
SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO
Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần XVI Thường Niên
Năm A (Chúa Nhật) và Năm
Chẵn (Trong
Tuần)
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Chúa Nhật
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: Kn 12,
13. 16-19
"Người ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn
trở lại".
Trích sách Khôn Ngoan.
Ngoài Chúa, không có chúa nào khác
chăm sóc mọi sự, ngõ hầu minh chứng rằng Chúa không đoán xét bất công. Vì
chưng, sức mạnh của Chúa là nguồn gốc sự công minh, và vì Người là Chúa mọi
sự, nên tỏ ra khoan dung với mọi người. Chúa chỉ tỏ sức mạnh Chúa ra khi có
kẻ không tin vào uy quyền của Chúa, và triệt hạ kẻ kiêu căng không nhìn biết
Người.
Vì là chủ sức mạnh, nên Chúa xét xử
hiền lành, Chúa thống trị chúng ta với đầy lòng khoan dung: vì khi Chúa
muốn, mọi quyền hành tuân lệnh Người. Khi hành động như thế, Người dạy dỗ
dân Người rằng: Người công chính phải ăn ở nhân đạo, và Người làm cho con
cái Người đầy hy vọng rằng: Người ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn sám hối.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 85, 5-6.
9-10. 15-16a
Ðáp: Lạy Chúa,
Chúa nhân hậu và khoan dung (c. 5a).
Xướng: 1) Lạy Chúa, vì Chúa nhân hậu
và khoan dung, giàu lượng từ bi với những ai kêu cầu Chúa. Lạy Chúa, xin
nghe lời con khẩn nguyện, và quan tâm đến tiếng con van nài. - Ðáp.
2) Các dân tộc mà Chúa tạo thành, họ
sẽ tới, lạy Chúa, họ sẽ thờ lạy Ngài, và họ sẽ ca tụng danh Ngài. Vì Ngài
cao cả và làm những điều kỳ diệu; duy một mình Ngài là Thiên Chúa. - Ðáp.
3) Nhưng lạy Chúa, Ngài là Thiên Chúa
từ bi, nhân hậu, chậm bất bình, rất mực khoan dung và thủ tín. Xin đoái nhìn
đến con và xót thương con. - Ðáp.
Bài Ðọc II: Rm 8,
26-27
"Thánh Thần cầu xin cho chúng ta
bằng những tiếng than khôn tả".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín
hữu Rôma.
Anh em thân mến, có Thánh Thần nâng đỡ
sự yếu hèn của chúng ta. Vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho xứng
hợp, nhưng chính Thánh Thần cầu xin cho chúng ta bằng những tiếng than khôn
tả. Mà Ðấng thấu suốt tâm hồn, thì biết điều Thánh Thần ước muốn. Bởi vì
Thánh Thần cầu xin cho các thánh theo ý Thiên Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Ga 6, 64b
và 69b
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, lời
của Chúa là thần trí và là sự sống; Chúa có những lời ban sự sống đời đời. -
Alleluia.
Phúc Âm: Mt 13,
24-30 {hoặc 24-43}
"Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến
mùa gặt".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán một dụ ngôn
khác cùng dân chúng rằng: "Nước trời giống như người kia gieo giống tốt
trong ruộng mình. Trong lúc mọi người ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo cỏ
lùng vào ngay giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa lớn lên và trổ bông thì cỏ lùng
cũng lộ ra. Ðầy tớ chủ nhà đến nói với ông rằng: "Thưa ông, thế ông đã không
gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Vậy cỏ lùng từ đâu mà có?" Ông đáp:
"Người thù của ta đã làm như thế". Ðầy tớ nói với chủ: "Nếu ông bằng lòng,
chúng tôi xin đi nhổ cỏ". Chủ nhà đáp: "Không được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các
anh lại nhổ luôn cả lúa chăng. Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt. Và
đến mùa, ta sẽ dặn thợ gặt: "Các anh hãy nhổ cỏ lùng trước, rồi bó lại từng
bó mà đốt đi, sau mới thu lúa lại chất vào lẫm cho ta".
{Người
lại nói với họ dụ ngôn khác mà rằng: "Nước trời giống như hạt cải người kia
gieo trong ruộng mình. Hạt đó bé nhỏ hơn mọi thứ hạt giống, nhưng khi mọc
lên, thì lớn hơn mọi thứ rau cỏ, rồi thành cây, đến nỗi chim trời đến nương
náu nơi ngành nó".
Người lại nói với họ một dụ ngôn khác
nữa mà rằng: "Nước trời giống như men người đàn bà kia lấy đem trộn vào ba
đấu bột, cho đến khi bột dậy men".
Chúa Giêsu dùng dụ ngôn mà phán những
điều ấy với dân chúng. Người không phán điều gì với họ mà không dùng dụ
ngôn, để ứng nghiệm lời tiên tri đã chép rằng: "Ta sẽ mở miệng nói lời dụ
ngôn, Ta sẽ tỏ ra những điều bí nhiệm từ lúc dựng nên thế gian". Sau khi
giải tán dân chúng, Người trở về nhà. Các môn đệ đến gặp Người và thưa rằng:
"Xin Thầy giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe". Người
đáp rằng: "Kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Còn hạt giống
tốt là con cái Nước trời. Cỏ lùng là con cái gian ác. Kẻ thù gieo cỏ lùng là
ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần. Cũng như người
ta thu lấy cỏ lùng, rồi thiêu đốt trong lửa thế nào, thì ngày tận thế cũng
sẽ xảy ra như vậy: Con Người sẽ sai các thiên thần đi thu tất cả gương xấu
và mọi kẻ làm điều gian ác khỏi nước Chúa, rồi ném tất cả chúng vào lửa: ở
đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ kẻ lành sẽ sáng chói như mặt trời
trong Nước của Cha mình. Ai có tai để nghe thì hãy nghe".}
Ðó là lời Chúa.

Suy Nghiệm Lời Chúa
Chính vì lúa tốt mới cần cỏ lùng
tội nhân nhờ thánh nhân - thánh nhân cho tội
nhân
Chúa Nhật XVI Năm A tuần này Phụng Vụ Lời Chúa mà bài
Phúc Âm là chính tiếp tục về Mầu Nhiệm Nước Trời nơi dụ ngôn cỏ lùng trong
ruộng, đúng hơn dụ ngôn lúa tốt giữa cỏ lùng. Hai dụ ngôn sau của bài Phúc
Âm hôm nay về Nước Trời, dụ ngôn hạt cải gieo trong ruộng và dụ ngôn men
trong bột, cùng với phần dẫn giải về dụ ngôn lúa tốt giữa cỏ lùng, không
buộc đọc. Dụ ngôn lúa tốt giữa cỏ lùng là dụ ngôn tiếp theo dụ ngôn của Chúa
Nhật tuần trước về người gieo giống.
Nếu ở Chúa Nhật tuần trước, dụ ngôn trong bài Phúc Âm
theo Thánh ký Mathêu chính yếu về người gieo giống nhưng nội dung lại chỉ
liên quan đến thân phận của hạt giống nơi từng môi trường đón nhận hạt giống
được gieo xuống thế nào thì ở Chúa Nhật tuần này, dụ ngôn về "người gieo
giống tốt trong ruộng của mình" cũng chỉ liên quan đến riêng số phận
nguy hại của lúa ở giữa cỏ lùng trong ruộng như vậy: "Hãy
cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt".
Tuy nhiên, căn cứ vào chính lời của vị "chủ nhà"
vừa rồi "Hãy cứ để cả hai mọc lên cho
đến mùa gặt", thì quả thực, dụ ngôn "người gieo giống tốt trong
ruộng của mình" ám chỉ trực tiếp đến vị "chủ nhà" cũng là "người
gieo giống tốt trong ruộng của mình". Nếu trong dụ ngôn "người gieo
giống" tuần trước, như đã chia sẻ, "người gieo giống" cố ý
gieo hạt giống vào cả các môi trường khác nhau: vệ đường lãnh đạm, sỏi đá
nông cạn, bụi gai phân tâm là 3 môi trường đón nhận và đáp ứng bất lợi cho
hạt giống là lời Chúa, không thuận lợi như môi trường đất tốt hưởng ứng thế
nào, thì dụ ngôn "người gieo giống tốt trong ruộng của mình" cũng
vậy, "chủ nhà" có ý làm ngơ cho "kẻ thù của ta đã làm như thế",
"đến gieo cỏ lùng vào ngay giữa lúa, rồi đi mất",
tức "gieo"
tất cả những gì bất lợi cho "giống
tốt" của ông.
Chủ ý làm ngơ này của "ông chủ" là chính
Thiên Chúa cho thấy một số điều
chính yếu sau đây: 1- chính ông không phải là chủ thể gây tác hại, mà là
nguồn mạch sự lành, còn sự dữ là do ma quỉ và từ ma quỉ là ngụy thần; 2- tuy
nhiên, ông vẫn tôn trọng tự do của tạo vật và chấp thành phần tạo vật thù
địch này của ông làm bất cứ những gì mà họ cho là khôn ngoan nhất và có
thể tác hại nhất cho ông nơi công cuộc của ông là giống tốt ông gieo; 3- cuối cùng
Thiên Chúa vẫn chứng tỏ Ngài mới là "chủ" tể lịch sử, là chúa tể càn khôn, Đấng có
thể biến dữ thành lành, ở chỗ cỏ lùng đông đảo chẳng những không tác hại
được thiểu số lúa mà còn có lợi cho lúa, giúp lúa sống đức tin hơn và sáng
đức ái hơn, nhờ đó lúa trở thành một cuộc thần hiển của vị Thiên Chúa.
Đó là lý do, mới xẩy ra hiện tượng hay tình trạng
"khi lúa lớn lên và trổ bông thì cỏ lùng cũng
lộ ra". Nghĩa là, theo tu đức Kitô giáo hay kinh nghiệm sống đạo, sống
đức tin, một khi Kitô hữu bắt đầu sống nhân đức trọn lành, sống lời Chúa,
thì bấy giờ họ càng cảm thấy đầy những gian nan thử thách và cám dỗ hơn bao
giờ hết, đúng như Chúa Kitô đã cảnh báo (xem Mathêu 12:43-45) về một ngôi
nhà (ám chỉ tâm hồn Kitô hữu), nơi mà thần ô uế (ám chỉ tính mê nết xấu) xuất ra khỏi đó,
nhưng nó lang thang trong hoang địa không tìm được chỗ nghỉ ngơi (ám chỉ khi
tâm hồn trở nên khô khan nguội lạnh), đã trở về ngôi nhà cũ và khi thấy ngôi
nhà ấy được dọn dẹp sạch sẽ và gọn ghẽ (ám chỉ tâm hồn đang tiến đức), nó liền
rủ thêm 7 thần
còn dữ tợn hơn nó nữa (ám chỉ 7 mối tội đầu) trở về ngôi nhà ấy, khiến nhà ấy trở nên tệ hại
hơn trước (tâm hồn càng phải chiến đấu để giữ cho mình khỏi bị tàn phá, bị
khủng hoảng đức tin, bị phá sản nhân đức).
Tuy nhiên, chính vì lúa tốt mới cần cỏ lùng! Để làm
gì? Xin thưa để chứng tỏ lúa tốt nên cỏ lùng chẳng làm gì được, ở chỗ: 1-
xấu không thể lấn tốt như "tối tăm không thể át được ánh sáng"
(Gioan 1:5); 2- tốt là một thực tại bất biến, trong khi xấu chỉ là một hiện
tượng tạm thời mau qua; 3- nếu tốt mà còn bị xấu chi phối và biến đổi thì
chỉ là cái tốt giả tạo, giả hình; 4- càng bị sự dữ tấn công càng chứng tỏ
bản chất bất biến của thiện hảo nơi mình, một sự thiện hảo của chính Đấng là
"sự thật" như ánh sáng bất khuất đồng thời cũng là "sự sống"
đời đời bất diệt (xem Gioan 14:6); 5- và sự thật cũng là sự sống của Vị
Thiên Chúa thần hiển nơi chính nhân hay thánh nhân là để trở thành "ánh
sáng sự sống" (Gioan 8:12) cho ác nhân hay tội nhân đáng thương.
Thiên Chúa có ý làm ngơ để cỏ lùng do kẻ thù của
Ngài gieo rắc mọc lên chung với lúa tốt do chính Ngài gieo trong thửa ruộng thế gian
của Ngài không phải chỉ vì lợi ích cho riêng lúa tốt của Ngài đã tốt càng
tốt hơn, mà còn cho cả lợi ích của chính cỏ lùng nữa. Điển hình nhất là
đám cỏ lùng 10 người anh của tổ phụ Giuse đối với hạt lúa tốt Giuse trong âm
mưu sát hại em mình chỉ vì ghen tức hận thù với em, nhưng lại nhờ em mà được
cứu đói, như chính lời của hạt lúa tốt Giuse trấn an 10 người anh của mình
vào lúc họ sợ bị em trả thù sau khi bố Giacóp của họ qua đời bên Ai Cập:
"Anh em đừng sợ! Nào chúng ta có thể chống lại thánh ý Chúa sao? Các anh
đã lo nghĩ sự dữ cho tôi, nhưng Thiên Chúa đã đổi nó ra sự lành để tôi được
vinh hiển như anh em thấy hôm nay và để cứu sống nhiều dân tộc. Anh em đừng
sợ, chính tôi sẽ nuôi dưỡng anh em và con cái anh em" (Khởi Nguyên
50:19-20).
Những ý thức và xác tín trên đây về thực tại chân
thiện với hiện tượng gian ác xấu xa đã được chứng thực nơi trường hợp của
một nhân vật tên Gióp nổi tiếng trong Cựu Ước: 1- chính vì nhân vật tên Gióp
này sống thực sự là công chính trước nhan Thiên Chúa như chính Ngài nhận
thấy và công khai khẳng định (nếu không muốn nói là tuyên dương) với satan
(xem Job 1:8), mà Ngài đã để cho satan tha hồ mà ra tay như Ngài cho phép
hắn trong việc để hắn gây khốn khổ cho con người công chính này đến tận cùng
về đủ mọi phương diện trên thế gian này (xem Job 1:9-22, 2:1-13) để cho
cả satan lẫn vợ ông cùng ba người bạn thân tỏ ra thương cảm với ông không thể nào chối cãi được
đức công chính thực sự nơi ông, mà phải công nhận những gì Ngài đã xác
nhận đều chân thật nơi ông Gióp (xem Job 1:22, 2:10).
Trong cơn gian nan khốn khó của con người bị thử
thách, Thiên Chúa chẳng những được hiển linh, như nơi nhân vật tên Gióp, mà
còn nhờ đó, nhờ vinh hiển của Ngài, qua chính những gian nan thử thách đức tin
như thế, tâm hồn công chính bị thử thách mới cảm thấy mình yếu đuối khốn nạn, hoàn toàn bất lực,
không thể nào tự mình có thể nên thánh, nên trọn lành, nên giống Chúa, nếu
không có Ngài, nên họ càng tin tưởng cậy trông vào Ngài hơn bao giờ hết, như
một kẻ bần cùng khốn khó và hèn mọn nhất, đáng thương nhất, đến độ họ có thể
biến đổi và chinh phục cả kẻ dữ thù địch tác hại họ, bằng chính sự thiện hảo
của Thiên Chúa tỏ ra nơi họ, đúng như cảm nhận và
xác tín của sách Khôn Ngoan ở Bài Đọc 1 hôm nay:
"Chúa chỉ tỏ sức mạnh Chúa ra khi có kẻ không tin
vào uy quyền của Chúa, và triệt hạ kẻ kiêu căng không nhìn biết Người. Vì là
chủ sức mạnh, nên Chúa xét xử hiền lành, Chúa thống trị chúng ta với đầy
lòng khoan dung: vì khi Chúa muốn, mọi quyền hành tuân lệnh Người. Khi hành
động như thế, Người dạy dỗ dân Người rằng: Người công chính phải ăn ở nhân
đạo, và Người làm cho con cái Người đầy hy vọng rằng: Người ban cho kẻ tội
lỗi ơn ăn năn sám hối".
Đó là lý do, theo chiều hướng của Bài Đọc I hôm nay,
bài Đáp Ca đã chất chứa những cảm thức tin tưởng cậy trông đối với một Vị
Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan thượng trí "nhân hậu và khoan dung",
nhất là đối với kẻ dữ, đối với cả thành phần "cỏ lùng là con cái gian
ác", mà Ngài muốn sử dụng mồi ngon lúa tốt để biến cải họ, như
sau:
1) Lạy Chúa, vì Chúa nhân hậu và khoan dung, giàu lượng từ bi với những
ai kêu cầu Chúa. Lạy Chúa, xin nghe lời con khẩn nguyện, và quan tâm đến
tiếng con van nài.
2) Các dân tộc mà Chúa tạo thành, họ sẽ tới, lạy Chúa, họ sẽ thờ lạy
Ngài, và họ sẽ ca tụng danh Ngài. Vì Ngài cao cả và làm những điều kỳ diệu;
duy một mình Ngài là Thiên Chúa.
3) Nhưng lạy Chúa, Ngài là Thiên Chúa từ bi, nhân hậu, chậm bất bình,
rất mực khoan dung và thủ tín. Xin đoái nhìn đến con và xót thương con.
Thật vậy, đối với những tâm hồn nào biết hạ mình
xuống cậy trông vào Ngài, khi được Ngài thử thách để huấn luyện đức tin cho
họ, để "tăng thêm đức tin" cho họ (xem Luca 17:5), bằng cách để cho
kẻ thù gieo cỏ lùng vào ruộng lúa tốt của Ngài, trong đó có họ, thì Thiên
Chúa có vẻ như khuất bóng trước cảm xúc và lý trí tự nhiên của họ, khiến họ
trở nên tăm tối và sợ hãi, nhưng chính vào lúc ấy, như Thánh Phaolô cảm nhận
và trấn an trong Thư gửi Roma ở Bài Đọc II hôm nay, Thánh Thần của Ngài lại
ở với họ nhờ đó họ được hiệp nhất nên một với Ngài, ở chỗ sống trọn ý của
Ngài:
"Anh em thân mến, có Thánh Thần nâng đỡ sự yếu
hèn của chúng ta. Vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho xứng hợp,
nhưng chính Thánh Thần cầu xin cho chúng ta bằng những tiếng than khôn tả.
Mà Ðấng thấu suốt tâm hồn, thì biết điều Thánh Thần ước muốn. Bởi vì Thánh
Thần cầu xin cho các thánh theo ý Thiên Chúa".
Bởi thế, với tất cả cảm nghiệm thần linh sống đạo và
xác tín chúng ta hãy nguyện theo lời Chúa trước bài Phúc Âm hôm nay như sau:
"Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, lời của Chúa là thần trí và là sự sống;
Chúa có những lời ban sự sống đời đời. - Alleluia"
Thứ
Hai
Phụng Vụ Lời
Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) Mk
6, 1-4. 6-8
"Người hỡi, Ta sẽ chỉ cho ngươi
việc phải làm, và việc nào Chúa đòi hỏi nơi ngươi".
Trích sách Tiên tri Mikha.
Các ngươi hãy nghe Chúa phán:
"Ngươi hãy đứng lên, hãy trình bày lời tố cáo của ngươi trước núi non,
và các đồi hãy nghe tiếng của ngươi. Hỡi các núi và nền tảng kiên cố của
địa cầu, hãy nghe Chúa tố cáo dân Người và biện luận với Israel.
