SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

Chúa Nhật
Lời Chúa
Bài Ðọc I: Ed 37, 12-14
"Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: "Hỡi dân Ta, này Ta sẽ mở cửa mồ các ngươi, Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ và dẫn dắt các ngươi vào đất Israel. Hỡi dân Ta, các ngươi sẽ biết Ta là Chúa, lúc Ta mở cửa mồ các ngươi, và kéo các ngươi ra khỏi mồ, Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống, Ta sẽ cho các ngươi an cư trên đất các ngươi, và các ngươi biết rằng: Ta là Chúa, chính Ta đã phán và đã thi hành".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 129, 1-2. 3-4ab. 4c-6. 7-8
Ðáp: Bởi vì Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ (c. 7).
Xướng: 1) Từ vực sâu, lạy Chúa, con kêu lên Chúa. Lạy Chúa, xin nghe tiếng con cầu; dám xin Chúa hãy lắng tai, hầu nghe thấu tiếng van nài của con. - Ðáp.
2) Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? Nhưng Chúa thường rộng lượng thứ tha, để cho thiên hạ tôn thờ kính yêu. - Ðáp.
3) Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Ngài. Linh hồn con mong đợi Chúa con, hơn người lính gác mong trời rạng đông. - Ðáp.
4) Hơn người lính gác mong hừng đông dậy. Israel đang mong đợi Chúa con: Bởi vì Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ. Và chính Ngài sẽ giải thoát Israel cho khỏi mọi điều gian ác. - Ðáp.
Bài Ðọc II: Rm 8, 8-11
"Thánh Thần của Ðấng làm cho Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, những kẻ sống theo xác thịt, thì không thể đẹp lòng Chúa. Còn anh em, anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo tinh thần, nếu thật sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em. Nếu ai không có Thánh Thần của Ðức Kitô, thì kẻ ấy không thuộc về Người. Nhưng nếu Ðức Kitô ở trong anh em, cho dù thân xác đã chết vì tội, nhưng tinh thần vẫn sống vì đức công chính. Và nếu Thánh Thần của Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em.
Ðó là lời Chúa.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 11, 25a và 26
Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời đời".
Phúc Âm: Ga 11, 1-45
"Ta là sự sống lại và là sự sống".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, có một người đau liệt tên là Ladarô, ở Bêtania, làng quê của Maria và Martha. (Maria này chính là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Em trai bà là Ladarô lâm bệnh). Vậy hai chị sai người đến thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, người Thầy yêu đau liệt". Nghe tin ấy, Chúa Giêsu liền bảo: "Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó Con Thiên Chúa sẽ được vinh hiển".
Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Ladarô. Khi hay tin ông này đau liệt, Người còn lưu lại đó hai ngày. Rồi Người bảo môn đệ: "Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa". Môn đệ thưa: "Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm ném đá Thầy, mà Thầy lại trở về đó ư?" Chúa Giêsu đáp: "Một ngày lại chẳng có mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì người ta thấy ánh sáng mặt trời; nhưng kẻ đi ban đêm sẽ vấp ngã vì không có ánh sáng". Người nói thế, rồi lại bảo họ: "Ladarô bạn chúng ta đang ngủ, dầu vậy Ta đi đánh thức ông". Môn đệ thưa: "Thưa Thầy, nếu ông ta ngủ, ông sẽ khoẻ lại". Chúa Giêsu có ý nói về cái chết của Ladarô, nhưng môn đệ lại nghĩ Người nói về giấc ngủ. Bấy giờ Chúa Giêsu mới nói rõ: "Ladarô đã chết. Nhưng Ta mừng cho các con, vì Ta không có mặt ở đó để các con tin. Vậy chúng ta hãy đi đến nhà ông". Lúc đó Tôma, cũng có tên là Ðiđimô, nói với đồng bạn: "Chúng ta cũng đi để cùng chết với Người".
Ðến nơi, Chúa Giêsu thấy Ladarô đã được an táng bốn ngày rồi. (Bêtania chỉ cách Giêrusalem chừng mười lăm dặm). Nhiều người Do-thái đến nhà Martha và Maria để an ủi hai bà vì người em đã chết. Khi hay tin Chúa Giêsu đến, Martha đi đón Người, còn Maria vẫn ngồi nhà. Martha thưa Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy". Chúa Giêsu nói: "Em con sẽ sống lại". Martha thưa: "Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, thì em con sẽ sống lại". Chúa Giêsu nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?" Bà thưa: "Thưa Thầy, vâng, con đã tin Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian".
Nói xong bà về gọi Maria em gái bà và nói thầm với em rằng: "Thầy ở ngoài kia, Thầy gọi em". Nghe vậy, Maria vội vàng đứng dậy và đi đến cùng Chúa. Vì lúc đó Chúa Giêsu chưa vào trong làng, Người còn đang đứng ở nơi Martha đã gặp Người. Những người Do-thái cùng ở trong nhà với Maria và an ủi bà, khi thấy bà vội vã đứng dậy ra đi, họ cũng đi theo bà, tưởng rằng bà đi ra khóc ngoài mộ. Vậy khi Maria đến chỗ Chúa Giêsu đứng, thấy Người, bà liền sấp mình xuống dưới chân Người và nói: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt đây, thì em con không chết". Khi thấy bà khóc nức nở và những người Do-thái theo bà cũng khóc, Chúa Giêsu thổn thức và xúc động. Người hỏi: "Ðã an táng Ladarô ở đâu?" Họ thưa: "Thưa Thầy, xin đến mà xem". Chúa Giêsu rơi lệ. Người Do-thái liền nói: "Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết bao!" Nhưng có mấy kẻ trong đám nói: "Ông ấy đã mở mắt người mù từ khi mới sinh mà không làm được cho người này khỏi chết ư?" Chúa Giêsu lại xúc động; Người đi đến mộ. Mộ đó là một hang nhỏ có tảng đá đậy trên. Chúa Giêsu bảo: "Hãy đẩy tảng đá ra". Martha là chị người chết, thưa: "Thưa Thầy, đã nặng mùi rồi vì đã bốn ngày". Chúa Giêsu lại nói: "Ta đã chẳng bảo con rằng: Nếu con tin, thì con sẽ xem thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?" Thế là người ta cất tảng đá ra. Chúa Giêsu ngước nhìn lên và nói: "Lạy Cha, Con cảm tạ Cha đã nhậm lời Con. Con biết Cha hằng nghe lời Con, nhưng Con nói lên vì những người đứng xung quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con". Nói rồi, Người kêu lớn tiếng: "Ladarô! Hãy ra đây!" Người đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải, trên mặt quấn khăn liệm. Chúa Giêsu bảo: "Hãy cởi ra cho anh ấy đi".
Một số người Do-thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, thì đã tin vào Người.
Ðó là lời Chúa.
Hoặc đọc bài vắn này: Ga 11, 3-7. 17. 20-27. 33b-45
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, hai chị em của Ladarô sai người đến thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, người Thầy yêu đau liệt". Nghe tin ấy, Chúa Giêsu liền bảo: "Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó Con Thiên Chúa sẽ được vinh hiển".
Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Ladarô. Khi hay tin ông này đau liệt, Người còn lưu lại đó hai ngày. Rồi Người bảo môn đệ: "Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa".
Ðến nơi, Chúa Giêsu thấy Ladarô đã được an táng bốn ngày rồi. Khi hay tin Chúa Giêsu đến, Martha đi đón Người, còn Maria vẫn ngồi nhà. Martha thưa Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy". Chúa Giêsu nói: "Em con sẽ sống lại". Martha thưa: "Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, thì em con cũng sẽ sống lại". Chúa Giêsu nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?" Bà thưa: "Thưa Thầy: vâng, con đã tin Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian".
Người xúc động và hỏi: "Ðã an táng Ladarô ở đâu?" Họ thưa: "Thưa Thầy, xin đến mà xem". Chúa Giêsu rơi lệ. Người Do-thái liền nói: "Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết bao!" Nhưng có mấy kẻ trong đám nói: "Ông ấy đã mở mắt người mù từ khi mới sinh mà không làm được cho người này khỏi chết ư?" Chúa Giêsu lại xúc động; Người đi đến mộ.
Mộ đó là một hang nhỏ có tảng đá đậy trên. Chúa Giêsu bảo: "Hãy đẩy tảng đá ra". Martha là chị người chết, thưa: "Thưa Thầy, đã nặng mùi rồi vì đã bốn ngày". Chúa Giêsu lại nói: "Ta đã chẳng bảo con rằng: Nếu con tin, thì con sẽ xem thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?" Thế là người ta cất tảng đá ra. Chúa Giêsu ngước nhìn lên và nói: "Lạy Cha, Con cảm tạ Cha đã nhậm lời Con. Con biết Cha hằng nghe lời Con. Nhưng Con nói lên vì những người đứng xung quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con". Nói rồi, Người kêu lớn tiếng: "Ladarô! Hãy ra đây!" Người đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải, trên mặt quấn khăn liệm. Chúa Giêsu bảo: "Hãy cởi ra cho anh ấy đi".
Một số người Do-thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, thì đã tin vào Người.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
"Ta sẽ mở cửa mồ các ngươi, Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ..." - Cái Chết Lần Thứ Hai!
Ba Chúa Nhật cuối của Mùa Chay thuộc chu kỳ phụng niên Năm A, cho tới hôm nay, Chúa Nhật V Mùa Chay, đã tiến đến bài Phúc Âm cuối cùng của cùng Thánh ký Gioan thuộc bộ 3 bài Phúc Âm liên quan đến ý nghĩa tái sinh của thành phần dự tòng Kitô giáo, thành phần sẽ được lãnh nhận Phép Rửa tái sinh vào lễ đêm Vọng Phục Sinh.
Thật vậy, nếu bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III Mùa Chay Năm A về mạch nước sự sống liên quan đến người đàn bà ngoại lai Samaritanô, và bài Phúc Âm cho Chúa Nhật IV Mùa Chay về ánh sáng sự sống liên quan đến người mù từ lúc mới sinh, thì bài Phúc Âm cho Chúa Nhật V Mùa Chay về sự sống phục sinh liên quan đến Lazarô hồi sinh sau khi chết 4 ngày.
Trước hết, chúng ta lưu ý là cả 3 bài Phúc Âm này: 1- đều là truyện thật chứ không phải dụ ngôn; 2- ba nhân vật trong 3 bài Phúc Âm khác nhau ấy có một liên hệ với Chúa Giêsu từ xa tới gần: trước hết là người phụ nữ Samaritano ngoại lai đối với người Do Thái, sau đó tới người mù từ lúc mới sinh chính tông Do Thái ở giáo đô Giêrusalem, và sau hết là chính Lazarô ở Giêrusalem là một trong những người bạn thân của Chúa Kitô.
Việc Chúa Giêsu hồi sinh cho Lazarô trong bài Phúc Âm hôm nay là một cuộc hồi sinh đặc biệt hơn lần Người hồi sinh đứa con trai của người mẹ góa (xem Luca 7:11-17), hay đứa con gái của ông Giairô coi sóc hội đường (xem Mathêu 9:18-26; Marcô 5:21-43), vì lần này Người làm cho người chết đã xông mùi rồi mà vẫn có thể tự động bước ra khỏi mồ với những tấm khăn vải liệm xác trước mặt nhiều người ở ngay gần thành Giêrusalem và vào thời điểm gần đến Lễ Vượt Qua của dân Do Thái.
Chúa Giêsu thực hiện phép lạ hồi sinh Lazarô trong bài Phúc Âm hôm nay, bởi thế, chẳng những để cứu con người khỏi tội lỗi và sự chết bằng cuộc khổ nạn và tử giá của mình với một tình yêu vô cùng nhân hậu của Đấng Thiên Sai Cứu Thế, mà còn để công chính hóa con người được Người cứu chuộc bằng sự sống thần linh Người ban cho họ của một Đấng "là sự sống lại và là sự sống".
