SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa 

M
ùa Thường Niên 

Tuần III Năm A và Năm Chẵn


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL



   

Chúa Nhật


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Is 9, 1-4 (Hr 8, 23b - 9, 3)

"Tại Galilêa các dân tộc và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Lúc đầu, đất Giabulon và Nephthali rất hèn hạ, trong tương lai dần dần trở thành đường biển, bên kia sông Giođan trở thành Galilêa các dân tộc. Dân chúng đi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng vĩ đại, và một ánh sáng đã chiếu soi trên dân ở vùng bóng sự chết. Người đã gia tăng dân số, đã ban một nguồn vui lớn; thiên hạ hân hoan trước mặt Người, như hân hoan khi được mùa, nhảy mừng như khi phân chia chiến lợi phẩm. Vì ách đã đè trên họ, đòn ngang nằm trên vai họ, và gậy của kẻ lạm thu họ, Người đã bẻ gẫy tất cả như trong ngày Mađian.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 26, 1. 4. 13-14

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi (c. 1a).

Xướng: 1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ; tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? - Ðáp.

2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người. - Ðáp.

3) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 1 Cr 1, 10-13. 17

"Tất cả anh em hãy đồng tâm hợp ý với nhau, và giữa anh em, đừng có chia rẽ".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, nhân danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi xin anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý với nhau, giữa anh em đừng có chia rẽ; hãy đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và cùng một tâm tình. Anh em thân mến, tôi đã được các người nhà Khloê cho hay rằng: giữa anh em đang có những sự bất đồng. Tôi có ý nói điều này, là mỗi người trong anh em nói: "Tôi, tôi thuộc về Phaolô; - "Tôi về phe Apollô"; - "Còn tôi, tôi về phe Kêpha"; - "Và tôi thuộc về phe Chúa Kitô". Chúa Kitô bị phân chia rồi sao? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vì anh em đâu? Hay là nhân danh Phaolô mà anh em chịu phép rửa? Ðức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Ðức Kitô ra hư không.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Mt 4, 23

Alleluia, alleluia! - Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 4, 12-23 (bài dài)

"Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: "Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết".

Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: "Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến!"

Nhân lúc Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy hai anh em là Simon, cũng gọi là Phêrô, và Anrê, em ông, cả hai đang thả lưới dưới biển, vì hai ông là ngư phủ. Người bảo hai ông rằng: "Các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta". Lập tức hai ông bỏ lưới đó mà theo Người. Ði xa hơn một đỗi, Người lại thấy hai anh em khác là Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan em ông đang vá lưới trong thuyền với cha là Giêbêđê. Người cũng gọi hai ông. Lập tức hai ông bỏ lưới và cha mình mà đi theo Người.

Và Chúa Giêsu đi rảo quanh khắp xứ Galilêa, dạy dỗ trong các hội đường của họ, rao giảng tin mừng nước trời, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân.

Ðó là lời Chúa.

 

Related image

 

 

Suy niệm

 

Qua Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay, được Giáo Hội cố ý chọn đọc cho Chúa Nhật III Thường Niên Năm A, chúng ta vẫn thấy đề tài chung cho Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh trước Mùa Chay này là "Người Con duy nhất đến từ Cha (như bài Phúc Âm về Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa mở màn cho Mùa Thường Niên này đã hiển nhiên cho thấy), đầy ân sủng và chân lý", tức đầy Thánh Linh và Lòng Thương Xót Chúa.

 

Thật vậy, "Người Con duy nhất đến từ Cha" này "đầy chân lý" không phải chỉ ở giáo huấn vô cùng khôn ngoan và đầy thế lực của Người, mà nhất là ở việc Người không bao giờ làm theo ý riêng của Người, mà chỉ làm theo ý muốn của Cha là Đấng đã sai Người. "Người Con duy nhất đến từ Cha" này "đầy ân sủng", chẳng những qua việc chữa lành và trừ quỉ, mà nhất là ở chính Thánh Giá trong cuộc Vượt Qua của Người, một biến cố đã được tiên báo qua chính việc chữa lành về thể xác và trừ quỉ về tâm linh cho con người mắc nguyên tội.

 

Và chính vì "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" như thế mà Người chẳng những tỏ Lòng Thương Xót Chúa ra mà còn thông ban Thánh Linh của Người ra nữa, nhờ đó, qua Lời Người dạy, việc Người làm và gương Người tỏ, chung nhân loại và riêng những ai có tâm hồn đơn sơ bé nhỏ như Mẹ Maria, Mẹ của Người, có thể nhận biết và tin tưởng vào Người, mà được hiệp thông thần linh với Cha trên trời của Người và với Người, trong cùng một "Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống", và là nguyên lý hiệp thông thần linh.

 

Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III Thường Niên Năm A theo Thánh Mathêu hôm nay cho thấy "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" ở chỗ Người chính là "ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết", đúng như Thánh ký cảm nhận như lời Tiên Tri Isaia đã tiên báo về Người trong Bài Đọc 1 cùng ngày: "Một ánh sáng đã chiếu soi trên dân ở vùng bóng sự chết", một "vùng bóng sự chết" ám chỉ tình trạng con người sau nguyên tội còn ở trong quyền lực tối tăm của tử thần, cần phải được cứu cho khỏi tội lỗi và sự chết.

 

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao "ánh sáng" lại ám chỉ hay phản ảnh "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý"? Nếu không phải đã là "ánh sáng" thì phải chiếu soi, mà đã chiếu soi thì phải chiếu soi trong tăm tối, như Thánh ký Gioan, ngay phần dẫn nhập Phúc Âm của ngài, đã xác tín về Ngôi Lời hằng hữu (xem Gioan 1:1) một khi "đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) thì trở thành "ánh sáng đã chiếu trong tăm tối" (1:5), một thứ tối tăm ám chỉ sự chết cả về linh hồn lẫn thể xác nơi con người mắc nguyên tội.

 

Như thế, "ánh sáng đã chiếu soi tăm tối" đây ám chỉ sự sống thần linh là chính bản thân của Chúa Giêsu Kitô, Lời Nhập Thể, Đấng được Thiên Chúa là Cha trên trời đã hứa cứu chuộc loài người ngay trong án phạt của con người sau nguyên tội (xem Khởi Nguyên 1:15): "Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời, và sự sống này ở nơi Con của Ngài. Ai có Con là có sự sống" (1Gioan 5:11). Và đó là lý do Chúa Giêsu đã khẳng định về mình và kêu gọi rằng: "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo Tôi sẽ được ánh sáng sự sống" (Gioan 8:12).

 

"Sự sống" thần linh nơi Chúa Giêsu Kitô được ban cho con người đã tự mình đánh mất bởi nguyên tội và vì thế con người chỉ có thể tái sinh, chỉ có thể được hoan hưởng "sự sống và là sự sống viên mãn" (Gioan 10:10), hơn cả ngay trước nguyên tội, khi họ nhận biết Thiên Chúa nơi Người Con Thiên Sai của Ngài mà thôi: "Sự sống đời đời là ở chỗ nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng được Cha sai là Giêsu Kitô" (Gioan 17:3).

 

Bởi thế, "dân ở vùng bóng sự chết", được Tiên Tri Isaia ám chỉ trong Bài Đọc 1 đây chính là thành phần "ngồi trong bóng sự chết", được Thánh ký Mathêu làm sáng tỏ trong Bài Phúc Âm, tức là "Galilêa của ngoại bang", tiêu biểu là hai thành phần hoàn toàn ngoại bang là "đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan", thành phần "dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng" là "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý", khi Người Con này xuất hiện và tỏ mình ra cho họ trước tiên.

 

Tuy nhiên, phần của những nơi và những con người ở đó được diễm phúc "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" tỏ mình ra trước hết này có nhận biết Người và tin tưởng vào Người hay chăng, để nhờ đó họ được "Người ban cho họ được quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12)? Kinh nghiệm cho thấy là chính nơi có thể nói là trung tâm tỏ mình ra của "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" ở "Galilêa của ngoại bang" này là thành Carphanaum vẫn "yêu thích tối tăm hơn ánh sáng" (Gioan 3:19)

 

Thật thế, nếu thành Carphanaum là trung tâm tỏ mình ra của Người: "Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali", thì chính thành Carphanaum diễm phúc này, như "được đưa lên đến tận trời" (Mathêu 11:23), do thành này đã chứng kiến thấy "các phép lạ xẩy ra" (Mathêu 11:23), mà sau cùng lại bị "hạ xuống hỏa ngục"(Mathêu 11:23).

 

Bài Đọc 2 cùng ngày hôm nay đã chứng thực cho chúng ta thấy, cho dù là thành phần Kitô hữu chăng nữa, đã được tái sinh trong Chúa Kitô, "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý", nhưng nơi chính bản thân của họ vẫn còn mầm mống nguyên tội, vẫn còn đam mê nhục dục và tính mê nết xấu, nên họ vẫn tiếp tục "yêu thích tối tăm hơn ánh sáng", ở chỗ, "giữa anh em đang có những sự bất đồng", là những gì ám chỉ chết chóc, tối tăm, ma quỉ, hỏa ngục, đến độ vị Tông Đồ dân ngoại đã phải lên tiếng khuyên nhủ rằng: "Xin anh em hãy đồng tâm hiệp ý với nhau, giữa anh em đừng có chia rẽ; hãy đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và cùng một tâm tình".

 

Chính vì con người dù đã được tái sinh và mặc lấy con người mới là Chúa Giêsu Kitô vẫn tiếp tục "yêu thích tối tăm hơn ánh sáng" như thế mà họ mới càng cần được "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" liên tục tỏ mình ra cho họ, miễn là họ để cho Người làm như thế, với tất cả ý thức về bản thân mình trước Đấng đầy Thánh Linh và Lòng Thương Xót, một ý thức được tỏ hiện theo tâm tình của Thánh Vịnh 26 trong bài Đáp Ca hôm nay:

 

1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ; tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?

2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người.

3) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa.

 

 

 

"Chúa Giêsu muốn trở thành một vị tiên tri lưu động nay đây mai đó. Người không chờ đợi dân chúng mà là đến gặp gỡ họ. Chúa Giêsu luôn hành trình!...

Chúa tỏ Mình ra cho chúng ta không phải bằng một đường lối phi thường hay nổi bật, mà là trong đời sống thường ngày của chúng ta."

(ĐTC Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật III ngày 22/1/2017)

Xin chào anh chị em thân mến!

Đoạn Phúc Âm hôm nay (xem Mathêu 4:12-23) thuật lại thời điểm mở màn cho việc giảng dạy của Chúa Giêsu ở Galilêa. Người bỏ Nazarét là một ngôi làng ở trên đồi mà đến ở thành Caphanaum, một trung tâm trọng yếu ở bên bờ Hồ, có rất nhiều dân ngoại cư ngụ, một giao điểm giữa Địa Trung Hải và nội địa Mesopotamia. Sự chọn địa điểm này cho thấy rằng thành phần lãnh nhận việc rao giảng của Người không phải chỉ có đồng bào của Người mà còn tất cả những ai sống ở một đại đồng "Galilêa của các Dân Ngoại" (câu 15; xem Isaiah 8:23), như nó được gọi như vậy. So với Giêrusalem là thủ đô thì miền đất này về địa dư ở vùng ngoại biên và dơ bẩn về tôn giáo, vì nó đầy những dân ngoại, ở chỗ pha trộn với tất cả những ai không thuộc về dân Do Thái. Những điều cao cả trọng đại đối với lịch sử cứu độ thực sự là không được mong đợi xuất phát từ Galilêa. Thế mà, chính từ chỗ đó "ánh sáng" đã phát tỏara là điều chúng ta đã suy niệm trong các Chúa Nhật vừa qua: ánh sáng Chúa Kitô. Ánh sáng này thật sự tỏa ra từ một vùng ngoại biên.