"Hỡi dân Ta, Ta đã làm gì cho
ngươi? Hay là Ta đã làm khổ ngươi điều gì? Hãy trả lời cho Ta biết.
Chính Ta dẫn ngươi ra khỏi đất Ai-cập, đã giải thoát ngươi khỏi nhà nô
lệ, và sai Môsê, Aaron và Maria đi trước mặt ngươi?"
Tôi sẽ hiến dâng vật gì lên Thiên
Chúa cho xứng đáng? Hay là tôi sấp mình trước Thiên Chúa Tối Cao? Tôi sẽ
dâng lên Người của lễ toàn thiêu và con bê một tuổi chăng? Chúa có hài
lòng với hằng ngàn chiên đực, hoặc hằng muôn vàn dê đực béo tốt chăng?
Tôi sẽ dâng con đầu lòng để đền tội ác của tôi, và dâng con cái tôi để
đền chính tội tôi chăng?
Người hỡi, Ta sẽ chỉ cho ngươi
việc phải làm, và việc nào Chúa đòi hỏi nơi ngươi: tức là ngươi hãy thực
hiện công bình, quý mến lòng nhân lành, và khiêm tốn bước theo Thiên
Chúa ngươi.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 49,
5-6. 8-9. 16bc-17. 21 và 23
Ðáp: Ai
đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ (c. 23b).
Xướng: 1) "Hãy tập họp cho Ta các
tín đồ đã ký lời giao ước của Ta cùng hy sinh lễ". Và trời cao sẽ loan
truyền sự công chính của Ngài, vì chính Ðức Thiên Chúa, Ngài là thẩm
phán. - Ðáp.
2) Ta không khiển trách ngươi về
chuyện dâng lễ vật, vì lễ toàn thiêu của ngươi đặt ở trước mặt Ta luôn.
Ta không nhận từ nhà ngươi một con bò con, cũng không nhận từ đoàn chiên
ngươi những con dê đực. - Ðáp.
3) Tại sao ngươi ưa kể ra những
điều huấn lệnh, và miệng ngươi thường nói về minh ước của Ta? Ngươi là
kẻ không ưa lời giáo huấn, và ném bỏ lời Ta lại sau lưng. - Ðáp.
4) Ngươi làm thế, mà Ta đành yên
lặng? Ngươi đã tưởng rằng Ta cũng giống như ngươi? Ta sẽ bắt lỗi, sẽ
phơi bày trước mặt ngươi tất cả. Ai hiến dâng lời khen ngợi, người đó
trọng kính Ta; ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu
độ. - Ðáp.
Alleluia: Ga
10, 27
Alleluia, alleluia! - Chúa phán:
"Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta". -
Alleluia.
Phúc Âm: Mt 12,
38-42
"Nữ hoàng phương nam sẽ chỗi
dậy lên án thế hệ này".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, có mấy luật sĩ và biệt
phái thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm
một dấu lạ". Người trả lời: "Thế hệ hung ác gian dâm đòi một dấu lạ!
Nhưng sẽ không cho dấu lạ nào, trừ dấu lạ tiên tri Giona. Cũng như xưa
tiên tri Giona ở trong bụng cá ba đêm ngày thế nào, thì Con Người cũng
sẽ ở trong lòng đất ba đêm ngày như vậy. Tới ngày phán xét, dân thành
Ninivê sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và lên án nó, vì họ đã nghe lời
tiên tri Giona mà sám hối tội lỗi, nhưng đây có Ðấng cao trọng hơn
Giona. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ chỗi dậy cùng với thế
hệ này và lên án nó: vì bà từ biên thuỳ trái đất đã đến nghe lời khôn
ngoan của vua Salomon, nhưng đây có Ðấng cao trọng hơn Salomon".
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm
Suy Niệm
Theo thói
quen cũng là khuynh hướng chung của dân tộc Do Thái là dân tộc được
Thiên Chúa tuyển chọn cách riêng trong tất
cả
mọi dân nước trên thế giới, thì họ là một dân tộc thích điềm thiêng dấu
lạ, đến độ, có thể nói, điềm thiêng dấu lạ được coi là nền tảng đức tin
của họ, ở chỗ, phải có điềm
thiêng dấu lạ mới đáng tin.
Khuynh hướng
và thói quen đòi điềm thiêng dấu lạ này nơi dân Do Thái cũng dễ hiểu,
bởi vì trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, họ luôn được chứng kiến
thấy những điềm thiêng dấu lạ này, được chính Vị Thiên
Chúa chân
thật duy nhất của họ tỏ ra để làm cho họ tin vào Ngài, nhất là những lúc
họ bị đô hộ hay đầy ải
bởi
ngoại bang.
Đó là lý do chúng ta thấy
Thánh Ký Mathêu trong bài Phúc Âm cho Thứ Hai Tuần XVI Thường Niên có sự
kiện được ngài ghi nhận rằng: "Khi
ấy, có mấy luật sĩ và biệt phái thưa cùng Chúa Giêsu rằng: 'Lạy Thầy,
chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ'".
Thật
ra, chính thành phần xin Chúa Giêsu xem thấy điềm
thiêng dấu lạ từ
Người và bởi Người để chứng minh Người quả thực là Đấng
Thiên Sai này đã
từng thấy Người làm phép lạ chữa lành hay trừ quỉ rồi, thế nhưng họ vẫn
chưa chịu, vẫn chưa công nhận Người, đến độ, họ còn phủ nhận Người và
xuyên tạc quyền phép vô địch của Người nữa, như có lần thấy Người trừ
tên quỉ nơi người bị câm xong họ
liền cho
rằng Người đã dùng quyền
của quỉ
cả mà khu trừ quỉ con (xem Mathêu 12:24).
Vậy
thì điềm thiêng dấu lạ mà họ muốn thấy nơi Chúa Giêsu Kitô đây là gì và
như thế nào? Phải chăng là việc Người có thể "xuống khỏi thập giá
thì chúng
ta tin" (Mathêu
27:42). Nhưng Người lại không làm theo ý của họ, bởi vì làm như thế thì
Người, dù có thể, hoàn toàn không
phải là Đấng Thiên Sai của
Thiên Chúa, đến để
làm theo ý Cha chứ không phải theo ý của Người (xem Gioan 6:38), mà
chỉ là Đấng Thiên Sai của họ và đối với họ,
như
một vị cứu
tinh dân tộc theo chính
trị của họ như lòng họ mong muốn mà
thôi, chứ không phải là cứu cả họ lẫn các dân tộc trên
thế giới này khỏi
tội lỗi và sự chết đời đời.
Đó là lý do trong bài
Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu chỉ hứa ban cho họ một dấu lạ duy nhất, dấu
lạ liên quan đến phần rỗi của chung loài người, trong đó bao gồm cả dân
do Thái, đó là "dấu
lạ tiên tri Giona", ám
chỉ
cuộc
Vượt Qua của Người: "cũng
như xưa tiên tri Giona ở trong bụng cá ba đêm ngày thế nào, thì Con
Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba đêm ngày như vậy", một
cuộc Vượt Qua bao gồm cả cuộc khổ nạn và tử giá vô cùng đau thương
kèm theo
nhục nhã do chính họ gây ra cho Người, và cuộc phục sinh vinh hiển của
Người, chứng tỏ Người đã chiến thắng tội lỗi và sự chết của chung con
người mắc nguyên tội và của riêng thành phần đã nhúng tay vào cuộc khổ
giá của Người nói riêng.
Một khi công ơn cứu
chuộc được hoàn tất bởi cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô thì không còn
một điềm thiêng dấu lạ nào vĩ đại hơn và quan trọng hơn để cho con người
tin mà được cứu độ: "ai tin và chịu phép rửa thì sẽ được cứu rỗi, còn
ai không tin thì bị luận phạt" (Marco 16:16), đúng như những gì Chúa
Giêsu cũng đã khẳng định
trong bài Phúc Âm hôm nay:
"Tới ngày phán xét, dân thành Ninivê sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này
và lên án nó, vì họ đã nghe lời tiên tri Giona mà sám hối tội lỗi, nhưng
đây có Đấng cao trọng hơn Giona. Đến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam
sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và lên án nó: vì bà từ biên thùy trái
đất đã đến nghe lời khôn ngoan của vua Salomon, nhưng đây có Đấng cao
trọng hơn Salomon".
Cảm Nghiệm
Trong bài Phúc Âm, Chúa Giêsu gọi thành phần "mấy
luật sĩ và biệt phái" xin Người điềm lạ là
"Thế hệ hung ác gian dâm", bởi vì họ
không tôn thờ "Thiên Chúa là thần linh trong tinh thần và chân lý"
(Gioan 4:24), mà là theo tinh thần thế gian và ý riêng mình, muốn
Thiên Chúa phải theo họ chứ không phải họ theo Chúa, biến vị Thiên Chúa
chân thật duy nhất của họ thành ngẫu tượng do họ khuôn đúc nên, do họ
nghĩ ra.
Bởi thế bất chấp những
gì Thiên Chúa tỏ mình ra cho họ qua Con Ngài là Đức Giêsu Kitô, nơi các
phép lạ đầy quyền năng và lời giáo huấn vô cùng khôn ngoan, họ vẫn không
cho đó là điềm lạ, cứ đòi hỏi điềm lạ theo ý của họ. Nhưng họ sẽ không
được ban cho một điềm lạ nào ngoài điềm lạ tiên tri Giona là điềm lạ
liên quan đến dân ngoại, đến chung loài người được cứu độ trước sự cứng
lòng và mù tối của họ.
Đó là lý do trong Bài Đọc 1 hôm nay, chính Thiên
Chúa, qua miệng tiên tri Isaia, đã dường như tỏ ra thắc mắc về chung dân
tộc thích điềm lạ của họ như sau: "Hỡi dân Ta, Ta đã làm gì cho
ngươi? Hay là Ta đã làm khổ ngươi điều gì? Hãy trả lời cho Ta biết.
Chính Ta dẫn ngươi ra khỏi đất Ai-cập, đã giải thoát ngươi khỏi nhà nô
lệ, và sai Môsê, Aaron và Maria đi trước mặt ngươi?"
Chính vì họ chưa hoàn toàn nhận biết Thiên Chúa,
đúng như Ngài là Thần Linh, là Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, nên
họ bối rối về việc tôn thờ Ngài, như chính tiên tri thuật lại tâm trạng
của họ trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Tôi sẽ hiến dâng vật gì lên Thiên
Chúa cho xứng đáng? Hay là tôi sấp mình trước Thiên Chúa Tối Cao? Tôi sẽ
dâng lên Người của lễ toàn thiêu và con bê một tuổi chăng? Chúa có hài
lòng với hằng ngàn chiên đực, hoặc hằng muôn vàn dê đực béo tốt chăng?
Tôi sẽ dâng con đầu lòng để đền tội ác của tôi, và dâng con cái tôi để
đền chính tội tôi chăng?"
Và chính Thiên Chúa đã trả lời cho họ biết qua
cùng vị tiên tri Isaia về cách thức Ngài muốn và đẹp lòng Ngài nếu họ
thực hiện đúng 3 điều chính yếu sau đây: "Người hỡi, Ta sẽ chỉ cho
ngươi việc phải làm, và việc nào Chúa đòi hỏi nơi ngươi: tức là ngươi
hãy thực hiện công bình, quý mến lòng nhân lành, và khiêm tốn bước theo
Thiên Chúa ngươi".
Phải, nếu dân Chúa, dù Cựu Ước (Do Thái giáo) hay
Tân Ước (Kitô giáo), "thực hiện công bình, quý mến lòng nhân lành,
và khiêm tốn bước theo Thiên Chúa" thì họ mới "đích thực tôn
thờ Thiên Chúa là Thần Linh" (Gioan 4:24), chứ không phải là các
thứ ngẫu tượng do họ tự tạo, và như thế họ sẽ không bao giờ cần điềm
thiêng dấu lạ, mà chính họ trở thành điềm thiêng dấu lạ được Ngài sử
dụng để tỏ mình ra cho họ, nhờ đó, như câu Đáp Ca cuối cùng hôm nay,
Thiên Chúa sẽ nói về họ rằng "Ai
hiến dâng lời khen ngợi, người đó trọng kính Ta; ai đi đường ngay thẳng,
Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ".
Thứ Ba
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) Mk
7, 14-15. 18-20
"Chúa ném mọi tội lỗi chúng
tôi xuống đáy biển".
Trích sách Tiên tri Mikha.
Lạy Chúa, với cây trượng của
Chúa, xin chăn dắt dân Chúa, chăn dắt những con chiên thuộc quyền sở
hữu của Chúa sống lẻ loi trong rừng, ở giữa núi Carmêlô. Tất cả được
chăn dắt ở Basan và Galaad như ngày xưa. Như ngày ra khỏi Ai-cập,
tôi cho nó thấy những việc lạ lùng. Có Chúa nào giống như Chúa là
Ðấng dẹp tan mọi bất công, và tha thứ mọi tội lỗi của kẻ sống sót
thuộc về Chúa? Chúa không khư khư giữ mãi cơn thịnh nộ của mình, vì
Chúa ưa thích từ bi. Chúa còn thương xót chúng tôi, còn dày đạp
những bất công của chúng tôi dưới chân Chúa, và ném mọi tội lỗi
chúng tôi xuống đáy biển. Chúa ban cho Giacóp biết sự trung thành
của Chúa, cho Abraham biết lòng từ bi mà Chúa đã thề hứa với tổ phụ
chúng tôi từ ngàn xưa.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv
84, 2-4. 5-6. 7-8
Ðáp: Lạy
Chúa, xin cho chúng con được nhìn thấy tình thương của Chúa (c. 8a).
Xướng: 1) Lạy Chúa, Chúa đã
phù trợ đất nước của Ngài, đã tài tình thay đổi số phận nhà Giacóp.
Chúa đã tha thứ lỗi lầm của dân Ngài, và che đậy mọi điều tội ác của
họ. Chúa đã cầm hãm tất cả sự bất bình, và tự nguôi đi lòng phẫn nộ.
- Ðáp.
2) Lạy Chúa là Ðấng cứu độ,
xin thương hồi phục chúng con, và từ bỏ lòng xung giận chúng con.
Phải chăng Chúa giận chúng con muôn đời ngàn kiếp, hay là kéo dài
lòng căm hận tới muôn đời? - Ðáp.
3) Há không phải chính Ngài
cho chúng con hồi sinh, để dân tộc Ngài được hoan hỉ ở nơi Ngài? Lạy
Chúa, xin cho chúng con nhìn thấy tình thương của Chúa, và ban cho
chúng con được ơn Ngài cứu độ. - Ðáp.
Alleluia:
Ga 14, 5
Alleluia, alleluia! - Chúa
phán: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được
với Cha mà không qua Thầy". - Alleluia.
Phúc Âm: Mt
12, 46-50
"Người giơ tay trên các môn
đệ mà nói: Ðây là mẹ Ta và là anh em Ta".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu còn đang
nói với dân chúng, thì mẹ Người và anh em Người đứng ngoài tìm cách
nói chuyện với Người. Có kẻ thưa rằng: "Kìa, mẹ Ngài và anh em Ngài
đang đứng tìm Ngài ngoài kia". Nhưng Người trả lời kẻ ấy rằng: "Ai
là mẹ Ta, ai là anh em Ta?" Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ mà nói:
"Ðây là mẹ Ta và là anh em Ta, vì hễ ai làm theo ý Cha Ta trên trời,
thì người ấy là anh em, chị em và là mẹ Ta vậy".
Ðó là lời Chúa.
Suy Niệm Cảm Nghiệm

Suy Niệm
Bài
Phúc Âm cho Thứ Tư Tuần XVI Thường Niên hôm
nay chính yếu chất
chứa câu trả lời của Chúa Giêsu về
sự kiện "Mẹ Người và
anh em Người đang
đứng tìm Người ngoài
kia".
Căn
cứ vào câu trả lời này nói riêng và thái độ của Người nói chung thì
hình như Chúa
Giêsu có
vấn đề với gia đình của Người làm
sao ấy, trong đó có cả người mẹ thân yêu nhất
của Người trên trần gian này. Đáng
lẽ, theo thường tình, một là Người nói với người báo tin cho Người
rằng xin làm ơn nói với mẹ tôi và anh em tôi chờ tôi một chút nhé,
hay là Người xin lỗi thính giả ra ngoài chào gia đình Người một chút
rồi trở vào tiếp tục sau cũng được.
Đằng này Người không
làm như thế, trái lại, còn tuyên bố một câu như thể trắng trợn phủ
nhận mẹ của Người và anh em của Người nữa trước mặt các môn đệ: "Nhưng
Người trả lời kẻ ấy rằng: 'Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta?' Rồi Người
giơ tay chỉ các môn đệ mà nói: 'Đây là mẹ Ta và là anh em Ta, vì hễ
ai làm theo ý Cha Ta trên trời, thì người ấy là anh em, chị em và là
mẹ Ta vậy'".
Tuy nhiên, ở đây,
qua câu tuyên bố này, chúng ta thấy Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến
tình nghĩa chân thật nhất và trọn hảo nhất, đó là tình nghĩa thiêng
liêng hơn tình nghĩa máu mủ ruột thịt về phần xác. Người không phủ
nhận Người là con của Mẹ Maria về phần xác, người Mẹ duy nhất
vừa đồng trinh vừa sinh con bởi Chúa Thánh Thần. Nhưng Người là
Thiên Chúa nhập thể hơn là con người được thần linh hóa. Bởi thế,
muốn có liên hệ mật thiết và thực sự với Người, chúng ta cần phải
hiệp nhất nên một với Người "trong tinh thần và chân lý"
(Gioan 4:24), bằng việc "làm theo ý Cha trên trời" như Người
và với Người.
Trong câu
tuyên bố đầy khẳng định này về mối liên hệ thiêng liêng giữa Người
và những ai muốn kết nghĩa với Người này hay có liên hệ với
Người ấy, Chúa Giêsu đồng thời cũng ngấm ngầm khen tặng Mẹ của
Người, vì chẳng có ai trên trần gian này sống mật thiết nên một với
Người
bằng Mẹ của Người, một
người mẹ "có phúc vì đã tin"(Luca 1:45), "đã theo con
chiên đến những nơi con chiên đến" (Khải Huyền 14:4), đến tận "dưới
chân thập giá" của Người (Gioan 19:25).
Với câu tuyên bố này,
Chúa Giêsu như muốn nói với các môn đệ nói chung và các tông đồ nói
riêng đang hiện diện với Người bấy giờ, thành phần Người giơ tay
trên họ mà phán: "Đây là mẹ Ta và anh em Ta" là
thành phần sau này sẽ trở thành "nền
tảng của Giáo Hội"
(Êphêsô 2:20), hãy
noi gương bắt
chước Mẹ
Maria trong việc "làm
theo ý Cha Ta trên trời".
Câu
tuyên bố về tình nghĩa thiêng liêng này của Chúa Giêsu còn bao gồm
vai trò của bất cứ ai được hiệp nhất nên một với Người, vai trò "làm
mẹ" của Người, dù họ là nam nhân đi nữa. Phải chăng chính vì thế
mà phẩm trật trong Giáo Hội toàn là nam nhân nhưng Giáo Hội vẫn đóng
vai trò là người mẹ - Mẹ Giáo Hội.