Như thế, vì chính việc hồi sinh cho Lazarô và mục đích hồi sinh cho người bạn thân này của Chúa Kitô, một người bạn thân cho thấy hình ảnh cùng thân phận của dân Do Thái đối với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất trong Cựu Ước, mà lời Tiên Tri Êzêkiên về Người đã thật sự ứng nghiệm và trở thành hiện thực trong Bài Đọc I hôm nay: "Hỡi dân Ta, này Ta sẽ mở cửa mồ các ngươi, Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ và dẫn dắt các ngươi vào đất Israel. Hỡi dân Ta, các ngươi sẽ biết Ta là Chúa, lúc Ta mở cửa mồ các ngươi, và kéo các ngươi ra khỏi mồ, Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống, Ta sẽ cho các ngươi an cư trên đất các ngươi, và các ngươi biết rằng: Ta là Chúa, chính Ta đã phán và đã thi hành".
Sự kiện Lazarô được hồi sinh dù đã chết đến độ xông mùi bao hàm ý nghĩa xác loài người ta sẽ sống lại nói chung, nhất là xác của kẻ lành, đúng với mục đích cứu chuộc theo dự án của Thiên Chúa muốn cứu trọn vẹn bản tính đã bị hư hoại bởi nguyên tội của con người, nghĩa là cả hồn lẫn xác của con người sau nguyên tội đều được Thiên Chúa cứu độ nơi cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô.
Tuy nhiên, cuộc hồi sinh của Lazarô về phần xác, một xác chết đã xông mùi hôi thối kinh tởm ám chỉ bản tính băng hoại bởi nguyên tội của loài người nói chung và linh hồn tội lỗi bởi tư tội của từng cá nhân con người nói riêng, có thể ám chỉ và tiêu biểu cho tình trạng linh hồn tội lỗi của con người như đang ở dưới vực sâu cần được Lòng Thương Xót Chúa cứu độ, nhưng chính vì tội lỗi nên con người lại cảm thấy mình hoàn toàn bất lực không thể tự độ (không thể tự cứu độ mình theo học thuyết Phật giáo), bởi thế con người kêu cầu lên Đấng có thể cứu độ mình, tin vào Ngài là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất như chính Ngài đã tỏ mình ra trong lịch sử cứu độ của dân Do Thái. Tình trạng tội lỗi và bất lực của linh hồn con người cần được cứu độ và mong được cứu độ bằng tất cả lòng tin tưởng như thế đã được bày tỏ hết sức tha thiết và thảm thiết ở Thánh Vịnh 129 trong Bài Đáp Ca hôm nay:
1) Từ vực sâu, lạy Chúa, con kêu lên Chúa. Lạy Chúa, xin nghe tiếng con cầu; dám xin Chúa hãy lắng tai, hầu nghe thấu tiếng van nài của con.
2) Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? Nhưng Chúa thường rộng lượng thứ tha, để cho thiên hạ tôn thờ kính yêu.
3) Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Ngài. Linh hồn con mong đợi Chúa con, hơn người lính gác mong trời rạng đông.
4) Hơn người lính gác mong hừng đông dậy. Israel đang mong đợi Chúa con: Bởi vì Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ. Và chính Ngài sẽ giải thoát Israel cho khỏi mọi điều gian ác.
Nguyên lý hay tác lực làm cho con người được phục sinh về phần xác là do Thánh Thần, như vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô khẳng định trong Thư gửi Giáo Đoàn Rôma ở bài Đọc 2 hôm nay: "Thánh Thần của Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em".
Chính Vị Thánh Thần phục sinh Chúa Kitô và làm cho xác loài người sống lại từ trong cõi chết đây là Thánh Thần được ban cho thành phần dự tòng Kitô giáo khi họ lãnh nhận Phép Rửa, để nhờ đó họ được tái sinh về phần hồn, nghĩa là chẳng những họ được thanh tẩy khỏi tội lỗi (bao gồm cả nguyên tội và tư tội cùng hình phạt gây ra bởi tội), mà còn được trở nên những dưỡng tử của Thiên Chúa, và là chi thể của Chúa Kitô trong Nhiệm Thể Giáo Hội, bằng không, như Thánh Phaolô trong cùng Bài Đọc 1 hôm nay xác định: "Nếu ai không có Thánh Thần của Ðức Kitô, thì kẻ ấy không thuộc về Người".
Nhờ Thánh Thần được ban cho thành phần dự tòng Kitô giáo khi họ lãnh nhận Phép Rửa như thế, Vị Thánh Thần được chính Chúa Kitô Phục Sinh thông ban cho các tông đồ từ thân xác phục sinh vinh hiển của Người (xem Gioan 20:22), mà nơi Kitô hữu xẩy ra hai tác dụng thần linh bất khả thiếu và bất khả phân lý, như Thánh Phaolô đã xác tín trong cùng Bức Thư ở Bài Đọc 1 hôm nay:
1- Họ có thể sống sự sống Thần Linh của Thiên Chúa: "Anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo tinh thần, nếu thật sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em"; và
2- Chúa Kitô mới có thể sống trong họ: "Nếu Ðức Kitô ở trong anh em, cho dù thân xác đã chết vì tội, nhưng tinh thần vẫn sống vì đức công chính", cho đến khi họ đạt đến tầm vóc của Chúa Kitô là đầu (xem Epheso 4:13,15), đến độ họ có thể nói như Thánh Phaolô: "Tôi sống nhưng không phải là tôi sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong tôi" (Galata 2:20).
Nhưng thực tế sống đạo cho thấy, Kitô hữu sau khi lãnh nhận Phép Rửa, họ vừa là thánh nhân vừa là tội nhân, bởi nơi bản thân của họ vẫn phải chịu đựng hậu quả của nguyên tội là đau khổ và chết chóc, nhất là vẫn còn nguyên mầm mống tội lỗi là đam mê nhục dục cùng tính mê nết xấu. Bởi thế, họ khó lòng có thể sống xứng đáng với thân phận cao trọng là con cái Thiên Chúa của họ, và vì thế lại càng không thể nào "nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành" của họ (Mathêu 5:48). Trái lại, nếu không có ơn Chúa, họ có thể sa ngã bất cứ lúc nào trước ba thù: 1- "bản chất thì yếu nhược" (Mathêu 26:41) luôn hướng hạ về những gì là thấp hèn xấu xa bất xứng và hướng nội về những gì vị kỷ, 2- ma quỉ lại "là cha của các thứ gian ác" (Gioan 8:44) thật tinh quái cám dỗ, và 3- thế gian là môi trường bất khả tránh gương mù gây nên dịp tội (xem Mathêu 18:7), vì nó là vương quốc của ma quỉ với đầy những quyến rũ về nhục dục, tham lam và danh vọng (xem 1Gioan 2:16).
Đó là lý do, cho dù đã được tái sinh, nhưng như thi thể hồi sinh của Lazarô vẫn còn bị cuốn chặt bởi những khăn vải táng liệm vướng víu cần phải được thân nhân bạn hữu cởi ra cho, Kitô hữu cũng cần phải được cộng đồng Dân Chúa của mình giúp tháo gỡ bằng mối hiệp thông yêu thương với họ và sự hướng dẫn cùng lời nguyện cầu của họ. Bằng không, con người sẽ trở nên "tệ hơn trước" (Mathêu 12:45; Luca 11:26), nghĩa là còn bị băng hoại đến độ không còn nghe thấy tiếng Chúa vốn sắc hơn gươm hai lưỡi có thể rạch cả tâm can lẫn xương tủy (xem Do Thái 4:12), tiếng quyền uy của Đấng mà kẻ chết (như Lazarô) cũng có thể nghe thấy (xem Gioan 5:28), và vì thế, vì không thể nghe thấy tiếng Chúa nữa, hay nhất định không muốn nghe thấy tiếng Người nữa, sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi trong nấm mồ hỏa ngục là "cái chết lần thứ hai" (Khải Huyền 20:14), một số phận vô cùng bất hạnh đã khiến cho Đấng trước khi hồi sinh Lazarô đã không thể nào cầm được nước mắt mà không khóc thương cho số phận vô cùng bất hạnh của họ (xem Gioan 11:35), chứ không phải khóc thương Lazarô là người bạn thân Người sẽ làm hồi sinh vì còn nghe thấy "lời ban sự sống" (Gioan 6:68) của Người, "lời là thần linh và là sự sống" (Gioan 6:63) của Người.
Thứ Hai
Lời Chúa
Bài Ðọc I: Ðn 13, 1-9. 15-17.
19-30. 33-62 (Bài
dài)
"Ðây tôi phải chết, dù tôi không làm điều họ vu khống cho tôi".
Trích sách Tiên tri Ðaniel.
Trong những ngày ấy, có một người đàn ông ở Babylon tên là Gioakim cưới bà
vợ tên là Susanna, con của Helcia, bà rất xinh đẹp và có lòng kính sợ Chúa,
vì cha mẹ bà là những người công chính, đã dạy con cho biết giữ luật Môsê.
Lúc đó Gioakim rất giàu có, ông có một khu vườn gần nhà ông, các người
Do-thái năng lui tới nhà ông, vì ông là người đáng kính hơn mọi người khác.
Năm đó, người ta đã đặt lên hai vị thẩm phán trong dân. Chúa đã phán về
những kẻ ấy rằng: "Sự gian ác phát sinh từ Babylon bởi những vị thẩm phán kỳ
lão, là những người xem ra như cai quản dân chúng". Các ông năng lui tới nhà
ông Gioakim, nên tất cả những ai kiện tụng, thì tìm gặp các ông ở đó. Ðến
trưa, khi dân chúng trở về nhà, bà Susanna vào đi bách bộ trong vườn của
chồng. Hai vị kỳ lão thấy bà mỗi ngày đi bách bộ trong vườn, thì phải lửa
dục mê đắm; hai ông mất lương tâm, không còn muốn đưa mắt nhìn lên trời và
không còn muốn nhớ đến sự xét xử công minh.
Hai ông chờ ngày thuận tiện, lúc bà Susanna vào vườn như hôm trước và hôm
trước nữa, bà chỉ dẫn theo hai cô thiếu nữ, bà muốn tắm trong vườn, vì trời
nóng bức. Lúc bấy giờ ở đó không có ai, ngoài hai vị kỳ lão đang ẩn núp và
ngắm nhìn bà. Bà nói với hai cô thiếu nữ rằng: "Hãy mang dầu và thuốc thơm
cho ta, rồi đóng cửa vườn lại để ta tắm".
Khi hai cô thiếu nữ ra khỏi vườn, hai vị kỳ lão đứng lên, tiến lại gần bà
Susanna và nói: "Kìa cửa vườn đã đóng hết; không ai trông thấy ta đâu, chúng
tôi say mê bà, bà hãy chấp nhận lời yêu cầu của chúng tôi và hiến thân cho
chúng tôi. Nếu bà không chấp nhận, chúng tôi sẽ làm chứng nói bà phạm tội
với một thanh niên, và vì đó, bà đã bảo các cô thiếu nữ ra khỏi vườn".
Bà Susanna thở dài và nói: "Tôi phải khốn cực tư bề; nếu tôi hành động như
thế, tôi phải chết, và nếu tôi không hành động như thế, tôi cũng không thoát
khỏi tay các ông. Nhưng thà tôi phải tay các ông mà không làm điều gì phạm
tội trước mặt Chúa thì hơn!" Ðoạn bà tri hô lên, nên hai vị kỳ lão cũng kêu
lên tố cáo bà. Và một trong hai ông chạy ra mở cửa vườn. Khi người nhà nghe
tiếng kêu la trong vườn, liền đổ xô ra cửa để xem coi việc gì đã xảy ra. Khi
nghe hai vị kỳ lão kể lại, thì các đầy tớ rất lấy làm hổ thẹn, vì thiên hạ
không khi nào nghe nói như thế về bà Susanna.
