
SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO
"Thày là
sự sống lại"
Phụng Vụ Lời Chúa trong
Tuần Bát
Nhật Phục Sinh
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

PHẦN I - PHỤNG VỤ LỜI CHÚA TỪNG NGÀY TRONG TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH
XIN XEM TIẾP PHẦN
II - PHÂN GIẢI VÀ CẢM NGHIỆM LỜI CHÚA SAU PHẦN 1 VỀ PVLC NÀY
Chúa Nhật Lễ Phục
Sinh
Bài Ðọc I: Cv 10,
34a. 37-43
"Chúng tôi đã ăn uống với Người,
sau khi Người từ cõi chết sống lại".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng
nói rằng: "Như anh em biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ
Galilêa, sau khi Gioan rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét.
Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người đi
khắp nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở
cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã
làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Ðấng người ta đã giết
treo Người trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống
lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng
Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người sau khi
Người từ cõi chết sống lại. Và Người đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho
toàn dân và làm chứng rằng chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án
xét xử kẻ sống và kẻ chết. Mọi tiên tri đều làm chứng về Người rằng: Tất cả
những ai tin vào Người, thì nhờ danh Người mà được tha tội".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 117,
1-2. 16ab-17. 22-23
Ðáp: Ðây
là ngày Chúa đã lập ra, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó (c. 24).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo
tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Ðức
từ bi của Người muôn thuở". - Ðáp.
2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh
liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống,
và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. - Ðáp.
3) Phiến đá mà những người thợ xây
loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó
kỳ diệu trước mắt chúng ta. - Ðáp.
Bài Ðọc II: Cl 3,
1-4
"Anh em hãy tìm những sự trên trời,
nơi Ðức Kitô ngự".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín
hữu Côlôxê.
Anh em thân mến, nếu anh em đã sống
lại với Ðức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự bên
hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến
những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Ðức
Kitô trong Thiên Chúa. Khi Ðức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh
em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang.
Ðó là lời Chúa.
Hoặc đọc: 1
Cr 5, 6b-8
"Anh em hãy tìm những sự trên trời,
nơi Ðức Kitô ngự".
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô
Tông đồ gửi tín hữu Cô-rintô.
Anh em thân mến, anh em không biết
sao?: chỉ một tí men là đã đủ làm dậy men cả khối bột! Anh em hãy tẩy trừ
men cũ để nên bột mới anh em là bánh không men. Vì Chiên Vượt Qua của ta, là
Ðức Kitô, đã chịu sát tế. Cho nên ta hãy mừng lễ, đừng với men cũ, và men
gian tà, ác độc, nhưng là với Bánh không men của lòng tinh tuyền và chân
thật.
Ðó là lời Chúa.
Ca Tiếp Liên
(Ðọc trong Chúa Nhật Phục Sinh, còn
các ngày khác trong tuần Bát nhật thì không buộc đọc)
Các Kitô hữu hãy tiến dâng
lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua.
Chiên con đã cứu chuộc đoàn chiên mẹ:
Ðức Kitô vô tội đã hoà giải tội nhân
với Chúa Cha.
Sống và chết hai bên song đấu cách
diệu kỳ,
tướng lãnh sự sống đã chết đi, nhưng
vẫn sống mà cai trị.
Hỡi Maria, hãy nói cho chúng tôi nghe
bà đã thấy gì trên quãng đường đi?
Tôi đã thấy mồ Ðức Kitô đang sống
và vinh quang của Ðấng Phục Sinh,
thấy các thiên thần làm chứng,
thấy khăn liệm và y phục.
Ðức Kitô là hy vọng của tôi đã phục
sinh,
Người đi trước chư vị tới xứ Galilêa.
Chúng tôi biết Ðức Kitô đã sống lại
thật từ cõi chết!
Lạy Chúa, Vua chiến thắng, xin thương
xót chúng con.
Alleluia: 1 Cr 5,
7b-8a
Alleluia, alleluia! - Lễ Vượt Qua của
chúng ta là Ðức Kitô đã hiến tế vậy chúng ta hãy mừng lễ trong Chúa. -
Alleluia.
Phúc Âm: Ga 20, 1-9
"Người phải sống lại từ cõi chết".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Gioan.
Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ
từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà
liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà
nói với các ông rằng: "Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không
biết người ta đã để Thầy ở đâu". Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai
cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi
mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy
Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng
nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với
dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù
ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu
rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết.
Ðó là lời Chúa.
Thứ Hai Trong Tuần
Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Bài Ðọc I: Cv 2,
14. 22-32
"Thiên Chúa đã cho Ðức Kitô phục
sinh, và tất cả chúng tôi làm chứng về Người".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với
mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: "Hỡi các người Do-thái và tất
cả những ai ở Giêrusalem, xin hãy biết điều này và lắng nghe lời tôi! Hỡi
những người Israel, xin hãy nghe những lời này:
"Ðức Giêsu Nadarét là người đã được
Thiên Chúa chứng nhận giữa anh em bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu
và những phép lạ, mà Thiên Chúa đã dùng Người để thực hiện giữa anh em, như
chính anh em đã biết. Theo như Thiên Chúa đã định và biết trước, Người đã bị
nộp, và anh em đã dùng tay kẻ độc ác mà hành hạ rồi giết đi. Nhưng Thiên
Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Người phục
sinh, vì không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong đó. Vì chưng, Ðavít đã
nói về Người rằng:
'Tôi hằng chiêm ngưỡng Chúa trước mặt
tôi, vì Người ở bên hữu tôi, để tôi không nao núng. Vì thế, lòng tôi hân
hoan, miệng lưỡi tôi hát mừng, và xác tôi yên nghỉ trong niềm cậy trông; vì
Chúa không để linh hồn tôi trong cõi chết, và không để Ðấng Thánh của Chúa
thấy sự hư nát. Chúa đã cho tôi biết con đường sự sống và cho tôi tràn đầy
hân hoan tận hưởng nhan thánh Chúa'.
"Hỡi anh em, xin cho phép tôi được bạo
dạn nói với anh em về tổ phụ Ðavít rằng: ngài đã băng hà, đã được an táng và
lăng tẩm của ngài còn nằm giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì ngài là
tiên tri, và biết Thiên Chúa đã thề hứa với ngài sẽ cho một người trong dòng
dõi ngài ngồi trên ngai vàng của ngài, nên thấy trước, ngài đã nói về việc
Chúa Kitô phục sinh, vì Người không phải bị bỏ rơi trong cõi chết, và xác
Người không bị huỷ diệt. Ðức Giêsu đó, Thiên Chúa đã cho sống lại; chúng tôi
hết thảy xin làm chứng về điều ấy".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 15, 1-2a
và 5. 7-8. 9-10. 11
Ðáp: Xin bảo toàn
con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa (c. 1).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Xin bảo toàn con, lạy Chúa,
vì con tìm nương tựa Chúa; con thưa cùng Chúa: "Ngài là chúa tể con. Chúa là
phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con".
- Ðáp.
2) Con chúc tụng Chúa vì đã ban cho
con lời khuyên bảo, đó là điều lòng con tự nhủ, cả những lúc đêm khuya. Con
luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không
nao núng. - Ðáp.
3) Bởi thế lòng con vui mừng và linh
hồn con hoan hỉ: ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa
chẳng bỏ rơi linh hồn con trong Âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài
thấy sự hư nát. - Ðáp.
4) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối
trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu
Chúa tới muôn muôn đời! - Ðáp.
Alleluia: Tv 117,
24
Alleluia, alleluia! - Ðây là ngày Chúa
đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 28,
8-15
"Hãy đi nói với anh em đến Galilêa
mà gặp Ta ở đó".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Matthêu.
Khi ấy, các bà vội ra khỏi mồ vừa sợ
lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Chúa. Và này Chúa Giêsu
đón gặp các bà, Người nói: "Chào các bà". Các bà liền lại gần ôm chân Người
và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: "Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các
anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó họ sẽ gặp Ta".
Ðang khi các bà lên đường, thì mấy
người lính canh vào thành báo tin cho các thượng tế biết tất cả những gì đã
xảy ra. Các thượng tế liền họp với các kỳ lão, và sau khi đã bàn định, họ
cho lính một số tiền lớn và bảo rằng: "Các anh hãy nói rằng: Ban đêm khi
chúng tôi đang ngủ, thì môn đệ ông đến lấy trộm xác ông. Nếu việc này đến
tai tổng trấn, chúng tôi sẽ thương lượng với ông, không để các anh phải
phiền hà đâu". Bọn lính canh nhận tiền và đã làm y như họ căn dặn chúng. Bởi
thế, lời đó được phao truyền nơi người Do-thái cho đến ngày nay.
Ðó là lời Chúa.
Thứ Ba Trong Tuần
Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Bài Ðọc I: Cv 2,
36-41
"Anh em hãy ăn năn sám hối và mỗi
người trong anh em hãy chịu phép rửa nhân danh Ðức Kitô".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô nói với
những người Do-thái rằng: "Xin toàn thể nhà Israel hãy nhận biết rằng: Thiên
Chúa đã tôn Ðức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, lên làm Chúa và làm Ðấng
Kitô". Nghe những lời nói trên, họ đau đớn trong lòng, nói cùng Phêrô và các
Tông đồ khác rằng: "Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?" Phêrô nói với họ:
"Anh em hãy ăn năn sắm hối, và mỗi người trong anh em hãy chịu phép rửa nhân
danh Ðức Giêsu Kitô để được tha tội; và anh em sẽ nhận lãnh Thánh Thần. Vì
chưng, đó là lời hứa cho anh em, con cái anh em và mọi người sống ở phương
xa mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi đến!"
Phêrô còn minh chứng bằng nhiều lời
khác nữa, và khuyên bảo họ rằng: "Anh em hãy cứu mình khỏi dòng dõi gian tà
này". Vậy những kẻ chấp nhận lời ngài giảng đều chịu phép rửa, và ngày hôm
ấy có thêm chừng ba ngàn người gia nhập đạo.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 32, 4-5.
18-19. 20 và 22
Ðáp: Ðịa cầu đầy
ân sủng Chúa (c. 5b).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Vì lời Chúa là lời chân
chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh
chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. - Ðáp.
2) Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính
sợ Ngài, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Ngài, để cứu gỡ họ khỏi tay
thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn. - Ðáp.
3) Linh hồn chúng con mong đợi Chúa,
chính Ngài là Ðấng phù trợ và che chở chúng con. Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi
xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài. - Ðáp.
Alleluia: Ga 14, 8
Alleluia, alleluia! - Thầy sẽ xin Chúa
Cha và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác, để ở cùng các con
luôn mãi. - Alleluia.
Phúc Âm: Ga 20,
11-18
"Tôi đã trông thấy và Người đã phán
với tôi những điều ấy".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Gioan.
Khi ấy, bà Maria đang còn đứng gần mồ
Chúa mà than khóc. Nhìn vào trong mồ, bà thấy hai thiên thần mặc áo trắng
đang ngồi nơi đã đặt xác Chúa Giêsu, một vị ngồi phía đàng đầu, một vị ngồi
phía đàng chân. Hai vị hỏi: "Tại sao bà khóc?" Bà trả lời: "Người ta đã lấy
mất xác Chúa tôi và tôi không biết người ta đã để Người ở đâu?" Vừa nói
xong, bà quay mặt lại, thì thấy Chúa Giêsu đã đứng đó, nhưng bà chưa biết là
Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi: "Bà kia, sao mà khóc, bà tìm ai?" Tưởng là người
giữ vườn, Maria thưa: "Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho
tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người". Chúa Giêsu gọi:
"Maria". Quay mặt lại, bà thưa Người: "Rabboni!" (nghĩa là "Lạy Thầy!").
Chúa Giêsu bảo bà: "Ðừng động đến Ta, vì Ta chưa về cùng Cha Ta. Nhưng hãy
đi báo tin cho các anh em Ta hay và bảo họ rằng: Ta về cùng Cha Ta, cũng là
Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con".
Maria Mađalêna đi báo tin cho các môn
đệ rằng: "Tôi đã trông thấy Chúa và Chúa đã phán với tôi những điều ấy".
Ðó là lời Chúa.
Thứ Tư Trong Tuần
Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Bài Ðọc I: Cv 3,
1-10
"Có cái này tôi cho anh, là nhân
danh Ðức Giêsu, anh hãy đứng dậy mà đi".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, vào giờ thứ chín,
là giờ cầu nguyện, Phêrô và Gioan lên đền thờ. Lúc bấy giờ có một anh què từ
lúc mới sinh, hằng ngày được người ta khiêng đến cửa đền thờ, gọi là Cửa
Ðẹp, để xin những người vào đền thờ bố thí cho. Khi thấy Phêrô và Gioan tiến
vào đền thờ, anh liền xin bố thí. Phêrô và Gioan nhìn anh và nói: "Anh hãy
nhìn chúng tôi". Anh ngước mắt chăm chú nhìn hai ngài, mong sẽ được hai ngài
cho cái gì. Nhưng Phêrô nói: "Vàng bạc thì tôi không có, nhưng có cái này
tôi cho anh, là: nhân danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, anh hãy đứng dậy mà đi!"
Rồi Phêrô nắm tay mặt anh mà kéo dậy, tức thì mắt cá và bàn chân anh trở nên
cứng cát; anh nhảy ngay lên mà đứng và đi được; anh cùng hai ngài tiến vào
đền thờ, anh vừa đi vừa nhảy nhót và ngợi khen Thiên Chúa, và dân chúng đều
thấy anh đi và ngợi khen Chúa. Họ nhận ra anh chính là kẻ ngồi ăn xin ở Cửa
Ðẹp đền thờ, nên họ bỡ ngỡ sửng sốt về việc xảy đến cho anh.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 104,
1-2. 3-4. 6-7. 8-9
Ðáp: Tâm hồn những
ai tìm Chúa, hãy mừng vui (c. 3b).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Hãy ca tụng Chúa, hãy hoan
hô danh Ngài, hãy kể ra sự nghiệp Chúa ở giữa chư dân. Hãy xướng ca, đàn hát
mừng Ngài, hãy tường thuật mọi điều kỳ diệu của Chúa. - Ðáp.
2) Hãy tự hào vì danh thánh của Ngài,
tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui. Hãy coi trọng Chúa và quyền năng
của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. - Ðáp.
3) Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của
Ngài, hỡi con cháu Giacóp, những người được Ngài kén chọn. Chính Chúa là
Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Ngài bao trùm khắp cả địa cầu. - Ðáp.
4) Tới muôn đời Ngài vẫn nhớ lời minh
ước, lời hứa mà Ngài đã an bài tới muôn thế hệ, lời minh ước Ngài đã ký cùng
Abraham, lời thề hứa Ngài đã thề với Isaac. - Ðáp.
Alleluia: Tv 117,
24
Alleluia, alleluia! - Ðây là ngày Chúa
đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Alleluia.
Phúc Âm: Lc 24,
13-35
"Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ
bánh".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Luca.
Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai
môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc
đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Ðang khi họ nói truyện
và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ,
nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: "Các ông có
truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?" Một người tên là
Clêophas trả lời: "Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà
không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay". Chúa hỏi:
"Việc gì thế?" Các ông thưa: "Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành
Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ,
trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh
của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần
chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra
nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật
đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ
trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người
trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ
đã nói; còn Người thì họ không gặp".
Bấy giờ Người bảo họ: "Ôi kẻ khờ dại,
chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Ðấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ
như vậy rồi mới được vinh quang sao?" Ðoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả
các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người.
Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng
hai môn đệ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về
chiều, và ngày sắp tàn". Người liền vào với các ông.
Ðang khi cùng các ông ngồi bàn, Người
cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và
nhận ra Người. Ðoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: "Phải chăng lòng chúng ta
đã chẳng sốt sắng lên trong ta khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh
Thánh cho chúng ta đó ư?" Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp
mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Các vị đó bảo hai ông: "Thật
Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon". Hai ông cũng thuật lại các việc
đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.
Ðó là lời Chúa.
Thứ Năm Trong Tuần
Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Bài Ðọc I: Cv 3,
11-26
"Ðấng ban sự sống thì anh em đã
giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, khi người què
được chữa lành cứ theo sát Phêrô và Gioan, toàn dân bỡ ngỡ chạy đến hai ngài
đang ở hành lang gọi là hành lang Salômôn. Thấy vậy Phêrô liền nói với dân
chúng rằng: "Hỡi các người Israel, tại sao anh em ngạc nhiên về việc đó và
nhìn chúng tôi như là chúng tôi dùng quyền năng hay lòng đạo đức riêng mà
làm cho người này đi được? Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, Thiên Chúa
Giacóp, Thiên Chúa các tổ phụ chúng ta, đã làm vinh danh Chúa Giêsu, Con của
Ngài, Ðấng mà anh em đã nộp và chối bỏ trước mặt Philatô trong khi Philatô
xét là phải tha cho Người. Anh em đã chối bỏ Ðấng Thánh, Ðấng Công Chính, và
xin tha tên sát nhân cho anh em, còn Ðấng ban sự sống thì anh em lại giết
đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, điều đó chúng tôi
xin làm chứng. Và bởi đã tin vào danh Người, nên danh Người đã làm cho kẻ mà
anh em thấy và biết đây, được vững mạnh, và lòng tin vào Người chữa anh này
hoàn toàn lành mạnh trước mặt hết thảy anh em.
"Hỡi anh em, thế nhưng tôi biết rằng
anh em đã hành động vì không biết, như các thủ lãnh anh em đã làm. Thiên
Chúa đã hoàn tất việc Ngài dùng miệng các tiên tri mà báo trước rằng Ðức
Kitô của Ngài phải chịu khổ hình. Vậy anh em hãy ăn năn hối cải, ngõ hầu tội
lỗi anh em được xoá bỏ, như thế để Thiên Chúa ban cho anh em thời kỳ thư
thái, và sai Ðức Giêsu Kitô, Ðấng mà Chúa đã phán hứa cùng anh em trước,
Ðấng phải về trời cho đến thời kỳ phục hồi vạn vật, như Chúa đã dùng miệng
các thánh tiên tri Ngài mà phán từ ngàn xưa. Môsê đã nói rằng:
"Vì Chúa là Thiên Chúa các ngươi sẽ
cho xuất hiện giữa anh em các ngươi một tiên tri như ta, các ngươi hãy nghe
tất cả những điều Ngài sẽ nói với các ngươi. Vậy, tất cả những ai không chịu
nghe theo vị tiên tri đó, thì sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng.
"Và tất cả các tiên tri, từ Samuel và
các vị kế tiếp, đều đã nói và tiên báo về ngày này. Anh em là con cháu các
tiên tri và con cháu của giao ước mà Chúa đã thiết lập với các tổ phụ chúng
ta, khi Người phán cùng Abraham rằng: "Chính nơi dòng dõi ngươi, mọi dân tộc
trên mặt đất sẽ được chúc phúc". Chính vì anh em trước tiên mà Thiên Chúa đã
cho Con của Ngài xuất hiện và sai đi chúc phúc cho anh em, để mỗi người từ
bỏ tội ác".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 8, 2a và
5. 6-7. 8-9
Ðáp: Lạy Chúa, lạy
Chúa chúng con, lạ lùng thay danh Chúa khắp nơi hoàn cầu (c. 2a).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Lạy Chúa, lạy Chúa chúng
con, lạ lùng thay danh Chúa khắp nơi hoàn cầu! Nhân loại là chi mà Chúa để ý
chăm nom? - Ðáp.
2) Chúa dựng nên con người kém thiên
thần một chút, Chúa trang sức con người bằng danh dự với vinh quang, Chúa
ban cho quyền hành trên công cuộc tay Ngài sáng tạo, Chúa đặt muôn vật dưới
chân con người. - Ðáp.
3) Nào chiên, nào bò, thôi thì tất cả,
cho tới những muông thú ở đồng hoang, chim trời với cá đại dương, những gì
lội khắp nẻo đường biển khơi. - Ðáp.
Alleluia: Tv 117,
24
Alleluia, alleluia! - Ðây là ngày Chúa
đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Alleluia.
Phúc Âm: Lc 24,
35-48
"Ðấng Kitô phải chịu thương khó như
vậy, rồi mới được tôn vinh".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Luca.
Khi ấy, hai môn đệ thuật lại các việc
đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào. Mọi
người còn đứng bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ và phán: "Bình
an cho các con! Này Thầy đây, đừng sợ". Nhưng mọi người bối rối tưởng mình
thấy ma. Chúa lại phán: "Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như
vậy? Hãy xem tay chân Thầy: chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương
thịt như các con thấy Thầy có đây". Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem.
Thấy họ còn chưa tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: "Ở đây các con có
gì ăn không?" Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người
ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Ðoạn Người phán: "Ðúng như
lời Thầy đã nói với các con khi Thầy còn ở với các con, là: cần phải ứng
nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri
và thánh vịnh". Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh.
Người lại nói: "Có lời chép rằng: Ðấng
Kitô sẽ phải chịu thương khó và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại.
Rồi phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha
tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm
chứng nhân về những điều ấy".Ðó là lời Chúa.
Thứ Sáu Trong Tuần
Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Bài Ðọc I: Cv 4,
1-12
"Ơn cứu độ không gặp được ở nơi một
ai khác".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, đang lúc Phêrô và
Gioan giảng cho dân chúng (sau khi chữa lành người què), thì các tư tế, vị
lãnh binh cai đền thờ và các người thuộc nhóm Sađốc áp tới, bực tức vì các
ngài giảng dạy dân chúng và công bố việc Ðức Giêsu từ cõi chết sống lại. Họ
ra tay bắt các ngài và đem tống giam vào ngục cho đến hôm sau, vì lúc đó đã
chiều tối rồi. Nhưng trong số những kẻ nghe giảng, có nhiều người tin, và
nguyên số đàn ông cũng đã tới năm ngàn người. Ðến hôm sau, các thủ lãnh, kỳ
lão và luật sĩ ở Giêrusalem, có cả Anna thượng tế, Caipha, Gioan, Alexanđê,
và tất cả những người thuộc dòng tư tế, nhóm họp. Họ cho điệu hai ngài ra
giữa mà chất vấn rằng: "Các ông lấy quyền hành và danh nghĩa nào mà làm điều
đó?"
Lúc bấy giờ Phêrô được đầy Thánh Thần
đã nói: "Thưa chư vị thủ lãnh toàn dân và kỳ lão, xin hãy nghe, nhân vì hôm
nay chúng tôi bị đem ra xét hỏi về việc thiện đã làm cho một người tàn tật,
về cách thức mà con người đó đã được chữa khỏi, xin chư vị tất cả, và toàn
dân Israel biết cho rằng: Chính nhờ Danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, Chúa chúng
tôi, Người mà chư vị đã đóng đinh, và Thiên Chúa đã cho từ cõi chết sống
lại, chính nhờ danh Người mà anh này được lành mạnh như chư vị thấy đây.
Chính Người là viên đá đã bị chư vị là thợ xây loại ra, đã trở thành viên Ðá
Góc tường; và ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác. Bởi chưng không
một Danh nào khác ở dưới gầm trời đã được ban tặng cho loài người, để nhờ
vào Danh đó mà chúng ta được cứu độ".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 117, 1-2 và
4. 22-24. 25-27a
Ðáp: Phiến đá mà
những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường (c. 22).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo
tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Ðức
từ bi của Người muôn thuở". Hỡi những người tôn sợ Chúa, hãy xướng lên: "Ðức
từ bi của Người muôn thuở". - Ðáp.
2) Phiến đá mà những người thợ xây
loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó
kỳ diệu trước mắt chúng ta. Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng
rỡ hân hoan về ngày đó. - Ðáp.
3) Thân lạy Chúa, xin gia ơn cứu độ;
thân lạy Chúa, xin ban cho đời sống phồn vinh. Phúc đức cho Ðấng nhân danh
Chúa mà đến; từ nhà Chúa, chúng tôi cầu phúc cho chư vị. Chúa là Thiên Chúa
và đã soi sáng chúng tôi. - Ðáp.
Alleluia: Tv 117,
24
Alleluia, alleluia! - Ðây là ngày Chúa
đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Alleluia.
Phúc Âm: Ga 21,
1-14
"Chúa Giêsu đến, cầm bánh và cá
trao cho họ ăn".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Gioan.
Khi ấy, lúc các môn đệ đang ở bờ biển
Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến. Công việc đã xảy ra như sau: Simon Phêrô,
Tôma cũng gọi là Ðiđymô, Nathanael quê tại Cana xứ Galilêa, các con ông
Giêbêđê, và hai môn đệ nữa đang ở với nhau. Simon Phêrô bảo: "Tôi đi đánh cá
đây". Các ông kia nói rằng: "Chúng tôi cùng đi với ông". Mọi người ra đi
xuống thuyền. Nhưng đêm ấy các ông không bắt được con cá nào. Lúc rạng đông,
Chúa Giêsu hiện đến trên bờ biển, nhưng các môn đệ không biết là Chúa Giêsu.
Người liền hỏi: "Này các con, có gì ăn không?" Họ đồng thanh đáp: "Thưa
không". Chúa Giêsu bảo: "Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì sẽ được". Các ông
liền thả lưới và hầu không kéo nổi lưới lên, vì đầy cá. Người môn đệ Chúa
Giêsu yêu, liền nói với Phêrô: "Chính Chúa đó". Simon Phêrô nghe nói là
Chúa, liền khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ
khác chèo thuyền vào và kéo lưới đầy cá theo, vì không còn xa đất bao nhiêu,
chỉ độ hai trăm thước tay.
Khi các ông lên bờ, thấy có sẵn lửa
than, trên để cá và bánh. Chúa Giêsu bảo: "Các con hãy mang cá mới bắt được
lại đây". Simon Phêrô xuống thuyền kéo lưới lên bờ. Lưới đầy toàn cá lớn;
tất cả được một trăm năm mươi ba con. Dầu cá nhiều đến thế, nhưng lưới không
rách.
Chúa Giêsu bảo rằng: "Các con hãy lại
ăn". Không ai trong đám ngồi ăn dám hỏi: "Ông là ai?" Vì mọi người đã biết
là Chúa. Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá
như thế. Ðây là lần thứ ba, Chúa Giêsu đã hiện ra với môn đệ khi Người từ
cõi chết sống lại.
Ðó là lời Chúa.
Thứ Bảy Trong Tuần
Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Bài Ðọc I: Cv 4,
13-21
"Chúng tôi không thể nào không nói
lên những điều mắt thấy tai nghe".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, các thủ lãnh, kỳ
lão và luật sĩ nhận thấy Phêrô và Gioan kiên quyết, và biết hai ngài là
những kẻ thất học và dốt nát, nên lấy làm lạ; và còn biết rằng hai ngài đã ở
cùng Ðức Giêsu; họ thấy kẻ được chữa lành đứng ở đó với hai ngài, nên họ
không thể nói gì nghịch lại được. Họ mới truyền lệnh cho hai ngài ra khỏi
hội nghị, rồi thảo luận với nhau rằng: "Chúng ta phải làm gì đối với những
người này? Vì toàn dân cư ngụ ở Giêrusalem đều hay biết, phép lạ hai ông đã
làm rõ ràng quá chúng ta không thể chối được. Nhưng để sự việc không còn
loan truyền trong dân nữa, chúng ta hãy đe doạ, cấm hai ông không được lấy
danh ấy mà giảng cho ai nữa". Họ liền gọi hai ngài vào và cấm nhặt không
được nhân danh Ðức Giêsu mà nói và giảng dạy nữa. Nhưng Phêrô và Gioan trả
lời họ rằng: "Trước mặt Chúa, các ngài hãy xét coi: nghe các ngài hơn nghe
Chúa, có phải lẽ không? Vì chúng tôi không thể nào không nói lên những điều
mắt thấy tai nghe". Nhưng họ lại đe doạ hai ngài, rồi thả về, vì không tìm
được cách nào trừng phạt hai ngài, họ lại còn sợ dân chúng, vì mọi người đều
ca tụng Thiên Chúa về việc đã xảy ra.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 117, 1
và 14-15. 16ab-18. 19-21
Ðáp: Tôi cảm tạ
Chúa vì Chúa đã nhậm lời tôi (c. 21a).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo
tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Chúa là sức mạnh, là dũng lực của
tôi, và Người trở nên Ðấng cứu độ tôi. Tiếng reo mừng và chiến thắng vang
lên trong cư xá những kẻ hiền nhân:Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt.-
Ðáp.
2) Tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên,
tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và
tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. Chúa sửa trị, Chúa sửa trị tôi, nhưng
Người đã không nạp tôi cho tử thần. - Ðáp.
3) Xin mở cho tôi các cửa công minh,
để tôi vào và cảm tạ ơn Chúa. Ðây là ngọ môn của Chúa, những người hiền đức
qua đó tiến vào. Tôi cảm tạ Chúa vì Chúa đã nhậm lời tôi, và đã trở nên Ðấng
cứu độ tôi. - Ðáp.
Alleluia: Tv 117,
24
Alleluia, alleluia! - Ðây là ngày Chúa
đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 16,
9-15
"Các con hãy đi khắp thế gian rao
giảng Tin Mừng".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Marcô.
Khi Chúa Giêsu sống lại, sáng sớm ngày
thứ nhất trong tuần, thì trước hết Người hiện ra với Maria Mađalêna, kẻ đã
được Chúa đuổi bảy quỷ. Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng ở với Người và
nay đang buồn thảm khóc lóc. Họ nghe bà nói Chúa sống lại và bà đã thấy
Người, nhưng họ không tin. Sau đó, Chúa lại hiện ra dưới hình thức khác với
hai môn đệ đang trên đường về miền quê. Hai ông trở về báo tin cho anh em,
nhưng họ cũng không tin các ông ấy. Sau hết, Chúa hiện ra với mười một tông
đồ lúc đang ngồi ăn. Chúa khiển trách các ông đã cứng lòng, vì các ông không
tin những kẻ đã thấy Người sống lại. Rồi Người phán: "Các con hãy đi khắp
thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn loài".
Ðó là lời Chúa.
Chúa Nhật II Phục
Sinh Năm C
Bài Ðọc I: Cv 5,
12-16
"Số người tin vào Chúa ngày càng
gia tăng".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Khi ấy, các Tông đồ làm nhiều phép lạ
và nhiều việc phi thường trong dân, và tất cả mọi người tập họp tại hành
lang Salômôn; nhưng không một ai khác dám nhập bọn với các tông đồ. Nhưng
dân chúng đều ca tụng các ngài. Số những người nam nữ tin vào Chúa ngày càng
gia tăng, đến nỗi họ mang bệnh nhân ra đường phố, đặt lên giường chõng, để
khi Phêrô đi ngang qua, ít nữa là bóng của người ngả trên ai trong họ, thì
kẻ ấy khỏi bệnh. Ðông đảo dân chúng ở những thành phụ cận Giêrusalem cũng
tuôn đến, mang theo bệnh nhân và những người bị quỷ ám. Mọi người đều được
chữa lành.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 117,
2-4. 22-24. 25-27a
Ðáp: Hãy cảm tạ
Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở (c. 1).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Hỡi nhà Israel, hãy xướng
lên: "Ðức từ bi của Người muôn thuở". Hỡi nhà Aaron, hãy xướng lên: "Ðức từ
bi của Người muôn thuở". Hỡi những người tôn sợ Chúa, hãy xướng lên: "Ðức từ
bi của Người muôn thuở". - Ðáp.
2) Phiến đá mà những người thợ xây
loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó
kỳ diệu trước mắt chúng ta. Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, nên chúng ta hãy
mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Ðáp.
3) Thân lạy Chúa, xin gia ơn cứu độ;
thân lạy Chúa, xin ban cho đời sống phồn vinh. Phúc đức cho Ðấng nhân danh
Chúa mà đến; từ nhà Chúa, chúng tôi cầu phúc cho chư vị. Chúa là Thiên Chúa
và đã soi sáng chúng tôi. - Ðáp.
Bài Ðọc II: Kh 1,
9-11a, 12-13. 17-19
"Ta đã chết, nhưng đây Ta vẫn sống
đến muôn đời".
Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.
Tôi là Gioan, anh em của chư huynh,
đồng phần chia sẻ sự gian truân, vương quyền và kiên nhẫn trong Ðức Giêsu
Kitô, tôi đã ở đảo Patmô vì lời Chúa và vì làm chứng Ðức Giêsu. Một Chúa
Nhật nọ, tôi xuất thần và nghe phía sau tôi có tiếng phán lớn như tiếng loa
rằng: "Hãy viết những điều ngươi thấy vào sách và gởi đến bảy giáo đoàn ở
Tiểu Á". Tôi quay lại để xem coi tiếng ai nói với tôi. Vừa quay lại, tôi
thấy bảy chân đèn bằng vàng, và ở giữa bảy chân đèn bằng vàng đó tôi thấy
một Ðấng giống như Con Người, mặc áo dài và ngang lưng thắt một dây nịt bằng
vàng. Vừa trông thấy Người, tôi ngã xuống như chết dưới chân Người; Người
đặt tay phải lên tôi và nói: "Ðừng sợ, Ta là Ðấng trước hết và là Ðấng sau
cùng, Ta là Ðấng hằng sống; Ta đã chết, nhưng đây Ta vẫn sống đến muôn đời.
Ta giữ chìa khoá sự chết và địa ngục. Vậy hãy viết những gì ngươi đã thấy,
những điều đang xảy ra và những điều phải xảy ra sau này".
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Ga 20, 29
Alleluia, alleluia! - Chúa phán:
"Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không
thấy mà tin". - Alleluia.
Phúc Âm: Ga 20,
19-31
"Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Gioan.
Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong
tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa
Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: "Bình an cho các con". Khi
nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn
đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: "Bình an
cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người
thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha
tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị
cầm lại". Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Ðiđymô, không
cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông
rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng:
"Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay
vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không
tin".
Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau
trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa
Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Ðoạn Người nói với
Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con
ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng:
"Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì
con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà
tin!"
Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác
trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều
này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên
Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.
Ðó là lời Chúa.
PHẦN
II - PHÂN GIẢI VÀ CẢM NGHIỆM LỜI CHÚA
Nếu trong Mùa Chay, nhất là từ Tuần Thư 4 trở đi, bao
gồm cả Tuần Thánh, chủ đề chính yếu của phụng vụ Lời Chúa là Mầu Nhiệm Vượt
Qua, hướng về (Mùa Chay) và cử
hành (Tam Nhật Thánh) biến cố khổ giá và phục
sinh của Chúa Kitô, tột đỉnh mạc khải thần linh của Thiên Chúa, thì trong
Mùa Phục Sinh 7 tuần lễ, chủ đề của phụng vụ Lời Chúa phản ảnh đúng như lời
Chúa Kitô đã tuyên bố về bản thân Người "Thày
là sự sống lại và là sự sống", một chủ đề
có 2 phần: phần 1 "Thày là sự sống lại" cho
Tuần Bát Nhật Phục Sinh, và phần
2 "Thày
là sự sống" cho 6 tuần lễ còn lại của Mùa Phục Sinh (rồi
chúng ta sẽ thấy).
Thật vậy, chủ đề
của phụng vụ Lời Chúa cho Tuần Bát Nhật Phục Sinh,
kể từ ngày đầu tiên là Chúa Nhật Phục Sinh (ở Thánh Lễ ban ngày, chứ
không phải Thánh Lễ Đêm Vọng Phục Sinh) đến ngày thứ 8 là Chúa Nhật thứ
1 sau Phục Sinh là chính Lễ Lòng Thương Xót Chúa, toàn
là những bài Phúc Âm (bao
gồm toàn bộ 4 cuốn, nhưng chính yếu là Phúc Âm Thánh ký Gioan có 4 trong 8
bài mà 2 bài chính vào 2 Chúa Nhật đầu và cuối Tuần Bát Nhật) được
Giáo Hội cố ý chọn đọc về các lần Chúa Kitô sau khi sống lại từ trong cõi
chết hiện ra khác nhau theo thứ tự thời gian,
như sau:
Trong các bài
Phúc Âm đều cho thấy việc Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra là để chẳng những
chứng thực Người đã sống lại đúng như Thánh Kinh và lời Người đã báo trước,
mà còn để trở thành sứ vụ loan báo của thành phần chứng nhân tiên khởi là
các tông đồ nữa, đúng như lời Chúa Giêsu đã tiên báo về mối liên hệ mật
thiết bất khả phân ly giữa
Ngài và Giáo Hội Truyền Giáo: "Thần Chân Lý từ Cha mà đến và là Đấng chính
Thày sẽ sai đến từ Cha, Ngài sẽ làm chứng về Thày. Các con cũng phải làm
chứng về Thày, vì các con đã ở với Thày ngay từ ban đầu" (Gioan 15:26-27).
Đó là lý do bài đọc 1, trong suốt Mùa Phục Sinh,
không trích từ Cựu Ước, mà toàn là Sách
Tông Vụ, thứ tự được Giáo Hội
trích đọc từ đầu đến cuối (trừ Chúa Nhật Phục Sinh ở đoạn 10
là đoạn được coi là tổng hợp), và cuối lại là đầu (với biến cố Hiện
Xuống vừa kết thúc Mùa Phục Sinh vừa mở màn Mùa Thường Niên hậu Phục
Sinh), một cuốn sách có thể nói là Phúc Âm
về Thánh Linh liên quan đến Sứ Vụ Truyền Giáo của Giáo Hội.
"Thày là sự sống lại" ở
4 Phúc Âm Tuần
Bát Nhật PS