Đúng thế, theo tu đức
Kitô giáo, một khi đã tiến đến giai đoạn hay đạt đến cấp hiệp sinh
hay hiệp đạo,
tức sau
giai đoạn hay sau cấp tu đức khởi sinh hay thanh đạo và tiến sinh
hay minh đạo, thì
tâm hồn của người Kitô hữu được hiệp nhất nên một với Thánh Ý Chúa
bằng đức
tin tuân phục của họ, đến độ
họ có cùng một tâm tưởng, tinh thần, ngôn từ, tác hành và phản ứng
như Chúa Giêsu Kitô, khiến cho những gì họ tỏ ra bề ngoài tỏa ra một
đức ái trọn hảo, đến độ họ có thể "yêu như Thày yêu" (Gioan
13:34,15:12), nhờ đó, những ai giao tiếp với họ, hay thấy họ
hoặc nghe họ, đều cảm thấy một Chúa Giêsu Kitô thực sự sống động
nơi
họ, và từ đó những người họ giao tiếp nhận biết Người và theo Người.
Tâm hồn đạt đến cấp độ
tu đức hiệp sinh hay hiệp đạo ấy, chẳng khác gì như một cành nho dính liền với
thân nho là Chúa Giêsu Kitô, để nhờ nhựa sống của thân nho là Thánh
Linh của Chúa Kitô, hay là tinh thần của Chúa Kitô tác động trong họ,
họ trở thành một cành nho sinh muôn vàn hoa trái cho thân nho và từ
thân nho (xem
Gioan 15:5).
Cảm Nghiệm
Đúng thế, những tâm hồn thật sự là anh chị em, là mẹ của Chúa Kitô,
với Chúa Kitô, thì đều phải có một tinh thần bác ái trọn hảo như
Người. Chứ không thể nói rằng tôi kính mến Thiên Chúa mà lại khinh
khi ghét bỏ tẩy chay anh chị em mình, nhất là những người hèn mọn
đáng thương, về cả thể lý, tâm lý, luân lý và đạo lý, đặc biệt là
với những người anh chị em họ không thích, hay ác cảm với họ, chống
đối họ, tác hại họ v.v. Thánh Gioan Tông Đồ, trong Thư Thứ Nhất của
ngài gọi những con người anh chị em giả tạo này của Người là thứ
"nói dối" (xem 1Gioan 4:20). Như thế, chính đức ái trọn hảo đối với
tha nhân là dấu hiệu cho thấy ai là anh chị em và là mẹ thật của
Chúa Kitô. Mẹ ở chỗ có khả năng sinh ra Người, tức làm cho Người
được tha nhân nhận biết mà được sự sống thần linh của Người, được
cứu độ.
Bài Đọc 1 hôm nay, Tiên Tri Mica cũng nói đến lòng thương xót của
Thiên Chúa, mà ai là con cái của Ngài thật, tức là anh chị em ruột
thịt thiêng liêng với Chúa Kitô Con Một của Ngài, cũng phải nên
giống Ngài, như Ngài đã tỏ ra trong giòng lịch sử cứu độ của dân Do
Thái: "Chúa không khư khư giữ mãi cơn
thịnh nộ của mình, vì Chúa ưa thích từ bi. Chúa còn thương xót chúng
tôi, còn dày đạp những bất công của chúng tôi dưới chân Chúa, và ném
mọi tội lỗi chúng tôi xuống đáy biển. Chúa ban cho Giacóp biết sự
trung thành của Chúa, cho Abraham biết lòng từ bi mà Chúa đã thề hứa
với tổ phụ chúng tôi từ ngàn xưa".
Bởi thế, chúng ta hãy cùng với Thánh Vịnh gia hướng về Chúa, bằng
những lời của Thánh Vịnh 84 ở Bài Đáp Ca hôm nay, theo chiều hướng
của câu đáp: "Lạy
Chúa, xin cho chúng con được nhìn thấy tình thương của Chúa (c. 8a)":
1) Lạy Chúa, Chúa đã phù trợ đất nước của Ngài, đã tài tình thay
đổi số phận nhà Giacóp. Chúa đã tha thứ lỗi lầm của dân Ngài, và che
đậy mọi điều tội ác của họ. Chúa đã cầm hãm tất cả sự bất bình, và
tự nguôi đi lòng phẫn nộ.
2) Lạy Chúa là Ðấng cứu độ,
xin thương hồi phục chúng con, và từ bỏ lòng xung giận chúng con.
Phải chăng Chúa giận chúng con muôn đời ngàn kiếp, hay là kéo dài
lòng căm hận tới muôn đời?
3) Há không phải chính Ngài
cho chúng con hồi sinh, để dân tộc Ngài được hoan hỉ ở nơi Ngài? Lạy
Chúa, xin cho chúng con nhìn thấy tình thương của Chúa, và ban cho
chúng con được ơn Ngài cứu độ.
Thứ Tư
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) Gr
1, 1. 4-10
"Ta đặt ngươi làm tiên
tri cho các dân tộc".
Khởi đầu sách Tiên tri
Giêrêmia.
Lời của Giêrêmia, con trai
của Helcia, thuộc gia tộc tư tế định cư ở Anathoth, thuộc lãnh
thổ Bengiamin.
Có lời Chúa phán cùng tôi
rằng: "Trước khi tạo thành ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết
ngươi, và trước khi ngươi ra khỏi lòng mẹ, Ta đã hiến thánh
ngươi, Ta đã đặt ngươi làm tiên tri cho các dân tộc". Và tôi đã
thưa lại: "A, a, lạy Chúa là Thiên Chúa, con đâu có biết ăn nói,
vì con còn con nít". Nhưng Chúa phán cùng tôi rằng: "Ngươi đừng
nói: Con là con nít, vì ngươi sẽ đi đến với những kẻ Ta sẽ sai
ngươi đi; ngươi sẽ nói mọi điều Ta sẽ truyền dạy ngươi nói.
Ngươi đừng sợ họ, vì Ta sẽ ở với ngươi để bảo vệ ngươi". Chúa
phán như thế. Và Chúa giơ tay sờ miệng tôi mà nói với tôi rằng:
"Ðây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi. Ðây hôm nay Ta ban quyền cho
ngươi trên các dân tộc và trên các vương quốc, để ngươi lật đổ
và đập phá, phân tán và tiêu diệt, xây dựng và vun trồng".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca:
Tv 70, 1-2. 3-4a. 5-6ab. 15ab và 17
Ðáp: Lạy
Chúa, miệng con sẽ kể ra ơn Ngài giúp đỡ (x. c. 15).
Xướng: 1) Lạy Chúa, con
tìm đến nương nhờ Ngài, xin đừng để con tủi hổ muôn đời. Theo
đức công minh Chúa, xin cứu nguy và giải thoát con, xin ghé tai
về bên con và giải cứu. - Ðáp.
2) Xin trở nên thạch động
để con dung thân, và chiến lũy vững bền hầu cứu độ con: vì Chúa
là Ðá tảng, là chiến lũy của con. Lạy Chúa con, xin cứu con khỏi
tay đứa ác. - Ðáp.
3) Bởi Ngài là Ðấng con
mong đợi, thân lạy Chúa; lạy Chúa, Ngài là hy vọng của con tự
hồi thanh xuân. Ngay từ trong bụng mẹ, con đã nép mình vào Chúa;
từ trong thai mẫu, Chúa là Ðấng bảo vệ con. - Ðáp.
4) Miệng con sẽ loan
truyền sự Chúa công minh, và suốt ngày kể ra ơn Ngài giúp đỡ.
Lạy Chúa, Chúa đã dạy con từ hồi niên thiếu, và tới bây giờ con
còn kể những sự lạ của Ngài. - Ðáp.
Alleluia: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia! - Nếu
ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến
người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.
Phúc
Âm: Mt 13, 1-9
"Nó sinh hoa kết quả
gấp trăm".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô
theo Thánh Matthêu.
Ngày ấy, Chúa Giêsu ra
khỏi nhà và đi đến ngồi ở ven bờ biển. Dân chúng tụ tập quanh
Người đông đảo đến nỗi Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất
cả dân chúng thì đứng trên bờ. Và Người dùng dụ ngôn mà nói với
họ nhiều điều. Người nói:
"Này đây, có người gieo
giống đi gieo lúa. Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường,
chim trời bay đến ăn mất. Có hạt rơi xuống trên đá sỏi, chỗ có
ít đất, nó liền mọc lên, vì không có nhiều đất. Khi mặt trời mọc
lên, bị nắng gắt, và vì không đâm rễ sâu, nên nó khô héo. Có hạt
rơi vào bụi gai, gai mọc um tùm, nên nó chết nghẹt. Có hạt rơi
xuống đất tốt và sinh hoa kết quả, có hạt được một trăm, có hạt
được sáu mươi, hạt ba mươi. Ai có tai để nghe, thì hãy nghe".
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm
Suy Niệm
Nội
dung của Bài
Phúc Âm hôm nay,
Thứ Tư Tuần XVI Thường Niên, đó là dụ ngôn về người gieo giống
và các loại hạt
giống. Chính Chúa Giêsu sẽ
dẫn giải cho biết về ý nghĩa liên quan đến các
hình ảnh trong dụ ngôn này trong bài
Phúc Âm Thứ Sáu tuần này.
Ở đây, trong bài Phúc Âm hôm nay,
chất chứa chính nội dung của dụ ngôn Chúa dạy, liên quan đến
nhân vật chính của dụ ngôn là "người gieo giống ra đi gieo
giống". Không biết người gieo giống này có chuyên nghiệp hay
không mà đã gieo
hạt giống vào những nơi hầu như không đúng ngay chỗ của nó,
chẳng hạn gieo ngay vào vệ đường, vào bụi gai hay vào đá sỏi, những
nơi không thích hợp với hạt giống tí nào.
"Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ
đường, chim chóc đến ăn mất. Có
những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc
ngay, vì đất không sâu; nhưng
khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có
những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt".
Hay là người gieo giống này cố ý
gieo như vậy. Nếu thế thì
người gieo giống ấy không
sợ phí hạt giống hay sao? Hay là
những hạt giống người gieo giống này muốn gieo dường như đã sắp
hư, nên cứ gieo đại vào bất
cứ chỗ nào, may ra nó mọc lên, còn không mọc lên cũng chẳng
sao, đằng nào cũng như là
một cách vứt bỏ đi thôi.
Thế nhưng, nếu
hạt giống của người gieo giống sắp hư thì tại sao khi chúng được
gieo vào đúng chỗ của nó là đất tốt thì lại sinh hoa trái tùy
theo tầm vóc của nó chứ: "Có
những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được
gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. Ai có tai thì
nghe".
Như thế, hạt giống được mang gieo đây toàn là hạt giống tốt,
nhưng không phải hễ là hạt giống tốt thì bất cứ chỗ nào nó cũng
mọc lên được đâu, mà phải ở những nơi đất tốt mà thôi. Đúng thế,
nếu sự sống ở nơi hạt giồng, đúng hơn là ở nơi nhân của hạt
giống, thì để cho sự sống nơi hạt giống ấy nẩy mầm và phát triển
phải cần đến môi trường thích hợp cho nó là đất tốt, một môi
trường dù có tốt mấy chăng nữa nếu không có hạt giống cũng chẳng
sinh hoa kết trái gì, cũng chỉ là một mảnh đất mầu mở nhưng
hoang vu để rồi từ từ sẽ thành cằn cỗi.
Nếu hạt giồng cần phải được gieo đây tiêu biểu cho sự sống thì
có thể hiểu được một phần nào lý do tại sao hạt giống lại được
gieo cả vào những chỗ không thích hợp với nó. Bởi vì, nếu Thiên
Chúa dựng nên con người trên trái đất này là để "làm chủ cá
biển chim trời, gia súc, và tất cả mọi loài dã thú cùng tất cả
mọi loài bò sát trên mặt đất" (Khởi Nguyên 1:26) và "canh
tác và chăm sóc" (Khởi Nguyên 2:15) vườn địa đường, thì
có nghĩa là Ngài muốn cho
trái đất này trở thành một nơi tràn đầy sự sống.
Bởi
thế, theo ý định tạo dựng của Ngài, càng
những chỗ cằn cỗi lại càng cần đến sự sống cho phì nhiêu xanh
tươi, như
Tiên Tri Isaia đã từng nói đến hình ảnh "sa mạc và đất khô
cằn trổ nhiều bông hoa" (35:1-2), "các suối
nước sẽ
vọt lên trong sa
mạc" (35:6), và
"Các sa mạc của nó (Sion)
Ngài sẽ biến thành Địa Đường và đất hoang của nó thành ngôi vườn
của Chúa"(51:3).
Cảm Nghiệm
Vì bài Phúc Âm hôm nay về vai trò của người gieo giống, như dụ
ngôn được Chúa Giêsu dử dụng để mạc khải cho chung dân chúng và
các môn đệ của Người về mầu nhiệm Nước Trời, mà Bài Đọc 1 hôm
nay cũng theo chiều hướng về vai trò gieo giống, nơi tiên tri
Giêrêmia.
Thật vậy, vai trò gieo giống, được Chúa Giêsu nói đến trong Bài
Phúc Âm hôm nay, có thể hiểu chẳng những về chính Thiên Chúa,
Đấng đã gieo hạt giống Ngôi Lời xuống thế gian, và về Chúa Giêsu
Kitô, Đấng "tỏ Cha ra" (Gioan 1:18), qua nhân tính của
Người, bằng lời nói, việc làm và chứng từ của Người, như hạt
giống cho "những ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ
quyền làm con thiên Chúa" (Gioan 1:12), mà còn về những ai
được Thiên Chúa tuyển chọn sai đi, điển hình nhất là các vị tiên
tri trong lịch sử cứu độ của dân Do Thái, hay các vị tông đồ là
những chứng nhân tiên khởi của Chúa Kitô, bao gồm cả những ai
được trở thành môn đệ của Chúa Kitô nơi phép rửa tái sinh, vì
tất cả đều phải "là ánh sáng thế gian" (Mathêu 5:14),
phản chiếu Người "là ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12).
Riêng đối với thành phần ngôn sứ nói chung, cả Cựu Ước lẫn Tân
Ước, như tiên tri Giêrêmia, đều được Thiên Chúa tuyển chọn ngay
cả trước khi họ sinh ra:
"Trước khi tạo thành ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi, và
trước khi ngươi ra khỏi lòng mẹ, Ta đã hiến thánh ngươi, Ta đã
đặt ngươi làm tiên tri cho các dân tộc".
Thế rồi, để họ có thể và xứng đáng thực hiện sứ vụ ngôn sứ của
Ngài và cho Ngài như Ngài muốn, Thiên Chúa còn phải sửa soạn cho
họ nữa, bằng việc ở cùng họ và ban chính lời của Ngài cho họ,
nghĩa là mạc khải cho họ về Ngài cũng như về ý muốn của Ngài, và
lời của Ngài, hay những gì Ngài muốn họ nói, tự mình, có một
mãnh lực vô địch, đối với cả thành phần chấp nhận hay phủ nhận
những chứng ngôn của họ:
"'Ngươi sẽ đi đến với những kẻ Ta sẽ sai ngươi đi; ngươi sẽ
nói mọi điều Ta sẽ truyền dạy ngươi nói. Ngươi đừng sợ họ, vì Ta
sẽ ở với ngươi để bảo vệ ngươi'. Chúa phán như thế. Và Chúa giơ
tay sờ miệng tôi mà nói với tôi rằng: 'Ðây Ta đặt lời Ta vào
miệng ngươi. Ðây hôm nay Ta ban quyền cho ngươi trên các dân tộc
và trên các vương quốc, để ngươi lật đổ và đập phá, phân tán và
tiêu diệt, xây dựng và vun trồng'".
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có những con người được tuyển
chọn và sai đi, nhưng đã không chu toàn sứ vụ ngôn sứ của mình,
trái lại, đã trở thành những kẻ phản chứng, phản kitô, lợi dụng
sứ vụ của mình để truyền đạt những gì là của mình và cho bản
thân mình, hơn là của và cho Đấng đã sai mình, hoàn toàn không
giống như Chúa Kitô là Đấng "đến thế gian không phải làm theo
ý Tôi, mà là ý Đấng đã sai Tôi" (Gioan 6:38). Bởi thế, họ
cần phải luôn có tâm tình như Thánh Vịnh 70 của Bài Đáp Ca hôm
nay:
1) Lạy Chúa, con
tìm đến nương nhờ Ngài, xin đừng để con tủi hổ muôn đời. Theo
đức công minh Chúa, xin cứu nguy và giải thoát con, xin ghé tai
về bên con và giải cứu.
2) Xin trở nên thạch động
để con dung thân, và chiến lũy vững bền hầu cứu độ con: vì Chúa
là Ðá tảng, là chiến lũy của con. Lạy Chúa con, xin cứu con khỏi
tay đứa ác.
3) Bởi Ngài là Ðấng con
mong đợi, thân lạy Chúa; lạy Chúa, Ngài là hy vọng của con tự
hồi thanh xuân. Ngay từ trong bụng mẹ, con đã nép mình vào Chúa;
từ trong thai mẫu, Chúa là Ðấng bảo vệ con.
4) Miệng con sẽ loan
truyền sự Chúa công minh, và suốt ngày kể ra ơn Ngài giúp đỡ.
Lạy Chúa, Chúa đã dạy con từ hồi niên thiếu, và tới bây giờ con
còn kể những sự lạ của Ngài.
Thứ Năm
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) Gr
2, 1-3. 7-8. 12-13
"Họ đã bỏ Ta là nguồn
nước hằng sống, để đào giếng rạn nứt".
Trích sách Tiên tri
Giêrêmia.
Ðây lời Chúa phán cùng tôi
rằng: "Ngươi hãy đi và hãy la vào tai Giêrusalem rằng: Ðây Chúa
phán: Ta đã nhớ mối tình thanh xuân của ngươi, nhớ đến tình yêu
thời đính hôn của ngươi, khi đó ngươi theo Ta trong sa mạc,
trong phần đất chưa gieo trồng. Lúc ấy Israel đã được thánh hiến
cho Chúa, và là hoa quả đầu mùa của Người; những ai động đến nó,
phải đắc tội và phải chuốc lấy tai hoạ". Chúa phán như vậy.
"Ta đã dẫn dắt các ngươi
vào đất phì nhiêu, để các ngươi hưởng dùng hoa quả của nó; nhưng
vừa ở đó, các ngươi đã làm dơ bẩn đất của Ta và biến cơ nghiệp
Ta thành nơi ghê tởm. Các tư tế không nói: 'Chúa ở đâu?'; (các
kẻ) nắm giữ lề luật không nhìn biết Ta, còn các chủ chăn thì
phản bội Ta, và các tiên tri lại nhân danh Baal mà nói tiên tri
và chạy theo các bụt thần giả trá".
Chúa lại phán: "Hỡi tầng
trời, hãy kinh ngạc về điều này, và hỡi các cửa trời, hãy ưu sầu
thảm não! Vì chưng, dân Ta đã phạm hai tội xấu xa: Họ đã từ bỏ
Ta là nguồn nước hằng sống, để đào những giếng rạn nứt không giữ
nước được".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca:
Tv 35, 6-7ab. 8-9. 10-11
Ðáp: Lạy
Chúa, nguồn sống là ở như nơi Chúa (c. 10a).
Xướng: 1) Lạy Chúa, đức từ
bi Ngài chạm tới trời cao; lòng trung tín của Ngài vươn tới ngàn
mây. Ðức công minh của Ngài như núi non Thiên Chúa; sự phán
quyết của Ngài như biển thẳm sâu. - Ðáp.
2) Ôi Thiên Chúa, cao quý
thay ân sủng của Ngài; con người ta tìm nương tựa trong bóng
cánh của Ngài. Họ được ăn no đồ bổ dưỡng nơi nhà Chúa, và Chúa
cho họ uống bởi nguồn vui thú của Ngài. - Ðáp.
