằng: “Thày là Đức Kitô”. Đối với những ai là nhân chứng của Người thì Chúa Giêsu không phải chỉ là một nhân vật lịch sử; Người là một con người sống động: Người là những gì mới mẻ, không phải là vật gì chúng ta đã thấy, là những gì là mới mẻ của tương lai chứ không phải là ký ức trong quá khứ.

Chứng nhân, bởi thế, không phải là ai đó biết chuyện về Chúa Giêsu, mà là người cảm nghiệm thấy chuyện tình với Chúa Giêsu. Cuối cùng thì chứng nhân chỉ công bố điều này là Chúa Giêsu đang sống động và Người là bí quyết của đời sống. Thật vậy, Thánh Phêrô, sau khi nói rằng: “Thày là Đức Kitô” thì nói tếp rằng: “Con Thiên Chúa hằng sống” (câu 16). Chứng nhân xuất phát từ một cuộc gặp gỡ Đức Giêsu sống động. Ở tâm điểm đời sống của Thánh Phaolô, chúng ta cũng thấy cùng ngôn từ xuất phát từ cõi lòng của Thánh Phêrô: Đức Kitô. Thánh Phaolô lập đi lập lại danh xưng này gần 4 trăm lần trong các bức thư của ngài! Đối với ngài, Chúa Kitô chẳng những là một mô phạm, một mẫu gương, một điểm qui chiếu: Người là chính sự sống nữa. Thánh Phaolô viết: “Đối tôi sống là Chúa Kitô” (Philiphe 1:21). Chúa Giêsu là hiện tại và là tương lai của ngài, đến độ ngài coi qua khứ như cặn bã so với kiến thức siêu việt về Chúa Kitô (xem Philiphe 3:7-8).

Thưa anh chị em, trước sự hiện diện của những vị nhân chứng này, chúng ta hãy tự vến xem: “Tôi có lập lại hằng ngày việc tôi gặp gỡ riêng với Chúa Giêsu hay chăng?” Chúng ta có tò mò tìm hiểu về Chúa Giêsu, hay có chuyên chú đến các vấn đề của Giáo Hội hay các tin về đạo giáo hay chăng? Chúng ta có thể thiết lập các mạng  điện toán hay các báo chí mà nói về các sự linh thánh hay chăng? Thế nhưng điều này vẫn ở lãnh vực về những gì dân chúng nói? Chúa Giêsu chẳng màng chi tới các thứ thăm dò, lịch sử quá khứ hay thống kê. Người không tìm kiếm những biên soạn về tôn giáo, lại càng không tìm kiếm thành phần Kitô hữu “trang nhất – front page” hay “theo thống kê”. Người tìm kiếm những chứng nhân nói cùng Người từng ngày rằng: “Lạy Chúa, Chúa là sự sống của con”.

Được gặp gỡ Chúa Giêsu và được cảm nghiệm thấy ơn tha thứ của Người, các vị Tông Đồ này đã làm chứng về Người bằng sống cuộc đời mới: các vị không còn nhìn lại quá khứ, mà là hiến trọn bản thân mình. Các vị không còn mãn nguyện nửa vời nữa, mà là theo đuổi mức độ duy nhất có thể đối với những ai theo Chúa Giêsu, đó là mức độ của một tình yêu vô hạn. Các vị được “tuôn đổ như là một thứ tửu tế” (xem 2 Timôthêu 4:6). Chúng ta hãy xin ơn đừng trở thành thứ Kitô hữu ương ương dở dở, sống nửa vời, để cho tình yêu của chúng ta trở thành nguội lạnh. Chúng ta hãy tái nhận thức chúng ta thực sự là ai qua mối lien hệ hằng ngày với Chúa Giêsu, và nhờ quyền năng của ơn Người tha thứ. Như Người đã hỏi Thánh Phêrô, giờ đây Người cũng hỏi chúng ta: “Con bảo Thày là ai?”, “Con có yêu mến Thày hay chăng?” Chúng ta hãy để cho những lời này thấm nhập cõi lòng của chúng ta và tác động chúng ta không tiếp tục thỏa nguyện với những gì là tối thiểu mà là nhắm đến những cao điểm, nhờ dó cả chúng ta nữa có thể trở nên thành phần chứng nhân sống động cho Chúa Giêsu.

Hôm nay chúng ta làm phép những chiếc áo bào tổng giám mục cho các vị TGM được bổ nhiệm trong năm qua. Áo bào này nhắc nhở đến con chiên mà vị mục tử được kêu gọi vác trên vai của mình. Nó là dấu hiệu cho thấy các vị mục tử không sống cho bản thân mình mà là cho chiên. Nó là một dấu hiệu cho thấy để có được sự sống chúng ta cần phải thí nó đi, bỏ nó đi…. (mấy lời cuối cùng ĐTC ngỏ cùng các vị đại diện Tòa Thượng Phụ Đại Kết…)

 

http://w2.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2019/documents/papa-francesco_20190629_omelia-pallio.html 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu  

 


Các Thánh Tử Đạo Roma Tiên Khởi

30/6 Thứ Ba


the-First-Martyrs-of-the-Church-of-Rome.jpg

“Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi. Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gẫy” (Tv 33, 20-21).

Các Thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma đã anh dũng bảo vệ đức tin để làm chứng cho Chúa Giêsu. Các Ngài đã làm vinh danh Chúa và đã làm cho đức tin rực sáng. Các Ngài xứng đáng lãnh nhận triều thiên Nước Trời và góp phần xây dựng giáo đoàn Roma trần thế.

Các Thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma là các vị anh hùng gồm một số rất đông đã đổ máu đào để tuyên xưng danh Chúa, làm chứng cho Chúa dưới thời bạo Chúa Néron: Các Ngài đã bị người ta vu khống là đã đốt thành Roma, phá hủy thành, nên các Ngài đã bị Néron ra lệnh hành quyết, xử tử bằng mọi cực hình, bằng mọi phương cách tàn bạo, dã man. Có những vị đã bị nhốt tù, đánh đập tàn ác, bỏ đói cho đến chết. Có những vị bị thú vật cắn xé, dầy vò, đùa giỡn, những vị khác bị đốt, bị nung trên giường sắt, có những vị bị treo ngược trên thập giá, có những vị khác bị đốt cháy sáng như những ngọn đuốc trong đêm đen. Tuy nhiên, cảm nghiệm Lời Chúa nói: "Anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp gian nan thử thách. Vì thế, Thầy sẽ ban quyền cai trị cho anh em để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy, trên vương quốc của Thầy” (Lc 22, 28 - 30) hoặc “Các thánh đã theo chân Đức Kitô, được vui mừng trên thiên quốc. Các Ngài đã đổ máu mình ra, vì lòng yêu mến Đức Kitô, nên luôn được hoan hỷ với Người" (Ca nhập lễ, lễ nhiều Thánh tử đạo). Các thánh tử đạo đã hân hoan chịu chết.