Sứ điệp của Chúa Giêsu lập lại sứ điệp của vị Tẩy Giả, loan báo về "Nước Trời" (câu 17). Vương quốc này không bao gồm việc thiết lập một thứ quyền lực mới về chính trị, mà là việc hoàn thành Giao Ước giữa Thiên Chúa và Dân của Ngài, một việc hoàn thành sẽ khai mào cho một mùa hòa bình và công lý. Mỗi người được kêu gọi hoán cải, củng cố Giao Ước này với Thiên Chúa, biến đổi cách suy nghĩ và sống động của mình. Điều quan trọng là ở chỗ hoán cải không phải chỉ là việc thay đổi lối sống mà còn cả lối suy nghĩ của mình nữa. Nó không phải là việc thay đổi y phục mà là những thói quen! Điều làm cho Chúa Giêsu khác với vị Gioan Tẩy Giả đó là kiểu cách và phương pháp. Chúa Giêsu muốn trở thành một vị tiên tri lưu động nay đây mai đó. Người không chờ đợi dân chúng mà là đến gặp gỡ họ. Chúa Giêsu luôn hành trình! Những cuộc truyền giáo đầu tiên của Người đã xẩy ra dọc Biển Hồ Galilêa, giao tiếp với đám đông, đặc biệt là với những người đánh cá. Chúa Giêsu ở đó chẳng những loan báo Nước Thiên Chúa đến mà còn tìm kiếm các bạn đồng hành để cộng tác vào sứ vụ cứu độ của Người. Ở cùng một chỗ ấy, Người đã gặp được hai cặp anh em là Simon và Anrê cùng Giacôbê và Gioan. Người gọi họ mà rằng: "Hãy theo Tôi, và Tôi sẽ làm cho anh em thành những kẻ chài lưới người" (câu 19). Tiếng gọi này chạm đến họ ngay giữa sinh hoạt hằng ngày của họ: Chúa tỏ Mình ra cho chúng ta không phải bằng một đường lối phi thường hay nổi bật, mà là trong đời sống thường ngày của chúng ta. Chúng ta cần phải thấy Chúa ở đó; Người tỏ Mình ra ở đó, làm cho lòng chúng ta cảm thấy được tình yêu của Người; và ở đó - bằng cuộc trao đổi này với Người trong cuộc sống hằng ngày - lòng của chúng ta được biến đổi. Việc đáp ứng của bốn người chài lưới này xẩy ra ngay lập tức: "Họ liền bỏ lưới của mình lại mà theo Người" (câu 20). Thật vậy, chúng ta biết rằng họ đã từng là những người môn đệ của vị Tẩy Giả, và nhờ chứng từ của vị này họ đã bắt đầu tin rằng Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai (xem Gioan 1:35-42).

Thành phần Kitô hữu chúng ta hôm nay đây hân hoan loan báo và làm chứng cho đức tin của chúng ta, vì đó là việc loan báo tiên khởi, vì đã có những con người khiêm tốn và can trường quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu. Cộng đồng môn đệ đầu tiên của Chúa Kitô được xuất thân ở bờ Hồ, ở một miền đất không ngờ. Chớ gì cái nhận thức về những sự khởi đầu này khơi động trong chúng ta ước muốn mang Lời Chúa, tình yêu thương và niềm êm ái dịu dàng của Chúa Giêsu đến cho hết mọi tình huống, cho dù là thành phần không tiếp thu và chống cưỡng nhất. Hãy mang Lời Chúa đến cho tất cả những vùng ngoại biên! Tất cả mọi lãnh vực của đời sống con người đều là khu vực để gieo hạt giống Phúc Âm, nhờ đó hạt giống này mới sinh hoa trái cứu độ.

Xin Trinh Nữ Maria giúp chúng ta, bằng việc chuyển cầu từ mẫu của mình, biết hân hoan đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu, và dấn thân phục vụ Vương Quốc của Thiên Chúa.

https://zenit.org/articles/angelus-address-on-the-need-for-conversion-to-follow-jesus/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và những chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu        


"Galilêa thuộc các dân nước"

 

(ĐTC Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật III ngày 26/1/2014)

 

Phúc Âm Chúa Nhật này thuật lại khởi điểm đời sống công khai của Chúa Giêsu ở các phố thị và làng mạc Xứ Galilêa. Sứ vụ của Người không bắt đầu ở Giêrusalem, trung tâm về tôn giáo và cũng là trung tâm về xã hội và chính trị, mà là ở một miền đất ngoại vi bên lề, một miền đất bị hầu hết thành phần Do Thái ngoan đạo khinh bỉ vì ở miền đất này có các thành phần ngoại quốc khác nhau; đó là lý do tại sao Tiên Tri Isaia đã gọi nó là "Xứ Galilêa thuộc các dân nước" (9:1).

 

Nó là một miền đất biên giới, một nơi qua lại của thành phần dân chúng thuộc các chủng tộc, văn hóa và tôn giáo khác nhau tụ lại. Bởi thế Galilêa trở thành một nơi tiêu biểu cho Phúc Âm hướng tới tất cả mọi dân nước. Theo quan điểm ấy thì Galilêa giống như thế giới ngày nay, ở chỗ đồng hiện diện của các thứ văn hóa khác nhau, nhu cầu cần so sánh và nhu cầu cần hội ngộ. Cả chúng ta nữa bị chìm đắm hằng ngày vào một thứ "Galilêa thuộc các dân nước", và trong thứ bối cảnh này chúng ta cảm thấy lo sợ và chiều theo khuynh hướng thực hiện việc ngăn chặn rào cản để cảm thấy mình được an toàn hơn, được bảo vệ hơn. Thế nhưng Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng Tin Mừng được Người mang đến không phải chỉ dành cho một phần nhân loại mà là được truyền đạt cho hết mọi người. Nó là một thứ loan báo về niềm hân hoan nhắm đến những ai đang đợi chờ nó, thế nhưng cũng cho tất cả những ai có lẽ không còn chờ đợi bất cứ gì nữa và thậm chí không còn sức để tìm kiếm và kêu xin.

 

Bắt đầu từ Galilêa, Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng không có ai bị loại trừ khỏi ơn cứu độ của Thiên Chúa, trái lại, chính từ những nơi ngoại biên này mà Thiên Chúa thích khởi sự, từ những gì là bé mọn nhất, để vươn tới hết mọi người. Người dạy chúng ta một phương pháp, phương pháp của Người, cũng cho thấy nội dung của của nó là tình thương của Cha....

 

Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Người chẳng những từ một nơi chốn ngoài tâm điểm mà còn giữa những con người mà người ta có thể gọi, ám chỉ, như là một thứ "hạ cấp - low profile". Khi chọn các môn đệ đầu tiên của mình và là các vị tông đồ sau này, Người đã không hướng tới các trường phái luật sĩ hay tiến sĩ Luật, mà về thành phần thấp hèn và thành phần quê mùa, thành phần ân cần sửa soạn cho việc trị đến của Vương Quốc Thiên Chúa. Chúa Giêsu đến kêu gọi họ ở nơi họ đang làm việc, trên bờ hồ: họ là những tay đánh cá. Người kêu gọi họ, và họ lập tức theo Người. Họ lìa bỏ chài lưới mà đi theo Người: đời sống của họ sẽ trở thành một cuộc mạo hiểm phi thường và hấp dẫn.

 

 

http://w2.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2014/documents/papa-francesco_angelus_20140126.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch  

 

ĐTC Phanxicô: Giảng Lễ Chúa Nhật Lời Chúa - CN III Thường Niên

 



Thứ Hai


Lời Chúa


 

Bài Ðọc I: (năm II) 2 Sm 5, 1-7. 10

"Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel dân Ta".

Trích sách Samuel quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, toàn thể chi tộc Israel đến cùng Ðavít tại Hebron mà nói rằng: "Ðây chúng tôi là cốt nhục của ngài. Nhưng từ trước đến giờ, khi Saolê đang làm vua chúng tôi, thì chính ngài đã dẫn dắt Israel. Và Chúa đã nói với ngài rằng: "Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel dân Ta, và sẽ trở nên thủ lãnh Israel". Vậy tất cả các vị kỳ lão Israel đều đến tìm nhà vua tại Hebron, và tại đó, vua Ðavít ký kết với họ một giao ước trước mặt Chúa. Họ liền xức dầu phong Ðavít làm vua Israel. Khi Ðavít lên làm vua, ngài được ba mươi tuổi, và cai trị được bốn mươi năm. Tại Hebron, ngài cai trị Giuđa được bảy năm rưỡi. Còn tại Giêrusalem, ngài cai trị toàn cõi Israel và Giuđa được ba mươi ba năm.

Nhà vua và tất cả quân sĩ theo ngài kéo đến Giêrusalem, đánh đuổi dân cư Giêbusê. Người ta nói với Ðavít rằng: "Ông đừng vào đây, bằng không những người mù què sẽ đánh đuổi ông". Như thế có nghĩa là: "Ðavít sẽ không vào được nơi này". Nhưng Ðavít đã chiếm đóng đồn Sion làm kinh thành của Ðavít.

Và Ðavít vào thành, càng ngày càng trở nên cường thịnh, và Chúa là Thiên Chúa các đạo binh phù hộ nhà vua.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 88, 20. 21-22. 25-26

Ðáp: Thành tín và ân sủng của Ta hằng ở với người (c. 25a).

Xướng: 1) Xưa trong cuộc thị kiến, Chúa đã phán cùng bầy tôi Chúa: "Ta đội mão triều thiên cho vị anh hùng, Ta cất nhắc người được kén chọn tự trong dân. - Ðáp.

2) Ta đã gặp Ðavít là tôi tớ của Ta, Ta đã xức dầu thánh của Ta cho người, để tay Ta bang trợ người luôn mãi, và cánh tay Ta củng cố thân danh người. - Ðáp.

3) Thành tín và ân sủng của Ta hằng ở với người, và nhân danh Ta, sức mạnh người tăng thêm mãi. Ta đặt tay người trên mặt biển, và tay hữu người, Ta đặt lên sông ngòi. - Ðáp.

  

Alleluia: Ga 14, 23

Alleluia, alleluia! - Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu thương người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 3, 22-30

"Satan phải diệt vong".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, những luật sĩ từ Giêrusalem xuống nói rằng: "Ông ấy bị quỷ Belgiêbút ám", và nói thêm rằng: "Chính nhờ tướng quỷ mà ông ấy trừ quỷ". Khi đã gọi họ lại, Chúa Giêsu phán bằng dụ ngôn rằng: "Satan lại trừ Satan làm sao được? Nếu một nước mà tự chia rẽ nhau, thì nước đó tồn tại làm sao được? Vậy nếu Satan dấy lên chống đối với chính mình và tự phân tán, thì nó không thể đứng vững được mà phải diệt vong. Chẳng ai có thể vào nhà một người khoẻ mạnh và cướp của y, nếu không trói được y trước đã, rồi sau mới cướp phá nhà y. Quả thật, Ta bảo các ông hay, mọi tội lỗi và mọi lời phạm thượng của con cái loài người sẽ được tha hết, nhưng kẻ nào nói phạm đến Chúa Thánh Thần, sẽ muôn đời không bao giờ được tha: nó mắc tội muôn đời". Ðó là vì họ nói "Người bị thần ô uế ám".

Ðó là lời Chúa.

 



Suy niệm

 


Đức Kitô Quyền Năng


Hôm nay, Thứ Hai, ngày thường đầu tiên trong Tuần 3 Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh, chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho chung thời điểm phụng vụ này vẫn tiếp tục phản ảnh nơi bài Phúc Âm hôm nay. 