Ngày hôm sau, khi dân chúng tụ họp tại nhà ông Gioakim, chồng bà Susanna,
hai vị kỳ lão cũng đến, lòng đầy những ý nghĩ bất chính để tố cáo bà Susanna
cho người ta giết bà. Hai ông nói với dân chúng: "Các người hãy đi tìm bà
Susanna, con ông Helcia, vợ của ông Gioakim". Người ta liền sai đi bắt bà,
bà đến với cả cha mẹ, con cái và tất cả họ hàng. Nhưng tất cả họ hàng và mọi
kẻ biết rõ bà đều khóc lóc.
Khi hai vị kỳ lão ra đứng giữa dân chúng, hai ông đặt tay lên đầu bà. Bà
Susanna thì khóc lóc, ngước mắt lên trời, vì tâm hồn bà tin tưởng nơi Chúa.
Hai vị kỳ lão nói: "Khi chúng tôi đi bách bộ một mình trong vườn, bà này đi
vào với hai đứa tớ gái. Bà bảo hai đứa đóng cửa vườn lại, rồi đi ra. Bấy giờ
một chàng thanh niên đã ẩn núp trong vườn tiến tới gần bà và phạm tội với
bà. Lúc đó chúng tôi núp ở góc vườn, nhìn thấy tội ác, chúng tôi liền chạy
đến bắt quả tang hai người đang phạm tội. Chúng tôi không bắt được chàng
thanh niên, vì anh ta khoẻ mạnh hơn chúng tôi, nên đã mở cửa tẩu thoát. Còn
bà này chúng tôi bắt được, chúng tôi gạn hỏi chàng thanh niên đó là ai,
nhưng bà không muốn nói cho chúng tôi biết. Ðó là điều chúng tôi xin làm
chứng". Dân chúng tin lời hai ông nói, vì hai ông là bậc kỳ lão trong dân và
là thẩm phán, nên họ lên án tử hình cho bà.
Bấy giờ bà Susanna kêu lớn tiếng rằng: "Lạy Chúa hằng hữu, Ðấng thấu biết
mọi bí ẩn và mọi sự trước khi xảy ra, Chúa biết họ làm chứng gian hại con;
và đây con phải chết, dù con không làm điều gì mà họ ác ý vu khống cho con".
Chúa nhậm lời bà. Khi họ dẫn bà đi xử tử, thì Chúa giục thần trí một đứa trẻ
tên là Ðaniel. Trẻ này kêu lớn rằng: "Còn tôi, tôi không vấy máu bà này".
Mọi người hướng mắt nhìn về đứa trẻ và nói: "Lời mi nói có ý nghĩa gì?" Ðứa
trẻ ra đứng giữa mọi người và nói: "Hỡi con cái Israel, các ngươi ngu muội
thế sao, khi chưa xét xử và chưa biết sự thật thế nào, mà lại lên án một
thiếu nữ Israel? Các người hãy xét xử lại, vì hai ông đã làm chứng dối hại
bà".
Bấy giờ dân chúng vội vã trở lại. Các kỳ lão nói với Ðaniel: "Này, em hãy
ngồi giữa chúng tôi và bảo cho chúng tôi, vì Thiên Chúa đã cho em danh dự
của bậc kỳ lão". Ðaniel liền nói với họ: "Các người hãy tách biệt hai ông
ra, và cho hai ông đứng xa nhau, rồi tôi xét xử hai vị kỳ lão cho".
Khi hai ông đứng xa nhau, Ðaniel gọi ông thứ nhất đến và nói: "Hỡi lão già
độc ác, các tội xưa kia ông đã phạm, giờ đây lại tái phạm, ông đã xét xử bất
công, đã lên án kẻ vô tội và tha cho người có tội, mặc dầu có lời Chúa phán:
"Ngươi chớ giết kẻ vô tội và người công chính". Vậy nếu ông thấy bà Susanna
phạm tội, thì hãy nói hai người phạm tội dưới cây gì?" Ông ta trả lời: "Dưới
cây chò". Ðaniel liền nói: "Ðúng là ông nói dối. Ðây sứ thần Chúa được lệnh
phân thây ông". Ðaniel cho ông ta lui ra, và bảo dẫn ông kia đến. Ðaniel nói
với ông này rằng: "Hỡi dòng giống Canaan, chớ không phải dòng giống Giuđa,
sắc đẹp đã mê hoặc ông, và tình dục đã làm cho tâm hồn ông ra đồi bại. Ông
đã cư xử như thế đối với các thiếu nữ Israel, các cô vì sợ mà phạm tội với
ông. Nhưng một thiếu nữ Giuđa không chiều theo tội ác của ông. Vậy bây giờ,
ông hãy nói cho tôi biết ông đã bắt được hai người phạm tội dưới cây gì?"
Ông ta trả lời: "Dưới cây sồi". Ðaniel liền nói: "Cả ông nữa, ông hoàn toàn
nói dối, cho nên thiên thần Chúa, tay cầm gươm, chờ đợi phân thây tiêu diệt
ông".
Bấy giờ tất cả dân chúng hô lớn tiếng và chúc tụng Chúa đã cứu thoát những
kẻ trông cậy vào Chúa. Ðoạn họ nghiêm trị hai vị kỳ lão mà Ðaniel đã minh
chứng rằng hai ông đã vu khống, họ đã xử với hai ông như hai ông đã xử độc
ác với kẻ khác. Chiếu theo luật Môsê, họ lên án xử tử hai ông, và ngày hôm
đó máu người vô tội khỏi đổ oan.
Ðó là lời Chúa.
Hoặc đọc bài vắn này: Ðn
13, 41c-62 từ chỗ "
Ðáp Ca: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Ðáp: Dù
bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con (c.
5ab).
Xướng: 1) Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì,
Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi;
tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. - Ðáp.
2) Ngài dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. (Lạy
Chúa), dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng
con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. - Ðáp.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương. Ðầu con
thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. - Ðáp.
4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và
trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. - Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: 2 Cr 6, 2b
Ðây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ.
Phúc Âm: Ga 8, 1-11
"Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu lên núi cây dầu. Và từ sáng sớm, Người lại vào trong đền thờ. Toàn dân đến cùng Người, nên Người ngồi xuống và bắt đầu giảng dạy. Lúc đó, luật sĩ và biệt phái dẫn đến Người một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, và họ đặt nàng đứng trước mặt mọi người. Họ hỏi Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, thiếu phụ này bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, mà theo luật Môsê, hạng phụ nữ này phải bị ném đá. Còn Thầy, Thầy dạy sao?" Họ nói thế có ý gài bẫy Người để có thể tố cáo Người. Nhưng Chúa Giêsu cúi xuống, bắt đầu lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người đứng lên và bảo họ: "Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi". Và Người ngồi xuống và lại viết trên đất. Nghe nói thế họ rút lui từng người một, bắt đầu là những người nhiều tuổi nhất, và còn lại một mình Chúa Giêsu với người thiếu phụ vẫn đứng đó. Bấy giờ Chúa Giêsu đứng thẳng dậy và bảo nàng: "Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả rồi? Không ai kết án chị ư?" Nàng đáp: "Thưa Thầy, không có ai". Chúa Giêsu bảo: "Ta cũng thế, Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa".
Ðó là lời Chúa.

"Nhân vô thập toàn"
Suy niệm Năm A
Phụng Vụ Lời Chúa cho Thứ Hai Tuần V Mùa Chay (cho những năm mà Chúa Nhật hôm trước không phải là Năm C). Nếu để ý về bố cục của các bài Phúc Âm cho ngày thường trong cả 2 tuần lễ cuối cùng của Mùa Chay, tuần 4 và tuần 5, chúng ta thấy Giáo Hội cố ý sắp xếp các bài Phúc Âm như thế này:
1- Toàn là bài Phúc Âm theo Thánh Gioan, và hầu hết là các bài Phúc Âm cho thấy cuộc đụng độ càng ngày càng gay go quyết liệt giữa Chúa Giêsu và thành phần dân chúng nói chung nhất là thành phần trí thức và lãnh đạo Do Thái giáo nói riêng;
2- Các bài Phúc Âm của Thánh Gioan được Giáo Hội cố ý chọn đọc cho ngày thường ở 2 tuần cuối Mùa Chay bao gồm 2 yếu tố chính yếu làm nên Thánh Kinh và việc linh ứng Thánh Linh, đó là mạc khải thần linh (nơi Chúa Kitô) và đức tin cứu rỗi (nơi dân Do Thái);
3- Qua các bài Phúc Âm của Thánh Gioan ở 2 tuần cuối Mùa Chay này, chúng ta thấy tình trạng đụng độ quyết liệt giữa mạc khải thần linh của nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét Thiên Sai về chính căn tính của Người, với đức tin của thành phần Do Thái giáo vốn tin có một Thiên Chúa chân thật duy nhất trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ;
4- Cuộc đụng độ quyết liệt giữa mạc khải thần linh được nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét Thiên Sai tỏ cho đức tin truyền thống của Do Thái giáo gay go kinh hoàng đến độ họ đã chẳng những không thể nào chấp nhận Người, mà còn ném đá Người và tìm cách sát hại Người;
5- Và đó là lý do tột đỉnh của cuộc đụng độ sống còn giữa mạc khải thần linh (được tỏ ra nơi Con Thiên Chúa làm người) và đức tin tuân phục nơi con người (mà dân Do Thái đại diện) là ở Tuần Thánh, được mở ra với Chúa Nhật Lễ Lá, và kết thúc với Tam Nhật Thánh cũng gọi là Tam Nhật Vượt Qua của Chúa Kitô, Đấng khổ nạn tử giá và Phục Sinh vinh quang.
Nếu theo dõi kỹ hơn nữa, chúng ta còn thấy Giáo Hội cố ý chọn đọc các bài Phúc Âm của Thánh Gioan cho 2 tuần cuối Mùa Chay ở ngày thường như thế này nữa, đó là bài Phúc Âm ở đầu mỗi tuần, bài Phúc Âm ở giữa mỗi tuần và bài Phúc Âm ở mỗi cuối tuần trong 2 tuần này.
Nếu bài Phúc Âm ở mỗi đầu tuần (Thứ Hai và Thứ Ba - tuần 4; Thứ Hai - tuần 5) trong 2 tuần cuối này là một câu truyện (đều về ơn cứu độ, cả với dân ngoại vô thần lẫn Do Thái tật nguyền - tuần 4; và với tội nhân - tuần 5), liên quan đến các nhân vật bày tỏ đức tin trước mạc khải thần linh (về lòng thương xót) được nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét tỏ ra cho họ, bằng việc Người cụ thể làm cho họ (phép lạ về phần xác - tuần 4; và giải cứu về phần hồn - tuần 5), thì bài Phúc Âm giữa mỗi tuần trong 2 tuần này toàn là chính lời Người nói về chính bản thân Người, về căn tính của Người, về nguồn gốc của Người, để rồi bài Phúc Âm ở cuối mỗi tuần (Thứ Bảy) cho thấy thành quả hay tác dụng của tất cả những gì Người đã mạc khải trong tuần (cuối tuần 4: tình trạng chia rẽ chẳng những trong dân chúng mà còn cả hội đồng đầu mục Do Thái; cuối tuần 5: chia rẽ chính nội bộ hội đồng đầu mục Do Thái, để đi đến quyết định tiên tri của vị thượng tế là một người chết thay cho toàn dân, một quyết định cuối cùng ngay trước khi tiến vào Tuần Thương Khó và Tam Nhật Vượt Qua).