“Hạt giống gieo xuống đất không thúi đi...”, các Thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma là những môn đệ của các tông đồ, các Ngài đã được Chúa thương, tuyển lựa để nên như của lễ đầu mùa hiến dâng cho Thiên Chúa và trở nên hạt giống đức tin gieo vào lòng đất cho hoa trái được nẩy nở tốt tươi. Các Ngài đã đổ máu ra để làm phát sinh Hội Thánh Roma. Các Ngài xứng đáng được Chúa thưởng công và Giáo Hội tôn vinh vì các Ngài vẫn một lòng gắn bó với Chúa (Lc 22, 28).

Lạy Chúa, Chúa đã dùng máu các thánh tử đạo thánh hiến giáo đoàn Roma trong những bước đầu. Vì các thánh đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ đức tin, xin cho cuộc chiến thắng vẻ vang của các Ngài làm cho chúng con được bền lòng vững chí (Lời nguyện nhập lễ, lễ các Thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma).

(Sưu tầm)

https://tgpsaigon.net/bai-viet/cac-thanh-tu-dao-tien-khoi-cua-giao-doan-roma-42710

 

Sau khi Chúa Giê-su về trời, và đặc biệt là sau cuộc bách hại nhắm vào các Ki-tô hữu tại Giê-ru-sa-lem, các môn đệ của Ngài đã mau chóng có mặt tại rất nhiều nơi. Và trong một thời gian ngắn sau đó, các Ki-tô hữu đã hiện diện tại kinh thành muôn thuở. Vì là một nhóm nhỏ, lại có lối sống khác biệt một cách căn bản đối với dân ngoại, nên các Ki-tô hữu tiên khởi của Giáo đoàn Rô-ma đã bị nhìn xem với con mắt nghi kỵ. Trong các năm đầu tiên của Giáo hội, các Ki-tô hữu luôn phải sống trong sự chế nhạo và dè bửu. Dù vậy, cộng đoàn Ki-tô hữu càng ngày càng lớn mạnh, càng thêm đông số và càng được nhiều người biết tới.

Khi các cộng đoàn Ki-tô giáo càng lớn mạnh, và khi toàn bộ tư tưởng Ki-tô giáo càng ngày càng được biết tới, trong khi tư tưởng này lại biện phân một cách căn bản với giới ngoại giáo, thì cũng là lúc sự chống đối nhắm vào tôn giáo non trẻ có vẻ như rất nguy hiểm cho nhà nước này, cũng càng ngày càng tăng lên. Hoàng đế Nê-rô (54-68) đã phát động một cuộc bách hại nhắm vào các Ki-tô hữu, và cuộc bách hại này đã kéo dài tới hơn 250 năm. Vào tháng 07 năm 64, một cuộc hỏa hoạn đã xảy ra tại thành phố Rô-ma. Theo tương truyền, chính hoàng đế Nê-rô đã ra lệnh thực hiện cuộc hỏa hoạn đó để lấy hứng làm thơ. Tuy nhiên, cuộc hỏa hoạn đã diễn ra ngoài tầm kiểm soát và đã gây ra rất nhiều thiệt hại, nên đã khiến dân chúng nổi loạn. Để tìm cách chối tội và trấn an dân chúng, hoàng đế Nê-rô đã đổ lỗi cho các Ki-tô hữu rằng, họ là những người đã thiêu đốt thành phố. Và vì thế, rất đông tín hữu đã bị bắt giam. Tất nhiên, các tín hữu đã không bao giờ thừa nhận việc gây hỏa hoạn, nhưng họ lại công khai tuyên xưng Đức Tin Ki-tô giáo của mình. Và việc công khai tuyên xưng Đức Tin như thế là đủ để bị khép vào án tử hình. Và để thực hiện án tử hình trên các Ki-tô hữu, hoàng đế Nê-rô đã không cho phép thi hành việc hành hình họ một cách đơn giản, nhưng ông ta đã nghĩ ra những cuộc tra tấn và những cách hành hình hết sức man rợ, chẳng hạn như cho sư tử đói vào xé xác các Ki-tô hữu, hay cho đóng đi các Ki-tô hữu vào Thập Giá rồi tẩm dầu vào thân thể họ, sau đó châm lửa đốt như một ngọn đuốc sống v.v…

Sử gia Tacitus, người Rô-ma và cũng là một người ngoại giáo, đã mô tả lại trong cuốn thứ 15 bộ biên niên sử của ông về cuộc bách hại này. Theo những lời ông viết, một số người rất đông đã bị hành hình:

Để tránh tiếng đồn rằng, chính ông là người đã đốt thành phố Rô-ma, „hoàng đế Nê-rô đã tìm cách đổ lỗi cho người khác, và ra lệnh trừng phạt những người bị căm thù vì tội ác của họ, đó là những người mà dân chúng gọi là Ki-tô hữu. Danh xưng này bắt nguồn từ ông Ki-tô; ông này đã bị hành hình bởi tổng trấn Phong-xi-ô Phi-la-tô, dưới thời trị vì của hoàng đế Tiberius… Vì thế, trước tiên người ta bắt giam tất cả những ai tuyên xưng rằng, mình là Ki-tô hữu; sau đó, những người này khai ra rằng, họ thuộc về một đám người rất đông. Họ không chỉ bị kết tội là những kẻ gây ra vụ đốt phá, nhưng còn bị quy cho tội rằng, họ là những kẻ thù ghét tất cả mọi người. Người ta biến những kẻ bị kết án tử hình thành những vở kịch. Người ta nhốt họ vào trong những chiếc chuồng dành cho thú vật, và để cho họ bị cắn xé bởi những con chó, người ta đóng đinh họ vào Thập Giá rồi châm lửa để đốt họ, và sau khi màn đêm ập xuống, người ta đốt họ như là đốt những ngọn đuốc. Hoàng đế Nê-rô đã giao vườn thượng uyển của hoàng cung cho người ta thực hiện những vở kịch này, cũng như đã ra lệnh tổ chức một hý trường để biểu diễn những màn kịch này: Trong cảnh một người lái xe, ông hòa mình vào giữa đám đông, hay đứng trên xe của mình…“

Người ta cho rằng, số các Ki-tô hữu bị hành hình trong cuộc bách hại của hoàng đế Nê-rô là rất nhiều và không thể đếm nổi. Còn theo Thánh Hieronymus, có tổng cộng 979 Ki-tô hữu đã bị hành hình trong vụ này. Hầu hết những Ki-tô hữu đó đều là những người vô danh, giờ đây không ai biết đến danh tánh hay tên tuổi của họ. Vì thế, trong suốt một thời gian dài, các vị Tử Đạo này đã không được Giáo hội cử hành Lễ kính nhớ.