3) Bởi chưng nguồn sống là
ở như nơi Chúa, và trong sự sáng của Ngài, chúng con nhìn xem sự
sáng. Xin Chúa dành để tình thương cho những ai thờ Chúa, và đức
công minh Ngài cho những kẻ lòng ngay. - Ðáp.
Alleluia: Ga 15, 15b
Alleluia, alleluia! - Chúa
phán: "Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã
nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết". -
Alleluia.
Phúc
Âm: Mt 13, 10-17
"Về phần các con, đã
cho biết những mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không cho biết".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô
theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, các môn đệ đến gần
thưa Chúa Giêsu rằng: "Tại sao Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ?"
Người đáp lại: "Về phần các con, đã cho biết những mầu nhiệm
Nước Trời, còn họ thì không cho biết. Vì ai đã có, thì ban thêm
cho họ được dư dật; còn kẻ không có, thì cái họ có cũng bị lấy
đi. Bởi thế, Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ: vì họ nhìn mà
không thấy, lắng tai mà không nghe và không hiểu chi hết. Thế
mới ứng nghiệm lời tiên tri Isaia nói về họ rằng: "Các ngươi
lắng tai nghe mà chẳng hiểu, trố mắt nhìn mà chẳng thấy gì. Vì
lòng dân này đã ra chai đá, họ đã bịt tai, và nhắm mắt lại, kẻo
mắt thấy được, tai nghe được, và lòng chúng hiểu được mà hối
cải, và Ta lại chữa chúng cho lành".
"Phần các con, phúc cho
mắt các con vì được thấy; và phúc cho tai các con vì được nghe.
Quả thật, Thầy bảo các con: Nhiều vị tiên tri và nhiều đấng công
chính đã ao ước trông thấy điều các con thấy, mà không được
thấy; mong ước nghe điều các con nghe, mà không được nghe".
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm
Suy Niệm
Bài
Phúc Âm hôm nay, Thứ Năm Tuần
XVI Thường Niên, tiếp ngay sau bài phúc âm hôm qua, liên
quan đến dụ ngôn người gieo giống. Hôm qua là chính nội dung
của dụ ngôn người gieo giống, hôm nay là lý do tại sao Chúa
Giêsu lại sử dụng dụ ngôn mà giảng dạy cho dân chúng: "Khi
ấy, các môn đệ đến gần thưa Chúa Giêsu rằng: 'Tại sao Thầy
dùng dụ ngôn mà nói với họ?'"
Như
thế có nghĩa là Chúa Giêsu không bao giờ dùng dụ ngôn mà nói
với các môn đệ của Người, mà chỉ dùng dụ ngôn để nói với dân
chúng thôi. Lý do được chính Chúa Giêsu cho biết rất đơn
giản như sau: "Về
phần các con, đã cho biết những mầu nhiệm Nước Trời, còn họ
thì không cho biết".
Vậy
thì phải
chăng "mầu nhiệm Nước Trời" đây là chính bản thân
Chúa Giêsu Kitô? "Về
phần các con, đã cho biết những mầu nhiệm Nước Trời", nghĩa
là đã được Người tuyển chọn ở với Người nên hiểu Người hơn
nhờ được giao tiếp trực tiếp với Người bằng mắt thấy, tai
nghe, tay sờ v.v. (xem 1Gioan 1:1), "còn
họ thì không cho biết", vì
không được gần gũi và giao tiếp với Người như các tông đồ.
Đó là lý do ở
cuối bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã xác nhận về diễm
phúc của các tông đồ là thành phần được Người tuyển
chọn để ở với Người (xem Marco 3:13), hơn hẳn chẳng những
thành phần dân
chúng mà còn hơn cả các vị tiên tri thời xưa nữa:
"Phần các con, phúc cho mắt các con vì được thấy; và phúc
cho tai các con vì được nghe. Quả thật, Thầy bảo các con:
Nhiều vị tiên tri và nhiều đấng công chính đã ao ước trông
thấy điều các con thấy, mà không được thấy; mong ước nghe
điều các con nghe, mà không được nghe".
Tuy nhiên,
Chúa Kitô đến trần gian là để tỏ mình ra cho chung nhân
loại, đặc biệt là dân Do Thái trong thời lịch sử của
Người bấy giờ, mà
Người cũng cần phải tỏ mình ra cho họ nữa, bằng những cách
thế thích hợp với hoàn cảnh sống của họ, với tầm mức hiểu
biết bình dân của
họ nói
chung, chẳng hạn như dùng dụ ngôn bao gồm những hình ảnh cụ
thể trong đời sống để mạc khải cho họ thấy một phần nào mầu
nhiệm Nước Trời.
Câu
Chúa Giêsu nói "Thầy
dùng dụ ngôn mà nói với họ: vì họ nhìn mà không thấy, lắng
tai mà không nghe và không hiểu chi hết" nghĩa
là gì, nếu không phải khi được giao tiếp với Người một cách
nào đó, ở một nơi nào đó, vào một lúc nào đó, dân chúng nói
chung, nhất là thành phần luật sĩ và biệt phái giả hình nói
riêng, không
hiểu được Người vốn
là Đấng tự bản chất vô cùng siêu việt, trong khi đó họ lại
cứng lòng thì làm sao có thể chấp nhận được Người:
"Các ngươi lắng tai nghe mà chẳng hiểu, trố mắt nhìn mà
chẳng thấy gì. Vì lòng dân này đã ra chai đá, họ đã bịt tai,
và nhắm mắt lại, kẻo mắt thấy được, tai nghe được, và lòng
chúng hiểu được mà hối cải, và Ta lại chữa chúng cho lành".
Chính
vì thế mà Chúa Giêsu cần phải sử dụng dụ ngôn có tính cách
bình dân cho họ hiểu phần nào thực tại của Nước Trời và về
Nước Trời.
Trong Cựu Ước,
cho dù Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho dân Do Thái của Ngài,
nhưng chỉ bằng nhiều cách khác nhau qua thiên nhiên tạo vật
cũng như qua con người trần gian, bao gồm cả những dấu
lạ điềm thiêng, nhất là qua các vị tiên tri (xem
Do Thái 1:1). Thế
nhưng, "đến thời sau hết, Ngài đã nói với chúng ta qua
Con của Ngài" (Do Thái 1:2) là Chúa Giêsu Kitô. So với
Chúa Giêsu Con của Thiên Chúa, thì các dấu lạ điềm thiêng
hay các vị tiên tri chỉ là bóng mờ, chưa hoàn toàn rõ nét về
Ngài và chưa phải "là hiện
thân của bản thể Cha" (Do Thái 1:3).
Cảm Nghiệm
Bài Đọc 1 hôm nay, trích từ Sách
Tiên Tri Giêrêmia, là một chứng cớ cho thấy tình trạng cứng
lòng của dân Do Thái, đến độ, đã khiến Thiên Chúa, qua Con
của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, phải thay đổi cách tỏ mình ra
cho họ, một cách hữu hình hơn, hợp với con người là loài hữu
hình và hữu hạn, nơi chính nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét: "Sự
sống đã trở nên hữu hình" (1Gioan 1:2), cũng như nơi
các dụ ngôn về Nước Trời, được Chúa Giêsu sử dụng những hình
ảnh, hay những sự vật cụ thể, mà sánh ví và diễn tả thực tại
thần linh Nước Trời.
Qua môi miệng của Tiên Tri Giêrêmia, lời Chúa đã thấu suốt
tình trạng cứng lòng của dân Do Thái, cho dù họ đã được Ngài
ưu đãi và tỏ mình ra cho họ một cách đặc biệt:
"Ta
đã nhớ mối tình thanh xuân của ngươi, nhớ đến tình yêu thời
đính hôn của ngươi, khi đó ngươi theo Ta trong sa mạc, trong
phần đất chưa gieo trồng. Lúc ấy Israel đã được thánh hiến
cho Chúa, và là hoa quả đầu mùa của Người; những ai động đến
nó, phải đắc tội và phải chuốc lấy tai hoạ"
Thế nhưng họ vẫn bất trung với Ngài, vẫn không nhận
biết Ngài:
"Ta đã dẫn dắt các ngươi
vào đất phì nhiêu, để các ngươi hưởng dùng hoa quả của nó; nhưng
vừa ở đó, các ngươi đã làm dơ bẩn đất của Ta và biến cơ nghiệp
Ta thành nơi ghê tởm. Các tư tế không nói: 'Chúa ở đâu?'; (các
kẻ) nắm giữ lề luật không nhìn biết Ta, còn các chủ chăn thì
phản bội Ta, và các tiên tri lại nhân danh Baal mà nói tiên tri
và chạy theo các bụt thần giả trá".
Chính vì dân Chúa đã trở nên vô cùng
khốn nạn bất xứng trước nhan Thiên
Chúa như vậy, đến độ, nói theo kiểu trần gian, chính Ngài đã
phải than lên rằng: "Hỡi tầng
trời, hãy kinh ngạc về điều này, và hỡi các cửa trời, hãy ưu sầu
thảm não! Vì chưng, dân Ta đã phạm hai tội xấu xa: Họ đã từ bỏ
Ta là nguồn nước hằng sống, để đào những giếng rạn nứt không giữ
nước được", mà họ cần phải ý thức lại, theo tâm tình và cảm
nhận của Thánh Vịnh 35 ở Bài Đáp Ca hôm nay, với câu:
"Lạy Chúa, nguồn sống là ở như nơi Chúa (c. 10a)"
1) Lạy Chúa, đức từ
bi Ngài chạm tới trời cao; lòng trung tín của Ngài vươn tới ngàn
mây. Ðức công minh của Ngài như núi non Thiên Chúa; sự phán
quyết của Ngài như biển thẳm sâu.
2) Ôi Thiên Chúa, cao quý
thay ân sủng của Ngài; con người ta tìm nương tựa trong bóng
cánh của Ngài. Họ được ăn no đồ bổ dưỡng nơi nhà Chúa, và Chúa
cho họ uống bởi nguồn vui thú của Ngài.
3) Bởi chưng nguồn sống là
ở như nơi Chúa, và trong sự sáng của Ngài, chúng con nhìn xem sự
sáng. Xin Chúa dành để tình thương cho những ai thờ Chúa, và đức
công minh Ngài cho những kẻ lòng ngay.
Thứ Sáu
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc
I: (Năm
II) Gr
3, 14-17
"Ta sẽ
ban cho các ngươi chủ chăn theo như ý Ta; và mọi
dân tộc sẽ quy tụ tại Giêrusalem".
Trích sách
Tiên tri Giêrêmia.
Chúa phán:
"Hỡi con cái phản loạn, hãy hối cải, vì Ta là
chủ các ngươi, Ta sẽ chọn trong các ngươi một
người trong mỗi thành và hai người trong mỗi chi
họ; Ta sẽ dẫn các ngươi lên Sion. Ta sẽ ban cho
các ngươi những chủ chăn theo như ý Ta, để họ
dùng lý trí và khôn ngoan chăn dắt các ngươi".
Chúa lại
phán: "Trong những ngày ấy, khi các ngươi sinh
sản ra nhiều trong xứ, thì người ta không còn
nói đến Hòm Bia Thiên Chúa nữa. Người ta sẽ
không còn nghĩ tới, nhớ tới, hối tiếc và tạo lập
hòm bia khác nữa.
"Lúc đó,
người ta sẽ gọi Giêrusalem là ngai của Chúa, mọi
dân tộc nhân danh Chúa mà quy tụ tại Giêrusalem,
và họ không theo lòng gian ác độc dữ của mình
nữa".
Ðó là lời
Chúa.
Ðáp Ca: Gr 31, 10. 11-12ab. 13
Ðáp: Chúa
sẽ gìn giữ chúng ta như mục tử chăn dắt đoàn
chiên mình (c. 10d).
Xướng: 1)
Hỡi các dân tộc, hãy nghe lời Chúa, hãy công bố
lời Chúa trên các đảo xa xăm; hãy nói rằng:
"Ðấng đã phân tán Israel, sẽ quy tụ nó lại, và
sẽ gìn giữ nó, như mục tử chăn dắt đoàn chiên
mình". - Ðáp.
2) Vì Chúa
đã giải phóng Giacóp, giờ đây với cánh tay mạnh
mẽ hơn, Người cứu thoát nó. Chúng sẽ đến và ca
hát trên núi Sion, chúng sẽ đổ xô về phía hạnh
phúc của Người. - Ðáp.
3) Bấy giờ
người thiếu nữ sẽ hân hoan nhảy mừng, các thanh
niên và các cụ già cũng làm y như thế; Ta sẽ
biến đổi tang chế của chúng ra niềm hân hoan, sẽ
an ủi chúng và cho chúng hết đau khổ. - Ðáp.
Alleluia: Gc 1, 13
Alleluia,
alleluia! - Do ý định của Thiên Chúa, Người đã
sinh chúng ta bằng lời sự thật, để chúng ta nên
như của đầu mùa các tạo vật. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 13, 18-23
"Kẻ
nghe lời giảng mà hiểu được, nên sinh hoa kết
quả".
Tin Mừng
Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy,
Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Vậy các
con hãy nghe dụ ngôn về người gieo giống: Kẻ nào
nghe lời giảng về Nước Trời mà không hiểu, thì
quỷ dữ đến cướp lấy điều đã gieo trong lòng nó:
đó là kẻ thuộc hạng gieo dọc đường. Hạt rơi trên
đá sỏi là kẻ khi nghe lời giảng, thì tức khắc
vui lòng chấp nhận, nhưng không đâm rễ sâu trong
lòng nó: đó là kẻ nông nổi nhất thời, nên khi
cuộc bách hại, gian nan xảy đến vì lời Chúa, thì
lập tức nó vấp ngã. Hạt rơi vào bụi gai, là kẻ
nghe lời giảng, nhưng lòng lo lắng việc đời, ham
mê của cải, khiến lời giảng bị chết ngạt mà
không sinh hoa kết quả được. Hạt gieo trên đất
tốt, là kẻ nghe lời giảng mà hiểu được, nên sinh
hoa kết quả, đến nỗi có hạt được một trăm, có
hạt sáu mươi, có hạt ba mươi".
Ðó là lời
Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm
Suy Niệm
Sau khi nói về dụ ngôn
người gieo giống, qua bài Phúc Âm Thứ Tư hôm kia, và
lý do tại sao Người dùng dụ ngôn mà giảng dạy cho dân về
Nước Trời, qua bài Phúc Âm Thứ Năm hôm qua, hôm
nay, qua bài Phúc Âm cho Thứ
Sáu Tuần XVI Thường Niên, Chúa
Giêsu giải thích về ý nghĩa của những gì Người nói trong
dụ ngôn.
Ở đây, chúng ta nên lưu ý
một điểm rất đặc biệt, đó là cho
dù các tông đồ đã được trực tiếp liên hệ với Chúa Giêsu
như "Nước
Trời ở giữa các con" (Luca 17:21), các
vị vẫn không thể nào hiểu được dụ ngôn về Nước Trời của
Người (xem Marcô 4:10,13), và vẫn cần phải được
Người đích thân dẫn giải cho biết liên quan đến các
hình ảnh ám chỉ khác nhau được
Người sự dụng trong dụ ngôn.
"Vậy các con hãy nghe dụ ngôn về người gieo giống: Kẻ
nào nghe lời giảng về Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ
dữ đến cướp lấy điều đã gieo trong lòng nó: đó là kẻ
thuộc hạng gieo dọc đường. Hạt rơi trên đá sỏi là kẻ khi
nghe lời giảng, thì tức khắc vui lòng chấp nhận, nhưng
không đâm rễ sâu trong lòng nó: đó là kẻ nông nổi nhất
thời, nên khi cuộc bách hại, gian nan xảy đến vì lời
Chúa, thì lập tức nó vấp ngã. Hạt rơi vào bụi gai, là kẻ
nghe lời giảng, nhưng lòng lo lắng việc đời, ham mê của
cải, khiến lời giảng bị chết ngạt mà không sinh hoa kết
quả được. Hạt gieo trên đất tốt, là kẻ nghe lời giảng mà
hiểu được, nên sinh hoa kết quả, đến nỗi có hạt được một
trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi".
Qua những
dẫn giải của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng
ta không thấy Người nói đến kẻ gieo giống là ai và hạt
giống là gì, nhưng chúng ta có thể suy ra nếu hạt giống
chính là Lời Chúa như Người đã dẫn giải trong Phúc Âm
Thánh Luca
(8:11), thì
người gieo giống đây ám chỉ đến chính Chúa Giêsu.
Nếu Lời
Chúa là hạt giống, thì có cái hay ở đây là trước khi
chưa được gieo xuống còn là chính lời Chúa hay mạc khải
thần linh,
thế nhưng
một khi đã được gieo xuống rồi thì hạt
giống ấy liền trở
thành người nghe Lời Chúa, như
chính Người cho biết trong bài Phúc Âm: "Hạt
rơi dọc đường
là kẻ... Hạt rơi trên
đá sỏi là kẻ ... Hạt
rơi vào bụi gai là kẻ... Hạt gieo trên đất tốt là kẻ..."
.
Tại
sao Lời Chúa khi gieo xuống lại
biến thành người nghe Lời Chúa như thế, nếu không phải vào
lúc ban đầu, hạt giống Lời Chúa hoàn toàn lệ thuộc vào
môi trường nẩy mầm và phát triển là người nghe, đến độ
hạt giống tiêu biểu cho sự sống và chất chứa sự sống sẽ
bị thui chột đi một khi hạt giống Lời Chúa không
gặp được môi trường
thích hợp của
mình. Tuy nhiên, một khi gặp được môi trường thích đáng
với mình, hạt giống Lời Chúa sẽ trở thành chủ động, sẽ
làm cho môi trường tự mình hoang trống có
thể nhờ hạt giống mà phát triển sự
sống.
Bốn
loại người đón nhận hạt giống Lời
Chúa được
Chúa Giêsu liệt kê trong dụ ngôn và được Người đích thân
dẫn giải đó là thành phần: 1- thính giả vệ đường, 2-
thính giả sỏi đá, 3- thính giả bụi gai, và 4- thính
giả đất tốt. Cũng có thể nói đây là 4 thái độ trong
việc đón nhận Lời Chúa, đón nhận mạc khải thần linh, đón
nhận Chúa Giêsu Kitô là chính Lời Chúa và là tất cả mạc
khải thần linh của Thiên Chúa.
Chính
vì hạt giống một khi được gieo xuống đất là thành phần
thính giả mà hạt giống cần phải được gieo vãi khắp nơi,
kể cả ở vệ đường, ở đá sỏi, ở bụi gai, tức là cho hết
mọi hạng người, không trừ một ai, kẻo khi cần phải trả
lẽ trước mặt Quan Án Chí Công trong cuộc phán xét riêng
và chung
thẩm, thành
phần thính giả vệ đường hay thính giả sỏi đá hoặc thính
giả bụi gai không
thể nại lý rằng họ chẳng nghe biết gì để khỏi bị luận
phạt.
Căn
cứ vào những gì Chúa Giêsu dẫn giải về 4 loại thính giả
nghe Lời Người hay được Người tỏ mình ra cho, thì thành
phần thính
giả vệ đường là
thành phần hững hờ nghe Lời Chúa hay hững hờ nghe Chúa
Kitô; thành phần thính
giả sỏi đá là
thành phần nông cạn hiểu Lời Chúa hay nông cạn hiểu Chúa
Kitô; thành
phần thính
giả bụi gai là
thành phần lơ là sống Lời Chúa hay lơ là sống Chúa Kitô,
và thành
phần thính
giả đất tốt là
thành phần biết đáp ứng Lời
Chúa hay biết đáp ứng
Chúa Kitô.