Bài Phúc Âm hôm nay Thánh ký Marco thuật lại sự kiện đụng độ giữa "những luật sĩ từ Giêrusalem đến" và Chúa Giêsu, một cuộc đụng độ càng cho thấy bản chất "đầy ân sủng và chân lý" của "Người Con duy nhất đến từ Cha" này. Ở chỗ, cho dù bị xuyên tạc chụp mũ Người vẫn "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mathêu 11:29), vẫn nhẫn nhịn giúp cho đối phương nhận ra cái sai lầm của họ và cảnh giác họ để họ khỏi bị đời đời hư mất.

Thật vậy, khi thấy danh tiếng của Chúa Giêsu càng ngày càng nổi nang khắp nơi trong dân chúng, cho dù Người mới chỉ ở Galilêa thuộc miền bắc đất nước Do Thái, chứ chưa xuống tới Giuđêa thuộc miền nam là nơi toàn tòng dân Do Thái và có giáo đô Giêrusalem là trung tâm của Do Thái giáo, thành phần "những luật sĩ từ Giêrusalem đến nói rằng 'Ông ấy bị quỷ Belgiêbút ám', và nói thêm rằng: 'Chính nhờ tướng quỷ mà ông ấy trừ quỷ'".  

Không biết thành phần luật sĩ từ Giêrusalem đến này từ bao lâu rồi, đã tận mắt xem thấy Chúa Giêsu trừ quỉ hay chưa, hoặc chỉ nghe nói đến thôi, rồi suy diễn một cách méo mó như vậy để chống phá đối phương mới trở nên nổi tiếng, với chủ đích hạ bệ đối thủ của mình xuống càng sớm càng tốt, càng sâu càng nhục?! 

Tuy nhiên, nếu "miệng nói ra những gì đầy trong lòng", như chính Chúa Giêsu đã nói với những người Pharisiêu trong Phúc Âm của Thánh ký Mathêu (12:34) cũng có cùng chủ trương như những người luật sĩ trong bài Phúc Âm hôm nay, thì nội dung của lời phát biểu này dường như chất chứa tính cách cạnh tranh xuất phát từ lòng ghen ghét, chứ chưa nói đến tính cách hết sức phạm thượng của nó, của những ai phát ngôn như thế.

Thế nhưng, cho dù bị phạm thượng như vậy, Chúa Giêsu chẳng những đã không nổi giận, quát mắng họ hay thậm tệ quở trách họ, như Người sẽ làm sau này, được thấy ở nguyên đoạn 23 Phúc Âm Thánh Mathêu, mà còn hết sức nhân từ "gọi họ lạivà "dùng tỉ dụ" (như cha mẹ hay thày cô dạy cho đám học trò con nít của mìnhcho dễ hiểu để nhờ đó vạch ra cho họ thấy những gì sơ hở đầy mẫu thuẫn nơi cái nhận định và lập luận đy thiên kiến vừa thiển cận nông nổi vừa mâu thuẫn mù tối của họ, bằng cách Người đã lấy gậy ông đập lưng ông, như sau:

"Satan lại trừ Satan làm sao được? Nếu một nước mà tự chia rẽ nhau, thì nước đó tồn tại làm sao được? Vậy nếu Satan dấy lên chống đối với chính mình và tự phân tán, thì nó không thể đứng vững được mà phải diệt vong". Tức là Chúa Giêsu muốn nói với thành phần luật sĩ đầy thế lực từ giáo đô Giêrusalem rằng: quí vị thật là mâu thuẫn, chẳng hiểu gì cả, nếu tôi như quí vị nói "bị quỉ Belzebul ám" nhờ đó tôi mới có thể "nhờ chính tướng quỷ mà trừ quỷ" thì ma quỉ tự chúng chia rẽ nhau mà chết thôi - làm gì có cái chuyện hoang đường là ma quỉ quay ra tàn sát lẫn nhau để hủy diệt đi vương quốc tử thần của chúng chứ? 

Chưa hết, Chúa Giêsu muốn lợi dụng dịp này để chẳng những sửa lỗi cho họ mà còn tỏ mình ra cho họ thấy rõ hơn một chút nữa, hy vọng họ thấy được quyền phép thần linh của mình là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", một quyền phép vô địch còn hơn cả quyền lực chết chóc của thần dữ, ở chỗ còn khống chế được cả ma quỉ là loài vẫn từng thống trị loài người từ sau nguyên tội: "Chẳng ai có thể vào nhà một người khoẻ mạnh và cướp của y, nếu không trói được y trước đã, rồi sau mới cướp phá nhà y". 

Không biết các nhà luật sĩ khôn ngoan thông thái trong bài Phúc Âm hôm nay, nghe xong câu nói nhẹ nhàng xa xa bóng gió này của Chúa Giêsu có hiểu ý Người muốn nói hay chăng, nhưng thực tại đúng là như thế, đúng là Người có một quyền lực vô địch, một quyền lực sẽ đạt đến tột đỉnh của mình nơi cuộc Vượt Qua chiến thắng tội lỗi và sự chết của Người.

Tình thương của Chúa Giêsu tỏ ra với thành phần luật sĩ mù quáng trong bài Phúc Âm hôm nay không phải chỉ ở chỗ: 1- vạch ra cho họ thấy cái sai lầm của họ; và 2- tỏ cho họ thấy quyền lực thần linh trừ quỉ của Người, mà còn 3- cảnh báo về phần rỗi đời đời của họ nữa, như thể khuyên họ hãy cẩn thận và coi chừng thứ tội nguy hiểm được Người thẳng thắn cho họ biết rằng: 

"'Quả thật, Ta bảo các ông hay, mọi tội lỗi và mọi lời phạm thượng của con cái loài người sẽ được tha hết, nhưng kẻ nào nói phạm đến Chúa Thánh Thần, sẽ muôn đời không bao giờ được tha: nó mắc tội muôn đời'. Ðó là vì họ nói 'Người bị thần ô uế ám'".

Căn cứ vào lời cảnh báo này của Chúa Giêsu thì ở đây Chúa Giêsu nói đến kẻ phạm tội "kẻ nào nói phạm đến Chúa Thánh Thần... nó mắc tội muôn đời'", hơn là thứ tội "phạm đến Chúa Thánh Thần", và hình phạt muôn đời giành cho kẻ phạm một thứ tội phạm thượng khủng khiếp, dám cho "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" là Đấng có thể khống chế quyền lực của thần dữ "bị thần ô uế ám", có nghĩa là dám hoàn toàn phủ nhận Thánh Linh là "quyền phép Đấng Tối Cao" (Luca 1:35) ở trong Người và làm việc đó, và vì thế cũng có nghĩa là gián tiếp không chấp nhận Người là Đấng Thiên Sai, Đấng Được Xức Dầu Thánh Linh, một điều kiện tối yếu bất khả thiếu để được cứu độ (xem Marco 16:16).

Trong Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cũng thế, sau khi được phong vương để làm vua của toàn cõi đất nước Do Thái bấy giờ, (như Chúa Giêsu nổi tiếng khắp cả đất nước Do Thái sau này), "Nhà vua và tất cả quân sĩ theo ngài kéo đến Giêrusalem, đánh đuổi dân cư Giêbusê. Người ta nói với Ðavít rằng: 'Ông đừng vào đây, bằng không những người mù què sẽ đánh đuổi ông'. Nghĩa là: 'Ðavít sẽ không vào được nơi này'. Nhưng Ðavít đã chiếm đóng đồn Sion làm kinh thành của Ðavít. Và Ðavít vào thành, càng ngày càng trở nên cường thịnh, và Chúa là Thiên Chúa các đạo binh phù hộ nhà vua".

Qua câu Thánh Kinh được trích từ Sách Samuel quyển 2 trong Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy, cho dù bị dân cư Giêbusê chống cưỡng, (như thành phần luật sĩ ở Giêrusalem đến chống phá Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay), Vua Đavít vẫn có thể làm được những gì cần phải làm để thống nhất đất nước và lấy "Sion làm kinh thành", (như Chúa Giêsu trừ quỉ để thống nhất loài người lại bằng việc thiết lập vương quốc của Thiên Chúa), nhờ "Thiên Chúa các đạo binh phù hộ nhà vua" (như Chúa Giêsu đã trừ quỉ bằng quyền năng Thánh Linh vậy). 

Bài Đáp Ca hôm nay gián tiếp liên quan đến Bài Phúc Âm hôm nay và trực tiếp liên hệ với Bài Đọc 1 hôm nay, vì cả hai đều liên quan đến quyền năng cứu độ của Thiên Chúa, cách riêng nơi Đavít, và Đavít lại là hình ảnh ám chỉ Đức Kitô Thiên Sai là Đấng sẽ đến để giải thoát và chăn dắt dân Chúa: "Vương quốc của Người sẽ vô tận" (Luca 1:33). 

1) Xưa trong cuộc thị kiến, Chúa đã phán cùng bầy tôi Chúa: "Ta đội mão triều thiên cho vị anh hùng, Ta cất nhắc người được kén chọn tự trong dân. 

2) Ta đã gặp Ðavít là tôi tớ của Ta, Ta đã xức dầu thánh của Ta cho người, để tay Ta bang trợ người luôn mãi, và cánh tay Ta củng cố thân danh người. 

3) Thành tín và ân sủng của Ta hằng ở với người, và nhân danh Ta, sức mạnh người tăng thêm mãi. Ta đặt tay người trên mặt biển, và tay hữu người, Ta đặt lên sông ngòi.   

 


Thứ Ba


Lời Chúa


Bài Ðọc I: (năm II) 2 Sm 6, 12b-15, 17-19

"Ðavít và toàn dân Israel hân hoan đi rước hòm bia Thiên Chúa".

Trích sách Samuel quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, Ðavít hân hoan đi mang hòm bia Thiên Chúa từ nhà Obêđê về thành Ðavít. Vua dẫn theo bảy ca đoàn và đàn bò con làm của lễ. Khi những người mang hòm bia Thiên Chúa đi được sáu bước, thì Ðavít hiến tế một con bò và một con bê. Ngài tận lực nhảy múa trước Thiên Chúa. Ngài mang khăn vải điều ngang lưng. Ngài và toàn thể nhà Israel mang hòm bia Thiên Chúa hân hoan và trong tiếng kèn trống. Họ rước hòm bia Thiên Chúa vào đặt giữa nhà tạm mà Ðavít đã dựng sẵn. Rồi ngài hiến dâng của lễ toàn thiêu và của lễ bình an; ngài nhân danh Chúa các đạo binh mà chúc lành cho dân chúng, đoạn ngài phân phát cho toàn dân Israel, nam cũng như nữ, mỗi người một ổ bánh mì, một miếng thịt và một chiếc bánh chiên dầu. Và toàn dân giải tán, ai về nhà nấy.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 23, 7. 8. 9. 10

Ðáp: Vua hiển vinh là ai vậy? Chính Người là Thiên Chúa (c. 8a).

Xướng: 1) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên; vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu, để vua hiển vinh Người ngự quá! - Ðáp.

2) Nhưng vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa dũng lực hùng anh, đó là Chúa anh hùng của chiến chinh. - Ðáp.

3) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên, vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu, để vua hiển vinh Người ngự quá. - Ðáp.

4) Nhưng vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa đạo thiên binh, chính Người là Hoàng Ðế hiển vinh. - Ðáp.

  

Alleluia: Ga 15,15b

Alleluia, Alleluia. - Chúa phán: "Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 3,31-35

"Ai làm theo ý Thiên Chúa, thì người ấy là anh chị em và là mẹ Ta".

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.

Khi ấy, mẹ Chúa Giêsu và anh em Người đến và đứng ở ngoài sai người vào mời Chúa ra.

