SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

Chúa Nhật
Lời Chúa
Bài Ðọc I: Is 49, 3. 5-6
"Ta đặt ngươi như ánh sáng các dân tộc, để ngươi nên ơn cứu độ của Ta".
Trích sách Tiên tri Isaia.
Chúa đã phán cùng tôi: "Hỡi Israel, ngươi là tôi tớ Ta, vì Ta được vinh danh nơi ngươi".
Và bây giờ, Chúa phán, Người đã huấn luyện tôi khi tôi còn trong lòng mẹ, để tôi trở nên tôi tớ Người, để đem Giacóp về cho Người, và quy tụ Israel quanh Người. Tôi được ca tụng trước mắt Chúa và Thiên Chúa là sức mạnh của tôi. Người đã phán: "Làm tôi tớ Ta chẳng có là bao, để tái lập các chi họ Giacóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về; này đây Ta đặt ngươi như ánh sáng các dân tộc để ơn cứu độ của Ta tràn lan khắp địa cầu".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 39, 2 và 4ab. 7-8a. 8b-9. 10
Ðáp: Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa (c. 8a và 9a).
Xướng: 1) Con đã cậy trông, con đã cậy trông ở Chúa, Ngài đã nghiêng mình về bên con, và Ngài đã nghe tiếng con kêu cầu. Ngài đã đặt trong miệng con một bài ca mới, bài ca mừng Thiên Chúa chúng ta. - Ðáp.
2) Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở rộng tai con. Chúa không đòi hỏi lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: "Này con xin đến". - Ðáp.
3) Như trong quyển vàng đã chép về con: lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và pháp luật Chúa ghi tận đáy lòng con. - Ðáp.
4) Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong Ðại Hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi. - Ðáp.
Bài Ðọc II: 1 Cr 1, 1-3
"Nguyện cho anh em được ân sủng và bình an của Thiên Chúa, Cha chúng ta".
Khởi đầu thư thứ I của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Phaolô, do thánh ý Chúa, được kêu gọi làm Tông đồ của Chúa Giêsu Kitô, và Sôtênê, anh em chúng tôi, kính chào Hội Thánh Chúa ở Côrintô, những người được thánh hoá trong Chúa Giêsu Kitô, được kêu gọi nên thánh, làm một với tất cả mọi người khắp nơi đang kêu cầu thánh danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta: Nguyện chúc cho anh em được ân sủng và bình an của Thiên Chúa Cha chúng ta, và của Chúa Giêsu Kitô.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: 1 Sm 3, 9
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe, Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.
Phúc Âm: Ga 1, 29-34
"Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, ông Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình liền nói: "Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian. Này tôi đã nói về Ngài: Một người đến sau tôi, nhưng đã có trước tôi, vì Ngài cao trọng hơn tôi. Và tôi, tôi đã không biết Ngài, nhưng để Ngài được tỏ mình ra với Israel, nên tôi đã đến làm phép rửa trong nước". Và Gioan đã làm chứng rằng: "Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Ngài. Về phần tôi, tôi đã không biết Ngài. Nhưng Ðấng sai tôi làm phép rửa trong nước phán bảo tôi: "Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần". Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa".
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" cho Mùa Thương Niên hậu Giáng Sinh vẫn tiếp tục với Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật II Thường Niên Năm A hôm nay. Ở chỗ, nếu "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" tức là đầy Thánh Linh, như đã chia sẻ ở Phụng Vụ Lời Chúa tuần trước, Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, thì ở trong bài Phúc Âm cho Chúa Nhật II Thường Niên Năm A tuần này nói riêng, và Phụng Vụ Lời Chúa của cùng ngày nói chung, chúng ta cũng thấy chi tiết then chốt về chủ đề cho Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh trên đây, một chi tiết then chốt liên quan đến Chúa Kitô và Thánh Linh: "Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần. Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa".
Đúng thế, một trong những lý do tại sao Chúa Kitô "cao trọng hơn" Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, như chính vị tiền hô này đã công nhận, dù chưa thấy Người và chưa bao giờ gặp Người, là vì Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã minh định thân phận và sứ vụ của mình trong Bài Phúc Âm hôm nay rằng: "Tôi đã đến làm phép rửa trong nước", trong khi đó, Đấng đến sau ngài lại: "Chính là Ðấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần".
Nếu Chúa Kitô cao trọng hơn Tiền Hô Gioan Tẩy Giả của mình thế nào thì giá trị của hai phép rửa được Chúa Kitô và Gioan Tẩy Giả làm cũng cách biệt nhau như vậy nơi chính bản chất và tác dụng của mỗi Phép Rửa: Trong khi phép rửa của Gioan là phép rửa bằng nước và có tính cách thống hối, thì phép rửa bằng Thánh Thần của Chúa Kitô có tác dụng tha tội, như trường hợp của các vị tông đồ vào tối ngày thứ 1 trong tuần được Chúa Kitô phục sinh hiện ra và thổi hơi trên các vị mà phán: "Các con hãy nhận lấy Thánh Linh. Các con tha tội cho ai, thì người ấy được tha; các con cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" (Gioan 20:22).
Trong cuộc hội ngộ bất ngờ về đêm với nghị viên Nicodemo, một nhân vật trong hội đồng đầu mục Do Thái, Chúa Giêsu đã khẳng định về việc tái sinh liên quan đến cả nước lẫn Thánh Linh như sau: "không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không được tái sinh bởi trên cao...không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra bởi nước và bởi Thần Khí" (Gioan 3:4-5).
Bởi "nước" đây có thể nói có nghĩa là ám chỉ bởi Chúa Kitô, Đấng như Tiền Hô Gioan Tẩy Giả giới thiệu trong Bài Phúc Âm hôm nay là "Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian" nơi nhân tính của Người, một nhân tính của Người đã Vượt Qua để cứu con người khỏi tội lỗi và sự chết, và để ban cho con người sự sống thần linh, một "sự sống và sự sống viên mãn hơn" (Gioan 10:10), vì được tái sinh "bởi Thần Linh", như thành phần Kitô hữu, trong nghi thức Thánh Tẩy, sau khi được thanh tẩy "bằng nước" cho khỏi tội lỗi thì được xức dầu Thánh Linh mà "tái sinh" vào sự sống thần linh của Thiên Chúa, nhờ đó họ được thông phần với bản tính thần linh của Thiên Chúa và sống sự sống thần linh như Thiên Chúa và với Thiên Chúa.
Tuy nhiên, không phải chỉ khi nào con người lãnh nhận Phép Rửa Kitô giáo theo nghi thức họ mới được tái sinh bởi "nước và Thần Linh", mà bất cứ khi nào con người chấp nhận Chúa Kitô là họ được Người "làm phép rửa bằng Thánh Thần" cho. Thật vậy, vì Chúa Kitô là "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý", tức là Đấng đầy Thánh Linh, mà nhân tính của Người nói chung và thân xác của Người nói riêng, đã trở thành phương tiện, thành đường lối, thành bí tích, để Người thông ban Thánh Thần của Người và nơi Người cho chung nhân loại, qua Lời Người nói và việc Người làm, nhất là cho "những ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:9), nghĩa là ban cho họ Thánh Thần là Đấng làm cho những ai tin Người trở thành con cái Thiên Chúa, không có Thánh Thần, không ai có thể trở nên con cái Thiên Chúa với Chúa Kitô.
Chính vì Chúa Kitô là "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý", Đấng đầy Thánh Linh, mà Người thật sự là Đấng Thiên Sai của Dân Do Thái và đồng thời cũng chính là Đấng Cứu Thế của chung nhân loại, như Sách Tiên Tri Isaia tiên báo trong Bài Đọc I hôm nay như sau: "Bây giờ, Chúa phán, Người đã huấn luyện tôi khi tôi còn trong lòng mẹ, để tôi trở nên tôi tớ Người, để đem Giacóp về cho Người, và quy tụ Israel quanh Người... này đây Ta đặt ngươi như ánh sáng các dân tộc để ơn cứu độ của Ta tràn lan khắp địa cầu".
Ở Bài Đọc II hôm nay, vị tông đồ dân ngoại cũng nói với giáo đoàn Corinto ở trong Thư Thứ Nhất của ngài về sự kiện Chúa Kitô "làm phép rửa bằng Thánh Thần" để ban ơn cứu độ phổ quát cho con người, nghĩa là để thánh hóa con người và để làm cho con người trở thành con cái Thiên Chúa, đúng như sứ vụ Thiên Sai Cứu Thế của Người: "Hội Thánh Chúa ở Côrintô, những người được thánh hoá trong Chúa Giêsu Kitô, được kêu gọi nên thánh, làm một với tất cả mọi người khắp nơi đang kêu cầu thánh danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".
Thế nhưng, Chúa Kitô chỉ có thể hoàn tất sứ vụ Thiên Sai Cứu Thế của mình, ở chỗ "làm phép rửa bằng Thánh Linh", nhất là nơi cuộc Vượt Qua của Người, một khi Người làm trọn ý Cha là Đấng đã sai Người, theo tác động của Thánh Thần, và vì thế "cho dù là Con, Người cũng đã biết tuân phục nơi những gì phải chịu. Và khi thành toàn Người đã trở nên nguồn mạch cứu độ đời đời cho những ai tin vào Người" (Do Thái 5:8). Bài Đáp Ca hôm nay, trích từ Thánh Vịnh 39, đã chất chứa tất cả ý nghĩa này:
1) Con đã cậy trông, con đã cậy trông ở Chúa, Ngài đã nghiêng mình về bên con, và Ngài đã nghe tiếng con kêu cầu. Ngài đã đặt trong miệng con một bài ca mới, bài ca mừng Thiên Chúa chúng ta. .
2) Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở rộng tai con. Chúa không đòi hỏi lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: "Này con xin đến".
3) Như trong quyển vàng đã chép về con: lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và pháp luật Chúa ghi tận đáy lòng con.
4) Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong Ðại Hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi.
"Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Vua Dân Do Thái, thế nhưng không phải bằng quyền năng của thế giới này,
mà là như Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh vác và xóa tội trần gian...
Giáo Hội ở mọi lúc được kêu gọi thực hiện những gì Thánh Gioan đã làm, đó là chỉ cho dân chúng Chúa Giêsu"
Xin chào anh chị em thân mến!
Ở tâm điểm của bài Phúc Âm hôm nay là lời này của Thánh Gioan Tẩy Giả: "Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian!" (câu 29) - lời tuyên bố được kèm theo một cái nhìn và cử chỉ của bàn tay chỉ về Ngưòi là Đức Giêsu.
Chúng ta hãy tưởng tượng cảnh tượng này. Chúng ta đang ở trên bờ sông Jordan, Thánh Gioan đang làm phép rửa; có rất nhiều người, cả nam lẫn nữ ở các thứ tuổi khác nhau, đã đến đó, đến con sông này, để lãnh nhận Phép Rửa từ bàn tay của con người đã nhắc nhở nhiều đến Elia, vị đại tiên tri sống 9 thế kỷ trước đó đã thanh tẩy dân Do Thái khỏi ngẫu tượng để đưa họ về với đức tin chân thật ở nơi vị Thiên Chúa của Giao Ước, Vị Thiên Chúa của Abraham, Isasac và Giacóp.
Gioan rao giảng rằng Vương Quốc của Thiên Chúa gần đến, Đấng Thiên Sai sắp tỏ Mình ra và cần phải dọn mình, hoán cải và thực thi công chính; và ngài bắt đầu làm phép rửa ở sông Jordan để cống hiến cho dân chúng một phương tiện thống hối cụ thể (xem mathêu 3:1-6). Những con người này tuốn đến để tỏ lòng thống hối tội lỗi của họ, để làm việc đền tội, để bắt đầu lại đời sống. Ngài biết, Thánh Gioan biết rằng Đấng Thiên Sai, vị được thánh hiến của Chúa, bấy giờ đã gần đến, và dấu hiệu để nhận biết Người đó là Thánh Linh sẽ đậu xuống trên Người; thật vậy, Người sẽ mang Phép Rửa đích thực đến, Phép Rửa trong Thánh Linh (xem Gioan 1:33).
Này, thời điểm đã đến: Chúa Giêsu xuất hiện trên bờ sông này, giữa dân chúng, giữa các tội nhân - như tất cả chúng ta - Hành động công khai đầu tiên của Người, việc đầu tiên Người làm khi Người rời nhà ở Nazarét vào lúc 30 tuổi, đó là Người xuống Giuđêa, đến sống Jordan và xin Thánh Gioan làm phép rửa cho Người. Chúng ta biết những gì đã xẩy ra - chúng ta đã cử hành điều ấy vào Chúa Nhật vừa rồi - đó là Thánh Linh đậu xuống trên Chúa Giêsu với hình một con chim câu và tiếng của Chúa Cha tuyên bố Người là Con yêu dấu (xem Mathêu 3:16-17). Đó là dấu chỉ mà Thánh Gioan mong đợi. Chính là Người! Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai. Thánh Gioan đã bối rối vì Người tỏ mình ra một cách không thể nào tượng tượng nổi, đó là giữa các tội nhân, được lãnh nhận phép rửa như họ, đúng hơn bởi họ. Tuy nhiên, Thần Linh soi sáng cho Thánh Gioan và làm cho ngài hiểu rằng nhờ thế mới hoàn trọn công lý của Thiên Chúa, mới hoàn trọn dự án cứu độ của Người: Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Vua Dân Do Thái, thế nhưng không phải bằng quyền năng của thế giới này, mà là như Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh vác và xóa tội trần gian.
Thánh Gioan đã khẳng định về Người như thế với dân chúng cũng như với các môn đệ của mình, vì Thánh Gioan có đông đảo thành phần môn đệ, những người đã chọn ngài là vị hướng dẫn thiêng liêng, và thực sự một số trong họ sẽ trở thành môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Chúng ta biết rõ tên gọi của họ, đó là Simon sau được gọi là Phêrô, em là Anrê, Giacôbê và em là Gioan - tất cả đều làm nghề đánh cá, tất cả đều là người Galilêa, như Chúa Giêsu.
Anh chị em thân mến, tại sao chúng ta dừng lại ở cảnh tượng này lâu như thế? Bởi vì nó là những gì quan trọng! Nó không phải là một thứ giai thoại. Nó là một sự kiện lịch sử quan trọng! Cảnh tượng này quan trọng cho đức tin của chúng ta, và cũng quan trọng đối với sứ vụ của Giáo Hội nữa. Giáo Hội ở mọi lúc được kêu gọi thực hiện những gì Thánh Gioan đã làm, đó là chỉ cho dân chúng Chúa Giêsu, mà rằng: "Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian!" Người là Đấng Cứu Thế duy nhất! Người là Chúa, khiêm hạ ở giữa các tội nhân, thế nhưng chính Người, chính Người chứ không có một ai quyền năng đến nữa: không có, không có, chính là Người!
Đó là những lời mà linh mục chúng ta hằng ngày lập lại trong Thánh Lễ, khi chúng ta trưng lên cho dân chúng thấy bánh và rượu đã trở nên Mình và máu của Chúa Kitô. Cử chỉ phụng vụ này tiêu biểu cho tất cả sứ vụ của Giáo Hội, một Giáo Hội không loan báo bản thân mình. Khốn thay, khốn thay khi Giáo Hội loan báo về bản thân mình; Giáo Hội bị mất định hướng, không còn biết đi đâu nữa! Giáo Hội loan truyền Chúa Kitô; Giáo Hội không mang đến bản thân mình mà là Chúa Kitô. Vì chính Người, một mình Người là Đấng cứu độ dân của Người khỏi tội lỗi, Đấng giải thoát họ và hướng dẫn họ đến mảnh đất tự do đích thực.
Xin Trinh Nữ Maria, Mẹ của Chiên Thiên Chúa, giúp chúng ta tin vào Người và theo Người.
https://zenit.org/articles/angelus-address-on-the-need-to-prepare-for-christs-coming/
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch
Bấy giờ vị Tẩy Giả thấy Chúa Giêsu đang tiến đến giữa đám đông dân chúng, và được soi động từ trên Cao, ngài đã nhận ra nơi Người Đấng được Thiên Chúa sai đến; bởi thế ngài nhắm đến Người bằng những lời này: "Kìa, Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian!" (Gioan 1:29). Động từ được chuyển dịch như "xóa bỏ" theo nghĩa đen là "nâng lên", là "nhận lấy vào thân". Chúa Giêsu đã đến thế giới với một sứ vụ đích thực đó là giải thoát thế giới khỏi tình trạng làm nô lệ cho tội lỗi bằng cách tự ôm lấy tội lỗi của nhân loại. Ra sao? Với tình yêu. Không còn cách nào khác để chế ngự sự dữ và tội lỗi ngoài tình yêu là yếu tố đưa đến chỗ hiến mạng sống mình cho người khác.... Người là Chiên Vượt Qua thực sự, Đấng dìm mình vào giòng sông tội lỗi của chúng ta để thanh tẩy chúng ta.
... Hình ảnh con chiên có thể là những gì ngỡ ngàng; thật vậy, một con thú thật sự không có gì là mạnh mẽ và cường tráng lại mang trên vai mình một gánh nặng đè nén. Cái khối khổng lồ sự dữ được lấy đi và được cất bỏ bởi một tạo vật yếu đuối và mỏng dòn, tiêu biểu cho đức tuân phục, dễ dạy và tình yêu không chống cự đến độ hiến mình hy sinh. Con chiên không phải là một tay cai trị mà là dễ dậy, nó không hung hăng mà là an bình; nó không có nanh vuốt trên mặt để tấn công; trái lại, nó chịu đựng và thuận phục. Chúa Giêsu là thế. Chúa Giêsu như vậy đó, như một con chiên.
... Là thành phần môn đệ của Con Chiên nghĩa là không sống như một "thành quách bị vây hãm - besieged citadel", mà như là một thành ở trên một ngọn đồi, mở ra, tiếp nhận và nâng đỡ.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch
Thứ Hai
Lời Chúa
Bài Ðọc I: (năm
II) 1
Sm 15, 16-23
"Vâng lời thì
tốt hơn của lễ. Chúa truất phế không cho ông làm vua nữa".
Trích sách Samuel quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, Samuel nói cùng Saolê rằng: "Thôi! Tôi sẽ tuyên bố cho
ông những điều Thiên Chúa đã nói với tôi trong đêm qua". Và Saolê đáp: "Ngài
cứ nói". Samuel liền nói: "Khi ông tự thấy ông còn bé nhỏ, há ông đã chẳng
được đặt làm thủ lãnh các chi họ Israel sao? Và Thiên Chúa đã chẳng xức dầu
phong ông làm vua Israel sao? Chúa đã sai ông lên đường và nói: "Hãy đi giết
quân Amalec tội lỗi, và hãy giao chiến với chúng cho đến khi tận diệt
chúng". Tại sao ông không nghe lời Chúa, mà lại chạy theo chiến lợi phẩm và
làm điều tội lỗi trước mặt Chúa như vậy?" Saolê nói với Samuel: "Vâng, tôi
đã nghe lời Chúa, đã đi trên đường Chúa sai tôi, đã bắt Aga vua Amalec, và
tàn sát dân Amalec. Nhưng trong các chiến lợi phẩm, dân chúng đã lấy chiên
bò, những vật nhất hạng họ cướp được để tế lễ Chúa là Thiên Chúa của họ tại
Galgalê".
Samuel nói: "Này Chúa ưa thích của lễ toàn thiêu và hy lễ hơn sự vâng lời
Chúa ư? Vì vâng lời thì tốt hơn của lễ, và tuân lệnh thì cao đẹp hơn dâng mỡ
cừu; vì phản bội thì giống như tội tà thuật, còn ngoan cố thì giống như tội
thờ bụt thần. Vậy bởi ông khinh bỉ lời Chúa, nên Chúa truất phế không cho
ông làm vua nữa".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 49, 8-9. 16bc-17. 21 và 23.
Ðáp: Ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên
Chúa cứu độ (c. 23b).
Xướng: 1) Ta không khiển trách ngươi về chuyện dâng lễ vật, vì lễ toàn thiêu
của ngươi đặt ở trước mặt Ta luôn. Ta không nhận tự nhà ngươi một con bò
non, cũng không nhận tự đoàn chiên ngươi những con dê đực. - Ðáp.
2) Tại sao ngươi ưa kể ra những điều huấn lệnh, và miệng ngươi thường nói về
minh ước của Ta? Ngươi là kẻ không ưa lời giáo huấn và ném bỏ lời Ta lại sau
lưng? - Ðáp.
3) Ngươi làm thế, mà Ta đành yên lặng? Ngươi đã tưởng rằng Ta giống như
ngươi? Ta sẽ bắt lỗi, sẽ phơi bày trước mặt ngươi tất cả. Ai hiến dâng lời
khen ngợi, người đó trọng kính Ta; ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy
ơn Thiên Chúa cứu độ. - Ðáp.