Thánh thi
(Giờ Kinh Phụng Vụ Chiều Tuần Bát Nhật Phục Sinh -
bản của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh)
Ðoàn áo trắng mau chỉnh tề hàng ngũ,
Ðã vượt qua Hồng Hải thật diệu huyền,
Hãy tiến vào dự yến tiệc Con Chiên
Dâng lên Ðức Kitô lời ca ngợi!
Cùng nếm thử, nào anh em ta hỡi
Thánh Thể Ngài trên thập tự hiến dâng
Uống cho say ly bửu huyết đỏ hồng
Ðể ta sống cho Chúa Trời mãi mãi.
Ôi phúc cả ! Ðêm dài Vượt Qua ấy
Lúc thiên thần chinh phạt khắp dân Ai,
Bỗng vùng lên đoàn dân thánh của Ngài
Thoát xiềng xích Pharaô độc dữ.
Chiên Vượt Qua là Kitô Ðức Chúa
Ðổ máu đào vô tội cứu sinh linh
Này bánh không men nuôi dưỡng lòng thành
Hồn trinh trắng khỏi sa vòng tục lụy.
Ôi Tế Vật từ trời cao giáng thế,
Duy mình Ngài phá vỡ ngục âm ty
Bao tù nhân, Ngài giải phóng đưa về
Rồi ân thưởng phúc trường sinh bất diệt!
Tử thần hỡi, từ đây ngươi đã chết
Lúc Con Người ra khỏi mộ hiên ngang,
Chúa phục sinh khi mở cửa thiên đàng
Ðã ra lệnh giam ngươi vào ngục tối!
Ôi Giêsu, chúng con hằng mong mỏi
Ngài trở thành niềm hoan lạc Vượt Qua
Ðã tái sinh thì xin lượng hải hà
Cho gia nhập đoàn hùng binh chiến thắng!
Muôn vinh hiển, dâng lên tòa cao sáng
Kính tôn Cha và Thánh Tử phục sinh
Hằng trị vì cùng với Chúa Thánh Linh
Từ muôn thuở đến thiên thu vạn đại.
Theo phụng niên của Giáo Hội có hai mầu nhiệm được cử hành ở bậc Lễ trọng
thể nhất, có tuần bát nhật trước cũng như sau chính đại lễ, đó là Mầu Nhiệm
Giáng Sinh và Mầu Nhiệm Phục Sinh. Vì hai mầu nhiệm này đều cử hành vào nửa
đêm: Đêm Giáng Sinh và Đêm Phục Sinh. Bởi Ngôi Lời giáng sinh vào nửa đêm và
Chúa Kitô cũng phục sinh vào nửa đêm. Tại sao vậy?
Tại vì, nơi Mầu Nhiệm Giáng Sinh, "Thiên Chúa là ánh sáng" (1Gioan
1:5), "chiếu soi trong tăm tối" (Gioan 1:5) là thế gian nơi "Lời
đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta... đầy ân sủng và chân lý"
(Gioan 1:14), như để
xua tan bóng đêm tội lỗi và sự chết gây ra
bởi nguyên tội trên thế gian và nơi loài người, như
lấy lành thắng dữ lấy thiện báo oán.
Và vì, nơi Mầu Nhiệm Phục
Sinh, Chúa Kitô "là ánh sáng thế gian... ánh sáng ban sự sống"
(Gioan 8:12), đã đi từ bóng tối ra ánh sáng, như muốn
biến dữ thành lành, biến ác thành thiện, ở
chỗ, Người đã để cho sự dữ tội lỗi và sự chết chụp bắt, nơi thân xác khổ nạn
và tử giá của Người, để nhờ đó, cũng bằng thân xác của mình, một thân xác đã
thực sự bị chết đó, Người đã biến sự chết thành sự sống và tội lỗi thành ân
sủng.
Đó là tất cả Sứ Điệp Phục Sinh (Chúa Nhật Phục Sinh, đầu Tuần bát Nhật) cũng
là Sứ Điệp của Lòng Thương Xót Chúa (Chúa Nhật II Phục Sinh, cuối Tuần Bát
Nhật Phục Sinh).
Chúa Nhật Phục Sinh (Gioan 20:1-9)
Cho dù trong bài Phúc Âm của ngày thứ 1 trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh hôm
nay vẫn chưa thấy Thánh ký Gioan thuật lại rõ ràng Chúa Kitô hiện ra lần đầu
tiên về thể lý trước mắt các môn đệ của Người như các lần sau này,
nhưng vị Thánh ký này đã cho thấy một Chúa Kitô
quả thực đã sống lại rồi
trước con mắt đức tin của ngài
là một
người môn đệ được Người yêu đã trung kiên với Người cho đến cùng ở dưới chân
cây thập tự giá:


"Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy
nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để
đó... Ông thấy và ông tin... theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi
chết".
Phải chăng hai môn đệ chạy ra mồ đây, Phêrô và Gioan, là hai người môn đệ
tiêu biểu cho hai thần đức quan trọng, đó là đức tin và đức mến?
Có thể nói môn đệ Phêrô tiêu biểu cho đức tin, ở chỗ vị môn đệ này đã đại
diện cho tông đồ đoàn tuyên xưng đức tin: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên
Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), và là người môn đệ chối bỏ đức tin nên
đã được Thày cầu nguyện cho để có thể hoàn thành sứ vụ củng cố đức tin cho
anh em của mình (xem Luca 22:31-32).
Nếu môn đệ Phêrô tiêu biểu cho đức tin thì môn đệ Gioan tiêu biểu cho đức
mến, ở chỗ, người môn đệ được ngả vào ngực của Thày trong Bữa Tiệc Ly (xem
Gioan 13:24-25), và là "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" (Gioan
19:26, 20:2, 21:7,20), nhờ đó chỉ có người môn đệ này mới cảm nghiệm được
"Thiên Chúa là tình yêu" (1Gioan 4:8,16) và mới nhấn mạnh đến đức ái trọn
hảo trong Thư của ngài theo tinh thần của giới răn mới của Thày là "các
con hãy yêu thương nhau như Thày yêu các con" (Gioan 13:34; 15:12).
Chính vì môn đệ Gioan tiêu biểu cho đức ái, liên quan đến con tim cảm xúc
của con người, bao giờ cũng bén nhậy hơn đức tin là thần đức liên quan đến
trí khôn hiểu biết cần đến suy luận và lý lẽ của con người, mà môn đệ Gioan
chẳng những, về thể lý, đã "chạy nhanh hơn" môn đệ Phêrô, mà còn,
về tinh thần, tin tưởng nhanh hơn môn đệ Phêrô, ở chỗ "thấy và tin",
cho dù môn đệ Gioan này vào trong mồ sau môn đệ Phêrô, trong khi môn đệ
Phêrô tiến vào mồ trước mà vẫn còn chưa hoàn toàn tin tưởng, ở chỗ, theo
Thánh ký Gioan cho biết thì ngài quan sát hiện tượng ở trong mồ bấy giờ, và
theo Thánh ký Luca thì sau khi quan sát ngài "cảm thấy lạ lùng về những
gì đã xẩy ra" (Mathêu 24:12), thế thôi.
Ngoài sự kiện môn đệ Gioan "chạy nhanh hơn" môn đệ Phêrô, như được
suy diễn trên, còn một sự kiện khác nữa đáng chú ý, đó là môn đệ Gioan dù
tới mồ trước nhưng vẫn không tự động bước vào bên trong trước, mà chờ cho
tới khi môn đệ Phêrô vào rồi mới vào theo. Bởi vì, đức mến, được tiêu biểu
nơi môn đệ Gioan, cần phải có nền tảng đức tin chứ không phải chỉ thuần tác
hành và phản ứng theo cảm xúc tự nhiên của con người. Ở đây chúng ta thấy
hai yếu tố bất khả thiếu và bất khả phân ly của Giáo Hội, đó là yếu tố phẩm
trật (quản trị) nơi môn đệ Phêrô là vị lãnh đạo tông đồ đoàn với vai trò là
một chủ chiên, và yếu tố đặc sủng (nội tâm) nơi môn đệ Gioan là vị được
những ơn đặc biệt (xem Gioan 21:21-23), như các thị kiến huyền nhiệm về dự
án thần linh đặc biệt liên quan Giáo Hội được ngài thuật lại trong sách Khải
Huyền.

Thứ Hai Bát Nhật (Mathêu 28:8-15)
Trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Tuần Bát Nhật có những bài Phúc Âm được Giáo
Hội cố ý chọn đọc để chứng tỏ "Thày là sự sống lại", chủ đề của
chung Tuần Bát Nhật Phục Sinh, mà chúng ta sẽ thấy, theo thứ tự thời gian về
những lần Chúa Giêsu hiện ra, trong suốt Tuần Bát Nhật này. Hôm nay, Thứ Hai
trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh này, Giáo Hội chọn bài Phúc Âm của Thánh ký
Mathêu thuật lại lần hiện ra đầu tiên của Chúa Kitô Phục Sinh, không phải là
với chính các tông đồ mà là với các phụ nữ thuộc thành phần môn đệ đi theo
phục vụ Người khi Người còn sống.
Thật vậy, theo bộ
Phúc Âm Nhất Lãm thì có một số phụ nữ theo Chúa Kitô khi Người còn sống, bao
gồm cả Mai Đệ Liên,
những người phụ nữ đơn sơ chất phác đạo hạnh này đã ra mồ
từ sáng sớm, nhưng chỉ thấy ngôi mồ trống, rồi lại vừa thấy
và vừa nghe thiên
thần báo tin rằng Chúa Kitô đã sống lại, cần
phải báo tin cho các môn đệ của Người. Thế nhưng có duy Thánh ký Mathêu mới
thuật lại sự kiện Chúa Kitô phục sinh lần đầu
tiên hiện ra, và hiện ra với các bà như sau:


"Khi ấy, các bà vội
ra khỏi mồ vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Chúa.
Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: 'Chào các bà'. Các bà liền lại
gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: 'Các bà đừng sợ. Hãy
đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó họ sẽ gặp Ta'".
Trong biến cố Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra lần đầu tiên với các người nữ
này chúng ta thấy mấy điều đặc biệt như sau:
Trước hết, các bà quả thật là quá dễ tin. Vừa thấy Chúa và nghe Chúa nói
"chào các bà"
"các bà liền
lại gần ôm chân Người và phục lạy", trong khi đó, các tông độ là
thành phần được tuyển chọn làm chứng nhân tiên khởi của Chúa Kitô và cho
Chúa Kitô, thành phần được Người tỏ mình ra cho hơn các người phụ nữ này
nhiều, ấy thế mà, như các bài Phúc Âm cuối Tuần Bát Nhật Phục Sinh này
cho thấy, các vị rất khó tin Người sống lại, cho dù Người có tỏ tường
hiện ra với các vị, băng qua cửa đóng kín, cho các vị thấy các dấu tích
của Người, ăn uống trước mặt các vị, và lấy Thánh Kinh minh chứng về
Người. Các vị chỉ tin sau khi được Chúa Kitô Phục Sinh soi lòng mở trí
cho mà hiểu Thánh Kinh mà thôi (xem Luca 24:45).
Chính vì tình trạng các tông đồ khó tin như thế mà chúng ta mới thông
cảm được hiện tượng vùi dập đức tin của thành phần lãnh đạo Do Thái giáo
bấy giờ khi được chính đám lính do họ đích thân sai đến canh mồ đề phòng
môn đệ của người chết lấy trộm xác đi (xem Mathêu 27:62-66) báo cho biết
rằng xác của người chết đã biến mất thì họ mua chuộc đám lính canh này
mà phao tin bậy để đánh lạc hướng dân chúng cho tới bây giờ, như chính
Thánh ký Mathêu thuật lại ở đoạn cuối của bài Phúc Âm hôm nay.
Thánh thi
(Giờ Kinh Phụng Vụ Ban Mai Các Chúa Nhật trong Mùa Phục Sinh -
bản của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh)
Vầng Ðông dậy, ánh hồng gieo rắc
Chốn thiên cung nhã nhạc vang hòa,
Dưới trần khắp cõi âu ca
Quỷ trong địa ngục kêu la hãi hùng.
Ấy Vua Cả oai phong lẫm liệt
Cõi âm ty: hủy diệt tiêu tan,
Chân Người dẫm nát tử thần
Tù nhân đau khổ ân cần đưa lên.
Ngoài cửa mộ ngày đêm lính gác
Tảng đá to đã lấp lối vào.
Chúa từ cõi chết thẳm sâu
Hiệu kỳ chiến thắng phất cao khải hoàn.
Ðã im bặt câu than tiếng khóc,
Ðã hết rồi cảnh ngục thê lương,
Sứ thần áo trắng vui mừng
Loan tin Chúa đã oai hùng phục sinh.
Xin cho mọi lòng thành hoan hỷ
Mãi muôn đời mừng lễ Vượt Qua
Tái sinh ơn nghĩa chan hòa
Vang vang khúc khải hoàn ca reo hò.
Muôn lạy Chúa Giêsu từ ái
Ðấng lừng danh đánh bại tử thần,
Ngàn đời hiển trị muôn dân.
Cùng Ngôi Thánh Phụ Thánh Thần quang vinh.
Sau nữa, trong sứ điệp nhắn gửi các môn đệ của Người qua các bà, Chúa
Giêsu muốn các bà nói với các vị là thành phần bấy giờ Người gọi là "anh
em Ta" "phải trở về Galilêa gặp Ta ở đó". Tại sao vậy? Tại
sao các môn đệ giờ đây, sau khi Người sống lại, trở thành "anh em"
của Người, còn hơn là "bạn hữu" của Người trước đó nữa (xem
Gioan 15:15), phải chăng là vì nhờ việc phục sinh của Người mà họ
"được tái sinh bởi trên cao" (Gioan 3:3) hay
"được tái sinh bởi nước và Thánh Linh" (Gioan 3:5), một
Thánh Linh chính Người sẽ thông ban cho các vị khi hiện ra với các vị
lần đầu tiên vào tối ngày thứ nhất trong tuần sau đó cùng ngày (xem
Gioan 20:22).
Còn về sứ điệp Chúa Kitô Phục Sinh muốn các "anh em" của Người
gặp lại Người ở "Galilêa" là vì Galilêa là nơi xuất phát của
Người, không phải là vùng đất có quê quán Nazarét của Người mà còn là
vùng đất có nhiều dân ngoại chung sống với dân Do Thái, vùng đất Người
xuất hiện như ánh sáng chiếu trong u tối được Thánh ký Mathêu là tác giả
của bài Phúc Âm hôm nay đã ghi nhận như vậy (4:15-16), nơi Người bắt đầu
lời rao giảng tiên khởi của Người: "Hãy hoán cải đời sống! Nước Trời
đã đến" (Mathêu 4:17). Nghĩa là Chúa Kitô muốn các "anh em"
của Người "về nguồn" để từ đó Người ban lệnh truyền giáo cho các vị là "Hãy
đi tuyển mộ các môn đồ ở khắp mọi dân nước..." (Mathêu 28:29).
Thật ra, trong lệnh truyền truyền giáo trước khi Chúa Kitô Vượt Qua
thăng thiên (xem Tông Vụ 1:8), Người hoàn toàn không đề cập gì đến "Galilêa",
trong khi Người lại bao gồm tất cả mọi nơi khác: "từ Giêrusalem cùng
khắp Giuđêa và Samaria cho tới tận cùng trái đất". Phải chăng
"Galilêa" là vùng đất chính Người đã chẳng những đích thân tỏ mình ra mà
còn sai các tông đồ và môn đệ đi rao giảng, cả Thày lẫn trò đều "cho
con chiên lạc Israel" (xem Mathêu 10:6,15:24), và chính thành phần
con chiên lạc nhà Isarael này, theo Thánh Ký Luca, đã kéo theo đồng hành
với Người trong cuộc hành trình tiến về Giêrusalem?
Có thể nói, vì
vùng đất Galilêa là vùng đất có nhiều dân ngoại sinh sống đã trở thành
dấu chỉ tất cả các nơi khác thuộc dân ngoại trên toàn thế giới, cần được
các tông đồ được Chúa Kitô Thiên Sai Cứu Thế tuyển chọn ở Galilêa cũng
phải được Người sai các vị đi từ Galilêa để làm chứng về Người hầu nhân
loại nhận biết Người mà được cứu độ.
Tuy các tông đồ quả thực có về Galilêa, như Thánh ký Mathêu chứng nhận
(xem 28:16), như để nhận lệnh truyền giáo của Chúa Kitô Phục Sinh ở ngay
tại nơi xuất phát truyền giáo của Người, nhưng công cuộc truyền giáo của
các vị, theo Thánh ký Luca ghi nhận lời của Chúa Kitô Phục Sinh phải
được bắt đầu từ Giêrusalem
(xem Luca 21:49; Tông Vụ 1:8) là giáo đô của Do Thái giáo và là nơi Chúa
Kitô hoàn thành cuộc Vượt Qua của Người, nơi Người Thăng Thiên (ở
Bêthany xem Luca 21:50) và là nơi Người từ Cha sai Thánh Thần xuống trên
các tông đồ vào Ngày Lễ Ngũ Tuần (xem Tông Vụ 2:1-4), như chúng ta sẽ
thấy qua các bài đọc Lễ Thăng Thiên (Thứ Năm Tuần VI Phục Sinh) và Hiện
Xuống (Chúa Nhật kết Mùa Phục Sinh và mở màn Mùa Thường Niên Hậu Phục
Sinh).
Thứ Ba Bát Nhật (Gioan 20:11-18)
Nhân
vật chính trong các phụ nữ ra thăm mộ Chúa Kitô từ sáng sớm là Mai Đệ Liên,
có thể chị là người đầu tiên rồi các bà khác ra sau nhập bọn, và chị là
người cuối cùng ở lại bên mộ Chúa để tìm cho bằng được xác của Vị Sư Phụ vô
cùng kính mến của chị, thế mà, khi chị được chính Người hiện ra và tai
của chị nghe được rõ tiếng
của Chúa mà chị lại
cứ tưởng là người làm vườn nào đó, cho tới khi
chị được chính Người gọi đích danh của chị:

"Khi
ấy, bà Maria đang còn đứng gần mồ Chúa mà than khóc. Nhìn vào trong mồ,
bà thấy hai thiên thần mặc áo trắng đang ngồi nơi đã đặt xác Chúa Giêsu,
một vị ngồi phía đàng đầu, một vị ngồi phía đàng chân. Hai vị hỏi: "Tại
sao bà khóc?" Bà trả lời: "Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi và tôi không
biết người ta đã để Người ở đâu?" Vừa nói xong, bà quay mặt lại, thì
thấy Chúa Giêsu đã đứng đó, nhưng bà chưa biết là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu
hỏi: "Bà kia, sao mà khóc, bà tìm ai?" Tưởng là người giữ vườn, Maria
thưa: "Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết ông
đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người". Chúa Giêsu gọi: "Maria".
Quay mặt lại, bà thưa Người: "Rabboni!" (nghĩa là "Lạy Thầy!"). Chúa
Giêsu bảo bà: "Ðừng động đến Ta, vì Ta chưa về cùng Cha Ta. Nhưng hãy đi
báo tin cho các anh em Ta hay và bảo họ rằng: Ta về cùng Cha Ta, cũng là
Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con".
Maria Mađalêna đi báo tin cho các môn đệ
rằng: "Tôi đã trông thấy Chúa và Chúa đã phán với tôi những điều ấy".
Thánh thi
(Giờ Kinh Sáng trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh - bản của Nhóm
Phiên Dịch Phụng Vụ Giò Kinh)
Gió sớm lâng lâng quyện sáng về,
Trong bình minh nhuốm sắc pha lê,
Thấp thoáng bóng chân người thôn nữ,
Viếng mồ chẳng ngại dẫm sương khuya.
Vội vã dầu thơm đặt cạnh mồ,
Nhưng kìa ai lật tảng đá to?
Khăn liệm xếp đây: sầu tuyệt vọng!
Xác Người đã lạc mất phương mô?
Buồn ngấm hàng mi lệ ứa trào
Hương lòng thờ kính gửi trời nao?
Tín đồ mất Chúa, ôi cô quạnh!
Mỏm đất trơ vơ, cả huyệt sầu.
Thoạt đâu gió đẩy đất rung rinh,
Thôn nữ sầu tan vội ngoảnh nhìn:
Hai người xiêm áo in màu tuyết
Reo vang: "Con Chúa đã phục sinh!"
Thôi cả trào vui ngập biển lòng,
Thả buồn cho gió cuốn mông lung;
Xăm xăm quay gót băng đồng nội,
Thôn nữ vui mừng vượt nắng trong.
Ôi Chúa phục sinh, phút rợn trời,
Thảo nào đêm dậy ánh sao tươi,
Gió đàn, hương ngát trăng kiều diễm
Hòa tấu lừng uy đón đợi Người!