Lời
Chúa được diễn tả qua lề luật của Chúa, nên có thể nói
lề luật của Chúa cũng là hạt giống được gieo nơi lương
tâm của con người, mà đã là người ai cũng trực giác thấy
những gì tự bản chất là xấu cần phải tránh, như gian
dâm, giết người, lừa đảo, trộm cướp v.v., căn cứ vào
nguyên tắc đừng làm gì cho tha nhân khi không muốn họ
làm cho mình, và
tự những
gì tự bản
chất là tốt cần
phải làm,
chẳng
hạn làm phúc bố thí, bác ái vị tha, hy sinh phục vụ
v.v., căn cứ vào nguyên tắc hãy làm cho người khác những
gì mình muốn họ làm cho mình.
Tóm lại, 2
nguyên tắc trở thành cốt lõi của lề luật liên quan đến
tha nhân đó là hãy yêu người như mình.
Tuy nhiên, nếu con người vô thần thì họ sẽ chẳng coi ai
ra gì. Bởi thế, con người chỉ thực hành được qui luật
vàng là ái nhân như kỷ - yêu người như thể thương
thân ấy một khi họ nhận biết Đấng
Tối Cao, Đấng thưởng phạt công minh, nhất là biết kính
sợ Thiên Chúa là
Cha trên trời trọn lành trên
hết mọi sự với tất cả con người của họ.
Cảm Nghiệm
Việc Chúa Giêsu nhẫn nại để dẫn giải dụ ngôn về Nước
Trời cho các môn đệ nghe, theo lời yêu cầu của các vị,
quả thực Người thông cảm với những giới hạn của con
người tạo vật, đến độ, dụ ngôn về Mầu Nhiệm Nước Trời đã
được cụ thể hóa bằng các hình ảnh và sự vật cụ thể, hợp
với cả cảm quan lẫn suy tư của họ, mà họ vẫn không hiểu,
vẫn cần phải được dẫn giải thêm, và như thế, chứng tỏ
Người là một vị chủ chiên "biết chiên" của mình
(Gioan 10:14), và dìu dắt chiên của mình theo khả năng,
tâm trạng, thân phận của từng con chiên một, đến độ,
thiếu con nào, mất con nào, Người biết ngay và phải đi
tìm về cho bằng được (xem Luca 15:4).
Qua miệng của tiên tri Giêrêmia ở Bài Đọc 1 hôm nay,
chúng ta thấy được lòng thương xót của Thiên Chúa ra sao
và đến đâu, đối với dân được Ngài tuyển chọn và ưu đãi,
mà lại cứ liên tục "phản loạn", cho đến khi họ
nhận biết Ngài, nghĩa là biến tình trạng cứng lòng và
thái độ phản loạn của họ thành môi trường thuận lợi để
tỏ mình ra cho họ, để họ thấy được tất cả mầu nhiệm Nước
Trời là chính lòng thương xót của Ngài, và qua họ, được
Ngài sử dụng để tỏ mình ra cho cả dân ngoại nữa cũng
thấy được lòng thương xót của Ngài ấy, cuối cùng tất cả
đều nhận biết Ngài:
"Hỡi con cái phản loạn, hãy hối cải, vì Ta là
chủ các ngươi, Ta sẽ chọn trong các ngươi một
người trong mỗi thành và hai người trong mỗi chi
họ; Ta sẽ dẫn các ngươi lên Sion. Ta sẽ ban cho
các ngươi những chủ chăn theo như ý Ta, để họ
dùng lý trí và khôn ngoan chăn dắt các ngươi.
Trong những ngày ấy, khi các ngươi sinh sản ra nhiều
trong xứ, thì người ta không còn nói đến Hòm Bia Thiên
Chúa nữa. Người ta sẽ không còn nghĩ tới, nhớ tới, hối
tiếc và tạo lập hòm bia khác nữa. Lúc đó,
người ta sẽ gọi Giêrusalem là ngai của Chúa, mọi
dân tộc nhân danh Chúa mà quy tụ tại Giêrusalem,
và họ không theo lòng gian ác độc dữ của mình
nữa".
Bài Đáp Ca hôm nay, cũng được trích từ Sách Tiên
Tri Giêrêmia, đoạn 31, về lòng thương xót Chúa, một lòng
thương xót bao la bất tận, bao gồm tất cả mọi người, chứ
không phải chỉ riêng gì dân tộc được Ngài tuyển chọn và
ưu đãi, một dân tộc được Ngài sử dụng như đại diện cho
nhân loại, như Giáo Hội Chúa Kitô trên thế gian được
Người thiết lập để trở thành dấu chỉ hiệp thông và bí
tích cứu độ (xem Hiến Chế Lumen gentium I-1) cho tất cả
mọi dân tộc vậy, dù dân Do Thái hay Giáo Hội được ưu
đãi, nhưng tất cả những ưu đãi Ngài giành cho dân Chúa
và Giáo Hội đều hướng về và bao gồm tất cả loài người,
đối tượng cứu độ của Ngài nơi Chúa Giêsu Kitô, Con của
Ngài.
1)
Hỡi các dân tộc, hãy nghe lời Chúa, hãy công bố
lời Chúa trên các đảo xa xăm; hãy nói rằng:
"Ðấng đã phân tán Israel, sẽ quy tụ nó lại, và
sẽ gìn giữ nó, như mục tử chăn dắt đoàn chiên
mình".
2) Vì Chúa
đã giải phóng Giacóp, giờ đây với cánh tay mạnh
mẽ hơn, Người cứu thoát nó. Chúng sẽ đến và ca
hát trên núi Sion, chúng sẽ đổ xô về phía hạnh
phúc của Người.
3) Bấy giờ
người thiếu nữ sẽ hân hoan nhảy mừng, các thanh
niên và các cụ già cũng làm y như thế; Ta sẽ
biến đổi tang chế của chúng ra niềm hân hoan, sẽ
an ủi chúng và cho chúng hết đau khổ.
Thứ Bảy
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) Gr
7, 1-11
"Nhà này là
nơi phải khẩn cầu thánh danh Ta, đã trở thành hang
trộm cướp rồi sao?"
Trích sách
Tiên tri Giêrêmia.
Lời Chúa phán
cùng Giêrêmia rằng: Ngươi hãy đứng nơi cửa đền thờ
Chúa, và rao giảng lời này rằng: Hỡi toàn thể Giuđa,
là những người vào cửa này mà thờ lạy Chúa, hãy nghe
lời Chúa. Ðây Chúa các đạo binh, Thiên Chúa Israel
phán: Các ngươi hãy cải thiện lối sống và hành động
các ngươi, thì Ta sẽ ở với các ngươi tại chốn này.
Các ngươi đừng tin theo lời dối trá này: Ðây có đền
thờ Chúa, đền thờ Chúa, đền thờ Chúa! Vì nếu các
ngươi cải thiện lối sống và hành động các ngươi, nếu
các ngươi ăn ở ngay thẳng theo lề luật với những
người trong nhà và những người thân cận, nếu các
ngươi không áp bức ngoại kiều, trẻ mồ côi, và những
người goá bụa, nếu các ngươi không đổ máu người vô
tội tại chốn này, nếu các ngươi không chạy theo các
thần ngoại lai mà mang hoạ vào mình, thì Ta sẽ ở với
các ngươi tại chốn này, tại lãnh thổ mà Ta đã ban
cho tổ phụ các ngươi từ đời này đến đời nọ.
Nhưng kìa, các
ngươi tin tưởng vào những lời dối trá không sinh ích
lợi gì cho các ngươi, như: trộm cướp, giết người,
ngoại tình, thề dối, thờ cúng Baalim, chạy theo các
thần ngoại lai mà các ngươi không biết; rồi các
ngươi đến đứng trước mặt Ta trong đền thờ này là nơi
kêu cầu thánh danh Ta, mà nói rằng: "Chúng tôi đã
được bảo đảm để tiếp tục làm những việc ghê tởm đó".
Vậy, dưới mắt các ngươi, nhà này là nơi khẩn cầu
thánh danh Ta, đã trở thành hang trộm cướp rồi sao?
Chúa lại phán: Còn Ta, Ta hiện diện và Ta đã thấy
rõ.
Ðó là lời
Chúa.
Ðáp Ca: Tv 83, 3. 4. 5-6a và 8a. 11
Ðáp: Ôi
Chúa thiên binh, khả ái thay cung điện của Ngài (c.
2).
Xướng: 1) Linh
hồn con khát khao và mòn mỏi, mong vào hành lang nhà
Ðức Thiên Chúa. Tâm thần và thể xác con hoan hỉ tìm
đến cùng Thiên Chúa trường sinh. - Ðáp.
2) Ðến như
chim sẻ còn kiếm được nhà, và chim nhạn tìm ra tổ
ấm, để làm nơi ấp ủ con mình, cạnh bàn thờ Chúa, ôi
Chúa là Thiên Chúa thiên binh, ôi Ðại Vương là Thiên
Chúa của con. - Ðáp.
3) Ôi Thiên
Chúa, phúc đức ai ngụ nơi nhà Chúa: họ sẽ khen ngợi
Chúa tới muôn đời. Phúc thay người Chúa con nâng đỡ,
họ tiến lên ngày càng thêm hăng hái. - Ðáp.
4) Thực một
ngày sống trong hành lang nhà Chúa đáng quý hơn ngàn
ngày ở nơi đâu khác. Con ưa đứng nơi ngưỡng cửa nhà
Chúa con, hơn là cư ngụ trong lều bọn ác nhân. -
Ðáp.
Alleluia: Gc 1, 21
Alleluia,
alleluia. - Anh em hãy khiêm nhu nhận lãnh lời gieo
trong lòng, lời đó có thể cứu thoát linh hồn anh em.
- Alleluia.
Phúc Âm: Mt 13, 24-30
"Hãy cứ để
cả hai mọc lên cho đến mùa gặt".
Tin Mừng Chúa
Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa
Giêsu phán một dụ ngôn khác cùng dân chúng rằng:
Nước trời giống như người kia gieo giống tốt trong
ruộng mình. Trong lúc mọi người ngủ, thì kẻ thù của
ông đến gieo cỏ lùng vào ngay giữa lúa, rồi đi mất.
Khi lúa lớn
lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng lộ ra. Ðầy tớ chủ
nhà đến nói với ông rằng: "Thưa ông, thế ông đã
không gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Vậy cỏ
lùng từ đâu mà có?" Ông đáp: "Người thù của ta đã
làm như thế". Ðầy tớ nói với chủ: "Nếu ông bằng
lòng, chúng tôi xin đi nhổ cỏ". Chủ nhà đáp: "Không
được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các anh lại nhổ luôn cả
lúa chăng. Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt.
Và đến mùa, ta sẽ dặn thợ gặt: Các anh hãy nhổ cỏ
lùng trước, rồi bó lại từng bó mà đốt đi, sau mới
thu lúa lại chất vào lẫm cho ta".
Ðó là lời
Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm
Suy Niệm
Bài Phúc Âm cho Thứ Bảy Tuần XVI Thường Niên hôm nay tiếp
ngay sau 3 bài Phúc Âm của 3 hôm trước, liên
quan đến các dụ
ngôn Chúa Giêsu giảng dạy về mầu nhiệm Nước Trời, các
dụ ngôn sẽ được tục tiếp cho tới tuần sau đó nữa.
Dụ
ngôn trong bài Phúc Âm hôm nay, về nội dung, như
là một đoạn Phúc Âm phụ thêm cho dụ ngôn về người
gieo giống cách đây 3 hôm. Bởi
vì, cả hai đều về "người gieo giống", thế
nhưng ở bài Phúc Âm hôm Thứ Tư về "người gieo
giống ra đi gieo giống", còn hôm nay về "người
kia gieo giống tốt trong ruộng mình".
Nếu
trong dụ ngôn về "người gieo giống ra đi
gieo giống" là dụ ngôn liên quan đến mầu nhiệm
nhập thể và vượt qua của Người cũng như đến 4 thành
phần đón nhận Người, thì dụ ngôn về "người
kia gieo giống tốt trong ruộng mình" hôm
nay liên quan đến mầu nhiệm quan phòng thần
linh và mầu nhiệm cánh chung trong việc để cho kẻ
thù gieo cỏ lùng vào cùng một thửa ruộng với lúa tốt
cho đến mùa gặt.
"Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt
trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù
của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi
mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng
xuất hiện. Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: 'Thưa
ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng
ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?' Ông đáp:
'Kẻ thù đã làm đó!' Đầy tớ nói: 'Vậy ông có muốn
chúng tôi ra đi gom lại không?' Ông đáp: 'Đừng, sợ
rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ
lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến
ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại,
bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho
lẫm cho tôi'."
Trong bài Phúc Âm vào Thứ Ba
tuần tới, Chúa Giêsu sẽ dẫn giải ý nghĩa liên
quan đến các hình ảnh ám chỉ trong dụ ngôn "người
kia gieo giống tốt trong ruộng mình" này. Ở đây,
căn cứ vào những gì được Chúa Giêsu nêu lên trong dụ
ngôn, chúng ta có thể kết luận mấy điều chính yếu
sau đây:
1-
Thiên Chúa chỉ làm điều tốt: "người
kia gieo giống tốt trong ruộng mình", còn điều
xấu là do kẻ thù của Ngài là
ma quỉ gây
ra: "kẻ
thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi
đi mất".
2- Thiên
Chúa là Đấng quan phòng thần linh biết hết mọi sự
nhưng Ngài cứ để xẩy ra, như thể "mọi
người đang ngủ" chẳng
hay biết gì, ai muốn làm gì thì làm, dù có ý gây tác
hại cho thửa ruộng của Ngài.
3- Sở
dĩ Thiên Chúa cố ý để xẩy ra tình trạng hay hiện
tượng "khi
lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện" là
vì
Ngài muốn
mưu ích cho lúa tốt bằng chính sự hiện diện và sức
lấn át dữ dội đầy ác liệt của cỏ lùng: "sợ
rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa".
4- Cho dù
cỏ lùng
do ma quỉ gieo vào thửa ruộng lúa tốt của Thiên
Chúa để phá hoại ruộng lúa của Ngài, nhưng cuối cùng
chúng chẳng những không thành công mà còn bị trừng
phạt xứng đáng nữa: "Cứ
để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày
mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó
thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm
cho tôi".
Như
thế, ý nghĩa
chính yếu của dụ ngôn "người
kia gieo giống tốt trong ruộng mình" đây đó
là Thiên Chúa là chủ tể của lịch
sử loài người - những
gì Ngài đã muốn hoàn thành nơi con người và cho con
người theo dự án cứu độ của Ngài, một dự án đã được
Chúa Kitô hoàn tất bằng công cuộc cứu độ của Người,
tất
cả sẽ được nên trọn ở mầu nhiệm cánh chung.
Có
thể áp dụng ý nghĩa của dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng
lúa tốt ở bài Phúc hôm
nay vào
con người và đời sống của Kitô hữu chúng ta. Ở chỗ,
trong bản thân mỗi Kitô hữu chúng ta, như thửa ruộng
của Chúa, đã được gieo giống tốt là Thánh Sủng cùng
với 3 Thần Đức tin cậy mến. Thế nhưng, đồng thời cho
dù đã lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy Tái Sinh, Kitô hữu
vẫn còn đam mê nhục dục và tính mê nết xấu là các
mầm mống của nguyên tội, như cỏ lùng đã được ma quỉ
gieo vào bản tính của con người sau khi con người đã
không còn sống trong tình ttrạng công chính nguyên
thủy nữa.
Bởi
thế, thửa ruộng tâm linh Kitô hữu vừa có lúa tốt là
Thánh Sủng cùng với 3 Thần Đức vừa có cỏ lùng là đam
mê nhục dục cùng với tính
mê nết xấu, thậm
chí cỏ lùng bao giờ cũng tự nhiên nhiều hơn và mạnh
hơn lúa tốt, do đó con người Kitô hữu mới hay
dễ
dàng và mau chóng sa
ngã phạm tội hơn là sống thánh thiện phúc đức với tư
cách là những đứa con thừa nhận của Thiên Chúa.
Trong khi đó
Thiên Chúa lại muốn để xẩy ra tình trạng đối nghịch
và đối chọi nhau gay go nguy hiểm này như vậy nơi
con người, để họ nhờ đó sống đức tin, bằng cách luôn
cảm thấy mình hèn hạ tội lỗi và bất lực bất xứng mà
tin tưởng cậy trông phó thác vào Ngài hơn nữa như
một trẻ nhỏ theo lòng mong ước của Ngài để nhờ đó
Ngài có thể tỏ mình ra cho họ, biến đổi họ cùng
chiếm đoạt họ và
sống trong họ, nghĩa là để cho Thánh Sủng cuối cùng
sẽ toàn thắng nơi con người của họ, như một Chúa
Kitô tử nạn bởi sự ác nhưng phục
sinh bởi
quyền năng thần linh vậy.
Cảm Nghiệm
Yếu tố chính của bài Phúc Âm hôm nay là cỏ lùng, hơn
là lúa tốt. Bởi thế, nó mới được nhắc đến nhiều hơn
lúa tốt: 1- nào là được đầy tớ khám phá ra, 2- nào
là chủ ruộng biết được xuất phát từ kẻ thù, 3- nào
là đầy tớ muốn nhổ đi, 4- nào là chủ ruộng vẫn không
cho đầy tớ đụng đến nó, 5- nào là nó được tiếp tục
mọc lên cho tới mùa gặt; và 6- nào là thân phận cuối
cùng của nó bị thu lại đốt đi.
Chính vì bài Phúc Âm cho thấy, qua cỏ lùng, lòng
thương xót Chúa, một lòng thương xót cứu độ được Bài
Đọc 2 hôm nay, kêu gọi những kẻ gian ác, tội lỗi,
thành phần đã biến
"nơi khẩn cầu thánh
danh Ta, đã trở thành hang trộm cướp",
hãy nhận biết mà trở về với Người, như Người
kêu gọi họ qua miệng tiên tri Giêrêmia:
"Các ngươi hãy cải
thiện lối sống và hành động các ngươi, thì Ta sẽ ở
với các ngươi tại chốn này. Các ngươi đừng tin theo
lời dối trá này: Ðây có đền thờ Chúa, đền thờ Chúa,
đền thờ Chúa! Vì nếu các ngươi cải thiện lối sống và
hành động các ngươi, nếu các ngươi ăn ở ngay thẳng
theo lề luật với những người trong nhà và những
người thân cận, nếu các ngươi không áp bức ngoại
kiều, trẻ mồ côi, và những người goá bụa, nếu các
ngươi không đổ máu người vô tội tại chốn này, nếu
các ngươi không chạy theo các thần ngoại lai mà mang
hoạ vào mình, thì Ta sẽ ở với các ngươi tại chốn
này, tại lãnh thổ mà Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi
từ đời này đến đời nọ".
Tuy nhiên, con người không thể trở về với lòng
thương xót Chúa, nếu bản thân họ không cảm nghiệm
thấy lòng thương xót này, và chính tội lỗi của họ
cùng với những khổ đau do tội lỗi của họ gây ra,
cũng giúp họ tự nhiên dễ hướng về Chúa và tìm kiếm
Chúa, Đấng đã cố ý để cho họ như đứa con bỏ nhà đi
hoang, khi rơi vào tình trạng thân tàn ma dại, mới
nghĩ lại, mới trở về với Chúa (xem Luca 15:14-21).