Alleluia: Tv 144, 13cd
Alleluia, alleluia! - Chúa trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh
thiện trong mọi việc Chúa làm. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 2, 18-22
"Tân lang còn ở
với họ".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, họ đến nói với Chúa
Giêsu rằng: "Tại sao môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, còn
môn đồ Ngài lại không ăn chay?" Chúa Giêsu nói với họ: "Các khách dự tiệc
cưới có thể ăn chay khi tân lang còn ở với họ không? Bao lâu tân lang còn ở
với họ, thì họ không thể ăn chay được. Nhưng sẽ đến ngày tân lang bị đem đi,
bấy giờ họ sẽ ăn chay. Không ai lấy vải mới mà vá áo cũ, chẳng vậy, miếng
vải vá sẽ rút lại mà kéo áo cũ, và chỗ rách lại tệ hơn. Cũng không ai đổ
rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, rượu sẽ làm vỡ bầu da, và rượu đổ, bầu da
hư. Nhưng rượu mới phải để trong bầu da mới".
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Đức Kitô Tân
Lang
Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Hai đầu Tuần 2 Thường Niên hậu Giáng Sinh, vẫn tiếp tục chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh. Ở chỗ nào?
Bài Phúc Âm Chúa Nhật II Thường Niên hậu Giáng Sinh Chu Kỳ Phụng Vụ Năm C hôm qua về tiệc cưới Cana, một biến cố cần phải có để mở màn cho việc Chúa Kitô tỏ mình ra cho các môn đệ tiên khởi của Người, nhờ đó đã làm cho các vị tin vào Người.
Bài Phúc Âm hôm nay, để trả lời cho vấn nạn được "môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay" đặt ra "Tại sao môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, còn môn đồ Ngài lại không ăn chay?", Chúa Giêsu đã tự ví mình và tự nhận mình là "tân lang", và cho biết lý do các môn đệ của Người được Người ví như là thành phần "các khách dự tiệc cưới", không ăn chay như thành phần đặt vấn đề với Người đó là vì "tân lang còn ở với họ".
Thật vậy, sở dĩ "các môn đồ Ngài lại không ăn chay?" bởi vì Người "còn ở với họ", tức là Người còn đang cần thời gian để tiếp tục và từ từ tỏ mình ra cho họ để họ có thể hân hoan vui sướng nhận biết Người mỗi ngày một hơn, và càng nhận biết Người họ càng kính phục Người và yêu mến Người, nhờ đó họ mới có thể trở thành chứng nhân tiên khởi của Người và cho Người, đúng như ý nguyện và mục đích Người tuyển chọn họ làm nhóm 12 của Người.
Tuy nhiên, không phải vì thế mà các môn đệ của Người không phải chay tịnh, một thứ chay tịnh nếu có và nếu cần lại hoàn toàn không phải như thành phần "môn đồ của Gioan và các người biệt phái" đã làm, mà là một thứ chay tịnh không còn được ở với Người nữa, không còn được thấy Người tận mắt, nghe Người tận tai và động chạm đến Người tận tay (xem 1Gioan 1:1), trái lại các vị chỉ giao tiếp với Người hoàn toàn bằng đức tin thuần túy trong tăm tối của giác quan và cảm thức, nghĩa là "ngày tân lang bị đem đi, bấy giờ họ sẽ ăn chay", ở chỗ "Các con sẽ than khóc trong khi thế gian vui mừng" (Gioan 16:20).
Thế nhưng, việc chay tịnh hay cách chay tịnh của các môn đệ Chúa Giêsu này không phải là những gì hủy hoại mà là những gì thăng hoa, thăng tiến, hoan hỉ: "Nếu các con yêu mến Thày thì các con phải vui mừng vì Thày về cùng Cha vì Cha là Đấng cao trọng hơn Thày" (Gioan 14:28). Bởi vì, nhờ Thày về cùng Cha là Đấng cao trọng hơn Thày với tư cách Ngài là Đấng đã sai Thày như thế mà các vị, cho dù không còn thấy và ở với Người nữa, mới càng nhờ thế có thể đạt đến chỗ thần hiệp nên một với Người: "Thày ở đâu các con cũng được ở đó" (Gioan 14:3).
Như thế, trong chính sự vắng bóng của mình, khuất dạng của mình, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" lại càng tỏ mình ra hơn bao giờ hết, lại càng hiển linh hơn hết... trước con mắt thuần túy đức tin siêu nhiên của các môn đệ Người.
Đó là lý do phần còn lại của bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu mới nói thêm những lời quan trọng và thiết yếu cho việc sống đạo sau đây: "Không ai lấy vải mới mà vá áo cũ, chẳng vậy, miếng vải vá sẽ rút lại mà kéo áo cũ, và chỗ rách lại tệ hơn. Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, rượu sẽ làm vỡ bầu da, và rượu đổ, bầu da hư. Nhưng rượu mới phải để trong bầu da mới".
Cái "mới" và "cũ" được Chúa Giêsu đề cập tới trong bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến vấn đề chay tịnh đây là gì, nếu không phải cái "mới" đây là đức tin (của Tân Ước) và cái "cũ" đây là nghi thức hay hình thức hoặc lễ vật bề ngoài (của Cựu Ước), và vì thế, "rượu mới" và "bầu da mới" đây chính là "tinh thần và chân lý" được Chúa Giêsu nói đến trong trường hợp Người trao đổi với người phụ nữ Samaritanô bên bờ giếng Giacóp về thực tại "Thiên Chúa là Thần Linh nên những ai tôn thờ Thiên Chúa đích thực thì cũng phải tôn thờ Ngài trong tinh thần và chân lý" (Gioan 4:24).
Bài Đọc 1 hôm nay cũng cho thấy rõ hơn nữa về thực tại "Thiên Chúa là Thần Linh nên những ai tôn thờ Thiên Chúa đích thực thì cũng phải tôn thờ Ngài trong tinh thần và chân lý" (Gioan 4:24). Ở chỗ, con người cần phải tin tưởng tuân phục Ngài, làm theo ý Ngài hơn là theo ý riêng của mình, cho dù ý riêng của mình có ngay lành và tốt lành đến mấy chăng nữa, cho dù ý riêng ấy chỉ nhắm đến vinh danh Ngài chăng nữa, điển hình như trường hợp của Vua Saulê được Tiên Tri Samuel cảnh giác trong Bài Đọc 1 hôm nay:
"Này Chúa ưa thích của
lễ toàn thiêu và hy lễ hơn sự vâng lời Chúa ư? Vì vâng lời thì tốt hơn
của lễ, và tuân lệnh thì cao đẹp hơn dâng mỡ cừu; vì phản bội thì giống
như tội tà thuật, còn ngoan cố thì giống như tội thờ bụt thần. Vậy bởi
ông khinh bỉ lời Chúa, nên Chúa truất phế không cho ông làm vua nữa".
Vua Saulê đã bất tuân Thiên Chúa ra sao, lời của Tiên Tri Samuel trong Bài Đọc 1 đã cho biết như thế này: "Chúa đã sai ông lên đường và nói: 'Hãy đi giết quân Amalec tội lỗi, và hãy giao chiến với chúng cho đến khi tận diệt chúng'. Tại sao ông không nghe lời Chúa, mà lại chạy theo chiến lợi phẩm và làm điều tội lỗi trước mặt Chúa như vậy?"
Cho dù Vua Saulê có lý do chính đáng để biện minh: "Vâng, tôi đã nghe lời Chúa, đã đi trên đường Chúa sai tôi, đã bắt Aga vua Amalec, và tàn sát dân Amalec. Nhưng trong các chiến lợi phẩm, dân chúng đã lấy chiên bò, những vật nhất hạng họ cướp được để tế lễ Chúa là Thiên Chúa của họ tại Galgalê", Tiên Tri Samuel vẫn khẳng định với vua rằng: "Vâng lời thì tốt hơn của lễ. Chúa truất phế không cho ông làm vua nữa".
Bài Đáp Ca hôm nay cũng theo chiều hướng của cả Bài Đọc 1 và bài Phúc Âm, ở chỗ đã bày tỏ cảm nhận chính xác về tất cả sự thật nơi việc tôn thờ Thiên Chúa là Thần Linh trong tinh thần và chân lý, bằng đức tin được thể hiện qua việc tuân phục là những tác động xứng hợp với Ngài và làm đẹp lòng Ngài, như sau:
1) Ta không khiển trách ngươi về chuyện dâng lễ vật,
vì lễ toàn thiêu của ngươi đặt ở trước mặt Ta luôn. Ta không nhận tự nhà
ngươi một con bò non, cũng
không nhận tự đoàn chiên ngươi những con dê đực.
2) Tại sao ngươi ưa kể ra những điều huấn lệnh, và miệng ngươi thường nói về minh ước của Ta? Ngươi là kẻ không ưa lời giáo huấn và ném bỏ lời Ta lại sau lưng?
3) Ngươi làm thế, mà Ta đành yên lặng? Ngươi đã tưởng rằng Ta giống như ngươi? Ta sẽ bắt lỗi, sẽ phơi bày trước mặt ngươi tất cả. Ai hiến dâng lời khen ngợi, người đó trọng kính Ta; ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ.
Thứ Ba
Lời Chúa
Bài Ðọc I: (năm
II) 1
Sm 16, 1-13
"Samuel xức dầu
cho Ðavít trước mặt các anh em ngài; và Thánh Thần ngự xuống trên ngài".
Trích sách Samuel quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Samuel rằng: "Ta đã loại bỏ Saolê không
cho cai trị Israel nữa, thế mà ngươi còn thương khóc nó đến bao giờ? Ngươi
hãy đổ dầu cho đầy bình và lên đường; Ta sai ngươi đến nhà Isai dân thành
Bêlem. Vì Ta chọn một người con của ông ấy lên làm vua". Samuel thưa: "Làm
sao mà đi được? Vì nếu Saolê hay biết việc đó, ông sẽ giết con". Chúa nói:
"Ngươi hãy tự tay bắt một con bê trong đàn, và nói: 'Tôi đến để dâng lễ tế
lên cho Chúa'. Ngươi sẽ mời Isai đến để dự lễ tế, Ta sẽ tỏ cho ngươi biết
việc phải làm, và sẽ chỉ cho ngươi biết phải xức dầu cho ai?"
Vậy Samuel làm như lời Chúa dạy và đi đến Bêlem. Các vị kỳ lão trong thành
bỡ ngỡ chạy đến Samuel mà nói rằng: "Ông đem bình an đến chăng?" Ông đáp:
"Phải, bình an! Tôi đến để dâng lễ tế cho Chúa. Các ông giữ mình thanh sạch
và cùng tôi đến dâng của lễ". Vậy ông làm cho Isai và con cái ông ấy được
thanh sạch và mời họ đến dâng lễ tế. Khi (họ) vào nhà, Samuel gặp ngay Êliab
và nói: "Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?" Và
Chúa phán cùng Samuel: "Ðừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó
rồi; Ta không xem xét theo kiểu con người, vì chưng con người nhìn xem bên
ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn". Isai gọi Abinađab đến và dẫn
đến trước mặt Samuel. Samuel nói: "Cũng không phải Chúa chọn người này".
Isai cho dẫn Samma đến. Samuel lại nói: "Nhưng Chúa cũng không chọn người
này". Isai lần lượt đem bảy đứa con mình ra trình diện với Samuel. Samuel
nói với Isai: "Chúa không chọn ai trong những người này". Samuel nói tiếp:
"Tất cả con ông có bấy nhiêu đó phải không?" Isai đáp: "Còn một đứa út nữa,
nó đi chăn chiên". Samuel nói với Isai: "Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì
chúng ta không ngồi vào bàn ăn trước khi nó về". Isai sai người đi tìm đứa
con út. Ðứa út này có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa
phán: "Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó". Samuel lấy bình
dầu ra, xức lên nó trước mặt các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Ðavít
từ ngày đó trở đi. Còn Samuel đứng dậy trở về Rama.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 88, 20. 21-22. 27-28
Ðáp: Ta đã gặp Ðavít là tôi tớ của Ta (c. 21a).
Xướng: 1) Xưa trong cuộc thị kiến, Chúa đã phán cùng bầy tôi Chúa: "Ta đội
mão triều thiên cho vị anh hùng, Ta cất nhắc người được kén chọn tự trong
dân. - Ðáp.
2) Ta đã gặp Ðavít là tôi tớ của Ta. Ta đã xức dầu thánh của Ta cho người,
để tay Ta bang trợ người luôn mãi, và cánh tay Ta củng cố thân danh người. -
Ðáp.
3) Chính người sẽ thưa cùng Ta: "Chúa là Cha tôi, là Thiên Chúa và Tảng Ðá
cứu độ của tôi". Và Ta sẽ đặt người làm trưởng tử, cao sang hơn các vua chúa
ở trần gian. - Ðáp.
Alleluia: Ga 8, 12
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta sẽ được
ánh sáng ban sự sống". - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 2, 23-28
"Ngày Sabbat làm
ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabbat".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Vào một ngày Sabbat, Chúa Giêsu đi qua đồng lúa, môn đệ Người vừa đi vừa bứt
lúa. Tức thì những người biệt phái thưa Người rằng: "Kìa Thầy xem. Tại sao
ngày Sabbat người ta làm điều không được phép như vậy?" Người trả lời rằng:
"Các ông chưa bao giờ đọc thấy điều mà Ðavít đã làm khi ngài và các cận vệ
phải túng cực và bị đói ư? Người đã vào nhà Chúa thời thượng tế Abiata thế
nào, và đã ăn bánh dâng trên bàn thờ mà chỉ mình thượng tế được ăn, và đã
cho cả các cận vệ cùng ăn thế nào?" Và Người bảo họ rằng: "Ngày Sabbat làm
ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabbat; cho nên Con
Người cũng làm chủ cả ngày Sabbat".
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Đức Kitô Chủ
Tể
Ngày Thứ Ba hôm nay,
trong Tuần 2 Thường Niên hậu Giáng Sinh, chủ đề "Người
Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý"
của chung Mùa Thường
Niên hậu Giáng Sinh được
tỏ hiện ngay lời tuyên bố của Chúa Kitô về chính bản thân Người
rằng: "Con
Người cũng làm chủ cả ngày Sabbat".
Thật thế, câu
tuyên bố này của Người xẩy ra trong trường hợp đưọc bài Phúc Âm hôm nay
thuật lại là "vào
một ngày Sabbat, Chúa Giêsu đi qua đồng lúa, môn đệ Người vừa đi vừa bứt
lúa. Tức thì những người biệt phái thưa Người rằng: 'Kìa Thầy xem. Tại sao
ngày Sabbat người ta làm điều không được phép như vậy?'".
Trong
câu giải đáp của
mình cho lời
trách móc hơn là vấn nạn của những người biệt phái bấy giờ, Chúa Giêsu bề
ngoài có
vẻ như biện minh cho hành động
các môn đệ của Người làm khiến cho các người biệt phái ấy ngứa cặp mắt
duy luật của
họ, thế nhưng
thật ra Người có ý bênh
vực tinh thần của lề luật để giúp
cho chính những người biệt phái ấy
thấy được tất cả sự thật về luật lệ mà họ thông thạo và hằng tuân thủ một
cách chặt chẽ và nghiêm chỉnh, nhờ đó
họ có thể sống đẹp
lòng Thiên Chúa hơn.
Trước hết, như
trong bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, Người đã
dẫn chứng một trường hợp không được phép làm mà vẫn được làm trong trường
hợp khẩn cấp ở trong Cựu Ước liên quan đến "điều mà Vua Đavít
làm khi
ngài và các cận vệ phải túng cực và bị đói ư? Người đã vào nhà Chúa thời
thượng tế Abiata thế nào, và đã ăn bánh dâng trên bàn thờ mà chỉ mình thượng
tế được ăn, và đã cho cả các cận vệ cùng ăn thế nào?"
Sau
nữa, từ
trường hợp không được
phép làm mà vẫn được làm trong trường hợp khẩn cấp ở trong Cựu Ước liên
quan đến Vua Đavít ấy,
Chúa Giêsu đã đi đến kết luật liên quan đến tinh thần của lề luật là những
gì trực tiếp liên hệ tới mục đích của lề luật như
sau: "Ngày
Sabbat làm ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabbat; cho
nên Con Người cũng làm chủ cả ngày Sabbat".
Có nghĩa là
luật lệ được lập ra và ban bố là vì loài
người, để
phục vụ loài người như chủ nhân ông của nó, như là mục tiêu của nó, hầu mang
lại lợi ích thiêng liêng cho họ, giúp họ thăng tiến, vươn lên, được
cứu độ, chứ không phải để hủy diệt họ, khiến họ bị mất tự do, biến họ trở
thành nô lệ lề luật, khi lề
luật không
còn thuần túy là
một phương
tiện cho họ mà
là cùng đích của con người, nhất
là đối với thành phần duy luật, thành phần cần phải được giải cứu cho khỏi
cảnh làm nô lệ cho lề luật, nhờ bởi "Con
Người cũng làm chủ cả ngày Sabbat", như
Người làm cho họ trong bài Phúc Âm hôm nay.
Những
gì "lề luật, hoàn toàn không hợp với tấm "vải mới" được
Người cung cấp là ý nghĩa đích thực liên quan đến mục đích chính yếu của lề
luật theo những
lời dẫn giải của Người, và
"bầu da cũ" đây phải
chăng là chủ
trương và thái độ
duy luật,
hoàn toàn không hợp với và không thể nào chấp nhận thứ "rượu
mới" hay
chứa đựng nổi thứ "rượu
mới"
là tinh thần
yêu thương bác ái làm nên chính lệ
luật và làm
trọn lề luật (xem
Roma 13:10).
Bài Đọc
1 cho Năm Chẵn hôm nay là câu chuyện về Tiên
Tri Samuel được
lệnh Thiên Chúa sai "đi
đến Bêlem" để
"xức
dầu" phong
vương
cho một người đã được Ngài tuyển chọn thay cho vị vua đương kim bấy giờ là
Saulê mà Ngài "đã
loại bỏ không cho cai trị Israel nữa". Vị
vua tương lai thay cho Vua Saulê ấy "là ai?", Thiên Chúa không tiết
lộ cho Tiên Tri Samuel biết khi sai ông đi đến quê hương
của vị vua này là Bêlem. Để
rồi, trong việc nhận diện vị vua tương lai được Ngài tuyển chọn mới xuất
hiện một tiêu chuẩn liên quan đến ý nghĩa của Bài Phúc Âm hôm nay về lề luật
và thành phần duy luật chỉ vụ hình thức hơn là tinh thần.
Thật
vậy, Bài Đọc 1 hôm nay thuật lại rằng: "Khi
(họ) vào nhà, Samuel gặp ngay Êliab và nói: 'Có phải người xức dầu của Chúa
đang ở trước mặt Chúa đây không?' Và Chúa phán cùng Samuel: 'Ðừng nhìn xem
diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi; Ta không xem xét theo kiểu con
người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem
tâm hồn'".
Trong
trường
hợp này, Thiên Chúa vẫn không chỉ ngay cho Tiên Tri Samuel đứa con trai nào
trong 8 đứa của gia đình vị vua tương lai, nhưng chỉ dạy cho vị tiên
tri ấy biết cái tiêu
chuẩn tổng quan chính yếu là "đừng bề ngoài mà bề trong" của
Ngài.
Bởi thế, căn cứ vào tiêu chuẩn ấy, Tiên
Tri Samuel tiếp tục chọn
lựa, cho đến khi ông hỏi bố của 8 người anh em trai rằng:
"'Tất
cả con ông có bấy nhiêu đó phải không?' Isai đáp: 'Còn một đứa út nữa, nó đi
chăn chiên'. Samuel nói với Isai: 'Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì chúng
ta không ngồi vào bàn ăn trước khi nó về'. Isai sai người đi tìm đứa con út.
Ðứa út này có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa phán:
'Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó'. Samuel lấy bình dầu
ra, xức lên nó trước mặt các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Ðavít từ
ngày đó trở đi. Còn Samuel đứng dậy trở về Rama".
Phải,
chỉ ở trường hợp phong vương cho vị vua thứ hai là Đavít này mới có chuyện:
"Thánh
Thần Chúa ngự trong Ðavít từ ngày đó trở đi", còn trong
trường hợp phong vương
cho Saule
là vị vua đầu tiên của dân Do Thái cũng
là vị vua bị Thiên Chúa loại trừ chỉ được Thánh Kinh trong Bài Đọc 1 cho Năm
Chẵn Thứ Bảy tuần trước thuật lại như sau: "Samuel
lấy bình dầu đổ trên đầu Saolê, rồi hôn anh và nói rằng: 'Ðây Thiên Chúa xức
dầu phong anh làm vua thống trị cơ nghiệp của Người, và anh sẽ cứu dân Người
thoát khỏi kẻ thù ở chung quanh'".