Tuy nữ nhân vật Mai Đệ Liên được bộ Phúc Âm Nhất Lãm liệt kê vào số
những người phụ nữ ra mồ vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, như thể
các bà suốt đêm không ngủ, chỉ chờ đến sáng, qua ngày hưu lễ, để ra thăm
mộ của Đấng các bà kính mến và thương quí, nhưng, căn cứ vào các chi
tiết được thuật lại ở cả bộ Phúc Âm Nhất Lãm cũng như Phúc Âm Thánh ký
Gioan thì Mai Đệ Liên dường như là người ra mộ sớm nhất, đi một mình chứ
không đi chung với các bà kia.
Bởi thế, theo Phúc Âm Thánh Gioan của chính Chúa Nhật Phục Sinh Lễ Rạng
Đông thì Mai Đệ Liên đã chạy về báo tin ngay cho các tông đồ và vì thế 2
môn đệ đại diện là Phêrô và Gioan đã chạy ra mộ (xem Gioan 20:1-10). Còn
các bà kia ra sau cũng chạy về báo tin cho các tông đồ, như Phúc Âm
Thánh Luca thuật lại ở Lễ Vọng Phục Sinh Chu Kỳ Năm C, thì bấy giờ chỉ
có môn đệ Phêrô chạy ra mồ (chắc lần thứ hai) và lần thứ hai này có thể
đã làm cho người môn đệ ấy "cảm thấy lạ lùng" hơn lần thứ nhất.
Bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan hôm nay cho thấy lần hiện ra thứ hai của
Chúa Giêsu, sau khi hiện ra cho chung các bà trong bài Phúc Âm hôm qua,
cho riêng một mình Mai Đệ Liên, người phụ nữ ra mồ sớm nhất và đã chạy
về báo cho các tông đồ, nhưng sau khi hai môn đệ Phêrô và Gioan từ mộ
trở về thì chị vẫn tiếp tục ở lại mồ để "khóc" vì không thấy
xác của Đấng chị đã từng được diễm phúc xức dầu thơm hai lần (xem Luca
7:37-38; Gioan 12:3) khi Người còn sống, và nhất định tìm cho bằng được
thi thể vô cùng cao trọng của Người:
"Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi,
thì xin cho tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người".
Ở đây chúng ta mới thấy rằng tiền thức hay tiềm thức về Chúa Kitô là một con người
đã chết cùng với niềm tin về người chết chỉ sống lại vào ngày tận thế (xem
Gioan 11:24) chứ không phải trước ngày tận thế đã hoàn toàn chi phối
chính bản thân của một con người hết sức thiết tha kính mến Chúa Kitô,
tha thiết tìm kiếm Người, nên chắc chắn có một cảm giác rất bén nhậy về
Người, như "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" là Gioan, thế mà
khi nghe thấy tiếng của Người, chị vẫn không nhận ra ngay lập tức, mà
lại "tưởng là người giữ vườn". Cho đến khi, phải, cho đến khi
chị nghe Người gọi đích danh tên của chị: "Maria".
Đúng thế, Thiên Chúa thường tỏ mình ra cho chung con người, nhưng đồng
thời Ngài cũng tỏ mình ra cho từng người nữa, để họ cảm nghiệm thần linh
về Ngài như Ngài tỏ mình ra cho họ, nhờ đó họ có thể trở thành chứng
nhân trung thực của Ngài và cho Ngài. Cách thức Thiên Chúa tỏ mình ra
cho con người khiến họ dễ nhận ra nhất và cảm kích nhất đó là chạm đến
đời tư của họ, như Chúa Kitô đã chạm đến đến tư của người phụ nữ
Samaritanô lần lượt sống với 6 người đàn ông không phải là chồng của chị (xem
Gioan 4:16-18).
Ở đây, Chúa Kitô đã chạm tên gọi của chị Mai Đệ Liên, khiến chị nhận
ngay ra Người và trở thành chứng nhân của Người
và cho Người: "Tôi đã trông thấy Chúa và Chúa đã phán với tôi những điều
ấy". Đó
là
"Ta về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con;
về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con". Chị đã làm
chứng trước mặt các tông đồ là thành phần được chính Chúa Kitô tuyển
chọn để làm các chứng nhân tiên khởi của Người và cho Người. Và vì thế,
vì chị đã được Chúa Kitô Phục Sinh tuyển chọn để về báo tin cho các tông
đồ và làm chứng về sự kiện Người đã sống lại thật như thế mà chị đã được
gọi là "tông đồ của các tông đồ / the apostle of apostles".
Và đó cũng là lý do
Vị Giáo Hoàng Thương Xót Phanxicô này đã nâng Lễ Thánh Mai Đệ Liên 22/7
từ bậc lễ nhớ (memorial) lên bậc Lễ Kính (feast), ngang với bậc lễ của từng
vị tông đồ, một lễ buộc phải làm (chứ không buộc làm như bậc lễ nhớ),
bao gồm các bài đọc kèm theo lời cầu nguyện riêng về vị thánh này, có cả
Kinh Vinh Danh long trọng nữa.
Hình như chỉ có những ai đã từng có một cái gì đó tiêu cực mới được Chúa
gọi đích danh. Điển hình nhất có "Matta"
(Luca 10:41)
lo lắng bối rồi nhiều chuyện nên ghen với Maria em mình, hay viên
trưởng ban thu thuế lùn "Giakêu" trước khi thống hối ăn năn
(Luca 19:5), hoặc "Simon" (Luca 22:31) để báo trước cho vị môn
đệ sắp chối Thày 3 lần, hay "Philiphê" (Gioan 14:8) là người
môn đệ xin Thày tỏ cho biết Cha trong khi chính Thày là hiện thân của
Cha, hoặc "Saulê" (Tông Vụ 26:14) khi nhân vật Pharisiêu nhiệt
thành này đang hung hăng bắt bớ Kitô hữu môn đệ của Chúa Kitô, hay "Lazarô"
là một tử thi chết đã 4 ngày, tiêu biểu cho hậu quả tội lỗi của con
người cần được cứu độ. Riêng chị Mai Đệ Liên
ở trong bài Phúc Âm này,Chúa Kitô không gọi tên của chị khi chị
đang sống cuộc đời bê tha tội lỗi mà là vào lúc chị đã trung thành theo
Chúa cho đến cùng.
Ở đây chúng ta còn thấy rằng những lời Chúa Kitô phán về thành phần mẹ
của Người và anh chị em của Người, mà bấy giờ Người chỉ vào thành phần
các môn đệ của Người (xem Mathêu 12:49-50), nay đã được ứng nghiệm nơi
lời Người phán với chị Mai Đệ Liên: "Ta
về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là
Thiên Chúa các con". Bởi vì, Người sống lại để ban cho họ sự sống,
sự sống thần linh của Thiên Chúa, qua Thánh Thần Người thông truyền ra
cho các vị (xem Gioan 20:22), nhờ đó các vị được hiệp nhất nên một với
Người, "như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha" (Gioan
17:21).
Thứ Tư Bát Nhật (Luca 24:13-35)
"Cùng ngày thứ nhất
trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ
sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra". Và
tâm tình chia sẻ có vẻ tiêu cực và bi quan của hai vị đã được vị khách lạ
trấn an bằng những lý lẽ Thánh Kinh, khiến các ông cảm thấy an lòng và ấm
lòng, cho đến khi, qua cử chỉ quen thuộc của
Người, họ mới nhận
ra vị khách lạ vừa biến khuất khỏi mắt họ đó chính
là Chúa Kitô.
"Ðang khi cùng các
ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông.
Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Ðoạn Người biến mất".
Theo thứ tự thời gian thì đây là lần hiện ra thứ ba của Chúa Kitô sau
khi Người sống lại từ trong cõi chết. Cả 3 lần, kể cả lần ngày mai là
thứ 4, đều xẩy ra vào cùng một ngày, ngày thứ nhất trong tuần. Hình như
ba lần đầu, hiện ra có vẻ lẻ tẻ với thành phần môn đệ, cả nữ lẫn nam,
không phải là chính các tông đồ, Chúa Kitô như muốn dọn đường hay dọn
lòng cho các tông đồ để các vị khỏi quá bỡ ngỡ bàng hoàng khi gặp lại
Người ở một dạng thức khác, và nhờ đó dễ tin vào người hơn.
Riêng trong lần hiện ra thứ ba với hai môn đệ đang đi về làng Emmau ở
bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu muốn trấn an các vị là
thành phần môn đệ nam, thành phần mà, theo phái tính, vốn nghiêng về lý
trí hơn tình cảm và trực giác như nữ giới, như hai trường hợp xẩy ra cho
phái nữ ở hai bài Phúc Âm hôm qua và hôm kia, nên Người cần phải lấy
chính Thánh Kinh để nói chuyện với thành phần môn đệ phái nam này.
Tuy nhiên, họ vẫn không nhận ra người khách lạ mặt có vẻ chẳng biết gì
về biến cố cả thể xẩy ra làm náo động cả Giêrusalem lên như thế, mà lại
là một người khách lạ thông thuộc và nắm vững Thánh Kinh đến độ lấy
chính Thánh kinh để chứng thực cho các vị về sự kiện sống lại không thể
nào không xẩy ra của Đấng các vị trông đợi như một Đấng Thiên Sai: "Phần
chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel".
Đúng thế, chính vì niềm hy vọng không hoàn toàn xác thực này mà các vị
nói riêng và thành phần môn đệ của Chúa Kitô nói chung đã cảm
thấy quá ư là
"buồn bã", đến độ chán chường thất vọng hình như hai người môn
đệ này đã có ý định bỏ cuộc mà trở về quê quán Emmau của mình. Thật ra,
chính vì niềm hy vọng của họ có tính cách chủ quan cố hữu thiên về chính
trị mà họ đã không thể nào không tuyệt vọng khi thấy Đấng mà họ đầy lòng
tin tưởng và trông mong, nhất là khi Người vinh quang khải hoàn tiến vào
Thành Thánh Giêrusalem, lại chính là Đấng không thể xuống khỏi thập tự
giá, đã bị giết chết và được mai táng trong mồ như bất cứ một phàm nhân
nào, và đến ngày thứ ba rồi mà vẫn chưa thấy hay chẳng thấy bóng dáng Người
đâu:
"Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ
trong nhóm chúng tôi, quả thật đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng
sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra
bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và
thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không
gặp".
Để củng cố niềm tin cho hai môn đệ hình như nản chí nhất này, đến độ họ
đã dám ra khỏi căn phòng khóa kín là nơi thành phần môn đệ của Đấng đã
bị giết chết
một cách dã man tàn ác
đang cùng nhau trú ngụ một cách sợ sệt, họ
như không còn biết sợ hãi thành phần sát hại Đấng mà họ theo đuổi nữa,
vì nếu họ có bị nhóm này chặn lại thì họ chỉ cần trả lời rằng "chúng tôi
không còn thuộc về nhóm của kẻ chết nữa", thế là xong, chắc chắn họ sẽ
không bị làm khó dễ hay bách hại.
Thế nhưng, họ đâu có ngờ rằng, chính lúc họ tuyệt vọng và bỏ về như thế
họ lại gặp được ngay Đấng họ tưởng rằng họ không bao giờ còn được gặp
lại trên trần gian này nữa. Và giây phút họ nhận ra Người là lúc họ thấy
được cử chỉ thân quen của Người
vẫn làm trước mắt các môn đệ, đó là: "Người cầm bánh, đọc lời chúc
tụng, bẻ ra và trao cho hai ông". Rõ ràng là lần hiện ra thứ ba
này, mục đích của Chúa Kitô là để củng cố đức tin cho 2 môn đệ ấy: "Mắt
họ sáng ra và nhận ra Người".
Để rồi, cho dù Người không sai phái các vị phải trở về loan báo tin vui
cho các tông đồ, như hai lần hiện ra trước với thành phần nữ giới, nhưng
một khi đã gặp được Người thì tác dụng thần linh bất khả chống cưỡng của
cuộc gặp gỡ thần linh bao giờ cũng thúc đẩy con người phải loan truyền
tất cả sự thật liên quan đến những gì họ đã thấy và đã nghe: "Ngay
lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn
khác đang tụ họp. ...Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường
và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào".
Thứ Năm Bát Nhật (Luca 24:35-48)
"Khi ấy, hai môn đệ
thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ
bánh như thế nào. Mọi người còn đứng bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng
giữa họ và phán: 'Bình an cho các con! Này Thầy đây, đừng sợ'".
Thánh
ký Luca, qua đoạn trên đây, đã thuật
lại sự kiện lần đầu tiên Chúa Kitô hiện ra với chung các tông đồ sau
khi Người từ trong cõi chết sống lại. Tuy nhiên, Đấng
Phục Sinh vẫn còn phải chứng thực
Người quả thật là
Thày của các vị và là Đấng đã thực sự bị đóng đanh nữa, bằng
cả các dấu hiệu bề ngoài là chân tay của Người và ăn
uống trước mặt các vị, lẫn soi sáng tâm
trí bề trong của các vị để các vị
nhờ đó mới có thể chân nhận rằng những lời Thánh Kinh về Người đã được hoàn toàn ứng nghiệm:
"Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa lại phán: 'Sao các
con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy xem tay chân Thầy:
chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương thịt như các con thấy
Thầy có đây'. Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem. Thấy họ còn chưa
tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: 'Ở đây các con có gì ăn không?'
Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người ăn trước
mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Ðoạn Người phán: 'Ðúng như lời
Thầy đã nói với các con khi Thầy còn ở với các con, là: cần phải ứng
nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên
tri và thánh vịnh'. Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh".
Ở đây chúng ta thấy các tông đồ có khác, là nam nhân thiên về lý trí và
lý sự nên khó tin hơn thành phần nữ giới tự bản chất sống theo cảm tình
và trực giác, thành phần đã chẳng cần phải chứng minh gì cả đã tin ngày
Đấng hiện ra với mình là Chúa Kitô, như trong bài Phúc Âm Thứ Hai (với
chung các phụ nữ) và Thứ Ba (với riêng Chị Mai Đệ Liên) Bát Nhật tuần
này cho thấy.
Đối với các vị nam nhân tông đồ này, Chúa Giêsu đã chẳng những cho các
vị "xem tay chân Thày" mà còn "ăn
trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ" (nghĩa là ăn thật
nên còn dư), mà còn mở lòng mở trí cho các vị hiểu được Thánh Kinh do
chính Người dẫn chứng về Người nữa. Nhờ đó, các vị mới có thể làm chứng
về Người, bằng một đức tin không phải thuần lý hay thuần thiêng có vẻ
duy tín hay cuồng tín một cách dị đoan hoặc hoang đường nhưng có chứng
cớ cụ thể hiển nhiên đàng hoàng không thể chối cãi.
Đó là lý do ở cuối bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã bảo các tông đồ
được Người hiện ra chứng thực rằng Người cho dù đã bị chết nhưng sống
lại rằng "các con là chứng nhân về những điều này", nghĩa là về
những gì các vị được Người tỏ ra cho thấy, và vì thế chứng tỏ những gì
chính các vị đã thấy và đã nghe về Người, cả trước và sau khi Người sống
lại từ trong kẻ chết.
Chúa Kitô khổ nạn, tử giá và được mai táng trong mồ vào chiều Thứ Sáu ấy
đã hiện ra với chung các môn đệ và riêng các tông đồ lần đầu tiên này
không phải chỉ để chứng thực về bản thân Người là Đấng đã bị bàn tay hận
thù sắt máu của con người giết chết nhưng Người đã sống lại, hoàn toàn
chiến thắng tội lỗi và sự chết, mà còn để sai các vị đi "bắt đầu từ
Giêrusalem, khắp Giuđêa và Samaria" (Tông Vụ 1:8) mà làm chứng về
Người là Đấng Thiên Sai của dân Do Thái, và đi "cho đến tận cùng
trái đất" (Tông Vụ 1:8) mà làm chứng cho Người là Đấng Cứu Thế của
toàn thể nhân loại:
"Phải
nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho
muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng
nhân về những điều ấy". Phải
chăng Bí Tích Hòa Giải (xem cả Gioan 20:21 cùng với Bí Tích Rửa Tội -
xem Mathêu 28:19) được Chúa Giêsu thiết lập sau khi Người phục sinh từ
trong kẻ chết mà theo luật Giáo Hội hằng năm Kitô hữu Công giáo buộc
phải "xưng tội một năm ít là một lần trong Mùa Phục Sinh" chứ không phải
trong một mùa nào khác, cho dù là Mùa Chay vốn được coi là mùa thống hối
ăn năn hoán cải?
Nếu trong biến cố khổ nạn và tử giá, Chúa Kitô đã chứng thực mình quả là
Đấng Thiên Sai, đến không phải để làm theo ý của mình mà là ý của Cha là
Đấng đã sai Người, đến độ cho dù có thể Người vẫn không xuống khỏi thập
giá, trái lại, "mặc dù là Con, Người đã biết tuân phục nơi những gì
Người chịu" (Do Thái 5:8), thì trong biến cố phục sinh, Chúa Kitô
được Chúa Cha, Đấng mà Người phó thần trí của Người cho trước khi chết
(xem Luca 23:46), qua quyền năng của Thánh Thần là Đấng đã làm cho Người
sống lại từ kẻ chết (xem Roma 8:11), chứng thực Người đúng là "Chúa
và Thiên Chúa" (Gioan 20:28).
Bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan thuật lại lần hiện ra với chung các tông
đồ lần đầu tiên này còn cho biết thêm các chi tiết sau đây:
1- Sau khi nhận ra Chúa căn cứ vào tác động tự chứng của mình (như Phúc
Âm Thánh Luca hôm nay thuật lại), "các môn đệ hoan hỉ khi thấy Chúa"
(Gioan 20:20);
2- Được các môn đệ nhận biết rồi Chúa Kitô Phục Sinh mới sai phái các vị
ra đi như Người để tiếp tục sứ vụ của Người và thay Người: "Như Cha
đã sai Thày thế nào, Thày cũng sai các con như thế" (Gioan 20:21);
3- Sau cùng, để các vị có thể thực hiện sứ vụ thừa tác viên được chính
Chúa Kitô Phục Sinh sai phái như thế, sứ vụ
"rao giảng
sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân", như
trong bài Phúc Âm Thánh Luca hôm nay,
Người đã phải thông Thánh Linh của Người cho các vị bằng hơi thở từ
chính thân xác phục sinh tràn đầy Thánh Linh của Người: "Các con hãy
nhận lấy Thánh Linh" (Gioan 20:22).
Vì chỉ có nhờ Thánh Linh, các vị mới có thể trở thành chứng nhân trung
thực và sống động của Người và cho Người, khi các vị có cùng một tâm
tình, ngôn từ, tác hành và phản ứng như chính Chúa Kitô, Đấng "đến
để tìm kiếm và cứu vớt những gì đã hư trầm" (Luca 19:10). Chính vị
Thánh ký Luca này cũng là tác giả của Sách Tông Vụ, trình thuật lại hoạt
động của Thánh Linh qua chứng từ truyền giáo của các tông đồ nói chung
và của vị tông đồ dân ngoại Phaolô nói riêng, như chúng ta đọc thấy
trong suốt Mùa Phục Sinh 7 tuần lễ ở Bài Đọc 1 được Giáo Hội cố ý sắp
xếp như vậy.
Thứ Sáu Bát Nhật (Gioan 21:1-14)
"Khi ấy, lúc các môn
đệ đang ở bờ biển Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến". Theo thứ tự
thời gian, như được các bài Phúc Âm trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh thuật lại,
thì đây là lần hiện ra thứ 6 của Chúa Giêsu sau khi Người sống lại từ trong
kẻ chết: lần 1 với các phụ nữ (Phúc Âm Thứ Hai); lần 2 với một mình Chị Mai
Đệ Liên (Phúc Âm Thứ Ba); lần 3 với hai môn đệ về làng Emmau (Phúc Âm Thứ
Tư); lần 4 với chung các môn đệ nhất là các tông đồ (Phúc Âm Thứ Năm); lần 5
với chung các môn đệ một lần nữa vào ngày thứ tám (Bài Phúc Âm Chúa Nhật Lễ
Lòng Thương Xót Chúa kết thúc Tuần Bát Nhật Phục Sinh); lần 6 với 7 tông đồ
ở bờ biển Tibêria (Phúc Âm Thứ Sáu).
Chính
Thánh
ký Gioan trong bài Phúc Âm hôm nay thuật lại lần hiện ra thứ 6 này của
Chúa Kitô Phục Sinh, nhưng ngài xác định "đây
là lần thứ ba, Chúa Giêsu đã hiện ra với môn đệ khi Người từ cõi chết sống
lại". Lần thứ hai Người "hiện
ra với môn đệ"
được Giáo Hội chọn đọc bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan cho
Chúa Nhật thứ 1 Phục Sinh, kết Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Lễ Trọng Kính Lòng
Thương Xót Chúa. Còn lần thứ nhất
Người "hiện
ra với môn đệ"
đã được Giáo Hội chọn đọc trong bài Phúc Âm của
Thánh ký Gioan cho Lễ Phục Sinh Ban Ngày.
Trong lần hiện ra thứ 3 với chung các môn đệ chính yếu
là các tông đồ này, cho dù chỉ có 7 vị, vẫn được
kể là với chung các vị, một lần hiện ra ít là có hai điều khác lạ: trước hết
là không phải xẩy ra ở trong Nhà Tiệc Ly kín mít nữa,
mà là ở ngoài trời, ở trên bờ hồ Tibêria, và vì
thế, sau nữa, Người cũng không còn chúc "bình an cho các con" như lần đầu
nữa, bởi các vị đã tin rằng Người đã sống lại nên mới dám lò mò đi ra ngoài
sinh hoạt đánh cá trở lại.
Thế nhưng
hình như vào buổi chiều tối thôi, cũng có vẻ còn lén lút chứ chưa hoàn toàn
công khai trước mặt dân chúng. Bởi thế, thâu đêm các vị cũng chẳng bắt được
con nào, cho đến "lúc rạng đông", nghe lời của một vị đứng trong bờ bảo sao
làm vậy thì nhóm 7 vị tông đồ, hầu như toàn là những tay lành nghề đánh cá, mới bắt được
một mẻ cá lạ lùng, nhờ đó các vị (mà đầu tiên là "người môn đệ được Chúa
Giêsu yêu") đã nhận ra Đấng Phục
Sinh: "Không
ai trong đám ngồi ăn dám hỏi: 'Ông là ai?' Vì mọi người đã biết là Chúa".
Biến cố những tay lành nghề đánh cá như các tông đồ đã từng hành nghề
trước khi theo Chúa Kitô mới 3 năm trước đó, như thành phần các môn đệ
được Thánh ký Gioan liệt kê trong bài Phúc Âm hôm nay, bao gồm Phêrô,
Giacôbê và Gioan, Toma và Nathanael (hay Botholomew) cùng "hai môn
đệ nữa" không được kể đích danh, song có thể đoán được là môn đệ
Anrê là em của Phêrô và Philiphê là bạn của Nathanael (xem Gioan
1:40-50), nhưng thâu đêm cả 7 vị vẫn chẳng bắt được gì, như đã từng xẩy
ra hầu như 3 năm trước, khi 2 cặp anh em thuyền chài thân hữu là Phêrô -
Anrê + Giacôbê - Gioan nhờ mẻ cá lạ lần thứ nhất ấy đã bỏ mọi sự mà theo
Chúa (xem Luca 5:1-11).
Cũng như lần đầu,
mẻ cá lạ đã tái diễn một lần nữa, và chính mẻ
cá lạ ấy là dấu hiệu khiến cho
"người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" là Gioan, vị môn đệ tiêu
biểu cho đức mến, bén nhậy nhất trong việc nhận ra Chúa Kitô:
"Người môn đệ Chúa Giêsu yêu, liền nói với Phêrô: 'Chính Chúa đó'. Simon
Phêrô nghe nói là Chúa, liền khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy
xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào và kéo lưới đầy cá theo, vì
không còn xa đất bao nhiêu, chỉ độ hai trăm thước tay".
Con số "lưới đầy cá lớn - 153 con " được kể đến ở đây nghĩa là
gì? Tại sao phải có chi tiết nhỏ nhặt con số rõ ràng như thế? "Cá
lớn" chứ không phải cá nhỏ, và nhiều cá chứ không phải ít cá. Nếu
"cá" liên quan đến con người ta hay phần rỗi của con người, và
bắt cá hay chài lưới người đây là mang ơn cứu độ của Chúa Kitô Vượt Qua
đến cho phần rỗi của nhân loại, thì "cá lớn" đây tiêu biểu cho
quyền năng phục sinh của Chúa Kitô (xem Mathêu 28:18), Đấng đã làm cho
tử thi Lazarô chết đã xông mùi (tiêu biểu cho thứ "cá lớn" là
thành phần đại tội nhân) hồi sinh (xem Gioan 11:39-44).
Con số "153" đây phải chăng tiêu biểu cho 1 Thiên Chúa chân thật duy
nhất là Cha ở trên trời (theo ý nghĩa những lời Chúa Kitô Phục Sinh đã
nói với các phụ nữ ở bài Phúc Âm Thứ Hai và với Chị Mai Đệ Liên ở bài
Phúc Âm Thứ Ba), 5 Dấu Thánh của Chúa Kitô khổ nạn và tử giá (như Chúa
Kitô Phục Sinh đã tỏ cho các tông đồ thấy khi hiện ra với các vị ở bài
Phúc Âm hôm qua Thứ Năm hay trong Bài Phúc Âm Chúa Nhật II Phục Sinh sắp
tới), và 3 Ngôi Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần (như Chúa Kitô
Phục Sinh truyền cho các tông đồ rửa tội cho muôn dân trong Bài Phúc Âm
Thăng Thiên Năm A)?
Như thế, có thể nói, con số "153" con cá trong mẻ cá lạ mà các
tông đồ bắt được theo lời chỉ dẫn của Chúa Kitô Phục Sinh đây là tiêu
biểu cho thành phần các linh hồn tin vào chứng từ của Giáo Hội qua các
phần tử tông đồ của Giáo Hội, bắt đầu từ các vị tông đồ chứng nhân tiên
khởi, thành phần chài lưới người hay đánh cá người, tức làm cho con
người nhận biết và tin tưởng mà được sự sống đời đời, được hiệp thông
thần linh với thiên Chúa, một con số 153 tượng trưng cho Ba Ngôi Thiên
Chúa: Ngôi Cha ở nơi số 1 - một Thiên Chúa chân thật duy nhất, Ngôi Con
ở nơi số 5 - năm dấu thánh của Chúa Kitô tử giá cứu chuộc, và Ngôi Thánh
Thần ở nơi con số 3 - Ngôi Ba là chính mối hiệp thông thần linh Cha -
Con, cũng là Đấng làm cho con người được hiệp thông thần linh "như
Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha" (Gioan 17:21).
Con số "153" huyền diệu này là tóm kết tiêu biểu cho câu định
nghĩa của Chúa Kitô kết Bữa Tiệc Ly về "sự sống đời đời là nhận biết
Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất (được tiêu biểu nơi số 1)
và Giêsu Kitô Cha sai (số 5 tiêu biểu cho Đấng Thiên Sai tử giá vì
vâng lời cho đến chết trên thập giá và vì thể đã mang 5 dấu thánh)"
(Gioan 17:3), một sự sống được thông ban cho những ai tin nhờ Thánh Thần
Ngôi Ba (được tiêu biểu nơi số 3) "là Đấng ban sự sống".
Nếu suy đoán này không sai thì có nghĩa là những ai lãnh nhận Phép Rửa
(thường vào Lễ Vọng Phục Sinh) là thành phần được "ban cho quyền làm
con Thiên Chúa" (Gioan 1:12), một Thiên Chúa chân thật duy nhất đã
tỏ tất cả mình ra qua Lời Nhập Thể của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã
tỏ Cha là Đấng đã sai Người ra trên Thánh Giá với 5 Dấu Thánh, để nhờ đó
chẳng những cứu chuộc con người khỏi tội lỗi và sự chết còn thông ban
cho con người, qua cuộc phục sinh của Người, sự sống thần linh của Thiên
Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần.
Lần đầu tiên khi Chúa Kitô hứa biến 2 cặp anh em môn đệ đầu tiên là
Phêrô - Anrê và Giacôbê - Gioan thành những tay bắt "cá người"
xẩy ra vào buổi sáng và trên bờ biển thế
nào thì lần cuối cùng này cũng vào: "Lúc rạng đông, Chúa Giêsu
hiện đến trên bờ biển", thế nhưng lại vào thời điểm sau
khi Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng hiện đến với các vị để dọn sẵn món ăn
cho các vị ở trên bờ:
"Khi
các ông lên bờ, thấy có sẵn lửa than, trên để cá và bánh...
Chúa Giêsu bảo rằng: 'Các anh hãy
lại ăn'.... Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người
cũng cho cá như thế".
Mẻ cá lạ lần thứ hai này đã xẩy ra sau khi Chúa Kitô Phục Sinh hỏi các
môn đệ: "Các anh có gì ăn không?" và được các vị trả lời là "thưa
không", chứ không phải "các con có bắt được gì không" và các vị "thưa
không". Tại sao vào chính lúc các môn đệ không có gì ăn Chúa Giêsu
lại chỉ chỗ cho các vị bắt được mẻ cá lạ lùng như thế, nếu không
phải "cá" là món ăn chính của các vị, và các vị cần phải đói
khát "cá" là con người ta thì các vị mới "trở thành những
tay bắt cá người" (Luca 5:10) và mới có thể bắt được nhiều "cá"
người như mẻ cá lạ trong bài Phúc Âm hôm nay.
Và tại sao
Chúa Giêsu bảo các môn đệ '"các anh hãy
mang cá mới bắt được lại đây" , rồi sau khi các môn đệ làm theo như
thế thì Chúa Giêsu mới mời các vị ăn và còn tận tay mang đến tận nơi cho
các vị nữa: "Chúa Giêsu bảo rằng: 'Các anh hãy lại ăn'... Chúa Giêsu
lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế",
nếu không phải là sau khi các vị đã tận lực hoàn thành sứ vụ bắt "cá
người" được ủy thác cho các vị, các vị được chính Người khoản đãi
chính món "cá" do Người đích thân nướng cho các vị thưởng thức.
Chính Người đã khẳng định về thành phần đầy tớ khôn ngoan tỉnh thức và
trung thành của Người rằng: "phúc cho đầy tớ ấy... chủ sẽ thắt lưng,
đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ" (Luca 12:37).
"Bánh" và "Cá" ở đây là hai thứ đã được chính Chúa
Kitô sử dụng trong hai lần Người hóa bánh ra nhiều để đám đông nuôi dân
chúng (lần đầu 5 ngàn lần sau 4 ngàn) theo nghe Người giảng dạy (xem
Mathêu 14:17-21 với chiếc bánh và 2 con cá & 15:34-38 với 7 chiếc bánh
và ít cá). Nếu "cá" biểu hiệu cho con người hay phần rỗi của
con người, thì "bánh" biểu hiệu cho Chúa Kitô, cho Thánh Thể,
cho sự sống thần linh Thiên Chúa muốn thông ban cho nhân loại qua Con
Ngài là Chúa Kitô, Lời Nhập Thể Vượt Qua.
Cử chỉ Chúa Kitô Phục Sinh đích thân sửa soạn và mang đến tiếp cho các
tông đồ ở đây có nghĩa là chính Người (biểu hiệu nơi "bánh") đã
hy mình làm giá chuộc cho nhiều người được rỗi (biểu hiệu nơi "cá"),
như Người đã khẳng định trong Phúc Âm Thánh Mathêu (20:28), giờ đây,
Người trao tất cả ("bánh" là bản thân Người hay sự sống thần
linh của Người đã phục sinh, lẫn "cá" là phần rỗi các linh hồn)
cho các tông đồ là thành phần thừa tác viên chính thức của Người để các
vị có thẩm quyền và năng quyền thực sự thay Người (nhân danh Người) mà
ban phát cho thế gian với tư cách là "những tay chài lưới người"
(Luca 5:10) cho đến khi Người lại đến để phán xét kẻ sống và kẻ chết.