Riêng bài Phúc Âm cho Thứ Hai đầu tuần 5 Mùa Chay hôm nay, Phụng Vụ Lời Chúa cho chúng ta thấy trường hợp của 2 người phụ nữ liên quan đến tội ngoại tình:
Trước hết là người phụ nữ ở trong Sách Tiên Tri Đaniên ở Bài Đọc 1, đó là một người vợ đẹp Suzanna, hoàn toàn bị oan ức, nhưng Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự đã giải thoát cho nàng khỏi bị chết oan, nhờ đó, qua chàng tiên tri thiếu niên Đaniên, Ngài đã tỏ mình ra cho những ai tham dự vào vụ án ngoại tình này nói chung, đặc biệt cho hai tay quan án bất lương gian dâm âm mưu hãm hiếp nàng bất thành nên vu oan cho nàng để giữ lấy danh dự và uy tín của mình, để họ tin vào Ngài hơn.
Sau nữa là người phụ nữ ở trong bài Phúc Âm, người phụ nữ quả thực phạm tội ngoại tình và đã bị bắt quả tang. Nếu chị vô tội mà thành phần luật sĩ và biệt phái dám mang đến hỏi Chúa Giêsu là Đấng thấu suốt mọi sự thì Người đã chẳng khuyên riêng chị ở cuối bài Phúc Âm rằng "Chị hãy về và từ đây đừng phạm tội nữa". Tuy nhiên, trong khi họ gài bẫy bắt Người bằng con mồi phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình ấy, thì Người lại sử dụng chính gậy ông đập lưng ông.
Ở chỗ, Người chẳng những không sa lưới của họ mà còn cứu họ, và ở chỗ Người chẳng những cứu cả hồn lẫn xác của nữ tội nhân ngoại tình mà còn cứu cả thành phần công chính tố cáo chị với Người nữa. Thật vậy, Người đã không bất đồng hay đồng tình ném đá chị trước vấn đề được họ đặt ra: đồng ý ném đá thì Người tác hành phản lại với lòng thương xót hằng có nơi Người và vẫn được Người tỏ ra qua các phép lạ Người làm; ngược lại Người cũng chẳng bảo đừng ném đá chị, bằng không Người đã xui họ làm một điều hoàn toàn trái với luật Moisen, như thể Người dung dưỡng tội nhân và chấp nhận tội lỗi. Đằng này, Người dùng chính tội lỗi của chị để mở mắt cho thành phần luật sĩ và biệt phái vốn tự hào mình công chính.
Qua ý nghĩa của bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy được Lòng Thương Xót Chúa vô cùng tuyệt vời, qua việc Chúa Kitô giải quyết vấn đề người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình đáng bị ném đá chết. Vẫn biết bài Đáp Ca hôm nay am hợp với trường hợp của người vợ duyên sắc được Chúa cứu cho khỏi bị chết vì oan ức ở Bài Đọc 1 hôm nay, nhưng, ý nghĩa và tâm tình của những câu Thánh Vịnh 22 được Giáo Hội chọn đọc hôm nay, vẫn có thể áp dụng và rất thích đáng cho cả trường hợp của chị phụ nữ tội nhân đáng bị ném đá chết lẫn thành phần công chính biệt phái cùng luật sĩ trong bài Phúc Âm hôm nay.
1) Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
2) Ngài dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. (Lạy Chúa), dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương. Ðầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa.
4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.
Phúc Âm: Ga 8, 12-20
"Ta là sự sáng thế gian".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với những người biệt phái rằng: "Ta là sự sáng thế
gian. Ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có ánh sáng ban sự
sống".
Những người biệt phái nói: "Ông tự làm chứng cho mình, nên chứng của ông
không xác thực".
Chúa Giêsu trả lời: "Cho dầu Ta tự làm chứng về Ta, thì chứng của Ta cũng
xác thực, vì Ta biết rõ Ta từ đâu tới và đi về đâu. Còn các ông, các ông
không biết Ta từ đâu tới, cũng chẳng biết Ta đi đâu. Các ông đoán xét theo
xác thịt; còn Ta, Ta không đoán xét ai. Hoặc nếu Ta có đoán xét, thì sự đoán
xét của Ta cũng xác thực, bởi vì không phải chỉ có mình Ta, nhưng còn có Cha
Ta là Ðấng đã sai Ta. Vả lại trong luật của các ông có ghi: Chứng của hai
người thì xác thực. Ta tự làm chứng về Ta, và Ðấng đã sai Ta, là Chúa Cha,
cũng làm chứng cho Ta nữa".
Họ nói: "Cha của ông đâu?" Chúa Giêsu trả lời: "Các ông không biết Ta, cũng
chẳng biết Cha Ta. Nếu các ông biết Ta thì cũng sẽ biết Cha Ta".
Chúa Giêsu nói những lời trên gần nơi để Kho Tiền, khi Người giảng dạy trong
đền thờ. Thế mà không ai bắt Người, vì chưa đến giờ Người.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm Năm C
Nếu chính Chúa Kitô không biết mình là ai và từ đâu đến
thì Người không
phải là Đấng Thiên Sai của Dân Do Thái và là Đấng Cứu Thế của nhân loại
Nếu bài
Phúc Âm tuần trước cả dân chúng lẫn thành phần lãnh đạo đều chia rẽ
nhau về nguồn gốc của Chúa Kitô thì tuần này Người tự mình chính
thức làm sáng tỏ nguồn gốc thần linh của Ngưòi. Nếu tuần trước Người
nói Người không tự làm chứng về mình thì tuần này Người không thể
không tự làm chứng về Người bởi không ai biết Người bằng chính
Người.
Thứ Ba
Lời Chúa
Bài Ðọc I: Ds 21, 4-9
"Kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống".
Trích sách Dân Số.
Trong những ngày ấy, các người Do-thái rời bỏ núi Hor, theo con đường về
phía Biển Ðỏ, để vòng quanh xứ Eđom. Dân chúng đi đường xa mệt nhọc, nên nản
chí, kêu trách Chúa và Môsê rằng: "Tại sao các người dẫn chúng tôi ra khỏi
Ai-cập, cho chúng tôi chết trong hoang địa. Không bánh ăn, không nước uống,
chúng tôi đã ngán thức ăn nhàm chán này".
Bởi đó Chúa cho rắn lửa bò ra cắn chết nhiều người, họ chạy đến cùng Môsê và
thưa rằng: "Chúng tôi đã phạm tội, vì chúng tôi nói những lời phản nghịch
Chúa và phản nghịch ông. Xin ông cầu nguyện để Chúa cho chúng tôi khỏi rắn
cắn". Môsê cầu nguyện cho dân. Và Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ngươi hãy đúc
một con rắn đồng và treo nó lên làm dấu; kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên rắn
đồng, thì được sống". Môsê đúc một con rắn đồng, treo nó lên làm dấu, và kẻ
nào bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng, thì được chữa lành.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 101, 2-3. 16-18. 19-21
Ðáp: Lạy
Chúa, xin nhậm lời con cầu nguyện, và cho tiếng con kêu lên tới Chúa (c. 2).
Xướng: 1) Lạy Chúa, xin nhậm lời con cầu nguyện, và cho tiếng con kêu lên
tới Chúa. Xin Chúa đừng ẩn giấu thánh nhan, trong ngày con phải phiền muộn.
Xin Chúa lắng tai nghe con, khi con cầu nguyện, Chúa mau nhậm lời. - Ðáp.
2) Lạy Chúa, muôn dân sẽ kính tôn danh thánh Chúa, và mọi vua trên địa cầu
sẽ quý trọng vinh quang Ngài; khi Chúa sẽ tái lập Sion, Ngài xuất hiện trong
vinh quang xán lạn; Ngài sẽ đoái nghe lời nguyện kẻ túng nghèo, và không chê
lời họ kêu van.- Ðáp.
3) Những điều này được ghi lại cho thế hệ mai sau, và dân tộc được tác tạo
sẽ ca tụng Thiên Chúa. Từ thánh điện cao sang Chúa đã đoái nhìn, từ trời cao
Chúa đã ngó xuống trần thế, để nghe tiếng than khóc của tù nhân, để giải
thoát kẻ bị lên án tử. - Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 94, 8ab
Hôm nay các ngươi đừng cứng lòng, nhưng hãy nghe tiếng Chúa phán.
Phúc Âm: Ga 8, 21-30
"Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với những người biệt phái rằng: "Ta ra đi, các ông sẽ
tìm kiếm Ta và sẽ chết trong tội của các ông. Nơi Ta đi các ông không thể
tới được".
Người Do-thái nói với nhau rằng: "Ông ta sắp tự vẫn hay sao mà lại nói "Nơi Ta đi các ông không thể tới được"?"
Chúa Giêsu nói tiếp: "Các ông thuộc về hạ giới; còn Ta, Ta bởi trời cao. Các
ông thuộc về thế gian này; còn Ta, Ta không thuộc về thế gian này. Ta đã
nói: Các ông sẽ chết trong tội các ông. Vì, nếu các ông không tin Ta, các
ông sẽ chết trong tội của các ông".
Vậy họ liền hỏi: "Ông là ai?" Chúa Giêsu trả lời: "Là Nguyên thuỷ đang nói
với các ông đây! Ta có nhiều điều phải nói và đoán xét về các ông, nhưng
Ðấng đã sai Ta là Ðấng chân thật, và điều Ta nói ra trong thế gian đây,
chính là điều Ta đã nghe biết ở Ngài".
Nhưng họ không hiểu là Người nói về Chúa Cha, vì thế Chúa Giêsu nói: "Khi
nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai. Ta không
tự mình làm điều gì. Ðiều Ta nói, chính là điều Chúa Cha đã dạy Ta. Ðấng đã
sai Ta đang ở với Ta; Ngài không để Ta một mình, bởi vì Ta luôn luôn làm
điều đẹp lòng Ngài". Khi Người nói những điều ấy thì có nhiều kẻ tin vào
Người.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Chúa Giêsu đã chẳng những cho họ biết lý do họ không hiểu Người
mà còn cho họ biết nguyên do phạm tội chính khi họ "tìm kiếm" Người nữa
Thứ Tư
Lời Chúa
Bài Ðọc I: Ðn 3, 14-20. 91-92. 95
"Người đã sai thiên thần của Người đến giải thoát các tôi tớ Người".
Trích sách Tiên tri Ðaniel.
Trong những ngày ấy, vua Nabucôđônôsor nói rằng: "Hỡi Sidrach, Misach và
Abđênagô, có phải các ngươi không chịu thờ các thần của ta và lạy tượng vàng
ta đã dựng không? Vậy nếu các ngươi đã sẵn sàng, thì lúc nghe tiếng kèn,
tiếng huyền cầm, tiếng còi, quyển sáo và các thứ nhạc khí, các ngươi phải
sấp mình thờ lạy tượng ta đúc. Nhưng nếu các ngươi không chịu sấp mình thờ
lạy, lập tức các ngươi sẽ bị ném vào lò lửa cháy bừng. Và coi Chúa nào sẽ
cứu thoát các ngươi khỏi tay ta". Sidrach, Misach và Abđênagô trả lời với
vua Nabucôđônôsor rằng: "Tâu lạy vua, chúng tôi không cần trả lời cùng vua
về việc này, vì đây Thiên Chúa chúng tôi thờ có thể cứu thoát chúng tôi khỏi
lò lửa cháy bừng, và khỏi tay đức vua; nhược bằng Thiên Chúa chúng tôi không
muốn thì, tâu lạy vua, vua nên biết rằng chúng tôi không thờ các thần của
vua và không lạy tượng vàng của vua dựng lên".
