SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO
Bài Ðọc I: 1 V 19, 9a. 11-13a
"Ngươi hãy ra đứng trên núi trước tôn nhan Chúa".
Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, khi Êlia đã lên núi Horeb của Thiên Chúa, ông trú ẩn trong một cái hang... Có lời Chúa phán cùng ông rằng: "Hãy ra đứng trên núi trước tôn nhan Chúa". Bỗng Chúa đi qua; có một cơn gió mạnh xé núi non và nghiền nát đá trước mặt Chúa; nhưng Chúa không ở trong gió bão. Sau trận gió bão thì đất động; Chúa cũng không ở trong cơn động đất. Sau cơn động đất thì có lửa; nhưng Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa thì có tiếng gió hiu hiu. Vừa nghe thấy, Êlia liền lấy áo choàng che mặt lại, đi ra đứng ở cửa hang.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 84, 9ab-10. 11-12. 13-14
Ðáp: Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, và ban ơn cứu rỗi cho chúng con (c. 8).
Xướng: 1) Tôi sẽ nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán báo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ phán bảo về sự bình an. Vâng, ơn cứu độ Chúa gần đến cho những ai tôn sợ Chúa, để vinh quang Chúa ngự trị trong Ðất Nước chúng tôi. - Ðáp.
2) Lòng nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau, đức công minh và sự bình an hôn nhau âu yếm. Từ mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh tự trời nhìn xuống. - Ðáp.
3) Vâng, Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và Ðất Nước chúng con sẽ sinh bông trái. Ðức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lốt bước của Ngài. - Ðáp.
Bài Ðọc II: Rm 9, 1-5
"Tôi đã ước ao được loại khỏi Ðức Kitô vì phần ích anh em của tôi".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, tôi xin nói thật trong Ðức Kitô, tôi không nói dối: lương tâm tôi làm chứng cho tôi trong Thánh Thần: là tôi buồn phiền quá đỗi, lòng tôi hằng đau đớn luôn. Chính tôi đã ao ước được loại khỏi Ðức Kitô vì phần ích anh em của tôi, là những thân nhân của tôi về phần xác. Họ đều là người Israel, họ được quyền làm nghĩa tử, được vinh quang, giao ước, lề luật, việc phượng tự và lời hứa: các tổ phụ cũng là của họ, và bởi các đấng ấy mà Ðức Kitô sinh ra phần xác, Người là Thiên Chúa trên hết mọi sự, đáng chúc tụng muôn đời.Amen.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Ga 1, 14 và 12b
Alleluia, alleluia! - Ngôi lời đã làm người và đã ở giữa chúng ta. Những ai tiếp rước Người, thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 14, 22-33
"Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện một mình. Ðến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió.
Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: "Ma kìa!", và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!" Phêrô thưa lại rằng: "Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy". Chúa phán: "Hãy đến!" Phêrô xuống khỏi thuyền, bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: "Lạy Thầy, xin cứu con!" Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: "Người hèn tin, tại sao mà nghi ngờ?" Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: "Thật, Thầy là Con Thiên Chúa".
Ðó là lời Chúa.

Suy Nghiệm Lời Chúa
Một khi tiến tới chỗ "gặp gỡ nhau"
đến độ "hôn nhau âu yếm" thì...
"Khi dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện một mình. Ðến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió. Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: 'Ma kìa!', và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: 'Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!'... Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: 'Thật, Thầy là Con Thiên Chúa'".
"Anh em thân mến, tôi xin nói thật trong Ðức Kitô, tôi không nói dối: lương tâm tôi làm chứng cho tôi trong Thánh Thần: là tôi buồn phiền quá đỗi, lòng tôi hằng đau đớn luôn. Chính tôi đã ao ước được loại khỏi Ðức Kitô vì phần ích anh em của tôi, là những thân nhân của tôi về phần xác. Họ đều là người Israel, họ được quyền làm nghĩa tử, được vinh quang, giao ước, lề luật, việc phượng tự và lời hứa: các tổ phụ cũng là của họ, và bởi các đấng ấy mà Ðức Kitô sinh ra phần xác, Người là Thiên Chúa trên hết mọi sự, đáng chúc tụng muôn đời. Amen".
Bài Ðọc I: (Năm II) Ed 1, 2-5. 24 - 2, 1a
"Ðây là hình lạ trông giống vinh quang của Chúa".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Ngày mồng năm trong tháng, năm thứ năm vua Gioakim bị lưu đày, có lời Chúa phán cùng tư tế Êdêkiel, con của Buzi, ở xứ Calđêa, trên bờ sông Côbar. Chính tại đây, bàn tay Thiên Chúa đã đặt trên tôi.
Tôi nhìn thấy có một cơn gió mạnh từ phương bắc thổi đến. Có một đám mây to lớn và lửa bao bọc chung quanh và bốn bề có ánh sáng phát ra, và ở giữa bầu lửa như vàng pha sáng chói. Chính giữa, có giống gì như bốn con vật hình dáng giống như hình người.
Và tôi nghe tiếng cánh của chúng như tiếng nước lũ, như tiếng của Chúa vạn năng; khi chúng đi thì khác nào như đám đông người, như tiếng đạo quân: khi chúng dừng lại thì chúng xếp cánh xuống. Vì khi chúng nghe có tiếng trên không trung, trên đầu chúng, thì chúng dừng lại và xếp cánh xuống.
Và trên không trung, trên đỉnh đầu chúng, có cái gì như một viên ngọc thạch, hình như chiếc ngai, và trên ngai đó, phía trên hẳn, có hình giống như hình người. Và tôi thấy người như vàng pha sáng chói, bên trong, tứ bề khác nào như lửa, từ lưng người trở lên, và từ lưng trở xuống, tôi thấy có gì như lửa chiếu sáng chung quanh, giống như cái mống hiện ra trên mây trong ngày mưa: đó là hình thể chiếu sáng chung quanh. Ðây là hình lạ trông giống vinh quang của Chúa. Tôi nhìn thấy thì sấp mặt xuống đất.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 148, 1-2. 11-12ab. 12c-14a. 14bcd
Ðáp: Trời đất đầy vinh quang của Người.
Hoặc đáp: Alleluia.
Xướng: 1) Hãy ca tụng Chúa từ muôn cõi trời, hãy ca tụng Người trên nơi cao thẳm. Các thiên thần Chúa, hãy ca tụng Người đi; ca tụng Người đi, hỡi các đạo thiên binh. - Ðáp.
2) Quân vương địa cầu và tất cả chư dân, quan chức và các vị chính quyền nơi cõi đất, các thanh nhiên và cả những cô trinh nữ, những ông cụ già với đoàn con trẻ. - Ðáp.
3) Họ hãy ca tụng danh Chúa, vì danh Người siêu phàm, độc nhất, oai nghiêm Người tràn lan trên trời dưới đất, và Người nâng cao quyền thế dân Người. - Ðáp.
Alleluia: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia! - Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 17, 21-26
"Họ sẽ giết Người, nhưng Người sẽ sống lại. Con cái thì được miễn thuế".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, các môn đệ và Chúa Giêsu còn đang ở Galilêa, thì Chúa Giêsu bảo các ông rằng: "Con Người sắp bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết người, nhưng ngày thứ ba, Người sẽ sống lại". Các môn đệ rất đỗi buồn phiền.
Khi các ngài đến Capharnaum, thì những người thu thuế đền thờ đến gặp Phêrô và hỏi rằng: "Thầy các ông không nộp thuế "đền thờ' sao?" Ông nói: "Có chớ".
Khi ông về đến nhà, Chúa Giêsu hỏi đón trước rằng: "Simon, con nghĩ sao? Vua chúa trần gian thu thuế má hạng người nào? Ðòi con cái mình hay người ngoài?" Ông thưa rằng: "Ðòi người ngoài". Chúa Giêsu bảo ông rằng: "Vậy thì con cái được miễn. Nhưng để chúng ta không làm cho họ vấp phạm, con hãy ra biển thả câu: con cá nào câu lên trước hết thì bắt lấy, mở miệng nó ra, sẽ thấy một đồng tiền, con hãy lấy tiền đó mà nộp cho họ, trả phần Thầy và phần con".
Ðó là lời Chúa.

Lời Chúa Kitô tiên báo lần đầu tiên về cuộc Vượt Qua của Người: "Khi thầy trò tụ họp ở miền Galilêa, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: 'Con Người sắp bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ngày thứ ba Người sẽ sống lại'. Các môn đệ buồn phiền lắm".
1) Hãy ca tụng Chúa từ muôn cõi trời, hãy ca tụng Người trên nơi cao thẳm. Các thiên thần Chúa, hãy ca tụng Người đi; ca tụng Người đi, hỡi các đạo thiên binh.
2) Quân vương địa cầu và tất cả chư dân, quan chức và các vị chính quyền nơi cõi đất, các thanh nhiên và cả những cô trinh nữ, những ông cụ già với đoàn con trẻ.
3) Họ hãy ca tụng danh Chúa, vì danh Người siêu phàm, độc nhất, oai nghiêm Người tràn lan trên trời dưới đất, và Người nâng cao quyền thế dân Người.
Bài Ðọc I: (Năm II) Ed 2, 8 - 3, 4
"Người ban cho tôi cuốn sách ấy làm lương thực: nó trở nên ngọt ngào như mật trong miệng tôi".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Chúa phán như thế này: "Phần ngươi, hỡi con người, hãy nghe các lời Ta sẽ phán cùng ngươi; ngươi chớ phản nghịch như loài phản nghịch kia. Hãy mở miệng mà ăn những sự Ta sẽ ban cho ngươi". Tôi nhìn, thì có một bàn tay đưa về phía tôi, trong tay có cuốn sách cuộn lại. Người mở cuốn sách ra trước mặt tôi: sách viết cả mặt trong, mặt ngoài. Trong sách viết những lời than van, rên rỉ và kêu trách.
Người phán cùng tôi rằng: "Hỡi con người, ngươi hãy ăn sự ngươi tìm được. Hãy ăn cuốn sách này và đi nói với con cái Israel". Tôi mở miệng và Người cho tôi ăn cuốn sách ấy và bảo tôi rằng: "Hỡi con người, hãy lấy cuốn sách Ta ban cho ngươi làm lương thực mà ăn cho no". Tôi ăn và nó trở nên ngọt ngào như mật trong miệng tôi. Và Người phán cùng tôi rằng: "Hỡi con người, hãy đi đến nhà Israel và nói cho chúng nghe những lời của Ta".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 118, 14. 24. 72. 103. 111. 131
Ðáp: Các lời sấm của Chúa ngọt ngào trong cổ họng con là dường nào (c. 103a).
Xướng: 1) Con vui vì đường lối lời Ngài nghiêm huấn, dường bằng được mọi thứ giàu sang. - Ðáp.
2) Vì lời nghiêm huấn của Ngài là điều con ưa thích, các thánh chỉ của Ngài là những bậc cố vấn của con. - Ðáp.
3) Ðối với con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn. - Ðáp.
4) Các lời sấm của Ngài ngon ngọt thay cho cổ họng con, ngọt hơn cả mật ong đổ miệng con. - Ðáp.
5) Lời Ngài nghiêm huấn là sản nghiệp của con muôn đời: vì những điều đó khiến cho lòng con hoan hỉ. - Ðáp.
6) Con há miệng để hút nguồn sinh khí, vì con ham muốn những chỉ thị của Ngài. - Ðáp.
Alleluia: 1 Sm 3, 9
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe: Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 18, 1-5. 10. 12-14
"Các con hãy coi chừng, đừng khinh rẻ một ai trong những kẻ bé mọn này".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy các môn đệ đến bên Chúa Giêsu mà hỏi: "Chớ thì ai là kẻ lớn nhất trong Nước Trời?" Chúa Giêsu gọi một trẻ nhỏ lại, đặt nó giữa các ông mà phán rằng: "Thật, Thầy bảo thật các con: nếu các con không hoá nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không được vào Nước Trời. Vậy ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ này, người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời.
"Và kẻ nào đón nhận một trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón nhận Thầy. Các con hãy coi chừng, đừng khinh rẻ một ai trong những kẻ bé mọn này, vì Thầy bảo các con, thiên thần của chúng trên trời hằng chiêm ngưỡng thánh nhan Cha Ta, Ðấng ngự trên trời.
"Các con nghĩ sao? Nếu ai có một trăm con chiên mà lạc mất một con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con trên núi, để đi tìm con chiên lạc sao? Nếu người đó tìm được, Thầy bảo thật các con, người đó sẽ vui mừng vì con chiên đó, hơn chín mươi chín con chiên không thất lạc. Cũng vậy, Cha các con trên trời không muốn để một trong những kẻ bé mọn này phải hư mất".
Ðó là lời Chúa.

Cảm Nghiệm Suy Niệm
Như Trẻ Nhỏ: vừa Thánh Nhân vừa Tội Nhân
1) Con vui vì đường lối lời Ngài nghiêm huấn, dường bằng được mọi thứ giàu sang.
2) Vì lời nghiêm huấn của Ngài là điều con ưa thích, các thánh chỉ của Ngài là những bậc cố vấn của con.
3) Ðối với con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn.
4) Các lời sấm của Ngài ngon ngọt thay cho cổ họng con, ngọt hơn cả mật ong đổ miệng con.
5) Lời Ngài nghiêm huấn là sản nghiệp của con muôn đời: vì những điều đó khiến cho lòng con hoan hỉ.
6) Con há miệng để hút nguồn sinh khí, vì con ham muốn những chỉ thị của Ngài.
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm II) Ed 9, 1-7; 10, 18-22
"Hãy ghi chữ Thập trên trán những người rên rỉ khóc than các việc ghê tởm của thành Giêrusalem".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Chúa kêu lớn tiếng vào tai tôi rằng: "Những kẻ trừng phạt thành đã đến gần, mỗi người cầm trong tay khí cụ của mình để tàn sát". Và kìa có sáu người tiến lại, từ cửa trên phía bắc mà đến, mỗi người cầm trong tay khí cụ của mình để tàn sát. Giữa họ có một người mặc áo trắng, ngang lưng mang bút của ký lục. Họ tiến vào và dừng lại trước bàn thờ bằng đồng.
Vinh quang của Chúa Israel ngự trên các vệ binh thần liền từ đó mà cất lên, đi về phía ngưỡng cửa Ðền Thờ. Người gọi kẻ mặc áo trắng, ngang lưng có mang bút của ký lục mà nói: "Hãy đi khắp thành, khắp Giêrusalem và ghi chữ Thập trên trán những người rên rỉ khóc than tất cả những việc ghê tởm người ta phạm giữa thành".
Tôi còn nghe Người bảo những người kia rằng: "Hãy theo người này đi khắp thành và đánh phạt. Ðừng đưa mắt xót thương, đừng tha thứ: già lão, trai tráng, gái trinh, trẻ con, phụ nữ, hãy giết cho hết. Nhưng ai có chữ Thập trên trán thì đừng giết. Hãy bắt đầu từ nơi thánh của Ta". Thế là họ bắt đầu giết những kỳ lão đang đứng trước Ðền Thờ. Người lại bảo rằng: "Hãy làm ô uế Ðền Thờ, hãy làm cho các hành lang đầy tử thi rồi hãy ra đi". Họ bỏ ra đi đánh phạt những kẻ ở trong thành.
Vinh quang của Chúa từ trên ngưỡng cửa Ðền Thờ mà đi ra và dừng lại trên các vệ binh thần. Các vệ binh thần cất cánh và từ đất bay lên, ngay trước mặt tôi; các bánh xe cũng đi theo chúng. Chúng dừng lại nơi cửa Ðông Ðền thờ Chúa, và vinh quang của Thiên Chúa Israel ở phía trên chúng. Ðó là sinh vật tôi đã thấy ở dưới Thiên Chúa Israel gần sông Côbar, (bây giờ) tôi mới hiểu biết đó là các vệ binh thần. Mỗi sinh vật có bốn mặt, bốn cánh và dưới cánh, có những hình bàn tay như tay người. Mặt chúng giống những mặt tôi đã thấy gần sông Côbar. Mỗi sinh vật cứ đi thẳng tới đàng trước.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 112, 1-2. 3-4. 5-6
Ðáp: Trên muôn cõi trời, là vinh quang của Chúa (c. 4b).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Hãy ngợi khen, hỡi những người tôi tớ Chúa, chư vị hãy ngợi khen danh Chúa. Nguyện danh Chúa được chúc tụng từ bây giờ và cho đến muôn đời. - Ðáp.
2) Từ mặt trời mọc lên tới khi lặn xuống, nguyện cho danh Chúa được ngợi khen. Chúa siêu việt trên hết thảy chư dân, trên muôn cõi trời là vinh quang của Chúa. - Ðáp.
3) Ai được như Thiên Chúa chúng tôi, Người ngự trên nơi cao thẳm, và Người để mắt nhìn coi, khắp cả trên trời dưới đất? - Ðáp.
Alleluia: Gc 1, 21
Alleluia, alleluia! - Anh em hãy khiêm nhu nhận lãnh lời giao ước trong lòng, lời đó có thể cứu thoát linh hồn anh em. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 18, 15-20
"Nếu nó nghe ngươi, thì ngươi đã lợi được người anh em".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu anh em con lỗi phạm, hãy đi sửa dạy nó, riêng con và nó thôi. Nếu nó nghe con, thì con đã lợi được người anh em. Nếu nó không nghe lời con, hãy đem theo một hoặc hai người nữa, để mọi việc được giải quyết nhờ lời hai hoặc ba nhân chứng. Nếu nó không nghe họ, hãy trình với cộng đoàn. Và nếu nó cũng không nghe cộng đoàn, con hãy kể nó như người ngoại giáo và như người thu thuế.
"Thầy bảo thật các con, những gì các con cầm buộc dưới đất thì trên trời cũng cầm buộc, và những gì các con tháo gỡ dưới đất thì trên trời cũng tháo gỡ.
"Thầy cũng bảo thật các con, nếu hai người trong các con, ở dưới đất, mà hiệp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời, sẽ ban cho họ điều đó. Vì ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy".
Ðó là lời Chúa.