Mãi tới năm 1923, một Đại Lễ kính chung tất cả các Thánh Tử Đạo mới được cử hành lần đầu tiên tại Rô-ma. Sau đó, từ năm 1969, với cuộc cải tổ Lịch Phụng Vụ, ngày Lễ này đã chính thức được ghi vào trong lịch Kính Các Thánh chung của toàn Giáo hội Công Giáo, và được đổi tên thành Lễ Kính Các Thánh Tử Đạo Tiên Khởi của Giáo đoàn Rô-ma. Kể từ đó, Giáo hội cử hành Lễ này vào ngày 30 tháng 06, sau Đại Lễ Kính Hai Thánh Phê-rô và Phao-lô Tông Đồ, ở bậc Lễ Nhớ không buộc.

Lm. Đa-minh Thiệu

https://daminhtamhiep.net/2016/06/cac-thanh-tu-dao-tien-khoi-cua-giao-doan-ro-ma/

 

Những người mà chúng ta mừng kính hôm nay đều có một điểm chung: đó là các ngài đã hy sinh từ bỏ mạng sống mình vì Chúa Kitô. Các ngài được phúc tử vì đạo bởi các ngài là những người đã noi theo lối Đức Chúa Giêsu.

Những người mà chúng ta mừng kính hôm nay đều có một điểm chung: đó là các ngài đã hy sinh từ bỏ mạng sống mình vì Chúa Kitô. Các ngài được phúc tử vì đạo bởi các ngài là những người đã noi theo lối Đức Chúa Giêsu. Vào năm 64, khi đám cháy bất ngờ phát tỏa trong thành Rôma ngày 16 tháng Bảy. Người ta đều cho rằng chính hoàng đế là người phải lãnh trách nhiệm. Khi hai phần ba thành phố Rôma bị thiêu rụi, sự căm tức phẫn nộ bắt đầu dâng cao. Nêrô hoảng hồn lo sợ. Ông cần một người đứng mũi chịu sào; và thế là, ông đã đổ tội vụ gây ra hỏa hoạn cho các Kitô hữu.

 

Các thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Rôma
Tất cả những vị đó đều là môn đệ của các thánh tông đồ, các ngài đã được hiến dâng cho Chúa như của lễ đầu mùa

 

Taxitô, một sử gia danh tiếng thời ấy, đã ghi nhận rằng các Kitô hữu đã phải chịu những cái chết thật dã man hiểm độc. Một số bị ném cho các thú hoang ăn thịt. Số khác bị trói vào các cột trụ và trở nên những “ngọn đuốc người” thắp sáng các đường phố Rôma. Chúng ta không biết được chính xác tổng số các vị anh hùng là bao nhiêu, nhưng chứng từ đời sống và lễ vật của các ngài đã gây một ấn tượng đặc biệt cho mọi người. Cuộc bách hại khủng bố đầu tiên của Nêrô dù là hoàng đế Rôma cũng chẳng kéo dài mãi được. Giáo hội càng bị bách hại thì Giáo hội càng phát triển. Các thánh tử vì đạo đã trả một giá rất đắt để những ai bước theo các ngài sẽ có được cơ hội giữ vững đức tin.

 

Chúng ta hãy cầu xin các thánh tử đạo tiên khởi Rôma ban cho lòng can đảm để trung thành với những điều Giáo hội truyền dạy. Các thánh tử đạo này cũng nhắc nhớ chúng ta hãy nên nghiêm túc học hỏi về đức tin và đọc các sách vở Công giáo lành mạnh.

(theo tinmung.net)

http://www.cgvdt.vn/lich/hanh-cac-thanh/cac-thanh-tu-dao-tien-khoi-cua-giao-doan-roma_a3007

 

Sau Jerusalem và Antioch, Roma là trung tâm quan trọng nhất của Giáo Hội thời sơ khai. Nhiều tín hữu đã đến sinh sống tại Roma: một số là Do Thái, nhưng phần đông là dân ngoại tòng giáo.

Hôm nay, chúng ta mừng kính các tín hữu đã chịu bách hại dưới thời bạo vương Nero, sau cuộc hỏa hoạn năm 64 tại Roma.

Sống gương mẫu giữa thế gian.

Đức tin Kitô Giáo đã sớm lan truyền đến Roma, trung tâm của thế giới văn minh vào thời kỳ ấy. Có lẽ các tín hữu đầu tiên tại thủ đô của đế quốc Roma là những người Do Thái tòng giáo. Họ đã tiếp nhận đức tin tại Jerusalem hoặc một thành phố nào đó thuộc miền Tiểu Á, nơi đã được thánh Phaolô giảng đạo. Đức tin được truyền bá từ người này sang người nọ, giữa những nhóm bạn hữu và thân nhân… Thánh Phêrô đã đến Roma vào khoảng năm 43 và củng cố cho cộng đồng Kitô Giáo bé nhỏ tại đây. Từ Roma, đạo thánh đã lan truyền sang nhiều miền khác của đế quốc. Hoàn cảnh an bình của đế quốc Roma thời ấy tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu các luồng tư tưởng và thông tin về những điều mới lạ, tất cả đều góp phần cho việc truyền bá Kitô Giáo. Các con đường khởi từ Roma dẫn đến các vùng xa xăm nhất của đế quốc, các đoàn tàu thương mại thường xuyên vượt Địa Trung Hải, tất cả đều thuận lợi cho việc truyền bá Kitô Giáo khắp đế quốc.1