Bấy giờ vua Nabucôđônôsor thịnh nộ, mặt biến sắc, nhìn thẳng vào Sidrach,
Misach và Abđênagô, ông ra lệnh đốt lò nóng hơn thường gấp bảy lần, và
truyền lệnh các tráng sĩ trong cơ binh trói chân Sidrach, Misach và
Abđênagô, và ném vào lò lửa cháy bừng.
Bấy giờ vua Nabucôđônôsor bỡ ngỡ, vội vã đứng lên và nói với các triều thần
rằng: "Chớ thì ta không ném ba người bị trói vào lò lửa sao?" Các ông trả
lời với vua rằng: "Tâu lạy vua, thật có". Vua nói: "Ðây ta thấy có bốn người
không bị trói đi lại giữa lò lửa mà không hề hấn gì; dáng điệu người thứ tư
giống như Con Thiên Chúa". Vua Nabucôđônôsor nói tiếp: "Chúc tụng Chúa của
Sidrach, Misach và Abđênagô, Ðấng đã sai thiên thần của Người đến giải thoát
các tôi tớ tin cậy Người, không chịu vâng phục mệnh lệnh của nhà vua và thà
hy sinh thân xác, chớ không phục luỵ thờ lạy Chúa nào khác ngoài Thiên Chúa
của họ".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Ðn 3, 52. 53. 54. 55. 56
Ðáp: Chúa
đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời (c. 52b).
Xướng: 1) Lạy Chúa là Thiên Chúa cha ông chúng con, Chúa đáng chúc tụng,
đáng ca ngợi, tôn vinh và tán tụng muôn đời. Chúc tụng thánh danh vinh quang
Chúa, đáng ca ngợi, tôn vinh và tán tụng muôn đời. - Ðáp.
2) Chúa đáng chúc tụng trong đền thánh vinh quang Chúa, đáng ca ngợi và tôn
vinh muôn đời. - Ðáp.
3) Chúc tụng Chúa ngự lên ngai vương quyền Chúa, đáng ca ngợi và tôn vinh
muôn đời. - Ðáp.
4) Chúc tụng Chúa, Ðấng nhìn thấu vực thẳm và ngự trên các Thần Vệ Binh,
đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời. - Ðáp.
5) Chúc tụng Chúa ngự trên bầu trời, đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời. -
Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 11, 25a và 26
Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời
đời".
Phúc Âm: Ga 8, 31-42
"Nếu Chúa Con giải thoát các ngươi, thì các ngươi thực sự được tự do".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với những người Do-thái đã tin nơi Ngài rằng: "Nếu
các ngươi cứ ở trong lời Ta, các ngươi sẽ thật là môn đệ của Ta, và sẽ được
biết sự thật, và sự thật giải thoát các ngươi". Họ thưa lại Người: "Chúng
tôi là con cháu Abraham, và chưa bao giờ làm nô lệ ai cả. Tại sao ông lại
nói "Các ngươi sẽ được tự do"?". Chúa Giêsu trả lời rằng: "Quả thật, quả
thật, Ta bảo các ngươi: Hễ ai phạm tội, thì làm nô lệ cho tội. Mà tên nô lệ
không ở mãi trong nhà; người con mới ở vĩnh viễn trong nhà. Vậy nếu Chúa Con
giải thoát các ngươi, thì các ngươi sẽ được tự do thực sự. Ta biết các ngươi
là con cháu Abraham, thế mà các ngươi lại tìm giết Ta: vì lời Ta không thấm
nhập vào lòng các ngươi. Ta nói những điều Ta đã thấy nơi Cha Ta. Còn các
ngươi, các ngươi làm điều các ngươi đã thấy nơi cha các ngươi". Họ đáp lại:
"Cha chúng tôi chính là Abraham!" Chúa Giêsu nói: "Nếu thực các ngươi là con
cháu Abraham, thì các ngươi làm công việc của Abraham! Nhưng các ngươi đang
tìm giết Ta, là người đã nói cho các ngươi biết sự thật mà Ta nghe tự Thiên
Chúa. Ðiều đó Abraham đã không làm! Các ngươi đang làm việc của cha các
ngươi!" Họ lại nói: "Chúng tôi không phải là những đứa con hoang! Chúng tôi
chỉ có một Cha là Thiên Chúa!" Chúa Giêsu nói: "Nếu Thiên Chúa là Cha các
ngươi, thì các ngươi yêu mến Ta, vì Ta tự Thiên Chúa mà đến; vì Ta không tự
mình mà đến, nhưng chính Ngài đã sai Ta đến".
Ðó là lời Chúa.
Suy niệm
Cho dù họ rất muốn biết về Người, nhưng khốn thay, họ càng muốn biết thì họ lại càng vấp phạm,
nhất là vào chính lúc họ thấy rõ được tất cả sự thật về Người do chính Người cuối cùng buộc phải công nhận...
Thứ Năm
Lời Chúa
Bài Ðọc I: St 17, 3-9
"Ngươi sẽ làm tổ phụ nhiều dân tộc".
Trích sách Sáng Thế.
Trong ngày ấy, Abram sấp mình xuống đất và Thiên Chúa phán cùng ông rằng:
"Này Ta đây, Ta giao ước với ngươi, ngươi sẽ làm tổ phụ nhiều dân tộc. Thiên
hạ sẽ không còn gọi ngươi là Abram nữa, nhưng sẽ gọi là Abraham, vì Ta đặt
ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ta sẽ ban cho ngươi con cháu đông đúc. Ta sẽ
đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc, và nhiều vua chúa xuất thân từ ngươi. Ta
sẽ thiết lập giao ước vĩnh viễn giữa Ta với ngươi cùng con cháu ngươi từ thế
hệ này qua thế hệ khác, để Ta trở nên Thiên Chúa của ngươi và của dòng dõi
ngươi. Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi đất mà ngươi cư ngụ, sẽ cho
ngươi làm chủ vĩnh viễn toàn cõi đất Canaan và Ta sẽ là Chúa của chúng".
Chúa lại phán cùng Abraham rằng: "Phần ngươi và dòng dõi ngươi, từ đời nọ
sang đời kia, hãy giữ lời giao ước của Ta".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 104, 4-5. 6-7. 8-9
Ðáp: Tới
muôn đời Chúa vẫn nhớ lời minh ước (c. 8a).
Xướng: 1) Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan
Chúa luôn luôn. Hãy nhớ lại những điều kỳ diệu Chúa đã làm, những phép lạ và
những điều Ngài phán quyết. - Ðáp.
2) Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Ngài, hỡi con cháu Giacóp, những kẻ
được Ngài kén chọn, chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của
Ngài bao trùm khắp cả địa cầu. - Ðáp.
3) Tới muôn đời Ngài vẫn nhớ lời minh ước, lời hứa mà Ngài đã an bài tới
muôn thế hệ, lời minh ước Ngài đã ký cùng Abraham, lời thề hứa Ngài đã thề
với Isaac. - Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Am 5, 14
Các ngươi hãy tìm điều lành, chớ đừng tìm điều dữ, để các ngươi được sống và
Chúa sẽ ở cùng các ngươi.
Phúc Âm: Ga 8, 51-59
"Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với người Do-thái rằng: "Quả thật, quả thật, Ta bảo
các ngươi: Nếu ai giữ lời Ta, thì muôn đời sẽ không phải chết". Người
Do-thái lại nói: "Bây giờ thì chúng tôi biết rõ ông bị quỷ ám. Abraham đã
chết và các tiên tri cũng vậy, thế mà ông lại nói: "Ai giữ lời Ta, thì không
bao giờ phải chết". Chẳng lẽ ông lại lớn hơn cha chúng tôi là Abraham sao?
Ngài đã chết, các tiên tri cũng đã chết. Ông cho mình là ai?"
Chúa Giêsu trả lời: "Nếu Ta tự tôn vinh chính mình, thì vinh quang của Ta sẽ
không giá trị gì. Chính Cha Ta tôn vinh Ta. Người là chính Ðấng các ngươi
xưng là Thiên Chúa của các ngươi. Vậy mà các ngươi không biết Người. Còn Ta,
Ta biết Người. Nếu Ta nói Ta không biết Người, thì Ta cũng nói dối như các
ngươi. Nhưng Ta biết Người, và Ta giữ lời Người. Cha các ngươi là Abraham đã
hân hoan, vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta. Ông đã thấy và đã vui mừng".
Người Do-thái liền nói: "Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã trông thấy
Abraham rồi sao?" Chúa Giêsu trả lời: "Quả thật, quả thật, Ta nói với các
ngươi: Khi Abraham chưa sinh ra, thì Ta đã có rồi".
Bấy giờ họ lượm đá ném Ngài, nhưng Chúa Giêsu ẩn mình đi ra khỏi đền thờ.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Nguồn gốc thần linh của nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét,
nhân vật bị dân Do Thái bấy giờ cho Người là "bị quỉ ám" rồi bị họ "ném đá", là ở chỗ Người biết Thiên Chúa
Thứ Sáu
Lời
Chúa
Bài Ðọc I: Gr 20, 10-13
"Chúa ở cùng tôi như người lính chiến hùng dũng".
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Tôi đã nghe nhiều người thoá mạ và chế nhạo rằng: "Người này gieo khủng bố
khắp nơi. Chúng ta hãy tố cáo nó, chúng ta hãy tố cáo nó". Tất cả bạn hữu
tôi rình tôi vấp ngã mà nói rằng: "Ước gì nó bị lừa dối để chúng ta thắng nó
và sẽ trả thù nó". Nhưng Chúa ở cùng tôi như người lính chiến hùng dũng; vì
thế, những kẻ bắt bớ tôi sẽ ngã quỵ và kiệt sức. Chúng sẽ thất bại bẽ bàng,
chuốc lấy sự hổ nhục muôn đời, không bao giờ quên được.
Còn Chúa, lạy Chúa các đạo binh, Ðấng xét xử người công chính, thấu suốt tâm
can, lạy Chúa, ước gì con sẽ được thấy Chúa trả thù chúng cho con, vì con đã
tỏ bày công việc con cho Chúa.
Hãy hát mừng Chúa, hãy ca tụng Chúa, vì Người đã cứu thoát mạng sống người
bất hạnh khỏi tay kẻ dữ.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 17, 2-3a. 3bc-4. 5-6. 7
Ðáp: Trong
cơn đại hoạ, tôi đã cầu khẩn Chúa, tôi đã kêu xin Thiên Chúa của tôi (x.c.
7).
Xướng: 1) Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa, lạy Chúa là Tảng Ðá,
chiến luỹ, cứu tinh. - Ðáp.
2) Lạy Chúa là Thiên Chúa, là sơn động chỗ con nương mình, là khiên thuẫn,
là uy quyền cứu độ, là sức hộ phù con. Con xướng ca khen ngợi cầu cứu Chúa,
và con sẽ được cứu thoát khỏi tay quân thù. - Ðáp.
3) Sóng tử thần đã bao bọc thân con, và thác nước ôn dịch làm con kinh hãi.
Thừng chão địa ngục đã quấn lấy con, lưới tử thần đã chụp bắt con rồi. -
Ðáp.
4) Trong cơn đại hoạ, tôi đã cầu khẩn Chúa, tôi đã kêu xin Thiên Chúa của
tôi; từ nơi thánh đài, Ngài nghe rõ tiếng, và tiếng tôi kêu thấu đến tai
Ngài. - Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ed 33, 11
Chúa phán: "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối
và được sống".
Phúc Âm: Ga 10, 31-42
"Họ tìm bắt Người, nhưng Người thoát khỏi tay họ".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, người Do-thái lượm đá để ném Chúa Giêsu. Người lên tiếng hỏi rằng:
"Ta đã cho các ngươi thấy nhiều việc tốt lành bởi Cha Ta. Vậy vì việc nào mà
các ngươi muốn ném đá Ta?"