Thứ Bảy Bát Nhật (Marco 16:9-15)
Hôm nay, ngày áp cuối cùng của Tuần Bát Nhật Phục
Sinh, Giáo Hội sử dụng Phúc Âm của Thánh ký Marco chưa được đọc đến một tí
nào trong suốt cả tuần, để gọi là tổng liệt
kê các lần Chúa Kitô Phục Sinh đã thứ tự hiện
ra khác nhau, (như đã được các Phúc Âm thuật lại trong tuần này),
nhưng không chỉ riêng với các tông đồ, như 2 bài Phúc Âm của Thánh
ký Gioan, mà còn bao gồm các người khác nữa, kể
cả thành phần môn đệ lẫn nữ giới:
Khi Chúa Giêsu sống lại, sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, thì trước
hết Người hiện ra với Maria Mađalêna, kẻ đã được Chúa đuổi bảy quỷ. Bà đi
báo tin cho những kẻ đã từng ở với Người và nay đang buồn thảm khóc lóc. Họ
nghe bà nói Chúa sống lại và bà đã thấy Người, nhưng họ không tin
(bài Phúc Âm Thánh
Gioan Thứ Ba Bát Nhật Phục Sinh). Sau đó, Chúa lại hiện ra
dưới hình thức khác với hai môn đệ đang trên đường về miền quê. Hai ông trở
về báo tin cho anh em, nhưng họ cũng không tin các ông ấy
(bài Phúc Âm Thánh
Luca Thứ Tư Bát Nhật Phục Sinh). Sau hết, Chúa hiện ra với mười
một tông đồ lúc đang ngồi ăn. Chúa khiển trách các ông đã cứng lòng, vì các
ông không tin những kẻ đã thấy Người sống lại
(bài Phúc Âm Thánh
Luca Thứ Năm Bát Nhật Phục Sinh). Rồi Người phán: "Các
con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn loài".
Trong bài Phúc Âm tóm gọn 3 lần hiện ra tiêu biểu này của Chúa Kitô Phục
Sinh, Thánh ký Marco không bao gồm lần hiện ra đầu tiên với các phụ nữ (như
Phúc Âm Thánh Mathêu cho Thứ Hai Tuần Bát Nhật Phục Sinh thuật lại), cũng
như lần thứ 5 và thứ 6 với chung các môn đệ vào 8 ngày sau lần thứ nhất và
với 7 vị ở ngoài bờ biển Tibêria sau 8 ngày (như được thuật lại trong Phúc
Âm Thánh Gioan cho Thứ Năm và Thứ Sáu Tuần Bát Nhật Phục Sinh).
Trong bài Phúc Âm ngắn ngủi về 3 lần hiện ra tiêu biểu này của Chúa Kitô
Phục Sinh, chúng ta thấy thành phần được Người hiện ra hay tỏ mình ra sau
khi Người từ kẻ chết sống lại không phải chỉ duy các thánh tông đồ (ở lần
hiện ra thứ ba) là thành phần chứng nhân tiên khởi của Người, thành phần
được gọi thuộc về hàng giáo phẩm lãnh đạo Giáo Hội, mà còn cả thành phần môn
đệ (ở lần hiện ra thứ hai) tiêu biểu cho những ai sống đời tận hiến tu trì,
và thành phần giáo dân (ở lần hiện ra thứ nhất) được tiêu biểu nơi Chị Mai
Đệ Liên.
Cũng qua bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta còn thấy chẳng những toàn thể mọi
thành phần trong Giáo Hội, (như được đề cập đến trên đây), đều phải trở
thành chứng nhân cho Chúa Kitô khi được Người tỏ mình ra cho, mà còn bao gồm
cả những ai bê tha tội lỗi, như trường hợp của Chị Mai Đệ Liên
"đã được Chúa đuổi bảy quỷ", hay những ai cảm thấy chán
chường tuyệt vọng bỏ cuộc, như trường hợp của hai môn đệ bỏ về làng Emmau,
hoặc những ai cứng lòng tin dù được loan truyền như trường hợp của các môn
đệ tông đồ của Chúa. Có nghĩa là dù ai chăng nữa, Chúa Kitô Phục Sinh cũng
đều có thể biến đổi họ để họ trở thành chứng nhân của Người.
Lần hiện ra với chung các tông đồ, Chúa Kitô Phục Sinh chẳng những
"khiển trách các ông đã cứng lòng, vì các ông không tin những kẻ đã thấy
Người sống lại" mà còn sai các vị đi truyền giáo nữa "Các
con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn loài". Nhất là
bằng chứng từ của các vị, chứng từ chẳng
những ở ngôn từ và việc thuyết giảng, mà nhất là còn bằng hành động bác ái
yêu thương như dấu hiệu đích thực chứng tỏ các vị thuộc về Người (xem Gioan
13:35).

Chúa Nhật Bát Nhật (Gioan 20:19-31)
"Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau
trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa
Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: 'Bình an cho các con'".
Theo Thánh
ký Gioan thì lần Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra này là lần hiện ra thứ hai của
Người với chung các tông đồ, và lần này cũng là lần duy nhất trong cả Tuần
Bát Nhật Phục Sinh được Phúc Âm cho thấy phản ứng tích cực và chủ động của
chung tông đồ đoàn qua vai trò đại diện của Tông Đồ Tôma. Để đáp lại lời
trắc nghiệm về lòng tin tưởng của các tông đồ về căn tính "Thày là ai?",
Tông Đồ Phêrô đã đại diện tuyên xưng "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng
sống đã đến trong thế gian" (Mathêu 16:16) thế nào, thì giờ đây, Tông Đồ
Tôma cũng đại diện tông đồ đoàn tuyên xưng như thế: "Lạy Chúa con, lạy Thiên
Chúa của con!"


Câu tuyên
xưng của Tông Đồ Tôma sau khi Chúa Kitô Phục Sinh, về hình thức có vẻ khác
lạ với câu tuyên xưng chính yếu của Tông Đồ Phêrô: "Lạy Chúa con, lạy Thiên
Chúa của con", nhưng về nội dung cũng chất chứa những gì cốt lõi trong lời
tuyên xưng của Tông Đồ Phêrô về căn tính của Người: "Thày là Đức Kitô, Con
Thiên Chúa hằng sống". "Chúa" và "Thiên Chúa" nơi lời tuyên xưng của Tông Đồ
Tôma đây, trước hết, "Chúa" ám chỉ nguồn gốc thần linh của "Thày là Đức
Kitô" Thiên Sai, và "Thiên Chúa" ám chỉ bản tính thần linh của "Con Thiên
Chúa hằng sống".
Câu tuyên
xưng của Tông Đồ Tôma vào Chúa Kitô Phục Sinh còn có một ý nghĩa làm nên
chính Mùa Phục Sinh nữa: "Thày là sự sống lại và là sự sống". Bởi vì, nếu
Thày không phải là "Chúa" thì Thày đã không "sống lại", nhưng nay vì Thày đã
thật sự "sống lại" nên Thày quả thực là "Thiên Chúa" hằng sống, là chính "sự
sống" vậy.
Câu Chúa Giêsu phán sau lời tuyên xưng chính xác của vị tông đồ không còn
hoài nghi này là "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho
những ai đã không thấy mà tin":
Trước hết, không phải là Người hoàn toàn phủ
nhận đức tin không cần chứng từ, bằng không đức tin Kitô giáo sẽ dễ trở
thành hoang đường,
chỉ thuần linh, nhất là thiếu chứng cứ lịch sử, không hợp với tầm mức
lập luận của trí khôn và cảm nhận của tâm linh, phản lại với đường lối nhập
thể của Người.
Bởi thế , dù “thấy” không còn là “tin” và “tin” không phải là “thấy”, vì
“thấy” là thấy những gì về chất thể, còn “tin” là tin những gì về bản thể,
thì “thấy” một Nhân Vật Giêsu Nazarét, “thấy” chứng cớ phục sinh, nhưng chưa
chắc đã “tin” Nhân Vật Giêsu Nazarét đó là “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng
sống”, và đã “tin” chứng cớ mộ trống, thiên thần và khăn liệm là các dấu
hiệu cho thấy Người đã sống lại từ trong cõi chết.
Câu Chúa Kitô Phục Sinh phán:
"Phúc cho những ai đã không thấy mà tin" còn hiểu rằng, không một
ai, kể cả Mẹ Maria, được tận mắt chứng kiến thấy thân xác tử giá của Chúa
Kitô sống lại cách nào, như thế nào và vào lúc nào, nghĩa là hoàn toàn "không
thấy" những gì hữu hình hợp với giác quan tự nhiên bao gồm sự kiện phục
sinh, và vì thế cũng "không thấy" xác của Người đâu, nhưng chính sự
kiện "không thấy" đó mới đưa các vị đến một thực tại thần linh siêu
nhiên, đối tượng của chính lòng "tin", đó là mầu nhiệm phục sinh,
nhất là đến chính sự thật của mầu nhiệm này, đó là Đấng bị loài người giết
chết đã sống lại từ trong kẻ chết chính là "Đức Kitô, Con Thiên Chúa
hằng sống" (Mathêu 16:16), như Tông Đồ Phêrô đã tuyên xưng khi Người
còn sống, "là Chúa và là Thiên Chúa", như Tông Đồ Toma đã tuyên
xưng sau khi Người phục sinh.
Thực tại thần linh và sự thật về Đấng khổ nạn và tử giá bị loài người
giết chết vào chiều hôm Thứ Sáu Tuần Thánh đó nay đã sống lại và tỏ mình ra
cho các môn đệ được tuyển chọn làm chứng nhân tiên khởi của Người và cho
Người, thành phần Người đã báo trước về cuộc Vượt Qua của Người 3 lần, nhất
là lời tiên báo trong Bữa Tiệc Ly: "Thật vậy, Thày đi (ám chỉ về
cuộc khổ nạn và tử giá của Người) để dọn chỗ cho các con, sau đó Thày sẽ
trở lại (ám chỉ về cuộc phục sinh của Người) để mang các con đi với
Thày, để Thày ở đâu các con cũng ở đó" (Gioan 14:3, và xem Gioan 21:19
là chỗ Chúa Kitô phục sinh kêu gọi tông đồ Phêrô theo Người đi chịu chết như
Người và với Người cho chiên). Quả thực Người phục sinh đã hoàn toàn ứng
nghiệm lời Người đã khẳng định và tiên báo: "Tôi tự bỏ mạng sống mình đi
(nơi cuộc khổ nạn) rồi lấy nó lại (nơi cuộc phục sinh)" (Gioan
10:17) để làm cho các môn đệ tin vào Người cũng như cho phần rỗi của những
ai tin vào người qua chứng từ của các vị.
Sau nữa,
khi khẳng định "Phúc cho những ai đã không thấy mà tin", Chúa Kitô Phục Sinh
muốn nhấn mạnh đến chính cốt lõi của đức tin, đến thực tại thần linh
của đức tin, như chính lời tuyên xưng của Tông Đồ Tôma, vị tông đồ không
tuyên xưng: "Vâng, giờ đây con đã tin rằng Thày đã sống lại từ trong cõi
chết", mà là "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con", vì biến cố phục sinh,
cho dù là yếu tố then chốt của Mầu Nhiệm Vượt Qua và làm nên Mầu Nhiệm Vượt
Qua, một mầu nhiệm cho thấy tất cả mạc khải thần linh của Thiên Chúa, vẫn là
một phương tiện hay một đường lối hơn là cùng đích, là mục tiêu, vì biến cố
phục sinh cần phải có và không thể nào không xẩy ra để Vị "Thiên Chúa là
thần linh" (Gioan 4:24) và "vô hình" (Colose 1:15) chứng tỏ Ngài thực sự là
"Chúa" và là "Thiên Chúa".
Sau hết,
khi tuyên phán "Phúc cho những ai đã không thấy
mà tin", Người muốn ám chỉ đến chung Giáo Hội, một Giáo Hội có
nền tảng là các tông đồ (xem Epheso 2:20), tiêu biểu nhất có thể nói là Tông
Đồ Gioan, "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" cũng là người môn đệ duy nhất
đứng dưới chân thập giá của Người với Mẹ của Người và được Người trao phó
cho Mẹ của Người và muốn phải noi gương bắt chước Mẹ của Người (Gioan
19:25-27), một người môn đệ, như Mẹ Maria, đã tin Người sống lại rồi, cho dù
chưa được Người thực sự hiện ra như với Mai Đệ Liên (xem Gioan 20:8, 13-17).
Tông Đồ Gioan và nữ môn đệ đặc biệt Mai Đệ Liên là 2 nhân vật trung
kiên theo Chúa Kitô cho đến cùng, cho đến khi đứng dưới chân thập giá của
Người đấy. Thế nhưng, cả hai đều thấy chứng cớ phục sinh trước khi Chúa Kitô
Phục Sinh hiện ra: Nữ môn đệ Mai Đệ Liên thấy trước, thấy tảng đá đã được
chuyên rời (xem Gioan 20:1), thậm chí còn nhìn thấy và nghe thấy hai thiên
thần ở bên trọng ngôi mộ (xem Gioan 20:12-13), đến độ "nhìn thấy Chúa Giêsu
đứng đó" (Gioan 20:14) mà vẫn chưa tin..., trong khi đó, Tông Đồ Gioan, chỉ
cần chứng từ các tấm khăn liệm trong ngôi mộ trống là đủ: "Ông đã thấy và đã
tin" (Gioan 20:8).
Như thế cả Tông Đồ Gioan cũng "thấy" rồi mới "tin"
thì có hơn gì Tông Đồ Tôma hay Nữ Môn Đệ Mai Đệ Liên đâu? Đúng thế nhưng mà
vấn đề ở đây là Tông Đồ Gioan đã "tin" trước khi được Chúa Kitô hiện ra,
nghĩa là cho dù Người có hiện ra hay không thì Người quả thực đã sống lại,
vì đối với Tông Đồ Gioan, như với Mẹ Maria đầy ơn phúc, Vị thậm chí không
cần phải tận mắt thấy chứng cứ như Tông Đồ Gioan nữa, Chúa Kitô đã thực sự
là "Chúa" và là "Thiên Chúa" rồi, nên Người không thể nào chết mà không sống
lại, trái lại, chính vì Người là "Chúa" và là "Thiên Chúa" mà Người phải
sống lại và chắc chắn phải sống lại để chứng tỏ lời Người đã tự xưng thực
tại thần linh của Người và loan báo trước về thực tại thần linh của Người:
"Thày là sự sống lại và là sự sống" (Gioan 11:25). Câu "phúc cho ai không
thấy mà tin" đây phải chăng Chúa Giêsu ngầm khen tặng Người Mẹ sống đức tin
của Người!?!
Phúc Âm không hề thuật lại bất cứ lần nào Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra
với người mẹ của mình. Tuy nhiên, cho dù Người có âm thầm hiện ra với Mẹ của
Người chăng nữa, vào một lúc nào đó, mà thường là ngay sau khi Người sống
lại từ trong cõi chết vào nửa đêm Thứ Bảy rạng Chúa Nhật, lúc mọi người đang
yên giấc, nhất là đám phụ nữ là thành phần sẽ thức dậy sớm ra mộ sang hôm
sau, thì không phải là để chứng tỏ Người thực sự sống lại đúng như Lời Thánh
Kinh và lời Người đã tiên báo, cho bằng để đáp ứng lòng Mẹ tin tưởng tràn
đầy hy vọng vào cuộc vinh thắng của Người, đồng thời cũng để tưởng thưởng
cho Mẹ cũng như bù đắp cho Mẹ về tất cả những khổ đau đến cùng tận mà Mẹ đã
hiệp nhất nên một với Người trong việc đồng công cứu chuộc nhân loại, nhờ đó
Người đã biến nỗi thống khổ sầu thương của Mẹ thành niềm chất ngất hân hoan
(xem Gioan 16:21-22)
Đức tin tông truyền của
Giáo Hội là ở chỗ đức tin này được tuyền lại từ chính các tông đồ. Kitô hữu hậu sinh
hay thậm chí ngay từ thời các tông đồ tuy không được tận mắt “thấy” Chúa
hiện ra,
(ngoại trừ đặc biệt
Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô, vị nhận lãnh đức tin vừa nhờ tông truyền vừa bằng
cảm nhận bản thân – xem 1Corinto 15:3-4 và 8),
hay được diễm phúc sống với Người, được diễm phúc mắt thấy, tai
nghe, tay sờ vào Người như các tông đồ (xem 1 Gioan 1:1), nhưng có cùng một
đức tin như chính các vị, những
con người có phúc được “thấy” nhưng vẫn phải “tin”,
không phải chỉ "thấy" rằng quả
thực có một nhân vật Lịch Sử Nazarét, đã chịu tử giá và đã phục sinh, vào
thời điểm lịch sử của các vị, mà còn "tin" rằng nhân vật Lịch Sử Nazarét,
đã chịu tử giá và đã phục sinh ấy chính là "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng
sống" (Mathêu 16:16), "là sự sống lại và là sự sống" (Gioan 11:25) để sấp
mình xuống tôn thờ Người: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con",
trước
khi có thể làm chứng về Người: “chúng
tôi không thể nào không nói lên những điều mắt thấy tai nghe”
(Tông Vụ 4:20, bài đọc 1 Thứ Bảy Bát Nhật Phục Sinh).
Thánh Thi
(Giờ Kinh Sách Các Chúa Nhật Mùa Phục Sinh - theo bản của Nhóm Phiên
Dịch Phụng Vụ Giờ Kinh)
Hôm nay chính là ngày của Chúa
Ánh hồng thiêng rực rỡ tỏa lan
Khi dòng Máu Thánh tuôn tràn
Rửa muôn tội lỗi thế gian bao đời.
Nguồn hy vọng nuôi người nản chí
Ánh hào quang soi kẻ mù lòa
Nghe tên trộm được thứ tha
Ai còn sợ sệt ai mà chẳng yên?
Thiên thần cũng ngạc nhiên bỡ ngỡ
Ðang thấy y chịu khổ ngoài thân,
Một lời hối cải ăn năn
Bỗng đâu Chúa hứa chung phần thiên cung.
Ôi huyền diệu lạ lùng khôn ví:
Muốn chữa lành dịch tễ chúng nhân,
Chính thân thể Ðấng Cao Tôn
Ðền thay tội lỗi của muôn xác phàm!
Ôi mầu nhiệm suy làm sao thấu,
Tội chờ lòng nhân hậu tha cho,
Ân tình xua đuổi âu lo
Chết đi mới được thiên thu trường tồn!
Giêsu hỡi, chúng con nài nỉ
Ðược muôn đời mừng lễ Vượt Qua,
Tái sinh ơn nghĩa chan hòa
Vang vang khúc khải hoàn ca reo hò!
Muôn lạy Chúa Giêsu từ ái
Ðấng lừng danh đánh bại tử thần,
Ngàn đời hiển trị muôn dân
Cùng Ngôi Thánh Phụ Thánh Thần quang vinh.
Xin xem thêm
Làm thế nào để biết / chứng minh Chúa Kitô thực sự
phục sinh?
"Thày là sự sống lại" ở
Sách Tông
Vụ Tuần Bát Nhật PS
Nếu "Thày là
sự sống lại", như đã được Người đích thân chứng thực nhất là với các
tông đồ là những kẻ đã được Người tuyển chọn cách riêng để "ở với
Người", nhờ đó tin vào Người với sứ vụ được Người "sai đi để rao giảng
tin mừng" nữa (xem Marco
3:13-14), cho "toàn thế giới" (Marcô
16:16), nhưng bắt đầu cho chính dân
Do Thái là thành phần dân tuyển chọn của
Thiên Chúa vẫn hằng mong đợi Đấng Thiên Sai của họ.
Đó là lý do, thành phần tông đồ đoàn toàn là người
Do Thái, bao gồm cả chính bản thân của Đấng Thiên Sai và Người Mẹ của
Người: "Ơn cứu độ (salvation) xuất phát từ những người Do Thái" (Gioan
4:22) là thế. Ơn cứu độ ở đây bao giờ cũng có tính chất Vượt Qua bất khả
phân ly, đó là vượt qua sự chết mà vào sự sống, như chính Chúa
Kitô Thiên Sai đã khổ giá và phục sinh vậy.
Tuy nhiên, khổ giá còn có tính chất lịch sử trước
mắt mọi người, kể cả giáo quyền Do Thái lẫn chính quyền Roma, còn phục
sinh hoàn toàn là một mầu nhiệm thần linh hơn là biến cố lịch sử dù xẩy
ra trong lịch sử. Không một ai, kể cả đệ nhất tạo vật về ân sủng là Mẹ
Maria, đã được tận mắt thấy Chúa Kitô sống lại từ trong cõi chết, nhưng
sự thật Người sống
lại từ trong cõi chết là những gì đã được Thánh Kinh cũng như chính
Người báo trước. Những lần Người hiện
ra với các tông đồ là để chứng thực
Người đã sống lại thật, và vì thế, chứng cớ về sự thật Chúa Kitô Phục
Sinh chính là các tông đồ và ở
nơi các tông đồ.
Thánh Thi (Giờ Phụng Vụ Ban
Ngày các Chúa Nhật trong Mùa Phục Sinh - theo bản của Nhóm Phiên Dịch
Phụng Vụ Giờ Kinh)
Ðây giờ phút chói lòa rực rỡ
Khiến mây mù thập giá bay tan,
Tối tăm biến khỏi trần hoàn
Vầng ô sáng chói như mang cẩm bào.
Chính là lúc Chúa vào âm phủ
Diệt ma vương phá vỡ ngục tù
Vong nhân được trả tự do
Hân hoan chỗi dậy đội mồ bước ra.
Tử thần diệt ắt là thế giới
Sẽ hoàn toàn đổi mới từ đây,
Cuộc đời vinh phúc mai ngày
Ðoàn con tin tưởng phút giây không ngừng.
Muôn lạy Chúa oai phong vĩ đại
Ðấng lừng danh đánh bại tử thần.
Ngàn đời hiển trị muôn dân
Cùng Ngôi Thánh Phụ Thánh Thần quang vinh.
Sách Tông Vụ được tác
giả Luca là một dân ngoại thuật lại về Lịch Sử của Dân Tân Ước là Giáo
Hội Kitô Giáo ngay từ ban đầu, mà tiến
trình được mở màn, ngay sau Biến Cố Hiện
Xuống vào Ngày Lễ Ngũ Tuần của Dân Do Thái, đó là
Lời Chứng Tiên
Khởi của Tông Đồ Đoàn được Thánh Phêrô
lãnh đạo, kèm
theo Dấu Chứng Tiên Khởi sau đó, bao gồm 2 phép
lạ đầu tiên chứng
thực quyền năng phục sinh của Chúa Kitô qua các tông đồ: phép lạ thứ
nhất là phép lạ người què bẩm sinh ở Cửa Đẹp bất ngờ được chữa lành, và
phép lạ thứ hai là phép lạ về nội bộ hiệp nhất nên một của Giáo Hội, một
Giáo Hội mới được gia tăng nhân số bởi thành phần tân tòng trở lại từ
Lời Chứng Tiên Khởi, một hiệp
nhất yêu thương nội bộ là chứng
từ truyền giáo đích thực nhất và
mãnh liệt nhất trong suốt giòng lịch sử của
Giáo Hội cho đến tận thế.
Chúa Nhật Phục Sinh (10:34a, 37-43)
"Trong
những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: 'Người là Ðấng người ta đã giết treo Người trên thập giá.
Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không
phải với toàn dân, mà là với chúng
tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn
uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Và
Người đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng
chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ
chết".

Thứ Hai Bát Nhật (2:14, 22-32)
"Trong ngày lễ
Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng:
... 'Hỡi anh em, xin cho phép tôi được bạo dạn nói với anh em về tổ phụ
Ðavít rằng: ngài đã băng hà, đã được an táng và lăng tẩm của ngài còn
nằm giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì ngài là tiên tri, và biết
Thiên Chúa đã thề hứa với ngài sẽ cho một người trong dòng dõi ngài ngồi
trên ngai vàng của ngài, nên thấy trước, ngài đã nói về việc Chúa Kitô
phục sinh, vì Người không phải bị bỏ rơi trong cõi chết, và xác Người
không bị huỷ diệt. Ðức
Giêsu đó, Thiên Chúa đã cho sống lại; chúng tôi hết thảy xin làm chứng
về điều ấy'".

Thứ Ba Bát Nhật (2:36-41)
"Trong ngày lễ
Ngũ Tuần, Phêrô nói với những
người Do-thái rằng: 'Xin toàn thể nhà Israel hãy nhận biết rằng: Thiên
Chúa đã tôn Ðức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, lên làm Chúa và làm Ðấng
Kitô'. Nghe những lời nói trên, họ đau đớn trong lòng, nói cùng
Phêrô và các Tông đồ khác rằng: 'Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?'
Phêrô nói với họ: 'Anh em hãy ăn năn sám
hối, và mỗi người trong
anh em hãy chịu phép rửa nhân danh Ðức Giêsu Kitô để được tha tội; và
anh em sẽ nhận lãnh Thánh Thần...'"