Thật khó mà trình bày tiến trình cải hóa và trình tự của kinh nghiệm tác động đến từng cá nhân trở lại với Kitô Giáo tại Roma trong thế kỷ I, cũng như hiện nay, vì mỗi cuộc trở lại luôn là một phép lạ của ơn thánh và sự đáp ứng của từng cá nhân với ơn Chúa. Chắc chắn cuộc sống gương mẫu của các tín hữu, hương thơm của Chúa Kitô – bonus odor Christi2 – cũng là một tác nhân có tính quyết định, ảnh hưởng đến môi trường làm việc qua các yếu tố như niềm vui, đức bác ái, sự cảm thông dành cho mọi người, đời sống khổ hạnh, và tư cách nhân bản cao thượng… Các tín hữu nam nữ là những người phấn đấu sống đức tin trọn vẹn giữa những hoạt động thường ngày. Daniel là một thanh niên, Joseph là một nô lệ. Có người như Aquila làm nghề bán vải nhuộm trong một cửa hàng; người thì làm lính canh ngục; có người như Cornelius làm bách quân trưởng; Timothêu là người yếu bệnh; Onesimus là nô lệ bỏ trốn. Tất cả những loại người khác nhau này đều được đức tin qui hồi. Những nghề nghiệp và điều kiện của họ không tạo nên ngãng trở. Mọi người đều có thể nên thánh, nam và nữ, trẻ và già, nô lệ và tự do, binh lính và dân thường.3

Sách Tông Đồ Công Vụ ghi lại cho chúng ta một câu chuyện thật hay về tinh thần hiếu khách của các tín hữu Roma đối với thánh Phaolô khi ngài bị giải về đó như một người tù. Thánh Luca viết, Các anh em ở Roma nghe tin chúng tôi tới thì đến tận chợ Appius và Ba Quán để đón chúng tôi. Thấy họ, Phaolô tạ ơn Thiên Chúa và thêm can đảm.4 Thánh Phaolô đã được thêm can trường nhờ những biểu hiệu của tình bác ái huynh đệ.

Các tín hữu thời ấy không bỏ những hoạt động xã hội và nghề nghiệp. Bằng cuộc sống và lời nói, các tín hữu coi mình là thành viên trong thế giới, và tin Chúa muốn họ phải là muối, là ánh sáng. Một tác giả cổ thời đã tóm tắt điều ấy như sau: Linh hồn đối với thể xác là gì, thì các tín hữu đối với thế giới cũng như vậy.5

Hôm nay, chúng ta hãy xét xem chúng ta có như các tín hữu tiên khởi, nêu gương sáng trong những công việc chúng ta làm để lôi kéo tha nhân về với Chúa Kitô hay không? Chúng ta có xây đắp tha nhân bằng cuộc sống điều độ, cách tiêu dùng, thái độ vui tươi, cách làm việc tử tế, sống trung tín và công bình khi làm việc với thuộc quyền và đồng nghiệp, tham gia các việc từ thiện, và không bao giờ nói xấu bất kỳ ai hay không?

Thái độ trong nghịch cảnh.

Các tín hữu tiên khởi thường gặp những trở ngại và hiểu lầm nghiêm trọng, và không ít trường hợp, các ngài đã hy sinh mạng sống để bảo toàn niềm tin vào Thầy Chí Thánh. Hôm nay, chúng ta mừng kính chứng từ của các vị tử đạo Roma, những người đã chịu chết sau cuộc hỏa hoạn năm 64.6 Tai ương này đã nên cớ cho nhà cầm quyền tiến hành cuộc bách hại thảm khốc đầu tiên. Chúng ta đọc trong một bản văn cổ thời của Kitô Giáo như sau: Mô phạm rạng sáng nhất cho chúng ta là thánh Phêrô và thánh Phaolô, hai đấng đã được kể thêm vào số đông các người được ưu tuyển, những người đã chịu nhiều đau khổ và nhục hình chỉ vì sự ganh ghét.7

Những tân toan và hiểu lầm mà các giáo hữu tân tòng phải chịu không hẳn lúc nào cũng đưa họ đến phúc tử đạo. Họ thường phải chịu những điều mà Chúa Thánh Thần đã cảnh báo trong Thánh Kinh: Thực vậy, những ai ước muốn sống đời sống trong Chúa Giêsu Kitô sẽ phải chịu bắt bớ.8 Nhiều khi sự thù nghịch của dân ngoại đối với các môn đệ Chúa Kitô bộc phát chỉ vì họ không thể chịu nổi kết quả mỹ mãn và lòng sùng kính rộ nở trong sinh hoạt của Kitô Giáo. Đôi khi, cuộc bách hại bùng lên chỉ vì các tín hữu kiêng lánh các nghi thức lễ giáo truyền thống vốn được coi là bằng chứng cho sự trung thành với đế quốc và hoàng đế. Hậu quả là hễ ai theo Kitô Giáo sẽ liều bị hiểu lầm và công kích vì không chịu đồng hóa, không sống như mọi người.

Rất có thể Thiên Chúa không đòi chúng ta phải đổ máu để minh chứng đức tin, nhưng nếu Người cho phép một cuộc thử thách như thế xảy ra, chúng ta hãy nài xin Chúa ban ơn để có thể hiến thân minh chứng tình yêu đối với Người. Tuy nhiên, bằng cách này hay cách khác, chúng ta sẽ gặp đủ các hình thức ganh ghét, bởi vì theo Chúa Giêsu nghĩa là chắc chắn sẽ gặp thập giá. Khi chúng ta phó mình trong tay Chúa, Người thường để chúng ta nếm mùi ưu phiền, cô đơn, chống đối, vu khống, lăng mạ, chế giễu. Những biến cố này có thể phát xuất từ bên trong lẫn bên ngoài Giáo Hội. Chúa muốn đào tạo nhào nặn chúng ta nên giống Người. Thiên Chúa thậm chí còn để chúng ta bị gọi là đồ điên dại và ngu xuẩn… Đây là cách Chúa Giêsu đào luyện những linh hồn Người ưu ái, nhưng đồng thời, Người không quên ban cho họ một niềm bình an và điềm tĩnh.9

Chúng ta phải lợi dụng những nghịch cảnh để sống bác ái một cách anh hùng, nhất là với những người có thể vì hiểu lầm mà không coi chúng ta ra gì. Thái độ của chúng ta có thể bao hàm một sự tự vệ chính đáng khi cần, nhất là để tránh gương mù hoặc gây tổn thương cho người thứ ba. Những nghịch cảnh rất hữu ích vì giúp thanh luyện chúng ta khỏi tội lỗi và khuyết điểm, cho chúng ta cơ hội để đền tạ giúp người khác, và sau cùng, là để thăng tiến trên đường nhân đức và tình yêu đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa nhiều khi muốn thanh luyện chúng ta như vàng trong lửa. Lửa tẩy luyện vàng khỏi cặn ghét và làm gia tăng giá trị của vàng thế nào, thì Thiên Chúa cũng đối xử các tôi trung, những người trông cậy và kiên trung giữa thử thách như thế.10