Người Do-thái trả lời: "Chúng tôi muốn ném đá ông không phải vì việc lành,
nhưng vì một lời lộng ngôn, bởi vì ông chỉ là người mà lại tự cho mình là
Thiên Chúa".
Chúa Giêsu đáp lại: "Nào trong sách luật của các ngươi không có chép câu
này: "Ta đã nói: các ngươi là thần"? Vậy nếu sách luật gọi những kẻ được
nghe lời Chúa là thần, mà Kinh Thánh không thể huỷ diệt được, thì tại sao
các ngươi nói với Ðấng đã được Chúa Cha thánh hoá và sai đến trong trần gian
rằng "Ông nói lộng ngôn", vì Ta đã nói Ta là Con Thiên Chúa? Nếu Ta không
làm những việc của Cha Ta, thì các ngươi đừng tin Ta. Nhưng nếu Ta làm những
việc đó, thì dầu các ngươi không muốn tin Ta, cũng hãy tin vào các việc đó,
để các ngươi biết và tin rằng: Cha ở trong Ta, và Ta ở trong Cha".
Bởi đó họ tìm cách bắt Người, nhưng Người thoát khỏi tay họ. Người lại qua
bên kia sông Giođan, nơi trước kia Gioan đã làm phép rửa. Và Người ở lại đó.
Có nhiều kẻ đến cùng Người. Họ nói: "Gioan đã không làm một phép lạ nào.
Nhưng mọi điều Gioan nói về người này đều đúng cả". Và có nhiều kẻ tin
Người.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Đấng Thiên Sai không phải chỉ là Đấng được Thiên Chúa sai đến, như các vị tiên tri trong Cựu Ước,
mà là chính Đấng từ Thiên Chúa mà đến, Đấng tự mình biết Thiên Chúa: "Ta biết Ngài"
Thứ Bảy
Lời
Chúa
Bài Ðọc I: Ed 37, 21-28
"Ta sẽ làm cho chúng trở nên dân tộc duy nhất".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: "Này Ta sẽ đem con cái Israel ra khỏi các dân
tộc mà chúng đang cư ngụ; từ khắp nơi, Ta sẽ quy tụ chúng lại và đưa chúng
về quê hương. Ta sẽ làm cho chúng trở nên dân tộc duy nhất sống trong đất
của chúng, ở trên núi Israel; chỉ có một vua cai trị chúng; chúng sẽ không
còn là hai dân tộc, cũng chẳng còn chia làm hai nước nữa.
Chúng sẽ không còn dơ nhớp vì thần tượng, vì các điều ghê tởm và mọi tội lỗi
của chúng. Ta sẽ cứu thoát chúng khỏi mọi nơi tội lỗi. Ta sẽ thanh tẩy
chúng; chúng sẽ là dân Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng. Ðavit tôi tớ Ta
sẽ là vua của chúng, chúng sẽ chỉ có một chủ chăn mà thôi. Chúng sẽ tuân giữ
và thực thi các giới răn của Ta. Chúng sẽ cư ngụ trong đất mà Ta đã ban cho
Giacóp tôi tớ Ta, và là đất tổ phụ chúng đã cư ngụ; chúng và con cái cùng
cháu chắt của chúng sẽ cư ngụ ở đó đến muôn đời. Và Ðavit, tôi tớ Ta, sẽ là
vua của chúng đến muôn đời. Ta sẽ ký kết với chúng một giao ước hoà bình: Ðó
sẽ là một giao ước vĩnh cửu đối với chúng. Ta sẽ gầy dựng chúng, sẽ cho
chúng sinh sản ra nhiều và sẽ thiết lập nơi thánh Ta giữa chúng cho đến muôn
đời. Nhà Tạm Ta sẽ ở giữa chúng. Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân
Ta. Các dân tộc sẽ biết rằng Ta là Chúa, Ðấng thánh hoá Israel, khi đã lập
nơi thánh Ta ở giữa chúng đến muôn đời".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Gr 31, 10. 11-12ab. 13
Ðáp: Chúa
sẽ gìn giữ chúng ta như mục tử chăn dắt đoàn chiên mình (c. 10d).
Xướng: 1) Hỡi các dân tộc, hãy nghe lời Chúa, hãy công bố lời Chúa trên các
đảo xa xăm; hãy nói rằng: "Ðấng đã phân tán Israel, sẽ quy tụ nó lại, và sẽ
gìn giữ nó, như mục tử chăn dắt đoàn chiên mình". - Ðáp.
2) Vì Chúa đã giải phóng Giacóp, giờ đây với cánh tay mạnh mẽ hơn, Người cứu
thoát nó. Chúng sẽ đến và ca hát trên núi Sion, chúng sẽ đổ xô về phía hạnh
phúc của Người. - Ðáp.
3) Bấy giờ người thiếu nữ sẽ hân hoan nhảy mừng, các thanh niên và các cụ
già cũng làm y như thế; Ta sẽ biến đổi tang chế của chúng ra niềm hân hoan,
sẽ an ủi chúng và cho chúng hết đau khổ. - Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ed 33, 11
Chúa phán: "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối
và được sống".
Phúc Âm: Ga 11, 45-56
"Ðể quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mát về một mối".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, trong những người đến thăm Maria và đã chứng kiến việc Ngài làm, có
nhiều kẻ đã tin vào Chúa Giê-su. Nhưng trong nhóm có kẻ đi gặp người biệt
phái và thuật lại các việc Chúa Giêsu đã làm. Do đó, các thượng tế và biệt
phái họp công nghị, và nói: "Chúng ta phải xử trí sao đây? Vì người này làm
nhiều phép lạ. Nếu chúng ta để mặc người ấy làm như thế, thì mọi người sẽ
tin theo và quân Rôma sẽ kéo đến phá huỷ nơi này và dân tộc ta". Một người
trong nhóm là Caipha làm thượng tế năm đó, nói với họ rằng: "Quý vị không
hiểu gì cả! Quý vị không nghĩ rằng thà một người chết thay cho dân, còn hơn
là toàn dân bị tiêu diệt". Không phải tự ông nói điều đó, nhưng với danh
nghĩa là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri rằng Chúa Giêsu phải chết
thay cho dân, và không phải cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái
Thiên Chúa đang tản mát về một mối.
Bởi vậy, từ ngày đó, họ quyết định giết Người. Vì thế Chúa Giêsu không còn
công khai đi lại giữa người Do-thái nữa. Người đi về miền gần hoang địa, đến
thành phố tên là Ephrem, và ở lại đó với các môn đệ. Khi đó đã gần đến Lễ
Vượt Qua của người Do-thái. Có nhiều người từ các miền lên Giêrusalem trước
lễ, để được thanh tẩy. Họ tìm Chúa Giêsu; họ đứng trong đền thờ và bàn tán
với nhau: "Anh em nghĩ sao? Người có đến hay không?" Còn các thượng tế và
biệt phái đã ra lệnh rằng nếu ai biết Người ở đâu, thì phải tố cáo để họ bắt
Người.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Lạ lùng thay họ tưởng rằng họ đã thắng bằng quả banh họ chuyền nhau đã làm tung lưới đối phương là dự án cứu độ của Thiên Chúa,
không ngờ lại là cú đá phản pháo đã phá lưới chính "cái gôn - đích nhắm, mưu đồ" của chính họ
LỄ ĐỨC TRINH NỮ MARIA THỤ THAI NGÔI LỜI NHẬP THỂ 25/3 THỨ TƯ
Ngày 25 tháng 3
LỄ TRUYỀN TIN
lễ trọng

Phụng Vụ Giờ Kinh
Loài người mê muội tối tăm
Bao đời u uất bao năm đui mù,
Sắt đồng đá gỗ trơ trơ,
Cũng tin là “Chúa” cũng thờ như “cha”.
Bao lâu tin quấy thờ tà,
Bấy lâu phó mặc quỷ ma cầm đầu,
Cuộc đời thân phận ngựa trâu,
Chết đi muôn kiếp chìm sâu ngục hình.
Nhưng Con Thiên Chúa chẳng đành,
Để cho ma quỷ mặc tình hại ta,
Công trình tạo dựng của Cha,
Lẽ nào đổ vỡ tiêu ma dưới trần.
Nên Ngài mặc xác phàm nhân
Cho người dương thế thông phần phục sinh,
Cùm gông thần chết tan tành,
Phàm nhân lên ở thiên đình cùng Cha.
Hôm nay vũ trụ sum hoà,
Ánh hồng rực rỡ bông hoa tươi cười,
Mừng Con Chúa đã vào đời,
Ẩn thân trong dạ một người Nữ Trinh.
Kỷ nguyên mới đẹp bình minh,
Hoàng kim thời đại thành hình vẻ vang,
Phàm nhân gặp gỡ Thiên Hoàng,
Trần ai gần gũi thiên đàng từ đây.
Giê-su, xin hát dâng Ngài,
Là Con Thánh Mẫu trọn đời đồng trinh,
Muôn câu hát, vạn lời kinh,
Cùng dâng Thánh Phụ, Thánh Linh muôn đời.
Bí tích giao hoà của chúng ta
Trích thư của thánh Lê-ô Cả, giáo hoàng.
Đấng uy nghi đã nhận lấy thân phận thấp hèn ; Đấng quyền năng nhận kiếp người yếu đuối ; Đấng hằng hữu nhận xác phàm phải chết. Để trả món nợ mà những kẻ mang thân phận làm người như chúng ta mắc phải, bản tính bất khả tổn thương đã phối hợp với bản tính có thể chịu đau khổ. Như thế, Vị Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, là con người Giê-su Ki-tô, vừa có thể chết, lại vừa không thể chết ; và đó chính là phương dược cứu chữa chúng ta.
Thế nên Đấng là Thiên Chúa thật đã mang lấy đầy đủ và nguyên vẹn bản tính của một con người thật mà sinh ra. Người vẫn hoàn toàn là Thiên Chúa, đồng thời cũng hoàn toàn là người như chúng ta. Tôi nói “là người như chúng ta” theo nghĩa là như những gì Đấng Tạo Hoá đã dựng nên nơi chúng ta từ thuở ban đầu và cũng là những gì Người đã nhận lấy để tái tạo.
Vì nơi Chúa Cứu Thế, không có dấu vết của những gì mà tên lừa gạt đã đưa vào thế gian và con người bị lừa gạt đã mắc phải. Cho nên, dẫu Người chấp nhận chia sẻ thân phận mỏng giòn của phàm nhân chúng ta, Người vẫn không thông phần vào tội lỗi của chúng ta.
Người đã mặc lấy thân nô lệ mà không nhiễm vết nhơ tội lỗi, đã nâng cao nhân tính mà không hạ thấp thần tính : Đấng Tạo Hoá và Chủ Tể muôn loài đã muốn trở nên một người giữa những người có sinh có tử, nên đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, và nhờ đó, vốn là Đấng vô hình, Người đã hoá nên hữu hình cho chúng ta được thấy. Nhưng trút bỏ vinh quang như thế là Người đã rủ tình thương xót mà hạ cố, chứ không phải là Người đã bị mất quyền năng. Vậy Đấng, trong uy thế của một vì Thiên Chúa, đã làm ra con người, cũng chính là Đấng nay làm người trong thân phận của một kẻ tôi tớ.
Thế là Con Thiên Chúa đã đi vào hạ giới của chúng ta. Người từ ngai trời mà xuống, nhưng không rời bỏ vinh quang của Cha. Người được sinh ra theo một lối sinh khác để đi vào một thế giới khác.