Bấy giờ có đám đông ngồi chung quanh Người và họ trình với Người rằng: "Kìa mẹ và anh em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy".

Người trả lời rằng: "Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta?" Rồi đưa mắt nhìn những người ngồi vòng quanh, Người nói: "Ðây là mẹ Ta và anh em Ta. Vì ai làm theo ý Thiên Chúa, thì người ấy là anh chị em và là mẹ Ta".

Ðó là Lời Chúa.

 


Suy niệm

 

  

Đức Kitô Tình Nghĩa   


 

Bài Phúc Âm cho ngày Thứ Ba trong Tuần 3 Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay vẫn tiếp chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho chung thời điểm phụng vụ này. 

Thánh ký Marco thuật lại cho chúng ta biết sự kiện "mẹ Chúa Giêsu và anh em Người đến và đứng ở ngoài sai người vào mời Chúa ra", cũng như phản ứng của Chúa Giêsu khi Người được "đám đông ngồi chung quanh Người trình với Người rằng: 'Kìa mẹ và anh em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy'".

Phản ứng của Chúa Giêsu, qua cả lời nói lẫn cử chỉ tác hành của Người, như được thuật lại trong bài Phúc Âm hôm nay, như sau: "Người trả lời rằng: 'Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta?' Rồi đưa mắt nhìn những người ngồi vòng quanh, Người nói: 'Ðây là mẹ Ta và anh em Ta. Vì ai làm theo ý Thiên Chúa, người ấy là anh chị em và là mẹ Ta'".

Phải chăng Người tỏ ra như thể bị gia đình làm phiền Người đang khi Người thi hành sứ vụ Thiên Sai của Người, nên Người có thái độ như lạnh nhạt hơn là vồn vã với gia đình của Người, thậm chí Người còn có vẻ coi trọng thính giả của Người hơn cả gia đình của Người nữa.

Bề ngoài có thể là thế thật, nhưng tận sâu xa ở những lời nói và cử chỉ có vẻ tiêu cực này của mình, Người lại sử dụng đường lối phủ nhận cách liên quan đến mối liên hệ ruột thịt tự nhiên với gia đình của Người để khẳng định một chân lý hết sức quan trọng về mối liên hệ thiêng liêng với Người là những gì Người đang thiết lập và sẽ hoàn thành vào cuộc Vượt Qua của Người trong tương lai.

Thật vậy, là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", Người không đến chỉ cho Mẹ của Người hay gia đình của Người thôi, mà cho toàn thể nhân loại, được đại diện bởi thành phần thính giả của Người bấy giờ. 

Nếu "Lời đã hóa thành nhục thể và ở cùng chúng ta" (Gioan 1:14) như "ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9), để "ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12), thì Người quả thực, qua việc rao giảng và tỏ mình ra, "như ánh sáng chiếu soi mọi người", đang thiết lập mối liên hệ thiêng liêng với nhân loại, nghĩa là Người đang làm cho nhân loại tin vào Người, "chấp nhận Người", để họ "được quyền làm con Thiên Chúa" như Người và với Người.

Bởi thế, so với tình nghĩa thiêng liêng vô cùng chân thật, hoàn hảo và bền vững thì tình nghĩa xác thịt thấp hèn, hạn hữu và trần tục không thể nào sánh bằng, và vì thế tình nghĩa xác thịt tự nhiên cần phải được thăng hoa, cần được thánh hóa, cần phải được nâng cấp bằng lời Chúa. 

Nếu tình nghĩa thiêng liêng với Chúa Kitô, như Người nói, ở chỗ "làm theo ý Thiên Chúa", như chính bản thân Người liên lỉ chú trọng và thực thi cho tới cùng, thì không còn ai hơn Mẹ của Người, một Trinh Nữ đã đáp ứng lời thiên sứ truyền tin Lời Nhập Thể bằng tất cả đức tin siêu vượt của mình qua tiếng "Xin Vâng" (Luca 1:38), cho đến khi "đứng chân Thánh Giá Chúa Giêsu" (Gioan 19:25).

Như vậy, lời nói và thái độ có vẻ dửng dưng lạnh lùng như phủ nhận gia đình mình của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay thực sự là những gì chẳng những phấn khích việc nâng cấp cho thành phần thính giả của Người bấy giờ mà nhất là còn cố ý chúc tụng Mẹ của Người, lấy Mẹ của Người như là một mô phạm cho thành phần thính giả ấy trong việc lắng nghe lời Chúa (xem Luca 2:19,51).

Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cũng cho thấy tính chất gia đình thiêng liêng hay mối liên hệ thiêng liêng hết sức cao quí nơi dân Do Thái, vượt lên trên tất cả các mối liên hệ tự nhiên trong mọi lãnh vực, như lãnh vực tam cương của Khổng giáo là quân-sư-phụ: vua tôi, thày trò và cha con, ở sự kiện "Ðavít hân hoan đi mang hòm bia Thiên Chúa từ nhà Obêđê về thành Ðavít". 

Trước hết, tính chất gia đình thiêng liêng nơi dân Do Thái dưới triều đại Vua Đavít là ở chỗ có Thiên Chúa ở giữa và ở cùng họ: "Họ rước hòm bia Thiên Chúa vào đặt giữa nhà tạm mà Ðavít đã dựng sẵn", một hành động, ở một nghĩa nào đó, theo đúng đường lối Chúa Giêsu đã khẳng định trong Bài Phúc Âm hôm nay về mối liên hệ thiêng liêng với Ngưi, ở chỗ "làm theo ý Thiên Chúa". 

Sau nữa, tính chất gia đình thiêng liêng nơi dân Do Thái dưới triều đại Vua Đavít là ở chỗ vua tôi sống với nhau một cách bình dân thân tình, như Bài Đọc 1 hôm nay thuật lại đặc biệt về hành động của vua: "Vua dẫn theo bảy ca đoàn và đàn bò con làm của lễ. Khi những người mang hòm bia Thiên Chúa đi được sáu bước, thì Ðavít hiến tế một con bò và một con bê. Ngài tận lực nhảy múa trước Thiên Chúa. Ngài mang khăn vải điều ngang lưng. Ngài và toàn thể nhà Israel mang hòm bia Thiên Chúa hân hoan và trong tiếng kèn trống".

Sau hết, tính chất gia đình thiêng liêng nơi dân Do Thái dưới triều đại Vua Đavít còn là ở chỗ vua đóng vai như cha mẹ của con dân, luôn quan tâm đến con dân của mình và chăm sóc cho con dân của mình: "Rồi ngài hiến dâng của lễ toàn thiêu và của lễ bình an; ngài nhân danh Chúa các đạo binh mà chúc lành cho dân chúng, đoạn ngài phân phát cho toàn dân Israel, nam cũng như nữ, mỗi người một ổ bánh mì, một miếng thịt và một chiếc bánh chiên dầu. Và toàn dân giải tán, ai về nhà nấy".

Nếu "đâu có tình yêu thương ở đấy có Đức Chúa Trời - Ubi caritas et amor, Deus ibi est" thì ở đấy cũng là gia đình của Chúa, trong đó mọi người là anh em với nhau trong Chúa Kitô và với Chúa Kitô, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý". Cảm nhận này được bày tỏ trong Bài Đáp Ca hôm nay, một Bài Đáp Ca tôn vinh chúc tụng Thiên Chúa là Vị Vua cần phải ngự đến ở giữa con dân của Ngài là dân Do Thái ngày xưa và Giáo Hội Nhiệm Thể Chúa Kitô ngày nay. 

1) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên; vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu, để vua hiển vinh Người ngự quá! 

2) Nhưng vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa dũng lực hùng anh, đó là Chúa anh hùng của chiến chinh. 

3) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên, vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu, để vua hiển vinh Người ngự quá. 

4) Nhưng vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa đạo thiên binh, chính Người là Hoàng Ðế hiển vinh. 

 


Thứ Tư


Lời Chúa


Bài Ðọc I: (năm II) 2 Sm 7, 4-17

"Ta sẽ cho con của ngươi kế vị, và bảo đảm triều đại ngươi".

Trích sách Samuel quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Nathan lời này rằng: "Hãy đi và nói với Ðavít tôi tớ Ta rằng: Chúa phán thế này: Có phải ngươi sẽ xây cất cho Ta một ngôi nhà để ở chăng? Vì từ ngày Ta dẫn dắt con cái Israel ra khỏi đất Ai-cập cho đến ngày nay, Ta không ở trong nhà, nhưng Ta di chuyển trong nhà tạm và trong trại. Khắp mọi nơi Ta đi qua với con cái Israel, có khi nào Ta nói cùng một trong các chi họ Israel mà Ta truyền dạy chăn dắt Israel dân Ta rằng: "Tại sao không xây cất cho Ta một ngôi nhà bằng cây hương nam?"

Giờ đây, ngươi hãy nói cùng Ðavít tôi tớ Ta rằng: "Chúa các đạo binh phán thế này: Ta đã đem ngươi ra khỏi đồi cỏ lúc ngươi còn theo sau đoàn chiên, để ngươi trở nên thủ lãnh Israel dân Ta và Ta đã ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi. Ta sẽ tiêu diệt mọi quân thù trước mặt ngươi, và Ta sẽ làm cho danh ngươi nên cao trọng như danh các bậc vĩ nhân trên mặt đất. Ta sẽ đặt để một nơi cho Israel dân Ta, và Ta sẽ vun trồng nó tại đó. Nó sẽ ở đó và sẽ không còn bị quấy rối nữa. Con cái sự dữ sẽ không còn đến đàn áp nó như xưa nữa, như ngày Ta thiết lập các vị Thẩm phán trên Israel dân Ta. Ta sẽ cho ngươi được bằng yên khỏi mọi quân thù. Và Chúa phán trước cho ngươi biết là Chúa sẽ tạo lập cho ngươi một ngôi nhà. Ðến khi qua đời, ngươi sẽ được an giấc cùng các tổ phụ ngươi. Kế đó Ta sẽ cho con của ngươi kế vị và làm cho vương quốc ngươi vững mạnh. Chính người sẽ xây dựng cho danh Ta một ngôi nhà, và Ta bảo đảm ngôi báu triều đại ngươi tồn tại đến muôn đời. Ta sẽ là Cha người, và người sẽ là con Ta. Nếu người có phạm lỗi, Ta sẽ sửa trị người bằng roi người lớn và bằng tai hoạ con cái loài người. Nhưng Ta sẽ không cất khỏi người lòng từ bi của Ta, như Ta đã xử với Saolê, kẻ đã bị Ta khai trừ khỏi mặt Ta. Và nhà của ngươi và triều đại ngươi sẽ vững chắc đến muôn đời trước mặt Ta; ngôi báu ngươi sẽ vững bền mãi mãi!" Nathan đã thuật lại cho Ðavít tất cả những lời và thị kiến này.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 88, 4-5. 27-28. 29-30

Ðáp: Ðời đời Ta sẽ dành cho người lòng sủng ái (c. 29).

Xướng: 1) Ta đã ký minh ước cùng người Ta tuyển lựa. Ta đã thề cùng Ðavít là tôi tớ của Ta rằng: "Cho tới muôn đời Ta bảo tồn miêu duệ của ngươi, và Ta thiết lập ngai báu ngươi qua muôn thế hệ". - Ðáp.

2) Chính người sẽ thưa cùng Ta: "Chúa là Cha con, là Thiên Chúa và Ðá Tảng cứu độ của con". Và Ta sẽ đặt người làm trưởng tử, cao sang hơn các vua chúa ở trần gian. - Ðáp.

3) Ðời đời Ta sẽ dành cho người lòng sủng ái, và lời ước Ta ký với người sẽ được mãi mãi duy trì. Ta sẽ gìn giữ miêu duệ người tới muôn đời, và ngai báu người như những ngày của cõi cao xanh. - Ðáp.