"Phêrô và Gioan
nhìn anh và nói: 'Anh hãy nhìn chúng tôi'. Anh ngước mắt chăm chú nhìn
hai ngài, mong sẽ được hai ngài cho cái gì. Nhưng Phêrô nói: 'Vàng bạc
thì tôi không có, nhưng có cái này tôi cho anh, là: nhân
danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, anh hãy đứng dậy mà đi!' Rồi Phêrô nắm tay
mặt anh mà kéo dậy, tức thì mắt cá và bàn chân anh trở nên cứng cát; anh
nhảy ngay lên mà đứng và đi được; anh cùng hai ngài tiến vào đền
thờ, anh vừa đi vừa nhảy nhót và ngợi khen Thiên Chúa, và dân chúng đều
thấy anh đi và ngợi khen Chúa".

Thứ Năm Bát Nhật (3:11-26)
"Thấy vậy Phêrô
liền nói với dân chúng rằng: 'Hỡi các người Israel, tại sao anh em ngạc
nhiên về việc đó và nhìn chúng tôi như là chúng tôi dùng quyền năng hay
lòng đạo đức riêng mà làm cho người này đi được?... Anh em đã chối bỏ
Ðấng Thánh, Ðấng Công Chính, và xin tha tên sát nhân cho anh em, còn
Ðấng ban sự sống thì anh em lại giết đi, nhưng Thiên
Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, điều đó chúng tôi xin làm chứng.
Và bởi đã tin vào danh Người, nên danh Người đã làm cho kẻ mà anh em
thấy và biết đây, được
vững mạnh, và lòng tin vào Người chữa anh này hoàn toàn lành mạnh trước
mặt hết thảy anh em".

Thứ Sáu Bát Nhật (4:1-12)
"Lúc bấy giờ Phêrô được
đầy Thánh Thần đã nói: 'Thưa chư vị thủ lãnh toàn dân và kỳ lão, xin hãy
nghe, nhân vì hôm nay chúng tôi bị đem ra xét hỏi về việc thiện đã làm
cho một người tàn tật, về cách thức mà con người đó đã được chữa khỏi,
xin chư vị tất cả, và toàn dân Israel biết cho rằng: Chính
nhờ Danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, Chúa chúng tôi, Người mà chư vị đã đóng
đinh, và Thiên Chúa đã cho từ cõi chết sống lại, chính nhờ danh Người mà
anh này được lành mạnh như chư vị thấy đây. Chính Người là viên
đá đã bị chư vị là thợ xây loại ra, đã trở thành viên Ðá Góc tường; và
ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác. Bởi chưng không
một Danh nào khác ở dưới gầm trời đã được ban tặng cho loài người, để
nhờ vào Danh đó mà chúng ta được cứu độ'".

Thứ Bảy Bát Nhật (4:13-21)
"Trong những
ngày ấy, các thủ lãnh, kỳ lão và luật sĩ ... gọi hai ngài vào và cấm
nhặt không được nhân danh Ðức Giêsu mà nói và giảng dạy nữa. Nhưng Phêrô
và Gioan trả lời họ rằng: 'Trước mặt Chúa, các ngài hãy xét coi:
nghe các ngài hơn nghe Chúa, có phải lẽ không? Vì chúng tôi không thể
nào không nói lên những điều mắt thấy tai nghe'. Nhưng họ lại đe
doạ hai ngài, rồi thả về, vì không tìm được cách nào trừng phạt hai
ngài, họ lại còn sợ dân chúng, vì mọi người đều ca tụng Thiên Chúa về
việc đã xảy ra".

Chúa Nhật Bát Nhật (4:32-35)
"Lúc bấy giờ tất cả đoàn tín
hữu đông đảo đều đồng tâm nhất trí. Chẳng ai kể của gì mình có là của
riêng, song để mọi sự làm của chung. Các
tông đồ dùng quyền năng cao cả mà làm chứng việc Chúa Giêsu Kitô, Chúa
chúng ta, sống lại. Hết
thảy đều được mến chuộng. Vì
thế, trong các tín hữu, không có ai phải túng thiếu. Vì những người có
ruộng nương nhà cửa đều bán đi và bán được bao nhiêu tiền thì đem đặt
dưới chân các tông đồ. Và người ta phân phát cho mỗi người tuỳ theo nhu
cầu của họ".

Qua
phụng vụ Lời Chúa của Tuần Bát Nhật Phục Sinh, từ Chúa Nhật Phục Sinh đến
Chúa Nhật thứ 1 sau Phục Sinh, Giáo Hội chẳng những muốn cho con cái của
mình, qua các bài phúc âm trong 8 ngày này, thấy được
sự thật Chúa Kitô đã sống lại từ trong cõi chết, và qua Sách Tông Vụ,
thấy được sứ vụ chứng nhân
của thành phần môn đệ Chúa Kitô cho
phần rỗi của nhân loại.
Vì: thành
phần chứng nhân phục sinh bất khả thiếu này, theo bài đọc 2 của Chúa Nhật
Phục Sinh, được trích từ
Thư Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Colose (3:1-4): "đã sống lại với Đức Kitô",
và theo bài đọc 2 của Chúa Nhật thứ 1 sau Phục
Sinh, được trích từ Thư Thứ 1 của Thánh Gioan (5:1-6), họ đã được "sinh bởi
Thiên Chúa" bởi "tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô".
Nếu theo bài đọc 2 của Chúa Nhật Phục Sinh, "khi
Ðức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người
trong vinh quang", thì quả thật, đúng như
bài đọc 2 của Chúa Nhật 1 Phục Sinh đã khẳng định: "những
gì sinh bởi Thiên Chúa đều chiến thắng thế gian, và đây là cuộc thắng trận
thế gian, là chính đức tin của chúng ta. Ai là người chiến thắng thế gian,
nếu không phải là người tin rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa?", đúng
như những gì đã xẩy ra cho các tông đồ chứng nhân ở bài đọc 1 Thứ Bảy trong
Tuần Bát Nhật Phục Sinh vậy.
"Trong những ngày
ấy, các thủ lãnh, kỳ lão và luật sĩ nhận thấy Phêrô và Gioan kiên quyết, và
biết hai ngài là những kẻ thất học và dốt nát, nên lấy làm lạ; và còn biết
rằng hai ngài đã ở cùng Ðức Giêsu; họ thấy kẻ được chữa lành đứng ở đó với
hai ngài, nên họ không thể nói gì nghịch lại được...".
Đúng thế, không một quyền lực thế gian nào, thậm chí cả quyền lực sự
chết hỏa ngục (xem Mathêu 16:18) có thể khống chế được chứng từ về Chúa
Kitô Phục Sinh nơi thành phần nhân chứng tông đồ của Người, ngay từ
ban đầu lịch sử của Giáo Hội.
Trái lại, lạ lùng thay, càng bị bách hại, bị tận diệt, liên lỉ, ở khắp
mọi nơi và mọi thời, lịch sử lại càng chứng thực Kitô giáo càng phát
triển, Giáo Hội, một quốc gia nhỏ bé nhất về cả địa dư lẫn dân số trên
thế giới, quả thực chẳng khác nào như một hạt cải nhỏ bé nhất đã
thực sự càng trở thành một cây vĩ đại sừng
sững vững bền cho tới nay, trong khi các
thế lực đối nghịch đều đã bị tiêu tan. Điển hình nhất là một đế quốc
Rôma đã
từng hung tàn dã man tàn
sát Công giáo suốt 3 trăm
năm đầu giờ đây chỉ còn lại một số di tích lịch sử tàn rụi ở Rôma, trước
một Giáo Hội Công Giáo Rôma vẫn trường tồn và trở thành tâm điểm của thế
giới về tinh thần và luân lý.


Sự hiện diện, tồn tại, phát triển và ảnh hưởng của
Giáo Hội Công Giáo Rôma nói riêng và Kitô giáo nói chung trên thế giới
trong lịch sử loài người từ khi Thiên Chúa Giáng Thế Làm Người và Vượt
Qua không phải là những gì chứng thực chẳng những Chúa Kitô "là sự sống
lại" mà còn là chính "sự sống" hay sao, một "sự sống" là chủ đề cho 6
tuần còn lại của Mùa Phục Sinh chúng ta sẽ cùng nhau cảm nghiệm.
Thánh Thi
(Giờ Phụng Vụ Ban Tối các Chúa Nhật trong Mùa
Phục Sinh - theo bản của Nhóm Phiên Dịch Phụng Vụ Giờ Kinh)
Ðoàn áo trắng mau chỉnh tề hàng ngũ,
Ðã vượt qua Hồng Hải thật diệu huyền,
Hãy tiến vào dự yến tiệc Con Chiên
Dâng lên Ðức Kitô lời ca ngợi!
Cùng nếm thử, nào anh em ta hỡi
Thánh Thể Ngài trên thập tự hiến dâng
Uống cho say ly bửu huyết đỏ hồng
Ðể ta sống cho Chúa Trời mãi mãi.
Ôi phúc cả ! Ðêm dài Vượt Qua ấy
Lúc thiên thần chinh phạt khắp dân Ai,
Bỗng vùng lên đoàn dân thánh của Ngài
Thoát xiềng xích Pharaô độc dữ.
Chiên Vượt Qua là Kitô Ðức Chúa
Ðổ máu đào vô tội cứu sinh linh
Này bánh không men nuôi dưỡng lòng thành
Hồn trinh trắng khỏi sa vòng tục lụy.
Ôi Tế Vật từ trời cao giáng thế,
Duy mình Ngài phá vỡ ngục âm ty
Bao tù nhân, Ngài giải phóng đưa về
Rồi ân thưởng phúc trường sinh bất diệt!
Tử thần hỡi, từ đây ngươi đã chết
Lúc Con Người ra khỏi mộ hiên ngang,
Chúa phục sinh khi mở cửa thiên đàng
Ðã ra lệnh giam ngươi vào ngục tối!
Ôi Giêsu, chúng con hằng mong mỏi
Ngài trở thành niềm hoan lạc Vượt Qua
Ðã tái sinh thì xin lượng hải hà
Cho gia nhập đoàn hùng binh chiến thắng!
Muôn vinh hiển, dâng lên tòa cao sáng
Kính tôn Cha và Thánh Tử phục sinh
Hằng trị vì cùng với Chúa Thánh Linh
Từ muôn thuở đến thiên thu vạn đại.
HẠNH THÁNH TRONG TUẦN
Thánh Vinh-Sơn Ferrier
Chúa Nhật 5/4