Nếu chỉ vì chúng ta theo Chúa Kitô mà phải chịu những nghịch cảnh và gian truân, khi ấy chúng ta hãy vui mừng tạ ơn Thiên Chúa, Đấng đã cho chúng ta được chịu đau khổ vì Người như các Tông Đồ xưa. Lòng họ hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Chúa Giêsu.11

Các Tông Đồ khi ấy chắc chắn đã nhớ lại lời Thầy Chí Thánh, như hôm nay chúng ta tưởng nhớ đến các ngài trong ngày lễ kính các thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma: Phúc cho các con khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại, và vu khống đủ điều xấu xa. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng dành cho các con ở trên trời thật trọng hậu.12

Làm việc tông đồ trong mọi hoàn cảnh.

Mặc dù chịu vu khống, sỉ vả, lăng mạ đủ điều trong các cuộc bách hại, nhưng tiền nhân trong đức tin của chúng ta vẫn thực hiện việc tông đồ một cách hiệu quả. Các ngài vẫn nói cho mọi người về Chúa Kitô, kho tàng mà các ngài đã may mắn tìm được. Hơn nữa, thái độ chịu đựng thanh thản và vui tươi của các ngài giữa nghịch cảnh, ngay cả phải chết, đã trở thành lý do khiến nhiều người tìm đến với Thầy Chí Thánh.

Cái chết của các vị tử đạo là hạt giống sinh các tín hữu.13 Giáo đoàn Roma sau cuộc bách hại đã mất rất nhiều tín hữu, nhưng vẫn được củng cố và vươn tiến mạnh mẽ. Những năm sau đó, Tertullian đã viết: Chúng tôi mới chỉ hôm qua, vậy mà đã lan tràn khắp thế giới và mọi sự của các người: các thành phố, hải đảo, thị trấn, làng mạc, quân đội, dinh thự, nghị viện, diễn đàn. Chúng tôi chỉ để lại cho các người những đền chùa mà thôi…14

Trong môi trường và hoàn cảnh hiện tại, nếu vì trung thành với đức tin mà chúng ta phải gặp một khó khăn nào đó, chúng ta hãy biết rằng sự phiền hà này sẽ trở nên ích lợi cho mọi người. Chính những lúc ấy, chúng ta có lý do và nhu cầu phải nói một cách hiền từ về những điều kỳ diệu của đức tin, về tặng ân lớn lao các bí tích, về vẻ đẹp của đời sống trinh khiết thánh thiện. Chúng ta hãy tin rằng chúng ta được kén chọn để chiến thắng trong cuộc chiến đời này, và cuộc sống quang vinh đời sau đang chờ đợi chúng ta không bao lâu nữa. Không gì có thể sánh được với hạnh phúc được sống với Chúa Kitô. Mặc dù chúng ta nghèo nàn, chịu nhiều bệnh tật đau đớn, bị vu khống sỉ vả, nhưng nếu có Chúa Giêsu là chúng ta có tất cả. Hiệu quả của sự ý thức này sẽ biểu hiện ra lối sống bên ngoài. Chúng ta biết, trong mọi lúc, ngay cả trong những cảnh ngộ ấy, chúng ta vẫn phải là muối đất, là ánh sáng thế gian, như Thầy Chí Thánh đã dạy chúng ta.

Đề cập đến các triết gia thời xưa, thánh Justin đã có lý khi nói rằng, Tất cả những điều tốt lành họ nói đều thuộc về chúng ta là các Kitô hữu, bởi vì chúng ta tôn thờ và yêu mến Thiên Chúa. Ngôi Lời nhiệm xuất từ Thiên Chúa tự hữu, vì yêu thương chúng ta, đã nhập thể để chia sẻ những đau thương và chữa lành cho chúng ta.15

Với phụng vụ hôm nay, chúng ta hãy cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã thánh hóa Giáo Hội Roma bằng máu các vị tử đạo tiên khởi. Xin cho chúng con tìm được sức mạnh từ sự can trường và hân hoan trong chiến thắng của các ngài.16

https://www.dongcong.net/DoiSongKH/LeQuanhNam/Thang6/21.htm




Thứ Hai 28/4 Nhóm TĐCTT Hành Hương Tia Sáng Từ Balan 2014 tại chính vị trí các vị anh hùng đức tin tiên khởi Roma được tử đạo trong Hí Trướng Colossium này



Ngày 3 tháng 7

Thứ Sáu

THÁNH TÔ-MA, TÔNG ĐỒ

lễ kính

Saint Thomas the Apostle – Rob Clemenz SaintsforSinners


Vào lúc Đức Giê-su chịu thương khó và phục sinh, khuôn mặt của thánh Tô-ma nổi bật. Trong bữa ăn tối, đáp lại thắc mắc của người, Đức Giê-su nói : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Khi nghe nói Đức Giê-su đã phục sinh, vị tông đồ này không tin ngay. Mãi tới lúc Đức Giê-su cho người thấy tay và cạnh sườn bị đâm thủng, người mới tuyên xưng : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20,28). Theo truyền khẩu thì thánh nhân đã đi loan báo Tin Mừng cho dân Ấn-độ. Từ thế kỷ IV, người ta mừng ngày rước hài cốt của người về Ê-đét-xa, tức là ngày 3 tháng 7.

 

Bài đọc 2

Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !

Trích bài giảng của thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giáo hoàng, về các sách Tin Mừng.

 

Một người trong nhóm Mười Hai tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Chỉ có người môn đệ này vắng mặt. Khi trở về, ông nghe thuật lại sự việc đã xảy ra nhưng không chịu tin những điều đã nghe. Chúa đến lần nữa và đưa cạnh sườn cho người môn đệ không tin chạm tay vào. Người đưa tay ra và, khi cho ông thấy các thương tích của Người, Người chữa lành vết thương cứng tin của ông. Anh em thân mến, trong chuyện này, anh em chú ý đến điều gì ? Lúc đầu, người môn đệ được chọn này vắng mặt, sau đó ông về và nghe kể lại, nghe rồi nghi ngờ, nghi ngờ rồi đưa tay chạm, chạm rồi tin, chẳng lẽ anh em cho tất cả chuyện này là tình cờ hay sao ?