Cảm Nghiệm Suy Niệm
Quyền Bính Vô Ngộ - Chân Lý Yêu Thương
"Thầy cũng bảo thật các con, nếu hai người trong các con, ở dưới đất, mà hiệp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho họ điều đó. Vì ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy".
Phải chăng quyền bính cầm buộc và tháo cởi của riêng vị lãnh đạo tông đồ đoàn Phêrô, và chung tông đồ đoàn khi hiệp thông với vị lãnh đạo Phêrô, được ám chỉ nơi thị kiến của Tiên Tri Êzêkiên trong Bài Đọc 1 hôm nay, trong đó, quyền tháo cởi được ám chỉ nơi sự kiện: "Người gọi kẻ mặc áo trắng, ngang lưng có mang bút của ký lục mà nói: 'Hãy đi khắp thành, khắp Giêrusalem và ghi chữ Thập trên trán những người rên rỉ khóc than tất cả những việc ghê tởm người ta phạm giữa thành"; và quyền cầm buộc được ám chỉ nơi sự kiện "Tôi còn nghe Người bảo những người kia rằng: 'Hãy theo người này đi khắp thành và đánh phạt. Ðừng đưa mắt xót thương, đừng tha thứ: già lão, trai tráng, gái trinh, trẻ con, phụ nữ, hãy giết cho hết. Nhưng ai có chữ Thập trên trán thì đừng giết. Hãy bắt đầu từ nơi thánh của Ta'".
Việc cầm buộc và tháo cởi của những ai được Thiên Chúa sai đi thực hiện vai trò thẩm quyền như Ngài này phải là thành phần có thần trí của Ngài, mới thực hiện việc cầm buộc hay tháo cởi đúng như Ngài muốn. Đó là lý do ở cuối Bài Đọc 1 hôm nay mới có thêm những chi tiết liên quan tới "các vệ binh thần" của Ngài như sau:
"Vinh quang của Chúa từ trên ngưỡng cửa Ðền Thờ mà đi ra và dừng lại trên các vệ binh thần. Các vệ binh thần cất cánh và từ đất bay lên, ngay trước mặt tôi; các bánh xe cũng đi theo chúng. Chúng dừng lại nơi cửa Ðông Ðền thờ Chúa, và vinh quang của Thiên Chúa Israel ở phía trên chúng. Ðó là sinh vật tôi đã thấy ở dưới Thiên Chúa Israel gần sông Côbar, (bây giờ) tôi mới hiểu biết đó là các vệ binh thần. Mỗi sinh vật có bốn mặt, bốn cánh và dưới cánh, có những hình bàn tay như tay người. Mặt chúng giống những mặt tôi đã thấy gần sông Côbar. Mỗi sinh vật cứ đi thẳng tới đàng trước".
Qua việc tháo cởi hay cầm buộc, Thiên Chúa đều có thể tỏ vinh quang của Ngài ra, để cho con người nhận biết Ngài. Bằng nếu Ngài chỉ công minh mà thôi, không biết xót thương, chỉ biết cầm buộc mà không biết tháo cởi, thì chẳng còn một con người nào có thể tồn tại mà nhận biết Ngài, bởi tất cả đều bị giáng phạt ngay nghĩ vừa phạm tội trong lòng họ. Vì thế, Thiên Chúa đã thực sự tỏ hiện vinh quang của Ngài ra bằng lòng thương xót, vừa cầm buộc lại vừa tháo cởi của Ngài.
Ở chỗ, Ngài làm việc gì cũng chỉ vì lòng thương xót mà thôi: tháo cởi cũng vì lòng thương xót mà tha thứ, nhưng lại lợi dụng chính thành phần được tha thứ này, biến họ trở thành các chứng nhân cho lòng thương xót của Ngài, bằng những đau khổ họ phải chịu như chính lòng thương xót của Ngài đã chịu vì họ, cho phần rỗi của người khác; và khi cần phải cầm buộc, theo đức công bằng, Ngài cũng chỉ bất đắc dĩ phải thực hiện, cũng chỉ vì thương xót đến cần phải ra tay trừng phạt cho lợi ích phần rỗi của nạn nhân, nhờ đó và chỉ bằng cách đó, nạn nhân mới có thể hay mới chịu nghĩ lại, mà thống hối trở về với Ngài, nhận biết lòng thương xót của Ngài.
Câu Họa "trên muôn cõi trời, là vinh quang của Chúa" nơi bài Đáp ca hôm nay, được trích từ Thánh Vịnh 112, đã cho thấy tất cả cảm nhận và tâm tình của những ai thực sự cảm nghiệm thấy lòng thương xót Chúa, ở quyền tháo cởi và cầm buộc hoàn toàn vị thương xót của Ngài:
1) Hãy ngợi khen, hỡi những người tôi tớ Chúa, chư vị hãy ngợi khen danh Chúa. Nguyện danh Chúa được chúc tụng từ bây giờ và cho đến muôn đời.
2) Từ mặt trời mọc lên tới khi lặn xuống, nguyện cho danh Chúa được ngợi khen. Chúa siêu việt trên hết thảy chư dân, trên muôn cõi trời là vinh quang của Chúa.
3) Ai được như Thiên Chúa chúng tôi, Người ngự trên nơi cao thẳm, và Người để mắt nhìn coi, khắp cả trên trời dưới đất?
Bài Ðọc I: (Năm II) Ed 12, 1-12
"Ngươi sẽ di cư giữa ban ngày trước mặt chúng".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Có lời Chúa phán cùng tôi rằng: "Hỡi con người, ngươi đang ở giữa dòng giống phản loạn, chúng có mắt để thấy mà không thấy, có tai để nghe mà không nghe, vì đó là dòng giống phản loạn. Phần ngươi, hỡi con người, hãy sửa soạn hành trang và hãy dời đi, giữa ban ngày, trước mặt chúng. Ngươi sẽ đi từ nơi đang ở đến một nơi khác, trước mặt chúng, để hoạ may chúng xem thấy, vì chúng là dòng giống phản loạn. Ngươi sẽ phô trương hành lý của ngươi như hành lý của người di cư giữa ban ngày trước mặt chúng, rồi ban chiều, ngươi sẽ ra đi trước mặt chúng như người di cư. Trước mắt chúng, ngươi hãy khoét tường mà chui ra. Trước mắt chúng, ngươi sẽ mang hành trang trên vai và đi ra trong bóng tối, Ngươi sẽ che mặt ngươi để đừng thấy xứ sở, vì Ta đã làm cho ngươi thành biểu hiệu cho nhà Israel".
Vậy tôi đã thi hành như Chúa đã truyền cho tôi, tôi phô trương hành trang của tôi như hành trang của kẻ di cư, giữa ban ngày, và ban chiều, tôi lấy tay khoét một cái lỗ trong tường, vai mang hành trang, và ra đi trước mặt chúng trong đêm tối.
Và ban sáng có lời Chúa phán cùng tôi rằng: "Hỡi con người, nào nhà Israel, dòng giống phản loạn, đã chẳng hỏi ngươi rằng: 'Ông làm gì vậy?' Hãy bảo chúng: 'Chúa là Thiên Chúa phán rằng: Sấm ngôn này chỉ về thủ lãnh ở Giêrusalem và cả nhà Israel ở đó'. Hãy nói: 'Tôi là biểu hiệu cho các ngươi. Tôi đã làm thế nào thì việc sẽ xảy ra như vậy'. Chúng sẽ phải di cư và đi làm tôi. Và ai là thủ lãnh các chúng, người đó sẽ mang hành trang trên vai ra đi trong bóng tối, và chúng sẽ khoét tường mà đem ông ra. Mặt ông bị che kín để mắt khỏi thấy xứ sở".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 77, 56-57. 58-59. 61-62
Ðáp: Các ngươi đừng quên lãng những kỳ công của Chúa (c. 7c).
Xướng: 1) Họ đã thử thách và phản nghịch Thiên Chúa Tối Cao, và họ không tuân giữ các huấn lệnh của Người. Họ lùi bước và bội tín cũng như tổ tiên họ, họ lầm lạc như cánh cung trật đường giây. - Ðáp.
2) Họ chọc giận Người vì những nơi "thờ tự" trên cao, họ khiêu khích lòng ghen Người vì bao thần tượng. Thiên Chúa nghe biết và bừng cơn thịnh nộ, Người đã từ bỏ Israel một cách đắng cay. - Ðáp.
3) Người trao nạp sức mạnh mình cho thiên hạ bắt bớ, và vinh quang mình trong tay kẻ nghịch thù. Người bỏ mặc dân tộc Người cho cảnh gươm đao, và Người đã xung giận phần gia nghiệp của Người. - Ðáp.
Alleluia: Tv 110, 8ab
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, mọi giới răn Chúa được lập ra cho tới muôn ngàn đời. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 18, 21 - 19, 1
"Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Phêrô đến thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần không?" Chúa Giêsu đáp: "Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy.
"Về vấn đề này, thì Nước Trời cũng giống như ông vua kia muốn tính sổ với các đầy tớ. Trước hết người ta dẫn đến vua một người mắc nợ mười ngàn nén bạc. Người này không có gì trả, nên chủ ra lệnh bán y, vợ con và tất cả tài sản của y để trả hết nợ. Người đầy tớ liền sấp mình dưới chân chủ và van lơn rằng: "Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, và tôi sẽ trả lại cho ngài tất cả". Người chủ động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y.
"Khi ra về, tên đầy tớ gặp một người bạn mắc nợ y một trăm bạc: Y tóm lấy, bóp cổ mà nói rằng: "Hãy trả nợ cho ta". Bấy giờ người bạn sấp mình dưới chân và van lơn rằng: "Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, tôi sẽ trả hết nợ cho anh". Y không nghe, bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong. Các bạn y chứng kiến cảnh tượng đó, rất khổ tâm, họ liền đi thuật với chủ tất cả câu truyện. Bấy giờ chủ đòi y đến và bảo rằng: "Tên đầy tớ ác độc kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi?" Chủ nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ.
"Vậy, Cha Thầy trên trời cũng xử với các con đúng như thế, nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình".
Khi Chúa Giêsu nói những lời đó xong, thì Người bỏ xứ Galilêa mà đến Giuđêa, bên kia sông Giođan.
Ðó là lời Chúa.

Cảm Nghiệm Suy Niệm
Chúa Tha Thứ nhưng vẫn không quên... tùy ở con nợ!
Thật vậy, bài Phúc Âm hôm nay bao gồm câu trả lời của Chúa
Giêsu cho câu hỏi của Tông Đồ Phêrô: "'Lạy
Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ
mấy lần? Có phải đến bảy lần không?' Chúa Giêsu đáp: 'Thầy
không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần
bảy'".
Nghĩa là bao giờ cũng tha, không bao giờ chấp nhất, dù có
thế nào chăng nữa, dù có nhiều đến đâu chăng nữa, dù có
nặng đến mấy chăng nữa, thậm chí dù có cố tình chăng nữa,
chứ không phải chỉ tha khi đương sự vô tình, không có ý gì.
Và còn phải tự động tha nữa, chứ không cần phải được xin lỗi
mới tha, như Người đã dạy trong bài giảng Phúc Đức Trọn
Lành đối với những ai phạm đến chúng ta trước khi chúng
ta dâng của lễ cho Thiên Chúa (xem Mathêu 5:24).
Tất cả tinh thần nhân hậu và thái độ bao dung của chúng ta
như thế mới trung thực phản ảnh Đấng được Chúa Giêsu kêu gọi
"hãy thương xót như Cha là Đấng xót thương" (Luca 6:36),
một Đấng được Người ám chỉ trong dụ ngôn về vị vương chủ tha
nợ cho người bầy tôi của mình trong bài Phúc Âm hôm nay:
"Về vấn đề này, thì Nước Trời cũng giống như ông vua kia
muốn tính sổ với các đầy tớ. Trước hết người ta dẫn đến vua
một người mắc nợ mười ngàn nén bạc. Người này không có gì
trả, nên chủ ra lệnh bán y, vợ con và tất cả tài sản của y
để trả hết nợ. Người đầy tớ liền sấp mình dưới chân chủ và
van lơn rằng: 'Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, và tôi
sẽ trả lại cho ngài tất cả'. Người chủ động lòng thương, trả
tự do và tha nợ cho y".
Ở đây chúng ta thấy vị vương chủ này quảng đại bao
dung đến độ chỉ cần người bầy tôi van xin ông, không phải là
van xin tha nợ mà chỉ van xin khất nợ để rồi từ từ trả sau,
cho dù không biết phải trả đến bao giờ mới hết món nợ kếch
sù ấy và cũng chẳng biết có thể trả nổi món nợ ấy hay chăng,
nhưng vị vương chủ vẫn "động lòng thương" tự tha hết
món nợ khổng lồ ấy cho người bầy tôi khốn khổ van xin của
mình.
Thế nhưng, cho dù được tha bổng món nợ khổng lồ ấy, đến độ
giá trị của món nợ này bằng cả nhà của người bầy tôi mắc nợ:
"Người này không có gì trả, nên chủ ra lệnh bán y, vợ con
và tất cả tài sản của y để trả hết nợ", vẫn còn
nguyên đó, chứ chưa hoàn toàn được xóa sổ, tùy theo thái độ
của con nợ bầy tôi này với chính con nợ của hắn.
Thật vậy, con nợ bầy tôi này đã đối xử hoàn toàn ngược lại
với những gì hắn được hưởng từ vị vương chủ của hắn, như dụ
ngôn Chúa tiếp tục cho biết như sau:
"Khi ra về, tên đầy tớ gặp một người bạn mắc nợ y một trăm
bạc: Y tóm lấy, bóp cổ mà nói rằng: 'Hãy trả nợ cho ta'. Bấy
giờ người bạn sấp mình dưới chân và van lơn rằng: 'Xin vui
lòng cho tôi khất một kỳ hạn, tôi sẽ trả hết nợ cho anh'. Y
không nghe, bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi
trả nợ xong".
Con nợ của người bầy tôi này cũng có cùng một cử chỉ và lời
van xin khất nợ như hắn đã tỏ ra với vị vương chủ của hắn,
nhưng hắn vẫn không tha cho con nợ của hắn là người chỉ nợ
hắn chẳng là bao so với món nợ kếch sù của hắn với vị vương
chủ của hắn, đến độ, trong khi hắn được vị vương chủ này tha
hẳn cho cả món nợ, không phải trả nữa, thì hắn lại "bắt
người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong", nghĩa
là lòng của hắn vẫn thù hắn chấp nhất con nợ của hắn cho đến
khi hắn trả thù cho bằng được, cho đến khi hắn lấy lại công
bằng, "mắt đền mắt, răng đền răng" (Mathêu 5:38).
Chính vì thế, món nợ kếch sù của hắn với vị vương chủ của
hắn vẫn chưa hoàn toàn xóa sổ là như thế. Tóm lại, vấn đề
xóa sổ nợ của chúng ta với Thiên Chúa là ở chúng ta hơn là ở
nơi Thiên Chúa, Đấng lúc nào cũng tha cho chúng ta và mong
chúng ta cũng tha cho nhau như Ngài tha cho chúng ta, bằng
không, tự chúng ta làm khổ mình, ở chỗ bị chính bản thân
mình là "lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ".
Chúng ta không tha cho nhau nghĩa là chúng ta mặc
nhiên không muốn được Thiên Chúa tha nợ cho chúng ta, không
chấp nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa, ở chỗ chúng ta muốn
lấy được vài đồng bạc nợ nần của nhau chẳng đáng là bao để
trả nợ cả tỉ bạc với Thiên Chúa hay sao. Tại sao chúng
ta điên khùng đến như thế nhỉ?! Bài Phúc Âm hôm nay đã kết
thúc dụ ngôn với những lời của chính vị vương chủ cũng là
lời của Chúa Giêsu sau đó như thế này:
"Bấy giờ chủ đòi y đến và bảo rằng: 'Tên đầy tớ ác độc kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi?' Chủ nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ. Vậy, Cha Thầy trên trời cũng xử với các con đúng như thế, nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình".
"Tên đầy tớ ác độc" bị vị vương chủ "nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ", chỉ vì hắn, đã hành động hoàn toàn phản lại tấm lòng bao dung và thái độ quảng đại chủ nợ của hắn đã tỏ ra cho hắn, trước lời van xin của hắn, ở chỗ, vị chủ nợ này chẳng những đã không cần hắn phải khất nợ, mà còn tự động tha hết cả món nợ kếch sù bất khả hoàn trả của hắn nữa, trong khi đó, hắn đã nhất định không tha món nợ, chẳng là bao so với món nợ hắn được chủ nợ của hắn tha cho hắn, nên hắn đã bị chủ nợ của hắn lên án chỉ vì "ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi".
"Tên đầy tớ ác độc" này đúng là thành phần "dòng giống phản loạn, chúng có mắt để thấy mà không thấy, có tai để nghe mà không nghe, vì đó là dòng giống phản loạn": phản loạn ở chỗ sống ngược lại với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, phản lại tất cả những gì Ngài đã liên tục mạc khải cho họ biết về Ngài trong giòng lịch sử cứu độ của họ, như thể có mắt mà chẳng thấy, có tai mà chẳng nghe thấy gì vậy. Do đó, số phận cuối cùng của "tên đầy tớ ác độc" bị "lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ", chẳng khác gì số phận của dân Israel trong Bài Đọc 1 hôm nay là "phải di cư và đi làm tôi" mà trả nợ vậy.
Đó là lý do, Bài Đáp Ca hôm nay,
trích Thánh Vịnh 77, có câu họa kêu gọi dân Do Thái, cũng
như những ai được Thiên Chúa thương xót, rằng
"đừng quên lãng những kỳ công của Chúa",
một câu họa
được lập đi lập lại sau mỗi câu xướng có tính cách nhắc nhở
và cảnh giác lối sống bất trung và phản loạn của người đầy
tớ gian ác trong Bài Phúc Âm hôm nay:
1) Họ đã thử thách và phản nghịch Thiên Chúa Tối Cao, và họ không tuân giữ các huấn lệnh của Người. Họ lùi bước và bội tín cũng như tổ tiên họ, họ lầm lạc như cánh cung trật đường giây.
2) Họ chọc giận Người vì những nơi "thờ tự" trên cao, họ khiêu khích lòng ghen Người vì bao thần tượng. Thiên Chúa nghe biết và bừng cơn thịnh nộ, Người đã từ bỏ Israel một cách đắng cay.
3) Người trao nạp sức mạnh mình cho thiên hạ bắt bớ, và vinh quang mình trong tay kẻ nghịch thù. Người bỏ mặc dân tộc Người cho cảnh gươm đao, và Người đã xung giận phần gia nghiệp của Người.
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm II) Ed 16, 1-15. 60. 63
"Ngươi tuyệt hảo nhờ sự huy hoàng Ta đã mặc cho ngươi, thế mà ngươi đã mãi dâm truỵ lạc".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Có lời Chúa phán cùng tôi rằng: "Hỡi con người, hãy cho Giêrusalem biết tội ác ghê tởm của nó. Hãy nói: Chúa là Thiên Chúa phán cùng Giêrusalem rằng: Nguồn gốc và sinh quán của ngươi là xứ Canaan. Cha ngươi là người Amorê: mẹ ngươi là người Xêthêa. Khi ngươi sinh ra, ngày ngươi chào đời, người ta không cắt rốn, không rửa ngươi trong nước cho sạch sẽ, không xát muối và bọc khăn cho ngươi. Không ai đem lòng thương xót nhìn ngươi để làm cho ngươi một công việc nào như thế. Ngày ngươi sinh ra, vì ghê tởm ngươi, người ta đã bỏ ngươi ngoài đồng.
Ta đi qua gần ngươi và thấy ngươi dẫy dụa trong máu. Ta đã nói cùng ngươi rằng: 'Hãy sống trong máu và lớn lên như cỏ ngoài đồng'. Ngươi đã nảy nở, lớn lên và đến tuổi dậy thì. Ngực ngươi nở nang, tóc ngươi rậm dài, nhưng ngươi vẫn khoả thân. Bấy giờ Ta đi qua gần ngươi và thấy ngươi. Lúc đó ngươi đã đến tuổi yêu đương. Ta lấy vạt áo trải trên mình ngươi mà che sự khoả thân của ngươi. Ta thề và kết ước với ngươi - lời Chúa phán - và ngươi đã thuộc về Ta. Ta đã tắm ngươi trong nước, rửa máu trên mình ngươi và xức dầu cho ngươi. Ta đã mặc cho ngươi áo màu sặc sỡ và xỏ giày da tốt cho ngươi, thắt lưng ngươi bằng dây gai mịn và choàng cho ngươi áo tơ lụa. Ta đã lấy đồ quý mà trang điểm cho ngươi. Ta đã đeo xuyến vào tay ngươi, đeo kiềng vào cổ ngươi. Ta đã xỏ khoen vào mũi ngươi, đeo hoa tai vào tai ngươi và đặt triều thiên rực rỡ trên đầu ngươi. Ngươi đã được trang điểm bằng vàng bạc, mặc áo bằng vải mịn, tơ lụa và hàng thêu. Ngươi ăn bột miến lọc, mật ong và dầu ôliu. Càng ngày ngươi càng xinh đẹp và tiến lên ngôi nữ hoàng. Ngươi đã lừng danh giữa các dân tộc nhờ sắc đẹp của ngươi vì ngươi thật là tuyệt hảo nhờ sự huy hoàng Ta đã mặc cho ngươi. Chúa là Thiên Chúa phán, nhưng ngươi đã cậy sắc đẹp và lợi dụng danh tiếng của ngươi, để mãi dâm trụy lạc. Ngươi hiến thân cho bất cứ ai qua đường. Nhưng phần Ta, Ta sẽ nhớ lại giao ước Ta đã lập với ngươi khi ngươi còn xuân xanh. Ta sẽ lập với ngươi một giao ước vĩnh cửu. Như thế, để ngươi phải nhớ lại mà xấu hổ, và vì xấu hổ, ngươi sẽ không còn mở miệng ra nữa, khi Ta tha thứ hết mọi việc ngươi đã làm. Chúa là Thiên Chúa phán".
Ðó là lời Chúa.
Hoặc bài vắn này: Ed 16, 59-63
"Ngươi tuyệt hảo nhờ sự huy hoàng Ta đã mặc cho ngươi, thế mà ngươi đã mãi dâm truỵ lạc".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Chúa là Thiên Chúa đã phán thế này: "Ta sẽ đối xử với ngươi như ngươi đã đối xử với Ta, ngươi đã khinh rẻ lời thề mà huỷ bỏ giao ước. Nhưng phần Ta, Ta sẽ nhớ lại giao ước Ta đã lập với ngươi khi ngươi còn xuân xanh. Ta sẽ lập với ngươi một giao ước vĩnh cửu. Và ngươi sẽ ghi nhớ các đường lối của ngươi mà cảm thấy nhục khi Ta lấy các chị các em gái ngươi mà ban cho ngươi làm con, mặc dầu chúng không có chân trong giao ước của ngươi. Ta sẽ giữ vững giao ước của Ta với ngươi, và ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa, và như thế, để ngươi phải nhớ lại mà xấu hổ, và vì xấu hổ, ngươi sẽ không còn mở miệng ra nữa, khi Ta tha thứ hết mọi việc ngươi đã làm. Chúa là Thiên Chúa phán".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6
Ðáp: Chúa đã bỏ cơn giận của Chúa và đã an ủi tôi (c. 1c).
Xướng: 1) Ðây Thiên Chúa là Ðấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà hành động và không khiếp sợ: vì Chúa là sức mạnh, là Ðấng tôi ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi. - Ðáp.
2) Hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người; hãy công bố cho các dân biết kỳ công của Chúa; hãy nhớ lại danh Chúa rất cao sang. - Ðáp.
3) Hãy ca tụng, vì Người làm nên những việc kỳ diệu; hãy cao rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy mừng ca hát, vì Ðấng cao cả là Ðấng Thánh Israel ở giữa ngươi. - Ðáp.
Alleluia: 1 Ga 2, 5
Alleluia, alleluia! - Ai giữ lời Chúa Kitô, thì quả thật, tình yêu của Thiên Chúa đã tuyệt hảo nơi người ấy. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 19, 3-12
"Vì lòng chai đá của các ngươi mà Môsê đã cho phép các ngươi rẫy vợ; nhưng từ ban đầu thì không có như vậy".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, có những người biệt phái đến cùng Chúa Giêsu và hỏi thử Người rằng: "Có được phép rẫy vợ vì bất cứ lẽ gì không?" Người đáp: "Nào các ông đã chẳng đọc thấy rằng: Từ thuở ban đầu, Tạo Hoá đã dựng loài người có nam có nữ, và Người đã phán: Bởi thế nên người nam sẽ bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình, và cả hai sẽ nên một thân xác? Cho nên họ không còn là hai, nhưng là một thân xác. Vậy điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, thì loài người không được phân ly". Họ hỏi lại: "Vậy tại sao Môsê đã truyền cấp tờ ly hôn mà cho rẫy vợ?" Người đáp: "Vì lòng chai đá của các ông mà Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ; nhưng từ ban đầu thì không có như vậy. Tôi bảo các ông rằng: Ai rẫy vợ, trừ nố gian dâm, và đi cưới vợ khác, thì phạm tội ngoại tình. Và ai cưới người đã bị rẫy, cũng phạm tội ngoại tình".
Các môn đệ thưa Người rằng: "Nếu sự thể việc vợ chồng là như thế, thì tốt hơn đừng cưới vợ". Người đáp: "Không phải mọi người hiểu được điều ấy, nhưng chỉ những ai được ban cho hiểu mà thôi. Vì có những hoạn nhân từ lòng mẹ sinh ra, có những hoạn nhân do người ta làm nên, và có những người vì Nước Trời, tự trở thành hoạn nhân. Ai có thể hiểu được thì hiểu".
Ðó là lời Chúa.