 

Alleluia: 1Sam 3,9

Alleluia, Alleluia. - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 4,1-20

"Người gieo hạt đi gieo hạt giống"

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu bắt đầu giảng dạy ở bờ biển và có đám đông dân chúng tụ lại gần Người, nên Người xuống ngồi trong một chiếc thuyền trên mặt biển, tất cả đám đông thì ở trên đất theo dọc bờ biển.

Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều, và khi giảng, Người nói với họ rằng:

"Các ngươi hãy nghe! Nầy người gieo hạt đi gieo hạt giống.

Khi gieo, một phần hạt rơi xuống vệ đường và chim trời đến ăn hết.

Phần khác rơi trên đất sỏi, nơi không có nhiều đất.

Hạt giống đã mọc lên ngay, vì lớp đất không sâu.

Nhưng khi mặt trời mọc lên, hạt giống bị nắng đốt và vì không rễ, nên bị chết khô.

Một phần khác rơi vào bụi gai và gai mọc lên làm hạt giống chết mà không sinh hoa trái được.

Phần hạt khác rơi vào đất tốt, mọc lên, nẩy nở và sinh quả, hạt thì sinh được ba mươi, hạt được sáu mươi, hạt được một trăm".

Và Người phán rằng: "Ai có tai nghe thì hãy nghe".

Khi Người còn lại một mình, thì mười hai ông là những kẻ luôn ở với Người, hỏi Người về ý nghĩa dụ ngôn, Người liền bảo các ông:

"Các con được ơn biết mầu nhiệm về nước Thiên Chúa, còn những người khác ở ngoài thì mọi sự được giảng dạy bằng dụ ngôn, vì chúng nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu, kẻo chúng trở lại mà được tha tội".

Người nói với các ông:

"Các con không hiểu dụ ngôn đó sao? Vậy thì hiểu sao được tất cả những dụ ngôn khác?

Người gieo hạt là gieo lời Chúa.

Vệ đường mà lời Chúa được gieo vào, là những kẻ vừa nghe xong, thì Satan đến và cất lấy lời Chúa gieo trong tâm hồn họ.

Và cũng thế, những hạt giống rơi trên đất sỏi, là những kẻ khi nghe lời Chúa thì đón nhận vui vẻ, nhưng chúng không đâm rễ bên trong và là những người hay thay đổi: sau đó gặp phải cơ cực hay bắt bớ vì lời Chúa, thì họ sa ngã liền.

Lại có những hạt giống rơi trong bụi gai.

Ðây là những kẻ nghe lời Chúa, nhưng những lo lắng trần tục, bóp nghẹt lời Chúa, khiến không thể sinh hoa trái được.

Còn những hạt giống gieo trong đất tốt: đó là những người nghe lời Chúa, biết giữ lấy và làm sinh lợi, hạt ba mươi, hạt sáu mươi và hạt một trăm".

Ðó là Lời Chúa.

 


Suy niệm

 

 

   

 Đức Kitô Mạc Khải   

 

Tiếp tục "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh, bài Phúc Âm Thứ Tư hôm nay trong Tuần 3 của thời điểm phụng vụ này liên quan đến dụ ngôn "người gieo hạt đi gieo hạt giống".

Theo bài Phúc Âm thuật lại ở phần đầu thì nội dung của dụ ngôn này như sau: "Khi gieo, một phần hạt rơi xuống vệ đường và chim trời đến ăn hết. Phần khác rơi trên đất sỏi, nơi không có nhiều đất. Hạt giống đã mọc lên ngay, vì lớp đất không sâu. Nhưng khi mặt trời mọc lên, hạt giống bị nắng đốt và vì không rễ, nên bị chết khô. Một phần khác rơi vào bụi gai và gai mọc lên làm hạt giống chết mà không sinh hoa trái được. Phần hạt khác rơi vào đất tốt, mọc lên, nẩy nở và sinh quả, hạt thì sinh được ba mươi, hạt được sáu mươi, hạt được một trăm".

Cũng theo bài Phúc Âm hôm nay, ở phần cuối Chúa Giêsu đã giải thích ý nghĩa của từng hình ảnh được ám chỉ trong dụ ngôn cho các môn đệ nghe, như lời yêu cầu của các vị:

"Người gieo hạt là gieo lời Chúa. Vệ đường mà lời Chúa được gieo vào, là những kẻ vừa nghe xong, thì Satan đến và cất lấy lời Chúa gieo trong tâm hồn họ. Và cũng thế, những hạt giống rơi trên đất sỏi, là những kẻ khi nghe lời Chúa thì đón nhận vui vẻ, nhưng chúng không đâm rễ bên trong và là những người hay thay đổi: sau đó gặp phải cơ cực hay bắt bớ vì lời Chúa, thì họ sa ngã liền. Lại có những hạt giống rơi trong bụi gai. Ðây là những kẻ nghe lời Chúa, nhưng những lo lắng trần tục, bóp nghẹt lời Chúa, khiến không thể sinh hoa trái được. Còn những hạt giống gieo trong đất tốt: đó là những người nghe lời Chúa, biết giữ lấy và làm sinh lợi, hạt ba mươi, hạt sáu mươi và hạt một trăm".

Trong phần dẫn giải của mình, Chúa Giêsu không cho biết "người gieo hạt" là ai. Tuy nhiên, vì "gieo hạt là gieo lời Chúa" như Chúa Giêsu dẫn giải, thì "người gieo hạt" đây còn ai khác ngoài chính bản thân Người, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý". 

Nếu "hạt đây là lời Chúa" và lời Chúa đây chất chứa "ân sủng và chân lý", vì chính bản thân Người là "Lời", bởi thế "người gieo hạtđây tức là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" tỏ mình ra để thông ban cho "những ai chấp nhận Người" (Gioan 1:12) "ân sủng và chân lý" của Người và từ Người: "ân sủng" là "được quyền làm con Thiên Chúa" và "chân lý" là "được sinh ra bởi Thiên Chúa, chứ không phải bởi huyết nhục, bởi nhục dục hay bởi ý muốn của con người" (Gioan 1:13).

Đúng thế, theo dẫn giải của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay thì hạt khi chưa gieo vẫn còn là hạt, nhưng một khi đã gieo xuống rồi thì hạt được gieo xuống ấy trở thành người nghe, người đón nhận. Có tất cả 4 loại người chính yếu tiêu biểu đáp ứng lời Chúa, đáp ứng mạc khải thần linh là chính Chúa Kitô, hay "chấp nhận" Chúa Kitô cũng thế.

Nếu "ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12) và là người "sinh bởi Thiên Chúa" thì họ quả thực là "những hạt giống gieo trong đất tốt: đó là những người nghe lời Chúa, biết giữ lấy và làm sinh lợi, hạt ba mươi, hạt sáu mươi và hạt một trăm". 

Vậy thì 3 thành phần còn lại sẽ có thể được suy diễn và áp dụng như sau:

"Những hạt ở trên vệ đường là những kẻ vừa nghe xong, thì Satan đến và cất lấy lời Chúa gieo trong tâm hồn họ" ở đây có thể hiểu về thành phần "sinh bởi huyết nhục", nghĩa là hoàn toàn sống theo tự nhiên nông nổi bề ngoài một cách hờ hững lãnh đạm với những gì siêu nhiên, thuộc lãnh vực đức tin, thuộc đời sống thiêng liêng.


"Những hạt giống rơi trên đất sỏi, là những kẻ khi nghe lời Chúa thì đón nhận vui vẻ, nhưng chúng không đâm rễ bên trong và là những người hay thay đổi: sau đó gặp phải cơ cực hay bắt bớ vì lời Chúa, thì họ sa ngã liền" ở đây có thể hiểu về thành phần "sinh bởi nhục dục", sống theo cảm giác cảm tình nên rất thay đổi bất nhất.


"Những hạt giống rơi trong bụi gai. Ðây là những kẻ nghe lời Chúa, nhưng những lo lắng trần tục, bóp nghẹt lời Chúa, khiến không thể sinh hoa trái được" ở đây có thể hiểu về thành phần "sinh bởi ý muốn của con người", sống tìm kiếm và theo đuổi ưu tiên lợi lộc trần gian, coi trọng giá trị trần gian hơn những gì là chân thực bất biến. 


Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cho thấy Thánh Vương Đavít là một "hạt giống gieo trong đất tốt", ở chỗ, vua luôn nghĩ đến Thiên Chúa và coi trọng Thiên Chúa trong suốt cả cuộc đời của mình, (tất nhiên cũng có một lúc vua đã sa ngã phạm tội trầm trọng nhưng vua đã hết lòng ăn năn thống hối), cũng như trong triều đại của vua. Chẳng hạn vua có ý định "xây cất cho (Chúa) một ngôi nhà để ở" khi vua thấy vua ở trong đền đại nguy nga lộng lẫy mà Hòm Bia Chúa lại ở "nhà tạm", một nơi không xứng với Thiên Chúa vô cùng uy nghi cao cả chí tôn


Bởi thế, vì vua "là người nghe lời Chúa, biết giữ lấy và làm sinh lợi" nên vua là "hạt ba mươi, hạt sáu mươi và hạt một trăm". 


Vua là "hạt ba mươi", ở chỗ: "Ta sẽ tiêu diệt mọi quân thù trước mặt ngươi, và Ta sẽ làm cho danh ngươi nên cao trọng như danh các bậc vĩ nhân trên mặt đất... Ta sẽ cho ngươi được bằng yên khỏi mọi quân thù. Và Chúa phán trước cho ngươi biết là Chúa sẽ tạo lập cho ngươi một ngôi nhà. Ðến khi qua đời, ngươi sẽ được an giấc cùng các tổ phụ ngươi".


Vua là "hạt sáu mươi", ở chỗ: "Kế đó Ta sẽ cho con của ngươi kế vị và làm cho vương quốc ngươi vững mạnh. Chính người sẽ xây dựng cho danh Ta một ngôi nhà, và Ta bảo đảm ngôi báu triều đại ngươi tồn tại đến muôn đời. Ta sẽ là Cha người, và người sẽ là con Ta...". 

 

Vua là "hạt một trăm", ở chỗ: "Nhà của ngươi và triều đại ngươi sẽ vững chắc đến muôn đời trước mặt Ta; ngôi báu ngươi sẽ vững bền mãi mãi!" 

Bài Đáp Ca hôm nay liên quan trực tiếp với bản thân vua Đavít, vương tổ của Chúa Kitô và là tiền thân cho vương quyền của Người, một mảnh đất tốt cũng chính là hạt sinh gấp trăm trong dụ ngôn người gieo hạt của Chúa Kitô trong Bài Phúc Âm hôm nay:

 

1) Ta đã ký minh ước cùng người Ta tuyển lựa. Ta đã thề cùng Ðavít là tôi tớ của Ta rằng: "Cho tới muôn đời Ta bảo tồn miêu duệ của ngươi, và Ta thiết lập ngai báu ngươi qua muôn thế hệ". 

2) Chính người sẽ thưa cùng Ta: "Chúa là Cha con, là Thiên Chúa và Ðá Tảng cứu độ của con". Và Ta sẽ đặt người làm trưởng tử, cao sang hơn các vua chúa ở trần gian.

 

3) Ðời đời Ta sẽ dành cho người lòng sủng ái, và lời ước Ta ký với người sẽ được mãi mãi duy trì. Ta sẽ gìn giữ miêu duệ người tới muôn đời, và ngai báu người như những ngày của cõi cao xanh. 


 

 

Thứ Năm


Lời Chúa


Bài Ðọc I: (năm II) 2 Sm 7, 18-19. 24-29

"Lạy Chúa là Thiên Chúa, tôi là ai và gia đình tôi là chi?"