Phải
chăng chính vì "Thánh
Thần Chúa ngự trong Ðavít từ ngày đó trở đi" mà
những gì vị vua này làm đều đúng ý Thiên Chúa, cho dù là điều vua không được
phép làm như vụ vua và đoàn tùy tùng dám ăn thứ bánh
tiến mà chỉ có vị thượng tế mới được ăn, một
vụ việc bề ngoài có tính cách gương mù và bê bối sai quấy lộng hành này
lại đã được chính Chúa Giêsu trích dẫn để minh chứng rằng: "Ngày
Sabbat làm ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabbat; cho
nên Con Người cũng làm chủ cả ngày Sabbat".
Bài Đáp
Ca hôm nay rõ ràng là liên quan đến bản thân của Vua Đavít, liên quan đến
việc vua được tuyển chọn (câu 1) và
Thiên Chúa ở cùng vua (câu
2),
một vị vua là tiền thân báo trước một Vị
Vua của các Vua, vị vua bất diệt (câu
3) là "Người
Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý":
1) Xưa
trong cuộc thị kiến, Chúa đã phán cùng bầy tôi Chúa: "Ta đội mão triều thiên
cho vị anh hùng, Ta cất nhắc người được kén chọn tự trong dân.
2) Ta
đã gặp Ðavít là tôi tớ của Ta. Ta đã xức dầu thánh của Ta cho người, để tay
Ta bang trợ người luôn mãi, và cánh tay Ta củng cố thân danh người.
3) Chính
người sẽ thưa cùng Ta: "Chúa là Cha tôi, là Thiên Chúa và Tảng Ðá cứu độ của
tôi". Và Ta sẽ đặt người làm trưởng tử, cao sang hơn các vua chúa ở trần
gian.
Thứ Tư
Lời Chúa
Bài Ðọc I: (năm
II) 1
Sm 17, 32-33. 37. 40-51
"Ðavít đã dùng dây ném đá và đá mà thắng tên Philitinh".
Trích sách Samuel quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, khi người ta dẫn Ðavít đến trước Saolê, thì Ðavít nói
với Saolê rằng: "Ðừng ai lo sợ gì cả. Tôi đây, tôi tớ của bệ hạ, tôi sẽ ra
chiến đấu với tên Philitinh". Saolê nói cùng Ðavít rằng: "Ngươi không thể
chống cự và chiến đấu với tên Philitinh đó đâu, vì ngươi còn bé nhỏ, mà anh
ta là một chiến sĩ từ lúc còn niên thiếu".
Ðavít liền đáp: "Chúa đã từng cứu tôi thoát khỏi nanh vuốt sư tử và gấu,
Người sẽ giải thoát tôi khỏi tay tên Philitinh đó". Saolê mới nói với Ðavít:
"Ngươi hãy đi và Chúa ở cùng ngươi".
Ðavít lấy cây gậy mà chàng quen cầm trong tay. Chàng lựa năm viên đá bóng
láng dưới khe nước, bỏ vào bị chăn chiên mà chàng thường đeo bên mình.
Tay chàng cầm trành ném đá ra ứng chiến với tên Philitinh. Tên Philitinh có
vệ sĩ cầm khí giới đi trước, tiến lại gần Ðavít. Khi tên Philitinh thấy
Ðavít, thì khinh bỉ chàng, vì chàng là một thanh niên hồng hào đẹp trai. Tên
Philitinh nói với Ðavít: "Tao có phải là chó đâu mà mày cầm gậy đến với
tao?" Rồi tên Philitinh nhân danh các thần của y mà nguyền rủa Ðavít. Anh ta
nói với Ðavít: "Mày hãy lại đây, tao sẽ phân thây mày cho chim trời và thú
đồng ăn thịt".
Ðavít đáp lại: "Còn mi, mi cầm gươm, giáo, lao mà đến với ta, thì ta đến với
mi nhân danh Chúa các đạo binh, Thiên Chúa các đoàn quân Israel mà hôm nay
mi đã nhục mạ. Chúa sẽ trao mi vào tay ta, ta sẽ đánh và chặt đầu mi, và hôm
nay ta sẽ ném thây quân sĩ Philitinh cho chim trời và thú đồng, để khắp hoàn
cầu biết rằng Israel có một Thiên Chúa, và toàn thể cộng đồng này nhận biết
rằng: "Chúa không dùng gươm giáo mà giải phóng, vì Người là chủ trận chiến,
Người sẽ trao các ngươi vào tay chúng ta".
Vậy tên Philitinh vùng lên, tiến lại gần Ðavít, và Ðavít hối hả chạy đến
nghinh chiến với tên Philitinh. Ðavít thò tay vào bị, lấy viên đá, rồi dùng
dây ném đá mà phóng vào trán tên Philitinh, viên đá trúng lủng trán hắn, và
hắn liền té sấp xuống đất. Và Ðavít đã dùng dây ném đá và đá mà chiến thắng
và hạ sát tên Philitinh. Nhưng vì Ðavít không có sẵn gươm, nên cậu chạy lại
đứng trên mình tên Philitinh, lấy gươm của hắn, rút ra khỏi vỏ và chặt đầu
hắn.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 143, 1. 2. 9-10
Ðáp: Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa! (c. 1a)
Xướng: 1) Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa, là Ðấng rèn luyện cho tay con
biết đấu tranh, cho các ngón tay con thiện nghề chinh chiến. - Ðáp.
2) Chúa là Tình thương và là chiến luỹ, là Ðấng phù trợ và giải phóng con.
Chúa là khiên thuẫn, là chỗ con nương náu, Ngài bắt chư dân phải khuất phục
con. - Ðáp.
3) Ôi Thiên Chúa, con sẽ hát mừng Ngài bài ca mới, với cây đàn mười dây, con
sẽ ca mừng Ngài, vì Ngài đã ban cho các vua chiến thắng, đã giải phóng Ðavít
là tôi tớ của Ngài. - Ðáp.
Alleluia: Ga 6, 64b và 69b
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, lời của Chúa là thần trí và là sự sống. Chúa
có những lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 3, 1-6
"Trong ngày Sabbat được cứu sống hay là giết chết?"
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu lại vào hội đường và ở đó có một người khô bại một tay.
Người ta để ý quan sát xem Chúa có chữa bệnh trong ngày Sabbat không, để tố
cáo Người. Chúa bảo người có tay khô bại rằng: "Ngươi hãy đứng ra giữa đây".
Rồi Người bảo họ: "Trong ngày Sabbat được làm sự lành hay sự dữ? Ðược cứu
sống hay là giết chết?" Nhưng họ thinh lặng. Bấy giờ Người thịnh nộ đưa mắt
nhìn họ và buồn phiền vì lòng họ chai đá, Người bảo bệnh nhân rằng: "Hãy giơ
tay ra". Người đó giơ tay ra và tay anh ta được lành. Lập tức, những người
biệt phái đi ra bàn tính với những kẻ thuộc phái Hêrôđê chống đối Người và
tìm cách hại Người.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Đức Kitô vĩ đại
Ngày Thứ Tư trong Tuần 2 Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay, bài Phúc Âm của Thánh ký Marcô vẫn liên tục với bài Phúc Âm hôm qua, chẳng những về bố cục trước sau của cuốn sách Phúc Âm thứ hai này mà còn liên tục cả về ý nghĩa của hai bài Phúc Âm này nữa.
Bài Phúc Âm hôm nay được Giáo Hội chọn đọc thích hợp với chủ đề chung của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý", ở chỗ, người chẳng những chữa lành cho "một người khô bại một tay" mà còn mở mắt cho thành phần thông luật nhưng duy luật biệt phái về tinh thần của lề luật, bằng câu hỏi được Người đặt ra cho họ tự suy nghĩ: "Trong ngày Sabbat được làm sự lành hay sự dữ? Ðược cứu sống hay là giết chết?"
Bài Phúc Âm hôm nay cũng như bài Phúc Âm hôm qua đều liên quan đến ngày hưu lễ là thời điểm được chung dân chúng và riêng nhóm biệt phái cùng luật sĩ tuân giữ rất kỹ lưỡng và đã thấy ngứa mắt trước những hành động của các môn đệ Chúa Giêsu bứt lúa mà ăn trong ngày hưu lễ (ở bài Phúc Âm hôm qua) hay của chính Chúa Giêsu chữa lành cho người bị bại tay trong ngày hưu lễ (ở bài Phúc Âm hôm nay).
Cả hai lần Chúa Giêsu đều nhắc nhở thành phần theo dõi và bắt bẻ các môn đệ của Người cũng như bắt bẻ chính Người về tinh thần chính yếu của lề luật cũng như mục đích của lề luật đối với vị thế cùng giá trị của con người so vị thế và giá trị của lề luật. Vấn đề then chốt này cũng chính là vấn đề then chốt của Giáo Huấn Giáo Hội Công Giáo về xã hội ngày nay, một bộ giáo huấn bắt đầu từ thời Đức Lêô XIII sau khi chủ nghĩa cộng sản xuất hiện.
Thật vậy, yếu tố chính yếu làm nên trọng tâm của Giáo Huấn của Giáo Hội về xã hội đó là con người, một thực thể phải được coi trọng theo đúng dự án tạo dựng của Thiên Chúa Hóa Công, ở chỗ con người phải làm chủ trái đất chứ không phải làm tôi cho những gì được dựng nên cho họ (xem Khởi Nguyên 1:28), bởi thế, tất cả mọi sự, bao gồm cả sự vật trần thế và sự việc trên đời, tất cả mọi hoạt động của con người, về phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học v.v. đều phải phục vụ con người, chứ không được coi thường họ và lạm dụng họ như chủ nghĩa cộng sản hay văn hóa sự chết.
Trái lại, cho dù con người đóng vai chính yếu trên trần gian này, trên trái đất này, họ vẫn không thể nào trở thành tối cao, là cùng đích của mình, trở thành tuyệt đối như Thượng Đế, như Thiên Chúa, như Đấng dựng nên họ. Bởi thế, tất cả những chủ nghĩa tôn sùng con người, được gọi là chủ nghĩa duy nhân bản, như chủ trương tương đối hóa mọi nguyên tắc và lề luật luân lý bất di bất dịch, để tuyệt đối hóa tự do và ý riêng của con người, cũng tác hại chính con người, mang con người đến chỗ diệt vong chẳng khác gì chủ nghĩa cộng sản và văn hóa sự chết coi thường con người vậy.
Nếu trong bài Phúc Âm hôm qua, Chúa Giêsu, "Người Con đến từ Cha" đã tỏ mình ra "đầy ân sủng và chân lý", khi tự xưng mình là "Chúa của cả ngày hưu lễ", thì trong bài Phúc Âm hôm nay "Người Con đến từ Cha" đã tỏ mình ra "đầy ân sủng và chân lý", ở chỗ chữa lành cho "một người khô bại một tay".
Thật ra, tật "khô bại một tay", so với các trường hợp bệnh tật khác, như phong cùi, bại liệt, què quặt, mù lòa, câm điếc v.v., thì chỉ là chuyện nhỏ, không đáng kể là bao nhiêu. Tuy nhiên, chính ở cái nho nhỏ, không đáng kể là bao nhiêu ấy mà vẫn được Người lưu tâm đáp ứng cứu chữa, nhất nữa lại vào ngày hữu lễ nữa, lại càng cho thấy chân dung tuyệt vời của "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" này.
Đúng thế, cho dù chỉ bị "khô bại một tay", thân xác của con người vẫn không được vẹn toàn đúng như nó đã được Thiên Chứa dựng nên "rất tốt đẹp" (Khởi Nguyên 1:31) ngay từ ban đầu, và khả năng hoạt động của con người vẫn bị ngăn trở, không được tự do, tức vẫn cần phải được cứu chữa hay cần phải được giải thoát để có thể nguyên vẹn hơn về hình hài cùng tầm vóc và đắc lực hơn về hoạt động cùng phục vụ.
Trong Bài Đọc 1 hôm nay cũng cho thấy Thiên Chúa là Đấng toàn năng quan tâm đến những gì là bé nhỏ, và Ngài dường như muốn lợi dụng những gì càng bé nhỏ để càng tỏ mình ra một cách hiển nhiên hơn và sống động hơn. Đó là trường hợp của một chàng thanh niên Đavít trẻ trung và nhỏ con, chưa hề có kinh nghiệm chiến trường, lại chẳng có áo giáp cùng các thứ vũ khí nguy hiểm trong tay, thế mà đã dễ dàng và vẻ vang chiến thắng danh tướng Gồliát vô đối thủ của địch quân.
Chính Vua Saolê cũng không tin tưởng chàng thanh thiếu niên hào hùng này: "Trong những ngày ấy, khi người ta dẫn Ðavít đến trước Saolê, thì Ðavít nói với Saolê rằng: 'Ðừng ai lo sợ gì cả. Tôi đây, tôi tớ của bệ hạ, tôi sẽ ra chiến đấu với tên Philitinh'. Saolê nói cùng Ðavít rằng: 'Ngươi không thể chống cự và chiến đấu với tên Philitinh đó đâu, vì ngươi còn bé nhỏ, mà anh ta là một chiến sĩ từ lúc còn niên thiếu'. Ðavít liền đáp: 'Chúa đã từng cứu tôi thoát khỏi nanh vuốt sư tử và gấu, Người sẽ giải thoát tôi khỏi tay tên Philitinh đó'".
Và cả đối thủ khổng lồ của Đavít cũng tỏ ra khinh thường chàng: "Tên Philitinh có vệ sĩ cầm khí giới đi trước, tiến lại gần Ðavít. Khi tên Philitinh thấy Ðavít, thì khinh bỉ chàng, vì chàng là một thanh niên hồng hào đẹp trai. Tên Philitinh nói với Ðavít: 'Tao có phải là chó đâu mà mày cầm gậy đến với tao?' Rồi tên Philitinh nhân danh các thần của y mà nguyền rủa Ðavít. Anh ta nói với Ðavít: 'Mày hãy lại đây, tao sẽ phân thây mày cho chim trời và thú đồng ăn thịt'".
Thế nhưng, chàng thanh thiếu niên Đavít sở dĩ dám liều mình và ngang nhiên ra chiến đấu với nhân vật danh tướng mà chàng không phải là đối thủ ấy là vì chàng hoàn toàn mãnh liệt tin tưởng vào Thiên Chúa hơn vào chính bản thân mình, và thật sự mong muốn cho Ngài được nhận biết, cho Ngài có thể tỏ mình ra:
"Ðavít đáp lại: 'Còn mi, mi cầm gươm, giáo, lao mà đến với ta, thì ta đến
với mi nhân danh Chúa các đạo binh, Thiên Chúa các đoàn quân Israel mà hôm
nay mi đã nhục mạ. Chúa sẽ trao mi vào tay ta, ta sẽ đánh và chặt đầu mi, và
hôm nay ta sẽ ném thây quân sĩ Philitinh cho chim trời và thú đồng, để khắp
hoàn cầu biết rằng Israel có một Thiên Chúa, và toàn thể cộng đồng này nhận
biết rằng: 'Chúa không dùng gươm giáo mà giải phóng, vì Người là chủ trận
chiến, Người sẽ trao các ngươi vào tay chúng ta'".
Quả thực Vị Thiên Chúa toàn năng của chàng thanh thiếu niên Đavít, qua cuộc chiến thắng này của chàng, đã chẳng những tỏ mình ra cho dân Do Thái nhận biết mà chắc chắn còn muốn tỏ mình ra cho cả thành phần dân tấn công dân Do Thái của Ngài nữa, để họ biết rằng "Israel có một Thiên Chúa":
Bài Đáp Ca hôm nay thực sự là phản ảnh tâm tình của chàng thanh thiếu niên anh hùng Đavít đã chiến thắng địch quân Gồliát, hoàn toàn nhờ ở quyền năng của Thiên Chúa là Đấng chàng tin tưởng và là Đấng muốn tỏ mình ra qua chàng:
1) Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa, là Ðấng rèn luyện cho tay con biết
đấu tranh, cho các ngón tay con thiện nghề chinh chiến.
2) Chúa là Tình thương và là chiến luỹ, là Ðấng phù trợ và giải phóng
con. Chúa là khiên thuẫn, là chỗ con nương náu, Ngài bắt chư dân phải khuất
phục con.
3) Ôi Thiên Chúa, con sẽ hát mừng Ngài bài ca mới, với cây đàn mười dây, con sẽ ca mừng Ngài, vì Ngài đã ban cho các vua chiến thắng, đã giải phóng Ðavít là tôi tớ của Ngài.
Thứ Năm
Lời Chúa
Bài Ðọc I: (năm
II) 1
Sm 18, 6-9; 19, 1-7
"Thân phụ tôi là
Saolê định giết anh".
Trích sách Samuel quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, sau khi hạ sát tên Philitinh, Ðavít trở về, các phụ nữ
từ mọi thành phố Israel đều tuôn ra ca hát nhảy múa với đàn địch trống
phách, vui vẻ đón vua Saolê. Các phụ nữ nhảy múa xướng hoạ rằng: "Saolê giết
một ngàn, và Ðavít giết mười ngàn". Saolê bực tức lắm, vì lời ca ấy làm phật
lòng ông, ông nói: "Họ tặng Ðavít mười ngàn, còn Ta chỉ có một ngàn, như vậy
y chỉ còn thiếu có ngai vàng". Từ ngày đó trở đi, Saolê nhìn Ðavít với vẻ
mặt căm tức.
Saolê bàn với con ông là Gionathan và tất cả những cận thần của ông để sát
hại Ðavít. Nhưng Gionathan con của Saolê rất thương mến Ðavít, nên tiết lộ
cho Ðavít rằng: "Thân phụ tôi là Saolê tìm kế giết anh đấy". Vì thế, tôi xin
anh sáng mai nên thận trọng và tìm nơi kín đáo mà ẩn mình. Tôi sẽ ra đứng
gần cha tôi ngoài đồng nơi anh ẩn trốn, tôi sẽ nói chuyện anh với cha tôi,
tôi thấy thế nào, rồi sẽ báo cho anh biết".
Vậy Gionathan khen Ðavít với cha ông là Saolê, ông nói: "Tâu phụ vương, xin
chớ hãm hại tôi tớ của phụ vương là Ðavít, vì anh không có lỗi gì đến phụ
vương, và anh đã lập nhiều công trạng cho phụ vương: Anh đã liều mạng sống
và hạ sát nhiều tên Philitinh; Chúa đã dùng anh mà giải thoát toàn dân
Israel. Phụ vương đã mục kích và đã hân hoan, vậy tại sao phụ vương toan đổ
máu người vô tội, khi định giết Ðavít là kẻ không có lỗi gì?" Saolê nghe
Gionathan nói như vậy thì nguôi giận mà thề rằng: "Nhân danh Thiên Chúa hằng
sống, nó sẽ không bị giết". Gionathan gọi Ðavít và thuật lại cho anh nghe
tất cả các lời ấy, rồi dẫn Ðavít đến trước Saolê, và anh hầu cận Saolê như
trước.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 55, 2-3. 9-10ab. 10c-11. 12-13
Ðáp: Con tin cậy vào Thiên Chúa, con không kinh hãi
(c. 5b).
Xướng: 1) Ôi Thiên Chúa, xin thương con, vì người ta chà đạp con, người ta
luôn luôn đấu tranh và áp bức con. Những kẻ thù ghét con chà đạp con luôn
mọi lúc, vì có nhiều người chiến đấu phản hại con. - Ðáp.
2) Con đường lưu vong của con, Ngài đã biết, lệ sầu của con đã được chứa
trong bầu da của Ngài, chúng há chẳng được ghi trong sổ sách của Ngài ư? Hễ
bao giờ con kêu cầu Chúa, lúc đó quân thù con sẽ tháo lui. - Ðáp.
3) Con biết chắc điều này là Thiên Chúa phù trợ con. Nhờ ơn Thiên Chúa là
Ðấng mà con ca tụng lời hứa, con tin cậy vào Thiên Chúa, con không kinh hãi,
con người phàm kia làm chi hại được con. - Ðáp.
4) Ôi Thiên Chúa, con mắc nợ những điều con khấn cùng Ngài, con sẽ tiến Ngài
lễ vật bằng lời ca tụng. Vì Ngài đã cứu mạng con thoát khỏi tử thần, và cứu
chân con khỏi quỵ ngã, để con được tiến thân trước nhan Thiên Chúa, trong
ánh thiều quang của cõi nhân sinh. - Ðáp.