Cảm Nghiệm Suy Niệm
Chồng
theo vợ hơn là vợ theo chồng?
1) Ðây Thiên Chúa là Ðấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà hành động và không khiếp sợ: vì Chúa là sức mạnh, là Ðấng tôi ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi.
2) Hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người; hãy công bố cho các dân biết kỳ công của Chúa; hãy nhớ lại danh Chúa rất cao sang.
3) Hãy ca tụng, vì Người làm nên những việc kỳ diệu; hãy cao rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy mừng ca hát, vì Ðấng cao cả là Ðấng Thánh Israel ở giữa ngươi.
Bài Ðọc I: (Năm II) Ed 18, 1-10. 13b. 30. 32
"Ta sẽ xét xử mỗi người theo cách nó sống".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Có lời Chúa phán cùng tôi rằng: Tại sao giữa các ngươi trong Israel có câu tục ngữ rằng: "Cha ông ăn nho chua thì con cháu ghê răng"?
Chúa là Thiên Chúa phán, Ta lấy sự sống Ta mà thề không lặp lại câu tục ngữ ấy ở Israel nữa. Này tất cả mọi sinh mạng đều thuộc về Ta; sinh mạng người cha cũng như sinh mạng người con, đều thuộc về Ta. Ai phạm tội, người ấy sẽ chết. Ai công chính, giữ lề luật và đức công bình, không ăn (của cúng) trên núi và không ngước mắt nhìn các thần tượng của nhà Israel, không xúc phạm đến vợ người khác, không gần gũi đàn bà khi họ không được sạch, không áp bức người ta, trả đồ cầm cố cho người mắc nợ, không cưỡng đoạt của ai, đem bánh cho người đói khát, đem áo mặc cho người trần trụi, không cho vay ăn lời, không lấy thêm của người, giữ tay không làm điều gian ác, xét đoán công minh giữa hai người, ăn ở theo luật lệ của Ta, và giữ các giới răn của Ta để thực hiện chân lý, người đó mới là công chính, nó sẽ được sống, Chúa là Thiên Chúa phán.
Nhưng nếu người đó sinh ra một đứa con trộm cướp, khát máu, phạm tội trong những lỗi nói trên, thì đứa con ấy không đáng sống, vì đã làm những điều đáng ghét, nó sẽ chết, và máu nó sẽ đổ trên đầu nó.
Vì vậy, hỡi nhà Israel, Ta sẽ xét xử mỗi người theo cách nó sống: Chúa là Thiên Chúa phán. Các ngươi hãy trở lại và hãy hối cải tất cả những điều gian ác, thì sự gian ác sẽ không huỷ diệt các ngươi. Hãy dứt bỏ hết mọi tội lỗi các ngươi đã phạm, và hãy tạo cho các ngươi một tâm hồn và một tinh thần mới. Hỡi nhà Israel, tại sao các ngươi muốn chết. Ta không thích cho ai phải chết: Chúa là Thiên Chúa phán. Hãy trở lại để được sống.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 50, 12-13. 14-15. 18-19
Ðáp: Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch (c. 12a).
Xướng: 1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. - Ðáp.
2) Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ; với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài. - Ðáp.
3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát; lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát khiêm cung. - Ðáp.
Alleluia: Tv 118, 18
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin mở rộng tầm con mắt con, để con tuân cứ luật pháp của Chúa và để con hết lòng vâng theo luật đó. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 19, 13-15
"Ðừng ngăn cấm các trẻ nhỏ đến với Ta, vì Nước Trời là của những người giống như chúng".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, người ta đem những trẻ nhỏ đến cho Chúa Giêsu để Người đặt tay và cầu nguyện cho chúng. Các môn đệ liền quở trách chúng, nhưng chúa Giêsu bảo: "Hãy để các trẻ nhỏ đến với Ta, và đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những người giống như chúng". Sau khi Người đặt tay trên chúng, thì Người đi khỏi nơi đó.
Ðó là lời Chúa.

Cảm Nghiệm Suy Niệm
Trẻ nhỏ - Linh đạo hôn nhân và trách nhiệm giáo dục
"Rồi Người đặt tay trên đầu chúng trước khi Người rời khỏi nơi đó".
Cử
chỉ Chúa
Giêsu đặt tay trên đầu các em không phải chỉ đáp ứng
lòng mong ước của thành phần người lớn mang các em đến
với Người, mà chính các em xứng đáng lãnh nhận phép
lành đầy ân sủng của
Người.
Nếu việc đặt tay
vẫn bao gồm việc thông ban Thánh Linh thì việc Chúa
Giêsu đặt tay trên đầu các em bé ở đây còn có ý nghĩa là
Người xác nhận tâm
hồn ngây thơ vô tội của các em xứng đáng là
nơi Thánh
Linh ngự
trị.
Việc đặt tay của Chúa Kitô trên đầu các em "trước khi Người rời khỏi nơi đó" còn có nghĩa là Người luôn ở cùng các em, vì Người thuộc về các em, như "Nước Trời thuộc về những người như thế", nhờ Thánh Linh được Người thông ban cho các em qua việc đặt tay của Người trên đầu của các em.
"Ta lấy sự sống Ta mà thề không lặp lại câu tục ngữ ấy ở Israel nữa. Này tất cả mọi sinh mạng đều thuộc về Ta; sinh mạng người cha cũng như sinh mạng người con, đều thuộc về Ta. Ai phạm tội, người ấy sẽ chết... Nhưng nếu người đó sinh ra một đứa con trộm cướp, khát máu, phạm tội trong những lỗi nói trên, thì đứa con ấy không đáng sống, vì đã làm những điều đáng ghét, nó sẽ chết, và máu nó sẽ đổ trên đầu nó".
Thật ra, cho dù là cha mẹ hay con cái, tất cả đều là tạo vật được Thiên Chúa dựng nên, để được sống hiệp thông thần linh với Ngài. Thế nên, ai sa ngã phạm tội thì hãy nhận biết trách nhiệm của mình mà tự trở về với Ngài, như chính Ngài đã kêu gọi trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Các ngươi hãy trở lại và hãy hối cải tất cả những điều gian ác, thì sự gian ác sẽ không huỷ diệt các ngươi. Hãy dứt bỏ hết mọi tội lỗi các ngươi đã phạm, và hãy tạo cho các ngươi một tâm hồn và một tinh thần mới. Hỡi nhà Israel, tại sao các ngươi muốn chết. Ta không thích cho ai phải chết: Chúa là Thiên Chúa phán. Hãy trở lại để được sống".
Đó là lý do, ai cũng thế, muốn sống trọn ơn gọi làm người, nhất là ơn gọi làm con cái của Cha Trên Trời, họ cần phải van xin như Câu Họa của Bài Đáp Ca hôm nay, được trích từ Thánh Vịng thống hối 50: "Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch", cùng với tâm tình nguyện xin ở cả 3 câu xướng của cùng Bài Đáp Ca này:
1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con.
2) Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ; với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài.
3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát; lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát khiêm cung.
Ngày 15 tháng 8
Lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời
Lễ Trọng
Bài Ðọc I: Kh 11, 19a; 12, 1-6a, 10ab
"Một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng".
Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.
Ðền thờ Thiên Chúa trên trời đã mở ra. Và một điềm lạ vĩ đại xuất hiện trên trời: một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao: Bà đang mang thai, kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con.
Lại một điềm lạ khác xuất hiện trên trời: một con rồng đỏ khổng lồ, có bảy đầu, mười sừng, và trên bảy đầu, đội bảy triều thiên. Ðuôi nó kéo đi một phần ba tinh tú trên trời mà ném xuống đất. Con rồng đứng trước mặt người nữ sắp sinh con, để khi Bà sinh con ra, thì nuốt lấy đứa trẻ.
Bà sinh được một con trai, Ðấng sẽ dùng roi sắt mà cai trị muôn dân: Con Bà được mang về cùng Thiên Chúa, đến tận ngai của Người. Còn Bà thì trốn lên rừng vắng, ở đó Bà được Thiên Chúa dọn sẵn cho một nơi.
Và tôi nghe có tiếng lớn trên trời phán rằng: "Nay sự cứu độ, quyền năng, vương quyền của Thiên Chúa chúng ta, và uy quyền của Ðức Kitô của Người đã được thực hiện".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 44, 10bc. 11. 12ab. 16
Ðáp: Hoàng Hậu đứng bên hữu Ðức Vua, mặc đồ trang điểm vàng ròng (c. 10b).
Xướng: 1) Hoàng Hậu đứng bên hữu Ðức Vua, mặc đồ trang điểm vàng ròng lộng lẫy. - Ðáp.
2) Xin hãy nghe, thưa Nương Tử, hãy coi và hãy lắng tai, hãy quên dân tộc và nhà thân phụ. - Ðáp.
3) Ðể Ðức Vua Người sủng ái dong nhan: chính Người là Chúa của Cô Nương, hãy phục vụ Người. - Ðáp.
4) Họ bước đi trong niềm hân hoan vui vẻ, tiến vào trong cung điện Ðức Vua. - Ðáp.
Bài Ðọc II: 1 Cr 15, 20-26
"Hoa quả đầu mùa là Ðức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Chúa".
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, Ðức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của những kẻ yên giấc. Vậy sự chết bởi một người, thì sự kẻ chết sống lại cũng bởi một người. Cũng như mọi người đều phải chết nơi Ađam thế nào, thì mọi người cũng sẽ được tác sinh trong Ðức Kitô như vậy. Nhưng ai nấy đều theo thứ tự của mình, hoa quả đầu mùa là Ðức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Ðức Kitô, những kẻ đã tin Người xuống thế: rồi đến tận cùng, khi Người đã trao vương quốc lại cho Thiên Chúa Cha, và đã tiêu diệt mọi đầu mục, quyền năng và thế lực. Nhưng Người còn phải cai trị cho đến khi Người đặt mọi quân thù dưới chân Người. Kẻ thù cuối cùng sẽ bị tiêu diệt là sự chết, bởi Người đã bắt mọi sự quy phục dưới chân Người.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia:
Alleluia, alleluia! - Ðức Maria được mời gọi lên trời; đạo binh các thiên thần mừng rỡ hân hoan. - Alleluia.
Phúc Âm: Lc 1, 39-56
"Ðấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại: Người nâng cao những người phận nhỏ".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy, vội vã ra đi lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Elisabeth, và khi bà Elisabeth nghe lời chào của Maria, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà, và bà Elisabeth được đầy Chúa Thánh Thần, bà kêu lớn tiếng rằng:
"Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm? Vì này tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi. Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện".
Và Maria nói: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. Này từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước, vì Ðấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại, và Danh Ngài là thánh. Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa. Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời".
Maria ở lại với bà Elisabeth độ ba tháng, đoạn Người trở về nhà Mình.
Ðó là lời Chúa.

Đặc Ân Mông Triệu: Niềm Tin và Tín Điều
Là Kitô hữu Công Giáo, nhờ được học hỏi hay tự nghiên cứu, nhất là về Thánh Mẫu Học, ai cũng biết rằng Mẹ Maria đã có 4 tín điều được Giáo Hội đã tuyên tín, trong giòng lịch sử của mình, theo thứ tự thời gian, đó là:
1- Tín điều Thánh Mẫu Maria là Mẹ của Thiên Chúa, được tuyên tín bởi Công Đồng Chung Epheso năm 431;
2- Tín điều Thánh Mẫu Maria trọn đời trinh nguyên, cả trước, trong và sau khi sinh Con, được tuyên tín bởi Công Đồng Latêrano năm 649;
3- Tín điều Thánh Mẫu Maria vô nhiễm nguyên tội, ngay từ giây phút đầu tiên được hoài thai trong lòng thai mẫu, do Giáo Hoàng Chân Phước Piô IX công bố ngày 8/12/1854;
4- Tín điều Thánh Mẫu Maria mông triệu về trời, cả thân xác lẫn linh hồn, sau cuộc đời trần gian này của Mẹ, do Đức Thánh Cha Piô XII công bố ngày 1/11/1950.
Sở dĩ 4 đặc ân trở thành 4 tín điều Thánh Mẫu là vì cả 4 đặc ân và từng đặc ân trực tiếp liên quan đến Chúa Giêsu Kitô Cứu Thế, cũng như đến chính Ơn Cứu Chuộc của Người. Trong Tông Hiến Thiên Chúa Hào Phóng - Munificentissimus Deus để tuyên bố tín điều thứ 4 này, Đức Thánh Cha Piô XII cũng đã khẳng định niềm tin bất khả sai lầm này như sau:
"Người Mẹ Thiên Chúa trọng kính này, từ đời đời, đã kín ẩn liên kết với Chúa Giêsu Kitô, trong cùng một mức độ tiền định, mà tình trạng vô nhiễm lúc Mẹ được hoài thai, tình trạng đồng trinh tuyệt hảo nơi vai trò làm mẹ thần linh của Mẹ, việc liên kết cao quí với Đấng Cứu Chuộc thần linh, Đấng đã hoàn toàn chiến thắng tội lỗi cùng với những hậu quả của tội lỗi, cuối cùng cũng đã đạt được, như tột đỉnh về các đặc ân của Mẹ, do đó Mẹ cần phải được gìn giữ cho khỏi tình trạng bị băng hoại trong mồ mả, và, như Người Con của mình, Đấng đã chiến thắng sự chết, Mẹ cần phải được đưa cả xác lẫn hồn vào vinh quang thiên quốc, nơi, với vai trò làm Nữ Vương, Mẹ ngự trị trong vinh quang bên hữu Con Mẹ, Đức Vua bất tử của các Thế Hệ" (khoản 48).
Theo lập luận tự nhiên, chúng ta cũng thấy rất hợp tình hợp lý nơi 4 Đặc Ân Thánh Mẫu đã trở thành 4 Tín Điều Thánh Mẫu này: Vì Thánh Mẫu Maria được Thiên Chúa tuyển chọn làm Mẹ của Thiên Chúa, Mẹ của Lời Nhập Thể, Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần, mà Mẹ, về phần hồn, không thể nào lại bị nhiễm lây nguyên tội, một tình trạng bị ma quỉ thống trị, và về phần xác, không thể nào thụ thai và hạ sinh Vị Thiên Chúa Nhập Thể này như một con người thuần túy, hoàn toàn theo huyết nhục và tình dục tự nhiên (xem Gioan 1:13), mà phải "bởi quyền phép Thánh Linh" (Mathêu 1:20; Luca 1:35), và cuối cùng, chính vì linh hồn của Mẹ vô nhiễm, và thân xác của Mẹ trọn đời trinh nguyên như thế, mà chung nhân tính của Mẹ không thể nào bị tử thần phân rẽ bằng cái chết, và riêng thân xác của Mẹ không thể nào bị băng hoại như một tội nhân. Trong cùng một Tông Hiến tuyên bố Tín Điều Mông Triệu của mình, Đức Thánh Cha Piô XII cũng đã minh định theo chiều hướng này:
"Chúa Kitô đã chiến thắng tội lỗi và sự chết bằng chính cái chết của Người, và ai được tái sinh một cách siêu nhiên nhờ Phép Rửa, cũng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết bởi Đức Kitô ấy. Tuy nhiên, theo luật chung, Thiên Chúa không muốn ban cho kẻ công chính trọn vẹn hiệu quả của cuộc chiến thắng chết chóc này, cho đến ngày cùng tháng tận. Đó là lý do thân xác của ngay cả kẻ công chính cũng bị hư nát sau khi chết, và chỉ vào ngày tận thế thân xác ấy mới được liên kết với linh hồn hiển vinh của nó (khoản 4). Vậy Thiên Chúa miễn trừ qui luật chung này cho Đức Trinh Nữ Maria. Nhờ đặc ân hoàn toàn chuyên biệt, đặc ân Hoài Thai Vô Nhiễm của Mẹ đã chiến thắng tội lỗi, do đó mà Mẹ không bị chi phối bởi luật về tình trạng băng hoại trong mồ mả, và Mẹ không cần phải đợi cho đến tận thế cho việc cứu chuộc thân xác của Mẹ (khoản 5)".
Niềm tin về đặc ân Mẹ Maria được mông triệu về trời cả thân xác lẫn linh hồn này đã có từ lâu trong Giáo Hội, đến độ đã trở thành một phong trào thỉnh nguyện thẩm quyền tối cao của Giáo Hội công bố thành tín điều. Như chính Đức Thánh Cha Piô XII đã xác nhận: "Tất cả mọi thỉnh nguyện về đặc ân Mông Triệu của Đức Trinh Nữ Maria về trời, đã được gửi về Tòa Thánh từ thời Đức Giáo Hoàng Piô IX... cho tới ngày nay" (Cùng Tông Hiến khoản 10). Để rồi, sau khi đã "thu thập lại với nhau và cẩn thận cứu xét" (cùng nguồn vừa trích), Đức Thánh Cha Piô XII đã đi đến thẩm định quan trọng đưa đến việc ngài công bố Tín Điều Mông Triệu này, như sau:
"Tất cả những chứng cứ này, cùng với những cứu xét của các thánh Giáo Phụ và các thần học gia, đều được căn cứ vào các Sách Thánh như là nền tảng tối hậu của các vị. Những chứng cứ cùng với những cứu xét ấy, đã cho thấy rằng, Người Mẹ yêu dấu của Thiên Chúa, ở ngay trước mắt của chúng ta, thực sự đã hết sức mật thiết liên hợp với Người Con thần linh của Mẹ, và luôn chia sẻ với số phận của Người. Bởi thế, không thể nào nghĩ về Mẹ, Vị đã thụ thai Chúa Kitô, đã hạ sinh Người, đã nuôi dưỡng Người bằng sữa của mình, và đã ôm ấp Người nơi ngực của mình, lại tách rời khỏi Người nơi thân xác, cho dù không ở nơi linh hồn, sau cuộc đời trần thế này. Vì Đấng Cứu Thế là Con của Mẹ Maria, Người không thể nào làm khác đi được, với tư cách là một vị tuân thủ trọn hảo nhất lề luật của Thiên Chúa, ngoài việc tỏ lòng tôn kính, chẳng những với Ngôi Cha hằng hữu của Người, mà còn với cả Người Mẹ rất yêu dấu của Người nữa. Vì Người có quyền năng ban cho Mẹ đại vinh dự này, trong việc gìn giữ Mẹ khỏi tình trạng bị hư hoại trong mồ, mà chúng ta cần phải tin rằng Người thực sự đã làm như thế" (khoản 38).
Đó là lý do, vào Lễ Trọng Các Thánh 1/11/1950, thời điểm được thẩm quyền của Giáo Hội công bố Tín Điều Mông Triệu, loài người mới trải qua Thế Chiến Thứ II (1939-1945), nhưng nạn cộng sản vô thần vẫn còn tiếp tục gieo rắc lầm lạc và bách hại Giáo Hội, như Mẹ Maria đã tiên báo trong Bí Mật Fatima phần thứ 2 ngày 13/7/1917, đến độ chính vị Giáo Hoàng Piô XII này, vị được tấn phong giám mục vào chính ngày giờ Mẹ Maria hiện ra ở Fatima lần đầu tiên 13/5/1917, vị cảm thấy mình có một thiên duyên đặc biệt với Thánh Mẫu Fatima, đã quan tâm cứu xét và đáp lại bức thư của Nữ Tu Lucia, một trong 3 Thiếu Nhi Fatima thụ khải 1917 còn sống sót, đệ trình ngài ngày 24/10/1940, và ngài đã hiến dâng toàn thể loài người lần đầu tiên cho Mẹ Maria ngày 31/10/1942, mừng kỷ niệm 25 năm Biến Cố Thánh Mẫu Fatima. Ngài hy vọng Tín Điều Thánh Mẫu Mông Triệu sẽ mang lại ích lợi cho xã hội loài người, như ngài đã bày tỏ như sau:
"Chúng tôi, người đã đặt giáo triều của mình dưới sự bảo hộ đặc biệt của Đức Trinh Nữ rất thánh, Đấng chúng tôi đã rất thường chạy đến trong những lúc trầm trọng rắc rối, chúng tôi cũng là người đã hiến dâng toàn thể loài người cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, bằng những nghi thức công khai, và chúng tôi đã nhiều lần cảm thấy việc chở che bênh đỡ quyền năng của Mẹ, tin tưởng rằng việc long trọng công bố và định tín về đặc ân Mông Triệu này, sẽ góp phần không nhỏ vào việc thăng tiến xã hội loài người, vì việc công bố và định tín này góp phần vào vinh quang của Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, một vinh quang mà Người Mẹ Thánh của Thiên Chúa cũng được tham hưởng, nhờ những mối liên hệ đặc thù" (cùng Tông Hiến khoản 42).
Cuối cùng, Đức Thánh Cha Piô XII đã long trọng công bố Tín Điều Mông Triệu của Mẹ Maria bằng những lời lẽ chính thức như thế này:
"Vì thế, sau khi chúng tôi đã trào dâng lên những lời nguyện cầu thỉnh xin nhiều lần cùng Thiên Chúa, và đã kêu van ánh sáng của Thần Chân Lý, vậy vì vinh quang của Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng đã tỏ ra đặc biệt ưu ái Trinh Nữ Maria, vì vinh quang Con của Mẹ, Đức Vua bất tử qua Muôn Thế Hệ, và là Đấng Chiến Thắng tội lỗi và sự chết, để tăng thêm vinh hiển của cùng Người Mẹ uy nghi cao cả này, cũng như để cho toàn thể Giáo Hội được hân hoan hớn hở; bằng thẩm quyền của Chúa Giêsu Kitô của chúng ta, của Các Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, cũng như bằng thẩm quyền của mình, chúng tôi xin thông báo, tuyên bố và minh định là một tín điều được mạc khải thần linh, đó là Người Mẹ Vô Nhiễm của Thiên Chúa, Đức Trinh Nữ Maria trọn đời, khi đã hoàn tất hành trình trần thế của mình, đã được đưa cả thân xác và linh hồn vào vinh quang thiên quốc" (Cùng Tông Hiến khoản 44).