Trích sách Samuel quyển thứ hai.

Sau khi Nathan nói với Ðavít xong, vua Ðavít đến ngồi trước Thiên Chúa mà nói rằng: "Lạy Chúa là Thiên Chúa, con là ai và gia đình con là chi mà Chúa dẫn con đến đây? Nhưng lạy Chúa là Thiên Chúa, như thế Chúa còn cho là ít, nên Chúa còn nói đến nhà tôi tớ Chúa trong tương lai lâu dài, vì lạy Chúa, đó là thường tình của loài người.

"Chúa đã thiết lập dân Israel làm dân Chúa đến muôn đời, và lạy Chúa, chính Chúa trở thành Thiên Chúa của họ. Vậy giờ đây, lạy Chúa là Thiên Chúa, xin hãy thực hiện mãi mãi lời Chúa đã nói về tôi tớ và về nhà của nó, và hãy làm như Chúa đã phán, để danh Chúa được ca khen đến muôn đời, và được truyền tụng rằng: 'Chúa các đạo binh là Thiên Chúa của Israel'. Xin cho nhà tôi tớ Chúa được vững chắc trước nhan thánh Chúa. Lạy Chúa các đạo binh, Thiên Chúa của Israel, vì Chúa đã mạc khải cho tôi tớ Chúa biết những lời này: 'Ta sẽ xây dựng cho ngươi một ngôi nhà', vì thế, tôi tớ Chúa vững tâm thốt lên lời khẩn nguyện trên đây. Vậy giờ đây, lạy Chúa là Thiên Chúa, và lời Chúa thì chân thật, vì Chúa đã tỏ ra cho tôi tớ Chúa những điều hạnh phúc ấy. Giờ đây, xin hãy khởi sự chúc phúc cho nhà tôi tớ Chúa, để nhà tôi tớ Chúa tồn tại trước mặt Chúa đến muôn đời, vì lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa đã phán và xin giáng phúc cho nhà tôi tớ Chúa đến muôn đời".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 131, 1-2. 3-5. 11. 12. 13-14

Ðáp: Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người (Lc 1, 32a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, để thương Ðavít, xin Chúa nhớ đến mọi nỗi ưu tư của người: người đã thề như thế nào với Chúa, người đã khấn hứa cùng Ðấng toàn năng nhà Giacóp rằng: - Ðáp.

2) "Tôi sẽ không vào lều trại nhà tôi, tôi sẽ không bước lên giường nằm, tôi sẽ không nhắm mắt ngủ, không để cho mi mắt tôi được nghỉ an, cho tới khi tôi gặp được nơi ngự điện cho Chúa, gặp được cung lâu cho Ðấng Toàn năng nhà Giacóp". - Ðáp.

3) Chúa đã thề hứa cùng Ðavít một lời hứa quả quyết mà Người sẽ chẳng rút lời, rằng: "Ta sẽ đặt lên ngai báu của ngươi một người con cháu thuộc dòng giống của ngươi". - Ðáp.

4) "Nếu các con ngươi tuân giữ điều ước của Ta và những luật lệ mà Ta ban ra dạy chúng, thì cả con cháu chúng cũng được muôn đời ngồi cai trị trên ngai báu của ngươi". - Ðáp.

5) Bởi chưng Chúa đã kén chọn Sion, đã thích lựa Sion làm nơi cư ngụ cho mình. Ngài phán: "Ðây là nơi nghỉ ngơi của Ta tới muôn đời, Ta sẽ cư ngụ nơi đây, vì Ta ưa thích". - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 24, 4c và 5a

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Chúa, và xin hướng dẫn con trong chân lý của Ngài. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 4, 21-25

"Ðèn đốt lên là để đặt trên giá đèn. Các ngươi đong đấu nào, thì người ta sẽ đong đấu ấy cho các ngươi".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Có ai đem đèn sáng đặt trong thùng hay dưới gầm giường chăng? Chẳng phải là để đặt trên giá đèn sao? Vì chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà không bị đưa ra ánh sáng. Ai có tai để nghe, thì hãy nghe". Và Người bảo họ rằng: "Hãy coi chừng điều các ngươi nghe thấy. Các ngươi đong bằng đấu nào, thì người ta sẽ đong lại cho các ngươi bằng đấu ấy, và người ta còn thêm nữa. Vì ai có, sẽ được cho thêm; và ai không có, cả cái đang có cũng bị lấy mất".

Ðó là lời Chúa.


 

 

Suy niệm



  Đức Kitô tỏa sáng   


Hôm nay, Thứ Năm Tuần 3 Thường Niên hậu Giáng Sinh, chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho chung thời điểm phụng vụ này liên quan đến những lời Chúa dạy trong bài Phúc Âm sau đây:

"Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: 'Có ai đem đèn sáng đặt trong thùng hay dưới gầm giường chăng? Chẳng phải là để đặt trên giá đèn sao? Vì chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà không bị đưa ra ánh sáng. Ai có tai để nghe, thì hãy nghe'. Và Người bảo họ rằng: 'Hãy coi chừng điều các ngươi nghe thấy. Các ngươi đong bằng đấu nào, thì người ta sẽ đong lại cho các ngươi bằng đấu ấy, và người ta còn thêm nữa. Vì ai có, sẽ được cho thêm; và ai không có, cả cái đang có cũng bị lấy mất'".

Đối tượng của những lời Chúa Giêsu phán dạy trong bài Phúc Âm hôm nay, như Thánh ký Marco cho biết, đó là "dân chúng", chứ không phải là các môn đệ của Người, cho dù các môn đệ của Người là thành phần đã được Người ví như "là ánh sáng thế gian" (Mathêu 5:14).

"Có ai đem đèn sáng đặt trong thùng hay dưới gầm giường chăng? Chẳng phải là để đặt trên giá đèn sao?": Chúa Giêsu muốn nói gì đây hay ám chỉ ai đây? Phải chăng Người muốn ám chỉ Lời giảng dạy của Người? Vì "Lời Ngài là đèn soi chân con bước, là ánh sáng soi đường con đi" (Thánh Vịnh 119:105). 

Thật vậy, bài Phúc Âm hôm nay tiếp theo ngay sau bài Phúc Âm hôm qua, mà bài Phúc Âm hôm qua về dụ ngôn "người đi gieo hạt" và "hạt là Lời Chúa", thì bài Phúc Âm hôm nay Người muốn tiếp tục đề tài Lời Chúa hay mạc khải thần linh, nhưng bằng một hình ảnh khác hay đúng hơn bằng một tác động khác, thay vì "đi gieo hạt" như trong bài Phúc Âm hôm qua thì lại "đặt trên giá đèn" trong bài Phúc Âm hôm nay.

Nếu ánh sáng là hình ảnh hay tiêu biểu cho sự thật cũng như cho bản chất của ánh sáng hay của sự thật là chiếu soi, là giải phóng thì quả thực, đúng như lời Chúa Giêsu khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay, "chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà không bị đưa ra ánh sáng". 

Câu "chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà không bị đưa ra ánh sáng" này cũng có thể hiểu là không gì có thể ẩn khuất, cho dù là thâm tâm của con người, là âm mưu tinh quái nhất của con người, cũng không thể nào qua mặt được Lời Chúa, không thể nào che giấu được Lời Chúa là Chúa Kitô, che giấu được ánh mắt thần linh của Người: "Người tự mình biết được những gì nơi con người ta" (Gioan 2:25).

Trong bài Phúc Âm hôm qua, khi nói về dụ ngôn "người đi gieo hạt", Chúa Giêsu còn nói cả về phía thành phần lãnh nhận và đáp ứng thế nào: hạt vệ đường, hạt đá sỏi, hạt bụi gai, hạt đất tốt bao gồm hạt 30, hạt 60 và hạt 100, thì trong bài Phúc Âm hôm nay cũng thế, Người cũng bao gồm cả vế thành phần lãnh nhận nữa: "Hãy coi chừng điều các ngươi nghe thấy" (chính động từ "nghe" ở đây cũng cho thấy "đèn soi" là Lời Chúa, đối tượng của tác động "nghe").

"'Ai có tai để nghe, thì hãy nghe'. Và Người bảo họ rằng: 'Hãy coi chừng điều các ngươi nghe thấy. Các ngươi đong bằng đấu nào, thì người ta sẽ đong lại cho các ngươi bằng đấu ấy, và người ta còn thêm nữa. Vì ai có, sẽ được cho thêm; và ai không có, cả cái đang có cũng bị lấy mất'".

Đúng thế, càng cởi mở và khao khát lời Chúa, nhất là càng nhiệt thành và mau mắn đón nhận Lời Chúa, tức là càng tìm kiếm chân lý là Chúa Kitô, càng đáp ứng Chúa Kitô là mạc khải thần linh, thì tùy theo tầm vóc của mình, một tầm vóc được ví như cái "đấu", cũng như tùy theo cường độ khát vọng thần linh của mình, tùy theo khoảng rộng cởi mở của mình, một thứ cường độ và khoảng rộng được ví như tác động "đong" của con người lãnh nhận, Lời Chúa ở nơi họ, một là "có, sẽ được cho thêm", hai là "không có, cả cái đang có cũng bị lấy mất".

Thật ra, cho dù tác dụng của "đèn soi" hay của "hạt gieo" có vẻ bị lệ thuộc vào môi trường là người nhận, ở chỗ nếu họ không mở cửa thì ánh sáng của "đèn soi" không lọt vào được, hay nếu không gặp "đất tốt" thì "hạt gieo" sẽ không thể nẩy mầm và phát triển, nhưng tự mình, "đèn soi" vẫn không thể nào không tỏa sáng để làm cho môi trường biến khuất tối tăm, và "hạt gieo" vẫn chất chứa mầm sống để làm cho môi trường phát triển tốt tươi

Những môi trường nhân bản nào khép kín không tiếp nhận ánh sáng của "đèn soi", hay khô cằn không thể thích hợp với mầm sống của "hạt gieo" là những môi trường nhân bản hay những con người tự tác hại bản thân mình, chứ không thể nào tác hại đến chính "đèn soi" tự bản chất vẫn soi chiếu, hay đến chính "hạt gieo" tự bản chất vẫn làm cho cây cối phát triển.

Nếu Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm qua cho thấy một Đavít "đất tốt" thế nào thì Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cũng tiếp tục cho thấy một Đavít "đong đấu" như vậy, đến độ vua ở vào trường hợp "ai đã có, sẽ được cho thêm", như chính vua đã cảm nhận ở đầu Bài Đọc 1 hôm nay

"Lạy Chúa là Thiên Chúa, con là ai và gia đình con là chi mà Chúa dẫn con đến đây? Nhưng lạy Chúa là Thiên Chúa, như thế Chúa còn cho là ít, nên Chúa còn nói đến nhà tôi tớ Chúa trong tương lai lâu dài, vì lạy Chúa, đó là thường tình của loài người".

Vua Đavít "đã có" ở chỗ"Chúa đã thiết lập dân Israel làm dân Chúa đến muôn đời, và lạy Chúa, chính Chúa trở thành Thiên Chúa của họ. Vậy giờ đây, lạy Chúa là Thiên Chúa, xin hãy thực hiện mãi mãi lời Chúa đã nói về tôi tớ và về nhà của nó, và hãy làm như Chúa đã phán, để danh Chúa được ca khen đến muôn đời, và được truyền tụng rằng: 'Chúa các đạo binh là Thiên Chúa của Israel'". 