Alleluia: Mt 4, 4b
Alleluia, alleluia! - Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời
do miệng Thiên Chúa phán ra. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 3, 7-12
"Các thần ô uế
vừa thấy Người, liền sụp lạy và kêu lên rằng: "Ngài là Con Thiên Chúa",
nhưng Người nghiêm cấm chúng không được tiết lộ gì về Người".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ lui về bờ biển, đám đông từ Galilêa theo
Người, và từ Giuđêa, Giêrusalem, Iđumê, bên kia sông Giođan, miền Tyrô và
Siđon, nhiều kẻ đến cùng Người, khi nghe biết tất cả những việc Người đã
làm. Vì đông dân chúng, nên Người bảo các môn đệ liệu cho Người một chiếc
thuyền, kẻo họ chen lấn Người. Vì chưng, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân,
nên bất cứ ai mắc bệnh tật gì đều đến gần để động đến Người. Và những thần ô
uế vừa thấy Người, liền sụp lạy và kêu lên rằng: "Ngài là Con Thiên Chúa",
nhưng Người nghiêm cấm chúng không được tiết lộ gì về Người.
Ðó là lời Chúa.


Suy niệm
Đức Kitô ảnh hưởng
Bài Phúc Âm cho Thứ
Năm trong Tuần 2 Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay càng phản ảnh chủ đề "Người
Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý"
của chung Mùa Thường
Niên hậu Giáng Sinh, liên
quan đến tầm ảnh hưởng hầu như khắp đất nước Do Thái bấy giờ của Người,
trong khi Người mới chỉ công khai xuất
hiện chưa được bao lâu.
Thật vậy, tầm ảnh hưởng của "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này bao gồm một địa dư chẳng những ở miến bắc là Galilêa mà còn xuống tới tận miền nam là Giuđêa của đất nước Do Thái bấy giờ nữa, một vùng đất, theo thứ tự trình thuật của Thánh ký Marco, Người chưa hề đặt chân tới và chỉ sẽ tới sau khi hoàn thành cuộc hành trình Giêrusalem của Người vào những ngày cuối cùng của Người sống trên trần gian này thôi.
Bài Phúc Âm hôm nay đã ghi nhận sự kiện liên quan đến tầm ảnh hưởng của Người đầy ấn tượng xẩy ra như một hiện tượng này ở ngay câu mở đầu như sau: "Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ lui về bờ biển, đám đông từ Galilêa theo Người, và từ Giuđêa, Giêrusalem, Iđumê, bên kia sông Giođan, miền Tyrô và Siđon, nhiều kẻ đến cùng Người, khi nghe biết tất cả những việc Người đã làm".
Đám đông dân chúng từ khắp nơi đua nhau ùn ùn kéo tới với "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này như thế, mà ai tới cũng muốn được gần Người bao nhiêu có thể, thậm chí muốn trực tiếp đụng chạm đến Người, nhất là thành phần bệnh nhân và khuyết tật nhân, chẳng khác gì như đám đông dân chúng nghênh đón Đức Giáo Hoàng vào những lần ngài tông du khắp nơi trên thế giới, ai cũng muốn đến gần và chạm đến vị thừa kế Thánh Phêrô đại diện Chúa Kitô trên trần gian này.
Tuy nhiên, ngày nay vấn đề an ninh ở khắp nơi mới có thể ngăn chặn việc chen lấn của đám đông dân chúng tuốn đến nghênh đón vị giáo hoàng, còn ngày xưa không thể nào xẩy ra như thế. Bởi đó, để tránh tình trạng chen lấn và xô lấn ồ ạt bất khả kiểm soát rất nguy hiểm cho chính đám đông, (như đã từng xẩy ra ở những cuộc hành hương hằng năm quá đông của tín đồ Hồi giáo), hơn là cho chính bản thân Chúa Kitô, nhờ đó việc giảng dạy và chữa lành của Người được dễ dàng thực hiện hơn, Chúa Giêsu mới khôn ngoan phản ứng, như bài Phúc Âm hôm nay thuật lại:
"Vì đông dân chúng, nên Người bảo các môn đệ liệu cho Người một chiếc thuyền, kẻo họ chen lấn Người. Vì chưng, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân, nên bất cứ ai mắc bệnh tật gì đều đến gần để động đến Người".
Sự kiện Chúa Giêsu ngồi trên thuyền mà giảng dạy dân chúng đây chẳng những cho thấy cách thức giải quyết hết sức hữu hiệu và tốt đẹp về hiện tượng đám đông vây quanh Người, gây cản trở cho việc giảng dạy và chữa lành của Người, mà còn cho thấy hình ảnh của một chuyên viên thả lưới đánh cá gần bờ nhất mà lại bắt được nhiều cá nhất, và toàn là những con cá không phải ở dưới nước nhưng là ở trên bờ, trên cạn.
Chưa hết, tầm ảnh hưởng của "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này chẳng những liên quan đến đám đông dân chúng thuộc một vùng địa dư khắp đất nước Do Thái thời ấy, tức liên quan đến thế giới hữu hình này, mà còn đến cả thế giới vô hình nữa là thế giới của ma quỉ, thế giới của những thực thể vô hình đã nhận biết được chính căn tính thần linh của Người, dù Người chưa kịp khu trừ chúng. Bởi thế, mới xẩy ra chuyện được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại ở đoạn cuối như sau:
"Và những thần ô uế vừa thấy Người, liền sụp lạy và kêu lên rằng: 'Ngài là
Con Thiên Chúa', nhưng Người nghiêm cấm chúng không được tiết lộ gì về
Người'".
Chính việc "Người nghiêm cấm chúng không được tiết lộ gì về Người" đã đủ chứng tỏ Người công nhận sự thật của lời ma quỉ vốn dối trá tuyên xưng, tức Người thật là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", và sở dĩ một đàng Người đang muốn từ từ tỏ mình ra Người đúng là "Con Thiên Chúa" như thế, đàng khác Người lại "cấm chúng không được tiết lộ gì về Người" là vì chưa đến giờ của Người, chưa đến đúng thời điểm của Người, và chính Người phải tự tỏ mình ra mới xác thực hơn bất cứ chứng từ nào khác, kể cả chứng từ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả cũng chỉ là những chứng từ tuy cần nhưng mang tính chất phụ thuộc (xem Gioan 5:34,8:14,10:25).
Nếu trong bài Phúc Âm hôm nay, tầm ảnh hưởng của Chúa Giêsu chẳng những liên quan đến thế giới hữu hình mà còn đến cả thế giới vô hình thế nào, thì trong Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cũng cho thấy tầm ảnh hưởng ban đầu nhưng đầy mãnh liệt xuất phát từ vị vua tương lai của dân Do Thái là chàng Đavít, như Sách Samuel quyển thứ nhất thuật lại:
"Trong những ngày ấy, sau khi hạ sát tên Philitinh, Ðavít trở về, các phụ nữ từ mọi thành phố Israel đều tuôn ra ca hát nhảy múa với đàn địch trống phách, vui vẻ đón vua Saolê. Các phụ nữ nhảy múa xướng hoạ rằng: 'Saolê giết một ngàn, và Ðavít giết mười ngàn'".
Tầm ảnh hưởng của chàng Đavít nơi thế giới hữu hình được phản ảnh ở lời xưng tụng của "các phụ nữ từ mọi thành phố Israel" này, một tầm ảnh hưởng còn vượt qua cả tầm ảnh hưởng của vị vua đương kim Saulê bấy giờ, đã ảnh hưởng đến cả thế giới vô hình nữa là ý đồ đen tối hận thù trong lòng của vị vua đương kim theo chiều hướng của quyền lực tối tăm ấy, như cùng bài đọc cho thấy:
"Saolê bực tức lắm, vì lời ca ấy làm phật lòng ông, ông nói: 'Họ tặng Ðavít mười ngàn, còn Ta chỉ có một ngàn, như vậy y chỉ còn thiếu có ngai vàng'. Từ ngày đó trở đi, Saolê nhìn Ðavít với vẻ mặt căm tức. Saolê bàn với con ông là Gionathan và tất cả những cận thần của ông để sát hại Ðavít".
Chưa hết, tầm ảnh hưởng của chàng Đavít còn chiếm được cả tâm hồn của chính đứa con trai của vị vua đương kim là Gionathan nữa, nhân vật đã đóng vai môi giới cho Đavít để cứu cả Đavít khỏi bị sát hại và cứu cả vương phụ của mình khỏi mắc tội sát hại kẻ vô tội. Nhờ đó, thế giới vô hình nơi vị vua đương kim đã tái chấp nhận địch thù cũng là đối thủ của ông:
"Saolê nghe Gionathan nói như vậy thì nguôi giận mà thề rằng: 'Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, nó sẽ không bị giết'. Gionathan gọi Ðavít và thuật lại cho anh nghe tất cả các lời ấy, rồi dẫn Ðavít đến trước Saolê, và anh hầu cận Saolê như trước".
Bài Đáp Ca hôm nay thực sự phản ảnh tâm trạng và tâm tình của chàng Đavít trong giai đoạn vừa mới xuất đầu lộ diện một cách huy hoàng cả về tư cách lẫn sự nghiệp thì liền trở thành nạn nhân của thời cuộc, đúng hơn thành nạn nhân của lòng người, nhưng chàng vẫn tin tưởng vào Thiên Chúa và cầu khẩn cùng Ngài là Đấng duy nhất có thể cứu chàng khỏi tất cả mọi sự dữ và kẻ dữ:
2) Con đường lưu vong của con, Ngài đã biết, lệ sầu của con đã được chứa trong bầu da của Ngài, chúng há chẳng được ghi trong sổ sách của Ngài ư? Hễ bao giờ con kêu cầu Chúa, lúc đó quân thù con sẽ tháo lui.
3) Con biết chắc điều này là Thiên Chúa phù trợ con. Nhờ ơn Thiên Chúa là Ðấng mà con ca tụng lời hứa, con tin cậy vào Thiên Chúa, con không kinh hãi, con người phàm kia làm chi hại được con.
4) Ôi Thiên Chúa, con mắc nợ những điều con khấn cùng Ngài, con sẽ tiến Ngài lễ vật bằng lời ca tụng. Vì Ngài đã cứu mạng con thoát khỏi tử thần, và cứu chân con khỏi quỵ ngã, để con được tiến thân trước nhan Thiên Chúa, trong ánh thiều quang của cõi nhân sinh.
Thứ Sáu
Lời
Chúa
Bài Ðọc I: (năm
II) 1
Sm 24, 3-21
"Tôi sẽ không ra
tay sát hại người, vì người là Ðấng xức dầu của Chúa".
Trích sách Samuel quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, Saolê đem ba ngàn người được tuyển chọn trong toàn dân
Israel và đi tìm Ðavít và các người theo ông, cho đến những mỏm đá cao dốc
rất hẻo lánh, nơi chỉ có những con dê rừng lui tới. Ông đến các chuồng chiên
ở vệ đường. Nơi đây có một cái hang, Saolê vào đó đi việc cần. Ðavít và
những người theo ông đang núp phía trong hang.
Các người đầy tớ nói với Ðavít rằng: "Ðây là ngày Chúa phán cùng ông: Ta
trao thù địch của ngươi cho ngươi, để ngươi đối xử với hắn thế nào tuỳ ý
ngươi". Vậy Ðavít đứng lên, lén cắt một mảnh chiến bào của Saolê. Sau đó
Ðavít hối hận, vì đã cắt áo chiến bào của Saolê. Ông nói với các người theo
ông rằng: "Xin Chúa thương tôi, đừng để tôi làm việc này cho chủ tôi, đấng
Chúa xức dầu, là ra tay sát hại vua, vì vua là đấng xức dầu của Chúa". Ðavít
ngăm đe những người theo ông không được phép xông vào Saolê. Saolê đứng lên
ra khỏi hang và tiếp tục cuộc hành trình. Ðavít cũng đứng dậy đi theo Saolê
ra khỏi hang và gọi giật sau lưng vua rằng: "Tâu đức vua". Saolê nhìn lại
đàng sau, Ðavít sấp mình kính lạy và nói cùng Saolê rằng:
"Tại sao bệ hạ lại nghe những lời người ta đồn thổi rằng: Ðavít toan làm hại
bệ hạ. Ðây hôm nay chính mắt bệ hạ thấy rằng: trong hang, Chúa đã trao bệ hạ
vào tay tôi. Tôi đã tưởng giết bệ hạ, nhưng tôi thương hại bệ hạ, vì tôi đã
nói: Tôi không ra tay sát hại chủ tôi, vì người là đấng xức dầu của Chúa.
Hơn thế nữa, cha ôi, hãy nhìn xem mảnh chiến bào của bệ hạ trong tay tôi, vì
khi xén vạt chiến bào của bệ hạ, tôi không muốn ra tay sát hại bệ hạ. Xin bệ
hạ hãy nhận biết rằng tay tôi không làm điều ác và bất công, tôi không phạm
đến bệ hạ, nhưng bệ hạ cứ âm mưu hãm hại mạng sống tôi. Xin Thiên Chúa xét
xử cho bệ hạ và tôi, và xin Chúa báo thù cho tôi. Nhưng tay tôi sẽ không
phạm đến thân bệ hạ. Như ngạn ngữ xưa có nói "Ác giả ác báo", nhưng tay tôi
cũng sẽ không phạm đến bệ hạ. Hỡi vua Israel, bệ hạ bắt bớ ai? Bệ hạ bắt một
con chó chết, một con bọ chét sao? Xin Chúa làm quan án và xét xử cho tôi và
bệ hạ, xin Chúa nhìn xem và xét xử vụ này mà giải thoát tôi khỏi tay bệ hạ".
Ðavít vừa dứt lời, Saolê liền nói: "Hỡi Ðavít con ta, có phải tiếng đó là
tiếng của con không?" Saolê cất tiếng khóc và nói cùng Ðavít rằng: "Con công
chính hơn cha, con làm ơn cho cha mà cha trả oán cho con. Hôm nay con vạch
rõ, con đối xử nhân đạo với cha, vì mặc dầu Chúa đã trao cha vào tay con mà
con cũng không giết cha. Nào có ai gặp kẻ thù mà để nó đi yên lành không?
Vậy xin Chúa báo đáp lại cho con về ân huệ mà con đã làm cho cha trong ngày
hôm nay. Nay cha biết chắc rằng con sẽ làm vua, và con sẽ nắm mãi mãi trong
tay con vương quốc Israel".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 56, 2. 3-4. 6 và 11
Ðáp: Nguyện xót thương con, lạy Chúa, nguyện xót
thương con (c. 2a).
Xướng: 1) Nguyện xót thương con, lạy Chúa, nguyện xót thương con, vì linh
hồn con tìm đến nương tựa Ngài. Con nương nhờ bóng cánh của Ngài, cho tới
khi cơn hoạn nạn qua đi. - Ðáp.
2) Con kêu lên Thiên Chúa Tối Cao, Thiên Chúa thực hiện cho con điều lành.
Nguyện Chúa tự trời thi ân và cứu độ con, làm cho những người bách hại con
phải nhục nhã, nguyện Chúa tỏ ra ân sủng và lòng trung tín của Ngài. - Ðáp.
3) Lạy Chúa, xin Ngài hiện ra cao cả trên trời, xin tỏ vinh quang Ngài ra
trên toàn cõi đất, vì đức từ bi Chúa cao tới cõi trời, và lòng trung tín
Ngài chạm ngàn mây. - Ðáp.
Alleluia: Ga 10, 27
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết
chúng và chúng theo Ta". - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 3, 13-19
"Người gọi những
kẻ Người muốn gọi để họ ở cùng Người".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn gọi, và họ đến cùng
Người. Người chọn mười hai vị để theo Người, và sai các ông đi giảng và ban
cho các ông quyền trừ quỷ. Mười hai vị ấy là: Simon mà Người đặt tên là
Phêrô, Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan là em Giacôbê, (cả hai được Người
đặt tên là Boanerges, nghĩa là con của sấm sét), rồi đến Anrê, Philipphê,
Bartôlômêô, Matthêu, Tôma, Giacôbê con ông Alphê, Tađêô, Simon nhiệt tâm, và
Giuđa Iscariô là kẻ nộp Người.
Ðó là lời Chúa.


Suy
niệm
Đức Kitô tuyển chọn
Hôm nay, Thứ Sáu Tuần 2 Thường Niên hậu Giáng Sinh, chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh được tỏ hiện nơi việc Người làm như bài Phúc Âm hôm nay thuật lại sau đây:
"Khi ấy, Chúa Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn gọi, và họ đến cùng
Người. Người chọn mười hai vị để theo Người, và sai các ông đi giảng và ban
cho các ông quyền trừ quỷ".
Phải, "Người Con duy nhất đến từ Cha", một Người Con "đầy ân sủng và chân lý" trong bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: thứ nhất ở chỗ Người có quyền tuyển chọn "những kẻ Người muốn gọi"; thứ hai ở chỗ Người thu hút được những ai Người muốn tuyển chọn "và họ đến cùng Người... để theo Người" như Người mong muốn; thứ ba ở chỗ Người có quyền truyền khiến trong việc "sai các vị đi rao giảng"; thứ bốn ở chỗ Người có thể "ban cho các ông quyền trừ quỷ".
Trong danh sách liệt kê những chàng thanh niên thuộc nhóm 12 môn đệ kể như ưu tú vì được chọn làm tông đồ (liên quan đến hàng giáo phẩm sau này), người ta thấy danh sách này bao gồm đủ mọi thành phần khác biệt. Về nghề nghiệp, từ đánh cá, như hai cặp anh em Simon và Anrê, Giacôbê và Gioan, đến thu thuế như Mathêu. Về bản chất, từ khuynh hướng ngờ vực như Toma đến khuynh hướng phản bội như Giuđa Ích-Ca. Về tính cách, từ trầm lặng như Bartholomeo, Giacobe con Alphe và Tadeo đến năng động như Philiphe và Simon nhiệt tâm.
Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" mà lại có thể chọn một người môn đệ sẽ phản nộp Người sau này? Phải chăng vì Người lầm, hay là cố ý như vậy?? Nếu Người chắc chắn không thể nào lầm thì Người cố ý chọn người môn đệ sẽ phản nội Người sau này để làm gì???
Phải chăng chính sự kiện Người cố ý chọn cả người môn đệ sẽ phản nộp Người sau này là chứng cớ hùng hồn và chân thực nhất cho thấy "Người Con duy nhất đến từ Cha" này "đầy ân sủng và chân lý"!?!
Ở chỗ, Người yêu thương hết mọi người không trừ ai, dù tốt hay xấu, dù giỏi hay dở, dù khôn hay dại v.v., và tình yêu của Người là tình yêu vô cùng bất tận, một tình yêu theo bản tính nhân loại của Người "đã yêu cho đến cùng" (Gioan 13:1): Người đã yêu cả người môn đệ được liệt kê cuối "cùng" này trong cả 3 danh sách tông đồ ở bộ 3 Phúc Âm Nhất Lãm, và Người yêu người môn đệ này "cho đến cùng" ở chỗ cũng cúi xuống rửa chân cho cả người môn đệ cuối "cùng" này nữa.
Thành phần môn đệ được Chúa Giêsu tuyển chọn làm tông đồ của Người, và được Người đặc biệt tỏ mình ra cho, nhờ đó thấu hiểu Người mà trở nên thành phần chứng nhân tiên khởi của Người sau này, là thành phần được Người sử dụng như tấm gương phản chiếu Người "là ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12): "Các con là ánh sáng thế gian. Một thành xây trên núi không thể bị che khuất được nữa" (Mathêu 5:14).
Chính vì bản chất của thành phần môn đệ làm tông đồ chứng nhân cần phải tỏa chiếu ánh sáng là Chúa Kitô như thế mới có chi tiết ở ngay đầu của bài Phúc Âm hôm nay: "Chúa Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn gọi, và họ đến cùng Người". Nếu Chúa Giêsu "lên núi" (ám chỉ Người ở một tầm mức trổi vượt, cao vời, tầm mức lý tưởng) để gọi một số các môn đệ của Người thì ai đáp ứng lời kêu gọi của Người cũng phải "lên núi" với Người, như các tông đồ đã thực hiện, ở chỗ "và họ đến cùng Người".
Nếu bài Phúc Âm hôm nay bao gồm cả thành phần môn đệ tốt lành lẫn không tốt lành, bao gồm cả chiều cao trọn lành "lên núi" theo lý tưởng được kêu gọi lẫn những yếu hèn theo bản tính loài người vẫn còn tiềm ẩn nơi bản thân mỗi người môn đệ được tuyển chọn này, thì Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cũng bao gồm cả lành lẫn dữ, cả tốt lẫn xấu, mà lành thắng dữ v.v. nơi câu chuyện được Sách Samuel quyển 1 thuật lại về sự kiện "Saolê đem ba ngàn người được tuyển chọn trong toàn dân Israel và đi tìm Ðavít và các người theo ông".