Đặc Ân Mông Triệu: Ý Nghĩa và Giá Trị
Tóm lại, căn cứ vào chính văn kiện Tông Hiến về Tín Điều Thánh Mẫu Mông Triệu này, thì đặc ân Mông Triệu của Mẹ Maria nói riêng, cũng như các đặc ân khác của Mẹ nói chung, là nhờ mối liên hệ mật thiết bất khả phân ly giữa Mẹ và Chúa Kitô Con Mẹ. Không phải chỉ ở nơi dự án thần linh của Thiên Chúa, mà còn ở nơi chính bản thân của Mẹ nữa. Thật vậy, chỉ vì Mẹ "đầy ơn phúc" mà Mẹ được các đặc ân đã trở thành Tín Điều Thánh Mẫu trên đây.
Không phải hay sao, nếu Mẹ "đầy ơn phúc", trước hết và trên hết, là vì Mẹ được "Thiên Chúa ở cùng" (Luca 1:28), được Thiên Chúa ưu ái trên hết mọi tạo vật của Ngài; thế nhưng, ngược lại, về phần mình, chính Mẹ cũng cần phải ở lại với Thiên Chúa, bằng đức tin có phúc của Mẹ (xem Luca 1:45), đức tin tuân phục của Mẹ, như một tỳ nữ xin vâng (xem Luca 1:38), nhờ đó Mẹ "được ơn nghĩa với Chúa" (Luca 1:30), đẹp lòng Chúa, từ lúc Mẹ vừa hoài thai trong lòng thai mẫu, cho đến khi Mẹ ra khỏi trần gian Mông Triệu về Trời!
Chính đặc ân Mông Triệu này, một đặc ân liên quan đến lúc kết thúc cuộc đời trần gian này của Mẹ Maria, đã cho thấy tột đỉnh "đầy ơn phúc" của Mẹ (Luca 1:28), một mức độ đã được bắt đầu từ khi Mẹ hoài thai trong lòng thai mẫu, và là một mức độ được gia tăng từng giây từng phút không ngừng nghỉ, chứ không phải đã "đầy" rồi thì không thể "đầy" hơn được nữa. Đúng thế, không phải như một cái ly, cái chậu, cái bình, cái chum, thùng phi, hay một thứ chứa đựng nào đó to hơn, đã "đầy" thì không thể tăng thêm, trừ khi thay đổi cái chứa đựng to lớn hơn.
Nơi Mẹ Maria thì không phải vậy, hoàn toàn không phải. Ở chỗ, tình trạng "đầy ơn phúc" nơi Mẹ, từ lúc Mẹ hoài thai, càng ngày càng đầy thêm, càng tăng thêm, như chính "Thiên Chúa là ánh sáng" (1Gioan 1:5) "ở cùng Mẹ" (Luca 1:28), càng ngày càng rạng ngời hơn trong Mẹ và qua Mẹ, đến độ, Mẹ nhờ đó đã như Sách Khải Huyền ở Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy "mặc mặt trời" (Khải Huyền 12:1), và trở nên "rực rỡ như mặt trời" (Diễm Tình Ca 6:10). Chính ánh sáng mặt trời đã làm cho Mẹ trở thành tinh khiết hơn pha lê, Mẹ mới chói lọi như mặt trời.
Về phần mình, Mẹ "đầy ơn phúc" còn ở chỗ "vì đã tin" nữa (Luca 1:45), con người của Mẹ như quả bong bóng, càng ngày càng căng phồng, nhờ hơi thổi thần linh, ở chỗ, mỗi tác động thần linh của Thiên Chúa nơi Mẹ đều được Mẹ đáp ứng một cách tương xứng, như quả bong bóng dãn nở theo hơi thổi thần linh. Do đó, cho đến khi quả bong bóng nhân tính "đầy ơn phúc" của Mẹ Maria đã căng hết cỡ chịu đựng theo bản chất hạn hẹp nhân tính này, thì Thiên Chúa thả bàn tay chiếm đoạt của Ngài ra, cho Bóng Bay Maria "đầy ơn phúc", nhờ hơi thổi thần linh, đã căng phồng từ trần gian lên tới tận sát giới tuyến thần tính của Thiên Chúa, bay thẳng về trời!
Mức độ "đầy ơn phúc" của Mẹ có thể nói là bao trùm cả trời đất, ngoại trừ chính Thiên Chúa. Bởi thế mới nói mức độ này đạt tới giới tuyến thần tính của Thiên Chúa. Chính vì mức độ "đầy ơn phúc" của Mẹ bao trùm chẳng những cả trái đất này mà, trong Chúa Kitô Con Mẹ, Mẹ đã trở nên Mẹ của nhân loại và Mẹ của Giáo Hội, mà còn cả các tầng trời mà Mẹ đã trở thành Nữ Vương Các Thiên Thần. Chính ĐTC Piô XII, vị đã tuyên tín Mẹ Mông Triệu cả xác lẫn hồn về trời ngày 1/11/1950, cũng là vị giáo hoàng, 4 năm sau, vào năm 1954, đã thiết lập Lễ Mẹ Nữ Vương, kính ngày 31/5, cuối Tháng Hoa Mẹ hằng năm bấy giờ, ngày nay, sau Công Đồng Chung Vaticanô II, đã chuyển sang ngày 22/8, sau Lễ Mẹ Mông Triệu 1 tuần.
Về phần Thiên Chúa, qua biến cố Ngài đưa cả thân xác trinh nguyên và linh hồn vô nhiễm của Mẹ về trời chứng tỏ Ngài đã công nhận mức độ "đầy ơn phúc" của Mẹ và nơi Mẹ đã đạt tới tận giới tuyến thần tính của Ngài. Thật thế, nếu Thiên Chúa là CÓ (xem Xuất Hành 3:14), thì nơi biến cố nhập thể trong cung dạ trinh nguyện của Mẹ, đã trở thành KHÔNG (xem Philiphe 2:6) thế nào, thì nơi biến cố Mông Triệu của Mẹ, Mẹ từ Không đã trở thành Có như vậy, như Mẹ đã từng là nữ tỳ xin vâng (xem Luca 1:38) trở thành Mẹ Thiên Chúa. Nơi Mẹ Maria Mông Triệu, Thiên Chúa như muốn tuyên bố rằng: Ta là CÓ chẳng những nơi chính bản thân mình, mà còn, qua Maria, CÓ trong tất cả mọi tạo vật hữu hình và vô hình Ta đã tạo dựng nên nữa; và "tất cả mọi tạo vật đang ngong ngóng mong chờ tình trạng tỏ hiện của con cái Thiên Chúa" (Roma 8:19) đã hiện thực ở nơi Maria Mông Triệu! Bởi thế, Maria chính là niềm hân hoan vinh dự của tạo vật, và là niềm hy vọng cậy trông của loài người!

Chính vì thế mà Giáo Hội mới tiếp tục dâng lên Mẹ lời Kinh Lạy Nữ Vương, nhất là vào ban đêm, như vẫn được thực hiện ở các dòng tu, trước khi ngủ đêm, kết thúc một ngày sống, như thể, cùng với lời kinh và qua lời kinh này, cùng nhau hướng về quê trời vĩnh cửu, một Thực Tại Mẹ được cả hồn xác Mông Triệu đang được hiệp thông thần linh với Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần:
Salve, Regina, Mater misericordiae, vita,
dulcedo, et spes nostra, salve.
ad te clamamus exsules filii Evae, ad te
suspiramus, gementes et flentes in hac lacrimarum valle.
Eia, ergo, advocata nostra, illos tuos
misericordes oculos ad nos converte;
et Jesum, benedictum fructum ventris tui, nobis
post hoc exsilium ostende.
O clemens, O pia, O dulcis Virgo Maria.”
Lạy Nữ Vương Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy.
Thân lạy Mẹ, chúng con, con cháu E-và ở chốn khách đầy, kêu đến cùng Bà;
Chúng
con ở nơi khóc lóc than thở kêu khấn Bà thương.
Hỡi ôi! Bà là Chủ bầu chúng con, xin ghé mặt thương xem chúng con.
Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu, Con lòng Bà
gồm phúc lạ.
Ôi khoan thay, nhân thay, dịu thay, Thánh Maria trọn đời đồng trinh.

Xin mời nghe bài chia sẻ trên đây ở cái link audio mp3 dưới đây:
Xin mời xem TV Show / Youtube ở cái link dưới đây
https://youtu.be/bXPDBVNmbPo - Show 1
https://youtu.be/xYg_vJ4a87U - Show 2
Ngày 10 tháng 8
Lễ Thánh Lôrensô, Phó Tế, Tử Ðạo
Lễ Kính

Bài Ðọc I: 2 Cr 9, 6-10
"Thiên Chúa yêu thương kẻ cho cách vui lòng".
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, ai gieo ít thì gặt ít; ai gieo nhiều thì gặt nhiều. Mỗi người hãy cho theo như lòng đã định, không phải cách buồn rầu, hoặc vì miễn cưỡng: Thiên Chúa yêu thương kẻ cho cách vui lòng. Thiên Chúa có quyền cho anh em được dư tràn mọi ân phúc: để anh em vừa luôn luôn sung túc mọi mặt, vừa còn được dư dật để làm các thứ việc phúc đức, như đã chép rằng: "Người đã rộng tay bố thí cho kẻ nghèo khó, đức công chính của Người sẽ tồn tại muôn đời". Ðấng đã cung cấp hạt giống cho kẻ gieo và bánh để nuôi mình, thì cũng sẽ cung cấp cho anh em hạt giống dư đầy, và sẽ làm phát triển hoa quả sự công chính của anh em.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 111, 1-2. 5-6. 7-8. 9
Ðáp: Phúc đức cho người biết xót thương và cho vay (c. 5a).
Xướng: 1) Phúc đức thay người tôn sợ Chúa, người hết lòng hâm mộ luật pháp của Ngài. Con cháu người sẽ hùng cường trong đất nước: thiên hạ sẽ chúc phúc cho dòng dõi hiền nhân. - Ðáp.
2) Phúc đức cho người biết xót thương và cho vay, biết quản lý tài sản mình theo đức công bình. Cho tới đời đời người sẽ không nao núng: người hiền đức sẽ được ghi nhớ muôn đời. - Ðáp.
3) Người không kinh hãi vì nghe tin buồn thảm, lòng người vững vàng cậy trông vào Chúa. Lòng người kiên nghị, người không kinh hãi, cho tới khi nhìn thấy kẻ thù phải hổ ngươi. - Ðáp.
4) Người ban phát và bố thí cho những kẻ nghèo, lòng quảng đại của người muôn đời còn mãi; sừng người được ngẩng lên trong vinh quang. - Ðáp.
Alleluia: Ga 8, 12
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có ánh sáng ban sự sống". - Alleluia.
Phúc Âm: Ga 12, 24-26
"Ai phụng sự Ta thì Cha Ta sẽ tôn vinh nó".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thật, Ta nói thật với các con: Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời. Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó. Ai phụng sự Ta, Cha Ta sẽ tôn vinh nó".
Ðó là lời Chúa.
Thừa tác viên phục vụ Máu Thánh Đức Ki-tô
Trích bài giảng của thánh Âu-tinh, giám mục.
Hôm nay, Hội Thánh Rô-ma mời gọi chúng ta mừng ngày thánh Lô-ren-xô khải hoàn, ngày người đã chà đạp thế gian hung tợn, đã loại trừ thế gian nịnh hót. Thế là tên quỷ dữ tấn công người chịu hai lần thất bại. Như anh em vẫn biết, trong Hội Thánh Rô-ma, người đã thi hành chức vụ trợ tá, đã phục vụ Máu Thánh Đức Ki-tô, đã chịu đổ máu vì danh Đức Ki-tô. Thánh Gio-an tông đồ đã trình bày rất rõ về mầu nhiệm bữa tối của Chúa khi nói : Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Thưa anh em, thánh Lô-ren-xô hiểu điều ấy, người đã hiểu và thực hành. Người được lãnh nhận Đấng trao ban chính mình làm của ăn tại bàn tiệc thánh thế nào, thì người cũng trao hiến chính mình làm của ăn cho người khác như vậy. Khi sống, người yêu mến Đức Ki-tô, thì lúc chết, người cũng bắt chước Đức Ki-tô.
Còn chúng ta, thưa anh em, nếu chúng ta thật lòng yêu mến Chúa, chúng ta cũng hãy bắt chước Chúa. Chúng ta sẽ không thể sinh được hoa trái mến yêu nào tốt hơn là noi gương bắt chước Đức Ki-tô. Thật vậy, Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người. Khi nói thế, dường như thánh tông đồ Phê-rô hiểu rằng : Đức Ki-tô đã chỉ chịu đau khổ vì những ai dõi bước theo Người, và cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô sẽ chẳng lợi ích gì cho ai ngoài những kẻ dõi bước theo Người. Các thánh tử đạo đã theo Người đến nỗi chịu đổ máu, đến nỗi chịu đau khổ như Người. Các thánh tử đạo đi theo Đức Ki-tô, nhưng không phải chỉ có các ngài thôi. Quả thế, các ngài đi qua, cầu vẫn chưa sập ; các ngài uống nước, suối vẫn chưa khô. Thưa anh em, vườn của Chúa đủ loại hoa : không phải chỉ có hoa hồng tử đạo, mà còn có hoa huệ khiết trinh, có dây trường xuân hôn nhân, có hoa tím goá bụa. Anh em thân mến, đừng bao giờ có ai thất vọng về ơn gọi của mình, dầu thuộc hạng người nào đi nữa : Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì mọi người. Kinh Thánh đã chép rất đúng về Người : Chúa là Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.
Vì thế, người Ki-tô hữu vẫn phải biết cách đi theo Đức Ki-tô, mặc dù họ không phải đổ máu, không có nguy cơ phải chịu thương khó. Thánh Phao-lô tông đồ nói về Chúa Ki-tô : Người vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Chúa uy nghi dường nào ! Nhưng Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Chúa khiêm hạ biết bao !
Đức Ki-tô đã hạ mình xuống. Hỡi Ki-tô hữu, đó là tấm gương bạn phải noi theo. Đức Ki-tô đã trở thành vâng phục, sao bạn lại kiêu căng ? Rồi sau khi đã hạ mình đến cùng và tiêu diệt sự chết, Đức Ki-tô đã lên trời : Ta hãy đi theo Người. Hãy nghe thánh Phao-lô tông đồ nói : Anh em đã được cùng trỗi dậy với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa.
XThánh Lô-ren-xô kêu lên rằng : “Tôi chỉ thờ Thiên Chúa của tôi, tôi chỉ phụng sự một mình Người.
ĐCực hình không làm tôi sợ hãi.
XThiên Chúa tôi thờ là núi đá cho tôi trú ẩn, là Đấng giải thoát tôi.”
ĐCực hình không làm tôi sợ hãi.
Lạy Thiên Chúa toàn năng, chính vì được tình yêu Chúa nung nấu, mà thánh phó tế Lô-ren-xô đã trung thành phục vụ và đạt tới phúc tử đạo vinh quang. Xin cho dân Chúa biết thực hành những điều người dạy, và noi gương người mà yêu mến Chúa và anh em. Chúng con cầu xin
Thánh Laurensô là vị thánh tử đạo được biết đến nhiều nhất. Từ thế kỷ thứ IV, một mình Ngài ngoài các thánh tông đồ, được kính nhớ với thánh lễ vọng. Sách nghi thức Đức Giáo hoàng Lêô thế kỷ VI có không dưới 14 lễ kính Ngài. Thời Trung Cổ đã có ít là 34 thánh đường ở Roma dâng kính thánh nhân. Ngài là vị thánh bổn mạng thứ ba của thành Roma.
Laurensô là ai mà được tôn kính cách đặc biệt như vậy ?
Thánh Laurensô sinh tại Huescô nước Tây Ban Nha. Cha mẹ Ngài là những người đạo hạnh. Ngài sớm từ biệt quê hương thân yêu để đi du học bên Roma và đã sống trót cuộc đời trần thế tại đây. Ngài được chọn thành một trong bảy phó tế của giáo hội chịu trách nhiệm giúp đỡ người nghèo túng và Ngài được giao cho trách nhiệm "quản lý tài sản của Giáo hội". Khi sự cấm đạo dưới thời Hoàng đế Valerian bùng nổ, Thánh Giáo Hoàng Sixtus bị kết án tử hình cùng với sáu phó tế khác. Khi Đức Giáo hoàng bị điệu ra pháp trường, Laurensô đi theo khóc lóc nức nở, Ngài hỏi "Cha ơi, cha đi đâu mà không cho nô bộc này theo?" Ðức Giáo hoàng trả lời, "Con ơi, ta không bỏ con đâu. Trong ba ngày nữa, con sẽ theo ta." Nghe thấy thế, Laurensô thật vui mừng, Ngài về phân phát hết tiền của trong kho cho người nghèo, và còn bán cả các phẩm phục đắt tiền để có thêm của cải mà phân phát.
Khi những điều này tới tai Hoàng đế Đêciô, ông truyền bắt giam Laurensô. Thánh nhân cải hóa được viên gác ngục Hippolytô. Bị điệu tới trước viên tổng trấn Valrianô, Ngài được lệnh phải nhượng lại các tài sản của Giáo hội. Được dành cho ba ngày để thâu thập của cải, Ngài đã mang tất cả tài sản phân phát cho kẻ nghèo. Hết hạn Ngài dẫn họ tới trình với tổng trấn Valrianô, như là tài sản của Giáo hội. Viên tổng trấn nổi giận, buộc thánh nhân phải dâng lễ tiến các thần minh. Từ khước, thánh nhân phải chịu mọi cực hình, bị nướng trên sắt nung đỏ. Trên giường chết lạ lùng này, Ngài còn khôi hài nói với hoàng đế:
- Một bên đã chín rồi hãy chiên bên kia nữa mà ăn.
Sau đó ngài cầu xin cho thành phố Rôma được trở lại với Ðức Kitô và cho Ðức Tin Công Giáo được lan tràn khắp thế giới. Ngài lãnh nhận triều thiên tử đạo vào năm 158.
Thánh Laurensô đã một lòng vì Chúa, vì Giáo Hội, hết lòng yêu thương người nghèo. Xin cho mỗi chúng ta cũng có được tâm tình và lòng quảng đại như thánh nhân. Trung kiên làm chứng cho Chúa dù phải chịu thiệt thòi về phần xác.
Ngày 11 tháng 8
Cơ-la-ra, trinh nữ
lễ nhớ bắt buộc
(1194-1253)