Lời Tiên Tri Thánh Vincent Ferrer
Thánh (Vinh Sơn/Vicentê) sinh tại Valencia, nước Tây-ban-nha (Spain) vào
ngày 23 Tháng giêng Năm 1350, là con thứ ba của ông William Fêrrêr và bà
Cônstânce Mìguêl là con gái của chính khách naval, có họ hàng với Giám Mục
của Valencia lúc bấy giờ, một gia đình Công giáo đạo đức truyền thống.
Vào một đêm kia, ông William nằm mơ thấy mình đi vào nhà thờ thánh Đaminh
tại Valencia, bỗng có một vị thuộc phần tử Dòng Thuyết Giáo từ trên bục
giảng phía trên cung thánh, xoay nhìn ông nói rằng,
“Cha chào mừng con, William. Trong mấy ngày nữa con sẽ có một cháu trai, trẻ
này sau sẽ được phúc học hành uyên thông và thánh thiện.
Cháu sẽ thành đại sự làm rạng danh nhà con. Thế gian sẽ vang vọng âm thanh
huy hoàng của cháu; cháu sẽ được ngập tràn phúc sủng thiên đàng còn địa ngục
phải khiếp run. Cháu sẽ mang tu phục như cha đang mặc đây, và sẽ được tiếp
nhận vào Hội Thánh với niềm vui của toàn thể vũ hoàn như đối với một vị tông
đồ tiên khởi.”
Những người nghe biết chuyện đều hết thảy lớn tiếng chúc tụng – cám đội ơn
Chúa với tin mừng bất ngờ này. Riêng ông William vui khôn xiết tả, liền đi
thuật lại đầu đuôi câu chuyện với vị giám mục họ hàng.
Bà Cônstânce kể thêm, lúc có thai Vincent thì có hai điềm lạ xảy ra; bà
không hề đau đớn khi mang thai Vincent so với những lần mang thai bình
thường khác; và gần đến ngày sinh trẻ Vincent, thì bà nghe trong bào thai
phát ra tiếng khóc như tiếng sủa của một con chó con-gần giống như giấc mơ
của chân phước Jane de Aza Mẹ thánh Đaminh vậy.
(Bà Aza mơ thấy mình sanh ra một con chó ngậm bó đuốc chạy đi thiêu đốt khắp
các thành thị). Vị giám mục ngầm hiểu rõ ngay đây là một dấu chỉ màu nhiệm
và nói với họ rằng,
“Anh chị hãy vui mừng Trong Thiên Chúa; đứa trẻ mà anh chị đang mang vào thế
gian đây, sẽ trở nên người con xứng đáng của thánh Đaminh, cháu sẽ là một
trong số những người được kêu gọi để làm nhiều điều thiện lành vô kể bằng
vào sự giảng truyền của cháu. Hãy chăm sóc cháu cách đặc biệt cẩn thận và
giáo dục cháu nên người thánh thiện, để mai ngày cháu không phụ tình Thiên
Chúa đối với các tặng sủng mà Ngài đã ban cho cháu.”
Vincent được Thiên Chúa phú bẩm cho ơn làm phép lạ ngay từ khi chưa lọt lòng
mẹ. Một buổi nọ, bà Cônstânce đi thăm một phụ nữ mù theo thói quen đi làm
việc bác ái - bố thí hàng tháng, và bà nói với chị ấy,
“Con ơi, hãy cầu xin Chúa cho thai nhi mà mẹ đang cưu mang đến ngày sinh
được bằng an nhé.”
Người phụ nữ mù liền cúi áp đầu vào bụng bà Cônstânce rồi nói với thai nhi,
“Xin Thiên Chúa chúc ban phúc lành cho em.”
Lập tức, chị được khỏi mù, và lòng trí trở nên minh mẫn sáng láng, liền thốt
lời tiên tri rằng, “Thưa bà, quả là một thiên thần bà đang cưu mang, bởi
chính em đã chữa lành nỗi khổ đau cho con.”
Giống như một thai nhi Gioan Tẩy-giả khác, thai nhi Vincent tỏ ý bằng lòng
với lời cầu chúc từ miệng người phụ nữ nghèo, đến nỗi nhảy mừng trong lòng
mẹ bằng dấu lạ chữa chị khỏi mù.
Ấu Thơ
Khi trẻ Vincent chào đời, được ba mẹ ẵm lên nhà thờ để chịu Phép Rửa Tội,
thì những người bà con họ hàng ai cũng muốn lấy tên mình mà đặt cho, khiến
vị linh mục chủ sự phải can thiệp mà đặt tên là Vincent, có nghĩa là kẻ
thắng trận, một cái tên chưa hề có trong dòng họ bao giờ.
Trẻ Vincent rất dễ tính, đặt đâu nằm đó, không có quấy khóc như mọi trẻ
khác, với miệng cười tươi, cặp mắt tròn to mở lớn, khiến ai nấy cũng đem
lòng thương mến.
Lên năm tuổi, Vincent, đă chữa lành một đứa trẻ hàng xóm đau nặng được khỏi
bệnh. Trong đám trẻ nhỏ hàng xóm, bạn Vincent có một đứa lười học lắm, một
hôm, cậu tới rủ nó đi học thì nó đã chết. Mẹ nó đang vật vã khóc lóc cách
thảm thiết. Thấy thế, Vincent nói,
“Con bác không chết đâu, nó lười học nên mê ngủ đó.”
Nói đặng, Vincent cầm lấy tay bạn bảo:
“Dậy đi học với tôi mau, kẻo trễ rồi.”
Đứa trẻ đã chết liền bật mình sống dậy đi học với Vincent. Một lần khác, khi
cậu đang chơi bên cạnh giếng nhà mình thì đánh rơi giầy, cậu liền quỳ xuống
bờ giếng mà cầu nguyện, thì liền đó nước giếng dâng lên vừa đúng tầm tay
đặng cậu có thể lấy lại giầy.
Không những thế, Vincent còn thường xuyên hội tụ các bạn nhỏ lại, rồi tự
mình đi tìm các chỗ cao đứng giảng cho chúng nghe những gì cậu đã được nghe
cha xứ giảng vào ngày Chúa Nhật vừa qua ở nhà thờ. Có một hôm, thấy người
đầy tớ đang định chặt một trong các cây ở trong vườn, Vincent liền tới cản
lại bảo,
“Xin khoan đã, đừng chặt cây đó! Vì mai mốt người ta sẽ dùng cây này mà khắc
tượng cháu đó.”
Cậu còn làm nhiều điều lạ khác nữa. Vincent bắt đầu đi học vào năm tám tuổi.
Cậu thuộc làu các kinh, học hành xuất sắc, năm 12 tuổi cậu đã sớm biết ăn
chay vào các ngày thứ tư vào thứ sáu trong tuần chỉ bằng bánh mì và nước lã.
Mười bốn tuổi Vincent học thần học, cậu năng nguyện gẫm, nhất là rất sùng
kính cuộc khổ hình, thương khó của Chúa Giêsu và có lòng biệt kính Mẹ Maria
cách riêng, và sống bác ái với mọi người. Nên xóm giềng ai cũng đem lòng
thương mến cậu và thường gọi là “Vị thánh tý hon.”
Thiếu Niên Dũng Trí
Mười tám tuổi, Vincent xin vào “Dòng Thuyết Giáo Thánh Đaminh - Dominican
Order of Preacher (O.P)” nơi thành phố cậu đang cư ngụ. Từ khi chọn sống đời
tu, thầy Vincent quyết chí noi gương thánh Đaminh để tiến tới đường trọn
lành.
Thầy siêng năng đọc Thánh Kinh - suy gẫm Lời Chúa tựa như cơ thể sống động
không thể thiếu các mạch máu chính và li-ti vậy. Thầy sống khổ chế và thánh
thiện trong mọi lời nói cũng như hành động.
Vì đó, quỷ dữ căm ghét và thường xuyên quấy phá – cám dỗ và gây đau khổ cho
thầy đủ điều. Đến độ cha mẹ của thầy khuyên nên bỏ nhà dòng trở về làm một
cha xứ (linh mục triều) bình thường thôi. Nhưng thầy Vincent vẫn vững một
lòng trông cậy Chúa, ra sức cầu nguyện nhiều hơn, đặc biệt là thầy van nài -
khẩn nguyện với Mẹ Maria và thiên thần bổn mạng cứu giúp. Sau bao nhiêu khốn
khó, thầy Vincent đã vượt thắng tất cả mọi cam go và hoàn tất giai đoạn tập
sinh.
Thầy Vincent lãnh mặc tu phục dòng Đaminh ngày 2 tháng 2 Năm 1363, và khấn
trọn đời năm 1368. Kế đến, thầy Vincent tiếp tục 18 năm theo học các; khoa
Thánh Kinh, học tiếng Dothái và học rất nhanh. Trong ba năm đầu, thầy
Vincent chỉ đọc Sách Thánh Kinh và sách của các Thánh Giáo-phụ đến độ thuộc
lòng, đồng thời thông hiểu hết toàn bộ Sách Thánh. Sau đó không lâu, thầy
được chỉ định học Triết học, mãn khóa học, Vincent cho ra trình làng cuốn
“khảo luận về giả thuyết biện chứng pháp...” (Treatise Dialectic
Suppositions), lúc ấy thầy chưa tròn hai mươi bốn tuổi. Sau đó, Vincent được
gửi đến Bárcêlôna tiếp tục học chuyên khoa Thánh Kinh. Tuy bận rộn với việc
học hành, nhưng cùng thời gian đó, thầy không ngừng rao giảng Lời Chúa và đã
mang lại nhiều kết quả lạ thường tuyệt vời không ngờ. Thầy giống hệt như
thánh Đaminh vừa là học trò, đồng thời vừa là giáo sư, và vừa là nhà thuyết
pháp tài ba vậy.
Vào năm 1378, ở tuổi hai mươi tám, chính tay Đức HồngY Peter De Luna trao
bằng tiến sĩ thần học cho thầy Vincent (Hồng Y Phêrô De Luna - người sau này
trở thành Giáo hoàng Bênêđíctô thứ XIII, nhưng không chính thức giữa thời kỳ
Giáo hội có cuộc “Đại Ly Giáo” bị hủng hoảng và phân rẽ vì chiến tranh lan
rộng khắp Tây Âu, mới đầu chỉ có hai rồi có tới ba Đức Giáo hoàng: Đức Urban
VI ngự điện tại Rôma, Đức Clêmentê VII ngự điện tại Avignon, Pháp Quốc.
Thánh Catherine thành Siena ủng hộ Đức Urban VI ở Rôma, còn thánh Vincent
thì cho ngài là bất hợp pháp …trong lúc phục vụ Hồng Y Peter De Luna,
Vincent cùng lúc tích cực thuyết phục dân Tây Ban Nha theo Đức Clêmentê, sau
khi Đức Clementê băng hà, thì Hồng Y Luna được bầu làm Giáo Hoàng tại
Avignon, lấy hiệu là Đức Bênêđíctô thứ XIII ), Hồng Y Peter lúc ấy đại diện
cho Đức Giáo hoàng Clêment VII, đang ngự điện tại Avignon, bên Pháp, đồng
thời cũng là người thụ phong linh mục cho Vicent tại Bárcêlôna năm 1379.
Không bao lâu sau khi chịu chức linh mục, cha Vincent liền được chọn làm bề
trên tu viện Thánh Đaminh tại Valencia.
Đức Bênêđíctô XIII triệu Cha Vincent về làm việc trong bộ xá giải tông
truyền và như là một Trưởng Điện Tông Tòa. Nhưng tân giáo hoàng không chịu
từ chức trong khi tất cả các ứng viên hồng y trong mật nghị viện đều nhất
loạt truất phế. Thế nhưng dẫu cho hầu hết các hồng y và vua nướp Pháp phế
bỏ, ngài vẫn ngoan cố bất chấp không chịu từ chức. Nên cha Vincent vỡ mộng
trở bệnh nặng, nhưng sau cùng ngài đảm nhận việc “rao giảng Chúa Kitô cho
thế giới.”
Vào những năm 1408 đến 1415, cha Vincent cố gắng thuyết phục người bạn cũ
(Beneđíctô 13) từ chức nhưng bất thành. Sau cùng ngài kết luận rằng
Bênêđíctô không phải là đức giáo hoàng thật. Mặc dầu đang lâm bệnh nặng,
ngài cũng ráng hết sức lên tòa giảng ngay trước mặt giáo đoàn mà Bênêđíctô
đang chủ sự mạnh mẽ tố giác người đã tấn phong linh mục cho ngài. Bênêđíctô
vội vã bỏ trốn khỏi những người trước đây đã từng hỗ trợ mình. Có điều kỳ
lạ, là cha Vincent không phải thuộc phần tử của Công Đồng Constance (Công
Đồng Constance năm 1414 đến năm 1418 do Hoàng đế Segismunđô triệu tập: nhằm
bãi nhiệm 3 Đức Giáo Hoàng đang tranh chấp nhau, chấm dứt tình trạng ly giáo
ở Tây Phương, lên án Wiclef và Huss. Công Đồng bầu chọn Tân Giáo Hoàng
Martinô V), thế mà đã góp phần chấm dứt cuộc ly giáo, bất kể thời ấy trải
qua cuộc canh tân nào trong Giáo Hội đều tùy thuộc vào sự hàn gắn ly giáo.
Cha Vincent sống cho tới ngày chứng kiến bầu chọn Đức tân giáo hoàng Martin
V.
Đời Linh Mục
Vincent là một nhà thuyết giảng hăng say và tài ba, suốt 20 năm cuối đời,
ngài giảng truyền Tin Mừng Phúc Âm khắp cõi Miền Nam Âu Châu; Tây ban nha,
Pháp, Ý, Đức, Belgium, Úc, Thụy điển, Lombardy và các vùng phụ cận. Giống
như một Gioan Tẩy Giả khác được mệnh danh là một thiên sứ thần thông lướt
băng qua hoang địa tội lỗi, kêu gọi người ta ăn năn sám hối, run sợ ngày
công phán, dọn đường ngay thẳng để đón Chúa, nếu không có lý do nào khác,
hầu hết các tội nhân mới đầu lắng nghe các bài giảng của ngài đều thống hối
từ bỏ tội lỗi và yêu mến Thiên Chúa. Ngài còn xác nhận rằng ngài chính là
“Thẩm Phán Thiên Thần – Angel of the Judgment,” được nhắc tới trong Sách
Khải Huyền của Thánh Gioan Tông Đồ (Kh 14:6-7), nếu dân chúng không chịu ăn
năn cải thiện đời sống thì cuộc chung thẩm sắp xảy ra tới nơi.
Việc thuyết giảng của ngài thực lạ lùng nhưng sinh hiệu quả kỳ diệu đến độ
mỗi lần thánh Vincent lui tới đâu thuyết giảng, lập tức thu hút khá đông dân
chúng hàng vạn, hàng ngàn, và ít nhất có tới 10,000 người, 50 linh mục lũ
lượt di hành theo từ nơi này qua nơi khác, thậm chí ngay cả những người ở
cách xa đó cả ngàn dặm hay tin cũng tấp nập rủ nhau tới nghe ngài giảng, đến
nỗi các nhà thờ chưa kịp mở cửa đã có sẵn đám đông dân chúng túc trực chật
ních ở ngoài từ bao giờ, dẫu nhà thờ có rộng lớn bao nhiêu mấy cũng không đủ
chỗ chứa họ. Cộng đoàn linh mục hát Kinh Thần Vụ, hát Lễ hằng ngày, và cử
hành các bí tích cho những người đã hoán cải nhờ nghe cha Vincent thuyết
giảng.
Từng đoàn người nam - nữ khác biệt từ khắp nơi vừa di hành chân không vừa
đánh tội cầu nguyện râm ran từ hết đường phố này sang tới thành phố khác. Họ
dạy giáo lý khi cần thiết, thành lập các nhà thương - bệnh xá, và làm sống
lại một đức tin vốn có trước kia nhưng đã bị tắt rụi vào thời kỳ mắc nạn
dịch bệnh. Tương tự như Tiên Tri Giôna cảnh báo thành Ninivê, dân chúng liền
cải thiện đời sống, và thế giới được tha rồi tồn tại đến hiện nay ra sao -
phần lớn cũng nhờ vào một trong những vị ngôn sứ này! Thế nhưng, ngày nay ít
có mấy người biết đến hoặc chưa hề nghe nói tới thánh Vicentê Fêrrê!
Thể theo sự thỉnh cầu của hàng giáo mục, giáo sĩ và dân chúng Valencia, ngài
được triệu hồi về bản quốc, tiếp tục đôi việc của ngài là giảng dạy và
thuyết pháp với danh tiếng lẫy lừng như thế, chứng tỏ cho thấy người tham dự
cùng được chung hưởng phép lành của Đấng Toàn Năng, mà ngài tôn thờ khắp đất
nước vượt trên những gì có thể tưởng tượng ra được. Để thử đức khiêm nhượng,
Thiên Chúa cho phép một đồng bọn của satan đến quấy phá cám dỗ ngài phạm tội
nhục thể, và vây phủ lấy ngài những tư tưởng xấu xa dơ bẩn bất chính. Những
vũ khí mà thánh nhân chống lại quỷ dữ là ăn chay, cầu nguyện và ngài tỉnh
thức không ngừng mỗi khi bốc cơn mê dục.
Phải nói là một khi càng thăng tiến trong nhân cách thì trông ngài càng đẹp
và rạng rỡ thêm ra, phản ánh vẻ đẹp của một tâm hồn ngập lút tình thương
Thiên Chúa. Cả khi về già vẻ đẹp rạng rỡ này cũng không hề tàn phai. Tuy
vậy, mỗi khi ngài thuyết giảng về Mẹ Thiên Chúa hay các niềm vui Thiên Đàng.
Ngài đặc biệt tỏ ra Say mê và hoan hỷ như một trẻ thơ biệt sùng Mẹ Maria
vậy, nhất là vào lúc mà các tín hữu nguyện kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng.
Tâm hồn của ngài luôn luôn hướng về Thiên Chúa và cầu nguyện liên lỉ trong
công việc bổn phận, trong lao nhọc, và trong mọi hành động. Những thao tác
của ngài tương tự như trong tập sách để lại cho mọi Kitô Hữu với nhan đề,
KhảoLuận về Đời Sống Thiêng Liêng, ngài viết như sau: “Con có muốn học hỏi
để có lợi cho con không? Con hãy tôn vinh (Chúa) khi học hỏi và nên học ít
đi để nên thánh chứ không phải học để thành người uyên bác..”
Thử suy gẫm một số câu văn (tư tưởng) trong tập sách tuyệt diệu này. “Công
đức không phải vì con người nghèo khổ nhưng một khi họ (ở trạng thái) nghèo
khổ mà lại yêu mến đức khó nghèo “Một câu hỏi vô bổ chỉ nên đáp lại bằng yên
lặng… Cho nên con hãy học yên lặng một thời gian; anh em con sẽ cảm phục con
và sự yên lặng sẽ dạy con lên tiếng khi cần phải lên tiếng.” “Con hãy tự coi
mình là dơ bẩn và hèn hạ trước mặt Chúa vì tội lỗi của con hơn bất cứ người
tội lỗi nào, bất kể tội của họ là gì đi nữa... và hãy suy nghĩ thật kỹ càng
rằng bất cứ một ân sủng hay một khuynh hướng tốt lành nào hoặc một sự ham
muốn sống nhân đức, thì đó không phải là do tự con mà có mà do lòng thương
xót duy nhất của Chúa Kitô mà thôi.” “Con nên nhìn nhận rằng bất cứ một tội
nhân nào đã phạm những tội tầy đình cũng có thể phụng sự Chúa tốt hơn con
nếu họ cũng nhận được những ân sủng như con.” “Một khi thủ đắc được khiêm
nhượng, thì đời sống bác ái sẽ đến - lửa sốt mến sẽ thiêu đốt hết những thói
hư tật xấu và tâm hồn con sẽ đầy tràn đức mến chẳng còn chỗ cho phù vân giả
trá.”
https://hddaminhthanhlinh.net/a650/thanh-vincent-ferrer-tuc-la-thanh-vincente-lam-phep-la
Đối với tín hữu Việt Nam, thánh Vincentê Ferriô đã thường được khấn như vị
thánh hay làm phép lạ. Cuộc đời của vị tông đồ Âu Châu, vinh quang của Giáo
hội, vinh dự của dòng giảng thuyết này cũng rất lạ lùng, Ngài chào đời tại
Valentia nước Tây Ban Nha ngày 23 tháng 01 năm 1350. Mặc dầu gia đình giàu
có, nhưng thân mẫu thánh nhân đã muốn tự mình nuôi dưỡng con.
Lên sáu tuổi, Vincentê cắp sách đến trường và đã tỏ ra có nhiều ân huệ đặc
biệt. Còn là một con trẻ ngây thơ nhưng Ngài đã có sức hấp dẫn lạ lùng.
Bạn trẻ thường vây kín quanh Ngài để tham dự một trò chơi diễn lại bài giảng
ở nhà thờ. Vincentê luôn diễn giảng chính xác và hùng hồn một cách đáng ngạc
nhiên.
Mười hai tuổi thánh nhân theo môn triết học, mười bốn tuổi Ngài học thần
học. Người ta kể rằng vào lúc này, đã một lần thánh nhân làm cho một đứa trẻ
đã chết sống lại. Câu chuyện xảy ra khi những đứa bạn xấu bày trò chết giả
và xin Vincentê thương giúp.
Nhưng đứa giả chết lại chết thật làm chúng phải kinh hoàng. Đáp lời van xin
khẩn thiết của chúng, thánh nhân đã cầu nguyện rồi cầm tay đứa chết cho nó
sống lại.
Lên mười bảy tuổi, Vincentê đã được các giáo sư coi như ngang hàng với mình.
Đây là lúc Ngài phải quyết định hoặc làm giáo sư tại Roma và lập gia đình,
hoặc là theo đuổi lý tưởng tu dòng. Thánh nhân đã quyết định gia nhập dòng
thánh Đaminh. Đầy xúc cảm và hãnh diện, ngày 05 tháng 02 năm 1367, ông thân
sinh đã dẫn Ngài tới cha bề trên dòng Đaminh ở Valentina.
Nhưng chưa được một năm, thân mẫu Ngài lại luyến tiếc tương lai rực sáng của
con, và đã cố gắng đưa con trở về lại thế gian. Thoạt đầu Vincentê có cám
dỗ, nhưng sau đó Ngài đã thốt lên câu nói làm đà tiền cho suốt cuộc đời:
- Lạy Chúa, con chọn Chúa mãi mãi.
Ngài được đưa về Barcelona và năm1370 đã trở thành giảng viên triết học tại
dòng Đaminh ở tại Lerida. Năm 1373, khi trở lại Barcelona để học tiếng Ả rập
và Do thái Ngài đã trở thành nhà giảng thuyết lừng danh.
Năm 1377, Vincentê được gọi sang Toulouse để học thêm. Mới đây Ngài kéo được
sự chú ý của đức hồng y Pedro da Luna, vị đại diện của phản giáo hoàng tương
lai ở Avignon. Từ năm 1385 tới năm 1930 thuyết giảng thần học ở nhà thờ
chính toà Valentina và sau đó vào nhóm với Hồng Y Pedro Da Luna.
Ngài nhiệt tâm rao giảng nhất là cho dân Do thái và dân Mô (Maures). Ngài đã
cải hóa được một thày Rabbi ở Valladolid, người sau này trở thành giám mục
Phaolô miền Burgos và cùng với thánh nhân can đảm trong nỗ lực cải hoá người
Do thái ở Tây Ban Nha.
Từ năm 1391 Yolanda ở Aragon. Thời kỳ này, Ngài bị tra vấn vì rao giảng sự
thống hối. Pedro Da Luna, người đã được chọn làm giáo hoàng Benedictô XIII ở
Avignon đã cứu Ngài khỏi bị xử án và mời Ngài về giáo triều làm cha linh
hướng và cha giải tội.
Tỉnh ngộ trước những nỗ lực nhằm hàn gắn sự phân rẽ giữa Roma và Avignon,
thánh Vincentê được thị kiến thấy Chúa Giêsu ở giữa thánh Phanxicô và thánh
Đaminh sai đích danh Ngài đi rao giảng sự thống hối. Tháng 11 năm 1399 được
Đức Bênêdictô XIII cho phép làm việc này, Ngài đã rao khắp miền Tây Âu để
rao giảng cho tới ngày lìa trần. Từng đoàn hối nhân từ 3000 tới 10.000 người
theo Ngài và đánh tội.
Năm 1416, Ngài rút lại sự ủng hộ của mình và của vương quốc Aragon đối với
Đức Bênêdictô XIII vì vị phản giáo hoàng ở Avignon không nghiêm chỉnh để hàn
gắn sự phân rẽ khi từ chối đòi hỏi thoái vị công đồng Constance đưa ra.
Quyết định của thánh Vincentê có ảnh hưởng tới việc thoái vị của Đức
Bênedictô và giúp dễ dàng chấm dứt sự phân rẽ.
Thành quả thánh Vincentê thực hiện được thật lớn lao. Đối lại, thánh nhân đã
phải chịu biết bao nhiêu là đau khổ thử thách. Chúng ta đã nói đến thử thách
buổi đầu khi Ngài chọn đời sống hiến dâng. Lời vu oan đuổi theo từng bước
chân Ngài và các tội nhân cứng lòng tìm hết cách để tiêu diệt Ngài. Chúng ta
nhắc lại đây hai trường hợp:
Một phụ nữ dâm dật lẻn vào phòng Ngài, nhưng thánh nhân thay vì chiều theo
những đề nghị của chị ta, đã giảng giải cho chị biết rõ sự nguy hiểm bị hư
mất đời đời, khiến chị ta quỳ gối dưới chân Ngài xin lỗi rồi rút lui vào một
tu viện để đền tội.
Một phụ nữ khác giả bệnh để mời Vincentê đến. Vừa thấy Ngài tới phòng, chị
ta không một chút hổ thẹn đã tỏ rõ ý định của mình. Thánh nhân lập tức rút
lui. Giận dữ chị ta vu cáo rằng: thánh nhân đã dám xâm phạm tiết hạnh chị.
Nhưng về sau chị đã thú nhận tất cả và công khai đền tội.
Vượt qua được những thử thách, thánh Vincentê còn có những bí quyết để thành
công, chẳng hạn trong việc học hành Ngài cho biết: - "Muốn thành công trong
việc học hành hãy tham khảo thánh kinh hơn là sách vở. Hãy khiêm tốn xin
Chúa ơn được thông hiểu điều bạn đọc, học hành làm mệt trí và làm khô cứng
cõi lòng. Bạn thường xuyên đến dưới chân Chúa Giêsu để phục hồi sinh lực".
Thực hiện lời khuyên của mình, thánh nhân dọn bài giảng dưới chân thánh giá,
kèm theo những hành vi sám hối cực khổ. Khi nói với dân chúng Ngài lại quỳ
trước thánh giá như thể mọi vinh dự chỉ thuộc về Chúa Kitô mà thôi.
Cuộc đời luôn ướp đặm trong tình yêu Chúa, khiến Ngài được ví như thiên thần
Chúa trong buổi lễ Hiện xuống: để trả lời cho đám đông dân chúng nhiều miền
khác nhau ngạc nhiên vì hiểu được Ngài, Ngài nói: - Tôi nói tiếng mẹ đẻ của
tôi, thứ tiếng độc nhất mà tôi biết với một ít tiếng Latinh và tiếng Do
thái. Vậy chính Thiên Chúa thân hành giúp các bạn hiểu được.
Các thôn xóm nào đông mỗi khi nghe tin thánh Vincentê sắp đến: công nhân
nghỉ việc, thương gia đóng cửa tiệm buôn, thầy dạy bãi khóa... để đi nghe
giảng bất kễ trời mưa hay nắng. Thánh nhân nhiệt tâm nói về sự chết và hỏa
ngục.
Nhiều tiếng khóc than nức nở cắt ngang lời Ngài khiến Ngài cũng phải khóc
theo. Người ta nói rằng nhiều tội nhân nghe lời giảng của Ngài đã ngã chết
vì đau đớn rồi hiện về cho biết lòng thống hối đã làm cho họ đáng được hưởng
Nước thiên đàng.
Chấm dứt bài giảng, thánh nhân tiếp tục ngồi tòa để phục sinh các tâm hồn.
Hay nói về sự chết và hỏa ngục nhưng thánh nhân cũng thường dùng tính hài
hước để sửa dạy các tâm hồn. Ngày nay người ta còn nhắc lại mãi câu chuyện
của một phụ nữ. Nàng đau buồn nhiều vì tính nóng nảy của chồng, nhưng không
biết dẹp tính bép xép của mình. Thánh nhân khuyên nhủ nàng:
- Đây là phương thế có thể sửa đổi tính nóng của chồng chị. Ra về chị hãy
xin thày giữ cửa một bình kín ở giếng nhà dòng. Mỗi khi chồng về nhà, chị
hãy uống một ngụm, nhưng đừng đừng nuốt ngay và ngậm càng lâu càng tốt. Giữ
mãi được như vậy, chồng chị sẽ hiền lành như một con chiên.
Sau một thời gian kết qủa thật khả quan. Người chồng hoàn toàn thay đổi và
người phụ nữ tới cảm ơn thánh nhân, vì phương dược thần hiệu đã tiêu diệt
được mọi cuộc cãi vã. Phương ngôn Tây Ban Nha còn nói: - Hãy uống nước Thày
Vincentê
Một người trong cơn thù hằn đã không muốn tha thứ cho người thợ đóng giày.
Thánh nhân bảo:
- Hãy tha thứ cho chính mình. Ông đang gậm nhấm lòng mình vì không quan tâm
đến linh hồn hư mất trong khi vẫn ăn uống và phí phạm thời gian.
Người đó đành thú nhận:
- Vâng, tôi hiểu rằng: ghen ghét như vậy là khùng.
Ngoài nhiệt tình và tài hùng biện đã mang lại thành công cho thánh Vincentê,
còn phải kể đến những phép lạ mà Chúa đã làm qua tay thánh nhân. Ngài đã làm
vô số những phép lạ. Chỉ nguyên việc điều tra ở Avignon và một vài thành phố
khác cũng ghi lại được hơn 860 phép lạ thánh nhân đã làm. Chúng ta ghi một
vài sự kiện:
Ở Morella, thánh Vincentê đã cứu sống một đứa trẻ mà người mẹ nó trong một
cơn điên, đã giết rồi đem nướng.
Ở Pampeluna Ngài đã dạy một người bị xử tử oan uổng nói lên sự thật.
Ở Vannes Ngài đã bảo một em bé da đen mới sinh nói rõ ai là cha mình, để
giải tỏa nỗi lòng đau khổ của người mẹ vì bị chồng nghi ngờ... tuy nhiên
chính cuộc sống của thánh Vincentê đã là một phép lạ với những chuyến đi
khắp nơi bất kể thời tiết và với việc ăn chay, cuộc sống khắc khổ không
ngừng.
Năm 1417 bá tước miền Bretanghe mời thánh nhân tới lãnh điạ của mình. Giữa
cuộc tiếp rước long trọng, Ngài đã yếu đuối khó đứng vững nổi, nhưng mỗi khi
làm việc, một sinh lực mới khiến Ngài hăng hái hoạt động như hồi thiếu niên,
để rồi khi xong việc sức lực Ngài lại tàn tạ như cũ. Ròng rã hai mươi tháng
như vậy, thánh nhân đã nỗ lực cải hoá miền Bretagne và
Normandie.Cuối cùng Ngài mới trở về Valentia. Nhưng tới Valentia Ngài kiệt
sức và qua đời ngày 05 tháng 04 năm 1419.
http://www.cdcgtphero.de/hanhcacthanh.php?A=4/vinhson
1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ
Vinxentê Phêrê (tiếng Tây Ban Nha: Vicente Ferrer), sinh tại Valence (Tây
Ban Nha) năm 1350. Ngài vào Dòng Đa Minh lúc mười bảy tuổi. Sau khi học xuấc
sắc triết học và thần học, ngài được thụ phong linh mục năm 1378 và đỗ tiến
sĩ thần học tại Lérida. Sau vài năm giảng dạy và thuyết giảng tại Valence,
kể từ năm 1399, ngài sống đời thuyết giáo, chu du khắp Tây Ban Nha, Pháp,
Thụy Sĩ, Ý và Ái Nhĩ Lan... Chỉ cái chết mới chấm dứt một đời rong ruổi.
Châu Âu lúc đó bị xâu xé bởi cuộc chiến Trăm Năm (1337 – 1453). Cuộc chiến
đã khiến Pháp và Anh đối đầu nhau; Hội Thánh bị phân hóa do cuộc đại ly giáo
ở Tây Phương (1378 – 1417); cuộc Đại Ly khai với hai rồi ba Giáo Hoàng cạnh
tranh nhau, cho đến khi Công Đồng Constance (1414 – 1418) chấm dứt cuộc ly
giáo, nhờ bầu được Đức Giáo Hoàng Martin V vào năm 1417.
Vào thời đại quá nhiễu nhương, Vincent Ferrier đi khắp châu Âu kêu gọi sự
hoán cải và hòa giải. Tài hùng biện, sự thánh thiện, các phép lạ và danh
tiếng của ngài lan tràn khắp nơi, tất cả đã làm rung chuyển lục địa này.
Nhiều đoàn dân theo người, vì thế các “tu hội” được thành lập như: Dòng “Anh
Em Đánh Tội – les Flagellants”. Họ mang áo đen và trắng vừa hành xác vừa hát
lời ca này: “Vinh danh sự thương khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta và lạy
Chúa, xin dủ lòng thương xót, xóa các tội lỗi chúng con !”
Người ta gọi Vincent là “Thiên Sứ thời phán xét” vì vào thời tao loạn ấy,
thánh nhân xuất hiện như nhà thuyết giảng về ngày thế tận. Từ đó, thánh nhân
đã chinh phục vô vàn người trở lại, kể cả người Do Thái, người Maures và các
người lạc giáo. Sau cùng, ngài mang hòa bình khi giữ vai trò trung gian
trong cuộc chiến Trăm Năm. Ngài đóng góp công sức vào việc giải quyết cuộc
đại ly giáo ở Tây Phương, khi tham dự Công Đồng Constance.
Vincent Ferrier qua đời vào tuổi bảy mươi, tại Vannes miền Bretagne, lúc
đang thi hành nhiệm vụ sau chuyến đi giảng Mùa Chay. Ngài được Đức Giáo
Hoàng Calixte III phong hiển thánh năm 1455 và nhận tước hiệu là vị Tông Đồ
của Châu Âu. Người Tây Ban Nha và Pháp tranh chấp về di hài của thánh nhân.
2. Thông điệp và tính thời sự
Đức Giáo Hoàng Calixte III, khi phong Vincent Ferrier lên bậc hiển thánh, đã
ví người như một Thiên sứ đang bay lượn và gieo vãi Tin Mừng khắp nơi. Vì
thế nghệ thuật ảnh tượng đôi khi biểu hiện ngài với đôi cánh và tay cầm
Thánh Giá.
a. Lời nguyện đầu lễ trong ngày kính nhớ thánh Vincent nêu
rõ nhiệm vụ rao giảng của ngài là loan báo Đức Kitô lại đến như “vị thẩm
phán”. Cũng thế, tin mừng Thánh Lễ (Lc 12,35-40) gợi lại cuộc quang lâm của
Đức Kitô: ...Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn... Anh em cũng
vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.
Tuy nhiên, đối với ai hỏi ngài về các dấu chỉ của cuộc phán xét sau cùng ấy,
ngài trả lời rằng không có dấu chỉ nào hơn lòng bao dung của Thiên Chúa ban
cho chúng ta.
b. Trong khảo luận về đời sống thiêng liêng, xuất
bản khoảng năm 1410, thánh Vincent kêu gọi các nhà mục tử tâm hồn nên có một
tấm lòng tràn đầy dịu dàng và thương xót. Ngài viết: “Khi giảng dạy khuyên
lơn, bạn hãy dùng lời lẽ đơn sơ... hãy nói thế nào cho người ta thấy lời lẽ
của bạn không phát xuất từ một tính khí kiêu căng giận dữ, nhưng do một tấm
lòng yêu thương đầy tình phụ tử. Hãy nên như người cha đau đớn vì con cái
mắc tội ... người cha ấy sẽ ấp ủ nó như một bà mẹ. Lúc giải tội cũng thế:
nhẹ nhàng khích lệ kẻ nhút nhát, lúc nào bạn cũng hãy tỏ ra là một người đầy
yêu thương trìu mến...” (các bài đọc Kinh Sách). Như thế, thánh Vincent hoàn
toàn xứng đáng với danh hiệu “Thiên Sứ của ngày phán xét” và đã nhận được sự
khôn ngoan cùng vinh dự khi chỉ cho chúng ta thấy một Thiên Chúa đang đến
“xét xử” trần gian, nhưng để cứu trần gian, như bài đọc trong Thánh Lễ đã
nêu lên: Đây là lời của vị chứng nhân trung thành và chân thật...: Này đây
ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người
ấy ... Ai thắng, Ta sẽ cho ngự bên Ta trên ngai của Ta. (bài đọc một: Kh
3,14 ...22). Vincent có nghĩa là “người chiến thắng”; để làm kẻ chiến thắng
chỉ cần đứng bên cửa và lắng nghe tiếng gõ. (xem thêm bài tin mừng Thánh Lễ:
Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ
cửa, là mở ngay ... (Lc 12,35-40).
Enzo Lodi
https://www.kath-vietnamesen.de/phung-vu-2/05-04-thanh-vixente-phere-linh-muc-1350-1419-le-nho-tuy-chon/
Thánh Gioan Lasan
7/4 Thứ Ba