Lý do Vua Saulê làm như vậy là vì vua lại bị quyền lực tối tăm tiếp tục ám ảnh trong mối ghen hờn về tầm ảnh hưởng của chàng Đavít trên dân chúng sau biến cố chàng thắng được đối thủ khổng lồ Gồliát, đến độ vua đã không thể chống cưỡng được ý đồ sát hại đối thủ Đavít của mình.
Chính cái cả giận mất khôn đã làm cho vua trở thành mù quáng, đến độ vua đã làm một việc chẳng khác gì như một đứa trẻ con. Ở chỗ, thay vì vua sai quân quốc đi lùng giết địch thù của mình, thì đích thân vua là một vị vua oai nghi lẫm liệt lại kéo một đoàn quân hùng hậu đi lùng giết một bầy tôi thấp hèn chẳng có bao nhiêu thuộc hạ của vua.
Thế nhưng, Thiên Chúa vẫn không bỏ vua, vẫn lợi dụng hoàn cảnh của chính việc vua làm để đánh động vua. Bởi thế, vua đã lọt ngay vào tay Đavít, lọt ngay vào chính cái hang động Đavít đang ẩn nấp vua: "Nơi đây có một cái hang, Saolê vào đó đi việc cần. Ðavít và những người theo ông đang núp phía trong hang".
Như Chúa Giêsu dù biết môn đệ Giuđa Íchca phản bội vẫn tuyển chọn và yêu thương cho đến cùng, Thiên Chúa cũng đã sử dụng ngay con người là địch thù kiếm đối thủ không đội trời chung của vua là chàng Đavít trẻ trung ngây thơ vô tội để tha cho vua, không sát hại vua, cho dù chàng có thể làm điều đó về cả thể lý lẫn luân lý, thế nhưng chàng đã không dám làm không phải vì nhát sợ mà là vì tôn kính vua:
"Các người đầy tớ nói với Ðavít rằng: 'Ðây là ngày Chúa phán cùng ông: Ta trao thù địch của ngươi cho ngươi, để ngươi đối xử với hắn thế nào tuỳ ý ngươi'. Vậy Ðavít đứng lên, lén cắt một mảnh chiến bào của Saolê. Sau đó Ðavít hối hận, vì đã cắt áo chiến bào của Saolê. Chàng nói với các người theo mình rằng: 'Xin Chúa thương tôi, đừng để tôi làm việc này cho chủ tôi, đấng Chúa xức dầu, là ra tay sát hại vua, vì vua là đấng xức dầu của Chúa'. Ðavít ngăm đe những người theo mình không được phép xông vào Saolê".
Và quả nhiên, thái độ cao thượng đầy bác ái yêu thương đối với kẻ tìm sát hại mình và tôn kính vị bề trên được Thiên Chúa tuyển chọn của mình, mà chàng Đavít đã tỏ ra, thật sự đã mỹ mãn mang lại kết quả tốt đẹp ngoài lòng mong ước, như được cùng bài đọc thuật lại như thế này:
"Saolê đứng lên ra khỏi hang và tiếp tục cuộc hành trình. Ðavít cũng đứng dậy đi theo Saolê ra khỏi hang và gọi giật sau lưng vua rằng: 'Tâu đức vua'. Saolê nhìn lại đàng sau, Ðavít sấp mình kính lạy và nói cùng Saolê ... Ðavít vừa dứt lời, Saolê liền nói: 'Hỡi Ðavít con ta, có phải tiếng đó là tiếng của con không?' Saolê cất tiếng khóc và nói cùng Ðavít rằng: 'Con công chính hơn cha, con làm ơn cho cha mà cha trả oán cho con. Hôm nay con vạch rõ, con đối xử nhân đạo với cha, vì mặc dầu Chúa đã trao cha vào tay con mà con cũng không giết cha. Nào có ai gặp kẻ thù mà để nó đi yên lành không? Vậy xin Chúa báo đáp lại cho con về ân huệ mà con đã làm cho cha trong ngày hôm nay. Nay cha biết chắc rằng con sẽ làm vua, và con sẽ nắm mãi mãi trong tay con vương quốc Israel'".
Bài Đáp Ca hôm nay vẫn tiếp tục phản ảnh tâm tình tin tưởng của chàng Đavít (câu 1) trong Bài Đọc 1 hôm nay nơi Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất là Đấng chẳng những bảo vệ chở che chàng (câu 2) mà còn từ bi nhân ái với cả kẻ tìm hại mạng sống của chàng nữa (câu 3):
1) Nguyện xót thương con, lạy Chúa, nguyện xót thương con, vì linh hồn con
tìm đến nương tựa Ngài. Con nương nhờ bóng cánh của Ngài, cho tới khi cơn
hoạn nạn qua đi.
2) Con kêu lên Thiên Chúa Tối Cao, Thiên Chúa thực hiện cho con điều
lành. Nguyện Chúa tự trời thi ân và cứu độ con, làm cho những người bách hại
con phải nhục nhã, nguyện Chúa tỏ ra ân sủng và lòng trung tín của Ngài.
3) Lạy Chúa, xin Ngài hiện ra cao cả trên trời, xin tỏ vinh quang Ngài ra trên toàn cõi đất, vì đức từ bi Chúa cao tới cõi trời, và lòng trung tín Ngài chạm ngàn mây.
Thứ Bảy
Lời
Chúa
Bài Ðọc I: (năm
II) 2
Sm 1, 1-4, 11-12. 19. 23-27
"Cớ sao các anh
hùng lại ngã gục trên chiến trường như thế?"
Khởi đầu sách Samuel quyển thứ hai.
Trong những ngày ấy, sau khi thắng quân Amalec, Ðavít trở về, và tạm nghỉ
hai ngày tại Sicelê. Qua ngày thứ ba, có người từ trại quân của Saolê trở
về, áo quần rách nát, đầu tóc đầy bụi bặm, anh đến trước mặt Ðavít sấp mình
kính lạy. Ðavít hỏi anh: "Ngươi từ đâu tới?" Anh ta trả lời: "Tôi trốn từ
trại quân Israel về". Ðavít lại hỏi: "Có chuyện gì xảy ra đó, hãy kể lại cho
ta nghe". Anh ta nói: "Dân chúng chạy trốn khỏi chiến trường, nhiều người
trong dân đã bị hạ sát, vua Saolê và thái tử Gionathan cũng tử trận".
Ðavít liền xé áo mình ra, các người hầu cận của ông cũng làm như thế. Tất cả
đều than van khóc lóc và ăn chay cho tới chiều để chịu tang vua Saolê, thái
tử Gionathan, dân Chúa và nhà Israel, vì họ ngã gục dưới lưỡi gươm. (Và
Ðavít đã khóc rằng:)
"Các nhân tài Israel đều bị giết trên núi. Cớ sao các anh hùng bị ngã gục
như thế?
"Saolê và Gionathan đáng yêu đáng quý, khi sống cũng như khi chết, họ không
hề lìa nhau. Họ lanh lẹ hơn chim phượng hoàng, và hùng dũng hơn loài sư tử.
Hỡi thiếu nữ Israel, hãy than khóc Saolê đi, người đã mặc cho các cô áo điều
sặc sỡ, đã gắn lên y phục các cô những đồ nữ trang bằng vàng.
"Cớ sao các anh hùng lại ngã gục trên chiến trường như thế?
"Gionathan đã bị giết trên đồi cao. Hỡi anh Gionathan, tôi thương tiếc anh.
Tôi yêu mến anh, và tình bạn giữa đôi ta cao quý hơn tình yêu phụ nữ.
"Cớ sao mà các anh hùng lại ngã gục như thế? Cớ sao binh khí lại bị phá huỷ
như thế?"
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 79,
2-3. 5-7
Ðáp: Lạy
Chúa, xin tỏ thiên nhan hiền từ Chúa ra, hầu cho chúng con được ơn cứu sống
(c. 4b)
Xướng: 1) Lạy Ðấng chăn dắt của Israel, xin hãy lắng tai! Chúa là Ðấng chăn
dẫn Giuse như thể bầy chiên. Chúa ngự trên các Vệ Binh Thần, xin hiện ra
trong sáng láng, trước mặt con cháu Ephraim, Bengiamin và Manassê. Xin thức
tỉnh quyền năng của Chúa, và ngự tới để cứu độ chúng con. - Ðáp.
2) Lạy Chúa thiên binh, Chúa còn thịnh nộ tới bao giờ, bởi vì dân Chúa đang
dâng lời khẩn nguyện? Chúa nuôi chúng con bằng cơm bánh trộn giọt châu, và
cho chúng con uống bằng nước mắt chảy tràn trề. Chúa biến chúng con thành
miếng mồi cho lân bang tranh chấp, và quân thù phỉ báng chúng con. - Ðáp.
Alleluia: Ga 14,
5
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống,
không ai đến được với Cha mà không qua Thầy". - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 3,
20-21
"Những thân nhân
của Người nói: Người đã mất trí".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ
xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được. Những thân nhân của Người hay tin
đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: "Người đã mất trí".
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Đức Kitô "mất trí"
Ngày Thứ Bảy hôm nay trong Tuần 2 Thường Niên hậu Giáng Sinh là ngày duy nhất trong riêng tuần này và chung phụng niên có bài Phúc Âm ngắn nhất, chỉ với 2 câu vắn vỏi (Marco 3:20-21).
Một số ngày khác trong tuần suốt phụng niên đặc biệt là của Mùa Thường Niên cũng có những bài Phúc Âm chỉ có 3 câu đã thấy ngắn lắm rồi, như trong Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh có Thứ Hai Tuần 6 (Marco 8:11-13) hay Thứ Tư Tuần VIII (Marco 9:38-40), hoặc trong Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh, có Thứ Tư Tuần X (Mathêu 5:17-19), Thứ Tư tuần XVII (Mathêu 13:44-46), Thứ Hai và Thứ Ba Tuần XXV (Luca 8:16-18 và 19-21), thế mà hôm nay bài Phúc Âm còn ngắn hơn nữa.
Tuy nhiên, không phải vì cái ngắn thật là ngắn chưa từng có này của bài Phúc Âm hôm nay đã không tiếp tục phản ảnh chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh, cho dù nội dung và ý nghĩa của bài Phúc Âm có vẻ hoàn toàn ngược lại:
"Khi ấy Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được. Những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'".
Thật thế, trong bài Phúc Âm hôm nay, ngay câu thứ nhất trong hai câu, Thánh ký Marco vẫn cho thấy hình ảnh nổi nang và tầm ảnh hưởng mãnh liệt của "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", ở chỗ: "Khi ấy Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được".
Thánh ký Marco không cho chúng ta biết việc "Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà" đây là ở đâu, chỗ nào, nhà ai? Phải chăng là chính nhà của Người ở Nazarét, vì chi tiết được vị Thánh ký cho biết ngay sau đó là: "Những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'"?
Theo tiến trình di chuyển của Chúa Giêsu cùng với các môn đệ của Người, được Thánh ký Marco thứ tự thuật lại, từ tuần mở đầu Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh cho đến hôm nay, thì ngôi nhà này có thể là nhà của anh em Simon và Anrê, nơi Người đã đến lần đầu tiên trong bài Phúc Âm Thứ Tư tuần trước, nơi Người đã chữa cho bà nhạc của chàng Simon khỏi cảm cúm cùng với các bệnh nạn tật nguyền khác của dân chúng tuốn đến với Người vào chính hôm đó, và cũng có thể nói là nơi Người đã chữa lành cho một người bất toại được thả xuống từ trên nóc nhà để tránh đám đông đứng chật trong ngoài ngôi nhà này, ở bài Phúc Âm Thứ Sáu tuần trước.
Có cái lạ là trong khi Chúa Giêsu đang nổi nang và đầy thu hút dân chúng như vậy thì "những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'". Tại sao họ lại có thái độ và hành động hoàn toàn ngược chiều với quần chúng như vậy?
Phải chăng "Người đã mất trí" là vì "Người không dùng bữa được" bởi "dân chúng đông đảo lại đổ xô tới"? Nếu thế thì khi tới nơi họ lại càng cần phải trợ giúp Người để nhờ đó Người có thể dùng bữa được như họ mong muốn, bằng cách họ tạm trấn an dân chúng và cung cấp thực phẩm cho Người ăn uống ngay lúc bấy giờ, chứ tại sao họ lại muốn "bắt Người đi" là làm sao? "Bắt Người đi" đâu?? "Bắt Người đi" khỏi chỗ đó để làm gì??? Chẳng lẽ để mang Người tới một bệnh viện tâm thần (mental health hospital) để Người được chữa trị, hay để chính họ cùng nhau chữa trị cho Người, vì "Người đã mất trí"!?
Nếu không thì vấn đề tiếp tục được đặt ra ở đây sẽ như thế này: họ "hay tin đó" là tin gì về Người? Tin Người "trở về nhà", hay tin "dân chúng đông đảo lại đổ xô tới", hoặc tin "Người không dùng bữa được"? Hay cả 3 tin một lúc: "Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được"? Hoặc chỉ có một tin nào trong 3 tin ấy đã khiến họ phải thốt lên một cách hết sức bất mãn về Người: "Người đã mất trí", tới độ họ không chịu được nữa và cần phải nhúng tay can thiệp ngay để "bắt Người đi"?
Để giải đáp vấn đề này, chúng ta cần biết thành phần "những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người" đây là ai? Dù không biết rõ từng người trong họ, chúng ta cũng có thể khẳng định mà không sợ sai lầm rằng không có Mẹ của Chúa Giêsu rồi đó. Không ai hiểu Chúa Giêsu hơn Mẹ Maria. Mẹ chẳng bao giờ cho Con Mẹ là "mất trí" cần phải "bắt đi" như những người "thân nhân" nào đó đã có thái độ và hành động đủ cho thấy là chính họ mới là một nạn nhân đang bị "mất trí" đáng thương mà không biết!
Thật ra, nếu chúng ta đọc thêm bài Phúc Âm hôm nay một chút nữa, ngay sau câu 21 cuối bài sang đầu câu 22, một câu thuộc về bài Phúc Âm cho Thứ Hai Tuần III Thường Niên tuần tới, sẽ thấy một mệnh đề trước (câu 21) cách mệnh đề sau (câu 22) bằng dấu chấm phẩy (;), chúng ta sẽ thấy một chi tiết liên quan có thể làm sáng tỏ vấn đề như sau: "trong khi đó, những luật sĩ từ Giêrusalem xuống nói rằng: 'Ông ấy bị quỷ Belgiêbút ám', và nói thêm rằng: 'Chính nhờ tướng quỷ mà ông ấy trừ quỷ'".
À... thì ra thế, "những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'" lý do là vì họ nghe thấy những tin tức xuyên tạc về Người từ thành phần luật sĩ thông luật hơn dân chúng và dạy luật cho dân chúng vốn không tin tưởng Người, vốn không khâm phục Người, không biết có phải vì họ đang hậm hực ghen tức với Người, bởi ảnh hưởng quá mãnh liệt của Người trong quần chúng trổi vượt hơn họ, nên họ đang muốn tìm hết cách để hạ bệ Người xuống, bằng những thứ chụp mũ, xuyên tạc và bôi nhọ Người hay chăng?
Kết quả là Người vẫn còn đó, chẳng những không bị thân nhân của Người "bắt đi", vì Người chẳng "mất trí" như các thân nhân của Người tưởng, trái lại, Người còn quá khôn ngoan đến độ làm cho thành phần luật sĩ này bị cứng họng, bằng cách Người đã sử dùng gậy ông đập lưng ông, như chúng ta sẽ thấy trong Bài Phúc Âm Thứ Hai tuần tới.
Nếu thân nhân của Chúa Giêsu sống vào thời của chàng Đavít thì chắc chắn họ cũng sẽ cho Đavít là tên điên điên khùng khùng còn hơn cả Chúa Giêsu nữa, bởi vì anh chàng này đã khóc thương kẻ thù của mình là Vua Saulê, kẻ đã lùng giết chàng 2 lần (xem 1Samuel nguyên đoạn 24 và nguyên đoạn 26), sau khi nghe tin con người ấy cùng với thái tử Gionathan của vua bị tử trận:
"Ðavít
liền xé áo mình ra, các người hầu cận của ông cũng làm như thế... (Và Ðavít
đã khóc rằng:) 'Các nhân tài Israel đều bị giết trên núi. Cớ sao các anh
hùng bị ngã gục như thế? Saolê và Gionathan đáng yêu đáng quý,
khi sống cũng như khi chết, họ không hề lìa nhau. Họ lanh lẹ hơn chim phượng
hoàng, và hùng dũng hơn loài sư tử. Hỡi thiếu nữ Israel, hãy than khóc
Saolê đi, người đã mặc cho các cô áo điều sặc sỡ, đã gắn lên y phục các
cô những đồ nữ trang bằng vàng".
Bài Đáp Ca hôm nay như âm vang tâm tình thương khóc của chàng Đavít trong Bài Đọc 1 hôm nay về cái chết của "các nhân tài Israel" trong trận chiến bị thảm bại trước quân Amaleck là quân trước đây Saulê đã thắng trận vẻ vang nhưng đã không tận diệt họ theo lệnh Thiên Chúa, như Bài Đọc 1 Thứ Hai tuần này đã cho thấy, thế nhưng, chính nhờ cuộc thất trận quá thảm bại này đã tác động dân Do Thái hướng về Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của mình (câu 1) và xin Ngài tha thứ mà cứu độ họ (câu 2):
1) Lạy Ðấng chăn dắt của Israel, xin hãy lắng tai! Chúa là Ðấng chăn dẫn Giuse như thể bầy chiên. Chúa ngự trên các Vệ Binh Thần, xin hiện ra trong sáng láng, trước mặt con cháu Ephraim, Bengiamin và Manassê. Xin thức tỉnh quyền năng của Chúa, và ngự tới để cứu độ chúng con.
2) Lạy Chúa thiên binh, Chúa còn thịnh nộ tới bao giờ, bởi vì dân Chúa đang dâng lời khẩn nguyện? Chúa nuôi chúng con bằng cơm bánh trộn giọt châu, và cho chúng con uống bằng nước mắt chảy tràn trề. Chúa biến chúng con thành miếng mồi cho lân bang tranh chấp, và quân thù phỉ báng chúng con.
HẠNH THÁNH TRONG TUẦN
Ngày 20: Thánh Sêbastianô, quân nhân tử đạo và thánh Fabianô,
Giáo Hoàng tử đạo

THÁNH FABIANÔ
Giáo Hoàng, Tử Ðạo
Thánh Fabianô lên ngôi thánh Phêrô không phải do người ta bầu ra, cho bằng chính sự chọn lựa của Thiên Chúa. Vào lúc dân chúng và hàng giáo sĩ Roma họp nhau để chọn vị mục tử, thì một cánh chim câu từ trên trời xuống đậu trên đầu Fabiano. Ngài kế vị thánh Anthêrô làm giáo hoàng năm 236.
Do đó, dầu trước kia không ai ngó tới Ngài vì Ngài còn là một giáo dân ngoại quốc, bây giờ mọi người đều lớn tiếng gọi Ngài là người được Chúa chọn. Một cuộc tuyển lựa đặc biệt như vậy vào Giáo hội hàng đầu trong các Giáo hội, chắc chắn phải có những biến cố đáng kể tiếp theo. Nhưng lịch sử lại không lưu giữ kỷ niệm nào.
Ngài được cai quản Giáo hội trong 14 năm, với lòng nhiệt thành lẫn sự khôn ngoan. Ngài đã gửi nhiều nhà truyền giáo sang xứ Gôn (Gaute) và đã kết án nhiều lầm lạc bị gán ghép cách sai trái cho Origenê. Thánh Cyprianô đã tặng cho Ngài danh hiệu “một con người khôn sánh”.
Nét son của thánh Fabianô, giáo hoàng là luôn lưu tâm đến người nghèo và sống đời mục tử hiền lành, bác ái theo gương Thầy chí thánh Giêsu. Thánh nhân được ca tụng như một vị trung tín của Chúa và Hội Thánh.