Vua Đavít "sẽ được cho thêmở chỗ: "Xin cho nhà tôi tớ Chúa được vững chắc trước nhan thánh Chúa. Lạy Chúa các đạo binh, Thiên Chúa của Israel, vì Chúa đã mạc khải cho tôi tớ Chúa biết những lời này: 'Ta sẽ xây dựng cho ngươi một ngôi nhà', vì thế, tôi tớ Chúa vững tâm thốt lên lời khẩn nguyện trên đây. Vậy giờ đây, ... xin hãy khởi sự chúc phúc cho nhà tôi tớ Chúa, để nhà tôi tớ Chúa tồn tại trước mặt Chúa đến muôn đời, vì lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa đã phán và xin giáng phúc cho nhà tôi tớ Chúa đến muôn đời".

Bài Đáp Ca hôm nay được trích từ Thánh Vịnh 131, một Bài Thánh Vịnh nói về Vua Đavít chứ không phải Bài Thánh Vịnh của Vua Đavít, nhưng lại chất chứa những gì từ vua hướng về Chúa Kitô là giòng dõi của vua, như câu đáp chính của bài Đáp Ca hôm nay nói rõ: "Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người":  

1) Lạy Chúa, để thương Ðavít, xin Chúa nhớ đến mọi nỗi ưu tư của người: người đã thề như thế nào với Chúa, người đã khấn hứa cùng Ðấng toàn năng nhà Giacóp rằng: 

2) "Tôi sẽ không vào lều trại nhà tôi, tôi sẽ không bước lên giường nằm, tôi sẽ không nhắm mắt ngủ, không để cho mi mắt tôi được nghỉ an, cho tới khi tôi gặp được nơi ngự điện cho Chúa, gặp được cung lâu cho Ðấng Toàn năng nhà Giacóp". 

3) Chúa đã thề hứa cùng Ðavít một lời hứa quả quyết mà Người sẽ chẳng rút lời, rằng: "Ta sẽ đặt lên ngai báu của ngươi một người con cháu thuộc dòng giống của ngươi". 

4) "Nếu các con ngươi tuân giữ điều ước của Ta và những luật lệ mà Ta ban ra dạy chúng, thì cả con cháu chúng cũng được muôn đời ngồi cai trị trên ngai báu của ngươi". 

5) Bởi chưng Chúa đã kén chọn Sion, đã thích lựa Sion làm nơi cư ngụ cho mình. Ngài phán: "Ðây là nơi nghỉ ngơi của Ta tới muôn đời, Ta sẽ cư ngụ nơi đây, vì Ta ưa thích". 

 

 

Thứ Sáu


Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: (năm II) 2 Sm 11, 1-4a. 5-10b. 13-17

"Ngươi đã khinh dể Ta và đã cướp vợ Uria làm vợ mình".

Trích sách Samuel quyển thứ hai.

Khi ấy, sang năm mới, là lúc các vua thường ra trận, thì Ðavít sai Gioáp, các tôi tớ của vua và toàn dân Israel đi tiêu diệt dân Ammon và bao vây Rabba. Còn Ðavít thì ở lại Giêrusalem. Khi chiến tranh đang diễn tiến, thì một bữa trưa nọ, Ðavít ra khỏi giường ngủ, đi bách bộ trên sân thượng nhà vua, liền nhìn thấy một phụ nữ đang tắm trên sân thượng nhà bà. Bà rất xinh đẹp. Vậy vua sai dò hỏi người phụ nữ đó là ai. Người ta thưa đó là bà Bethsabê, con ông Êliam, vợ Uria người Hêthê. Ðavít sai cận vệ đi tìm bà. Khi trở về nhà, bà mang thai, nên sai người báo tin cho Ðavít mà rằng: "Tôi đã có thai".

Vậy Ðavít sai người đến nói với Gioáp rằng: "Hãy sai tướng Uria người Hêthê về đây cho trẫm". Gioáp sai Uria về gặp Ðavít, và Uria đến gặp Ðavít. Ðavít hỏi thăm tin tức về Gioáp, quân sĩ, và trận chiến diễn tiến thế nào. Rồi Ðavít nói cùng Uria: "Ngươi hãy về nhà rửa chân đi". Uria rời khỏi hoàng cung, và người ta mang cho ông một phần ăn của nhà vua, nhưng Uria cùng các cận vệ nằm ngủ ngay trước cửa nhà vua chứ không về nhà. Người ta đi báo tin cho Ðavít hay "Uria không đi về nhà". Ðavít mời ông ăn uống trước mặt mình và ép uống rượu cho say. Ðến chiều Uria đi ra cùng với các cận vệ ngủ trên chõng, chớ không về nhà. Sáng hôm sau, Ðavít viết một lá thư gởi cho Gioáp và sai Uria mang đi. Trong thư, ngài viết như sau: "Hãy đặt Uria vào nơi giao tranh gay cấn nhất, rồi bỏ mặc hắn, để hắn bị đánh cho chết". Vậy khi Gioáp bao vây thành, liền cử Uria đến địa điểm mà ông biết có những quân địch mạnh nhất. Quân trong thành kéo ra nghinh chiến với Gioáp, nhiều quân sĩ của Ðavít ngã gục, và cả Uria người Hêthê cũng tử trận.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 50, 3-4. 5-6a. 6bc-7. 10-11

Ðáp: Lạy Chúa, xin thương xót chúng con, vì chúng con đã phạm tội (c. 3a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác. - Ðáp.

2) Vì sự lỗi con, chính con đã biết, và tội con ở trước mặt con luôn. Con phạm tội phản nghịch cùng một Chúa. - Ðáp.

3) Con thi hành điều ác trước thiên nhan, hầu tỏ ra Chúa công bình khi phê phán. Này coi, con đã chào đời trong ô uế, và trong tội, mẹ đã hoài thai con. - Ðáp.

4) Xin cho con cảm thấy vui mừng hoan hỉ, cho xương bị Chúa đập hớn hở reo lên. Xin ngoảnh mặt đi, đừng nhìn tội lỗi, và tẩy xoá mọi điều gian ác của con. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 94, 8ab

Alleluia, alleluia! - Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 4, 26-34

"Người kia đã gieo hạt xuống đất, rồi đi ngủ, hạt giống mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Nước Thiên Chúa giống như người kia đã gieo hạt xuống đất: người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa. Ðất tự nó làm cây lúa mọc lên: trước hết thành cây, rồi đâm bông, rồi kết hạt. Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".

Người còn phán: "Chúng ta sẽ lấy gì mà hình dung nước Thiên Chúa? hay dùng dụ ngôn nào mà so sánh nước đó được? Nước đó giống như hạt cải, khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được". Người dùng nhiều dụ ngôn như thế mà rao giảng lời Chúa cho họ, tuỳ sức họ có thể hiểu được, và Người chỉ nói với họ bằng dụ ngôn, nhưng khi ở riêng với các môn đệ, Người giải thích tất cả cho các ông.

Ðó là lời Chúa.



Suy niệm

   

 Đức Kitô Nước Trời  


Thứ Sáu Tuần 3 Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay, Bài Phúc Âm nói riêng và phụng vụ Lời Chúa nói chung vẫn phản ảnh chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của thời điểm phụng vụ này.

Trước hết, ở bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã sử dụng 2 dụ ngôn để nói về mầu nhiệm hay thực tại "Nước Thiên Chúa", dụ ngôn đầu về "người kia đã gieo hạt xuống đất" và dụ ngôn sau về "hạt cải", thứ tự như sau:

Dụ ngôn về "người kia đã gieo hạt xuống đất": "Nước Thiên Chúa giống như người kia đã gieo hạt xuống đất: người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa. Ðất tự nó làm cây lúa mọc lên: trước hết thành cây, rồi đâm bông, rồi kết hạt. Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".

Dụ ngôn về "hạt cải": "Nước đó giống như hạt cải, khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được".

Về dụ ngôn "người kia đã gieo hạt xuống đất", Chúa Giêsu có bao gồm 2 đặc điểm liên hệ với nhau giữa người gieo hạt giống và chính hạt giống, đó là "người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa". 

"Người đó cũng không hay biết nữa" ở đây có thể hiểu là: 1- không cần để ý, vì theo kinh nghiệm nhà nông người này đã thừa biết rằng: "đất tự nó làm cây lúa mọc lên"; 2- hoàn toàn tin tưởng vào khả năng của hạt giống được mình gieo xuống: "hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên... trước hết thành cây, rồi đâm bông, rồi kết hạt"; và 3- sống trong chờ đợi công lao gieo vãi chuyên nghiệp của mình: "Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".

Dụ ngôn thứ nhất của Bài Phúc Âm hôm nay rất thích hợp với trường hợp của Vua Đavít trong Bài Đọc 1 hôm nay. Ở chỗ, thật sự là "người gieo hạt xuống đất..." như đã "ngủ" say đến độ "không hay biết" những giây phút gian ác thầm kín ngoại tình và sát nhân của một vị vua được gọi là Thánh Vương Đavít này.

Vua đã ngoại tình ở chỗ: "Khi chiến tranh đang diễn tiến, thì một bữa trưa nọ, Ðavít ra khỏi giường ngủ, đi bách bộ trên sân thượng nhà vua, liền nhìn thấy một phụ nữ đang tắm trên sân thượng nhà bà. Bà rất xinh đẹp. Vậy vua sai dò hỏi người phụ nữ đó là ai. Người ta thưa đó là bà Bethsabê, con ông Êliam, vợ Uria người Hêthê. Ðavít sai cận vệ đi tìm bà. Khi trở về nhà, bà mang thai, nên sai người báo tin cho Ðavít mà rằng: 'Tôi đã có thai'".

Vua đã sát nhân ở chỗ: "Ðavít mời ông ăn uống trước mặt mình và ép uống rượu cho say. Ðến chiều Uria đi ra cùng với các cận vệ ngủ trên chõng, chớ không về nhà. Sáng hôm sau, Ðavít viết một lá thư gởi cho Gioáp và sai Uria mang đi. Trong thư, ngài viết như sau: 'Hãy đặt Uria vào nơi giao tranh gay cấn nhất, rồi bỏ mặc hắn, để hắn bị đánh cho chết'. Vậy khi Gioáp bao vây thành, liền cử Uria đến địa điểm mà ông biết có những quân địch mạnh nhất. Quân trong thành kéo ra nghinh chiến với Gioáp, nhiều quân sĩ của Ðavít ngã gục, và cả Uria người Hêthê cũng tử trận".

Tội ngoại tình và sát nhân của Thánh Vương Đavít này dường như đã thích hợp với dụ ngôn thứ hai về "hạt cải": Ở chỗ, "khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất", một tính chất có thể áp dụng vào trường hợp của Vua Đavít là những gì vua làm trong Bài Đọc 1 hôm nay: hèn hạ, xấu xa, "nhỏ bé nhất" so với tất cả những gì cao cả vua đã từng làm suốt đời của vua, từ hồi niên thiếu. "Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được", ở chỗ, vua đã nhận biết mình và ăn năn thống hối cùng chấp nhận đền tội lỗi của mình, lại càng làm cho Chúa được vinh danh hơn. 

Trong bài giảng lễ ngày thường ở Nhà Trọ Matta hôm Thứ Hai ngày 18/1/2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã bày tỏ cảm nhận của mình về trường hợp vua Đavít như sau:

"Thần Linh Chúa đã chiếm đoạt Đavít... tất cả đời sống của Đavít là đời sống của một con người được Chúa xức dầu, được Chúa chọn... Phải chăng Chúa đã biến chàng thành một vị thánh?... Vua Đavít và thánh Vương Đavít, đúng, thế nhưng chàng đã trở thành một vị thánh sau một khi sống một cuộc đời thọ tuổi.... 