Gioan Lasan ( Jean Baptiste de Lasalle) chào đời ngày 30/4/1651 tại thành
Rheims_Pháp, trong một gia đình trưởng giả. Cha là thẩm phán tòa án thành
Rheims, mẹ là con gái nhà quý tộc. Ngay từ thưở thơ ấu Gioan đã thích những
việc đạo đức.
Lên 10 tuổi Gioan bắt đầu học lớp đệ lục tại Rheims. Năm 1662, Gioan nhận
phép cắt tóc được chính thức công nhận là ứng sinh gia nhập vào hàng ngũ
giáo sĩ. Chưa đầy 16 tuổi Gioan đã lãnh nhận chức Kinh Sĩ và lãnh bằng M.A
hạng tối ưu, kết thúc quãng đời học sinh năm 1669 ( 18 tuổi)
Gioan học đại học Rheims được một năm, đến tháng 10/1670 thì theo học tại
đại chủng viện Sulpice ( Xuân Bích) do các linh mục tu hội Xuân Bích điều
khiển.
Năm 1671, được tin mẹ mất và chưa đầy 9 tháng sau, cha của Gioan cũng qua
đời. việc học vì thế bị gián đoạn, Gioan trở về nhà chăm lo việc gia đình.
Năm 1672, Gioan lãnh nhận chức phụ phó tế trong nhà nguyện Đức TMG tại
Cambrai. Mùa thu năm 1673, công việc trôi chảy nên Gioan tiếp tục việc học.
Tháng 8/1675 Gioan lấy được bằng cử nhân thần học. một năm sau lãnh nhận
chức phó tế và ủy quyền giám sát các em của mình lại cho ông cậu. đến năm
1678, Gioan được thụ phong linh mục trong dinh Đức TGM thành Rheims đồng
thời nhận bằng tiến sỹ thần học năm 1680.
Những năm đầu đời linh mục, Gioan đã gặp khó khăn trong việc thương thuyết
xin chính quyền công nhận hội dòng “các chị em Chúa Giêsu Hài Đồng” chuyên
giáo dục những em gái nghèo do cha Nicolas trao phó cho Gioan trước khi ngài
mất. cha Gioan đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, cha thường đến dâng lễ và giúp về
phần thiêng liêng cho các chị em. Cha Gioan ngày ngày dâng lễ với cung cách
trang nghiêm sốt sắng nên thu hút được nhiều người và cảm hóa nhiều người
khô khan nguội lạnh.
Ngày 15/4/1679 trường Kitô đầu tiên dành cho con trai nghèo được thành lập
cùng bao khó khăn thiếu thốn. đến khoảng cuối năm 1679 thêm hai trường nữa
được thành lập và rất thành công. Tuyn nhiên người quản lý các trường là ông
Nyel không lo huấn luyện các thầy giáo nên về sau các thầy giáo trở nên cẩu
thả, học sinh ngày càng khó trị và vô kỉ luật. Tất cả những gì tốt đẹp xây
dựng bấy lâu sắp tan thành mây khói. Cha Gioan quyết định đưa các thầy giáo
về sống trong nhà mình để có thêm thời gian lo cho các thầy giáo và huấn
luyện họ trở thành một cộng đoàn cùng chung ý hướng và tôn chỉ. Mặc cho gia
đình phản đối cha vẫn giữ nguyên quyết định thực hiện, từ bỏ thế giới sung
túc để sống trong thế giới của người nghèo. Xây dựng trường học, huấn luyện
các thầy giáo, tiến hành cải cách nền giáo dục Kitô cho trẻ em nghèo…Cha
Gioan đã gặp không biết khó khăn, gian nan trong việc thành lập hội dòng, mở
rộng các trường học khắp các miền thành Rhiems, Paris, Vaugirard…Cha đã vượt
qua tất cả sự chống đối, nhục mạ và kiện tụng, có những lúc rơi vào tình
trạng khủng hoảng tưởng chừng như hội dòng sắp tiêu tan…
Có thể nói Cha Gioan đã hi sinh tất cả để chăm lo cho các em trường Kitô và
hội dòng trong suốt quãng thời gian từ năm 1680 đến năm 1719. Công lao sáng
lập, gây dựng của Cha thật lớn lao cho một nền giáo dục nhân bản và Kitô.
Về phần mình Cha Gioan luôn sống khắc khổ, ăn chay, hãm mình. Mặc cho đau ốm
bệnh tật suýt chết, cha vẫn khó nghèo trong luật lệ do chính mình soạn thảo
ra, sống hết mình, vâng phục để làm vinh danh Chúa theo khả năng mình và
theo thánh ý Người.
Về cuối đời. cha Gioan sống trong bệnh tật khắc nghiệt, phải chịu nhiều đau
đớn nhưng cha vẫn trung thành với Chúa cho đến cùng. Khi đang trong cơn đau
sắp chết vì một số hiềm khích lúc trước mà có người hại Gioan, kết cuộc
Gioan bị treo chén. Đây là tủi nhục cuối cùng mà Gioan phải đón nhận. như
bao lần trước ngài vẫn cất tiếng: “ Xin chúc tụng Chúa” vào thứ 6 tuần
thánh, ngày 7/4/1719 Gioan trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 68 tuổi.
Đến 5/1840 hồ sơ phong thánh của người được nộp cho Tòa Thánh. Các sách vở
người viết được nộp cho Tòa Thánh cứu xét. Ngày 12/1/1852, Tòa Thánh công
nhận các bản văn này phù hợp với tín lý của Giáo Hội. Ngày 1/11/1887, Toà
Thánh công nhận 3 phép lạ do lời chuyển cầu của Ngài và Ngài được Đức Thánh
Cha Leo XIII nâng lên hàng Á Thánh ngày 19/2/1888. Sau đó Tòa Thánh công
nhận thêm 2 phép lạ nữa do Ngài cầu bầu giúp. Ngày 25/4/1900, Đức Thánh Cha
nâng ngài lên hàng các thánh và được chọn làm quan thầy các nhà giáo dục
trên toàn thế giới vào ngày 15/5/1950.
Công trình cả đời Ngài thâm tín là “ việc của Chúa – Domine, Opus Tuum” vẫn
được tiếp tục bởi nhưng người nối gót theo Ngài dấn thân cống hiến cho trẻ,
đặc biệt là con em người nghèo và lao động, một nền giáo dục nhân bản KiTô
trong hơn 300 năm qua ở hơn 80 quốc gia trên thế giới.
http://lasanbmt.com/tin-tc/tin-tc-la-san/598-tiu-s-thanh-gioan-lasan.html
|
Trong một thế kỷ ham chuộng tóc giả, phấn son cùng y phục xa hoa; ai
là người để ý tới kẻ săn sóc đám lê dân? Trong khi mà vua Louis thứ
XIV oai phong lẫm liệt giữa triều thần trong cung điện Versailles;
trong khi mà Giám mục Bossuet hấp dẫn mọi người chung quanh giảng
đài của ông; trong khi chiến thắng oanh liệt của hai ông Turenne và
Condé vang dội châu Âu; trong khi mà thi kịch gia
Corneille,Racine,La Fontaine chói lọi trên văn đàn; hỏi ai là người
đếm xỉa tới một Linh mục chạy ngược xuôi tổ chức các trường từ
thiện?
Đucmagnificat
Đám trẻ nhỏ không có ai dạy dỗ
Đi lang thang chập choạng bước lạc loài
Gặp Lasan, kẻ đã được Chúa sai
Như ngọn lửa bừng lên trong đêm lạnh.
Vâng, giữa lúc các trường công nước Pháp cấm dạy đạo, Chúa Quan
Phòng đã cho xuất hiện một vị Thánh chuyên lo giáo dục trẻ, khai mở
các trường Công giáo, vừa dạy chữ, dạy nghề, vừa huấn luyện đạo lý.
Đó là Thánh Gioan Baotixita La-san linh mục mà chúng ta mừng
kính hôm nay.
Thánh Gioan Lasan sinh ngày 30.4.1651 tại thành Reims(Pháp) trong
một gia đình giàu có, sang trọng và đạo đức. Người theo học tại
chủng viện Sulpice và thụ phong linh mục vào năm 1678. Nhờ ơn Chúa
soi sáng, Ngài thấy được con đường lý tuởng của Ngài. Đó là “đào
tạo giáo viên và mở trường dạy học”; một con đường với đầy những
khó khăn, gian khổ và đau thương ngập tràn khiến Ngài đã từng phải
thốt lên rằng: “Nếu tôi biết trước được công việc sẽ dẫn tôi đến
đâu, thì tôi sẽ không bao giờ đụng ngón tay vào…”Thế nhưng, từng
bước một và một cách tế nhị, kín đáo, Chúa dẫn đưa Người dần dần tới
chỗ lo cho việc giáo dục trẻ nghèo, một nhu cầu cấp bách của xã hội
đương thời.
Người đã thấy được hai thực thể:một thực thể tối thượng là Thiên
Chúa;và một thực thể thấp hèn là con em giới lao động.
Người đã nhận thức được hai sự thật: một là Thiên Chúa luôn luôn
muốn cứu sống hết mọi người; hai là trong khi ấy con em giới lao
động lại sống quá xa ơn cứu độ.
Và Thánh Gioan Lasan đã quyết định đem ơn cứu độ đến trong tầm tay
của trẻ hay nói đúng hơn là để bỏ ngỏ đời mình cho Thiên Chúa Quan
phòng cứu sống trẻ.
Chính vì thế, Người bán hết của cải, phân phát cho kẻ nghèo, tới
sống chung với một số giáo viên. Người đứng ra khai mở nhiều trường
Công giáo, dạy văn hoá, huấn luyện nghề nghiệp nhất là hướng dẫn
Giáo lý cho học sinh. Ngài ưu tiên cho học sinh nghèo, miễn phí cho
họ. Chính vì đó mà Ngài gặp hết khó khăn này đến khó khăn khác. Các
trường khác chống đối Ngài vì trường họ mất học sinh, nhất là vấn đề
học phí. Họ tố cáo Ngài, tổ chức cướp phá trường của Ngài. Chính
quyền ra lệnh cấm Ngài dạy miễn phí trong thành phố Paris. Nhưng
Thánh nhân vẫn không ngã lòng.
Trên hai vai nặng trĩu gánh học đường
Cha vững bước trong niềm TIN sắt đá,
Chén gian truân Cha nào đâu có sá,
Uống cạn ly vì hai chữ NHIỆT THÀNH.
Và thế là Ngài tiếp tục mở trường dạy miễn phí ở các nơi khác.
Lần lần với kinh nghiệm, ngài thấy rằng muốn cho công cuộc giáo dục
đạt kết quả tốt, chẳng những là phải có một đội ngũ giáo viên có học
thức cao mà cần nhất là đào tạo đức gương mẫu. Với ngưòi, nghề gõ
đầu trẻ không còn là một kế sinh nhai mà là một nghề cao quý, và hơn
nữa còn là một sứ mạng thiêng liêng.
Gõ đầu trẻ, một cái nghề bất hạnh
Sống qua ngày cho trọn kiếp tầm tơ
Nhưng này đây: một sứ mạng đang chờ
Cùng với Chúa dựng xây nhà Hội Thánh.
Vì thế, Ngài cầu nguyện với Chúa và quyết định biến đổi nhóm giáo
viên của Ngài thành một cộng đoàn tu sĩ chuyên lo việc giáo dục đào
tạo. Đó là Dòng Các Sư Huynh trường Kitô mà chúng ta thấy hiện có
mặt khắp các nước trên thế giới. Để giới hạn hội dòng riêng cho công
trình giáo dục, Ngài đã định không một sư huynh nào được làm linh
mục. Vì nếu làm linh mục thì các sư huynh phải lo việc mục vụ, không
đủ thời gian lo cho việc dạy dỗ giới trẻ. Chính Ngài đã chăm lo huấn
luyện đạo đức và nghiệp vụ cho các Sư huynh.Ngài thường nhắn nhủ:
“Anh em hãy suy nghĩ điều tông đồ Phaolô đã nói:Thiên Chúa đã đặt
trong Hội thánh có các tông đồ,các tiên tri và các tiến sĩ.Bây
giờ anh em cũng sẽ thâm tín rằng chính Chúa cũng đã đặt anh em trong
chức vụ đang ở.Về điều đó,chính vị Thánh ấy đã cho anh em một bằng
chứng khi nói: có nhiều tác vụ và nhiều công việc nhưng chỉ có
một Thánh Thần biểu thị trong mỗi ơn như vậy, để làm ích chung cho
toàn thể tức là cho cả Hội thánh.
Do đó, anh em không được nghi nan gì về ơn mà anh em đã được, là
giáo dục thiếu niên, rao giảng Tin mừng cho chúng và huấn luyện
chúng trong tinh thần đạo đức. Đó là ơn cao cả Thiên Chúa đã ban cho
anh em. Người đã gọi anh em đến chức vụ Thánh này. Vậy trong toàn
bộ việc giáo dục của anh em, anh em phải làm cho lớp thiếu niên
mà anh em có phận sự coi sóc, nhận thấy anh em chính là thừa tác
viên của Thiên Chúa,khi anh em chu toàn phận sự với tình
thương không giả dối và với sự chuyên cần chân thật. Hơn nữa,
anh em còn phải dấn thân vào chức vụ không phải chỉ là thừa tác viên
của Thiên Chúa mà còn là thừa tác viên của Đức Kitô và Hội thánh
nữa.
Anh em hãy thao thức làm cho thiếu niên đi vào cơ cấu của ngôi đền
thờ này là Hội Thánh, để một ngày kia chúng xứng đáng đến trước
toà Đức Giêsu đầy vinh quang, không tì tích, không nhăn nheo hay xấu
xa hầu chứng tỏ cho các thế hệ mai sau thấy các sự giàu sang phong
phú của ơn Thánh mà Thiên Chúa đã ban cho chúng, khi cho chúng
trợ giúp về giáo lý, lúc trao chúng cho anh em dạy dỗ và giáo dục để
chúng được phần gia nghiệp nước Thiên Chúa và của Đức Giêsu Kiô,Chúa
chúng ta”.
Cuộc đời của Gioan Lasan đầy gian truân thử thách và chịu nhiều áp
lực của thế quyền cũng như giáo quyền, nhưng Người vẫn luôn tin
tưởng và phó thác vào bàn tay Chúa Quan Phòng. Người mất ngày thứ
sáu Tuần Thánh 07.04.1719,tại Saint-Yon,thọ 68 tuổi. Lời cuối cùng
của Người nói lên được thái độ thâm sâu của Người trước cuộc đời: “Tôi
thờ lạy Thánh ý Chúa trong mọi sự đối với tôi”.
Chỉ bấy nhiêu việc cũng đủ ghi danh Người vào sử sách nhưng Người
còn làm hơn nữa, Người đã dựng cho các trường tiểu học một hệ thống
giáo dục mà nhiều điểm còn tồn tại tới ngày nay cho nên Người đã
được coi là Vị gầy dựng nên trường tiểu học. Các sử gia phải lấy làm
kinh ngạc khi thấy những nguyên tắc giáo khoa tân tiến ngày nay đã
được Người áp dụng cách đây hơn hai thế kỉ.
Gioan Lasan không còn nữa nhưng hệ thống giáo dục, những công trình
Ngài đã lao công vất vả để gầy dựng cũng như hội dòng Các Sư huynh
trường Kitô vẫn sống mãi theo thời gian. Vì lý do rất đơn giản: Còn
giới trẻ-Còn giáo dục;Còn giáo dục-còn các Sư huynh Lasan.
Chính vì thế,ngày 19.02.1888 Đức Giáo hoàng Léon XIII đã tôn phong
Người lên bậc Chân phước và lên bậc Hiển Thánh ngày 24.05.1900.
Ngày 15.05.1950 Đức Giáo hoàng Piô XII tôn phong Người làm Quan Thầy
các nhà giáo dục Kitô trên toàn thế giới.
Và công trình
của Thánh Gioan Lasan,một công trình mà ANH luôn thâm tín là việc
của Chúa-Domine,opus tuum-vẫn còn tiếp tục
qua các Sư huynh Lasan, con cái của ANH,
qua Chị em Lasan, con cháu của ANH,
qua các nhà giáo dục,những người thông dự vào đoàn sủng Lasan,
đang nối gót ANH
dấn thân cống hiến cho giới trẻ, đặc biệt con em giới nghèo và lao
động,
một nền giáo dục nhân bản và Kitô,
trong gần 350 năm qua trên 84 quốc gia trên thế giới.
Lasan
(Theo Dòng Lasan VN)
https://www.lsvn.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1172
Tinh Thần Đức Tin Giúp Gioan La San Vượt Qua Khó Khăn
Thử Thách
Là tu sĩ La San, là thành viên gia đình La San, là những người cảm
nhận mình đang bước trên hành trình phục vụ giáo dục nhân bản và
Kitô cho giới trẻ và trẻ nghèo, chúng ta có chung một niềm từ hào về
Cha Gioan La San, Đấng Sáng Lập Dòng La San. Một trong những điểm
nổi bật trong cuộc đời Cha Thánh Gioan La San đó là tinh thần đức
tin quả cảm của ngài.
Những suy trong bài này quy chiếu vào tinh thần đức tin của thánh
Gioan La San, nó không phải là một khảo luận nhưng chỉ là một suy tư
dựa trên các tư liệu của Dòng.
Nội dung bài suy tư này gồm 3 điểm chính: thứ nhất thánh Gioan La
San đã minh chứng một đức tin hùng hồn khi Ngài từ bỏ hết mọi sự để
theo Chúa. Tiếp đến, Ngài đã thể hiện niềm tin đó trong một cộng
đoàn liên kết cùng nhau thực thi thánh ý Chúa. Sau cùng, bài suy tư
bàn đến một đức tin rất quả cảm của thánh Gioan La San, không lùi
bước trước khó khăn thử thách.
Kể từ lúc đến sống chung với các thầy giáo năm 1682, Gioan La San đã
nhận thấy một thực trạng không mấy sáng sủa: Cộng đoàn không có tài
sản để bảo đảm cho tương lai, một số người bị cám dỗ không tiếp tục
ở lại. Cha Gioan La San đã khuyên họ tin tưởng vào Chúa Quan Phòng.
Nhưng tất cả lý do để đưa ra không thể nào thuyết phục được họ. Thật
khó cho cha Gioan La San, lời nói giờ đây đối với họ chỉ như “nước
đổ đầu vịt” họ cần một cái gì khác, bởi họ nhận ra trong lời cha
nói và cuộc sống tiện nghi của Cha có một hố sâu cách biệt. Họ cần
một con người bằng xương bằng thịt làm gương hơn là một lý thuyết xa
xôi trong sách vở, dù cho đó là lời lẽ trong Phúc Âm.
Phải trở nên nghèo như họ. Đó là ý tưởng đã không ngừng thách đố cha
Gioan La San khi ngài suy nghĩ, tự vấn bản thân về lời lẽ các thầy
đã từng nói: “Cha đâu thiếu thốn gì…. Chúng tôi là những kẻ không
tài sản”[1].
Sau khi đã suy nghĩ kỹ, cầu nguyện và đặc biệt xin ý kiến của cha
linh hướng, cha Gioan La San đã quyết định “từ bỏ mọi sự” để
theo Chúa Kitô khó nghèo, làm gương cho các thầy bằng cách lột bỏ
hết mọi bám của cải trần tục để chỉ còn bám víu vào Chúa Quan Phòng
mà thôi. Nếu không có tinh thần đức tin vững mạnh, cha Gioan La San
đã không thế quyết định từ bỏ ngoạn mục như thế được.
Chúng ta có thể theo dõi những khắc khoải của người cha đáng kính
của chúng ta khi quyết định dùng tài sản mà cha đã thấy rằng tài sản
đó không còn thuộc sở hữu của ngài nữa. Lời cầu nguyện trong khắc
khoải của ngài như sau:
“Chúa con ơi, con biết phải làm sao đây, nên hay không nên đầu tư
vào ngân hàng để kiếm tiền lời cho trường học. Việc lập các cộng
đoàn đâu phải chuyện con; con thực cũng đâu biết cách thức lập cộng
đoàn. Chỉ mình Chúa mới biết chuyện này, và chỉ chính Chúa mới biết
cách thực hiện như thế nào vừa ý Chúa. Con không dấm lập cộng đoàn
và cũng chẩng dám đầu tư, vì con không biết Chúa muốn gì. Thôi, con
không đầu tư đâu. Nếu Chúa đầu tư kiếm tiền cho trường, trường sẽ có
tiền; nếu Chúa không làm thì trường sẽ không có quỹ. Chúa ơi, con
van xin Ngài tỏ cho con biết thánh ý”[2]
Thế là cha Gioan La San đã quyết định trao lại cho Chúa tất cả tài
sản của cha bằng cách phân phát hết tất cả cho người nghèo. Thật lạ
lùng! Cho đến hôm nay, các sư huynh vẫn còn hưởng được tài sản mà
Cha Gioan La San đã ký gửi vào ngân hàng của Chúa.
Song song với việc từ bỏ tài sản, cha Gioan La San cũng từ bỏ chức
kinh sĩ, để từ giây phút đó, cha chỉ còn làm “công việc của Chúa”.
Chúa nuôi cha, chăm lo cho cha, cha chẳng thiếu thốn chi. Quả thật,
đức tin của cha Gioan La San thật tuyệt vời!
Một khi đã trao lại cho Chúa tất cả tài sản và việc “quản trị” công
cuộc của Dòng, Cha Gioan La San vững tin rằng, Chúa sẽ lo liệu mọi
thứ. Ngài không sợ hãi! Ai không thích hợp với ơn gọi mới này của
cha, cha sẵn sàng mở rộng đường cho họ đi. Không bao giờ cha sợ
thiếu người làm việc của Chúa trong Hội Dòng.
Anh em La San chúng ta mãi mãi mang trong lòng ký ức về Lời Khấn Anh
Hùng năm 1691 mà cha Gioan La San cùng với anh Nicolas Vuyard, và
Gabriel Drolin tuyên khấn.
Cha Gioan La San đang đứng trước những khó khăn như “ngàn cân treo
sợi tóc”, những khó khăn theo sự tường trình của tác giả Blain[3]. Sự
thành công của các trường La San ảnh hưởng đến “nồi cơm” của các
Trường Nhỏ. Tháng 2 năm 1690 họ gửi đơn kiện cha La San vì trường
của cha xâm phạm đến quyền lợi của họ. Ngoài khó
khăn từ bên ngoài này,còn có khó khăn từ bên trong,. Tại Reims, 8
trong số 16 anh em ở trong căn nhà Neuve bỏ đi vì sự cứng rắn của
anh bề trên Jean Henrry. Tại Paris, 2 anh em đã ở đó trước đây chống
đối cha Gioan La San vì ngài đặt một anh mới đến sau làm bề trên
cộng đoàn của họ trên đường Princesse.
Khó khăn càng lúc càng làm cho cha Gioan La San buồn thảm, vì một
mặt những khó khăn do các vụ kiện cáo từ các trường bên ngoài, mặt
khác con số anh em trong các cộng đoàn lại giảm sút, công việc xem
ra không tiến triển tốt. Nhưng không một thử thách hay đau khổ nào
có thể đánh gục được lòng tin tưởng mãnh liệt của cha Gioan La San
vào Thiên Chúa.
Với lòng lòng say mê cầu nguyện, ăn chay hãm mình, năng tìm thánh ý
Chúa, cha Gioan La San đã đi đến quyết định mà cha tin rằng đó là
thánh ý Chúa. Vì thế, để bảo đảm cho tương lai của cộng đoàn La San,
cha đã cùng với anh Nicolas Vuyard và Gabriel Drolin đã khấn Lời
Khấn Anh Hùng vào ngày 21.11.1691.
Lời khấn Anh Hùng này liên kết các thành viên lại với nhau để “tận
hiến hoàn toàn cho Chúa”, tự ràng buộc họ vào sự sống còn của
Dòng, bằng tất cả lòng nhiệt thành dấn thân. Ngay cả chỉ còn lại 3
người cùng khấn lời khấn này trong Dòng mà thôi, thậm chí chỉ “sống
bằng bánh mì mà thôi”.
Với lời Khấn Anh Hùng này, riêng với cá nhân cha Gioan La San, đây
là một quyết định tối quan trọng cho sự sống còn của công cuộc mà
cha tin rằng chính Chúa đã thiết lập. Đây chính là một quyết định
dấn thân và phó thác toàn vẹn cho Thiên Chúa, một quyết định dứt
khoát của niềm tin. Quyết định này nêu lên ý chí dũng mãnh của cha
Gioan La San trong niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng Quan Phòng công
cuộc mà cha được mời gọi cộng tác vào.
3/ Không Sợ
Hãi Khi Gặp Khó Khăn: Một Đức Tin Kiên Trì.
Vào khoảng năm 1702, một âm mưu được lập ra để chống đối cha
Gioan La San từ phía các linh mục, các nhà biên niên gọi tên những
người ấy là “những kẻ thù của tôi tớ Chúa”[4].
Họ tìm cách làm cho các Đức Hồng Y De Noiailles[5],
Tổng Giám Mục Paris tỏ ra khó chịu đối với Gioan La San. Thừa
dịp có 2 tập sinh than phiền về các khó khăn của họ trong cộng đoàn
trên đường Princesss nơi họ thực tập, cha Chétardie[6] chánh
xứ Saint-Sulpice đã viết một lá thư báo cáo lên Đức Hồng Y. Trong
thư báo cáo, cha này vu oan cho cha Gioan La San là “con người
bướng bỉnh về tình cảm, tự mãn, cứng rắn, không nhân từ với anh em,
nghiêm khắc phạt các lỗi nhẹ nhất và không tha thứ gì cho sự yếu
đuối của con người”[7].
Vì là người độc tài, lại là giám đốc Đại Chủng Viện Xuân Bích, cha
Chétardie muốn “nắm đầu” các sư huynh để điều khiển Hội Dòng
theo ý mình. Để làm được việc này, cha Chétardie đã sẵn sàng chà đạp
lên nhân phẩm của “người tôi tớ Chúa” là Gioan La San. Vì là
một nhà lý luận cố chấp. nên một khi cha Chétardie muốn hạ bề Gioan
La San, cha tìm đủ cách để thuyết phục Đức Hồng Y Noiailles dù kết
quả của lần điều tra đầu tiên có thuận lợi hay không.
Cha Pirot là Tổng Đại Diện được giao nhiệm vụ điều tra hiện tình của
bảng cáo trạng Gioan La San. “Cha Pirot chất vấn từng sư huynh và
chỉ nghe thấy những lời ca ngợi Gioan La San”[8].
Kết quả cuộc điều tra, cha Pirot rất có ấn tượng tốt với các sư
huynh. Tuy nhiên điều đó không đủ để thay đổi tình thế, Đức Hồng Y
vẫn quyết định đặt cha Bricot làm bề trên của các sư huynh, thay thế
cha Gioan La San. Làng sóng phản đối việc bổ nhiệm vị bề trên mới
bắt đầu dâng lên trong cộng đoàn các sư huynh. Mặc dù cha Gioan La
San đã “quỳ gối năn nỉ”
Tỉnh hình trở nên rất phức tạp vì: các sư huynh không chấp nhận vị
bề trên mới, nhưng cha Gioan La San lại không muốn anh em mình chống
lại phán quyết của giáo quyền. Giải pháp nào đây, thật là khó! Đó là
kể đến chuyện nỗi khó khăn do cha Gioan La San bị vu oan bởi “kẻ
thù” là cha xứ Saint Sulpice. Thêm vào đó, Cha Gioan La San có thể
lãnh hậu quả là bị cách chức và bị lưu đây, theo lời nói của cha
Pirot Tổng Đại Diện Giáo Phận Paris.
Đứng trước
nổi khó khăn này, Cha Gioan La San vẫn luôn giữ thái độ bình thản.
Cầu nguyện là phương thuốc duy nhất cha Gioan La San dùng để chữa
trị mọi nỗi âu lo và thử thách. Thế là, cha Gioan La San đã cùng với
anh em “cầu
nguyện suốt đêm ngày, không ăn, không uống, xin Chúa nâng đỡ trong
lúc âu sầu xao xuyến”[9]. Cuối
cùng giải pháp để giải quyết khó khăn cũng xuất hiện, cha Tổng Đại
Diện và cha chánh xứ Saint-Sulpice đã thương lượng với anh em một
giải pháp: là đặt cha Bricot là vị tân bề trên của anh em trên danh
nghĩa, và cha Gioan vẫn tiếp tục ở lại với anh em. Qua việc này,
đúng thật là có bàn tay can thiệp của Chúa để bảo vệ những con người
đang làm việc của Ngài khỏi sóng gió cuộc đời.
Nếu không có tinh thần đức tin vững mạnh, lòng kiên trì tín thác vào
Chúa, cha Gioan La San và anh em khó có thể vượt qua cơn đau khổ như
thể mà vẫn để lại trong lòng những người chống đối lòng cảm phục sâu
xa.
[1] Henri
Bédel, Dẫn Vào Lịch Sử Dòng Anh Em Trường Kitô:
Nguồn gốc (1651 -1726), Bản dịch Việt Ngữ, nội bộ,
[2] Sh
Fortunat Trần Trọng An Phong, Góp Nhặt, Nội
Bộ, 19
[3] Henri
Bédel, Dẫn Vào Lịch Sử Dòng Anh Em Trường Kitô:
Nguồn gốc (1651 -1726), Bản dịch Việt Ngữ, nội bộ,
120 -122
[4] Henri
Bédel, Dẫn Vào Lịch Sử Dòng Anh Em Trường Kitô:
Nguồn gốc (1651 -1726), Bản dịch Việt Ngữ, nội bộ,
167
[5] Đức
Hồng Y De Noiailles thuộc phái Jeanséniste xem Jean Pungier FSC, Một
Linh Đạo Dành Cho Các Giáo Viên và Các Nhà Giáo Dục, Nội Bộ, 11
[6] Cha
Chetardy không phải là người mời các sư huynh đến mở trường tại xứ
Saint Sulpice. Cha Barmondière trước đó 1 nhiệm kỳ mới là người mời.
[7] Henri
Bédel, Dẫn Vào Lịch Sử Dòng Anh Em Trường Kitô:
Nguồn gốc (1651 -1726), Bản dịch Việt Ngữ, nội bộ,
167
[8] Charles
Lapierre (1992), Cứ Theo Ta - Ngài La San, Bản
Việt Ngữ, Nội Bộ, Tỉnh Dòng LSVN, 95
[9] Henri
Bédel, Dẫn Vào Lịch Sử Dòng Anh Em Trường Kitô:
Nguồn gốc (1651 -1726), Bản dịch Việt Ngữ, nội bộ,
176
Thiên Văn
FSC
https://www.lsvn.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1492
|
“Thiên tài Sư Phạm”.
Quyển “Prions en Eglise” phổ biến khắp các nước nói tiếng Pháp, để các tín
hữu sử dụng trong Thánh Lễ hàng ngày, đã in trong những trang đầu một bài
tóm tắt nét độc đáo cuộc đời Thánh Gioan La San mang tựa đề “Génie
pédagogique” xin tạm dịch là “Thiên tài Sư Phạm”.
Để được người thời nay gọi “Thiên Tài Sư Phạm”, để được Đức Giáo Hoàng tôn
phong là Quan Thầy các Nhà Giáo dục, Gioan La san đã để các thầy giáo đầu
tiên chất vấn về quy chế và lời nói của Ngài. Trong một trang rất ngắn, tác
giả mô tả cuộc đời của Thánh Lập Dòng chúng ta và làm nổi bật sự phó thác
nơi Chúa Quan phòng của Gioan La San, không phải bằng lời rao giảng suông mà
bằng thực tế. Tôi xin tạm chuyển ngữ và chia sẻ cùng anh em là những người
nối nghiệp Gioan La San trên con đường giáo dục cho người trẻ và đặc biệt
người nghèo.
Làm sao để lời rao giảng có thể đáng tin, về tinh thần nghèo khó và phó thác
cho Chúa Quan Phòng, khi mà mình sống trong sung sướng và trong an toàn?
Trong rất nhiều tháng, câu hỏi nầy dày vò người kinh sĩ Gioan La San, kẻ
thừa kế một gia đình giàu có ở xứ sâm banh. Một thời gian ngắn sau khi Ngài
chịu chức linh mục vào năm 1678, cũng có hơi tình cờ, Ngài phụ giúp cho một
nhóm người sẽ trở thành những giáo viên của một trường miễn phí ở thành
Reims. Lo lắng về tương lai của mình, các thầy giáo khiêm tốn nầy một ngày
kia chất vấn thẳng thắn Gioan La San, về sự mâu thuẩn nầy, giữa cái quy chế
của Ngài và những lời nói của Ngài. Gioan La San đã cầu nguyện rất lâu giờ ,
bị chao đảo vì những bất an của Ngài. Sau khi đã nhận được lời khuyên, Ngài
từ bỏ phận vụ có lợi tức của chức kinh sĩ và sau đó phân phát tất cả
gia tài cho người nghèo. Một việc hy sinh thật khó hiểu, một sự vấp phạm đối
với gia đình Ngài cũng như đối với người dân trong môi trường của
Ngài!
Nhưng Gioan La San đã quyết định hiến mình trọn vẹn, không đem về cho mình
bất cứ điều gì có thể, đối với dự tính mà Thiên Chúa đã kêu gọi Ngài, đó là:
giáo dục nhân bản và Ki-tô cho trẻ em nghèo, và đào tạo các thầy có khả năng
dạy dỗ chúng. Vì ly’ do đó mà Dòng Anh Em Trường Ki-tô ra đời, mà Vị Sáng
Lập và các môn đệ của Ngài đã dấn thân bằng “Lời Khấn Anh hùng”, để duy trì
bằng bất cứ giá nào, cho dù phải vì đó mà “buộc phải đi ăn xin và chỉ sống
bằng bánh mì mà thôi”.
Những ngôi trường miễn phí cho con trai được mở ra tại thành Reims, rồi
Rethel, Guise, Laon…Và sau đó là đến Paris mà tại đó không biết bao nhiêu là
thử thách xảy đến với Gioan La San. Sự độc đáo về sư phạm và sự thành công
của những sáng kiến của Ngài gây nên sự ghen tuông, cáo gian và chống đối
dẫn đến cả việc kiện tụng! Vị Sáng Lập phải lánh đi Rouen, nơi đó Ngài tiếp
tục công việc của mình cho đến lúc qua đời vào năm 1719.
“Thiên tài Sư Phạm” như Chân Phước Gioan Phao Lô II đã gọi, Gioan La San
được phong hiển thánh vào năm 1900 và được tôn phong là Quan thầy các nhà
giáo dục vào năm 1950. Theo dấu chân của Ngài, các Anh Em Trường Ki-tô, hay
“La San” cố gắng là “anh em với nhau, là anh em với những người trưởng
thành, và anh cả của những người trẻ được trao phó cho các ngài” (hiện nay
có 5000 sư huynh hiện diện trên 80 quốc gia).
Xavier Lecoeur, Sử gia và phóng viên
Nhật Nhật Tân FSC (chuyển dịch)
https://www.lsvn.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1172
Thánh Stanislao (St. Stanislaus), giám mục tử đạo
Ngày 11/4 Thứ Bảy