Nói là “vào một thế giới khác”, vì trong giới Thiên Chúa, Người vô hình, còn trong giới phàm nhân, Người hữu hình. Đấng vô biên đã muốn trở thành hữu hạn. Đấng vẫn hiện hữu trước thời gian đã bắt đầu hiện diện từ một thời điểm. Đấng là Chúa Tể càn khôn đã mặc lấy thân nô lệ, che giấu hết uy quyền vô biên của mình. Đấng là Thiên Chúa không thể chịu đau khổ, đã chẳng quản nên người phàm có thể chịu khổ đau. Và Đấng bất tử đã chẳng nề chấp nhận luật tử sinh.
Quả thế, Đấng thật sự là Thiên Chúa cũng thật sự là con người, và sự phối hợp này không có chi dối trá, vì giữa phận hèn phàm nhân và thần tính cao cả vẫn có một quan hệ hỗ tương.
Thiên Chúa vẫn nguyên vẹn là Thiên Chúa khi Người cúi xuống xót thương. Cũng vậy, con người không mất tư chất của mình khi phẩm vị được nâng lên. Cả hai bản tính cùng hoạt động, nhưng lại thông hiệp với nhau. Đó là một điều đặc biệt : Ngôi Lời vẫn hoạt động theo bản tính của Ngôi Lời, còn xác phàm vẫn theo bản tính xác phàm.
Một đàng rạng ngời vinh quang vì phép lạ, một đàng quỵ ngã vì nhục hình. Ngôi Lời không mất đi vinh quang ngang hàng với Cha thế nào, thì xác phàm của Người cũng không rời bỏ bản tính nhân loại của chúng ta như thế.
Phải nhắc đi nhắc lại rằng Người chỉ là một hữu thể duy nhất, vừa thật sự là Con Thiên Chúa, vừa thật sự là con của loài người. Người là Thiên Chúa, bởi lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Người là một con người, bởi Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.
XLạy Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, xin nhậm lời Chúa do thiên sứ truyền lại : Này đây bà sẽ thụ thai và sinh con, và con bà sinh hạ vừa là Thiên Chúa, vừa là người. Lạy Mẹ Ma-ri-a,
Đchính vì thế, Mẹ được ngợi khen là có phúc hơn mọi người phụ nữ.
XMẹ sẽ thụ thai, nhưng vẫn mãi tinh tuyền, Mẹ sẽ sinh con, nhưng vẫn luôn trinh khiết.
Đchính vì thế, Mẹ được ngợi khen là có phúc hơn mọi người phụ nữ.
Rực rỡ ngày lên báo tin lành,
Thiên thần mang đến Mẹ Đồng Trinh
Lời Thiên Chúa hứa và thực hiện
Cho cả trần gian hưởng thái bình.
Đấng tự ngàn đời đã sinh ra
Từ lòng muôn thuở Chúa Ngôi Cha,
Giáng trần phải chọn người thân mẫu
Sống kiếp phàm nhân chẳng nề hà.
Chân Lý ngàn thu nay nhập thể
Trong lòng Trinh Nữ chẳng ai ngờ,
Chỉ hồn trong trắng được chiêm ngưỡng,
Xin giãi sáng vào cõi bùn nhơ.
Được phúc cưu mang Đấng Cửu Trùng,
Dẫu là tỳ nữ rất khiêm cung,
Giờ đây Bà Chúa trên Thiên Quốc
Xin Mẹ hằng thương chúng con cùng.
Muôn tiếng ngợi khen dâng kính Chúa
Giáng trần sinh bởi Mẹ Đồng Trinh.
Ngài cùng Thánh Linh và Thánh Phụ
Thiên thu hiển trị cõi thiên đình.
Khắp cả trần gian hãy biết rằng
Tin Mừng giải thoát đã tràn lan,
Sau thời nô lệ đầy tăm tối
Đến lúc tự do ngập huy hoàng.
Lời sấm bao đời của Ê-sai
Về người Trinh Nữ, ứng nghiệm thay !
Thiên thần loan báo, và Trinh Nữ
Nhờ Chúa Thánh Linh, đã thụ thai.
Lời Chúa, Mẹ tin rất vững vàng,
Nay thành mầm sống Mẹ cưu mang,
Đấng trời cùng đất không chứa nổi,
Giờ hoá thai nhi sống ẩn tàng.
Này A-đam mới rửa tinh tuyền
Những gì nhơ nhớp bởi tội nguyên,
Tổ phụ kiêu căng làm đổ vỡ,
Cháu con khiêm tốn dựng xây lên.
Chúc tụng Ngôi Cha, Đấng tạo thành,
Hát mừng Thánh Tử, Vị Cứu Tinh,
Đấng đầu thai xuống lòng Trinh Nữ
Do bởi phép mầu Chúa Thánh Linh.
Hôm nay Thiên Chúa sai thiên sứ báo tin vui cứu độ cho Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Vậy ta hãy tha thiết nguyện cầu :
Lạy Chúa, xin cho chúng con được đầy tràn ân sủng.
Chúa đã chọn Đức Ma-ri-a làm Mẹ Chúa Cứu Thế, - xin rủ tình thương tất cả những ai đang mong chờ ơn cứu độ.
Lạy Chúa, xin cho chúng con được đầy tràn ân sủng.
Chúa đã sai thiên sứ Gáp-ri-en báo tin mừng bình an cho Đức Mẹ, - xin cho toàn thế giới nhìn nhận rằng Con Một Người chính là Đấng nhân loại đợi trông.
Lạy Chúa, xin cho chúng con được đầy tràn ân sủng.
Nhờ quyền năng Thánh Thần, Chúa đã cho Ngôi Lời đến ngự trong lòng Đức Mẹ để ở giữa chúng con, - xin cho chúng con biết noi gương Đức Mẹ mà đón rước Ngôi Lời của Chúa.
Lạy Chúa, xin cho chúng con được đầy tràn ân sủng.
Chúa là Đấng thương xót kẻ nghèo hèn, và ban của đầy dư cho người đói khổ, - xin nâng đỡ những ai kiệt sức, trợ giúp kẻ cơ bần và an ủi người đang hấp hối.
Lạy Chúa, xin cho chúng con được đầy tràn ân sủng.
Chỉ mình Chúa thực hiện những kỳ công vĩ đại, - xin thương cứu chúng con trong ngày Chúa cho kẻ chết được phục sinh.
Lạy Chúa, xin cho chúng con được đầy tràn ân sủng.
Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Ngôi Lời của Chúa mặc lấy xác phàm trong lòng Đức Trinh Nữ Ma-ri-a để cứu độ loài người. Này chúng con tuyên xưng Đấng Cứu Độ là Thiên Chúa thật và là người thật, xin cho chúng con cũng được thông phần bản tính Thiên Chúa của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: Is 7, 10-14
"Này trinh nữ sẽ thụ thai".
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ngày ấy, Chúa phán bảo vua Achaz rằng: "Hãy xin Thiên Chúa, Chúa ngươi, một dấu ở dưới lòng đất hay ở trên trời cao!" Nhưng vua Achaz thưa: "Tôi sẽ không xin, vì tôi không dám thử Chúa". Và Isaia nói: "Vậy nghe đây, hỡi nhà Ðavít, làm phiền lòng người ta chưa đủ ư, mà còn muốn làm phiền lòng Thiên Chúa nữa? Vì thế chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: này một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 39, 7-8a. 8b-9. 10. 11
Ðáp: Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa (c. 8a và 9a).
Xướng: 1) Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở tai con. Chúa không đòi hỏi lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: "Này con xin đến". - Ðáp.
2) Như trong cuốn sách đã chép về con, lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và luật pháp của Chúa ghi tận đáy lòng con. - Ðáp.
3) Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong đại hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi. - Ðáp.
4) Con chẳng có che đậy đức công minh Chúa trong lòng con; con đã kể ra lòng trung thành với ơn phù trợ Chúa; con đã không giấu giếm gì với đại hội về ân sủng và lòng trung thành của Chúa. - Ðáp.
Bài Ðọc II: Dt 10, 4-10
"Ở đoạn đầu cuốn sách đã viết về tôi là, lạy Chúa, tôi thi hành thánh ý Chúa".
Trích thư gửi tín hữu Do-thái.
Anh em thân mến, máu bò và dê đực không thể xoá được tội lỗi. Vì thế, khi đến trong thế gian, Chúa Giêsu phán: "Chúa đã không muốn hy tế và của lễ hiến dâng, nhưng đã tạo nên cho con một thể xác. Chúa không nhận của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội. Nên con nói: Lạy Chúa, này con đến để thi hành thánh ý Chúa, như đã nói về con ở đoạn đầu cuốn sách. Sách ấy bắt đầu như thế này: Của lễ hy tế, của lễ hiến dâng, của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội, Chúa không muốn cũng không nhận, mặc dầu được hiến dâng theo lề luật". Ðoạn Người nói tiếp: "Lạy Chúa, này con đến để thi hành thánh ý Chúa". Như thế đã bãi bỏ điều trước để thiết lập điều sau, chính bởi thánh ý đó mà chúng ta được thánh hoá nhờ việc hiến dâng Mình Chúa Giêsu Kitô một lần là đủ.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia hoặc Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 1, 14ab
(Mùa Chay: bỏ Alleluia)
Alleluia, alleluia! - Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng ta, và chúng ta đã nhìn thấy vinh quang của Người. -Alleluia.
Phúc Âm: Lc 1, 26-38
"Này Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, thiên thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nadarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Ðavít, trinh nữ ấy tên là Maria. Thiên thần vào nhà trinh nữ và chào rằng: "Kính chào Bà đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ". Nghe lời đó, Bà bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.
Thiên thần liền thưa: "Maria đừng sợ, vì đã được nghĩa với Chúa. Này Bà sẽ thụ thai, sinh một Con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận".
Nhưng Maria thưa với thiên thần: "Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?"
Thiên thần thưa: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với Bà và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà. Vì thế Ðấng Bà sinh ra, sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Và này, Isave chị họ Bà cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng, người mà thiên hạ họi là son sẻ; vì không có việc gì mà Chúa không làm được".
Maria liền thưa: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền". Và thiên thần cáo biệt Bà.
Ðó là lời Chúa.

"Hết mọi sự trong Giáo Hội, hết mọi cơ cấu và thừa tác vụ, bao gồm cả thừa tác vụ của Thánh Phêrô và của các vị thừa kế ngài, đều được ‘bao gồm’ trong áo choàng của Vị Trinh Nữ này"
ĐTC Biển Đức XVI chủ tế và giảng lễ Thánh Lễ Đồng Tế Với Tân 15 Hồng Y Thứ Bảy Lễ Mẹ Thai Lời ngày 25/3/2006 tại Quảng Trường Thánh Phêrô
Quí Hồng Y và Thượng Phụ thân mến,
Quí Huynh Khả Kính trong Hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô!
Tôi cảm thấy hết sức hân hoan chủ sự đồng tế này với các vị tân hồng y sau cuộc mật nghị hồng y hôm qua, và tôi thấy là thích đáng thực hiện cuộc mật nghị hồng y này vào ngày lễ trọng Truyền Tin. Thật vậy, trong việc nhập thể của Con Thiên Chúa, chúng ta nhận thấy nguồn gốc của Giáo Hội. Hết mọi sự được bắt đầu từ đó. Hết mọi sự hiện thực của Giáo Hội về lịch sử và từng cơ cấu thuộc tổ chức Giáo Hội cần phải được hình thành bởi nguồn mạch nguyên khởi này.