Không, không phải tình cờ đâu, nhưng Thiên Chúa an bài cho xảy ra như thế. Thật vậy, Đấng từ bi cao cả đã hành động cách lạ lùng là cho người môn đệ hoài nghi đó chữa lành vết thương cứng tin nơi chúng ta khi ông chạm tay vào thương tích trên thân thể của Thầy mình. Đàng khác, đối với đức tin của chúng ta, sự cứng tin của ông Tô-ma còn hữu ích hơn đức tin của những môn đệ khác là những người đã tin. Vì ông đã chạm tay vào Chúa và đã tin, nên tâm trí chúng ta không còn hoài nghi nữa và được một đức tin vững mạnh. Thật vậy, người môn đệ nghi ngờ và được chạm tay vào Chúa đã trở thành người làm chứng Chúa đã sống lại thật.

Ông đã được chạm tay vào Chúa và đã kêu lên : Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con. Đức Giê-su bảo : Vì đã thấy Thầy nên anh tin. Thánh tông đồ Phao-lô lại nói : Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. Vì thế, chắc chắn đức tin là bằng chứng của những điều không thể thấy đó. Thật vậy, những gì đã thấy thì không cần phải tin, nhưng phải nhìn nhận. Thế tại sao khi ông Tô-ma thấy và được chạm tay vào Chúa, Chúa lại bảo ông rằng : Vì đã thấy Thầy, nên anh tin ? Nhưng điều ông thấy là một chuyện, điều ông tin lại là chuyện khác. Người phàm phải chết không thể nhìn thấy Thiên Chúa được. Thế mà ông thấy một con người và ông tuyên xưng Thiên Chúa : Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con ! Nhờ đã thấy nên ông đã tin : khi nhìn xem một con người thật, ông đã gọi người ấy là Thiên Chúa, Đấng ông không thể thấy được.

Lời tiếp theo còn làm cho chúng ta vui hơn : Phúc thay những người không thấy mà tin. Chắc chắn lời này đặc biệt nhắm đến chúng ta, vì chúng ta không thấy Chúa bằng giác quan nhưng lại gắn bó với Người bằng tâm trí. Câu ấy nhắm đến chúng ta, nhưng với điều kiện là chúng ta phải thể hiện đức tin bằng hành động. Vì chưng ai thực hành điều mình tin mới là người tin thật sự. Còn những ai chỉ tin ngoài môi ngoài miệng, thì thánh Phao-lô nói về họ rằng : Họ tuyên bố là biết Thiên Chúa, nhưng trong hành động họ lại chối Người. Thánh Gia-cô-bê cũng nói : Đức tin không có hành động là đức tin chết.

 

Lạy Thiên Chúa toàn năng, hôm nay chúng con hoan hỷ mừng lễ thánh Tô-ma tông đồ. Xin nhậm lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố lòng tin của chúng con, để chúng con được sống muôn đời khi cùng với thánh nhân tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô là Chúa, Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

Bài Ðọc I: Ep 2, 19-22

"Anh em được xây dựng trên nền tảng các tông đồ".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, anh em không còn là khách trọ và khách qua đường nữa, nhưng là người đồng hương với các Thánh và là người nhà của Thiên Chúa: anh em đã được xây dựng trên nền tảng các Tông đồ và các Tiên tri, có chính Ðức Giêsu Kitô làm Ðá góc tường. Trong Người, tất cả toà nhà được xây dựng cao lên thành đền thánh trong Chúa, trong Người, cả anh em cũng được xây dựng làm một với nhau, để trở thành nơi Thiên Chúa ngự trong Thánh Thần.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 116, 1. 2

Ðáp: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian (Mc 16, 15).

Xướng: 1) Hỡi muôn dân, hãy ngợi khen Chúa! Hỡi ngàn dân, hãy ca tụng Người. - Ðáp.

2) Vì lòng từ bi Người vững bền trên chúng ta, và lòng trung kiên Người tồn tại đến muôn đời. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 20, 29

Alleluia, alleluia! - Tôma, vì con đã xem thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 20, 24-29

"Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Bấy giờ trong Mười Hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Ðiđy-mô, không ở cùng với các ông, khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người thì tôi không tin". Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà, và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Ðoạn Người nói với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay vào đây và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin".

Ðó là lời Chúa.

 

 

Thánh Thomas (Tôma) Tông Đồ hay cũng còn được gọi là là Đi-đy-mô, xuất thân từ một gia đình nghèo túng tại Galilea, Do-thái. Tuy nhiên, không ai biết về ngày tháng năm sinh của Ngài, cũng không ai biết Ngài đã sinh ra tại địa điểm cụ thể nào ở Galilea. Theo tương truyền,

Ngài đã đến Mailapur, một khu vực thuộc thánh phố Madras của Ấn-độ ngày nay, và đã chết tại đó vào năm 72 sau Chúa Ki-tô với tư cách là một vị Tử Đạo. Ngài là một trong nhóm 12 Tông Đồ, tức những môn đệ thân tín nhất của Chúa Giê-su, đã đồng hành với Chúa Giê-su suốt ba năm trường với tư cách là những người bạn và những môn sinh (xc. Ga 15,15). Tên của Ngài được đặt theo tiếng Aram: ta'am (Thomas), có nghĩa là „một cặp“ hay „người được sinh đôi“. Vì thế, trong Kinh Thánh, Thomas cũng được gọi là Didymos, vì từ Thomas được dịch sang tiếng Hy-lạp là δίδυμος (didymos). Theo truyền thống Syria, Thánh Nhân cũng còn được gọi là Judas Thomas, vì tại đó, Thomas được hiểu là tên đệm, hay tục danh.


Trong các Giáo hội Công giáo, Chính thống giáo và Anh giáo, Thánh Thomas được tôn kính với tư cách là vị Thánh Tông Đồ Tử Đạo. Trong các Giáo hội Tin Lành cũng có ngày tưởng nhớ tới Ngài.