CON NGƯỜI CỦA GIỚI NGHÈO
Thánh nhân được sinh ra vào thế kỷ 2 và lên ngôi Giáo hoàng vào thời kỳ Hội Thánh đang lâm cơn nguy khốn, bị cấm cách bắt bớ, bị các Hoàng đế Maximinô và Ðêciô ra sức đè bẹp Giáo Hội Chúa Kitô. Thánh nhân vì có lòng xót thương người như Chúa Giêsu khi thấy đoàn lũ dân chúng đi theo Ngài để nghe Lời Người rao giảng, đã chạnh lòng xót thương nói với các môn đệ:” Hãy cho họ ăn”. Dù rằng các môn đệ sợ phiền hà, sợ không đủ lương thực cho một số rất đông dân chúng. Chúa Giêsu đã biết việc Ngài sắp làm, Ngài đã thương dân bơ vơ, vất vưởng, đói khát. Thánh Fabianô đã trao bảy khu vực lớn cho bảy vị phụ tá trong đế quốc Lamã lúc đó và truyền cho các vị phụ tá phải lưu tâm săn sóc giới nghèo trong khu vực mình phụ trách. Thánh Fabianô đã sống đời sống bác ái, chia sẻ, cảm thông và lưu tâm như Chúa Giêsu. Ngài còn lập hội các nhà sưu tầm sử học, viết lại biên niên sử, tiểu sử của các vị tử đạo trong Giáo hội lúc đó. Thánh nhân còn lưu ý đặc biệt canh tân phụng vụ nghi thức thứ năm tuần thánh. Thánh Fabianô đã họa lại hình ảnh nhân từ của Chúa Giêsu, Ðấng đến để phục vụ, chứ không phải để được hầu hạ.
CHÚA YÊU THƯƠNG THÁNH NHÂN VÀ THƯỞNG CÔNG NGÀI
Thánh Fabianô đã lèo lái con thuyền Giáo Hội suốt những năm Hoàng đế Ðiocletianô cấm cách, bắt bớ và muốn vùi dập Giáo Hội cho thuyền đắm chìm, Ngài đã giữ vững tay lái và làm cho Hội Thánh luôn đứng vững. Ngài đã luôn chứng tỏ Chúa Kitô� luôn có mặt:” Ðừng sợ “. Chúa hiện diện giữa lúc thuyền các môn đệ sắp đắm chìm và Chúa can thiệp đúng lúc, nên con thuyền của các tông đồ không bị vùi lấp, không bị lung lay. Thánh Fabianô đã yêu thương người nghèo với tất cả con tim, với tất cả tấm lòng xót thương của mình. Ngài đã được Chúa yêu và cho lãnh nhận triều thiên tử đạo vào ngày 20/01/250.
Lạy Chúa là vinh quang của hàng tư tế, xin nhận lời thánh Fabianô, tử đạo chuyển cầu mà cho chúng con ngày càng thêm hiệp nhất trong đức tin, và nhiệt thành phụng sự Chúa( lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Fabianô, giáo hoàng, tử đạo ).
THÁNH SÊBASTIANÔ TỬ ĐẠO (+ 288)
Hai thành phố Narbona và Milanô đã tranh dành nhau vinh dự được nhìn thấy ngày thánh Sêbastinô chào đời. Người ta có thể nói được thánh Sêbastianô là công dân của cả hai thành phố trên vì cha ngài thuộc dòng quý tộc sinh quán tại Nácbôn và mẹ ngài là công dân của thành phố Milanô.
Với gia cảnh sung túc, Sêbastianô được hấp thụ một nền giáo dục chu đáo cả đức dục lẫn trí dục. Năm 283, Sêbastianô gia nhập quân đội và được cấp chỉ huy tín nhiệm vì nhận thấy ngài có đức tính trung thành, trí minh mẫn và lòng can trường đặc biệt. Dưới đời Hoàng đế Điôclêtianô, Sêbastianô được thăng cấp đại úy trong lữ đoàn ngự lâm quân. Hoàng đế cũng rất quí mến Sêbastianô nên đã cho ngài vào ngay trong triều đình, nhưng Hoàng đế không biết đại úy Sêbastianô là người công giáo, vả ngài cũng không muốn tiết lộ với ai, không phải vì hèn nhát nhưng cốt để có thể dễ dàng giúp đỡ những anh em hiện đang bị giam trong tù ngục vì đức tin.
Trong thời kỳ bách hại dữ dội nhất, hai anh em hiệp sĩ Rôma quý danh là Máccô và Macxenlianô con nhà triệu phú Tranquilinô từ khước không chịu tế thần. Hai chàng đã bị kết án tử hình. Cha mẹ hai chàng là người ngoại giáo xin quan gia hạn thêm ba mươi ngày để có thời giờ khuyên hai con đổi ý. Người ta giao hai người cháu cho viên lục sự toà án tên là Niôstratê quản thúc. Cả hai bị gia đình đến quyến rũ và tấn công liên miên. Giữa lúc hai cháu gần nao núng vì những giọt nước mắt đau xót của cha mẹ, vợ con, anh chị em, chính lúc đó, đại úy Sêbastianô đã đến kịp thời để củng cố đức tin hai chàng. Khi Sêbastianô đang khuyên nhủ hai ông, vợ viên lục sự Nicostratê là Đoê chạy tới phủ phục dưới chân thánh Sêbastianô, làm dấu tỏ ý muốn xin thánh nhân cứu chữa vì bà bị câm đã sáu năm nay.
Thánh Sêbastianô làm dấu thánh giá trên miệng bà, tức thì bà liền nói được và lớn tiếng tuyên xưng đức tin. Trước phép lạ đó, viên lục sự chồng bà cũng đến phủ phục dưới chân sĩ quan hoàng gia để tỏ lòng tri ân. Đồng thời ông xin lỗi hai Kitô hữu mà ông có nhiệm vụ quản thúc; rồi ông cởi xích cho hai chàng và tuyên bố mình muốn được diễm phúc chịu tử đạo như các ngài. Còn gia đình hai Kitô hữu Máccô và Macxêlianô, trước đây đã đua nhau quyến rũ hai ông bỏ đạo thì nay, vì thấy phép lạ trên, đều cương quyết không chịu tế thần như trước nữa. Đồng thời họ lớn tiếng cảm tạ Thiên Chúa và thật tình thống hối những lỗi lầm quá khứ.
Viên lục sự Nicostratê thề quyết không ăn uống gì một khi chưa được chịu phép rửa tội. Sau khi đã tháo xích cho các tù nhân công giáo, ông đưa họ về nhà mình. Còn thánh Sêbastianô vội vã đi đón cha Pôlicapô đến khuyên dậy và rửa tội cho một số tân tòng. Viên coi đề lao Clôtiô hết sức kinh ngạc trước sự kiện kỳ lạ mới xẩy ra. Bấy giờ ông có hai đứa con đang ốm nặng, ông liền đưa hai con đến nhà Nicostratê để xin các người tân tòng chữa bệnh cho con ông. Nhưng họ trả lời: "Chỉ có nhiệm tích rửa tội mới có thể làm được công việc kỳ lạ đó ". Được ơn Thiên Chúa thôi thúc, Clôtiô và cả gia đình đều xin gia nhập hàng ngũ các tân tòng.
Cha Pôlycapô cử hành bí tích rửa tội ngay tại nhà ông Nicostratệ Đại úy Sêbastianô nhận đỡ đầu cho tất cả các tân Kitô hữu. Hai con ông Clotiô vừa ra khỏi giếng rửa tội đều được lành mạnh cả hồn lẫn xác.
Ông già Tranquilinô thân phụ hai anh em Máccô và Macxêlianô bị bệnh thống phong đã 11 năm. Lúc cởi áo để rửa tội, ông cụ cảm thấy đau đớn khác thường. Cha Pôlicapô giúp ông lão cởi áo, đồng thời ngài cho ông hay nếu như ông tin tưởng hoàn toàn vào Chúa Kitô, ông sẽ được Chúa cho khỏi bệnh phần xác khi ngài cho ông khỏi bệnh linh hồn. Ông lão trả lời:
"Tôi thâm tín rằng Chúa Kitô có thể cho tôi được khỏi bệnh cả xác lẫn hồn, nhưng tôi chỉ xin Chúa cho tôi khỏi bệnh phần hồn thôi. Tôi rất sung sướng được dâng lên Chúa Kitô những đau khổ của tôi".
Cha Pôlicapô hỏi ông lão một lần cuối cùng:
"Cụ có tin Thiên Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần không?"
Ông lão thưa: "Con xin tin". Sau khi dìm mình trong giếng rửa tội ông được lành bệnh.
Các tân Kitô hữu còn ở lại nhà ông Nicostratê mười ngày nữa. Dưới sự hướng dẫn khôn ngoan của cha Pôlicapô và đại úy Sêbastianô, mọi người sốt sắng ca hát cảm tạ Thiên Chúa và cùng nhau sửa soạn giao chiến. Ai nấy đều ao ước được diễm phúc chịu chết vì Chúa Kitô.
Thời hạn khoan hồng 30 ngày vừa chấm dứt, quận trưởng Crômaciô cho triệu vời vị lão thành Tranqyuilinô đến. Tới trình diện tỉnh trưởng, nguyên lão nghị viên Traquilinô ung dung đáp: "Thưa quí ngài, thời gian ngài đã đồng ý gia hạn cho tôi như lời tôi xin, để đưa các con về với cha mẹ và để trả lại cha mẹ cho các con, nay đã chấm dứt".
Ông tỉnh trưởng không biết gì về những lời vị lão thành vừa nói. Ông cứ đinh ninh là vị lão thành Tranquilinô đã chiến thắng hai con ông nên ông truyền đưa hương ra để cho Máccô và Macxenlianô dâng cúng các thần minh.
Ngay lúc đó, vị lão thành Tranquilinô đứng phắt dậy tuyên bố ông là Kitô hữu và đồng thời ông kể lại những phép lạ vừa rồi ông được chứng kiến. Tỉnh trưởng Crômaciô cũng bị bệnh thống phong và ông cũng muốn được khỏi như vị lão thành Tranquilinô, ông tuyên bố hoãn phiên toà sang một ngày khác. Chiều tối, ông bí mật cho mời vị lão thành Traquilinô tới tư dinh của ông. Ông khẩn khoản xin ông Tranquilinô mách giùm phương thuốc đã chữa ông khỏi bệnh.
Để trả công, ông hứa sẽ ban tặng nhiều vàng bạc. Nguyên lão nghị viên trả lời: "Chính Đấng Toàn Năng đã chữa tôi và chỉ mình Chúa Kitô mới có quyền lực làm thoả mãn lời yêu cầu của quý ông". Ông tỉnh trưởng xin được gặp vị linh mục đã rửa tội cho Tranquilinô và hy vọng sẽ được khỏi bệnh như các người tân tòng kia. Ông già Tranquilinô vội vã đi mời cha Pôlicapô tới tư dinh tỉnh trưởng. Ông này tỏ bầy nguyện vọng của ông với cha Pôlicapô và hứa hẹn sẽ ban tặng cho vị linh mục nhiều tặng phẩm đặc biệt, một khi ông được khỏi bệnh. Linh mục Pôlicapô trả lời:
"Xin ngài tỉnh trưởng đừng nói đến truyện mặc cả có tính cách buôn bán như thế. Chúa Kitô sẽ soi sáng sự tối tăm của ngài và sẽ chữa ngài lành, đã nếu ngài tin tưởng hoàn toàn nơi Chúa Kitô.
Sau ba ngày ăn chay cầu nguyện, linh mục Pôlicapô và đại úy Sêbastianô tới thăm ông tỉnh trưởng Crômaciô để nói với ông về những đau khổ mà ông đang chịu và đồng thời hai vị cũng nói với ông về những khổ hình bên kia thế giới.
Nghe những điều đó tỉnh trưởng rất sợ hãi, khẩn khoản xin được ghi tên vào sổ các tân tòng. Trong nhà ông còn đầy những thần tượng. Đại úy Sêbastianô lưu ý ông tỉnh trưởng hay, ông không được vừa theo Chúa vừa tôn thờ ma quỉ.
Thánh nhân yêu cầu ông phải huỷ bỏ các thần tượng. Ông đồng ý và định sai đầy tớ làm. Nhưng đại úy Sêbastianô muốn tự tay mình phá không muốn để cho đầy tớ làm. Đại úy nói với ông tỉnh trưởng: "Các tôi tớ của ngài vì còn sống dưới quyền lực của quỷ thần có thể tác hại họ chăng. Tôi xin ngài giao công việc quỷ thần này cho chúng tôi là những Kitô hữu mới có thể phá huỷ các thần tượng này được. Đại úy Sêbastianô bắt đầu cầu nguyện, lòng đầy ơn Chúa, ngài tiến thẳng vào trong đền phá một lúc hai trăm thần tượng tan tành. Trở ra ngoài đại úy hỏi ông tỉnh trưởng xem còn thần tượng nào cần phải huỷ nữa không. Ông tỉnh trưởng Crômaciô thú thực ông còn một phòng khác đầy thần tượng do cha ông để lại mà ông một mực tôn kính. Đại úy Sêbastianô cực lực phản đối lòng tin dị đoan đó, và ngài quả quyết rằng:
"Nếu tỉnh trưởng muốn được khỏi bệnh, thì ông phải phá huỷ tất cả những thần tượng đó đi ".
Tỉnh trưởng ưng thuận. Ngay lúc đó con trai ông tên là Tiburciô từ trong nhà chạy ra hô lớn một giọng đầy căm hờn: "Tôi sẽ đốt hai lò lửa để thiêu sinh Sêbastianô và Pôlicapô, nếu cha tôi không được khỏi bệnh".
Hai vị đồng ý nhận lời thách thức đó và tiếp tục phá huỷ những thần tượng còn sót lại. Lúc đó, một Thiên sứ mặc áo trắng như tuyết hiện đến với Crômaciô và nói: "Chúa Kitô sai tôi tới đây để chữa bệnh cho ngài ". Thiên sứ vừa nói dứt lời, ông tỉnh trưởng liền được khỏi bệnh. Ông vội vã chạy lại định ôm chằm lấy chân viên y sĩ kỳ lạ đó, nhưng Thiên sứ phản đối: "Thưa ngài, ngài không xứng đáng chạm tới sứ thần Thiên Chúa, vì lẽ ngài chưa được tái sinh bởi nước rửa tội ".
Nghe nói thế, tỉnh trưởng Crômaciô liền phủ phục dưới chân linh mục Pôlicapô và đại úy Sêbastianô khẩn khoản xin ai vị rửa tội cho ông. Đại úy Sêbastianô tuyên bố: "Nếu ngài muốn lĩnh nhận nhiệm tích cao quý đó, phải ăn chay và cầu nguyện". Sau nhiều ngày ăn chay và cầu nguyện, ông tỉnh trưởng được đón nhận vào hàng ngũ con cái Giáo Hội. Rồi cả nhà ông đều xin chịu phép rửa tội. Ngày đó đại úy Sêbastianô đã làm cha đỡ đầu cho hơn 1.400 tân tòng.
Các cuộc bách hại càng ngày càng dữ dội. Theo sắc lệnh của Hoàng đế, không ai được mua hay bán gì nếu không chịu tế thần. Ông tỉnh trưởng Crômaciôâ đệ đơn xin từ chức. Lâu đài rộng lớn của ông biến thành nơi hội họp của các Kitô hữu. Tiburciô, con trai ông sau cũng trở lại đạo và là một tín hữu rất nhiệt thành, thánh Sêbastianô rất hăng hái hoạt động tông đồ. Ngày ngày thánh nhân đi vào các trại giam khích lệ và khuyên nhủ các chiến sĩ của Chúa Kitô hăng hái chiến đấu tới giọt máu cuối cùng. Trong thời bách hại, các Kitô hữu thường hội họp ở những nơi kín đạo bí mật tránh những con mắt dòm ngó của công an. Nhưng từ ngày tên phản bội Tôquát tới báo cho công an, các cuộc hội họp thường bị phát giác. Nhờ tên phản phúc Tôquát (Torquat) chỉ điểm công an đã bắt được quả tang Castuliô Tiburciô Maccô và Macxêlianô đang hội họp. Họ liền trói cả bốn người dẫn về tống ngục.
Giữa cơn thử thách dữ dội đó, thánh Sêbastianô đem hết nghị lực và thời giờ rảnh để len lỏi vào các trại thăm viếng và khích lệ các anh em.
Những ngày đen tối nhất của Giáo Hội đã tới, cuộc thanh trừng các Kitô hữu đi đến chỗ gắt gao nhất. Hai anh em Maccô và Macxelianô bị trói vào cột đá một ngày một đêm giữa những lời nguyền rủa và chửi bới của đám quần chúng cuồng nhiệt. Cuối cùng lý hình kết liễu đời hai vị bằng một nhát gươm. Đoê, vợ ông Nicostratê bị họ buộc tóc treo lên một cành cây, rồi đốt lửa dưới chân cho tới khi tắt thở. Vị lão thành Tranquilinô cụ thân sinh của hai anh em Maccô và Macxêlianô, bị ném đá chết ngày 6-7-286; Tiburciô bị chém đầu vào mùa thu năm 286; Castuciô bị chôn sống; Nicostratê và Clôtiô bị buông sông; Crômaciôâ bị xử tử; còn lại một mình Sêbastianô. Trong những ngày sống sót thánh nhân chạy rảo khắp kinh thành Rôma để nâng đỡ và khuyến nhủ các chiến sĩ của Chúa Kitô trong những trận chiến ác liệt nhất. Nhưng đã đến giờ Thiên Chúa gọi thánh nhân về lĩnh nhận triều thiên thiên quốc. Bọn công an để mắt theo dõi từng hành động của thánh nhân. Cuối cùng Sêbastianô bị bọn công an tố cáo với Hoàng đế. Hoàng đế Đêôclêtianô từ lâu vẫn có thiện cảm với Sêbastianô, nên đầu tiên không nghe lời bọn công an tố giác, nhưng rồi nhà vua cũng cho đòi thánh nhân đến để điều tra thực hự Đây là cuộc tra vấn của Hoàng đế.
"Trẫm nghe người ta đồn khanh là người công giáo, có phải không?".
Thánh Sêbastianô trả lời: "Muôn tâu bệ hạ, kẻ hạ thần này là người Công giáo như lời thiên hạ đã đồn đại. Hạ thần tin chắc rằng kẻ nào cầu cứu và tin tưởng ở một khối đá bất động, kẻ đó là người điên dại ."
Nghe nói thế Hoàng đế nhẩy bổ ra khỏi ghế, thét lên vì giận dữ: "Trẫm đã biệt đãi và yêu thương nhà ngươi hết lòng, thế mà nhà ngươi lại dám cả gan bất tuân lệnh của trẫm và nguyền rủa các thần minh như thế sao ?"
Thánh Sêbastianô trả lời: "Muôn tâu bệ hạ, kẻ hạ thần này hằng cầu xin Chúa Kitô bảo vệ đế quốc Hoàng đế và ban cho hoàng đế được ơn cứu rỗi. Hạ thần hằng phụng thờ Thiên Chúa ở trên trời ."
Hoàng đế muốn xử tử ngay tức khắc người chiến sĩ can trường có một của Chúa Kitô, nhưng vì sợ quân lính vẫn còn thiện cảm với vị chủ tướng của họ sẽ nổi loạn để bênh vực vị chỉ huy của họ chăng. Bấy giờ ở kinh thành Rôma, sẵn có một tiểu đoàn binh sĩ ở thuộc địa chuyên nghề bắn cung, mới được tuyển mộ nhập quân đội hoàng gia. Hoàng đế giao cho họ việc xử tử thánh Sêbastianô.
Vâng lệnh hoàng đế, chúng trói thánh nhân lại, điệu ra ngoài thành, lột áo ngoài ra, trói vào cột làm như bia để bắn, thánh Sêbastianô đứng thản nhiên ngước mắt nhìn trời, cảm tạ Thiên Chúa và cầu nguyện cho bọn lý hình. Lệnh vừa ban hành, bọn cung thủ thi nhau bắn như mưa vào thánh nhân, những mũi tên ác liệt tưởng đã kết liễu đời người chiến sĩ. Đêm đến, bà Idiêu, vợ ông Castuliô lén đến tháo xác ngài ra đem an táng. Nhưng khi sờ đến xác, thấy xác thánh nhân còn nóng và thoi thóp thở. Bà cõng thánh nhân về nhà bà ở ngay trong khu hoàng cung. Nhờ sự săn sóc cẩn thận của bà, thánh Sêbastianô dần dà bình phục.
Mọi người đều tưởng thánh Sêbastianô đã chết. Nhưng thánh nhân không muốn để mất triều thiên tử đạo. Trong lúc lòng đầy nhiệt thành hăng hái, thánh nhân nẩy ra ý định sẽ đến trách móc Hoàng đế vì đã xử đãi quá tàn ác với người công giáo. Thánh Sêbastianô lẻn vào cung, nấp dưới chân thang chỗ nhà vua thường qua lại. Quá sợ hãi vì cuộc xuất hiện bất ngờ đó, Hoàng đế tưởng rằng Sêbastianô đã hiện về báo thù, nên định chạy trốn. Nhưng ngay sau đó Hoàng đế đã trấn tĩnh lại được và bắt đầu đối thoại với người mà Hoàng đế ngộ nhận là ma quỷ hiện hình.