1. Đôi dòng tiểu sử.
Hôm nay chúng ta cùng với Giáo Hội mừng lễ Thánh Clara đồng trinh.
Cũng như thánh Phanxicô Khó Khăn, thánh nữ Clara là một ngọn đèn thật sáng Chúa đã dùng để làm cho nhân loại hiểu rõ hơn về tinh thần khó nghèo tuyệt đối của Phúc Âm là tinh thần như thế nào.
Clara sinh ngày 16/7/1194 tại Assise miền Ombrie nước Ý, trong một gia đình quý phái. Clara được một người mẹ đạo đức đã lưu tâm dạy dỗ cho ngay từ thuở còn thơ ấu, bằng cả lời nói cũng như bằng gương sáng của mình. Bà đã giáo dục, tập cho Clara biết cầu nguyện, biết sống từ bỏ và biết chịu đựng nhẫn nhục thật sớm.
Lên 16 tuổi, Clara đã tránh xa tiếng ồn ào của đô thị đến ẩn mình trong một nhà thờ ở miền quê (1212). Chính nơi đây Clara đã gặp thánh Phanxicô Khó Khăn và được Ngài tận tình giúp đỡ trên con đường tu đức. Khi Clara chọn con đường dâng hiến cho Chúa, gia đình đã ngăn cản quyết liệt. Clara đã can đảm vượt qua. Cuối cùng Clara đã được đưa đến đền thờ thánh Ðamianô và ở đây Clara đã lập Hội Các Chị Tận Hiến cho Thiên Chúa.
Về đời sống thiêng liêng, ngài trực tiếp theo sự hướng dẫn của thánh Phanxicô Khó Khăn. Ngài điều khiển tu hội cách ân cần và khôn ngoan. Ngài qua đời ngày 11/8/1253 trước sự thương tiếc của mọi người.
Ðức Giáo Hoàng Alexandre IV đã đặt ngài lên hàng các thánh đồng trinh năm 1255.
2. Con đường nên thánh.
Nhìn lại cuộc đời của thánh nữ Clara, chúng ta thấy ngài đã có một ý chí thật cao và mạnh mẽ trên con đường dấn thân đi theo Chúa. Truyền thuyết kể lại ngài đã thầm khấn dâng mình cho Chúa ngay từ lúc 16 tuổi, ngay lúc còn ở nhà để giúp đỡ cha mẹ. Ngài đã kiên nhẫn chờ đợi ngày Đấng Quan phòng ấn định. Và ngày tốt đẹp ấy đã đến. Clara đã hết sức vui mừng khi được biết về cuộc đời kỳ diệu của Phanxicô, con trai của một đại thương gia giàu có người thành Assisi. Clara đã hết lòng cảm phục trước việc Phanxicô dứt khoát từ bỏ mọi sự giàu sang và can đảm thoát ly mọi áp lực trần thế kể cả việc phải từ bỏ cả nhà cha mẹ, để lên đường hiến thân phục vụ Vua Trời trong đời sống khó nghèo.
Nghe biết về con đường của thánh Phanxicô, Clara đã kín đáo tìm đến gặp và nói cho ngài biết tất cả chí hướng về đời sống nội tâm của mình. Riêng Phanxicô, vì được ơn Chúa soi sáng, nên thánh nhân đã mau nhận ra con đường Chúa muốn người con thiêng liêng của mình phải đi là con đường nào. Vì thế, Phanxicô đã âm thầm giúp Clara chuẩn bị ngày công khai đoạn tuyệt thế gian, để xe duyên với “đức khó nghèo”. Ngày ấy là ngày Chúa nhật Lễ Lá năm 1212.
Theo lời chỉ dẫn của thánh Phanxicô, sáng hôm ấy Clara ăn mặc thật diễm lệ, xứng đáng con nhà quý phái. Clara tiến lên, quỳ hàng ghế đầu, như để từ giã mọi người lần cuối cùng. Trước cử chỉ lạ thường của Clara, mọi người quen thuộc đều bỡ ngỡ! Và người ta càng bỡ ngỡ hơn nữa khi thấy Clara không đi kiệu lá, cứ quỳ tại chỗ chăm chú nhìn lên bàn thờ, tay nắm chặt cành lá xanh tươi, tượng trưng cho sức sống mạnh mẽ đang dâng lên trong tâm hồn… Thế rồi đêm hôm ấy, Clara bỏ nhà cha mẹ, tay cầm cành lá chạy thẳng đến nhà nguyện Nữ Vương các thiên thần, nơi Phanxicô đang quỳ chờ đợi. Trong nhà thờ nhỏ bé dâng kính “Bà Chúa nghèo” này, thánh Phanxicô đã giúp người con thiêng liêng của mình hiến tóc và dâng lòng cho Thiên Chúa. Sau khi dâng hiến cho Chúa mớ tóc huyền, Clara đổi bộ áo diễm lệ ban sáng, mặc lấy chiếc áo thô của đức khó nghèo.
Và dòng nhì thánh Phanxicô hay là dòng Các chị em nghèo được thiết lập từ đó.
Sáng hôm sau, Phanxicô dẫn Clara đến gửi tại một nữ tu viện gần làng Baxia. Nhưng vì không chịu được sự phản đối quá gay gắt của gia đình, Clara lại xin thánh Phanxicô đến lẩn tránh ở một tu viện khác. Tại đây, thánh nữ đã khuất phục được một người em gái tên là Annê. Annê mới 15 tuổi, nhưng dáng người đẹp đẽ và tinh thần sắc sảo không kém gì Clara. Sau Clara, Annê là người thứ hai được Phanxicô cắt tóc và dâng lên Thiên Chúa lời khấn vâng lời, trinh khiết và khó nghèo. Người ta kể, khi gia đình Annê đến, nhất quyết lôi nàng về. Thì lạ thay, con người nhỏ bé của nàng bỗng trở nên rắn cứng và nặng trĩu, đến nỗi bốn năm người kéo không nổi. Biết đó là việc lạ Thiên Chúa làm, mọi người đành yên lặng ra về…
Khi công việc đã êm xuôi, thánh Phanxicô đến lĩnh ý Đức Giám mục xây cho chị em một ngôi nhà nhỏ lấy tên là tu viện thánh Đamianô. Đây là tu viện đầu tiên của dòng các chị nghèo. Tuy nhỏ bé, nhưng số chị em lên rất đông. Đầu tiên chị em sống theo qui luật của chính thánh Phanxicô soạn, nhưng đến năm 1215 công đồng Latêranô sửa đổi lại, tham chiếu theo luật dòng thánh Biển Đức. Bốn năm sau, Đức Hồng Y Ugolinô lại duyệt lại và bỏ bớt những điều luật quá nghiêm ngặt về đời sống khổ nghèo của chị em. Riêng thánh nữ Clara, người được đặc ân của Đức Giáo Hoàng, cho tự do sống khó nghèo vượt hẳn qui luật dòng.
Các nữ tu đều đi chân không, ngủ trên nền đất, không ăn thịt và hầu như giữ im lặng hoàn toàn. (Về sau thánh Clara, cũng như thánh Phanxicô, thuyết phục chị em điều chỉnh điều khắt khe này: “Cơ thể chúng ta không được làm bằng đồng”). Dĩ nhiên, điều nhấn mạnh nhất là sự nghèo khó Phúc âm. Họ không sở hữu tài sản, ngay cả giữ chung, chỉ sống nhờ vào những của bố thí hằng ngày.
Bà chăm sóc các bệnh nhân, hầu bàn, rửa chân cho các chị em khi họ đi hành khất về. Ảnh hưởng của bà mạnh đến nỗi các giáo hoàng, hồng y và giám mục thường đến tham vấn bà. Bà rất sùng kính Thánh Thể. Bà luôn nói với các chị em: “Đừng sợ. Hãy tín thác vào Chúa Giêsu”.
Ngày 11-8 năm 1253, thánh nữ gọi các chị em lại để nhắn nhủ mấy lời cuối cùng: “Chị em thân mến! Tôi Clara, nữ tỳ hèn mọn của Chúa Kitô, là thân cây non Thiên Chúa đã ban cho cha thánh Phanxicô, đem trồng trong vườn tu viện như một tiểu muội, một hiền mẫu của chị em. Dù không xứng đáng, tôi cũng nhân danh Thiên Chúa chúc lành cho chị em tất cả”. Sau cùng thánh nữ kêu to tiếng: “Nào chị em không thấy Vua vinh hiển đang đến với tôi kia ư?”. Nói đoạn, ngài nhắm mắt lại, êm ái ra đi như người ngủ! Nhiều chị em dòng làm chứng đã thấy Đức Mẹ và nhiều thánh nữ khác hiện đến đón linh hồn thánh Clara về trời!
Thánh nữ được Đức Giáo Hoàng Alexanđrô IV phong lên bậc hiển thánh. Và sau, Đức Clêmentê X định lễ kính thánh Clara vào ngày 12 tháng 8 hằng năm, ngày thánh nữ được Chúa gọi về trời lãnh triều thiên vĩnh cửu, sáng rực những hạt ngọc trinh khiết và khó nghèo!
Lm. Giuse Đinh Tất Quý
(nguồn: website TGP Sài Gòn)
Hãy ngắm nhìn gương nghèo khó,
khiêm nhường và bác ái của Đức Ki-tô
Trích thư của thánh Cơ-la-ra, trinh nữ, gửi chân phước A-nê Pơ-ra-ga.
Hạnh phúc thay người được tham dự bàn tiệc thánh để được hết lòng kết hợp với Đức Ki-tô. Toàn thể đạo binh thiên quốc không ngừng thán phục vẻ đẹp của Người. Yêu mến Người thì sẽ say mê, chiêm ngưỡng thì được thêm sức mạnh. Lòng nhân hậu của Người làm ta no thoả, sự dịu dàng của Người làm ta ngây ngất. Nhớ đến Người tựa như được ánh sáng êm dịu chiếu soi. Hương thơm của Người làm kẻ chết hồi sinh. Nhìn vinh quang Người, mọi công dân thành Giê-ru-sa-lem thiên quốc được hạnh phúc. Vì Người là phản ánh vinh quang ngàn đời, là vẻ rực rỡ của ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương không chút tỳ ố. Thưa hoàng hậu, hiền thê của Đức Giê-su Ki-tô, xin bà hãy soi mình hằng ngày vào tấm gương ấy và cũng hãy nhìn kỹ khuôn mặt của bà trong đó ; nhờ vậy bà trang điểm cả bề trong lẫn bên ngoài bằng trang phục huy hoàng lộng lẫy, bằng vòng hoa và xiêm y nhân đức, xứng đáng là nữ tử và hiền thê rất thanh khiết của Đức Vua cao cả. Nhưng trong tấm gương ấy còn phản ánh đức khó nghèo diễm phúc, đức khiêm nhường thánh thiện và đức bác ái tuyệt vời. Nhờ ơn Thiên Chúa, qua tấm gương trọn vẹn này, bà có thể chiêm ngắm tất cả.
Vậy, xin bà hãy ngắm nhìn từ đầu tấm gương ấy : đó là sự nghèo khó của Chúa, Đấng được bọc trong khăn và nằm trong máng cỏ. Ôi sự khiêm nhường đáng khâm phục ! Ôi sự nghèo khó gây ngỡ ngàng ! Vua các thiên thần, Chúa Tể trời đất lại nằm trong máng cỏ.
Rồi ở giữa tấm gương, bà hãy chiêm ngắm sự khiêm nhường, ít ra là sự nghèo khó. Hãy ngắm nhìn bao nỗi cực nhọc vất vả Người đã chịu để cứu chuộc loài người.
Còn ở cuối tấm gương, bà hãy chiêm ngưỡng tình yêu khôn tả khiến Người chịu đóng đinh trên cây thập giá, và chịu chết cách tủi nhục nhất.
Chính Chúa là tấm gương đó. Từ trên thập giá, Người mời gọi khách qua đường hãy ngắm nhìn, theo như lời nhắn nhủ : Này tất cả những ai qua lại, hãy nhìn kỹ mà xem : có nỗi khổ nào so sánh được với nỗi khổ tôi phải chịu. Chúng ta hãy hợp một tiếng, chung một lòng đáp lại lời Chúa, Đấng đang kêu than : Nỗi niềm riêng canh cánh bên lòng, khiến hồn con tiêu hao mòn mỏi. Vậy, thưa hoàng hậu của Đức Vua trên trời, xin bà hãy đốt lên ngọn lửa yêu mến mỗi ngày một nồng nàn hơn.
Nhưng xin bà cũng hãy chiêm ngắm những niềm hoan lạc, những giàu sang khôn tả và những vinh dự vĩnh cửu của Người, và vì lòng yêu mến, khát khao mãnh liệt, xin bà hãy mượn lời sách Diễm ca mà kêu lên : “Lạy Đức phu quân trên trời, xin hãy kéo em theo anh, đôi ta cùng sánh bước, theo mùi hương anh thơm ngát. Em sẽ chạy mãi không biết mệt cho đến khi anh đưa em vào phòng tiệc, cho đến khi anh đưa tay trái cho em gối đầu, đưa tay phải âu yếm ghì chặt lấy em, rồi hôn em nồng nàn.”
Khi chiêm niệm điều ấy, xin bà hãy nhớ đến người mẹ bé nhỏ nghèo hèn của bà, nên biết rằng tôi ghi nhớ hình ảnh bà trong trái tim tôi, không bao giờ phai nhạt, vì tôi quý mến bà hơn hết mọi người.
Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, Chúa đã dìu dắt thánh Cơ-la-ra và soi sáng cho thánh nữ biết yêu chuộng đời sống khó nghèo. Xin nhậm lời thánh nữ cầu thay nguyện giúp mà ban cho chúng con được cùng người sống tinh thần nghèo khó, mà theo chân Đức Ki-tô để được vào quê trời chiêm ngưỡng nhan thánh Chúa. Chúng con cầu xin

Sau cái chết của vị thánh nữ Clara, bên ngoài của ngôi thánh đường cổ kính Thánh George, nơi lưu giữ thân thể của Thánh Phanxicô Assisi cho đến năm 1230,
đã được tái thiết theo kiểu Gothic và mang tên Nhà Thờ Thánh Clara.
Thánh Clara xuất thân từ một gia đình trưởng giả, nhưng chị đã cương quyết không chịu kết hôn như cha mẹ mong muốn và
sắp xếp để hiến thân cho đời sống chiêm niệm theo gương Thánh Phanxicô Assisi, một thần tượng cùng sinh quán với chị, nhưng hơn chị khoảng 12 tuổi.
Do đó, vào năm 18 tuổi chị đã trốn gia đình để theo gương Thánh Phanxicô như thành phần môn đệ đầu tiên của thánh nhân bấy giờ ở Porziuncola.
Thánh Phanxicô đã cắt mái tóc của chị như dấu hiệu của lòng thống hối và khổ hạnh.

Phái đoàn hành hương TĐCTT (Tông Đồ Chúa Tình Thương), trong chuyến Hành Hương Đức Tin - Chứng Tích Phục Sinh (8-19/11/2021) giữa đại dịch covid-19 toàn cầu,
đang chờ đợi một cách thảnh thơi và mau chóng, bởi không phải xếp hàng vừa dài lại vừa lâu như trong mùa hè hay trong thời gian không bị đại dịch,
tới phiên được vào Nhà Thờ trưa ngày 14/11/2021 để viếng xác còn nguyên của Thánh nữ Clara và Cây Thánh Giá của Thánh Phanxicô, cả hai đều ở tầng hầm nhà thờ.

Đền thờ kính Thánh Clara chỉ có một gian giữa với một chỏm cao vút chính giữa đầy những trang hoàng, trong khi đó lại không có các bức tranh vẽ trên tường như ở đa số các nhà thờ nổi tiếng khác.
Ở đây, trong nguyện đường Chúa Chịu Nạn, còn có cây Thánh Giá nguyên thủy ở nhà thờ Thánh Damiano, cây Thánh Giá đã vang tiếng gọi Thánh Phanxicô "hãy xây nhà lại cho Ta",
mà bấy giờ thánh nhân lại cứ tưởng là đi xây lại các nhà thờ cũ kỹ ở Assisi, mà chính là canh tân lại Nhà Giáo Hội của Chúa đang trở nên bệ rạc, nhất là nơi thành phần giáo sĩ bấy giờ.

Chị đã bị gia đình đến áp lực bắt về, nhưng vẫn hoàn toàn bất lực trước con người kiên quyết đến độ không ai có thể lay chuyển được thân xác của chị bấy giờ.
Sau khi được nhập tu như thành phần môn đệ của Thánh Phanxicô,
chị được đến ngụ ở nhà thờ Thánh Damiano, nơi từ từ có thêm cả
mẹ của chị và người em gái của chị, trong số khoảng 50 người nữ.
Để rồi sau này thánh nữ đã lập dòng nữ theo lý tưởng của Thánh Phanxicô, gọi là Dòng Thánh Clara Nghèo (Poor Clares), chuyên sống nghèo và cầu nguyện.
Vị thánh nữ này chịu một chứng bệnh kinh niên, nhưng, theo truyền thuyết, vào năm 1240, bất chấp bệnh nạn trầm trọng, thánh nữ cũng đã cố gắng cứu tu viện của mình cho khỏi cuộc tấn công của đám dân du mục Ả Rập,
bằng cách cầm lấy mặt nhật có Mình Thánh Chúa xoay qua xoay lại, như vị linh mục ban phép lành Thánh Thể, ở một cửa sổ của tu viện.
Chị qua đời năm 1253, hưởng thọ 60 tuổi và được phong hiển thánh 2 năm sau.