I.
ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ
Thánh Stanislaô sinh năm 1030, gần thành phố Cracow, nước Ba Lan. Để
sinh hạ Stanislaô, song thân ngài đã phải liên lỉ cầu nguyện suốt ba
mươi năm trời. Lúc Stanislaô chào đời, song thân đã khấn dâng ngài cho
Thiên Chúa vì họ rất biết ơn có được mụn con. Khi lớn lên, Stanislaô
sang học ở Paris, nước Pháp. Sau khi song thân qua đời, Stanislaô đem
cho người nghèo tất cả tiền bạc và của cải mà song thân để lại cho ngài.
Sau đó, Stanislaô làm linh mục.
Năm 1072, Stanislaô được bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Cracow. (Sau
này, trước khi được bầu làm giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II cũng là Giám
mục của Giáo phận Cracow này.) Giám mục Stanislaô chiếm được tình cảm
của mọi người. Họ hết sức cảm kích trước cách thức ngài quan tâm chăm
sóc những người nghèo, những quả phụ và các trẻ mồ côi. Chính Stanislaô
thường hay tiếp đãi phục vụ họ.
Lúc ấy, Bôlêlô II làm vua nước Ba Lan. Nhà vua là người rất độc ác và
sống vô luân. Dân chúng chán ghét lối sống của vua và ghê sợ nhà vua.
Thoạt đầu, Giám mục Stanislaô sửa lỗi cho nhà vua cách tư riêng. Tuy
Stanislaô rất tử tế và lịch duyệt, nhưng ngài cũng nhận định hết sức
trung thực về việc làm sai trái của nhà vua. Vua có vẻ hối hận nhưng
chẳng bao lâu lại chứng nào lại tật nấy. Thậm chí vua đã sai phạm những
tội còn quái ác hơn! Chính vì thế mà Giám mục đành phải loại vua ra khỏi
Giáo hội. Vua Bôlêlô liền nổi cơn thịnh nộ. Để trả thù, nhà vua truyền
lệnh cho hai trong số những cận vệ của mình đến giết hại thánh
Stanislaô. Họ đã cố gắng đến ba lần nhưng đều thất bại. Rồi chính nhà
vua, trong một cơn cuồng giận, đã chạy vào nguyện đường của thánh Giám
mục. Vua đã giết chết thánh Stanislaô khi ngài đang dâng thánh lễ. Hôm
đó là ngày 11 tháng Tư năm 1079.
Chưa đã thỏa lòng giận dữ , ông còn chặt xác ngài thành ra thành nhiều
khúc rồi vứt ra ngoài đồng cho chim trời rúc rỉa. Nhưng bốn ngày sau,
trên trời chỉ có bốn cánh phượng hoàng bay lượn ngăn cản tất cả không
cho bất cứ con vật nào xâm phạm tới các thánh
Bấy giờ vua Bôlêlô mới tỉnh ngộ và hối lỗi. Ông cho tổ chức lễ an táng
thánh Stanislaô rất trọng thể. Xác thánh được liền lại như mới qua đời
vì bệnh tật và được chôn cất tại nhà thờ Chính tòa Krakow.
Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ sau khi thánh Stanislaô qua đời. Mọi
người đều gọi Stanislaô là vị thánh tử đạo. Năm 1253, Đức Thánh Cha
Innôcentê IV đã tôn Stanislaô lên bậc hiển thánh.
II. BÀI HỌC.
Bài học chúng ta có thể học nơi thánh Stanislaô là lòng can đảm khi phải
đương đầu với những khó khăn theo sứ mạng của mình.
Nếu thánh Gioan Tẩy Giả ngày xưa đã vì sứ mạng mà dám công khai lên án
việc làm sai trái của vua Hêrôđê để rồi phải nhận lấy cái chết đau khổ
trong ngục tù thì thánh Stanislaô chúng ta mừng kính hôm nay cũng vậy.
Vì là Giám Mục nên ngài có bổn phận phải bảo vệ và gìn giữ sự trong sáng
và thánh thiện của Giáo hội. Chính vì thế mà ngài không thể làm ngơ
trước những việc làm tồi tệ của vua Bôlêlô lúc đó. Mặc dù ngài biết hậu
quả của việc ngài phải làm sẽ như thế nào. Lịch sử còn ghi lại: Giám mục
Stanislaô đã phải nhận lấy cái chết còn đau khổ hơn nhiều, Thế nhưng đó
là cái chết vì bổn phận, vì sứ mạng tông đồ của Chúa Giêsu đúng như lời
Chúa đã nói tiên tri thuở trước.”Bấy
giờ, người ta sẽ nộp anh em, khiến anh em phải khốn quẫn, và người ta sẽ
giết anh em; anh em sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Thầy” (Mt 24, 9).
Quả thực thánh Stanislaô đã đạt tới vinh quang bằng con đường mà ai
trong chúng ta cũng có thể noi theo. Đó là con đường nên thánh bằng cách
chu toàn bổn phận Chúa trao phó. Mỗi người chúng ta sinh ra vào đời đều
được Chúa trao cho một sứ mệnh phải hoàn thành. Hoàn thành được sứ mạng
Chúa trao tức là chúng ta đã làm trọn thánh ý Chúa. Và đó chính là con
đường nên thánh hoàn hảo nhật.
Làm bất cứ bổn phận nào cũng có thể nên thánh
*Tác giá ĐHV nói:”Việc nhỏ, lòng nhỏ; việc lớn; lòng lớn; việc lớn, lòng
nhỏ; việc nhỏ, lòng lớn. Con hãy thực hành cách sau hết: Trung tín trong
việc lớn; để trung tín trong việc nhỏ, khó. Chúa khen kẻ thực hành cách
sau này. (ĐHV 807)
* Không có công việc nào hèn hạ chỉ có tâm hồn hèn hạ. (ĐHV 811)
Thánh Bonaventura (1221-1274) trước khi làm Hồng Y coi sóc Giáo phận, đã
làm Bề Trên Cả điều khiển Dòng Phanxicô. Ngài có tiếng là rất thông minh
xuất chúng, viết nên nhiều tác phẩm lừng danh, trong đó có cuốn
(Commentaire sur les quatres livres des sentences) và nhiều tác phẩm
thần học rất có giá trị.
Một hôm, thầy nấu bếp xin gặp ngài với nét mặt thật thê lương ảm đạm,
thầy trình bày:
- Thưa cha, mấy lâu nay con buồn quá nhưng vẫn cứ ấp ủ mãi trong lòng.
Đến hôm nay, con mới bạo dạn xin phép gặp cha để nhờ cha giải quyết nỗi
lo âu cho con.
- Cha sẵn sàng giúp con, con cứ tự nhiên trình bày mọi chuyện.
- Thưa cha, con trộm nghĩ: thông thái thời danh như cha thì thật là hạnh
phúc. Vì nhờ đó cha có thể yêu mến Chúa, phụng sự Chúa, và sau lên thiên
đàng dễ dàng hơn, ngồi gần Chúa hơn! ... Nghĩ lại phận con là một tên
đầu bếp rất hèn, con cảm thấy quá buồn tủi! Không biết rồi đây có được
lên thiên đàng không, thấy được sự vinh hiển Chúa không, có gần gũi Chúa
như cha được không!
- Ồ, con đừng nghĩ thế! Chúa chẳng bao giờ đòi hỏi sự thông thái thời
danh cả. Chúa chỉ sợ con không mến Chúa trong các công việc bổn phận tầm
thường hằng ngày của con thôi?
- Vậy dốt như con cũng có thể yêu mến Chúa như cha Bề Trên Cả sao?
- Đúng thế!
- Mấy bà ngoại chợ cũng thế à?
- Dĩ nhiên rồi! Miễn là mấy bà dâng cho Chúa mọi công việc!
Nghe đến đây thầy đầu bếp chẳng còn đè nén được niềm phấn khởi. Không
kịp chào Bề Trên Cả, thầy vội chạy ra khỏi phòng, leo lên thành, nhảy
xuống đường, chạy đến phố chợ và la lên: “Anh chị em ơi! Các bà bán hàng
ngoài chợ ơi! Tôi báo cho anh chị em một tin rất vui mừng, anh chị em có
thể nên thánh bằng cha Bề Trên Cả của chúng tôi được”.
Thầy vừa chạy vừa la lớn tiếng như điên, quanh cả phố chợ. Người ta thật
khó mà nhận ra thầy vì thầy chạy quá nhanh, nhưng giọng nói của thầy thì
ai cũng nghe: “Cứ làm bổn phận tầm thường vì mến Chúa thì sẽ nên thánh
cả. Chính cha Bonaventura mới cho tôi biết! mừng quá? Vui quá!’
https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-11-04-thanh-sta-nit-la-o-giam-muctu-dao-1030-1079-40240
Thánh Stanislaô được kính nhớ như vị Thánh bảo trợ thành Krakow ở Balan,
nơi ngài làm Giám mục và hài cốt ngài được lưu giữ ở nhà thờ chính tòa.
Không có tường thuật đương thời nào về ngài được coi là đầy đủ và các
chi tiết về đời ngài cũng không rõ rệt lắm. Người ta kể rằng : cha mẹ
ngài thuộc dòng dõi quí phái, nhưng lại hiếm muộn về đàng con cái. Sau
nhiều lời cầu nguyện khẩn thiết, ngày 26 tháng 07 năm 1030, họ sinh được
một người con trai và đặt tên là Stanislaô. Họ chú tâm đào luyện con
mình theo những tập quán đạo hạnh khiến Stanislaô, từ nhỏ đã tỏ ra có
tinh thần bác ái và nhiệt hành phụng sự Chúa.
Trong bầu khí đạo đức ấy, từ thuở nhỏ Stanislaô đã nghe rõ tiếng Chúa
kêu gọi đi làm tông đồ Chúa. Trước hết ngài đã theo học Đại học tại
triết học tại Đại học Gniezno. Sau đó ngài sang Paris theo học Luật và
thần học ở tu viện Lorrain trong bảy năm trời. Khi cha mẹ qua đời, ngài
phải trở về Balan.
Được thừa hưởng gia tài lớn cha mẹ để lại, nhưng thánh nhân đã quyết chí
hiến thân phụng sự Chúa vì vậy ngài đã đem của cải phân phát cho người
nghèo khó rồi tiếp tục theo đưổi lý tưởng tu trì. Đức Giám mục Lampert
đã phong chức Linh mục cho Stanislaô, năm 1062 và đặt làm Kinh sĩ tại
nhà thờ chánh tòa địa phận.
Giữ chức vụ kinh sĩ, Stanislaô đã trở nên lừng danh về tài thuyết giảng
và về chính đời sống gương mẫu thánh thiện của ngài. Đức cha Lambert,
toàn thể giáo sĩ và giáo dân đã bầu Stanislaô lên kế vị. Vì khiêm tốn,
thánh nhân quyết không chịu nhận. Nhưng năm 1072, vâng lời Đức Thánh Cha
Alexandre II, Stanislaô đã nhận làm Giám mục Krakow.
Đức cha Stanislaô là một Giám mục thánh thiện và nhân hậu nhất là đối
với những ai đau khổ và nghèo đói. Tuy nhiên, ngài cũng tỏ ra là người
can đảm đặc biệt. Vua Balan lúc ấy là Bôleslas II. Ông ta đã dùng sức
mạnh khí giới để đạt tới vinh quang nhưng lại chịu bị khuất phục trước
những tật xấu khủng khiếp. Hành vi độc ác của ông đã khiến cho người ta
gọi ông là "kẻ độc ác". Cả nước đều phải run sợ nhưng không ai dám mở
lời can ngăn. Chỉ có một người, một vị thánh là Stanislaô đã dám đương
đâu với sự giận dữ của nhà vua.
Sau khi cầu nguyện với tất cả tâm hồn, thánh nhân đến gặp nhà vua. Khiêm
tốn nhưng đầy cương quyết, thánh nhân quyết định nói với ông ta tất cả
những gì phải nói, ngài trình bày cho nhà vua thấy trước những tội ác
tày trời, gương mù trong vương quốc mà nhà vua gây nên, ngài cũng nói
cho nhà vua rõ những phán xét Thiên Chúa đang chờ đón. Vừa nghe,
Bôleslas đã tỏ ra hối hận. Nhưng thật đáng tiếc vì đây chỉ là một tình
cảm chóng qua, Bôleslas lại trở nên man rợ như trước và còn thêm một tội
ghen ghét vào những ác độc của ông.
Sau này, vua đã cướp vợ của một nhà quí phái để nhốt trong hoàng cung.
Cơn giận lan ra khắp tỉnh nhưng dân chúng run sợ không ai dám mở miệng,
thánh Stanislaô một lần nữa can đảm đến gặp Boleslas, cố gắng đưa ông
trở về với những tình cảm chân chính. Ngài đe dọa, nếu còn cố chấp, nhà
vua sẽ bị tuyệt thông. Run lên vì tức giận, nhà vua tìm kế sát hại thánh
nhân.
Bôleslas biết Đức Cha có mua một thuở đất để xây cất nhà thờ mà chỉ trao
tiền trước mặt nhiều chứng nhân mà không làm chứng từ. Khi chủ nhân cũ
qua đời, ông đe dọa các chứng nhân để họ phản chứng rồi tố giác Đức Giám
mục ra tòa. Mưu độc của ông bị thất bại. Vì sau ba ngày cầu nguyện thánh
Stanislaô đã truyền đào mồ người chết và kêu ông dậy làm chứng sự thật.
Dầu vậy, Bôleslas vẫn không thay lòng đổi dạ đối với vị Giám mục gan dạ
Stanislaô. Ngày 08 tháng 5 năm 1079, khi thánh Stanislaô đang dâng thánh
lễ tại thánh đường thánh Micae. Ông sai người đến sát hại thánh nhân. Cả
ba nhóm binh sĩ lần lượt đến mà không hoàn thành được lệnh truyền, khiến
chính nhà vua phải ra tay. Ông xông vào nhà thờ chém giết vị Giám mục
tại bàn thờ. Chưa đã thoả lòng giận dữ , ông còn chặt xác ngài thành ra
làm nhiều khúc rồi vứt ra ngoài đồng cho chim trời rúc rỉa. Nhưng bốn
ngày sau, trên trời chỉ có bốn cánh phượng hoàng bay lượn ngăn cản tất
cả không cho bất cứ con vật nào xâm phạm tới xác thánh.
Bấy giờ Boleslas mới tỉnh ngộ và hối lỗi. Ông cho tổ chức lễ an táng
thánh Stanislaô rất trọng thể. Xác thánh liền lại như mới qua đời vì
bệnh tật và được chôn cất tại nhà thờ Chính tòa Krakow.
Bất cứ ai đọc lịch sử Ðông Âu đều phải biết đến tên Stanislao, vị Giám mục
thánh thiện nhưng bi thương của Giáo phận Krakow. Cùng với các thánh Tôma
More và Tôma Becket, ngài thường được nhớ đến vì sự chống đối quyết liệt của
ngài đối với một chính phủ hung bạo và bất chính thời ấy.
Thánh Stanislaô được kính nhớ như vị thánh bảo trợ thành Krakow ở Ba Lan,
nơi ngài làm giám mục và hài cốt ngài được lưu giữ ở nhà thờ chính tòa.
Không có tường thuật đương thời nào về ngài được coi là đầy đủ và các chi
tiết về đời ngài cũng không rõ rệt lắm. Người ta kể rằng: Cha mẹ ngài thuộc
dòng dõi quí phái, nhưng lại hiếm muộn về đàng con cái. Sau nhiều lời cầu
nguyện khẩn thiết, ngày 26 tháng 07 năm 1030, họ sinh được một người con
trai và đặt tên là Stanislao. Họ chú tâm đào luyện con mình theo những tập
quán đạo hạnh khiến Stanislao, từ nhỏ đã tỏ ra có tinh thần bác ái và nhiệt
thành phụng sự Chúa.
Trong bầu khí đạo đức ấy, từ thuở nhỏ Stanislao đã nghe rõ tiếng Chúa kêu
gọi đi làm Tông đồ Chúa. Trước hết Ngài đã theo học triết học tại Đại
học Gniezno. Sau đó Ngài sang Paris theo học Luật và Thần học ở tu viện
Lorranin trong bảy năm trời. Khi cha mẹ qua đời, Ngài phải trở về Ba Lan.
Được thừa hưởng gia tài lớn cha mẹ để lại, nhưng thánh nhân đã quyết chí
hiến thân phụng sự Chúa vì vậy Ngài đã đem của cải phân phát cho người nghèo
khó rồi tiếp tục theo đuổi lý tưởng tu trì. Đức Giám mục Lampert đã phong
chức linh mục cho Stanislao, năm 1062 và đặt làm Kinh sĩ tại nhà thờ chánh
tòa địa phận.
Giữ chức vụ Kinh sĩ, Stanislao đã trở nên lừng danh về tài thuyết giảng và
về chính đời sống gương mẫu thánh thiện của Ngài. Đức cha Lambert, toàn thể
giáo sĩ và giáo dân đã bầu Stanislao lên kế vị. Vì khiêm tốn, thánh nhân
quyết không chịu nhận. Nhưng năm 1072, vâng lời Đức Thánh Cha Alexandre II,
Stanislao đã nhận làm Giám mục Krakow.
Đức cha Stanislao là một Giám mục thánh thiện và nhân hậu, nhất là đối với
những ai đau khổ và nghèo đói. Những việc hoàn thành lớn lao của Đức Giám
mục Stanislao bao gồm việc đem các vị Khâm sứ Tòa thánh tới Ba Lan, việc tái
lập tòa Tổng Giám mục tại Gniezno. Việc tái lập này được thực hiện theo một
thỏa ước là việc đội vương niệm cho quận vương Boleslaus lên ngôi vua Ba
Lan, và được thực hiện vào năm 1076. Đức Giám mục Stanislao khích lệ vua
Boleslaus thiết lập các đan viện Biển Đức để giúp phát triển việc Kitô giáo
hóa nước Ba Lan.
Cuộc đối đầu với vua Boleslaus khởi sự với chuyện tranh dành đất đai. Đức
Giám mục Stanislao có mua cho địa phận một mảnh đất bên bờ sông Vistula gần
Lublin từ một người có tên là Phêrô (Piotr), nhưng
khi ông này chết, thì con cái đòi lại mảnh đất đó. Nhà vua đã phán quyết cho
gia đình của ông Phêrô này thắng kiện. Nhưng thánh Stanislau đã xin một thời
gian ba ngày để ngài kháng án. Ngài đã cầu nguyện, và tới ngày thứ ba, thì
cho ông Phêrô kia được sống lại để làm chứng cho việc mua đất là sự thật, và
nhà vua đã bãi bỏ vụ kháng cáo chống lại tòa Giám mục đó.
Trong cuộc viễn chinh chống với đại đế Duchy của Kiev (nước Ucraina), Ðức
Stanislao bị dính líu đến tình hình chính trị ở Ba Lan. Nổi tiếng là người
thẳng thắn, ngài tấn công những hành động xấu xa của vua và người dân, nhất
là các cuộc chiến bất chính cũng như các hành động vô luân của vua Boleslaus
II vì ông đã cướp vợ của một nhà quý tộc.
Lúc đầu nhà vua tự ý xin lỗi và bày tỏ sự ăn năn sám hối, nhưng sau đó lại
trở về con đường cũ. Ðức Stanislao tiếp tục công khai chống đối bất kể những
hăm dọa về tội phản quốc và tử hình. Sau cùng ngài đã ra vạ tuyệt thông nhà
vua và từ chối cử hành Thánh lễ mỗi khi có sự hiện diện của ông. Ðiên lên vì
tức giận, nhà vua ra lệnh quân lính hạ sát vị Giám mục. Khi binh lính từ
chối không tuân phục, chính tay ông đã giết Ðức Stanislao trong khi ngài cử
hành Thánh lễ trong một nhà thờ ở ngoại ô thành phố. Sau đó thân thể của
ngài bị chặt ra thành từng mảng và ném xuống ao ở phía ngoài nhà thờ. Nhưng
bốn ngày sau, trên trời chỉ có bốn cánh phượng hoàng bay lượn ngăn cản tất
cả không cho bất cứ con vật nào xâm phạm tới xác Thánh.
Bấy giờ Boleslas mới tỉnh ngộ và hối lỗi. Ông cho tổ chức lễ an táng thánh
Stanislao rất trọng thể. Xác Thánh liền lại như mới qua đời vì bệnh tật và
được chôn cất tại nhà thờ Chánh tòa Krakow.
Cuộc giết thánh Stanislao đã khuấy động lên sự phẫn nộ của dân chúng khắp
đất Ba Lan và dẫn tới việc vua Boleslaus phải thoái vị khỏi ngai vàng, và đi
sang nương náu tại nước Hung Gia Lợi, để cho em vua là Wadyslaw kế vị ông.
Ðức Stanislao là biểu hiệu của tinh thần dân tộc Ba Lan. Ngài được Ðức Giáo
Hoàng Innôcentê IV phong Thánh năm 1253 và được đặt làm Quan thầy chính thức
của Krakow.
Lời bàn
Thánh Gioan Tẩy Giả, Tôma Becket, Tôma More và Stanislao là một vài ngôn sứ
dám tố giác sự thối nát của những người có địa vị. Các ngài đã theo chân Ðức
Giêsu Kitô, là người vạch ra sự sa đọa luân lý của các nhà lãnh đạo tôn giáo
thời ấy. Ðó là một công việc đầy nguy hiểm đòi hỏi sự can đảm sống chứng
nhân cho Tin Mừng.
Lm. Đaminh Phạm Xuân Uyển SDB
http://loichua.donboscoviet.org/ngay-11-thang-4-thanh-stanislao-giam-muc/
Thánh Phaolô đã viết cho Timôtêô như thế này: ”Nếu ta cùng chết với Đức
Kitô, Ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển
trị với Người”
( 2Tm 2, 11-12 ). Thánh Stanislao đã kiên quyết cảnh cáo và khuyến dụ những
con người phản nghịch, tội lỗi. Ngài đã xứng lãnh nhận triều thiên công
chính.
THÁNH
STANISLAO, NGƯỜI LÀ AI ?
Thánh Stanislao sinh tại miền Cracovie nước Balan ngày 26 tháng 7 năm
1030 trong một gia đình giầu sang, phú quí. Thánh nhân là con trai duy
nhất trong gia đình quyền quí, giầu sang, nhưng Ngài không ham mê của
cải, không màng danh vọng, chức quyền, ngay từ nhỏ, từ lúc thiếu thời,
Ngài đã tỏ ra là người đầy là nhân ái và giầu lòng thương xót. Ngay từ
lúc còn nhỏ, Ngài đã nhận ra tiếng Chúa gọi mời, Ngài bỏ mọi sự và đi
theo tiếng mời gọi của Chúa, thánh nhân học triết và thần học, rồi lãnh
nhận sứ vụ linh mục. Thánh nhân được cất nhắc lên bậc kinh sĩ, vị linh
mục mới đã nổi tiếng về đời sống thánh thiện, tài đức, được nhiều người
khen ngợi và biết tiếng. Thánh nhân dù rất nổi tiếng, nhưng lúc nào Ngài
cũng khiêm nhượng, âm thầm và sống nhiệt thành với sứ vụ, với công việc
được trao phó và sống hết sức bác ái với mọi người. Thánh nhân luôn
nghiên cứu Thánh Kinh, tham khảo các giáo phụ và thần học. Vì sự khiêm
nhượng và tài lãnh đạo, lòng nhân ái của Ngài, khi Đức giám mục giáo
phận qua đời, Ngài đã được đề cử lên lãnh trách nhiệm giám mục cai quản
địa phận vào năm 1072. Thánh nhân sống đời sống thánh thiện, đạo đức,
Ngài ăn chay, đánh tội, bố thí hàng ngày và đi thăm những người đau ốm.
Thánh nhân rất hiền lành, nhưng lại rất cương quyết chống lại, khuyến
cáo và răn đe những người tội lỗi. Thánh nhân can đảm, mạnh dạn lên
tiếng phản đối và tố cáo bạo vương Boleslas. Bị động tới lòng tự ái và
nhỏ nhen, ích kỷ, bạo vương Boleslas đã xông tới bàn thờ chém đầu thánh
nhân lúc thánh nhân đang cử hành thánh lễ. Bạo vương ra lệnh phân thây
xác Ngài và truyền ném xác cho muông thú ăn thịt, nhưng không một con
thú nào dám động đến xác thánh của Ngài. Trước việc kỳ diệu, lạ lùng ấy,
bạo vương đã thống hối ăn năn, trở về và ngày tang lễ của thánh nhân trở
thành ngày vui mừng, hân hoan.
GIÁO HỘI TUYÊN DƯƠNG THÁNH NHÂN
Vì lòng bác ái, những nhân đức siêu vời và những gương sáng thánh nhân
để lại, nhất là việc lạ lùng Chúa làm nơi thân xác thánh nhân. Đức Thánh
Cha Innocentê IV vào ngày 17 tháng 9 năm 1253 đã phong hiển thánh cho
Ngài.
Lạy Chúa, để làm vinh danh Chúa, thánh giám mục Stanislao đã ngã gục
dưới lưỡi gươm những kẻ bách hại mình. Xin cho chúng con cũng được một
niềm tin vững mạnh, giúp chúng con trung thành với Chúa suốt cuộc đời
chúng con (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Stanislao).
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
http://giaophanthaibinh.org/a7420/Ngay-11-4-Thanh-Stanislao-St-Stanislaus-giam-muc-tu-dao.aspx
https://dcvxuanloc.net/thanh-stanislao-giam-muc-tu-dao-ngay-114/
Thánh Stanislaô (Stanislaus) sinh ra tại Sezepanow, Ba Lan, vào ngày
26.7.1030 trong một gia đình giàu sang, phú quý, nhưng ngài không ham mê
của cải, không màng danh vọng, chức quyền. Ngay từ lúc thiếu thời, ngài
đã tỏ ra là người đầy nhân ái và giàu lòng thương xót. Sau khi cha mẹ
qua đời, ngài phân chia tài sản của mình cho người nghèo, rồi đi theo
tiếng mời gọi của Chúa. Thánh nhân học Triết và Thần học. Năm 1062, ngài
được Đức cha Lampert, Giám mục giáo phận Krakow phong chức linh mục và
đặt làm Kinh sĩ tại nhà thờ chánh tòa địa phận. Năm 1072, ngài lên kế vị
Giám mục cai quản giáo phận Krakow. Trong vai trò giám mục, ngài tiến
hành viếng thăm mục vụ các họ đạo mỗi năm, đổi mới tinh thần giáo sĩ và
giáo dân. Đức Giám mục Stanislaô chiếm được tình cảm của mọi người. Họ
hết sức cảm kích cách thức ngài quan tâm chăm sóc những người nghèo,
những quả phụ và các trẻ mồ côi.
 |
Thời đó, nước Ba Lan đang dưới quyền cai trị của vua Bôleslas II. Ông
này đã bắt cóc một phụ nữ đã có chồng để thỏa mãn dục vọng. Đức
Stanislaô đã mạnh dạn tố cáo tội dâm ô đó. Nhà vua nổi cơn thịnh nộ và
đe dọa ngài. Đức Giám mục Stanislaô không còn cách nào khác là phải rút
phép thông công. Để trả thù, vua truyền lệnh cho hai trong số những cận
vệ của mình đến giết hại Đức Giám mục Stanislaô. Họ đã cố gắng đến ba
lần nhưng đều thất bại. Rồi chính nhà vua, trong một cơn cuồng giận, đã
chạy vào nguyện đường của Đức Giám mục. Vua đã giết chết Giám mục
Stanislaô khi ngài đang dâng thánh lễ. Hôm đó là ngày 11.4.1079. Hài cốt
ngài được lưu giữ ở nhà thờ chánh tòa Krakow.
Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ sau khi Đức Giám mục Stanislaô qua đời.
Mọi người đều gọi Stanislaô là vị Thánh Tử đạo. Ngày 17.9.1253, Đức
Thánh Cha Innôcentê IV đã tôn phong Stanislaô lên bậc Hiển thánh. Ngài
rất được tôn kính ở Ba Lan.
http://www.cgvdt.vn/lich/thanh-stanislao-giam-muc-tu-dao_a4827
Bất cứ ai đọc
lịch sử Ðông Âu đều phải biết đến tên Stanislaus, vị giám mục thánh
thiện nhưng bi thương của giáo phận Krakow. Cùng với các Thánh Tôma More
và Tôma Becket, ngài thường được nhớ đến vì sự chống đối quyết liệt của
ngài đối với một chính phủ hung bạo và bất chính thời ấy.
Thánh Stanislaus sinh trong một gia đình quý tộc ở Szczepanow gần Krakow.
Ngài theo học các trường Công Giáo ở Gniezno, sau đó ở thủ đô Ba Lan, và ở
Balê. Ngài thụ phong linh mục ở Gnesen và được bổ nhiệm làm tổng phó tế và
người thuyết giáo của Ðức Giám Mục Krakow, là nơi tài hùng biện và gương mẫu
của ngài đã giúp nhiều người thực sự hoán cải đời sống, trong đó có cả hàng
giáo sĩ. Ngài trở thành giám mục của Krakow năm 1072.
Trong cuộc viễn chinh chống với Ðại Ðế Duchy của Kiev, Ðức Stanislaus bị
dính líu đến tình hình chính trị ở Ba Lan. Nổi tiếng là người thẳng thắn,
ngài tấn công những hành động xấu xa của vua và người dân, nhất là các cuộc
chiến bất chính cũng như các hành động vô luân của Vua Boleslaus II vì ông
đã cướp vợ của một nhà quý tộc.
Lúc đầu nhà vua tự ý xin lỗi và bày tỏ sự ăn năn sám hối, nhưng sau đó lại
trở về con đường cũ. Ðức Stanislaus tiếp tục công khai chống đối bất kể
những hăm dọa về tội phản quốc và tử hình. Sau cùng ngài đã ra vạ tuyệt
thông nhà vua và từ chối cử hành Thánh Lễ mỗi khi có sự hiện diện của ông.
Ðiên lên vì tức giận, nhà vua ra lệnh quân lính hạ sát vị giám mục. Khi binh
lính từ chối không tuân phục, chính tay ông đã giết Ðức Stanislaus trong khi
ngài cử hành Thánh Lễ trong một nhà nguyện ở ngoại ô thành phố.
Ðức Stanislaus là biểu hiệu của tinh thần dân tộc Ba Lan. Ngài được Ðức Giáo
Hoàng Innôcentê IV phong thánh năm 1253 và được đặt làm quan thầy chính thức
của Krakow.
Lời Bàn: Thánh Gioan Tẩy Giả, Tôma Becket, Tôma More và Stanislaus là một
vài ngôn sứ dám tố giác sự thối nát của những người có địa vị. Các ngài đã
theo chân Ðức Giêsu Kitô, là người vạch ra sự sa đọa luân lý của các nhà
lãnh đạo tôn giáo thời ấy. Ðó là một công việc đầy nguy hiểm đòi hỏi sự can
đảm sống chứng nhân cho Tin Mừng.
Lời Trích: "Những người khao khát muốn có quyền bính để có thể áp đặt luật
lệ, mệnh lệnh và kiểm soát người khác, thì chính họ là những người sống vô
kỷ luật và không kiềm chế" (Thánh Tôma More, Một Ðối Thoại Về Sự Tiện Nghi).
Nguồn: Báo Người Tín Hữu
https://www.longthuongxotchua.org/index.php/tai-lieu/blog/ngay-11-04-thanh-stanislaus-1030-1079
https://sites.google.com/site/guongcacthanh/guong-cac-thanh/thang-4/gt_04-11