1.Hình ảnh của Thánh Thomas trong Kinh Thánh:


Thánh Thomas được cả bốn Tin Mừng nhắc tới trong bảng danh sách các Tông Đồ. Trong Tin Mừng Nhất Lãm, tức ba cuốn Tin Mừng đầu tiên, Ngài đứng bên cạnh Thánh Mát-thêu - viên quan ngành thuế (Mt 10,3; Mc 3,18; Lc 6,15). Trong sách Công Vụ Tông Đồ, người ta thấy Ngài đứng bên cạnh Tông Đồ Philiphê (Cv 1,13). Tin Mừng theo Thánh Gio-an đã cung cấp một số chi tiết đặc biệt về Thánh Nhân, mà những chi tiết đó đã mô tả một cách rõ nét về những tính cách nơi con người Ngài.


a.Thomas là người đa nghi:


Trước tiên, con đường dẫn tới việc tuyên xưng Đức Tin vào Con Thiên Chúa được trình bày nơi Thánh Thomas, dựa trên nền tảng căn bản phát xuất từ mối tương quan cá nhân của Ngài với Chúa Giê-su. Tin Mừng theo Thánh Gio-an (xc. Ga 20,19-29) đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn như thế:


Vào chiều ngày ấy, tức ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em! " Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."


„Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em." Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con! " Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!"


Sở dĩ Thánh Thomas bị gọi là người „đa nghi“ là vì, như được trình bày trong đoạn văn Kinh Thánh nêu trên, trước khi tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Giê-su Phục Sinh thì Ngài đã nghi ngờ về sự phục sinh của Chúa, cho tới khi chính Ngài tận mắt thấy được những vết đanh trên người của Đấng Phục Sinh.


b.„Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống“:


Một chi tiết tiếp theo về Thánh Thomas được ghi lại trong trình thuật về Bữa Tiệc Ly (xc. Ga 14,4). Trong Bữa Tiệc này, sau khi loan báo về cái chết đang đến gần của Ngài, Chúa Giê-su đã nói rằng, Ngài sẽ đi để dọn chỗ cho các Môn Đệ, để Ngài ở đâu thì các ông cũng sẽ được ở đó với Ngài; và Ngài đã giải thích cho các ông rằng: „Thầy đi đâu thì anh em cũng đã biết đường đến đó rồi“ (Ga 14,4). Nhưng Thánh Thomas đã xen vào và nói: „Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?“ (Ga 14,5). Câu hỏi của Thánh Nhân đã tạo điệu kiện cho Chúa Giê-su tuyên bố một lời rất nổi tiếng: „Thầy chính là đường, là sự thật và là sự sống“ (Ga 14,6).


c.“Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy!:


Thánh Thomas lại xuất hiện một lần nữa trong Tin Mừng trước khi Chúa Giê-su làm cho La-gia-rô phục sinh. Trong một khoảnh khắc đầy nguy ngập đối với cuộc sống của Ngài, Chúa Giê-su đã quyết định đi tới Bê-ta-ni-a để làm cho La-gia-rô được sống lại, và như thế, Ngài đã lên đường trong sự nguy hiểm, vì Bê-ta-ni-a nằm rất gần Giê-ru-sa-lem, nơi các thủ lãnh của dân đã quyết định làm mọi cách để khử trừ Chúa Giê-su (xc. Ga 10,22-39), do đó, chỉ cần nói tới đi đến Giê-ru-sa-lem thôi thì tất cả các môn đệ của Chúa Giê-su lẫn những người đi theo Ngài đều cảm thấy kinh hoàng và sợ hãi (xc. Mc 10,32). Trước sự quyết tâm của Chúa Giê-su và trước nỗi do dự của các Tông Đồ khác, Thánh Thomas đã nói với họ: „Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy!


2.Thánh Thomas đã nghi ngờ về cuộc Thăng Thiên của Đức Maria:


Theo tương truyền, Thánh Thomas cũng là một Tông Đồ duy nhất đã không có mặt trong cuộc Thăng Thiên của Đức Maria. Khi được các Tông Đồ khác thuật lại cho biết sự kiện vừa nêu, Ngài cũng đã tỏ ra nghi ngờ giống như Ngài đã từng nghi ngờ về cuộc Phục Sinh của Chúa Giê-su. Vì thế Đức Mẹ đã hiện ra với kẻ đa nghi này và trao cho Ngài dây thắt lưng của Mẹ như là bằng chứng về việc cả hồn lẫn xác của Mẹ đều đã được nghinh đón trên Thiên Đàng. Do đó, trong nền kiến trúc Barock, hình ảnh Đức Maria cầm dây thắt lưng chính là một Mô-típ rất được yêu chuộng và phổ biến trong nghệ thuật Ki-tô giáo.


3.Những tương truyền về hoạt động tông đồ của Thánh Thomas:


Cuốn Didache, tức cuốn Giáo Lý của các Thánh Tông Đồ - một trong những tác phẩm Ki-tô giáo cố nhất ngoài 27 cuốn sách của Tân Ước – xuất hiện vào khoảng năm 100 sau Chúa Ki-tô, chứa đựng những bằng chứng cổ nhất bằng văn bản về hoạt động truyền giáo của Thánh Thomas tại Ấn-độ. Theo cuốn sách này, Ngài đã thành lập Giáo hội tại Ấn-độ và tại những khu vực lân cận.


Khoảng một trăm năm sau, những tài liệu được gọi là những văn kiện về Thánh Thomas mới xuất hiện. Những tác phẩm này đã tường thuật lại một cách khá giống nhau về những công việc của Thánh Thomas, nhưng được thêu dệt thêm bởi rất nhiều những tình tiết giầu tính tưởng tượng, và có vẻ như bị ảnh hưởng nhiều bởi ngộ đạo thuyết.


Giáo phụ Ô-ri-gen cho biết rằng, trước tiên Thánh Thomas đã đến loan báo Tin Mừng tại Irak và Iran. Sau đó Ngài mới đến miền Nam Ấn-độ để hoạt động Tông Đồ, và vì những hoạt động truyền giáo của mình, nên Ngài đã bị giết tại Mailapur – một khu vực thuộc miền Nam Ấn-độ - vào năm 70 của thế kỷ thứ nhất. Người ta vẫn còn giữ được nhiều văn bản nói về những hoạt động của Thánh Thomas tại Ấn-độ, nhưng những văn bản đó xuất hiện sau thời Ô-ri-gen. Trong đó có những bản văn của Thánh Hieronymô (347-420), và của những người sống cùng thời với Ngài là Thánh Gaudentiô thành Brescia và Thánh Paulinô thành Nola (354-431).