Ngày tháng 12 tháng 8
THÁNH GIOANNA PHANXICA CHANTAL
NỮ TU (1572 - 1641)
I. ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ
Gioanna Phanxica frémiot de Chantal chào đời tại miền Dijon nước Pháp vào ngày 23/01/1572, Tuổi thơ của thánh nhân được đánh dấu bằng một biến cố hết sức đau thương:mẹ Gioanna Phanxica qua đời lúc thánh nhân chưa tròn hai tuổi. Nỗi đau thương ấy không gì có thể khỏa lấp được đối vì Người lại phải sống cảnh gà trống nuôi con. Nhưng với tình thương, lòng cương nghị, quả cảm của người Cha, Gioanna Phanxica đã được hấp thụ ảnh hưởng của người cha trên cuộc đời của mình rất nhiều. Chính người Cha của thánh nữ đã hun đúc, uốn nắn người nên một nữ thánh kiên trì, quả cảm, dũng mãnh, giàu nghị lực.
Lúc lớn lên, như mọi thiếu nữ khác, thánh nhân đã kết hôn với bá tước Chantal. Cuộc hôn nhân của Người với bá tước Chantal mang lại hạnh phúc lớn lao. Hai ông bà đã sinh hạ được bốn người con. Ðời gia sống đình hạnh phúc của hai ông bà tưởng sẽ kéo dài đến vô hạn. Nhưng chẳng có hạnh phúc nào mà không vương vấn đau khổ. Thánh giá của Chúa đã ập xuống trên gia đình Gioanna Phanxica và bốn người con khi bá tước Chantal bị tử nạn trong một chuyến đi săn bắn vào năm 1600. Với ý chí sẵn có, lòng quả cảm trào dâng, thánh nhân dù đau khổ tột bực, nhưng Người vẫn luôn cảm nghiệm thấy tình thương của Chúa cũng như ý thức giá trị thánh giá Chúa gửi tới cho mình và cho con cái mình. Thánh nữ Gioanna quyết tâm nuôi lý tưởng ở vậy nuôi con và luôn hướng tâm hồn thuộc trọn về Chúa. Con đường của Chúa luôn huyền nhiệm. Thánh nữ đã được Ðức Giám Mục địa phận Genève hướng dẫn, nhờ vậy, Người tiến bộ rất mau trên đường nhân đức, thuộc trọn về Chúa. Năm 1610 với sự đồng ý của con cái, gia đình, thánh nữ đã từ giã mọi người thân yêu để gia nhập dòng Thăm Viếng. Với tư cách là thành viên của Hội dòng, Thánh nữ đã góp công rất nhiều trong việc cải tổ, củng cố tu viện, tổ chức các nhà tập, và lập các chi nhánh nhà mới tại nhiều nơi. Ngài đã cống hiến tài năng sức lực vào việc xây dựng, tổ chức lại nhà dòng và đã thành công.
Thiên Chúa đã yêu thương Người, kêu gọi Người về với Chúa vào ngày 13/12/1641 tại Moulins. Người được an táng tại Annecy trong nguyện đường của tu viện. Vì những công đức Người cống hiến cho nhà dòng, những phép lạ và những nhân đức anh hùng Chúa ban cho Người khi Người còn sống cũng như khi Người qua đời, Chúa đã thưởng công cho Người. Ðức Giáo hoàng Clêmentê XIII đã phong thánh cho Ngài vào năm 1767.
II. BÀI HỌC
Khi đọc lại gương các thánh, mỗi người chúng ta không khỏi suy nghĩ về cuộc đời của các Ngài và rồi nhìn lại đời mình để thấy những gì còn thiếu , những gì mình cần cố gắng, phấn đấu để cũng nên thánh như các thánh. Thánh Augustinô đã nói một câu rất chí lý:” Ông kia bà nọ nên thánh được, tại sao lại không ?”.
Chúng ta tự hỏi: Thánh GIOANNA Phanxica Chantal đã để lại cho chúng ta bài học gì ?
Nếu chỉ nhìn theo cái nhìn sử học, chúng ta thấy Ngài chẳng khác gì những người khác: Được sinh ra làm người, sống cuộc đời làm người qua những chặng đường của cuộc sống và kết thúc cuộc sống làm người với cái chết để trở về với bụi tro.
Cuộc sống làm người ai mà chẳng trải qua khuôn mẫu đó. Thế nhưng giữa cái bắt đầu và kết thúc làm sao để sống cuộc đời của mình một cách ý nghĩa. Đó mới là điều quan trọng.
Thánh GIOANNA Phanxica Chantal đã biết làm cho cuộc đời của mình có ý nghĩa bằng cách sống cuộc đời trong sạch, xa rời cuộc sống xa hoa của giai cấp giàu có, hết lòng với bổn phận và yêu thương mọi người nhất là đối với nhưng người nghèo khổ.
Ngài đã từng tuyên bố: - “Nếu không yêu thương người nghèo, tôi thấy mình như không yêu mến Thiên Chúa”.
Khi xảy ra nội chiến, cảnh khốn cùng lan rộng khắp làng quê. Vị nữ bá tước đón tiếp các người bị bỏ rơi, bệnh tật và các trẻ sơ sinh. Đoàn người thiếu ăn trong vòng bảy dặm tuôn đến. Ngài tự tay múc cháo phục vụ mọi người. Thấy người đã được trợ cấp trở lại, ngài không từ chối giúp đỡ họ và thưa với Chúa:
- Con đến gõ cửa van xin lòng thương xót của Chúa, nào là con có muốn đến lần thứ hai thứ ba mà bị xua đuổi đâu?
GIOANNA tự lo cho mình, phục vụ người nghèo, lau rửa những người khốn khổ đầy chấy rận. Mặc đồ sạch sẽ cho họ rồi nấu giặt và may vá áo quần cho họ.
Tới lúc Chúa muốn, GIOANNA đã anh dũng từ giã gia đình, dẫn người con gái không lập gia đình là Fracoise để giúp mẹ trong việc giáo dục. Người con trai ở lại với ông nội đã chống lại việc ngài ra đi và nằm ngang cửa để ngăn cản. GIOANNA lau nước mắt bước qua mình con mình. Ngài biết rằng: con mình sẽ không bị bỏ rơi, vì ngài đã trao phó cho người cậu là Tổng Giám mục Bourges. Và mỗi khi cần đến, ngài sẽ đi thăm để lo cho lợi ích của các con.
Tháng 6 năm 1610, thánh nữ đã thiết lập tu viện đầu tiên ở Annecy và khẩn nguyện luôn thực hiện điều gì xem ra hoàn hảo nhất. Danh tiếng của các nữ tu dòng Thăm Viếng tận tâm phục vụ người nghèo, bệnh nhân và giáo dục các thiếu nữ lan rộng mau chóng. Suốt 30 năm, mẹ de Chantal đã thiết lập nhiều tu viện, hiến mình làm mọi việc. Vào cuối đời, ngài kể lại:
- “Tôi như những nữ tá thô kệch thời thu hoạch.
Nơi nào thánh nữ đi qua, ngài đều để lại sự êm dịu, sự phấn khởi và niềm tin tưởng. Người ta thấy ngài chống lại sự nhọc mệt bằng niềm vui và can đảm. Linh động trong mọi công việc, ngài nấu ăn và coi bò, giờ giải trí, ngài vui vẻ với các nữ tu... khiến họ nói: “Khi Mẹ chúng ta không giải trí được là thiếu một phần vui tươi êm ái”. Bệnh tật không ngăn cản ngài săn sóc và nghĩ tới mọi sự. Với một trí khôn nhanh nhẹn và chính xác, một lúc, ngài đọc cho 3 nữ tu.
Mười chín năm trước khi qua đời, GIOANNA de Chantal mất người bạn, người cha, người nâng đỡ tinh thần là thánh Phanxicô Salesio. Sự đau đớn của ngài thực sự lớn lao. Rồi đến cái chết của người con trai để lại một cháu gái sẽ là nữ nam tước de Sévigné. Các tang lễ liên tiếp ập đến với các người thân. Nhưng thử thách lớn lao nhất của thánh nữ là những chán nản nội tâm, những cám dỗ kinh khủng nghịch lại đức tin. Ngài không hề để lộ ra những đau đớn của mình và lấy sự bình thản để phủ lấp những lo âu. Mẹ de Claugy đã nói về những khô khan liên tục của ngài:
- Chỉ trong cõi đời đời, người ta mới biết hết được.
Khi ngài qua đời, cha giải tội nói:
- Suốt 23 năm, tôi đã thán phục nơi thánh nữ một lương tâm tinh ròng trong suốt và rõ rệt hơn cả pha lê.
Đó là cuộc đời của một vị thánh. Xin mẹ thánh GIOANNA de Chantal cầu nguyện cho chúng ta. Amen.
https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-12-08-thanh-gioanna-phanxica-chantalnu-tu-1572-1641-39036
LỜI KHUYÊN CỦA THÁNH GIOANNA PHANXICA CHANTAL DÀNH CHO CÁC BẬC CHA MẸ
Theresa Civantos Barber
Thường thì những lời của các thánh dường như vượt cả thời gian và không gian để nói trực tiếp với tâm hồn của chúng ta. Đó là cảm giác của tôi khi đọc một bức thư mà Thánh Gioanna Phanxica Chantal đã viết cho người con gái của mình.
Thánh Gioanna đã ngoài 50 tuổi và là bề trên của một dòng tu khi viết thư này. Nhưng thánh nữ vẫn chưa quên được cảm giác làm mẹ của những đứa con nhỏ là như thế nào.
Trong bức thư này, Thánh Gioanna đã nói thẳng về tình trạng của con gái mình trong cuộc sống, và thông qua người con gái này là nói với tất cả các bậc cha mẹ đang phải lo toan về con cái mình. (Bạn có thể tìm thấy toàn bộ nội dung của lá thư miễn phí trên mạng: Đó là Thư 60, Gửi Nữ bá tước de Toulonjon.)
1. Hãy vững tâm về sự an toàn và tương lai của con cái bạn
Thánh Gioanna bắt đầu bằng cách giải quyết những lo lắng của người con gái về tương lai của con cái cô:
“Con đã quá gắn bó với những điều thuộc về đời này và mang chúng vào lòng quá nhiều. Con phải sợ điều gì đây? Có phải việc có quá nhiều con cái tước đi của con những phương tiện để nuôi nấng và giáo dục chúng nên người và phù hợp với hoài bão của con chăng? Mẹ xin con đừng lo sợ như vậy, vì con đã sai lầm về sự quan phòng của Người, Đấng đã ban chúng cho con, và Đấng có đủ tốt lành và giàu sang để nuôi dưỡng và chăm lo cho chúng, vì điều này đem lại vinh quang cho Người và ơn cứu độ cho chúng. Đó là tất cả những gì chúng ta nên mong ước cho con cái mình...”
Khi chúng ta cảm thấy lo lắng cho con cái và tương lai của chúng, thay vào đó Thánh Gioanna nhắc nhở chúng ta hãy hướng lòng tin cậy vào nơi Thiên Chúa. Người yêu thương con cái của chúng ta hơn chính chúng ta và sẽ chăm sóc cho chúng.
2. Hãy toàn tâm toàn lực nuôi dạy con cái thật tốt
Thánh Gioanna nói, thay vì lo lắng không cần thiết về tương lai, hãy đặt tất cả những suy nghĩ đó để trở thành bậc cha mẹ tốt nhất mà bạn có thể trở thành. Hãy dành sức lực của bạn cho con cái của bạn ngay bây giờ thay vì lo lắng về những điều có thể hoặc không thể xảy ra trên đường đời.
“Giờ đây, con gái yêu dấu của mẹ, hãy âu yếm nhìn vào tất cả những tạo vật nhỏ bé này, vì chúng đã được trao phó cho con từ Thiên Chúa, Đấng đã ban chúng cho con; hãy chăm sóc chúng, thương yêu chúng cách dịu dàng, và nuôi dạy chúng không phải theo những gì hư ảo, nhưng trung thành với lòng kính sợ Thiên Chúa. Khi làm như vậy và tin tưởng giao phó tất cả những lo lắng của con cho sự quan phòng của Thiên Chúa, thì con sẽ thấy tất cả sẽ được lo liệu cách êm đềm và cẩn thận ra sao, để rồi từ đó con sẽ có lý do chính đáng để cầu xin và hoàn toàn tin cậy vào điều đó.”
3. Hãy cùng cộng tác với người bạn đời để xây dựng một gia đình hạnh phúc
Cuối cùng, Thánh Gioanna khuyến khích người con gái của mình sử dụng thời gian và sức lực để cùng với chồng trông nom thật tốt cho gia đình. Thật vậy, thời gian của chúng ta tốt hơn là dành để siêng năng làm những gì chúng ta phải làm hôm nay hơn là lo lắng về tương lai.
“Này con gái yêu dấu, hãy nghe lời khuyên của mẹ và đặt mình vào chốn tựa nương an toàn này là: hãy phụng sự Thiên Chúa, gạt bỏ sự phù phiếm sang một bên, sống trong sự hòa thuận hoàn toàn với [chồng của con] người mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con, hãy quan tâm đến việc cai quản thật tốt gia đình của con, hãy tích cực và chuyên cần dấn thân vào công việc đó, và bắt đầu từ lúc này trở đi hãy sống theo thuần phong mỹ tục của một người mẹ đúng nghĩa...
Vì vậy, hãy can đảm lên, hỡi con gái yêu dấu; hãy sử dụng thời gian và tâm trí của con không phải để lo lắng và băn khoăn về tương lai, nhưng để phục vụ Thiên Chúa và gia đình của con, vì đó là ý muốn của Thiên Chúa. Hãy làm như thế, và con sẽ thấy được muôn phúc lành song hành cùng với công việc của con ra sao.”
Những lời của Thánh Gioanna, “Vậy hãy can đảm lên, hỡi con gái yêu dấu” cho thấy thánh nữ hiểu rõ những thực tế khó khăn của thiên chức làm mẹ là như thế nào. Câu lạc bộ sách của tôi gần đây đã đọc một số tác phẩm của Thánh Gioanna, và bức thư này nổi bật với nhiều người trong chúng tôi vì nó đặc biệt liên quan đến ơn gọi của chúng tôi.
Elizabeth, một thành viên của câu lạc bộ sách, cho biết: “Việc đọc bức thư của Thánh Gioanna gởi cho người con gái đã kết hôn của thánh nữ đã truyền cảm hứng và làm mới lại nơi tôi trong tư cách là một bà mẹ có 3 đứa con nhỏ. Tôi hiếm khi gặp được một lời khuyên trùng khớp từ của một vị thánh có thể hướng đến việc thúc đẩy tôi cách đặc biệt trong thiên chức làm vợ, làm mẹ và nội trợ.”
Đối với cô, bức thư đã trở thành một lời mời gọi chuyên tâm cho công việc của cô trong gia đình. “Tôi đọc bức thư của thánh nữ mỗi sáng bởi vì nó nhắc nhở tôi rằng việc chúng ta gọi mình mẹ là do Thiên Chúa ban cho và Người sẽ lo liệu cho chúng ta khi chúng ta làm công việc của Người.” Với tất cả những điều đó, chúng ta chỉ có thể thốt lên: “Amen!”
Nguồn: giaophanvinhlong.net
Ngày 12 tháng 8
Thánh Gioana Phanxica Chantal, nữ tu
(1572 - 1641)