Thánh Vịnh 83 trong Bài Đáp Ca hôm nay đã chất chứa
tâm trạng này như sau:
1) Linh
hồn con khát khao và mòn mỏi, mong vào hành lang nhà
Ðức Thiên Chúa. Tâm thần và thể xác con hoan hỉ tìm
đến cùng Thiên Chúa trường sinh.
2) Ðến như
chim sẻ còn kiếm được nhà, và chim nhạn tìm ra tổ
ấm, để làm nơi ấp ủ con mình, cạnh bàn thờ Chúa, ôi
Chúa là Thiên Chúa thiên binh, ôi Ðại Vương là Thiên
Chúa của con.
3) Ôi Thiên
Chúa, phúc đức ai ngụ nơi nhà Chúa: họ sẽ khen ngợi
Chúa tới muôn đời. Phúc thay người Chúa con nâng đỡ,
họ tiến lên ngày càng thêm hăng hái.
4) Thực một
ngày sống trong hành lang nhà Chúa đáng quý hơn ngàn
ngày ở nơi đâu khác. Con ưa đứng nơi ngưỡng cửa nhà
Chúa con, hơn là cư ngụ trong lều bọn ác nhân.
HẠNH THÁNH TRONG TUẦN
Thánh Laurensô Brindisi, linh mục Tiến Sĩ Hội Thánh

Với nhiều tác phẩm giá trị về mặt thần
học, luân lý, đạo đức, thánh Laurensô
Brindisi đã được Đức Giáo Hoàng Gioan
XXIII vào năm 1959, tôn vinh làm tiến sĩ
Hội Thánh. Thánh Laurensô Brindisi đã
được tán dương như lời Chúa nói: ” Chúa
đã cho người lên tiếng giữa cộng đoàn,
ban cho người đầy tinh thần khôn Ngoan
minh mẫn và mặc cho Ngài áo vinh quang”
(Hc 15, 5).
THÁNH LAURENSÔ BRINDISI:
Thánh nhân có tên gọi là Jules César
Russô sinh tại Brindisi, vùng Apulia,
miền Nam nước Ý Đại Lợi. Ngay từ hồi còn
nhỏ, còn niên thiếu, thánh nhân đã ước
ao trở thành người hướng dẫn các
linh hồn. Để thực hiện gấc mơ phục vụ
các linh hồn, thánh nhân đã xin gia nhập
dòng thánh Phanxicô ở Vêrôme. Với tấm
lòng mến Chúa và tha thiết phục vụ tha
nhân, thánh Laurensô đã được mặc tu phục
Phanxicô vào năm 1575 và được gọi
là thầy Laurensô Brindisi. Thánh nhân có
óc thông minh và trí khôn sắc xảo, vì thế
những năm học ở Padua đã giúp Ngài trở
nên thông thái, trở thành một học giả,
thông thạo nhiều ngôn ngữ như tiếng
Pháp, Đức, Do Thái, Hy Lạp, Syrie. Thánh
nhân nhờ ơn Chúa giúp và Thánh Thần tác
động đã sẵn sàng bắt tay vào việc cải
cách, cải tổ. Thánh nhân đã dùng lời
giảng dậy không bằng những lý thuyết
suông mà lồng vào lời Chúa để mang lại
một sức sống mãnh liệt hầu lôi kéo các
linh hồn. Tiếng tăm của Ngài vang dội
khắp nơi, khắp Trung Âu. Thánh nhân còn
hăng say với Thập Tự Quân. Thánh nhân đã
dẫn đầu đạo binh Hung Gia Lợi, thánh giá
cầm tay để chống lại đạo quân Thổ Nhĩ
Kỳ. Thánh nhân đã chiến thắng, thành
công vào năm 1601. Thánh nhân còn là một
nhà ngoại giao tài giỏi của các Đức Giáo
Hoàng. Thánh nhân có đời sống liên kết
rất thân mật với Chúa. Ngài để ra nhiều
giờ cầu nguyện và thực tập các nhân đức.
THÁNH LAURENSÔ BRINDISI QUA ĐỜI VÀ GIÁO
HỘI TÔN VINH NGÀI:
Thánh nhân được Chúa gọi về với Chúa khi
Ngài đang hăng say thi hành sứ mạng được
Chúa trao phó ở Lisbone năm 1619. Ngài
ra đi về với Chúa trong sự khó nghèo,
đơn sơ và thánh thiện. Thánh nhân dù rất
bận với công việc nhưng đã để lại rất
nhiều sách có giá trị bảo vệ đức tin
công giáo. Năm 1881, Đức Giáo Hoàng Lêô
XIII đã nâng Ngài lên bậc hiển thánh và
Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã đặt Ngài
làm tiến sĩ Hội Thánh vào năm 1959.
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh
Lô-ren-xô linh mục thần trí khôn ngoan
và dũng lực, để làm vinh danh Chúa và
cứu các linh hồn. Xin nhận lời thánh
nhân cầu thay nguyện giúp mà ban thần
trí ấy cho chúng con, để chúng con biết
việc phải làm và làm điều đã biết (Lời
nguyện nhập lễ, lễ thánh Laurensô, linh
mục).
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
https://dcvxuanloc.net/thanh-laurenso-brindisi-linh-muc-tien-si-hoi-thanh-ngay-2108/
ĐTC Biển Đức XVI
23/3/2011 – Bài 135 về Thánh Lawrence
of Brindisi
Ngày 22
tháng 7
Lễ
Thánh nữ Maria Mađalêna
Lễ Kính
Bài Ðọc
I: Dc 3, 1-4a
"Tôi đã gặp người tôi
yêu".
Trích sách Diễm Ca.
Suốt đêm trên giường ngủ,
tôi đã tìm kiếm người tôi yêu: Tôi đã tìm kiếm chàng, nhưng tôi
không gặp được chàng. Tôi chỗi dậy, và đi quanh thành phố, đi
qua các phố xá và công trường, tôi tìm kiếm người tôi yêu. Tôi
đã tìm kiếm chàng, nhưng tôi không gặp được chàng. Các người
lính canh gác thành phố gặp tôi và tôi hỏi họ: "Các anh có thấy
người tôi yêu không?" Tôi vừa đi qua khỏi họ, thì gặp ngay người
tôi yêu.
Ðó là lời Chúa.
Hoặc: 2
Cr 5, 14-17
"Từ nay chúng ta không
biết Ðức Kitô theo xác thịt nữa".
Trích thư thứ hai của
Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, lòng mến
của Ðức Kitô thúc bách chúng ta; chúng ta xác tín điều này là
một người đã chết vì mọi người, vậy mọi người đều đã chết. Và
Ðức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống, thì
không còn sống cho chính mình nữa, mà là sống cho Ðấng đã chết
và sống lại vì họ. Vì thế, từ nay chúng ta không còn biết ai
theo xác thịt nữa. Mặc dù nếu chúng ta đã biết Ðức Kitô theo xác
thịt, thì giờ đây chúng ta không còn biết như thế nữa. Vậy nếu
ai đã trở nên một tạo vật mới trong Ðức Kitô, thì những gì cũ đã
qua rồi, vì đây mọi sự đều được trở nên mới.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca:
Tv 62, 2. 3-4. 5-6. 8-9
Ðáp: Lạy
Chúa là Thiên Chúa con, linh hồn con khao khát Chúa (c. 2b).
Xướng: 1) Ôi lạy Chúa,
Chúa là Thiên Chúa của con, con thao thức chạy kiếm Ngài. Linh
hồn con khát khao, thể xác con mong đợi Chúa như đất héo khô,
khát mong mà không gặp nước! - Ðáp.
2) Con cũng mong được
chiêm ngưỡng thiên nhan ở thánh đài, để nhìn thấy quyền năng và
vinh quang của Chúa. Vì ân tình của Ngài đáng chuộng hơn mạng
sống; miệng con sẽ xướng ca ngợi khen Ngài. - Ðáp.
3) Con sẽ chúc tụng Ngài
như thế trọn đời con, con sẽ giơ tay kêu cầu danh Chúa. Hồn con
được no thoả dường như mỹ vị cao lương, và miệng con ca ngợi
Chúa với cặp môi hoan hỉ. - Ðáp.
4) Vì Chúa đã ra tay trợ
phù con, để con được hoan hỉ núp trong bóng cánh của Ngài. Linh
hồn con bám thân vào Chúa, và tay hữu Chúa nâng đỡ người con. -
Ðáp.
Alleluia:
Alleluia, alleluia! - Hỡi
Maria, hãy nói cho chúng tôi biết bà đã thấy gì trên đường? -Tôi
đã thấy mộ của Ðức Kitô hằng sống và vinh quang của Ðấng sống
lại. - Alleluia.
Phúc
Âm: Ga 20, 1. 11-18
"Bà kia, sao mà khóc?
Bà tìm ai?"
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô
theo Thánh Gioan.
Ngày đầu tuần, Maria
Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối, và bà thấy tảng
đá đã được lăn ra khỏi mồ.
(Bà liền chạy về tìm Simon
Phêrô và người môn đệ khác được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với
các ông rằng: "Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi
không biết người ta để Thầy ở đâu".)
Bà Maria đang còn đứng gần
mồ Chúa mà than khóc, nhìn vào trong mồ, bà thấy hai thiên thần
mặc áo trắng đang ngồi nơi đã đặt xác Chúa Giêsu, một vị ngồi
phía đàng đầu, một vị ngồi phía đàng chân. Hai vị hỏi: "Tại sao
bà khóc?" Bà trả lời: "Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi, và tôi
không biết người ta đã để Người ở đâu?" Vừa nói xong, bà quay
mặt lại, thì thấy Chúa Giêsu đã đứng đó. Nhưng bà chưa biết là
Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu hỏi: "Bà kia,
sao mà khóc? Bà tìm ai?" Tưởng là người giữ vườn, Maria thưa:
"Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết
ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người". Chúa Giêsu
gọi: "Maria". Quay mặt lại, bà thưa Người: "Rabboni", nghĩa là
"Lạy Thầy". Chúa Giêsu bảo bà: "Ðừng động đến Ta, vì Ta chưa về
cùng Cha Ta. Nhưng hãy báo tin cho các anh em Ta hay và bảo họ
rằng: "Ta về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên
Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con".
Maria Mađalêna đi báo tin
cho các môn đệ rằng: "Tôi đã trông thấy Chúa, và Chúa đã phán
với tôi những điều ấy".
Ðó là lời Chúa.
Một Chút Chia Sẻ
Ngày 10/6/2016, ĐTC Phanxicô, qua sắc
lệnh của Thánh Bộ Phượng Tự và Kỷ Luật Các Bí Tích,
"Apostolorum Apostola / Apostle of the Apostles", Chị Thánh
Maria
Mai-Đệ-Liên đã được tặng
cho danh hiệu "Tông Đồ của Các Tông Đồ", và lễ của chị trong
phụng niên hằng năm của Giáo Hội vào ngày 22/7, đã được nâng lên
từ bậc lễ nhớ (memorial) lên bậc lễ kính (feast), ngang bậc lễ
với 12 vị tông đồ.
Quả thực chị là vị nữ thánh rất đặc biệt, nếu so với
người Chị Matta của mình, người chị cũng được Giáo Hội liệt vào
sổ bộ các thánh, nhưng chỉ ở bậc lễ nhớ ngày 29/7, lễ sau lễ của em mình 1
tuần 22/7. Và chúng ta thường hiểu danh xưng "Tông Đồ của Các
Tông Đồ" ở chỗ rất rõ ràng hiển nhiên, đó là, theo Phúc Âm Thánh Gioan, chị là người được Chúa Kitô Phục Sinh sai
đi loan báo tin mừng phục sinh cho chính các tông đồ - mà được
sai đi tức là đóng vai trò "tông đồ" rồi vậy, lại được sai đến
với và loan truyền cho chính các Tông Đồ nữa, nên đáng được gọi
"Tông Đồ của Các Tông Đồ"!
Tuy nhiên, nếu phân tích về điều kiện
tối yếu và ắt có và đủ, căn cứ vào trường hợp 12 tông đồ được
tuyển chọn trong số đông đảo các môn đệ, để có thể mang danh
"tông đồ", và xứng đáng thực hiện sứ vụ "tông đồ", một danh xưng
chỉ giành cho nam nhân, thì Chị Thánh
Maria
Mai Đệ Liên có hợp với danh xưng "tông đồ" này hay
chăng? Tất nhiên, trước hết và trên hết, khi Đức Thánh Cha, qua
Tòa Thánh, đã công nhận và tuyên bố vấn đề này thì không thể vô
lý và sai lầm, dù không liên quan đến đức tin và luân lý, là 2
lãnh vực liên quan trực tiếp đến ơn vô ngộ của Giáo Hoàng. Dầu
sao, nhờ tìm hiểu thêm, chúng ta, tự mình, sẽ càng thấy hợp tình
hợp lý, một cách hết sức lý thú hơn bao giờ hết.
Trước hết, về điều kiện tông đồ, liên
quan đến những yếu tố chính yếu để một con người được chọn làm
tông đồ. Căn cứ vào trường hợp của 12 tông đồ, thì trong số các
môn đệ của Chúa Kitô, muốn được trở nên "tông đồ" của Người,
cần phải hội đủ 3 điều kiện: 1- Được Người chọn gọi; 2- Được
Người tỏ mình; 3- Được Người sai đi. Cả 12 tông đồ, tất nhiên,
đều hội đủ 3 điều kiện tối yếu này. Riêng Thánh Phaolô Tông Đồ
Dân Ngoại là vị tông đồ "sinh non" (1Corinto 15:8), cũng hội đủ
3 điều kiện bất khả thiếu này, ở chỗ cũng được chính Chúa Kitô
chọn gọi, tỏ mình và sai đi, ngay trong biến cố trở lại của ngài
(xem Tông Vụ 22:7-8,21). Vậy trường hợp của Chị Thánh Maria Mai Đệ Liên thì
sao?
Chị Thánh Maria Mai-Đệ-Liên quả thực cũng đã được Chúa Giêsu
chọn gọi, tỏ mình và sai đi, ngay trong biến cố được Bài Phúc Âm
hôm nay thuật lại: 1- Chị là người nữ môn đệ duy nhất đã được
chính Chúa Kitô gọi: "Maria"; 2- đã đích thân tỏ mình
ra cho chị là Người đã sống lại: "Ðừng động đến Ta, vì Ta
chưa về cùng Cha Ta", và 3- Chính Người cũng đã sai chị đi:
"báo tin cho các anh em Ta hay và bảo họ rằng: 'Ta về cùng
Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là
Thiên Chúa các con'". Có thể nói, nếu Chúa Kitô đã chọn 12
tông đồ trước cuộc Vượt Qua của mình, thì Người cũng chọn
thêm 2 tông đồ sau cuộc Vượt Qua của Người, đó là Thánh Nam
Phaolô và Thánh Nữ Maria Mai-Đệ-Liên. Như các bí tích cũng vậy,
một số được Người lập trước Vượt Qua (Thánh Thể và Thánh Chức -
Luca 22:19), một số sau Vượt Qua (Giải Tội - Gioan 20:22, và Rửa
Tội - Mathêu 28:19).
Sau nữa, về tư cách tông đồ, liên quan đến phẩm tính cần phải có
để xứng đáng làm tông đồ, và làm tông đồ một cách xứng đáng,
nghĩa là, vì người tông đồ là người được sai đi làm chứng, thì
bản thân của họ cần phải làm sao thực sự cảm nhận được chính
Đấng đã sai mình, hầu có thể làm chứng một cách trung thực sống
động về Đấng ấy và loan truyền
Đấng ấy, bằng việc gắn bó với Đấng ấy. Về yếu tố gắn bó với Chúa
Kitô là Đấng đã chọn gọn, tỏ mình và sai đi đối với vị "Tông Đồ của Các
Tông Đồ" Maria Mai-Đệ-Liên này, có thể nói, là yếu tố làm nên chính bản
thân của chị, từ khi chị trở về cùng Chúa (xem Luca 7:36-38 + Gioan
11:2; Luca 8:2 + Marco 16:9), sống thân tình với Chúa (xem Luca
10:38-42 + Gioan 12:1-3), theo Chúa cho đến cùng (xem Gioan
19:25), kể cả sau khi Người được an táng trong mộ, như những gì
liên quan đến chị được bài Phúc Âm Thánh Gioan hôm nay thuật
lại.
Có thể nói, chị còn theo Chúa và gắn bó với Chúa Giêsu hơn chính
các tông đồ nữa, như khi chị được đứng dưới chân Thánh Giá Chúa
Giêsu với Mẹ Maria, cùng với Tông Đồ Gioan (xem Gioan 19:25), và chị là
người duy nhất, trong các phụ nữ, bao gồm cả các vị tông đồ, hết
sức quan tâm đến thi thể của Người Thày chí thánh đã bị tử giá,
cứ quanh quẩn bên ngôi mộ trống của Người, vẫn tìm kiếm Người,
dù chỉ là một thi thể, nhưng lại là một kỷ vật vô giá bất khả
thiếu của chị, cho đến khi chị được Người đích thân hiện ra với
riêng mình chị, dưới hình dạng, qua mắt của chị bấy giờ, như một
người canh vườn.
Trong số tất cả các môn đệ, nam và
nữ, bao gồm cả các tông đồ, thì Chị Thánh Maria Mai-Đệ-Liên là
người môn đệ xông xáo nhất và tha thiết nhất với Chúa Kitô. Nếu
bảo rằng các môn đệ và tông đồ là nam nhân, nên sợ người Do
Thái, không thể làm như chị là phụ nữ. Tuy nhiên, tại sao sau
khi nghe chị về báo lần đầu tiên, như bài Phúc Âm hôm nay thuật
lại ở ngay câu đầu, sau đó 2 tông đồ Phêrô và Gioan đã chạy ra
mồ, (những chi tiết ngay sau đó nhưng không cần nhắc lại trong
bài Phúc Âm cùng ngày - xem Gioan 20:3-10, bài Phúc Âm chỉ liên
quan đến chị), không còn sợ gì nữa?
Thật ra, xét cho cùng, nếu các tông
đồ gắn bó với Thày mình thật, thì bất chấp mọi nguy hiểm, như
chính Tông Đồ Phêrô đã khẳng định trong Bữa Tiệc Ly:
"Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa,
con cũng sẵn sàng." (Luca 22:33).
Tuy nhiên, so với Tông Đồ Gioan, người môn đệ duy nhất trong số
12 tông đồ đã trung thành và theo Thày cho đến cùng, cho đến khi
cùng với Mẹ Maria đứng kề bên Thánh Giá Chúa Giêsu (xem Gioan
19:25), vị tông đồ đóng vai trò đại diện cho Giáo Hội bấy giờ,
thì vị nữ môn đệ gắn bó với Chúa Kitô, chẳng những đứng dưới
chân Thánh Giá Chúa Kitô như Tông Đồ Gioan, mà còn cả sau khi
Người ở trong mồ, bề ngoài, như phân tích trên đây, có vẻ hơn
Tông Đồ Gioan về tính cách gắn bó, bất chấp mọi sự, nhưng thật
ra, về đức tin, vẫn chưa bằng "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu"
ấy. Ở chỗ, vị tông đồ này cho dù chưa thấy Chúa Kitô phục sinh, như
Người hiện ra riêng với chị, được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại,
mà chỉ cần thấy dấu hiệu của Người, thì đã tin rằng Người sống
lại rồi (xem Gioan 20:8): "Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào.