Thánh Grêgôriô thành Tours (538-594) đã không chỉ cho chúng ta biết rằng, Thánh Thomas Tông Đồ đã hoạt động và chết tại Ấn-độ, nhưng còn cho biết thêm là, Ngài đã được mai táng tại đó trong một thời gian dài, và sau đó, các Thánh Tích của Ngài đã được chuyển tới Edessa, nhưng nơi có ngôi mộ nguyên thủy của Ngài vẫn còn được tiếp tục tôn kính tại Ấn-độ. Thánh Isidor thành Sevilla (560-636) cũng nói tương tự như thế về Thánh Thomas, và cũng nói về cách thức lãnh nhận ơn Tử Đạo của Ngài tại Ấn-độ.


Một truyền thống khác phát sinh tại Nam Ấn-độ, và có nguồn gốc từ thời các Thánh Tông Đồ, và luôn tồn tại từ đó tới nay, đã cho biết về những hoạt động truyền giáo của Thánh Thomas tại đó, và cho biết rằng, Ngài đã thành lập 7 giáo đoàn đầu tiên tại vùng duyên hải Malabar, cũng như cho biết về cuộc Tử Đạo của Ngài tại Mailapur nằm đối diện với vùng duyên hải Coromandel. Ngay cả truyền thống có tính địa phương của Ấn-độ về Thánh Thomas cũng xác nhận về việc các Thánh Tích của Ngài đã được chuyển một phần lớn về Edessa, mà tại đây, trong các cuộc khai quật sau sau này, người ta đã phát hiện ra một ít Thánh Tích vẫn còn sót lại của Ngài.


Ibas Edessa đã cho xây dựng một ngôi Thánh Đường tại quê hương của ông để tôn kính các Thánh Tích của Thánh Thomas. Còn hộp sọ được cho là của Thánh Thomas thì hiện tại đang được bảo quản trong Nhà Thờ Chính Tòa Sioni tại Tiflis, Giorgia, và được tôn kính tại đó bởi Giáo hội Tông Truyền Chính thống Giorgia như là Thánh Tích. Trong cuộc Thập Tự Chinh vào năm 1258, phần lớn Thánh Tích của Thánh Thomas đều được chuyển từ Edessa về Ortona, Ý, và những Thánh Tích đó vẫn đang được bảo quản tại đó cho tới tận ngày nay, trong một hòm đựng Thánh Tích đặt trong Nhà Nguyện nằm bên dưới Vương Cung Thánh Đường Ortona. Ngôi mộ nguyên thủy của Thánh Thoams tại Ấn-độ hiện đang là một điểm hành hương có sức lôi cuốn rất mạnh. Ngoài Vương Cung Thánh Đường kính Thánh Thomas được xây dựng ngay trên ngôi mộ trước đây của Ngài tại Mylapore, thuộc thành phố Chennai, thì tại khu vực phía Nam Ấn-độ cũng còn vô số những điểm hành hương khác, mà những điểm hành hương này đều có liên quan đến Thánh Thomas cũng như liên quan tới những hoạt động truyền giáo của Ngài tại đó. Sau đây là một số địa điểm nổi tiếng nhất:


1.Thánh Đường kính Thánh Thomas trên núi Chennai: đây là nơi mà theo tương truyền, Ngài đã Tử Đạo tại đó;


2.Thánh Đường kính Thánh Thomas nằm trên một ngọn núi nhỏ khác tại Chennai: đây là nơi mà theo tương truyền, Thánh Thomas đã đến ẩn náu tại đó trước khi chịu Tử Đạo;


3.Núi và Thánh Đường Malayattoor tại Kerala: đây là nơi được cho là Thánh Thomas đã đến sống ẩn dật tại đó trong một thời gian dài để cầu nguyện và suy niệm;


4.Thánh Đường Codungallur: theo tương truyền, nơi đây đã từng là một thành phố cảng nổi tiếng, và vào năm 52, Thánh Thomas đã cập bến tại đây, và là một trong bảy cộng đoàn nguyên thủy do Thánh Thomas thành lập. Một cánh tay của Thánh Nhân đang được tôn kính tại đây. Cánh tay này đã được chuyển đến từ Ortona, nước Ý, như là một món quà của Đức Pi-ô XII nhân dịp mừng kỷ niệm 1900 năm Ngày thánh Thomas đặt chân tới Ấn-độ.


5.Thánh Đường Palayur: đây là một trong bảy cộng đoàn nguyên thủy tại vùng duyên hải Malabar, và nguyên là một đền thờ của người Ấn giáo. Sau khi hầu hết các Giáo sĩ Bà-la-môn gia nhập Giáo hội Công giáo, Thánh Thomas đã biến ngôi đền này thành một ngôi Thánh Đường.


Theo một số truyền thống khác, mà những truyền thống này có lẽ có nguồn gốc từ ngộ đạo thuyết và từ phái Manichê, Thánh Thomas được coi là người anh em song sinh của Chúa Giê-su.


Thánh Thomas còn bị gán là tác giả của một cuốn Tin Mừng và của nhiều tác phẩm khác. Nhưng tất cả các tác phẩm này đều bị liệt vào số các sách Ngụy Thư.


4.Việc tôn kính Thánh Thomas:


Tại Châu Âu, ngoài việc được tôn kính với tư cách là Thánh Tông Đồ Tử Đạo, Thánh Thomas còn được tôn kính với tư cách là vị Bổn Mạng của những người làm nghề thợ nề và thợ mộc. Bên cạnh đó, Ngài còn được tôn kính là Bổn Mạng của các Thần Học Gia.


Trước đây Giáo hội mừng kính Thánh Thomas vào ngày 21 tháng 12, nhưng từ năm 1969, với cuộc cải tổ Phụng Vụ, Giáo hội đã mừng kính Ngài vào ngày mồng 03 tháng 07 với bậc Lễ Kính, tức Lễ Bậc II. Ngày mồng 03 tháng 07 được coi là ngày di chuyển các Thánh Tích của Thánh nhân từ nơi Ngài được phúc Tử Đạo, tức từ Kalamina về Edessa hồi thế kỷ thứ III.


Giáo hội Chính Thống giáo mừng kính Thánh Thomas vào ngày mồng 06 tháng 10.


Còn các Giáo hội Tin Lành thì vẫn tiếp tục mừng kính Thánh Thomas vào ngày 21 tháng 12.


Và Giáo hội Anh giáo cũng mừng kính Thánh Thomas vào ngày 21 tháng 12.

 

Lm Đa-minh Thiệu O.Cist

http://conggiao.info/thanh-toma-tong-do-d-41872

 

Thứ Tư  27/9/2006 - Bài 19: Tông Đồ Tôma (ĐTC Biển Đức XVI)