Gioana Phanxica Fremyet chào đời ngày 23.01.1572 ở Dijon, là con của vị chủ tịch nghị viện. Thuộc một gia đình Công giáo đạo đức, ông đã đào tạo con gái của mình nên một đứa trẻ có đời sống tín hữu mạnh mẽ. Học tập như các trẻ em khác, thánh nữ có một tinh thần sống động và tỏ ra vừa vui tươi vừa đứng đắn. Dầu còn nhỏ, Gioana Phanxica quyết xa rời những người lạc đạo, ngài la hét khi có ai trong số họ chạm tới ngài. Khi đến tuổi hòa mình với đời sống đài các, sự dè giữ của thánh nữ chứng tỏ ngài đã không ao ước một cuộc sống dễ dãi trống rỗng. Một trong những nhiệt huyết nơi ngài là được thực hiện những công trình lớn cho Thiên Chúa: ngài muốn được tử đạo. Ngài đã phát khóc khi thấy những người khốn cực, ngài nói:
- “Nếu không yêu thương người nghèo, tôi thấy mình như không yêu mến Thiên Chúa”.
Vị bá tước de Chantal thấy rằng: Gioana Phanxica sẽ là người vợ quý nhất trên thế gian. Cuộc hôn nhân hoàn tất. Gioana Fremyet lúc ấy 20 tuổi trở thành Gioana de Chantal. Buổi đầu, vị nữ bá tước trẻ lo âu vì những món nợ cũ phải thanh toán. Nhưng Gioana đã vui cười bắt tay vào việc. Ngài chỗi dậy từ 5 giờ sáng, dự thánh lễ, dùng ngựa để đi thăm nông trại và đất đai, kéo sợi và may vá với những người giúp việc, ngài tỏ ra là một người quản lý danh tiếng, đồng thời cũng rất bác ái và dễ yêu đến nỗi người ta gọi ngài là “bà phúc hậu”. Có người còn nói rằng: mình thích mang bệnh để được nữ bá tước viếng thăm, nhưng ngài cũng biết rằng: săn sóc và mỉm cười chưa đủ, phải có Chúa giúp sức. Chẳng hạn đến với một bênh nhân xem như tuyệt vọng, ngài thức đêm cầu nguyện và đến sáng thì bệnh nhân được lành. Vị bá tước nhiều lần thấy người vợ đầy lòng bác ái quỳ cầu nguyện.
Khi xảy ra nội
chiến, cảnh khốn cùng lan rộng khắp làng quê. Vị nữ bá tước đón tiếp các
người bị bỏ rơi. Bệnh tật và các trẻ sơ sinh. Đoàn người thiếu ăn trong
vòng bảy dặm tuôn đến, ngài tự tay múc cháo phục vụ mọi người. Thấy
người đã được trợ cấp trở lại, ngài không từ chối giúp đỡ họ và thưa với
Chúa:
- “Con đến gõ cửa
van xin lòng thương xót của Chúa, nào là con có muốn đến lần thứ hai thứ
ba mà bị xua đuổi đâu?”
Bá tước de Chantal là một sỹ quan, thường vắng mặt để phục vụ nhà vua nơi triều đình hay trong quân đội. Khi ấy thánh nữ bỏ đồ trang sức và áo nhung, tự khép mình với sáu người con và các việc nội trợ, dành nhiều thời gian hơn để cầu nguyện. Khi bá tước trở về, ngài tổ chức ăn mừng với nét mặt rạng rỡ vui tươi. Hạnh phúc chiếu sáng tổ ấm gia đình.
Nhưng trong một cuộc đi săn, bá tước bị tử thương. Người vợ trẻ thành góa bụa lúc 28 tuổi, đã đau đớn khóc lóc:
- “Lạy Chúa, xin hãy cất đi mọi của cải và con cái, nhưng xin để lại người chồng yêu quý mà Chúa ban cho con”.
Dầu vậy, trong cơn thất vọng, thánh nữ đã điều khiển được lòng mình và tìm vâng theo thánh ý Chúa. Gioana Phanxica phải từ giã lâu đài để về sống gần cha chồng. Những người nghèo vây quanh xe ngài khóc lóc vì họ đã mất người mẹ hiền. Một cảnh huống nặng nề đang đợi Gioana nơi nhà cha chồng. Người quản gia già nắm mọi quyền bính, bắt ngài nuôi nấng con cái bà với con cái của thánh nữ. Người đàn bà trẻ đã cố gắng để khỏi bị chống đối, ngài luôn hiền hậu và không hề làm cha chồng nổi nóng. Ngài cũng tổ chức một phòng thuốc cấp cứu và săn sóc người nghèo. Bảy năm trôi đi trong nếp sống khó khăn và hãm mình.
Gioana Phanxica gặp thánh Phanxicô Salesiô. Vị thánh quyết định đời ngài. Thánh nhân giảng mùa chay tại Dijon và nhận thấy thánh nữ chăm chú nghe mình. Ngài hỏi thánh nữ có ý định tái giá không? Thánh nữ kêu:
- Không!
Và thánh nhân đã trả lời:
- “Vậy phải kéo bảng hiệu xuống”. Chỉ muốn Chúa thôi, đừng làm dỏm, dẹp bỏ tất cả chi tiết phong lưu lẫn lòng kiêu hãnh.
Gioana tự lo cho mình, phục vụ người nghèo, lau rửa những người khốn khổ đầy chấy rận. Mặc đồ sạch sẽ cho họ rồi nấu giặt và may vá áo quần cho họ. Thánh Phaxicô Salesiô dẫn ngài tới sự thánh thiện bằng đời sống ngày càng kết hiệp sâu xa hơn với Chúa. Thánh nhân cũng quả quyết rằng: thời giờ đã đến để thánh nữ từ bỏ thế gian. Đường chân thực của thánh nữ là trở nên tu sĩ và thiết lập dòng Thăm Viếng.
Gioana đã anh hùng từ giã gia đình, ngài dẫn người con gái không lập gia đình là Fracoise để bổ túc việc giáo dục bên cạnh ngài. Người con trai ở lại với ông nội đã chống lại việc ngài ra đi và nằm ngang cửa ngăn cản. Cử chỉ của thánh nữ không theo tầm mức của chúng ta: Gioana lau nước mắt bước qua mình con. Ngài biết rằng: con mình sẽ không bị bỏ rơi, vì ngài đã trao phó cho người cậu là Tổng Giám mục Bourges. Và mỗi khi cần đến, ngài sẽ đi thăm để lo cho lợi ích của các con.
Tháng 6 năm 1610, thánh nữ đã thiết lập tu viện dầu tiên ở Annecy và khẩn nguyện luôn thực hiện điều gì xem ra hoàn hảo hơn. Danh tiếng của các nữ tu dòng Thăm Viếng tận tâm phục vụ người nghèo, bệnh nhân và giáo dục các thiếu nữ lan rộng mau chóng. Suốt 30 năm, mẹ de Chanltal đã thiết lập nhiều tu viện, hiến mình làm nọi việc. Vào cuối đời, ngài kể lại:
- “Tôi như những nữ tá thô kệch thời thu hoạch. Người cha gia đình nói với họ: hãy đến chỗ này, hãy đi chỗ nọ, hãy trở lại cánh đồng này, hãy đi tới chỗ khác. Chẳng hạn người cha diễm phúc của chúng tôi đã nói: hãy đi thiết lập ở Lyon , ở Grenoble, hãy trở lại để đi Bourges, hãy đi Paris, hãy từ giã Paris và trở lại Dijon. Chẳng hạn nhiều năm tôi chỉ đi và đến, khi thì ở một trong những cánh đồng, khi thì ở một nơi khác của cha thân yêu”.
Nơi nào thánh nữ đi qua, ngài đều để lại sự êm dịu, sự phấn khởi và niềm tin tưởng. Người ta thấy ngài chống lại sự nhọc mệt bằng niềm vui và can đảm. Linh động trong công việc, ngài nấu ăn và coi bò, giờ giải trí, ngài vui vẻ với các nữ tu... khiến họ nói: “Khi Mẹ chúng ta không giải trí được là thiếu một phần vui tươi êm ái”. Bệnh tật không ngăn cản ngài săn sóc và nghĩ tới mọi sự. Với một trí khôn nhanh nhẹn và chính xác, một lúc, ngài đọc cho 3 nữ tu.
Mười chín năm trước khi qua đời, Gioana de Chantal mất người bạn, người cha, người nâng đỡ là thánh Phanxicô Salesio. Sự đau đớn của ngài thực sự lớn lao. Rồi đến cái chết của người con trai để lại một cháu gái sẽ là nữ nam tước de Sévigné. Các tang lễ liên tiếp nơi các người thân. Nhưng thử thách lớn lao nhất của thánh nữ là những chán nản nội tâm, những cám dỗ kinh khủng nghịch lại đức tin. Ngài không hể tỏ lộ những đau đớn của mình và lấy sự bình thản để phủ lấp những lo âu. Mẹ de Claugy đã nói về những khô khan liên tục của ngài:
- “Chỉ trong cõi đời đời, người ta mới biết hết được”.
Khi ngài qua đời, cha giải tội nói:
- “Suốt 23 năm, tôi đã thán phục nơi thánh nữ một lương tâm tinh ròng trong suốt và rõ rệt hơn cả pha lê”.
Trong những hành trình cuối cùng mẹ de Chantal được reo mừng khắp nơi. Khi có dịch hạch ở Annecy, ngài đã không từ chối bỏ nơi này và tăng gấp các việc bố thí và lời cầu nguyện. Ở St.Germain, hoàng hậu đưa hai người con tới gặp và xin ngài chúc lành. Ngài hân hạnh được gặp thánh Vinh Sơn Phaolô, dân Paris chen lấn để mong chạm tới ngài và nghe ngài nói. Trở về, ngài ngã bệnh ở Monlins. Tới phút cuối ngài vẫn còn lo lắng đến mọi việc. Và sau 3 lần kêu danh Chúa Giêsu, ngài tắt thở năm 1641, năm 1767 ngài được Đức Thánh Cha Clêmentê XIII phong thánh.
https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-12-thang-8-thanh-gioana-phanxica-chantalnu-tu-42372
|
THÁNH GIOANA PHANXICA CHANTAL SÁNG LẬP DÒNG THĂM VIẾNG |
|
Gioana chào đời ngày thứ ba, 23.01.1572, trong một lâu đài tráng lệ nguy nga thuộc tỉnh Dijon nước Pháp. Ai cũng tưởng cô bé sẽ được hưởng những năm thơ ấu sung sướng bên một người mẹ đạo đức. Nhưng chào đời vừa được 18 tháng, Gioana đã phải mồ côi mẹ. Tuy nhiên, Gioana vẫn được hưởng thụ một nền giáo dục của nhà quý phái. Gioana lớn lên với tinh thần minh mẫn và linh lợi, tính tình vui vẻ, hoạt bát. Thêm vào đó một tâm hồn quảng đại, nét mặt duyên dáng đượm vẻ thơ ngây như chất chứa nhiều ân sủng. Năm 20 tuổi, Gioana đẹp duyên với bá tước Chantal. Đây thật là một cuộc hôn nhân xứng đôi vừa lứa. Tuy nhiên, Gioana vẫn cảm thấy lòng còn trống trải và cần phải làm một việc gì đặc biệt hơn. Là bá tước phu nhân, nhưng Gioana không màng gì đến những chức quyền danh vọng ấy, và coi những vẻ hào nhoáng bên ngoài như những chướng ngại của tâm hồn đơn sơ, trong trắng. Bà ăn vận rất đơn sơ nhã nhặn, tự tay đảm đang những công việc vặt vãnh trong nhà như quét nhà, rửa chén, vì bá tước phu nhân nghĩ rằng: làm việc là định luật của Tạo hóa, không ai được phép chước chuẩn. Sự có mặt của Gioana trong gia đình đã gây được một bầu khí phấn khởi, đầm ấm, và vui tươi. Đời sống an vui và hạnh phúc của gia đình bá tước ngày thêm sắc, thêm hương. Sau tám năm đoàn tụ, nào ai biết có gì thay đổi lớn! Bỗng nhiên một biến cố xảy đến làm đảo lộn tất cả gia đình bá tước và, như muốn biến đổi Gioana thành một con người mới. Số là bá tước Chantal đã qua đời vì một tai nạn trong lúc đi săn. Ý Chúa nhiệm mầu như đã muốn dùng cơ hội đau thương này trao cho Gioana một sứ mệnh đầy cam go nhưng cao quý hơn. Bá tước qua đi để lại cho Gioana bốn người con non dại. Bà có đủ điều kiện để tái lập gia đình thứ hai, nhưng bà đã từ chối và nguyện trung thành với người chồng đã quá cố để nuôi nấng, dạy dỗ con cái và làm một cái gì cho Giáo hội. Gioana cảm thấy như cần phải đứng lên thiết lập một gia đình thiêng liêng, để quy tụ những thiếu nữ muốn tận hiến cho tình yêu Chúa và chuyên cần cầu nguyện cho nhân loại. Càng ngày, Gioana càng cảm thấy như có tiếng thôi thúc từ trời cao, bảo bà phải can đảm hiên ngang để làm của lễ cho tình thương lân tuất vô biên của Chúa. Bá tước ngày đêm những băn khoăn thổn thức, không biết phải làm sao để đáp lại tiếng kêu gọi ấy. Ngài đã mải miết xin Chúa ban cho một vị hướng dẫn tinh thần. Sau nhiều ngày nguyện cầu, Chúa đã cho ngài gặp một vị linh hướng đúng như ý nguyện, thánh Phanxicô Salê. Một hôm, khi nghe thánh Phanxicô giảng, tâm hồn Gioana thấy xúc động lạ thường và nghĩ rằng chỉ có thánh nhân mới có thể giúp mình thi hành ý định cao quý kia. Sau bài giảng, bá tước nóng lòng muốn gặp thánh nhân để giãi bày tâm sự. Gioana mạnh bạo đến xin Đức Tổng Giám mục giới thiệu mình với thánh Phanxicô. Đức Tổng Giám mục là anh của Gioana và là bạn thân của thánh Phanxicô, nên bà Gioana đã được gặp ngài cách dễ dàng. Vừa gặp thánh nhân, bà quá xúc động, chưa kịp nói được lời gì thì thánh nhân đã nhận được bà là một quả phụ qua bộ y phục riêng biệt, ngài liền gợi truyện để xem Gioana muốn ngài giúp gì: “Này con, con có ý định gì về tương lai không, con còn muốn tái giá không?” Hỏi thế thì hỏi, chứ thánh nhân đoán chắc Gioana không còn nghĩ đến chuyện đó nữa, vì hình như thánh nhân đã linh cảm thấy nơi bà có một ơn kêu gọi đặc biệt khác. Quả thực, như sự ước đoán của thánh nhân, Gioana đã thưa lại: “Thưa cha, con chả nghĩ gì đến chuyện ấy, con chỉ muốn thi hành trọn ý Chúa”. Thế rồi sau mấy hồi tâm sự, bà đã xin thánh Phanxicô dẫn dắt linh hồn cho. Theo lời khuyên của cha linh hướng, Gioana sống gần như quên mình hoàn toàn để phụng sự tình yêu Chúa, và phát triển đức bác ái đối với hết mọi người. Thánh nữ bán tất cả đồ nữ trang, cũng như những quần áo quý giá để làm phúc cho những người nghèo đói. Ngài ăn mặc đơn giản như thường dân để dễ bề len lỏi vào đám quần chúng làm việc từ thiện. Những người xa gần đều cảm phục đức nhẫn nại, hy sinh của thánh nữ. Ngày ngày thánh nữ xông pha vào những viện tế bần, những nhà dưỡng lão để thu lượm những quần áo rách rưới, hôi thối của những người tàn phế, bệnh tật, đem về giặt giũ sạch sẽ và khâu vá lại cho họ. Nhận thấy Gioana hầu như đã cởi bỏ được con người trần tục và đã đủ khả năng để làm một việc gì cho Giáo hội, thánh Phanxicô đã vời ngài đến Annecy để tìm hiểu cuộc đời chiêm niệm tu thân khắc khổ. Ngày lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống năm 1607, thánh Phanxicô cho Gioana một tia hy vọng: “Này con, điều con phải làm cha đã quyết định rồi”. Thánh nữ trả lời: “Còn con, thưa cha, con cũng đã quyết định vâng lời cha”. Nói xong, thánh nữ quỳ xụp xuống, cha linh hướng đến gần bảo: “Đúng thế, cha thấy con cần phải vào dòng bà thánh Clara”. Ngài tươi cười thưa lại: “Lạy cha, con đã sẵn sàng cả rồi”. Nhưng để thử đức vâng phục của thánh nữ, cha linh hướng đã vịn trăm ngàn lẽ để làm cho tâm hồn Gioana phải rối lên như nắm tơ vò, ngài tiếp: “Nhưng không, con chưa đủ sức đâu con ạ, có lẽ con sẽ phải là một nữ tu giúp việc bệnh viện thì hơn” - “Cha muốn thế nào thì con cũng vâng” - “À nhưng, đấy cũng chưa phải là điều cha mong muốn con ạ, con phải làm một nữ tu dòng kín thì mới phải”- “Con cũng sẵn sàng vâng lời cha”. Thấy tâm hồn thánh nữ mềm như miếng sáp và sẵn sàng để ơn Chúa uốn nắn, thánh Phanxicô đã trao cho ngài sứ mệnh thiết lập dòng THĂM VIẾNG. Sau khi biết rõ ý định của cha linh hướng, ngài thú nhận với những bà con xung quanh: “Nghe lời đề nghị của cha, tôi cảm thấy quyết định ấy thật quá xứng hợp với tâm hồn tôi”. Nhưng Gioana chưa thể thực hiện ngay được sứ mệnh ấy, vì các con còn dại. Từ đó, ngài đành sống âm thầm trong cầu nguyện để xin Chúa lo liệu. Ngày tháng trôi qua, cô con gái cả đã đi gánh vác gia đình, cô thứ hai đã theo cha về đời sau. Bà trối cậu con trai cho ông nội và dẫn Phanxica, cô bé út đi với mình. Ngày 29.3.1610, thánh nữ từ giã cha già để lên đường theo tiếng gọi của Chúa. Cảnh chia ly cảm động biết bao, đau đớn biết mấy! Cậu con trai buồn rầu khóc lóc, nằm vật vã dưới chân mẹ ngăn không cho mẹ bước đi. Ngày lễ Chúa Ba Ngôi năm ấy, sau khi lĩnh phép lành của cha linh hướng, Gioana cùng với hai thiếu nữ khác đến trú trong một căn nhà nhỏ hẹp ở ngoại ô tỉnh Annecy. Tuy mới có ba người, nhưng cũng đã có hình thức của một nhà dòng có tổ chức. Hai chị kia bầu Gioana làm chị cả. Ba chị em bắt đầu sống những chuỗi ngày đầy hy sinh gian khổ. Dưới sự chỉ dẫn và giáo huấn của thánh Phanxicô, căn nhà nhỏ bé ấy đã nên như một thửa ruộng mầu mỡ Chúa dùng để vun trồng những ơn kêu gọi cho dòng Thăm viếng. Thực thế, như nắm men ủ trong thúng bột, chả mấy chốc đời sống tận hiến hy sinh của thánh nữ Gioana đã lan toả khắp đó đây và dòng Thăm Viếng càng ngày càng vươn lên cao. Thánh nữ đã phải bôn ba nhiều tỉnh để lập những nhà dòng mới như ở Lyon, Moulins, Grenoble. Năm 1621, thánh nữ đến Paris với cha linh hướng và tiếp xúc với các nhà tu đức thời danh bấy giờ. Năm 1622, Chúa đã dồn dập gửi đến cho ngài bao nhiêu thử thách và thánh giá. Nỗi buồn khi nghe tin thân phụ qua đời chưa tan, một mối sầu man mác khác lại xâm chiếm lòng thánh nữ khi hay tin cha linh hướng đã được Chúa cất về. Thánh nữ buồn, vì từ đây không còn người dìu dắt linh hồn trong những lúc gặp sóng gió bão táp. Tuy nhiên, ngài vẫn luôn trung thành với sứ mệnh: hoàn toàn phó thác trong tay Chúa. Thế rồi, nay được tin con gái cả chết, mai được tin con trai mất; nhưng thánh nữ lúc nào cũng chỉ thốt ra một lời: “Con xin vâng thánh ý Chúa”. Gặp nhiều đau khổ thì thánh nữ lại càng can đảm nhẫn nại, hăm hở sống những năm cuối đời để củng cố tu viện, tổ chức việc coi sóc các nhà dòng mới lập và tô điểm thêm cho bộ luật của dòng. Lúc này sự hiện diện của thánh nữ đã đem lại nhiều yên ủi cho hết thảy mọi chị em trong dòng và gây được nhiều thiện cảm đối với những người sống chung quanh. Quả như lời của một người thời ấy đã nói: “Từ 23 năm nay, tôi hằng cảm phục con người ấy, nơi ngài có một tâm hồn trong sáng, đẹp hơn ánh pha lê”. Sau khi đã lập các chi nhánh khắp nước Pháp, thánh nữ xin thôi chức bề trên. Nhưng không được bao lâu, chị em lại yêu cầu ngài lên điều khiển nhà dòng ở Moulins. Và ở đây, ngài đã từ biệt cõi trần để về lĩnh phần thưởng Chúa hứa. Thi hài ngài được đưa về Annecy, táng trong nhà nguyện của nhà dòng mẹ. Thánh nữ qua đi, nhưng những công lao vất vả của ngài đã trổ sinh sự ngọt ngào của tình yêu Chúa trong đời sống chiêm niệm mến yêu. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XIV đã phong chân phước cho Gioana Chantal ngày 21.11.1751, và Đức Giáo Hoàng Clêmentê XII đã nâng mẹ bề trên sáng lập dòng Thăm Viếng lên bậc hiển thánh năm 1767. |
http://tinmung.net/CACTHANH/HanhCacThanh/Thang08/Ngay12.htm
Thánh Pontiano Giáo hoàng Tử đạo và Hyppolyto, Linh mục Tử đạo (13/8)

Thánh PONTIANÔ
Kế vị Thánh Urbanô I làm giáo hoàng khoảng năm 230 Ngài bị bắt đi lưu đày cùng với vị phản giáo hoàng là Hippôlitô, tới miền Sardinia trong thời kỳ bách hại của hoàng đế Maximinô. Ngài nổi danh và được kính nhớ vì đã tử đạo tại đó.
Thánh HIPPÔLITÔ
Thánh HIPPÔLITÔ được kính nhớ hôm nay là một linh mục và là một thần học gia sống vào đầu thế kỷ thứ ba. Ngài đã trước tác một số tác phẩm bằng tiếng Hy lạp, nay chỉ còn lại quá ít. Trong số các tác phẩm này, cuốn Philosophoumena đả kích những học thuyết đương thời. Ngài có công lập bảng tính về lễ phục sinh, dù không được chính xác lắm. Ngài được coi như là người đã viết cuốn chỉ nam chính yếu về phụng vụ gọi là cuốn “truyền thống tông đồ”. Thế giá của Ngài đối với chúng ta là bản lễ qui Roma của Ngài, dầu không cố định từng lời.
Tuy không kết án, Đức Callistô nghi ngờ thần học của thánh HIPPÔLITÔ về Lời Chúa. Khi Đức Callistô được chọn làm giáo hoàng năm 217, HIPPÔLITÔ chống lại và tự đặt mình làm phản giáo hoàng, Ngài còn tố giác điều mà Ngài coi như sự dung thứ của Đức Callistô, cũng như không rút lại lời dèm pha.
Năm 235, hoàng đế Maximinô khơi lại cuộc bách hại các Kitô hữu. Cả Đức Pontianô lẫn vị phản giáo hoàng HIPPÔLITÔ đều bị đầy tới miền hầm mỏ Sardinia. HIPPÔLITÔ không đòi làm giáo hoàng nữa và khuyên những ai theo mình hãy vâng phục Đức Giáo hoàng hợp thức. Cả hai đấng đều từ trần như là nạn nhân của trại tập trung. Khi cuộc bách hại chấm dứt, xác các Ngài được mang về mai táng tại Roma (ngày 13 tháng 8).
THÁNH MAXIMILIÊN KOLBE
(1894-1941)