Ông đã thấy và đã tin".
Đến đây, chúng ta thấy được hai điểm then chốt trong trình thuật
của bài Phúc Âm hôm nay. Điểm then chốt thứ nhất, đó là, cho dù
Chị Maria Mai Đệ Liên đã gắn bó với Chúa Kitô như thế, vậy mà, cho dù có
nhìn thấy Người, lại tưởng là viên canh vườn! Tạo sao thế? Xin
thưa, tại vì chị bị tiềm thức, đúng hơn, bị tiền thức chi phối. Ở
chỗ nào? Nếu không phải ở chỗ chị, cũng như người chị Matta của
chị, đã bày tỏ niềm tin vào sự phục sinh của con người vào ngày
tận thế mà thôi (xem Gioan 11:24), chứ không phải vào chính thời
điểm Chúa Kitô muốn chứng thực "Thày là sự sống lại và là sự
sống" (Gioan 11:25).
Chính vì bị chi phối bởi tiền thức về sự sống lại không phải
ngay thời của Chúa Giêsu, mà chị đã chạy vội về báo tin cho các
tông đồ lần thứ nhất, một tin buồn, khác hẳn với lần thứ hai là
một tin vui, một sứ điệp phục sinh thật sự từ Chúa và của Chúa,
chứ không phải một sứ điệp xuất phát từ cảm nhận loài người của
chị:
"Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ
để Người ở đâu." (Gioan 20:2). Tuy nhiên, chính vì
chị vẫn tiếp tục "tìm người sống nơi kẻ chết" (Luca
24:5), mà chị bất ngờ và quả thực đã tìm được Đấng "đã
sống lại rồi, Người không còn ở đây" (Luca 24:6). Chính
việc chị nỗ lực tìm kiếm thi thể của Thày mình cho thấy một niềm
hy vọng nào đó, và nhất là muốn chứng tỏ chị vẫn tiếp tục gắn bó
với Chúa, dù Chúa không còn trên trần gian này nữa, theo tiền
thức đã chi phối chị.
Chính vì niềm hy vọng và nỗi gắn bó hết sức thiết tha của chị
như thế, mà chị khác với hai môn đệ về Emmau, đi cả một quảng
đường dài với Đấng Phục Sinh, nghe Người giảng giải Kinh Thánh,
thế mà vẫn không nhận ra giọng của Người, tiếng của Người (xem
Luca 24:25-27), thậm chí hơn cả các tông đồ, cho dù thấy Người
hiện ra, và nghe thấy tiếng của Người vào tối ngày thứ nhất
trong tuần, mà mãi mới chịu tin (xem Luca 24:36-43), trong khi
đó, vừa nghe thấy tiếng của Thày, lại là một tiếng gọi đích danh
của mình nữa, chị liền nhận ra ngay, và lập tức tin tưởng,
bằng lời tuyên xưng: "Rabboni - Lạy Thày" (Gioan
20:16).
Thế rồi, ngay sau đó, chị nghe thấy Chúa Kitô Phục Sinh phán với
chị, như bài Phúc Âm hôm nay được Thánh Gioan ghi nhận rằng:
"Ðừng động đến Ta, vì Ta chưa về
cùng Cha Ta". Câu này có nghĩa là gì, nếu không phải Người
ngăn chị đang muốn nhào đến ôm chân của Người, tỏ lòng mừng rỡ và gắn
bó với Người, không bao giờ muốn mất Người nữa, như được Thánh
Ký Mathêu thuật lại (28:9). Cử chỉ "tiến lại gần, ôm chân
Người mà bái lạy" quả thực là cử chỉ riêng của chị, theo
thói quen kính mến của chị, như khi
Người còn sống, mà chị đã 2 lần được xức thơm chân Người (xem
Luca 7:38; Gioan 12:3).
Trong Thánh Lễ Vọng Phục Sinh 2020 ngày 11/4, giữa mùa đại dịch
covid-19 bị phong tỏa toàn cầu, bao gồm cả Tòa Thánh Vatican,
Đức Thánh Cha Phanxicô đã dẫn giải về bàn chân được chị thánh
muốn ôm lấy như sau:
"một
đôi chân đã từng đi rất xa để gặp gỡ chúng ta, cho đến độ đã
tiến vào mồ mả và chỗi dậy từ mồ mả. Các
chị đã ôm lấy đôi bàn chân đã chà đạp chết chóc và đã mở đường
hy vọng.
Hôm nay đây, là những con người lữ hành đi tìm kiếm hy vọng,
chúng con xin bám lấy Chúa, lạy Chúa Giêsu Phục Sinh. Chúng con
quay lưng lại với chết chóc, và mở lòng của chúng con ra cho
Chúa, vì Chúa là chính Sự Sống".
Đến đây, chúng ta thấy được vị nữ thánh này xứng với danh xưng
"Tông Đồ của các Tông Đồ", và vì thế, lễ của chị, từ Năm Thánh
Thương Xót 2016, đã được nâng lên từ bậc lễ nhớ (memorial), như
Thánh Matta chị của chị, tới bậc lễ kính (feast), như chính các
vị tông đồ. Bởi chị chẳng những đã hội đủ 3 điều kiện thiết yếu
để trở thành tông đồ, mà còn là một người môn đệ gắn bó
với Thày mình hơn ai hết, nhờ đó chị mới có thể làm chứng về
Người, với chính thành phần
là tông đồ, là những chứng nhân tiên khởi của Người.
Dù chị được Thánh Mathêu thuật lại ở
trong nhóm mấy phụ nữ ra mộ sớm, nhưng, theo Phúc Âm Thánh
Gioan, thì chị là nữ
nhân vật chính ra mồ sớm nhất,
"lúc trời còn tối" (Gioan 20:1),
trước cả các
phụ nữ ra mồ khi "vừa ló rạng" (Mathêu 28:1). Có thể
khi từ mộ Chúa trở về lần thứ 2, sau khi chị được Chúa hiện ra
riêng với chị rồi, và chị được Người sai về
với các tông đồ, để
vừa "báo tin" (Gioan 20:17) vừa làm chứng bằng chứng từ của
chính bản thân chị:
"'Tôi đã thấy Chúa' và kể lại những điều Người đã nói với
mình" (Gioan 20:18), thì chị đã gặp các phụ nữ khác bấy giờ
mới ra mộ, để rồi cả chị lẫn họ, đều cùng nhau về "báo tin"
(Mathêu 28:8) cho các tông đồ, với tính cách thông tin cho các
vị, hơn là chứng từ tỏ cho các vị,
như câu được Chị Thánh Maria Mai-Đệ-Liên tuyên bố trên đây, nên
sứ điệp của 3 người phụ nữ này chỉ mang tính cách là một tin nhắn, được
3 chị phụ nữ này truyền đạt cho các tông đồ theo lời thiên thần,
(chứ không phải lời của chính Chúa Kitô Phục Sinh), đó là:
"Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước
các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người" (Mathêu
28:7).
Xin Chị Thánh Mai Đệ Liên giúp cho thành
phần môn đệ Chúa Kitô thời đại chúng em được như chị, biết "chọn
phần tốt hơn" (Luca 10:48), đó là liên lỉ sống gắn bó với Chúa
Kitô, để nhờ đó, chúng em mới có thể cùng xứng đáng trở thành
chứng nhân trung thực và sống động của Người như chị.
Ngày 23 tháng 7
- THÁNH BIRGITTA, NỮ TU
Hôm nay Giáo Hội cho chúng ta mừng lễ thánh
BIRGITTA nữ tu một vị thánh sống xa chúng ta cả
mấy trăm năm, thế nhưng cuộc sống thánh thiện
của Ngài vẫn còn là một bài học thật sống động
cho mọi người chúng ta
Ngày 27 tháng 10 năm 2010 trong buổi tiếp kiến
chung tại quảng trường thánh Phêrô, Đức Giáo
Hoàng Bênêđictô XVI đã có bài chia sẻ về cuộc
đời của thánh nữ Brigita người Thuỵ Điển rất hay
sau đây: (bài
hơi dài nhưng xin được đăng nguyên văn để tùy
nghi sử dụng.)
Anh chị em thân mến,
Trong đêm canh thức hân hoan mừng Đại lễ Năm
thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II, vị tôi tớ đáng
kính của Thiên Chúa đã tuyên bố Thánh Brigitta
của Thụy Điển là người đồng bảo trợ của toàn cõi
châu Âu. Sáng hôm nay, tôi muốn giới thiệu khuôn
mặt và thông điệp của thánh nữ đã truyền đạt,
cùng lý do tại sao người phụ nữ thánh thiện này
có rất nhiều điều giảng dạy mà cho đến hôm nay
vẫn còn đáng để cho Giáo hội và cho thế giới học
hỏi.
Chúng ta biết được những biến cố trong cuộc đời
thánh nữ Brigita vì các cha linh hồn đã viết
tiểu sử của bà hầu xúc tiến việc phong thánh
ngay sau khi bà vừa mới qua đời vào năm 1373.
Trước đó 70 năm, vào năm 1303, Brigita chào đời
tại Finster Thuỵ Điển, một quốc gia miền Bắc Âu
đã từ ba thế kỷ nhiệt thành đón nhận đức tin
Công Giáo cũng như thánh nữ đã từng hấp thụ lòng
đạo sốt sắng nơi cha mẹ mình, các ngài là những
người rất ngoan đạo thuộc dòng quý tộc gần gũi
với giới cầm quyền
Ta có thể phân biệt hai
giai đoạn trong cuộc đời của vị thánh này:
+ Nét
đặc biệt của giai đoạn đầu là đời sống hôn nhân
hạnh phúc. Ulf
là chồng bà, làm thống đốc một lãnh thổ quan
trọng của Vương quốc Thụy Điển. Cuộc hôn nhân
kéo dài hai mươi tám năm cho đến khi Ulf qua
đời. Hai ông bà có với nhau tám người con, mà
người con thứ chính là Karin (Catherine) được
tôn vinh là một vị thánh. Đây là một bằng chứng
hùng hồn về việc Brigita tận tuỵ giáo dục con
cái. Đàng khác, cách dạy dỗ khôn khéo của bà
chuẩn mực đến mức được nhà vua Thụy Điển,
Magnus, đã triệu bà vào cung trong một thời gian
nhằm giới thiệu nền văn hoá giáo dục Thuỵ Điển
với nữ hoàng trẻ tuổi là Blanche de Namur.
Brigita đã được một tu sĩ uyên bác hướng dẫn
tinh thần giúp bà nghiên cứu Kinh Thánh, vì vậy
gia đình bà đã chịu ảnh hưởng rất lớn lao, trở
nên như một
«Hội Thánh tại gia». Cùng
với chồng, bà gia nhập Dòng Ba thánh Phanxicô.
Với lòng quảng đại, bà thực thi những việc bác
ái giúp đỡ người nghèo khó: bà lập bệnh viện.
Bên vợ mình, Ulf học biết cải thiện tính tình và
thăng tiến trong đời sống Kitô hữu. Năm 1341,
trở về sau chuyến hành hương dài ngày cùng những
người trong gia đình đến Saint-Jacques de
Compostelle, hai ông bà đã dự tính sống đời chay
tịnh; nhưng ít lâu sau ông lui về sống trong một
tu viện thanh bình, nơi đây ông giã từ cuộc đời
trần thế.
Thời kỳ đầu tiên trong cuộc đời của Brigita giúp
chúng ta nắm vững được những gì mà ngày nay ta
có thể định nghĩa là một “tinh
thần hôn nhân” đích
thực: hai vợ chồng Kitô hữu có thể cùng nhau đi
trên con đường thánh thiện, được hỗ trợ bởi bí
tích hôn nhân. Thông thường, như trường hợp của
Thánh Brigitta và Ulf, chính người phụ nữ, với
sự cảm hoá do lòng đạo đức, với sự tinh tế và
dịu dàng, đã thành công trong việc khiến chồng
mình khám phá ra con đường đức tin để noi theo.
Tôi nghĩ phải nhìn nhận rằng có rất nhiều phụ
nữ, ngày ngày, vẫn chiếu sáng gia đình họ bằng
sống đời chứng nhân Kitô hữu. Nguyện xin Thánh
Linh Chúa cũng khơi dậy lòng thánh thiện của các
cặp vợ chồng Kitô hữu ngày nay, để cho thế giới
thấy vẻ đẹp của hôn nhân được sống theo các giá
trị của Tin Mừng: tình yêu, sự dịu dàng, sự
tương trợ, khả năng sinh sản và giáo dục con
cái, cởi mở và liên đới với thế giới, tham gia
vào đời sống của Giáo hội.
+ Trở
thành góa phụ, Brigita bắt đầu giai đoạn thứ hai
của cuộc đời. Cô
đã quay sang với một cuộc hôn nhân khác để qua
việc cầu nguyện mà thâm giao kết hiệp với Chúa,
đền tội và thực thi các công việc bác ái. Từ đó,
các góa phụ Kitô hữu có thể tìm thấy ở vị thánh
này một gương mẫu để noi theo.
Trên thực tế, sau cái chết của chồng bà,
Brigita, sau khi phân phát hết mọi của cải cho
người nghèo, không ngoài ý định lựa chọn đời tận
hiến cho Chúa, bà đã vào sống tại tu viện Dòng
Thánh Biển Đức ở Alvastra. Chính nơi đây, bà bắt
đầu nhận được những điều mặc khải thiêng liêng,
lời Chúa mặc khải cùng bà trải dài suốt phần còn
lại của cuộc đời. Những điều này đã được Brigita
đọc cho các cha giải tội của bà làm thư ký ghi
chép, các ngài đã dịch từ tiếng Thụy Điển sang
tiếng Latinh và tập hợp lại trong một ấn bản gồm
tám cuốn sách, mang tựa đề REVELATIONES (Những
Lời Mặc Khải). Những cuốn sách này có kèm thêm
một phụ bản bổ túc, chính xác với tiêu đề Lời
Mặc Khải Đặc Biệt (những lời mặc khải bổ sung).
Những điều mặc khải của Thánh Brigitta có nội
dung và văn phong rất đa dạng. Đôi khi sự mặc
khải là một cuộc đối thoại giữa các thần thánh,
Đức Trinh nữ, các thánh và cả quỷ dữ; sự mặc
khải cũng thể hiện trong các cuộc đối thoại có
Brigita tham dự. Ngoài ra có những lần khác kể
về một thị kiến đặc biệt; và cũng có những lần
kể lại việc Đức Trinh Nữ Maria tiết lộ cho bà về
cuộc đời và những bí ẩn của Con Mẹ. Giá trị
những điều mặc khải của Thánh Brigitta, đôi khi
cũng bị phán đoán hồ nghi, nhưng đã được Đức
Gioan Phaolô II đáng kính xác định trong Tông
Thư Spes Aedificandi (Hy Vọng Xây Dựng) rằng:
“Một khi đã nhìn nhận sự thánh thiện của
Brigita, Giáo hội, không vì sự phán đoán nghi
ngờ như thế mà công bố những mặc khải khác đi,
nhưng Giáo Hội chấp nhận những trải nghiệm nội
tâm của bà có tính xác thực hoàn toàn”(no.5).
Thực ra, đọc những điều mặc khải này, chúng ta
buộc phải dừng lại lưu tâm đến những vấn đề quan
trọng. Chẳng hạn, ta thường thấy bà mô tả, với
những chi tiết rất thực tế, về Cuộc Khổ Nạn của
Chúa Kitô, mà bà hằng đặc biệt tôn sùng và từ đó
chiêm niệm tình yêu vô hạn của Thiên Chúa dành
cho con người. Bà mạnh dạn thuật lại những lời
cảm động sau đây từ chính miệng Chúa nói ra:
“Hỡi các bạn của tôi, tôi yêu những con chiên
của tôi đến nỗi, nếu có thể, tôi thà chịu chết
nhiều lần thay cho mỗi người trong số chúng để
cứu chuộc chúng, hơn là phải chịu cách biệt
chúng” (Những Lời Mặc Khải, Quyển I, câu 59).
Lòng Mẹ Maria đau đớn, Mẹ trở thành Mẹ trung
gian và Mẹ của lòng thương xót, cũng là một đề
tài thường xuất hiện trong sách Những Lời Mặc
Khải.
Hưởng những đặc sủng này, Brigita nhận ra mình
đã được Chúa ban cho ân huệ lớn lao: “Bây giờ,
con, ái nữ của Cha – chúng ta hãy đọc bộ sách
Lời Mặc Khải, đọc cuốn đầu tiên – mà Cha đã chọn
cho Cha […] hãy yêu Cha hết lòng […] nhưng yêu
hơn hết mọi loài trên thế gian”(ch.1). Vả lại,
Brigitta biết rõ, và bà tin chắc như thế, rằng
mỗi đặc sủng Chúa ban là để xây dựng Giáo hội.
Chính vì lẽ đó mà Chúa đã mặc khải nhiều điều,
như là những nghiêm khắc cảnh báo các tín hữu
thời ấy, gồm cả các người nắm quyền cai trị và
tôn giáo, để họ kết hợp mật thiết với đời sống
Kitô hữu của họ; nhưng bà luôn luôn thực thi lời
mặc khải với thái độ tôn trọng và hoàn toàn
trung thành với Huấn quyền của Giáo hội, đặc
biệt là Người kế vị thánh tông đồ Phêrô.
Năm 1349, Brigitte quyết định rời Thụy Điển và
đi hành hương đến La Mã. Ý định của bà không
những chỉ dự Năm Thánh 1350, mà còn muốn được
Đức Giáo hoàng chấp thuận Quy Luật của một Dòng
tu bà dự định thành lập, tận hiến cho Đấng Cứu
Thế, dòng sẽ gồm các tu sĩ nam nữ dưới quyền của
một nữ tu viện trưởng. Điều này không làm chúng
ta ngạc nhiên: ngay từ thời Trung Cổ, đã có các
tu viện tuy gồm hai chi nhánh nam và nữ, nhưng
đều cùng áp dụng chung một Quy Luật của Dòng, và
do một nữ tu viện trưởng trông nom săn sóc. Trên
thực tế, hằng noi gương Đức Maria, Nữ Vương Các
Thánh Tông Đồ, truyền thống cao cả của Kitô giáo
vẫn nhìn nhận phẩm giá của người phụ nữ, họ có
một vị trí xứng đáng trong Giáo hội, tuy không
mang chức tư tế được tấn phong, nhưng hoàn toàn
không kém phần quan trọng cho sự phát triển tâm
linh của Cộng đồng. Ngoài ra, Giáo Hội cũng luôn
luôn tôn trọng ơn gọi đặc biệt của các nam nữ đã
dâng mình cho Chúa, sự cộng tác của họ có tầm
quan trọng rất lớn trong thế giới ngày nay.
Tại La Mã, cùng với cô con gái Karin, Brigita
tận hiến cho cuộc sống tông đồ và cầu nguyện
nhiệt thành. Và từ La Mã, bà đã đi hành hương
đến nhiều đền thánh khác của Ý, đặc biệt là
Assisi, quê hương của Thánh Phanxicô, đấng sáng
lập dòng mà Brigita vẫn hoài bão được gia nhập.
Cuối cùng, vào năm 1371, niềm khát vọng lớn nhất
của bà được toại nguyện: hành hương đến Thánh
địa, đi cùng với những đứa con tinh thần của
mình, một nhóm mà Brigita gọi là “những người
bạn của Chúa”.