Chúng phải được hình thành bởi Chúa Kitô, Lời nhập thể của Thiên Chúa. Chính Người là Đấng chúng ta liên lỉ chúc tụng là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Đấng mà nhờ Người ý muốn cứu độ của Thiên Chúa Ngôi Cha được hoàn tất. Tuy nhiên, ngày của mọi ngày hôm nay đây chúng ta chiêm ngưỡng khía cạnh này của mầu nhiệm ấy – khía cạnh suối nguồn thần linh tuôn chảy qua một mạch nước đặc biệt đó là Trinh Nữ Maria. Thánh Bênađô đã nói về điều này bằng hình ảnh ‘aquaeductus’ sống động (cf. "Sermo in Nativitate B.V. Mariae": PL 183, 437-448). Thế nên, khi cử hành việc nhập thể của Người Con, chúng ta không thể không tôn vinh Mẹ của Người.
Lời thiên thần loan báo cho Mẹ, Mẹ đã chấp nhận, và khi Mẹ đáp lại bằng tất cả tâm hồn của mình là ‘Này tôi… xin vâng như lời ngài truyền’ (Lk 1:38), thì Lời hằng hữu bắt đều hiện hữu như là một con người trong thời gian.
Mầu nhiệm khôn lường này không ngừng trở thành những gì là bàng hoàng ngỡ ngàng từ đời nọ đến đời kia. Thánh Âu Quốc Tinh tưởng tượng ra một cuộc đối thoại giữa ngài và vị thiên thần Truyền Tin, khi đặt vấn đề là: ‘Ôi Thiên Thần, xin nói cho tôi hay là tại sao điều này đã xẩy ra nơi Mẹ Maria?’ Câu trả lời được vị thiên sứ đáp lại chất chứa chính những lời chào kính: ‘Kính mừng đầy ơn phúc’ (x Sermo 291.6). Thật vậy, vị thiên thần, ‘khi hiện ra với Mẹ’, đã không gọi Mẹ theo tên trần gian của Mẹ là Maria, mà bằng tên thần linh của Mẹ, ‘Đầy ơn phúc – gratia plena’, một tên theo nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa là ‘yêu dấu’ (x Lk 1:28) vì Mẹ luôn được Thiên Chúa biết đến và mang dấu vết Thiên Chúa. Giáo phụ Origen đã nhận định rằng không có danh xưng nào như thế được ban cho bất cứ một con người nào, và là một danh xưng duy nhất trong toàn bộ Thánh Kinh (cf ‘In Lucam’ 6:7).
Nó là một danh hiệu ở thể thụ động, thế nhưng ‘cái thụ động’ này của Mẹ Maria, Vị luôn được và đang được Chúa mãi mãi ‘yêu thương’, bao gồm việc tự do ưng thuận của Mẹ, việc đáp ứng cá nhân và nguyên vẹn của Mẹ: Khi được yêu thương, Mẹ Maria hoàn toàn chủ động, vì Mẹ chấp nhận một cách quảng đại làn sóng yêu thương của Thiên Chúa tuôn đổ xuống trên Mẹ. Cả ở việc này nữa, Mẹ cũng là người môn đệ trọn hảo của Con Mẹ, Đấng hiện thực tất cả tự do của mình qua việc tuân phục Chúa Cha.
Trong bài đọc thứ hai, chúng ta nghe một đoạn tuyệt vời được tác giả của bức Thư gửi Do Thái viết khi dẫn giải Thánh Vịnh 39 theo ý nghĩa nhập thể của Chúa Kitô: “Khi Chúa Kitô vào trần gian, Người đã thưa… ‘Này Con đây, Con xin đến để làm theo ý Cha, Ôi Thiên Chúa’” (10:5-7). Trước mầu nhiệm của hai lời ‘Này con đây’ của Chúa Kitô và Vị Trinh Nữ, lời này phản ảnh trong lời kia, làm nên câu Amen duy nhất dâng lên ý muốn yêu thương của Thiên Chúa, chúng ta cảm thấy đầy những ngỡ ngàng và tri ân cảm tạ, và chúng ta cúi mình xuống tôn thờ.
Chư huynh thân mến, thật là một ân huệ cao cả biết bao khi thực hiện việc cử hành ý nghĩa này vào Lễ Trọng Truyền Tin đây! Chúng ta có thể nhận được dồi dào ánh sáng biết bao từ mầu nhiệm này cho đời sống chúng ta làm thừa tác viên của Giáo Hội đây! Nhất là các vị tân hồng y thân mến, chư huynh có thể lãnh nhận nhiều bổ dưỡng là chừng nào cho sứ vụ làm ‘Nghị Viên’ cao cả của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô! Cơ hội thích đáng này giúp chúng ta coi biến cố hôm nay đây, một biến cố nhấn mạnh đến nguyên tố Phêrô của Giáo Hội, theo chiều hướng của một nguyên tố khác, đó là nguyên tố Thánh Mẫu, một nguyên tố thậm chí còn quan trọng hơn nữa. Tầm vóc quan trọng của nguyên tố Thánh Mẫu trong Giáo Hội, sau công đồng chung Vaticanô II, được đề cao một cách đặc biệt bởi Vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tiền nhiệm yêu dấu của tôi, hợp với khẩu hiệu của ngài ‘Totus tuus’.
Trong linh đạo của ngài, cũng như trong thừa tác vụ liên lỉ của ngài, sự hiện diện của Mẹ Maria như là Người Mẹ và là Nữ Vương của Giáo Hội đã trở thành hiển nhiên trước mắt mọi người. Nhất là ngài đã quảng bá sự hiện diện từ mẫu của Mẹ nơi vụ ám sát ngày 13/5/1981 ở Quảng Trường Thánh Phêrô. Để tưởng nhớ biến cố bi thương này, ngài đã đặt một bức ảnh Đức Trinh Nữ bằng vi thạch ghép trên cao Tông Dinh Giáo Hoàng, nhìn xuống Quảng Trường Thánh Phêrô, để hỗ trợ những giây phút chính yếu và diễn tiến hằng ngày cho giáo triều dài lâu của ngài. Đúng một năm từ khi giáo triều của ngài đi vào giai đoạn cuối cùng, giai đoạn vượt qua đầy khổ đau nhưng thực sự là vinh thắng. Tấm hình Truyền Tin, hơn bất cứ tấm hình nào khác, giúp chúng ta thấy rõ lý do tại sao hết mọi sự trong Giáo Hội trở về với mầu nhiệm Mẹ Maria chấp nhận Lời thần linh, nhờ đó, qua tác động của Thánh Linh, giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại mới được hoàn toàn niêm ấn.
Hết mọi sự trong Giáo Hội, hết mọi cơ cấu và thừa tác vụ, bao gồm cả thừa tác vụ của Thánh Phêrô và của các vị thừa kế ngài, đều được ‘bao gồm’ trong áo choàng của Vị Trinh Nữ này, trong chân trời đầy ân phúc của lời Mẹ ‘xin vâng’ theo ý muốn của Thiên Chúa. Mối liên hệ này với Mẹ Maria tự nhiên khơi lên trong tất cả chúng ta một âm hưởng rất mến thương, thế nhưng, trước hết nó có một giá trị khách quan. Giữa Mẹ Maria và Giáo Hội thực sự có một mối liên hệ tự nhiên, được Công Đồng Chung Vaticanô II nhấn mạnh qua quyết định khéo léo của mình, trong việc đưa phần về Đức Trinh Nữ vào đoạn kết của hiến chế ‘Ánh Sáng Muôn Dân’ về Giáo Hội.
Đề tài về mối liên hệ giữa nguyên tố Phêrô và nguyên tố Thánh Mẫu cũng được thể hiện nơi biểu hiệu chiếc nhẫn mà tôi sắp sửa trao cho chư huynh. Chiếc nhẫn này luôn là dấu hiệu của hôn ước. Hầu hết tất cả chư huynh đã được một chiếc nhẫn vào ngày được tấn phong lên hàng giáo phẩm, như biểu lộ lòng trung thành và việc dấn thân của chư huynh trong vấn đề trông coi Hội Thánh là hiền thê của Chúa Kitô (x. Nghi Thức Tấn Phong Giám Mục). Chiếc nhẫn tôi trao cho chư huynh hôm nay đây, chiếc nhẫn hợp với phẩm tước hồng y, là để xác nhận và củng cố việc dấn thân ấy, việc dấn thân cũng xuất phát từ tặng ân hôn ước, từ việc nhắc nhở cho chư huynh nhớ rằng trước hết và trên hết chư huynh cần phải mật thiết kết hợp với Chúa Kitô để hoàn thành sứ vụ của chư huynh là thành phần phù rể của Giáo Hội.
Chớ gì việc chư huynh chấp nhận chiếc nhẫn này, đối với chư huynh, là việc chư huynh lập lại tiếng ‘xin vâng’ của mình, tiếng ‘này con đây’ của chư huynh, ngỏ cả cùng Chúa Giêsu là Đấng đã chọn chư huynh và ủy nhiệm chư huynh, lẫn Giáo Hội, một Giáo Hội chư huynh được kêu gọi để phục vụ bằng tình mến yêu của một người bạn đời. Bởi vậy mà hai chiều kích của Giáo Hội là Thánh Mẫu và Phêrô, gặp nhau ở giá trị cao cả của ‘đức ái’ là đức làm trọn mỗi nguyên tố. Thánh Phaolô nói rằng đức ái là đặc sủng ‘cao trọng nhất’, là ‘đường lối tuyệt hảo nhất’ (1Cor 12:31,13:13).
Hết mọi sự trên thế giới này sẽ qua đi. Trong cõi vĩnh hằng chỉ có tình yêu mới tồn tại mà thôi. Vì lý do này, Chư Huynh thân mến, lợi dụng dịp thuận lợi của mùa Chay này, chúng ta hãy quyết tâm bảo đảm là hết mọi sự trong đời sống riêng tư của mình, cũng như trong hoạt động của Giáo Hội chúng ta tham phần, đều được tác động bởi đức ái và dẫn tới đức ái. Cả về khía cạnh này nữa, chúng ta được chiếu soi bởi mầu nhiệm chúng ta đang cử hành hôm nay đây. Thật vậy, việc đầu tiên Mẹ Maria làm sau khi lãnh nhận sứ điệp của Thiên Thần là ‘vội vã’ lên đường tới nhà của người chị họ Isave để phục vụ người chị này (x Lk 1:39).
Động tác của Vị Trinh Nữ này là một động tác của đức ái chân thực, một động tác khiêm tốn và can đảm, được tác động bởi niềm tin tưởng vào lời Chúa và được Thánh Linh động viên trong lòng. Những ai yêu thương thì quên mình và dấn thân phục vụ tha nhân.
Ở đây chúng ta có được hình ảnh và mô phạm của Giáo Hội! Hết mọi cộng đồng giáo hội, như Người Mẹ của Chúa Kitô, đều được kêu gọi hoàn toàn quảng đại chấp nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa là Đấng đến ngự trong Mẹ và dẫn Mẹ bước đi trên con đường yêu thương. Đó là con đường tôi đã chọn để khai triều của mình, khi mời gọi mọi người, bằng bức thông điệp đầu tiên của mình, trong việc xây dựng Giáo Hội trong đức ái như một ‘cộng đồng yêu thương’ (x Thiên Chúa Là Tình Yêu, phần 2).
Trong việc theo đuổi mục tiêu này, Chư Huynh Hồng Y khả kính, việc gắn bó về tinh thần và việc chủ động hỗ trợ của chư huynh là những gì hỗ trợ và an ủi tôi rất nhiều. Tôi cám ơn chư huynh về điều ấy, đồng thời tôi mời gọi tất cả mọi người trong chư huynh, linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân, hãy liên kết với nhau trong việc kêu cầu Thánh Linh, xin cho Hồng Y Đoàn được nhiệt thành hơn trong đức ái mục vụ, hầu giúp cho toàn thể Giáo Hội chiếu rạng tình yêu của Chúa Kitô trên thế giới, để chúc tụng và tôn vinh Ba Ngôi Chí Tháhh. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 26/3/2006