Maximilian Kolbe sinh ngày 7 tháng 1 năm 1894 tại Zdunska Wola, Ba Lan với tên cha mẹ đặt là Raymond Kolbe. Em Raymond Kolbe là đứa con trai thứ 2 trong 3 người con trai của một gia đình nghèo nhưng đạo đức vào thời Balan đã bị Nga xâm chiếm. Cha mẹ của ngài đều thuộc về dòng ba Phanxicô, làm thợ dệt tại nhà. Cha ngài là Julius về sau mở tiệm sách đạo, rồi đầu quân chiến đấu cho quyền độc lập của Balan, cuối cùng đã bị người Nga treo cổ như một tên tội đồ phản quốc năm 1914. Mẹ ngài là Marianne Dabrowska, sau trở thành một nữ tu dòng Biển Đức. Anh ngài là Alphonso đã trở nên một vị linh mục.
Ngài là một đứa trẻ ma lanh, đôi khi phá phách, khiến cha mẹ điên đầu. Tuy nhiên, vào năm 1906 khi gia đình ngài ở Pabianice, bấy giờ ngài 12 tuổi và gần đến biến cố Rước Lễ Lần Đầu của ngài, thì ngài được thị kiến thấy Mẹ Maria, để rồi từ đó đời của ngài đã được hoàn toàn biến đổi. Ngài kể lại rằng, "Tôi đã hỏi Mẹ Thiên Chúa rằng sau này tôi sẽ ra sao. Thế là Mẹ đã hiện ra với tôi mang theo với Mẹ 2 triều thiên, một trắng và một đỏ. Mẹ đã hỏi tôi rằng tôi muốn triều thiên nào trong 2 triều thiên này. Triều thiên trắng nghĩa là tôi phải kiên trì sống tinh khiết, và triều thiên đỏ nghĩa là tôi sẽ trở thành một vị tử đạo. Tôi nói rằng tôi xin chấp nhận cả 2 triều thiên".
Ngài đã vào tiểu chủng viện Dòng Thánh Phanxicô ở Lwow Balan năm 1907, và ngài đã tuyệt giỏi về toán học và vật lý. Có lúc ngài muốn từ bỏ theo học linh mục để gia nhập quân ngũ chiến đấu, nhưng lại thôi. Ngài đã vào tập viện của dòng này vào ngày 4/9/1910 ở tuổi 16. Ngài đã nhận tên dòng là Maximilian, rồi khấn lần đầu ngày 5/9/1911, và khấn trọn đời ngày 1/11/1914. Ngài theo học triết lý tại Học Viện Gregory Dòng Tên ở Roma vào năm 1912-1915, và học thần học tại Học Viện Phanxicô Serafico ở Roma từ 1915-1919. Vào ngày 16/10/1917, khi còn là chủng sinh, ngài và 6 người bạn của ngài đã thành lập Phong Trào Vô Nhiễm / the Immaculata Movement (Militia Immaculatae, Crusade of Mary Immaculate), dấn thân cho việc hoán cải tội nhân, chống lại tam điểm (cực lực chống phá Giáo Hội thời bấy giờ), truyền bá Ảnh Mẹ Ban Ơn (như áo dòng của mình), và lòng tôn sùng Đức Mẹ là đường đến cùng Chúa Kitô.
Ngài bị bệnh lao phổi gần chết, và sau đó ngài bị kiệt sức suốt cuộc đời còn lại của ngài. Ngài được thụ phong linh mục ngày 28/4/1918 ở Roma vào tuổi 24, và nhận cấp bằng tiến sĩ thần học ngày 22/7/1922. Cái minh thức của ngài về thần học Thánh Mẫu còn vang vọng cho đến ngày nay, qua ảnh hưởng mà các minh thức này nơi Công Đồng Chung Vatican II đầu thập niên 1960.
Ngài đã trở về Balan ngày 29/7/1919 để dạy lịch sử ở Chủng Viện Krakow. Ngài đã phải nghỉ bệnh từ 10/8/1920 đến 21/4/1921 để chữa bệnh lao phổi tại bệnh viện Zakpane ở Tatra Mountains. Vào tháng 1/1922, ngài bắt đầu phát hành nguyệt san Hiệp Sĩ Mẹ Vô Nhiễm / the magazine Knight of the Immaculate để chiến đấu với tình trạng lãnh đạm, và vào năm 1927 nguyệt san này đã có một ấn bản trên 70 ngàn số. Ngài lại phải nghĩ bệnh một lần nữa, từ ngày 18/9/1926 đến 13/4/1927, những vẫn tiếp tục hoạt động.
Không thỏa mãn với những hoạt động của mình ở Balan, ngài và 4 thày cùng dòng đã đến Nhật bản năm 1930. Trong vòng 1 tháng, chẳng có tiền bạc gì và chẳng biết tiếng Nhật, mà ngài đã in nguyệt san Hiệp Sĩ Mẹ Vô Nhiễm bằng ấn bản Nhật ngữ. Nhưng không ngờ vào năm 1936 đã có 65 ngàn ấn bản. Vào năm 1931, ngài lập một đan viện Phanxicô ở Nagasaki, và tu viện này đã tồn tại bất chấp bom nguyên tử ngày 9/8/1945, và ngày nay đã trở thành trung tâm của dòng Phanxicô ở Nhật bản. Vào giữa năm 1932, ngài đã rời Nhật bản để đến Malbar, Ấn Độ và thành lập thành phố thứ ba, như thành phố đầu tiên là Niepokalanow ở Balan, và thành phố thứ 2 là Nagasaki ở Nhật bản, để phát hành tờ Nguyệt San Hiệp Sĩ Mẹ Vô Nhiễm vậy, nhưng rất tiếc vì thiếu nhân lực nên thành phố thứ ba này sau đó đã không còn tồn tại.
Vị sức khỏe yếu kém, ngài đã phải cắt bớt hoạt động truyền giáo, và trở về Balan năm 1936. Vào ngày 8/12/1938, đan viện Phanxicô của ngài bắt đầu trở thành một đài phát thanh. Vào năm 1939, đan viện này đã có gần 800 tu sĩ, lớn nhất thế giới vào thời ấy, và hoàn toàn tự lập, bao gồm cả việc phục vụ các bệnh xá nữa.
Cùng với một số anh em dòng, ngài đã bị bắt nhốt vào ngày 19/9/1939, sau khi Đức Quốc Xã xâm chiếm Balan lần thứ hai từ ngày 1/9 cùng năm. Các tu sĩ khác ở đan viện này bị đi đầy một thời gian ngắn, còn ngài và một số anh em bị đi tù được thả về ngày 8/12/1939. Mọi hoạt động lại được phục hồi. Trở lại thành phố Niepokalanow, ngài đã tiếp tục thừa tác vụ linh mục của ngài, ở đó ngài đã chất chứa 3 ngàn người Balan tị nạn, mà 2/3 là người Do Thái, đồng thời ngài tiếp tục hoạt động ấn hành tờ nguyệt san ở đó, bao gồm cả những bài viết chống lại Nazi Đức Quốc xã. Chính vì thế mà tờ báo đã bị đình bản, tu viện bị trấn át và tu sĩ bị tản mát, và ngài bị giam nhốt ở nhà tù Pawiak, thủ đô Warsaw Balan vào ngày 17/2/1941.
Vào ngày 28/5/1941, ngài được chuyển đến lò diệt chủng Auschwitz với số hiệu tù nhân 16670. Ngài được chỉ định vào nhóm làm việc đặc biệt do các vị linh mục đặc trách, và bị giám sát bởi các viên canh ngục đồi bại và tệ hại. Việc âm thầm sống đức tin khiến ngài phải làm những công việc tệ nhất khi cần đến ngài, và bị đánh đập hơn ai hết. Có lúc ngài đã bị đánh đập, quất bằng roi, gần như chết vậy. Các tù nhân đã phải lén lút đem ngài đến bệnh viện của trại tập trung, nơi ngài bỏ giờ ra giải tội cho những ai cần đến bí tích này. Khi ngài trở lại trại, ngài thi hành thừa tác vụ với các tù nhân khác, bao gồm cả việc cử hành Thánh Lễ và trao Mình Thánh Chúa từ bánh và rượu được lén đưa vào cho ngài.
Sau đây là câu chuyện chính về biến cố đã biến ngài thành một vị thánh tử đạo năm 1941, vào giữa Thế Chiến Thứ II (1939-1945). Hôm ấy là ngày 30/7/1941, trong nhà giam số 14 tại trại tập trung Auschwitz, nơi mấy tháng trước đó, một nhóm tù nhân vừa được dẫn tới, trong đó có cha Maximilien Kolbe, tu sĩ dòng Phanxicô Balan. Hôm ấy thiếu mất một tù nhân. Các tử tù biết rằng cứ một tù nhân đào thoát là hai mươi tù cùng trại phải nhịn ăn cho đến chết. Đêm ấy không ai trong khu nhà giam chợp mắt được. Mọi người đều sợ hãi, mặc dù nhiều lúc họ vẫn mong chờ cái chết đến để giải thoát họ.
Chết dưới làn đạn, có lẽ còn chịu đựơc, nhưng chết đói chết khát thật là một cái chết kinh sợ nhất. Từ căn nhà hành hình, phát ra những tiếng la rú rùng rợn. Đêm ấy, cha Kolbe lo an ủi đồng bạn và giải tội cho những ai cần. Sáng hôm sau khi điểm danh, tên cai ngục đã báo tin người ta đã không tìm lại được kẻ đào thoát. Cả trại 14 đứng im như trời trồng và hồi hộp chờ án lệnh. Viên cai ngục dừng lại trước hàng những tù nhân và tuyên bố: “Mười đứa trong tụi bay sẽ chết thay nó. Lần sau sẽ là 20 đứa”. Tuyên bố xong hắn ta chậm rãi đi ngang qua hàng đầu, có vẻ suy nghĩ, rồi nói : “Tên này... tên này... tên này. Tất cả 10 người. 10 người bị tử hình”. Lúc đó một trong số những người ấy kêu lên: “Ôi vợ tôi, các con tôi!”. Những người còn đứng trong hàng ngũ thở ra nhẹ nhõm.
Nhưng rồi một chuyện bất ngờ xảy ra: Có một người tù không thuộc nhóm những người bị chỉ định, mạnh dạn bước ra khỏi đám người đang xếp hàng im lặng trong sợ hãi, nhìn thẳng vào người cai ngục. Tên này kinh ngạc lùi lại một chút rồi hô to: “Đứng lại!”
Cha Maximilien Kolbe dừng lại trước mặt y. Thế rồi một cuộc đối thoại chưa từng nghe đã diễn ra. Một cuộc đối thoại điên khùng mà những người sống sót đã kể lại thật chính xác:
- Xin ông cho phép tôi được chết thay cho một trong những người bị lên án này!
Viên cai tù kinh ngạc nhìn cha.
- Anh là ai ?
- Là một linh mục công giáo.
- Anh muốn chết thế cho ai ?
- Người này. Cha Kolbe chỉ vào người vừa mới la khóc.
- Tại sao ?
- Bởi vì đời tôi không còn giúp ích gì mấy. Trong khi ông này còn có gia đình.
Viên cai trại suy nghĩ, rồi đưa tay ra hiệu đồng ý. Cha Kolbe nhập bọn với đám tử tội.
Một phút im lặng. Không ai hiểu rõ sự việc vừa xảy ra.
Các tù nhân bị lột hết quần áo, nhốt vào một căn hầm. Kể từ giây phút đó, người tù không còn gì để ăn và điều kinh khủng là không có gì để uống gì nữa.
Trước kia căn nhà hầm này luôn vang lên những tiếng kêu la thảm thiết. Thật là một địa ngục nhỏ. Nhưng lần này có cái gì đã thay đổi. Mấy người lính Đức quốc xã rất đỗi ngạc nhiên. Đám tử tù cầu nguyện và ca hát. Vẫn có tiếng rên rỉ, nhưng không còn là những tiếng kêu tuyệt vọng nữa.
Ngày thứ 12, tức ngày 14-08-1941 cửa phòng giam đói được mở ra. Mọi người đều đã chết, trừ một mình cha Kolbe, với đôi mắt vẫn sáng dù thân mình tàn rũ. Cha ngồi giữa đất, đầu tựa vào tường, thân mình ngay thẳng và khuôn mặt rạng rỡ. Viên cai ngục bắt ngài đưa tay ra và chích cho một mũi thuốc độc ân huệ. Vị linh mục chết ngay. Họ đưa xe đến xúc xác ngài và các bạn tù đem đi. Như bao nhiêu người khác, xác cha bị hoả thiêu trong lò và nắm tro tàn bị ném tung trong gió bốn phương.
Trong Bài giảng của mình ở lễ tuyên phong chân phước cho vị tử đạo Balan thời Thế Chiến Thứ II năm 1941 này, người ta thấy có sự hiện diện của cụ Giasowniczek, người mà trước kia cha Maximilien Kolbe đã chết thay cho, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã nói:
“Lịch sử sẽ không thể quên được trang sử ghê tởm này (của thời Đức quốc xã) nhưng giữa sự kinh hãi, người ta vẫn không thể không nhận ra những tia sáng tố giác bóng tối và đồng thời lướt thắng bóng tối. Một trong những tia sáng ấy, và có lẽ là tia sáng rực rỡ hơn hết, được ban cho chúng ta trong khuôn mặt tiều tụy và bình thản của cha M. Kolbe, vị anh hùng luôn bám chắc vào một niềm hy vọng nghịch lý nhưng có suy nghĩ. Tên tuổi Ngài mãi mãi lớn lao và sẽ nhắc nhở cho ta thấy rằng giữa những con người khốn khổ, vẫn có thể tồn tại những năng lực và giá trị luân lý phong phú biết bao !”
Về phần mình, Đức Hồng Y Karol Wojtyla, người đồng hương Balan với vị chân phước tử đạo 1941 này, vị hồng y vào ngày 16/10/1978, đã trở thành Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, tại phòng họp báo toà thánh Vatican ngày 14-10-1971, đã bày tỏ cảm nhận của ngài như sau:
“Chân phước Maximilien Kolbe không biết hận thù là gì. Trong nhà tù Pawiak, ở Vacsava, trong trại tập trung Auschwitz Ngài nhìn người hành hình cũng như kẻ bị hành hình cùng với một cái nhìn trong sáng, đến nỗi những kẻ tàn bạo nhất phải quay mặt đi: “Đừng nhìn bọn tao như thế”. Con người mang bản số 16670 ấy đã dành được một cuộc chiến thắng khó khăn nhất: ấy là cuộc chiến của tình yêu biết xá tội, biết thứ tha. Ngài đã đi vào trong cái vòng luẩn quẩn hiểm ác của hận thù với một cõi lòng nóng bỏng tình yêu và lập tức cái 'ngón trù ếm' quỉ quái của nó bị giải độc. Tình yêu đã mạnh hơn sự chết".
(Tiểu sử trên đây của Thánh Maximilian Maria Kolbe được TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh, nghiên cứu và tổng hợp, bao gồm cả phần tử đạo từ website của TGP Sài Gòn)
Hãy đem nhiệt tâm tông đồ giúp các linh hồn được cứu độ và được thánh hoá
Kinh Sách Phụng Vụ Giờ Kinh ngày 14/8 - Bài đọc 2
Trích thư của thánh Mắc-xi-mi-li-a-nô Ma-ri-a Kôn-bê, linh mục, tử đạo.
Anh thân mến, tôi rất vui mừng vì thấy anh hăng hái nhiệt thành làm vinh danh Thiên Chúa. Ở thời đại chúng ta, không phải là không đáng buồn khi thấy chủ trương lãnh đạm - như người ta gọi - đang lan tràn dưới nhiều hình thức khác nhau. Chủ trương ấy giống như một cơn dịch lây lan không chỉ nơi giáo dân, mà cả trong các cộng đoàn tu trì nữa. Tuy nhiên, vì Thiên Chúa đáng được vinh quang vô tận, nên bổn phận trước hết và trên hết của chúng ta là đem trọn khả năng yếu kém của mình mà dâng lên Người vinh quang cao cả nhất, cho dù chúng ta không bao giờ có thể dâng cho Người như Người đáng được, vì chúng ta chỉ là những thụ tạo tha hương yếu hèn.
Nhưng vinh quang Thiên Chúa được rạng ngời đặc biệt nơi ơn cứu độ các linh hồn, các linh hồn đã được Đức Ki-tô đổ máu mình ra mà cứu chuộc, nên lòng nhiệt thành hoạt động tông đồ, trước hết và trên hết, chính là làm sao cho thật nhiều linh hồn được cứu độ và được thánh hoá hơn nữa. Nhưng đâu là con đường thích hợp nhất để đạt tới mục đích này, tức là để Thiên Chúa được tôn vinh và nhiều linh hồn được thánh hoá ? Tôi xin nói ít lời như sau : Thiên Chúa là Đấng vô cùng khôn ngoan thượng trí, Người biết rõ chúng ta phải làm gì để Người được thêm vinh quang, nên đã bày tỏ ý muốn của Người cho chúng ta, nhất là qua những vị đại diện của Người trên trần gian.
Vì vậy, chính sự vâng phục, và chỉ có sự vâng phục mà thôi, mới cho ta biết chắc ý muốn của Thiên Chúa. Thật ra bề trên cũng có thể lầm lẫn, nhưng không thể có chuyện chúng ta sống theo đức vâng phục mà lại vấp phải sai lầm. Một ngoại lệ duy nhất : chúng ta không phải vâng phục khi bề trên truyền làm một điều rõ ràng vi phạm luật Chúa, dầu là một vi phạm rất nhỏ, vì lúc đó, bề trên không còn là người chuyển đạt ý Chúa một cách trung thực nữa.
Thiên Chúa, và chỉ một mình Người, là Đấng vô biên, thượng trí và chí thánh, chí nhân. Chỉ một mình Người là Chúa, là Đấng tạo dựng và là Cha chúng ta, là khởi nguyên và cùng đích, là Đấng khôn ngoan, quyền năng và là tình yêu. Thiên Chúa là tất cả. Những sự vật ở ngoài Thiên Chúa càng được quy chiếu về Người thì càng thêm giá trị. Người là Đấng tạo dựng muôn loài, là Đấng cứu chuộc nhân loại và là cùng đích của toàn thể tạo thành. Vì thế, chính Người bày tỏ cho chúng ta ý muốn đáng tôn thờ qua những vị đại diện của Người trên trần gian. Người lôi kéo chúng ta đến với Người, để qua chúng ta mà lôi kéo những tâm hồn khác và liên kết họ với Người trong một tình yêu trọn vẹn hơn.
Anh thân mến, hãy coi địa vị của chúng ta cao trọng chừng nào nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Nhờ vâng phục, có thể nói là chúng ta vượt qua được những giới hạn hẹp hòi của chúng ta mà sống phù hợp với ý Thiên Chúa, Đấng đang dùng sự khôn ngoan thượng trí vô biên để hướng dẫn chúng ta hành động cho đúng. Hơn nữa, chúng ta trở nên mạnh mẽ hơn mọi sự khi gắn bó với ý Thiên Chúa, ý muốn mà không thụ tạo nào có thể cưỡng lại được. Đây là nẻo đường sáng suốt khôn ngoan, là con đường duy nhất giúp chúng ta có thể tôn vinh Thiên Chúa hơn cả.
Nếu có con đường nào khác thích hợp hơn thì chắc chắn Đức Ki-tô đã dùng lời nói và gương sáng của Người mà chỉ vẽ cho chúng ta rồi. Nhưng Kinh Thánh đã tóm lược thời gian dài Người sống ở Na-da-rét trong những lời này : Người hằng vâng phục các ngài. Rồi có thể nói Kinh Thánh đã lấy đức vâng phục làm đường nét chính để phác hoạ quãng đời còn lại của Người : rải rác nhiều nơi, Kinh Thánh cho thấy Người xuống thế gian để thi hành ý muốn của Chúa Cha.
Vì vậy, thưa anh em, chúng ta hãy yêu mến, hãy hết lòng yêu mến Cha trên trời là Đấng rất mực yêu thương. Ước chi dấu chứng của lòng yêu mến tận tình này sẽ là đức vâng phục. Chừng nào chúng ta phải hy sinh ý riêng, chừng đó lòng yêu mến được thể hiện rõ ràng hơn cả. Thật thế, chúng ta biết rằng để giúp chúng ta yêu mến Thiên Chúa mỗi ngày mỗi hơn, không có cuốn sách nào thế giá bằng chính Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh.
Tất cả những điều đó, chúng ta sẽ xin được dễ dàng hơn nhờ Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm. Thiên Chúa đã muốn uỷ thác việc ban phát lòng thương xót của Người cho Đức Ma-ri-a. Điều hiển nhiên là Đức Ma-ri-a chỉ muốn cho chúng ta những gì chính Thiên Chúa muốn. Khi chúng ta hiến mình cho Mẹ, thì trong tay Mẹ, chúng ta sẽ trở thành khí cụ Thiên Chúa dùng để thi thố lòng thương xót của Người, như chính Mẹ là khí cụ trong tay Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta hãy để Mẹ hướng dẫn, hãy đưa tay cho Mẹ dắt dìu, hãy sống yên hàn dưới sự dẫn dắt của Mẹ ; chính Mẹ sẽ chăm sóc và tiên liệu mọi sự cho chúng ta, sẽ mau mắn cứu giúp, đáp ứng những nhu cầu hồn xác, đẩy lui những khó khăn phiền toái cho chúng ta.