Vào thời ấy, các Giáo hoàng đang ở Avignon, cách
xa La Mã: Brigita ôm nỗi buồn bã lớn lao hướng
về các ngài, những mong các ngài trở về ngai tòa
Phêrô, trong thánh đô bất diệt.
Bà qua đời năm 1373, trước khi Giáo hoàng
Gregory XI cuối cùng trở về La Mã. Bà đã được
chôn cất tạm thời trong nhà thờ La Mã “San
Lorenzo ở Panisperna”, nhưng vào năm 1374, hai
con của bà, Birger và Karin đã đưa bà trở về quê
hương, đến tu viện Vadstena, trụ sở của Dòng do
Thánh Brigitta sáng lập, tu viện sau đó phát
triển lạ thường. Năm 1391, Đức Giáo hoàng
Boniface IX long trọng tôn vinh Bà lên bậc hiển
thánh.
Phác hoạ chân dung tinh thần của Bà, tôi muốn
nhắc lại ở đây sự thánh thiện của Bà, đặc trưng
bởi vô số những thiên ân và trải nghiệm khiến bà
trở thành một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
châu Âu. Là người gốc Scandinavia, Thánh
Brigitta là chứng nhân cho hạt giống đức tin
Kitô giáo đã thấm sâu vào cuộc sống của mọi dân
tộc trên lục địa này. Khi tuyên bố Bà là người
đồng bảo trợ của châu Âu, Giáo hoàng Gioan
Phaolô II đã ước mong rằng Thánh Brigitta – sống
ở thế kỷ 14, khi mà Kitô Giáo phương Tây lúc đó
chưa bị chia rẽ – có thể can thiệp hiệu quả với
Thiên Chúa, để được Người ban ân sủng cho sự
hiệp nhất trọn vẹn của mọi Kitô hữu, vốn mong
đợi bấy lâu.
Anh chị em thân mến, chúng tôi muốn cầu nguyện
với cùng một ý hướng ấy, điều này rất quan trọng
đối với chúng tôi, để châu Âu luôn luôn có thể
tự nuôi dưỡng nguồn gốc Kitô giáo của mình, đồng
thời cầu khẩn sự can thiệp mạnh mẽ của thánh
Brigitta Thụy Điển, môn đệ trung thành của Thiên
Chúa và là đồng bảo trợ của Châu Âu.
Cảm ơn anh chị em đã lắng nghe. Amen.
(Ben. Đỗ Quang Vinh chuyển ngữ từ nguyên bản
Pháp Văn.)
https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-23-07-thanh-birgittanu-tu-36395
15 KINH NGUYỆN THÁNH BRIGITTA
Ngày 25 tháng 7
THÁNH GIA-CÔ-BÊ, TÔNG ĐỒ
lễ kính
Tiểu sử
Gia-cô-bê là con ông Dê-bê-đê, là anh của thánh Gio-an và là bạn của
thánh Phê-rô. Đây là những người dân chài ở hồ Ghen-nê-xa-rét đã đi theo
tiếng gọi của ông Gio-an Tẩy Giả trước khi theo Đức Giê-su, làm môn đệ
của Người. Thánh Gia-cô-bê đã có mặt trong hầu hết các phép lạ Chúa
Giê-su làm, nhất là khi Chúa hiển dung trên núi và khi Người hấp hối ở
vườn Cây Dầu. Vua Hê-rô-đê Ác-ríp-pa I cho chém đầu thánh nhân khoảng
năm 43 hoặc 44. Thánh nhân được đặc biệt tôn kính ở Com-pốt-te-la (Tây
Ban Nha), nơi có một thánh đường danh tiếng kính người.

Được thông phần đau khổ của Đức Ki-tô
Bài đọc 2 (Phụng vụ Giờ Kinh Sách)
Trích bài giảng của thánh Gio-an Kim Khẩu, giám mục, về Tin Mừng theo
thánh Mát-thêu.
Các con ông Dê-bê-đê đã nài nỉ Đức Ki-tô điều này : Xin
Thầy truyền cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một
người được ngồi bên tả Thầy. Vậy Người đã trả lời ra sao ? Người đã
tỏ cho các ông thấy là điều các ông xin chẳng có gì do thần khí thúc
đẩy, và nếu các ông hiểu điều mình xin, thì chắc chắn các ông đã không
bao giờ xin như vậy. Người đã nói : Các
anh chẳng biết các anh xin gì ! Vì điều xin ấy thật lớn
lao, thật lạ lùng, còn trổi vượt mọi quyền thần trên trời biết mấy. Rồi
Người nói thêm : Các anh
có uống nổi chén Thầy sắp uống, và chịu được phép rửa Thầy sắp chịu
không ? Người như muốn nói : “Các anh nói đến hưởng
danh dự, triều thiên với Thầy ; còn Thầy, Thầy nói đến chiến đấu và mồ
hôi. Vì bây giờ chưa phải là thời thưởng công, và bây giờ vinh quang của
Thầy cũng chưa được tỏ hiện, nhưng cuộc sống hiện tại đầy chết chóc,
chiến tranh và nguy hiểm.”
Bạn xem, Người đã dùng cách hỏi như thế nào để khuyến khích và lôi cuốn.
Quả thật, Người không nói : “Các anh có thể chịu chết được chăng ? Các
anh có thể đổ máu mình ra không ?” Nhưng Người hỏi thế nào ? Các
anh có uống nổi chén không ? Rồi để lôi cuốn các ông,
Người nói chén Thầy sắp
uống, để nhờ được thông phần với Người mà các ông sẽ được can đảm
hơn. Người còn gọi đó là một phép rửa, khi cho mọi người biết một cuộc
thanh tẩy lớn lao sẽ xảy ra trên khắp địa cầu. Sau đó các ông trả lời
Người : Thưa được.
Vì lòng hăng say, các ông hứa tức khắc mà không biết mình nói gì, nhưng
hy vọng rằng điều mình xin sẽ được nhận.
Vậy Người nói gì ? Chén
Thầy uống, anh em cũng sẽ uống ; phép rửa Thầy chịu, anh em cũng sẽ chịu.
Người đã báo trước cho các ông những hồng ân lớn lao, nghĩa là : “Anh em
đáng được phúc tử đạo, sẽ chịu những đau khổ mà Thầy chịu, sẽ kết thúc
cuộc đời bằng cái chết thảm thương ; và như thế anh em được thông phần
đau khổ với Thầy.” Còn
việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng
Cha Thầy đã dọn sẵn cho ai thì kẻ ấy mới được. Sau khi nâng tâm hồn
các ông dậy, Người đã làm cho các ông trở nên cao thượng hơn, và cho các
ông thắng vượt nỗi buồn phiền, bấy giờ Người mới chữa lại lời xin của
các ông.
Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức
tối với hai anh em này. Bạn có thấy không ? Tất cả các ông đều bất
toàn biết mấy, hai anh em thì tìm cách vượt lên trên mười ông kia, còn
mười ông kia thì lại ganh tị với hai ông này. Nhưng, như tôi đã nói, sau
đó bạn hãy cho tôi thấy các ông sẽ ra sao, và bạn sẽ thấy tất cả các ông
đều không còn tình ý như thế nữa. Bạn hãy nghe, chính ông Gio-an là
người bây giờ xin điều này, thì sẽ luôn nhường chỗ nhất cho ông Phê-rô,
khi ông Phê-rô giảng và làm phép lạ như sách Công vụ Tông Đồ kể. Còn ông
Gia-cô-bê thì sau đó không sống lâu lắm ; vì ngay từ buổi đầu Hội Thánh,
ông đã đầy hăng say nhiệt thành, đã bỏ mọi sự đời này mà lên tới đỉnh
cao khôn tả nên ông sớm được phúc tử đạo.
Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã ban cho thánh Gia-cô-bê vinh
dự là Tông Đồ đầu tiên đã chết để làm chứng cho Tin Mừng. Xin cho Hội
Thánh tìm được sức mạnh nhờ gương tử đạo của thánh nhân, và nhờ người
cầu thay nguyện giúp mà được luôn nâng đỡ phù trì. Chúng con cầu xin
Phụng vụ Thánh lễ
Bài Ðọc I: 2 Cr 4,
7-15
"Chúng ta luôn mang trên thân xác
mình sự chết của Ðức Giêsu".
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô
Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, Chúng ta chứa đựng
kho tàng ấy trong những bình sành để biết rằng quyền lực vô song đó là của
Thiên Chúa, chớ không phải phát xuất tự chúng ta. Chúng ta chịu khổ cực tư
bề, nhưng không bị đè bẹp; chúng ta phải long đong, nhưng không tuyệt vọng;
chúng ta bị bắt bớ, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu
diệt. Bởi vì chúng ta luôn mang trên thân xác mình sự chết của Ðức Giêsu, để
sự sống của Ðức Giêsu được tỏ hiện nơi thân xác chúng ta. Vì chưng, mặc dầu
chúng ta đang sống, nhưng vì Ðức Giêsu, chúng ta luôn luôn nộp mình chịu
chết, để sự sống của Ðức Giêsu được tỏ hiện trong thân xác hay chết của
chúng ta. Vậy sự chết hoành hành nơi chúng tôi, còn sự sống hoạt động nơi
anh em.
Nhưng anh em hãy có một tinh thần đức
tin như đã chép rằng: "Tôi đã tin, nên tôi đã nói", và chúng tôi tin, nên
chúng tôi cũng nói, bởi chúng tôi biết rằng Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống
lại, cũng sẽ làm cho chúng tôi được sống lại với Ðức Giêsu và sẽ đặt chúng
tôi bên Người làm một với anh em. Mọi sự đều vì anh em, để ân sủng càng tràn
đầy, bởi nhiều kẻ tạ ơn, thì càng gia tăng vinh quang Thiên Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 125,
1-2ab. 2cd-3. 4-5. 6
Ðáp: Ai gieo trong
lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan (c. 5).
Xướng: 1) Khi Chúa đem những người
Sion bị bắt trở về, chúng tôi dường như người đang mơ; bấy giờ miệng chúng
tôi vui cười, lưỡi chúng tôi thốt lên những tiếng hân hoan. - Ðáp.
2) Bấy giờ dân thiên hạ nói với nhau
rằng: "Chúa đã đối xử với họ cách đại lượng". Chúa đã đối xử đại lượng với
chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan. - Ðáp.
3) Lạy Chúa, xin hãy đổi số phận chúng
con, như những dòng suối ở miền nam. Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân
hoan. - Ðáp.
4) Thiên hạ vừa đi vừa khóc, tay mang
thóc đi gieo; họ trở về trong hân hoan, vai mang những bó lúa. - Ðáp.
Alleluia: Ga 15, 16
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy
đã chọn các con ra khỏi thế gian, để các con đi và mang lại hoa trái, và để
hoa trái các con tồn tại". - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 20,
20-28
"Các con sẽ uống chén của Ta".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Matthêu.
Khi ấy, bà mẹ các con ông Giêbêđê cùng
với hai con đến gặp Chúa Giêsu. Bà sấp mình xuống lạy Người, có ý xin Người
điều chi đó. Người hỏi: "Bà muốn gì?" Bà ta thưa lại: "Xin Ngài hãy truyền
cho hai con tôi đây được ngồi một đứa bên hữu, một đứa bên tả Ngài, trong
Nước Ngài".
Chúa Giêsu đáp lại: "Các ngươi không
biết điều các ngươi xin. Các ngươi có thể uống chén mà ít nữa đây ta sắp
uống chăng?" Họ nói với Người: "Thưa được". Người bảo họ: "Vậy các ngươi sẽ
uống chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta
ban, nhưng Cha Ta đã chuẩn bị cho ai thì người ấy mới được". Nghe vậy, mười
người kia tỏ ra bất bình với hai anh em.
Chúa Giêsu gọi họ lại mà bảo: "Các con
biết thủ lãnh của các dân tộc thì thống trị họ và những người làm lớn thì
hành quyền trên họ. Giữa các con thì không được thế. Trong các con, ai muốn
làm lớn, thì hãy phục vụ các con, và ai muốn cầm đầu các con, thì hãy làm
tôi tớ các con. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ,
nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người".
Ðó là lời Chúa.
Tông Đồ Giacôbê
Tiền
Anh Chị Em thân mến:
Chúng ta tiếp tục loạt hình ảnh về các vị tông đồ được Chúa Giêsu trực tiếp
chọn lựa trong đời sống công khai của Người. Chúng ta đã nói về Thánh Phêrô
và người an hem Anrê của ngài. Hôm nay chúng ta gặp hình ảnh về tông đồ
Giacôbê. Các bản liệt kê theo Thánh Kinh đề cập tới hai vị cùng tên Giacôbê,
đó là Giacôbê, con ông Giêbêđê, và Giacôbê, con ông Alphaê (x Mk 3:17,18; Mt
10:2-3), những vị được phân biệt một cách chung chung là Giacôbê Tiền và
Giacôbê Hậu.
Những phân biệt này không phải là để so sánh về sự thánh thiện của các ngài,
song chỉ để nói tới sự thích đáng khác nhau của các vị nơi các bản văn Tân
Ước, nhất là trong khung cảnh đời sống trần gian của Chúa Giêsu. Hôm nay
chúng ta chú trọng tới nhân vật đầu tiên trong hai vị có cùng tên gọi này.
Tên Giacôbê được dịch từ chữ ‘lákobos’, một tên được biến dạng bởi ảnh hưởng
của tiếng Hy Lạp về tên vị tổ phụ nổi tiếng Giacóp. Vị tông đồ có tên gọi là
là người an hem của thánh Gioan, và trong các bản liệt kê được đề cập tới
thì vị này đứng thứ hai sau thánh Phêrô, như nơi thánh ký Marcô (3:17), hay
đứng thứ ba sau thánh Phêrô và Anrê, như trong các Phúc Âm Thánh Mathêu
(10:2) và Luca (6:14), trong khi đó, trong Sách Tông Vụ ngài lại đứng sau
thánh Phêrô và Gioan (1:13). Cùng với thánh Phêrô và Gioan, tháng Giacôbê
thuộc về nhóm 3 môn đệ đặc biệt được tham dự vào những giây phút quan trọng
của cuộc sống Chúa Giêsu.
Vì hôm nay là ngày rất nóng bức, giờ đây tôi xin vắn tắt đề cập tới chỉ hai
lần trong các trường hợp này mà thôi. Cùng với thánh Phêrô và Gioan, ngài đã
tham dự vào giây phút thống khổ của Chúa Giêsu trong Vườn Nhiệt, cũng như
trong lúc Chúa Giêsu biến hình. Bởi thế, đây là vấn đề của hai trường hợp
rất khác nhau: một trường hợp thì thánh Giacôbê, cùng với hai môn đệ kia,
cảm nghiệm được vinh quang của Chúa Kitô, thấy Người nói chuyện với Moisen
và Êlia, thấy vinh quang thần linh rạng ngời nơi Chúa Giêsu; còn trường hợp
kia thì ngài lại thấy khổ đau và nhục nhã; ngài tận mắt chứng kiến thấy Con
Thiên Chúa hạ mình xuống biết là chừng nào, đến vâng lời cho đến chết.
Trường hợp thứ hai đối với ngài thực sự là một cơ hội để trưởng thành đức
tin, để chỉnh lại ý nghĩ một chiều, vinh thắng nơi trường hợp thứ nhất, ở
chỗ, ngài cần phải nhận thức Đấng Thiên Sai, vị được dân Do Thái đợi chờ như
một con người hiển thắng, thực sự không phải chỉ đầy những vinh dự và vinh
quang, mà còn bởi những khổ đau và yếu hèn ra sao nữa. Vinh quang của Chúa
Kitô được hiện thực đích xác trên cây thập tự giá, khi Người tham phần vào
các nỗi khổ đau của chúng ta.
Việc trưởng thành đức tin này được Thánh Linh hoàn trọn vào Ngày Lễ Ngũ
Tuần, nhờ đó khi đến giây phút tột đỉnh của việc làm chứng từ, thánh Giacôbê
đã không lui bước. Vào đầu thập niên 40 thuộc thế kỷ thứ nhất, Vua Hêrôđê
Agrippa, cháu của Hêrôđê Cả, như thánh Luca cho chúng ta biết: ‘đã dữ dội ra
tay đối với những ai thuộc về Giáo Hội. Ông đã dùng gươm sát hại Giacôbê là
người anh em của Gioan’ (12:1-2). Chi tiết ngắn ngủi thiếu kể lể này, một
đàng cho thấy các Kitô hữu thường làm chứng cho Chúa Kitô bằng mạng sống của
mình ra sao, đàng khác cho thấy thánh Giacôbê giữ một vị thế liên quan tới
Giáo Hội ở Giêrusalem, một phần là vì vai trò này của ngài được thi hành
trong cuộc sống trần gian của Chúa Giêsu.
Một truyền thống sau đó, một truyền thống trở về ít là với Isidore ở
Seville, thuật lại rằng ngài ở Tây Ban Nha để truyền bá phúc âm hóa miền đất
quan trọng này của Đế Quốc Rôma. Theo một truyền thống khác thì thân thể của
ngài được đưa tới Tây Ban Nha, tới thành phố Santiago de Compostela. Như tất
cả chúng ta đều biết nơi ấy đã trở thành một đối tượng rất được sùng kính,
và cho tới ngày nay, là mục tiêu cho nhiều cuộc hành hương, chẳng những từ
Âu Châu mà còn từ khắp thế giới nữa. Bởi thế mới hiểu được hình ảnh tiêu
biểu về thánh Giacôbê được gắn liền với chiếc gậy của người hành hương, cũng
như với truyện kể Phúc Âm, là những đặc tính của vị tông đồ lưu động, dấn
thân loan báo ‘tin mừng’, đặc tính của cuộc hành trình nơi đời sống Kitô
hữu.
Bởi thế chúng ta có thể học được nhiều điều nơi thánh Giacôbê, đó là sự mau
mắn chấp nhận tiếng gọi của Chúa, cả khi Người xin chúng ta hãy rời bỏ
‘chiếc thuyền bè’ đầy an toàn theo con người của chúng ta; là lòng nhiệt
thành theo Người trên những con đường được Người ấn định cho chúng ta đi
vượt ra ngoài cả óc giả tưởng của chúng ta; là việc sẵn sàng làm chứng cho
Người một cách can đảm, và nếu cần bằng việc tận tuyệt hy sinh mạng sống
nữa. Vậy thánh Giacôbê Tiền cho chúng ta thấy một mẫu gương sống động về
việc gắn bó thiết tha với Chúa Kitô. Ngài, vị thoạt tiên qua người mẹ của
mình đã yêu cầu cho được cùng với người anh em của mình ngồi cạnh Thày trong
vương quốc của Người, thực sự chính là người đầu tiên được uống chén khổ nạn
trong cuộc chung phần tử đạo với các Vị Tông Đồ.
Sau hết, để tóm tắt mọi sự, chúng ta có thể nói rằng con đường của ngài,
chẳng những bề ngoài song trên hết là bề trong, từ núi Biến Hình tới núi khổ
nạn, là tiêu biểu cho cuộc hành trình của đời sống Kitô hữu, một cuộc hành
trình diễn ra giữa các cuộc bắt bớ của thế gian và niềm an ủi của Thiên
Chúa, như Công Đồng Chung Vaticanô II đã nói. Theo Chúa Giêsu, như thánh
Giacôbê, chúng ta biết rằng, ngay cả trong những nỗi khó khăn khốn khó,
chúng ta vẫn đi trên đường ngay nẻo chính vậy.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch Bài Giáo Lý 12 về Giáo Hội tông
truyền của ĐTC Biển Đức theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 21/6/2006