"Có phải người là Sêbastianô, mà ta đã truyền bắn chết không?" Thánh nhân bình tĩnh trả lời:
"Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng tôi, đã cho hạ thần được bình phục. Và giờ đây, hạ thần đến đây nhân danh Chúa Kitô, cực lực phản đối những hành động dã man mà Hoàng đế đối xử với các tín hữu của Người". Quá tức giận, Hoàng đế Điôclêtianô truyền bắt và điệu Sêbastianô ra ngoài thành chém đầu tức khắc rồi quăng xác xuống hào. Để thưởng công vị tử đạo đã hai lần bị hành hạ vì Đức tin, Chúa Giêsu đã báo mộng cho một tín hữu sốt sắng là bà Lucina biết nơi lý hình đã vứt xác thánh nhân. Bà này đã đưa xác thánh nhân về an táng trong hang toại đạo gần chỗ dành riêng cho các vị Giáo Hoàng. Ngày nay người ta thường gọi với danh hiệu "Hang toại đạo Thánh Sêbastianô".
Danh tiếng Sêbastianô vang lừng khắp thế giới. Người ta thường cầu khẩn thánh nhân với tước hiệu là vị cứu tinh của bệnh dịch. Khoảng thế kỷ IV, trên mộ thánh nhân, người ta xây một thánh đường nguy nga để dâng kính ngài với danh hiệu: đại thánh đường thánh Sêbastianô.
Hằng năm Giáo Hội mừng lễ thánh nhân vào ngày 20 tháng giêng.
http://giaophanvinhlong.net/thanh-fabiano-thanh-sebastiano.html
Ngày 21 tháng 1
Thánh A-nê, trinh nữ, tử đạo (290-304)
lễ nhớ bắt buộc


Chưa đủ sức chịu khổ mà đã thừa sức chiến thắng
(Phụng Vụ Giờ Kinh Sách ngày 21/1)
Trích khảo luận của thánh Am-rô-xi-ô, giám mục, về các trinh nữ.
Hôm nay là ngày sinh nhật trên trời của một trinh nữ, chúng ta hãy noi gương trong trắng của người. Hôm nay là ngày sinh nhật trên trời của một vị tử đạo, chúng ta hãy dâng hy lễ. Hôm nay là ngày sinh nhật trên trời của thánh A-nê. Tương truyền rằng thánh nữ đã được phúc tử đạo năm mười hai tuổi. Người ta đối xử tàn bạo không nương tay với một thiếu nữ còn ít tuổi, thì lại càng làm lộ ra sức mạnh lớn lao của đức tin nơi thiếu nữ ấy, vì cô đã dám làm chứng.
Tấm hình hài nhỏ bé ấy, liệu có chịu nổi một vết thương chăng ? Người thiếu nữ không có sức chịu nổi lưỡi đòng thâm thâu, thế mà lại có sức thắng được lưỡi đòng ấy, đang khi những cô bé cùng trạc tuổi không chịu được nét mặt nghiêm khắc của cha mẹ, và khi bị kim đâm thì khóc như bị thương nặng.
Người thiếu nữ ấy vẫn bình thản giữa những bàn tay đẫm máu của lý hình, không nhúc nhích khi nghe tiếng xiềng xích nặng nề kéo lê lẻng xẻng. Tuy chưa biết chết là gì, nhưng người thiếu nữ ấy đã sẵn sàng : giờ đây cô đưa thân ra đón lưỡi gươm của tên lính hung bạo. Ngay cả khi bị miễn cưỡng lôi đến bàn thờ tế thần thì ngang qua những ngọn lửa, cô vẫn giơ tay lên Chúa Ki-tô, và trong lò lửa tàn bạo đó, cô đã làm dấu thánh giá để tôn vinh Chúa toàn thắng. Giờ đây cô đưa cổ và hai tay cho người ta xiềng lại, nhưng không dây xiềng nào có thể xích được những chi thể quá mềm mại đó.
Đây không phải là một kiểu tử đạo mới sao ? Chưa đủ sức chịu khổ mà đã thừa sức chiến thắng ; chiến đấu thì vất vả, nhưng được ân thưởng lại dễ dàng. Tuổi đời còn non dại, mà đã là bậc thầy về chí can trường. Tân nương vội vã tới loan phòng cũng không lẹ bằng người trinh nữ này vui vẻ tiến ra nơi hành quyết. Cô đẹp không phải vì bím tóc nhưng vì thuộc về Đức Ki-tô. Đầu cô không đội vòng hoa nhưng được điểm trang bằng đức hạnh.
Mọi người đều khóc nhưng chính cô thì không. Nhiều người lấy làm lạ vì thấy sao cô dễ dàng xả thân như thế ; chưa được hưởng cuộc đời mà cô đã rộng rãi cho đi như là đã hoàn toàn mãn nguyện. Ai nấy đều kinh ngạc, vì ở tuổi đó, cô chưa làm chủ được chính mình mà đã làm chứng cho Thiên Chúa. Cuối cùng, cô đã làm cho người ta phải tin cô, khi cô làm chứng về Thiên Chúa, trong lúc người ta chưa tin cô được về những vấn đề thuộc con người, bởi lẽ điều vượt quá tính tự nhiên thì do Đấng tác tạo thiên nhiên mà có.
Lý hình đã tìm mọi cách làm cho cô khiếp đảm, đã dùng hết lời ngon ngọt thuyết phục cô, hứa hẹn bao điều để cô chịu kết hôn. Nhưng cô quả quyết : “Thật là sỉ nhục cho Hôn Phu, nếu tôi còn mong đợi ai làm tôi vui lòng. Ai chọn tôi trước thì người ấy được. Này đao phủ, còn đợi chi nữa ? Tôi không muốn người ta thích thú ngắm nhìn thân xác tôi, hãy để cho nó chết đi !” Cô đứng, cầu nguyện rồi giơ cổ cho người ta chém.
Có lẽ bạn thấy được tên lý hình đang run sợ như chính hắn bị tuyên án, thấy tay tên đao phủ run rẩy giơ lên, sợ xanh mặt, vì cô bé lâm nguy, trong khi cô chẳng sợ nguy hiểm gì cho mình. Vậy trong một lễ vật hy sinh, các bạn có hai lời chứng : lời chứng về tiết hạnh và lời chứng về đức tin. Cô đã giữ vững đức đồng trinh và được phúc tử đạo.
Ghi nhận lịch sử – Phụng vụ
Từ thế kỷ thứ IV, thánh Anê là một trong các vị thánh được tôn kính nhất trong Giáo hội Rôma. Ngày kỷ niệm được ghi nhận trong lịch Rôma cổ là ngày chuyển di hài thánh nữ (Depositio martyrum) vào ngày 21.01.354. Nhiều giáo phụ đã tôn kính nữ thánh: Thánh Ambrôsiô đã viết một Hạnh tử đạo về thánh nữ và đã viết một bài Thánh thi ca tụng, và còn có các thánh Prudence, Giêrôm, Augustinô… Tên thánh nữ đã được ghi vào Kinh nguyện Thánh Thể Rôma cùng với các nữ thánh Agatha, Lucie, Cécile… và trên ngôi mộ của bà, hoàng đế Constantin đã cho xây một đại Thánh đường: Sainte Anê hors les Murs.
Anê (tiếng Hy Lạp là Agnè = “thanh sạch”, tiếng Latinh là Agnus “con chiên”) là một thiếu nữ Rôma khoảng 12,13 tuổi dưới thời bách hại của hoàng đế Dioclètien. Nhiều truyền thuyết Latinh và Hy Lạp diễn tả cuộc khổ nạn của bà. Anê là Kitô hữu vào thời các môn đệ của Đức Kitô bị bách hại và bị giết. Lúc đó, một số người Kitô hữu chối đạo vì sợ, bà liền ra trước mặt nhà chức trách Rôma, tuyên xưng vững vàng đức tin của mình và khao khát được tử đạo. Bà đã trả lời với vị thẩm phán nghi ngờ về đức khiết tịnh của bà : “Tôi đã đính ước với Đấng các thiên thần phải cung phụng. Tôi giữ niềm tin vào Người và tôi hoàn toàn thuộc về Người”. Bị bắt đem vào một chỗ đồi bại, một ánh sáng từ trời đã bao phủ bà. Bị kết án thiêu sống, các ngọn lửa bao quanh bà, nhưng không đốt nóng. Bà nói với lý hình sắp chặt đầu mình: “Đừng sợ, hãy mau chặt đầu tôi, để tôi sớm về với Đấng tôi yêu.”
Đại Thánh đường thánh Anê luôn là một nơi hành hương. Ngày lễ kính thánh nữ, người ta sẽ đem hai con chiên đến gần bàn thờ, trước khi dâng cho Đức Giáo Hoàng. Lông của hai con chiên này dùng để dệt các Pallium: Một dấu hiệu mà Đức Giáo Hoàng mang và ngài cũng ban cho một số vị xứng đáng trong Hội Thánh.
Thánh nữ Anê được tôn kính là thánh quan thầy cho đức trinh khiết. Trong ảnh hình, bà xuất hiện với con chiên, và đôi khi, với một chim bồ câu, mỏ ngậm một chiếc nhẫn.
Trong một bài giảng kính thánh nữ Anê vào năm 376, thánh Ambrôsiô đã nói: “Các anh chỉ có một nạn nhân, nhưng lại có một cuộc tử đạo hai mặt: Sự trinh khiết và đức tin. Bà đã giữ được đức trinh khiết và bà đã được phúc tử vì đạo.”
Thánh Anê xứng đáng đứng gần Con Chiên. Bà cầu nguyện: “Con sẽ đến với Ngài, Chúa Cha rất thánh, Đấng con yêu mến, con tìm kiếm và luôn khao khát”. Đối lại với những quyền lực thế gian, thánh Ambrôsiô nói: “Một bé gái đứng lên, cầu nguyện và giương cổ chờ đợi…” vì sức mạnh Thiên Chúa bao trùm lên sự yếu đuối con người. Chính vì thế mọi dân tộc đều ca ngợi.
Lm. Đaminh Phạm Xuân Uyển SDB
http://loichua.donboscoviet.org/ngay-21-thang-1-thanh-anne-trinh-nu-tu-dao/
VÌ SAO GIÁO HOÀNG LÀM PHÉP CÁC CON CỪU NGÀY 21 THÁNG 1
XTa hãy hân hoan mừng lễ thánh A-nê, và tưởng niệm cuộc thương khó của người.
ĐGiữa tuổi thanh xuân, người đã hy sinh chịu chết và đã được hưởng sự sống muôn đời.
XVì chỉ yêu thương một mình Đấng ban sự sống.
ĐGiữa tuổi thanh xuân, người đã hy sinh chịu chết và đã được hưởng sự sống muôn đời.
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã chọn những gì thế gian cho là yếu kém để hạ nhục những gì hùng mạnh, hôm nay chúng con mừng kỷ niệm ngày thánh nữ A-nê tử đạo về trời, xin cho chúng con hằng noi gương thánh nữ mà giữ vững đức tin. Chúng con cầu xin
THÁNH VINH-SƠN PHÓ TẾ, TỬ ĐẠO
22-1

Thánh Vinh Sơn chắc chắn là một trong những vị tử đạo nổi tiếng và được tôn kính nhất trong thế giới Công giáo, ngay từ những thời xa xưa, tại nhiều nước, không kể quê hương ngài là Tây Ban Nha. Thánh Auguttin đã viết: “Có thị trấn nào, tỉnh nào nơi trải rộng đế quốc Rôma và Danh Chúa Giêsu mà lại không cử hành lễ kính nhớ thánh Vinh Sơn”? Từ năm 410 đến 413 tháng giêng, thánh Auguttin luôn giảng một bài giảng thuyết về ngài tại Vương cung Thánh đường Cartaginê được tái lập. Lễ kính ngài trải rộng khắp Âu châu, Phi châu, và Mỹ châu. 91 nhà thờ Ý mang tên ngài. Kể từ những năm 300, thành phố Vicenza nước Ý nhận ngài làm đấng bảo trợ, vì theo một truyền thuyết thì chính nó mang tên ngài. Sự thánh thiện của ngài vĩ đại đến nỗi ba thành phố bên Tây Ban Nha giành giựt danh hiệu là quê hương của ngài: Đó là Valencia, Saragozza và Huesca. Nhưng có lẽ chắc là ngài sinh ra tại Huesca, nước Tây Ban Nha.
Ngài thuộc một gia đình quí tộc, con của quan đại diện Eutichio và nữ tước Enola. Ngài nhận được một nền giáo dục tốt đẹp về văn chương và sớm được gửi gắm cho Đức Cha Valeriô để chăm sóc đời sống thiêng liêng cho ngài. Không những Ðức Cha Valêriô truyền đạt, hun đúc đời sống cho Vinh Sơn với tất cả nền đạo đức vững chắc mà ngài còn dạy văn chương, chữ nghĩa cho Vinh Sơn. Ðược đào tạo, hun đúc trong bầu khí thánh thiện và tràn Thánh Thần của Chúa, thánh Vinh Sơn càng lúc càng trở nên con người tốt, trở nên mẫu mực và kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô. Thấy Vinh Sơn có khả năng, lòng đạo đức, Ðức Cha Valêriô đã truyền chức phó tế cho Vinh Sơn để phụ giúp Ðức Cha trong việc loan báo Tin Mừng.
Vào năm 303, các hoàng đế Rôma ban chỉ dụ bách hại các Kitô hữu: Mọi nhà thờ, sách vở, nhà cửa của các Kitô hữu phải bị phá hủy; các Kitô hữu làm công chức phải bị cách chức, mọi bề tôi trước khi làm bất cứ một hành vi công cộng nào cũng đều phải dâng của lễ hy sinh cho các thần.
Cả Đức Giám mục Valêriô và phó tế Vinh Sơn đều không từ bỏ bổn phận của mình, trái lại các ngài mạnh mẽ làm chứng cho đức tin của họ. Vì thế tổng trấn Đacianô ra lệnh bắt giữ họ. Bị tra tấn, Vinh Sơn đã nói nhân danh cả vị Giám mục của mình cho Đaciano hay rằng: “Đức tin của chúng tôi chỉ là một điều mà thôi: Đức Giêsu là Thiên Chúa thật: Chúng tôi là các tôi tớ và các chứng nhân của Ngài. Vì Danh Ngài, chúng tôi không khiếp sợ gì cả. Quan chỉ mệt thân tra trấn chúng tôi và làm chúng tôi đau khổ. Quan đừng tin rằng mình có thể bẻ gẫy chúng tôi bằng các lời hứa vinh dự hay lời đe dọa giết chết, vì lẽ cái chết quan giáng xuống trên chúng tôi sẽ dẫn chúng tôi tới sự sống”.
Đacianô đã đem Ðức Valerius đi lưu đày, rồi ông dồn mọi sự tức giận lên phó tế Vinh Sơn. Mọi hình thức tra tấn đều được sử dụng. Nhưng kết quả chỉ làm Dacian thêm rối trí. Chính ông ra lệnh đánh đập các lý hình vì sự thất bại của họ.
Sau cùng ông đề nghị nếu phó tế Vinh Sơn giao nộp sách Thánh để đốt theo như chỉ dụ của hoàng đế thì ông sẽ tha cho. Nhưng thánh nhân cương quyết không nhượng bộ. Sự tra tấn tiếp tục, nhưng dù nằm trên vỉ sắt được nung nóng, người tù nhân vẫn can đảm chịu đựng, đến nỗi chính lý hình cũng phải nản chí. Sau cùng phó tế Vinh Sơn bị ném vào một xà lim dơ bẩn – Ở đây ngài đã hoán cải người cai tù. Dacian tức điên người, nhưng lạ lùng thay, ông lại ra lệnh cho tù nhân được tĩnh dưỡng đôi chút. Đaciano dùng những lời dụ dỗ dịu ngọt, những ân huệ để xúi Vinh Sơn bỏ đạo. Ông cho Vinh Sơn nằm trên chiếc giường êm ái để cho các bạn hữu đếm thăm nom, nhưng tất cả các mưu chước đều vô ích.
Vinh Sơn vẫn kiên vững trong đức tin, và qua đời ngày 22 tháng giêng năm 304 và truyền thuyết nói một đoàn các thiên thần rước ngài vào Thiên đàng.
Thông điệp và tính thời sự
Vinh Sơn de Saragossa, cùng với các thánh phó tế Stêphanô và Laurensô, được xem như mẫu gương cho thừa tác vụ phó tế: Kết hợp với Giám mục Valêriô, trong việc phục vụ Hội Thánh, ngài đã theo người trong việc tử đạo, trong việc làm chứng sự trung thành của mình với Chúa Kitô và Hội Thánh.
Lm. Đaminh Phạm Xuân Uyển SDB
http://loichua.donboscoviet.org/ngay-22-thang-1-thanh-vinh-son-pho-te-tu-dao/
Thánh Vinhsơn sinh tại Huesca nước Tây Ban Nha. Hồi niên thiếu, Vinhsơn là một lễ sinh của Giám mục Valêriô. Những ngày thơ ấu. Vinhsơn sống bên cạnh Giám mục thật là êm đềm hạnh phúc. Ngày ngày Giám mục dạy Vinhsơn giáo lý và cả các môn văn chương khoa học phần đời.
Cùng với thời gian, Vinhsơn tiến triển cả về thân xác lẫn tinh thần. Thấy mình già cần phải có người giúp việc, Giám mục Valêriô liền truyền chức phó tế cho Vinhsơn để phụ lực với ngài trong việc giảng giáo.
Những ngày sống thanh bình không được bao lâu. Tiếp đến là những ngày giông tố mù trời của những cơn bắt bớ do Điôclêtianô và Maximianô.
Viên tri phủ Đacianô một con người hung tàn, khát máu được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng Valensce. Ông muốn tàn sát người công giáo cho thỏa mối căm hờn. Ngày Đacianô về nhận chức tỉnh trưởng Valencia cũng là ngày mở đầu cho tấn thảm kịch đầu rơi, máu chảy. Trước hết ông truyền bắt ngay Giám mục Valêriô và thầy phó tế Vinhsơn, rồi ra lệnh tra tấn dã man hầu làm lung lạc tinh thần các giáo hữu. Nhưng hai đấng trái lại rất hân hoan sung sướng, vì coi mình là kẻ đầu tiên được mời gọi đến để nêu gương anh dũng hầu lĩnh nhận triều thiên vinh quang tử đạo. Thấy hai người cùng chung một niềm tin sắt đá, Đacianô càng giận đến thâm gan tím ruột. Ông truyền hai người phải mang xích nặng rồi cho điệu đến Saragoss, ở đó hai vị được nếm mùi tân khổ của chốn lao tù. Viên tỉnh trưởng hy vọng lối hành hình dã man cả xác và tinh thần đó sẽ làm cho hai người nao núng tâm thần và kiệt sức. Nhưng khi truyền điệu hai người đến trước mặt ông, ông thấy hai đấng vẫn được khoẻ mạnh, xinh tươi như thường. Ông lên giọng hách dịch quát viên cai ngục:
“Ngươi lại ăn đút lót của chúng nên xử đãi tử tế với những quân tử tù này phải không?”
Rồi ông quay về phía những lực sĩ của Chúa Kitô hoặc nạt nộ, hoăïc dùng lời đường mật để dụ dỗ các ngài cúng thần.
Trong cuộc tra vấn, thầy Vinhsơn nhận thấy vị Giám mục tuổi tác ứng đáp lại không mạnh mẽ và rõ ràng đủ để giãi bầy lòng can trường và chí hiên ngang, vì ngài đã già nua lại ít khẩu khiếu, nên khi vị Giám mục vừa ngừng lời Vinhsơn liền thưa với Giám mục:
“Lạy Cha, nếu có thể, con xin Cha cho phép con đỡ lời Cha”.
“Sao con lại nói vậy? – Đức Giám mục trả lời – khi ban quyền rao giảng Phúc âm cho con, đồng thời Cha cũng đã giao cho con trách nhiệm bênh vực và tuyên xưng đức tin mà Cha con ta hằng ôm ấp; con cứ việc trả lời thay Cha”. Bấy giờ thầy phó tế Vinhsơn dõng dạc đáp lại với viên tỉnh trưởng:
“Ông cứ việc gia hình, khảo lược, chúng tôi sẵn lòng chịu đựng hết vì một lòng yêu Chúa Chân Thật. Ông đừng hòng dọa nạt hay dùng lời dụ dỗ mà chinh phục được chúng tôi đâu.”
Câu trả lời đó như đổ thêm dầu vào lửa tức giận của tỉnh trưởng. Ông hầm hầm nổi giận và bắt đầu dùng kế li gián. Giám mục Valêriô được đem đi một nơi. Còn lại một mình Vinhsơn, ông khởi sự cuộc điều tra dã man. Ông truyền căng xác Vinhsơn trên giường, rồi cho các lý hình thi nhau đánh, đánh cho đến khi thân xác Vinhsơn tơi bời rách nát, từng miếng thịt văng lên, máu me đầm đìa lai láng. Trong khi chịu đòn, Vinhsơn vẫn tươi cười vui vẻ; có khi còn dùng lời hài hước để nói khích tỉnh trưởng nữa, làm ông bực tức. Ông truyền lý hình lấy những móc sắt nung đỏ để xé thịt thánh Vinhsơn. Những tên lý hình, tuy hung tợn, cũng phải chùn tay rùng mình, không thể hăng hái làm công việc dã man đó. Cử chỉ đó càng làm ông phát cáu. Tỉnh trưởng Đacianô còn sáng nghĩ ra lối tra tấn dã man khác, nhưng cực hình không đánh đổ lòng trung kiên sắt đá của Vinhsơn.
Thấy lối tra tấn đó không đem lại kết quả ông đành xoay chiến lược hành hạ trường kỳ, nghĩa là để cho tù nhân chịu đau đớn và mỏi mòn chết dần. Ông hạ lệnh giam Vinhsơn vào một ngục lát toàn bằng mảnh sành và thuỷ tinh. Nhưng trái với ý mong muốn của con người hung ác đó, ngục thất đây đã biến thành nơi cực lạc cho Vinhsơn. Chính ở nơi đây đã xẩy ra một phép lạ mà nhiều người được chứng kiến đã động lòng trở lại. Ngục thất tối om đó bỗng tràn ngập ánh sáng: thiên thần Chúa hiện đến an ủi và chữa lành các thương tích của đấng tử đạo. Nằm trên những mảnh sành nhọn sắc, Vinhsơn có cảm tưởng như trải mình trên những cánh hồng êm dịu. Tâm hồn lâng lâng vui sướng, Vinhsơn hát ca vịnh chúc tụng Chúa. Những lính canh ngục thấy sự lạ đó, hoảng sợ chạy trốn. Nhưng viên cai ngục bình tĩnh đứng lại quan sát. Nhờ đó ông đã được ơn soi sáng và trở lại theo đạo công giáo.
Nghe tin ấy viên tỉnh trưởng không khỏi ngạc nhiên rụng rời. Một lần nữa ông lại xoay chiến lược, đổi dữ làm lành và chiều đãi Vinhsơn hy vọng đánh đổ ngài chăng. Ông tự nghĩ càng hành hung hay gia hình càng bất lợi, vì như thế là xây đắùp thêm vinh quang cho đối phương. Nghĩ vậy, ông liền truyền dọn giường chiếu có chăn đệm đường hoàng cho Vinhsơn nằm. Nhưng khi vừa đặt ngài lên, thánh nhân bắt đầu nhắm mắt để ngủ một giấc ngàn thu: linh hồn Đấng Tử đạo đã vút bay về cõi cực lạc.
Cái chết đem lại hạnh phúc cho đấng thánh càng gây bực tức thêm cho viên tỉnh trưởng, vì như thế là ông không thắng được chí can trường, bất khuất của Vinhsơn. Ông nắm tay thề thốt: “Ta không trị được tên này khi sống, thì ta sẽ còn hành hạ nó khi chết cho hả giận”. Nói rồi ông truyền vứt xác Vinhsơn trong nơi hoang địa cho chim trời và thú rừng xâu xé. Nhưng nào ông có được sự thoả mãn như lòng mong muốn. Một con quạ khổng lồ ở đâu bỗng bay đến làm nhiệm vụ canh gác. Hễ con vật nào định đến ăn xác ngài, quạ liền kêu oang oác hoặc tung cánh xông vào mổ túi bụi.
Tin đó tức tốc cũng đến tai Đacianô, ông nổi xung. Nhưng rồi mắt ông sáng lên vì một thủ đoạn ông vừa sáng nghĩ: “Ừ phen này xem nó có thoát được ta không?” Ông truyền bỏ xác Vinhsơn vào một cái túi có đèo thêm một hòn đá lớn, rồi cho quăng xuống biển. Tưởng rằng mười mươi xác chết đó, nếu không lặng chìm dưới đáy nước, thì cũng hoá thành miếng mồi ngon cho cá biển. Nhưng lạ thay! Sóng biển lại đánh dạt túi đó vào bờ, một giáo hữu đã tìm được xác ngài trên một bãi biển, nơi đó sau này đã mọc lên một ngôi giáo đường nguy nga để kính nhớ đấng thánh.
Lòng tôn kính của giáo dân đối với thánh Vinhsơn không bao lâu đã được phổ biến nhanh chóng, nhờ phân phối hài cốt ngài cho nhiều nơi. Rất nhiều giáo đường nguy nga đã được xây lên để dâng kính hay mang tên Vinhsơn. Tại Pháp, thánh Vinhsơn đã được coi là một thánh tử đạo thời danh nhất. Nói đến tên ngài không ai mà không biết đến.
Nhưng hơn nữa, Vinhsơn sẽ còn được ghi nhớ và tôn kính muôn đời trong Giáo hội, vì máu ngài đã tô thắm vinh quang của Giáo hội.
http://giaoxutanviet.com/ngay-22-thang-1-thanh-vinh-son-pho-te-tu-dao-2/
Thánh Phanxicô Salêsio 24/1

Hiền Lành Khiêm Nhượng
Một đứa trẻ giận dữ nhất cũng phải nói rằng: thánh Phanxicô Salêsiô là vị thánh hiền hoà nhất thế giới, Ngài đã biết cách để sửa mình và do đó đưa ra phương thức tốt đẹp để nên thánh : "Tôi chỉ nghĩ tới sự dịu hiền, dĩ nhiên, không phải chỉ có điều đó mà thôi. Sau này các bạn hữu Ngài đã ngạc nhiên vì sự im lặng thánh nhân giữ được trước những lăng nhục.
Ngài nói: - "Gì vậy, bạn muốn tôi bỏ mất trong giây lát một chút dịu dàng mà tôi đã mất 20 năm để thu thập sao ?"
Sự dịu dàng Ngài đã thực hiện với bao nghị lực, bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa, Ngài đã có thể nói với bạn bè sau một cảnh thô tục mà một lãnh Chúa đã làm cho Ngài rằng : - Tôi giận sôi người lên, nhưng tôi thích chết đi còn hơn là nói lên một điều nhỏ nào có thể làm buồn lòng Thiên Chúa.
Thật khó hiểu nổi cách thế mà trong Ngài, một lòng nhân hậu dịu dàng như vậy đã thay thế cho bạo lực. Đối với người dọa nạt, Ngài trả lời: - Thưa ông, nếu ông có một con mắt, tôi sẽ nhìn ông bằng con mắt kia với lòng trìu mến.
Cả thánh Vincentê Phaolô cũng nói : - Khi muốn chiêm ngưỡng sự dịu hiền của Thiên Chúa, tôi nhìn về giám mục thành Ghênêva.
Nhắc tới thánh Phanxicô Salêsiô, không ai là không phải cảm phục Ngài về sự hiền lành.
Ngài là một người có bẩm tính rất nóng nảy, họ hàng bà con, bạn bè ai cũng biết thế...
Một hôm, có người đến Toà Giám Mục Annecy để thăm thánh nhân. Trong câu chuyện trao đổi hai bên, nhiều lần ông ta đã lớn tiếng cái vã, đấm bàn đấm ghế, chỉ trích phê bình và mắng nhiếc thánh nhân thậm tệ. Thế nhưng, thánh Phanxicô vẫn cứ ngồi nghe cách thinh lặng, thỉnh thoảng lại nhũn nhặn mời ông khách xơi trà, hút thuốc. Trước những câu nói nặng nề xấc láo, thánh nhân vẫn đáp lại bằng những lời lẽ hết sức dịu dàng, khiến ông khách quý bắt đầu cảm thấy hổ thẹn rồi từ từ rút lui.
Người anh của thánh nhân ngồi ở phòng sau chăm chỉ theo dõi câu chuyện giũa hai bên. Khi người khách vừa ra khỏi cổng, ông phóng ngay ra phòng thánh nhân và lạ thay... Phanxicô vẫn tươi cười bình tĩnh! Ông liền nói:
- Này chú Phanxicô, xưa nay chú tính nóng như lửa, sao độ này lại hiền từ nhịn nhục đến thế. Tôi ở phòng sau nghe ông ta nói mà sốt ruột lộn gan, muốn nhào ra đánh cho ông ta một trận vỡ mặt ra. Đồ lếu láo mất dạy!
- Anh ạ, ai cũng có máu Adong cả. Em cũng bực bội tức giận lắm chứ, nhưng em cố gắng theo gương Cha Giêsu, hiền Lành và khiêm nhượng trong lòng. Cứ mỗi dịp như vừa rồi, em lại tập thêm được một chút ít nhân đức bằng cách tự bảo: này hỡi Phanxicô, hãy đậy kỹ vung, đừng mở, đừng nói gì! Rồi cuối cùng em thấy rằng: lấy một giọt mật, thì bắt được cả bầy ruồi; chứ lấy cả thùng giấm, chẳng tóm được một con.
Rồi một hôm khác có người quí phái dẫn một đàn chó và đoàn gia nhân đến trước sân nhà Đức giám mục Phanxicô Salêsiô: chó thì để sủa ồn ào, gia nhân thì để chửi bới kịch liệt. Ông ta còn lên tận cửa phòng Đức giám mục, múa tay múa chân thóa mạ Ngài như giông nổi sét vang. Thánh nhân điềm tĩnh ngồi nghe bất động chẳng nói chẳng rằng. Đối phương cho như thế là khinh dể mình, lại càng tức giận, động viên toàn lực lượng thể xác và tinh thần, chửi rủa thêm gấp bội. Thánh nhân làm bộ như tượng gỗ nói trong Thánh Kinh: có tai mà không có nghe, có miệng mà không nói, có mắt mà không trông xem... Sau cùng ông kia kiệt lực phải rút lui...
Các bạn hữu của thánh nhân liền đến hỏi tại sao Ngài có thể giữ một thái độ thản nhiên như vậy được ?
Đức giám mục tiết lộ bí quyết:
- Tôi đã minh ước với lưỡi tôi là bao lâu tâm hồn tôi còn bị xúc động, lưỡi tôi không còn sản xuất một lời nào.
Tiểu sử cuộc đời
Thánh Phanxicô ra đời tại biệt thự Sales danh tiếng vùng Savoie nước Pháp ngày 21/8/1567. Thân phụ Ngài là ông Phanxicô Nouvelles, một lãnh chúa và thân mẫu ngài là bà Phanxicô Sion, miền Sales. Cả hai là những tín hữu khôn ngoan, nhân đức, hết lòng chăm sóc cho con và giáo dục chúng nên người. Nhờ được sống trong bầu khí đạo đức đày tình yêu thương như thế mà cậu Phanxicô sớm tỏ ra là một thiếu niên ngoan ngoãn và chăm chỉ học hành. Phanxicô còn được thấm nhuần tinh thần Tin Mừng ngay từ nhỏ nên đã sớm trở nên một đứa trẻ đạo đức, thánh thiện và bác ái.
Hơn muời tuổi, Phanxicô chịu phép Thêm sức, xưng tội lần đầu. Và vừa 14 tuổi được cha mẹ cho đi tu. Mấy năm sau ngài chịu phép cắt tóc.
Vào tuổi 17 một cơn dằn vặt thiêng liêng kinh khủng ám ảnh Ngài: người tưởng rằng: mình không còn sống trong tình trạng ơn thánh nữa, hoả ngục dành cho Ngài và nơi khủng khiếp này không còn tình yêu Chúa nữa.
Phanxicô cầu khần : - Lạy Chúa ít ra cuộc sống vắn vỏi này con biết dành để yêu mến Chúa.
Kiệt sức, Ngài chạy đến xin đức Trinh nữ gìn giữ mình được trinh trong và cứu thoát cho khỏi cơn thử thách gay go này. Ngài đọc kinh "hãy nhớ" và sau cùng tìm lại được bình an.
Năm 1580 Phanxicô được gửi đến Paris theo học khoa tu từ và triết lý, dưới quyền giám hộ của linh mục thánh thiện Morac Deâge. Dù sống giữa đô thị lớn, ngập lụt những xa hoa trần tục, thầy Phanxicô không để mình xao xuyến, hay bị lôi cuốn. Chàng vẫn giữ tấm hồn trong sạch, trung thành với lý tưởng tận hiến. Đó là kết quả lòng tin tưởng thầm kín vào Chúa như lời ngài thường nói: “Thiên Chúa là Thầy dậy duy nhất của tôi về mọi khoa nên thánh. Và tôi hoàn toàn tín nhiệm vào Ngài”. Tại Paris ngài xin gia nhập Hiệp hội Thánh Mẫu sinh viên do các cha dòng Tên khởi xướng lập nên.
Qua sáu năm học tại Paris, Phanxicô trở về Savoie rồi sang Ý theo học tại trường Đại học Padoua. Tại đây ngài chuyên về luật khoa và thần học. Hai năm sau ngài nhận mũ tiến sĩ do Đức Giám mục thành Padoua trao tặng. Phanxicô từ giã kinh thành văn hóa, đi hành hương Rôma, Loretto, và về Savoie.
Với tấm bằng tiến sĩ Luật, Ngài nắm trong tay một tương lai sáng lạn, huy hoàng. Gia đình Ngài mong ước cho Ngài được nhận tước quận công miền Villaroget, giữ ghế luật sư tại Savoie, và sau cùng kết hôn với ái nữ của lãnh chúa trong vùng. Thế nhưng họ đã thất vọng. Cha của Ngài đã phẫn nộ vô ích trước lòng cương quyết và từ tốn của thánh nhân. Dù cuộc đời Ngài có dễ dàng thăng quan, tiến chức, có chỗ vững chắc trong xã hội, nhưng thánh nhân quyết tâm từ bỏ tất cả, để đi theo Chúa Giêsu.
Thánh nhân được thụ phong linh mục năm 1595. Thánh nhân được Ðức Giám mục Granier tin tưởng, tín nhiệm đề cử làm nhà hộ giáo, giảng thuyết chính thức chống lại bè rối Calvin ở Challais. Với một tâm hồn lạc quan, vui tươi, tin tưởng và phó thác cho Chúa: "Chúa là nguồn vui của Con". Không có đe dọa hay bạo lực nào bắt Người ngừng giảng được. Nơi nào không thể đến rao giảng, Ngài phân phát truyền đơn. Suốt ba năm dưới ảnh hưởng của thánh nhân, 72 ngàn người theo thệ phản đã hoán cải.
Năm 1602, vua Henri IV đã muốn thánh Phanxicô làm giám mục thành Paris nhưng Ngài đã từ khước danh dự này và nói : - Thưa Ngài, tôi đã đính hôn với một bà Chúa nghèo, tôi không thể từ giã bà để theo một bà khác giàu có hơn. Nhà vua rất thán phục sự độc lập của Ngài và tuyên bố rằng: Phanxicô vĩ đại hơn ông là kẻ làm vua nhiều. Cũng vào năm 1602 ngay sau khi Ðức Cha Granier từ trần, Chúa yêu thương đã cất nhắc Ngài, đặt Ngài làm giám mục thay thế Ðức Cha vừa qua đời.
Các bài giảng thuyết của Ngài sớm lừng danh, đến độ những thành phố lớn đòi được nghe tiếng Ngài. Nhưng giám mục người Xa-voa (Savoie) thích giảng cho dân nghèo hơn. Ngài còn cho họ cả tới áo mặc của mình. Người ta thấy Ngài không giữ lại gì cho mình. Ngài chỉ thánh giá và nói: - Người ta có thể từ chối điều gì được, đối với một Thiên Chúa đã tự đặt mình vào trạng huống này vì chúng ta ?
Đối với các tội nhân, Ngài thân tình đón tiếp họ: - Các con hãy đến đây để cha ôm ẵm và đặt các con vào lòng cha. Cha chỉ đòi các con một điều là không được thất vọng, phần còn lại cha lãnh tất cả.
Đi tìm kiếm một linh hồn, nếu cần Ngài vượt qua rừng trong đêm tối, bất chấp bọn cướp giật hay thú rừng độc dữ, chân Ngài thường rớm máu vì băng giá. Một lần bọn sát nhân nhào tới, Ngài âu yếm bảo họ : - Các bạn không cần đòi mạng tôi làm chi, bởi vì tôi đã hiến mạng sống tôi để bảo tồn sự sống của các bạn.
Người ta có thể thấy rõ là Ngài đã nói thực. Bao người sát nhân đã làm như bao người khác: họ trở thành bạn hữu của Phanxicô. Và làm sao yêu Ngài, mà lại không yêu tôn giáo đã làm cho Ngài hiến thân trọn vẹn cho mỗi tâm hồn như vậy. Ngài nói : - Một linh hồn là một giáo phận rộng đủ cho một giám mục rồi.
Phanxicô không ngừng rao giảng, ngồi tòa, thăm viếng bệnh nhân, giúp đỡ người cùng khổ. Giữa những công việc bề bộn, Ngài còn viết nhiều tác phẩm được nhiều Kitô hữu mến chuộng như quyển: "Đường trọn lành", quyển "Dẫn vào đời sống nhiệt thành" (cuốn này đã được chuyển sang Việt ngữ với tựa đề: sống thánh giữa đời), chứng tỏ rằng: đời nhiệm hiệp và các nhân đức cao cả nhất, đều có thể nảy nở, ngay trong cuộc sống từ cung điện, lẫn "trong binh đội và trong các xưởng máy", Ngài truyền "dệt nên những sợi dây nhân đức nhỏ bé". Cuốn "khảo luận về tình yêu Thiên Chúa" của Ngài đáng cho Ngài được vinh quang như ở giữa bầu lửa, trong khi chuẩn bị viết về tình yêu của Ngôi Lời vĩnh cửu.
Thánh Phanxicô đã lập nhiều tu viện và tiếp tục hứơng dẫn các tu viện ấy. Ngài đã lập Dòng Chị Em Con Ðức Mẹ, sau này được đổi thành Dòng Thăm Viếng. Hai ngàn bức thư của Ngài vẫn còn, Ngài trao dòng "Thăm viếng" cho thánh nữ Chantal, một người vợ góa lập dòng mà Ngài hiệp nhất bằng một tình yêu trắng hơn tuyết, trong sáng hơn ánh mặt rời.
Ngài sống một đời sống hiền lành và khiêm nhường cố gắng làm việc cho tới phút cuối cùng. Thánh nhân kiệt sức khi Ngài nhận giảng dạy tại Lyon dịp lễ Giáng sinh. Ngài ngã bệnh lúc lên đường. Vừa tới nơi Ngài biết mình sắp chết. Người ta chỉ còn nghe thấy Ngài nói : - Lạy Chúa là tất cả của con. Với các bạn bè đang khóc lóc Ngài nói : - Các bạn lại không muốn ý Chúa được thực hiện sao ?
Ngài được Chúa gọi về ngày 27-12-1622. Theo lời ngài trối lại, người ta đưa xác ngài về dòng Thăm viếng tại Annecy. Đến ngày 19-4-1685, Đức Giáo Hoàng Alêxanđria VII phong người lên bậc hiển thánh, và tới năm 1877 dưới thời Đức Thánh Cha Piô IX, thánh Giám mục Phanxicô được tặng phong là một thánh tiến sĩ của Giáo Hội.
Trọn đời thánh Phanxicô yêu mến hoàn thành thánh ý Chúa. Bí quyết đời thánh thiện của Ngài diễn tả như sau : - Với giá vĩnh cửu, cái gì chấm đứt với thời gian lại có thể ảnh hưởng trên chúng ta được ? Phải ước muốn một mình Thiên Chúa thôi, một cách tuyệt đối không thay đổi và bất khả xâm phạm.
Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Phanxicô Salêsiô Giám mục biết trở nên tất cả để hoà mình với mọi người hầu muôn dân được ơn cứu độ. Xin cho chúng con hằng noi Gương thánh nhân để lại, mà hết lòng phục vụ anh em, để làm chứng lòng yêu thương nhân hậu của Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Chùa Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
Đaminh Maria cao tấn tĩnh tổng hợp
Xin đọc bài của ĐTC Biển Đức XVI về vị thánh này ở cái link dưới đây