"Một vị thánh và một tội nhân. Là một con người có khả năng hiệp nhất Vương Quốc Do Thái, vua đã có thể dẫn dắt dân Do Thái. Thế nhưng vua cũng bị sa chước cám dỗ... vua đã phạm tội lỗi: vua cũng là một kẻ sát nhân. Để che lấp cái nhục dục của mình là tội ngoại tình... vua đã thành một kẻ sát nhân. Vua thực sự đã sát nhân. Thánh Vương Đavít đã giết người hay sao? Khi Thiên Chúa sai tiên tri Nathan để vạch trần sự kiện này ra cho vua, vì vua không nhận thức được cái dã man thô tục mà vua đã truyền khiến, thì vua đã nhìn nhận tội lỗi của mình và xin ơn tha thứ...." 

Đúng thế, ngay sau khi được tiên tri Nathan vạch tội của vua ra, vua ra tỏ ra thật lòng ăn năn thống hối, như chính vua đã bày tỏ cùng Chúa trong Thánh Vịnh 50 ở Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác. 

2) Vì sự lỗi con, chính con đã biết, và tội con ở trước mặt con luôn. Con phạm tội phản nghịch cùng một Chúa. 

3) Con thi hành điều ác trước thiên nhan, hầu tỏ ra Chúa công bình khi phê phán. Này coi, con đã chào đời trong ô uế, và trong tội, mẹ đã hoài thai con. 

4) Xin cho con cảm thấy vui mừng hoan hỉ, cho xương bị Chúa đập hớn hở reo lên. Xin ngoảnh mặt đi, đừng nhìn tội lỗi, và tẩy xoá mọi điều gian ác của con. 

"Đời sống của con người này đã đánh động tôi. Nó khiến chúng ta nghĩ về cuộc đời của mình. Tất cả chúng ta đều đã được Chúa chọn lãnh nhận Phép Rửa, đều thuộc về dân của Ngài, đều trở thành các vị thánh; chúng ta đã được Chúa thánh hóa trên đường nên thánh. Khi đọc về cuộc đời này, cuộc đời của một đứa nhỏ - không... không phải là một đứa nhỏ, mà là một nam thiếu niên - từ thiếu thời tới già đời, khoảng thời gian con người này đã làm nhiều điều tốt lành cũng như những điều không tốt khác. Nó làm cho tôi nghĩ rằng trong cuộc hành trình Kitô hữu, cuộc hành trình Chúa đã mời gọi chúng ta thực hiện, không có một vị thánh nào mà không có quá khứ và cũng không có một tội nhân nào mà lại không có tương lai". 

Phải, chính vì "cuộc hành trình Chúa đã mời gọi chúng ta thực hiện, không có một vị thánh nào mà không có quá khứ và cũng không có một tội nhân nào mà lại không có tương lai", như Đức Giáo Hoàng Phanxicô cảm nhận, mà "Nước Thiên Chúa giống như người kia đã gieo hạt xuống đất: người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa. Ðất tự nó làm cây lúa mọc lên: trước hết thành cây, rồi đâm bông, rồi kết hạt. Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".

 

 


Thứ Bảy


Lời Chúa


Bài Ðọc I: (năm II) 2 Sm 12, 1-7a, 10-17

"Tôi đã phạm tội đến Chúa".

Trích sách Samuel quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, Chúa sai Nathan đến cùng Ðavít. Ông đến và nói với Ðavít rằng: "Trong thành kia có hai người, một người giàu và một người nghèo. Người giàu có rất nhiều chiên bò, còn người nghèo thì không có gì, ngoài một con chiên con mà ông đã mua và nuôi dưỡng, nó lớn lên trong nhà ông cùng với con cái ông, cùng ăn một bánh, cùng uống một chén và cùng ngủ một giường với ông; ông kể nó như con gái mình. Có một người khách đến thăm người giàu ấy, ông ta không muốn bắt chiên bò của mình để dọn tiệc đãi khách, nhưng lại bắt con chiên của người nghèo mà dọn tiệc đãi khách". Ðavít tức giận người đó lắm, và nói cùng Nathan rằng: "Nhân danh Thiên Chúa hằng sống! Người làm như thế là đáng chết. Nó phải bồi thường gấp bốn lần vì đã hành động bất nhân như thế!"

Nathan liền nói với Ðavít: "Ngài chính là người đó. Chúa là Thiên Chúa Israel phán rằng: Lưỡi gươm sẽ không bao giờ rời khỏi dòng dõi ngươi cho đến muôn đời, vì ngươi đã khinh dể Ta, đã cướp vợ của Uria người Hêthê làm vợ mình. Vì thế Chúa phán rằng: Từ gia đình ngươi, Ta sẽ gây nên tai hoạ đổ trên đầu ngươi. Ngay trước mặt ngươi, Ta sẽ đem thê thiếp của ngươi trao cho người khác, nó sẽ ăn ở với chúng ngay dưới ánh sáng mặt trời. Ngươi đã hành động thầm lén, còn Ta, Ta sẽ làm việc đó trước mặt toàn dân Israel và giữa thanh thiên bạch nhật".

Ðavít nói cùng Nathan rằng: "Tôi đã phạm tội đến Chúa". Và Nathan nói cùng Ðavít rằng: "Chúa cũng đã tha tội cho ngài rồi, ngài sẽ không phải chết. Nhưng vì việc này, ngài làm dịp cho quân thù của Chúa nói phạm thượng, nên đứa con của ngài sẽ chết". Rồi Nathan ra về.

Và Chúa giáng hoạ trên đứa con của Ðavít do vợ của Uria sinh ra, nên nó lâm trọng bệnh. Ðavít khẩn cầu Chúa cho đứa trẻ, ông ăn chay và lui về phòng nằm dưới đất. Các kỳ lão đến nhà vua và nài xin vua chỗi dậy, nhưng vua không chịu và không dùng bữa với họ.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 50, 12-13. 14-15. 16-17.

Ðáp: Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch (c. 12a).

Xướng: 1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. - Ðáp.

2) Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài. - Ðáp.

3) Xin cứu gỡ con khỏi đền nợ máu, ôi lạy Chúa là Chúa cứu độ con, lưỡi con sẽ ca ngợi đức công minh Chúa. Lạy Chúa, xin mở môi con, miệng con sẽ loan truyền lời ca khen. - Ðáp.

 

Alleluia: Tv 118, 27

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 4, 35-41

"Người là ai mà cả gió lẫn biển cũng đều vâng lệnh Người?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Ngày ấy, khi chiều đến, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Chúng ta hãy sang bên kia biển hồ". Các ông giải tán đám đông; vì Người đang ở dưới thuyền, nên các ông chở Người đi. Cũng có nhiều thuyền khác theo Người. Chợt có một cơn bão lớn và những lớp sóng ùa vào thuyền đến nỗi sắp đầy nước. Và Người thì ở đàng lái dựa gối mà ngủ. Các ông đánh thức Người và nói: "Thưa Thầy, chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến sao?" Chỗi dậy, Người đe gió và phán với biển rằng: "Hãy im đi, hãy lặng đi". Tức thì gió ngừng biển lặng như tờ. Rồi Người nói với các ông: "Sao các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?" Bấy giờ các ông kinh hãi và nói với nhau rằng: "Người là ai mà cả gió lẫn biển cũng đều vâng lệnh Người?"

Ðó là lời Chúa.


Suy niệm

   

  

 Đức Kitô chỗi dậy

 

Hôm nay Thứ Bảy, ngày cuối cùng của Tuần 3 Thường Niên hậu Giáng Sinhchủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của thời điểm phụng vụ này vẫn được tiếp tục ở chung phụng vụ Lời Chúa hôm nay, cách riêng là bài Phúc Âm, qua sự kiện Người dẹp yên bão tố.

Thật vậy, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này đã tỏ mình ra qua sự kiện dẹp yên bão tố để cứu các môn đệ của Người, thành phần yếu đức tin cần phải mạnh tin hơn nhờ chứng kiến thấy quyền năng của Người: "Bấy giờ các ông kinh hãi và nói với nhau rằng: 'Người là ai mà cả gió lẫn biển cũng đều vâng lệnh Người?'"

Căn cứ vào sự kiện xẩy ra được Phúc Âm hôm nay thuật lại là "chợt có một cơn bão lớn và những lớp sóng ùa vào thuyền đến nỗi sắp đầy nước. Và Người thì ở đàng lái dựa gối mà ngủ. Các ông đánh thức Người và nói: 'Thưa Thầy, chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến sao?'" chúng ta thấy quả thực các môn đệ đáng bị Thày của các vị quở trách: "Sao các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?"

Lời quở trách này của Người như thể Người muốn nói cùng các vị rằng: Tại sao các con lại cuống lên và quá hoảng loạn như thế. Chính Thày đang ở bên các con và ở cùng các con mà các con còn sợ và vẫn sợ hay sao. Các con không nhớ rằng Thày đã từng tỏ quyền năng thần linh của Thày ra bằng cách chữa lành đủ thứ bệnh nạn tật nguyền, thậm chí trừ được cả quyền lực của ngụy thần ma quỉ. 

Phải, chắc chắn các môn đệ của Người không chối cãi được quyền năng của Thày trong việc Người chữa lành và trừ quỉ, nhưng còn bão tố dữ dội khủng khiếp trong thiên nhiên như lần này thì các vị mới gặp lần đầu tiên, nên không biết quyền năng của Thày các vị ra sao và tới đâu, liệu có thể làm chủ nổi sức mạnh cuồng phong kinh hoàng bấy giờ hay chăng thì chưa thấy, do đó để chắc ăn các vị cần phải "đánh thức Người đậy mà nói: 'Thưa Thầy, chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến sao?'"

Đúng là cơn bão tố quá dữ dội đến độ đã làm cho các môn đệ trở nên hoảng loạn, thậm chí các vị không còn bình tĩnh để nghĩ được rằng tại sao Thày của các vị có thể ngủ say đến thế, ở chỗ "những lớp sóng ùa vào thuyền đến nỗi sắp đầy nước" mà Thày lại cứ "dựa gối mà ngủ ở đằng lái" được là làm sao? Các vị đang hết sức chống chọi với bão tố mà còn có thể bị chết thì chẳng lẽ Thày ngủ như vậy mà thoát chết được hay sao??

Tuy nhiên, dầu sao cũng nhờ tình trạng quá yếu kém đức tin của các vị mà Chúa Kitô được dịp tỏ quyền năng của Người nơi cả thiên nhiên tạo vật nữa, chứ không phải chỉ nơi loài người hay nơi ma quỉ mà thôi. Thiên nhiên tạo vật sở dĩ xẩy ra những thiên tai cũng do bởi tội lỗi của loài người, như bệnh hoạn tật nguyền cũng bởi nguyên tội, bị quỉ ám cũng bởi nguyên tội. Là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", Người cứu độ con người chẳng những phần hồn mà còn phần xác của họ nữa

Chỉ vào lúc con người cảm thấy hoàn toàn bất lực, cảm thấy bất khả cứu vãn, Thiên Chúa thường mới lợi dụng để tỏ mình ra, nhờ đó đức tin của họ được gia tăng trong đời sống trần gian này và Người được họ nhận biết. Bởi thế, như bài Phúc Âm hôm nay thuật lại: "Chỗi dậy, Người đe gió và phán với biển rằng: 'Hãy im đi, hãy lặng đi'. Tức thì gió ngừng biển lặng như tờ". 

Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cũng cho thấy trường hợp sóng gió bão bùng nổi lên trong cuộc đời của Vua Đavít, gây ra bởi tội lỗi của vua, như được thuật lại trong Bài Đọc 1 hôm qua. Bão tố nổi lên như hậu quả của tội vua phạm, như lời tiên tri Nathan tiên báo trong Bài Đọc 1 hôm nay, đó là:  

"Lưỡi gươm sẽ không bao giờ rời khỏi dòng dõi ngươi cho đến muôn đời, vì ngươi đã khinh dể Ta, đã cướp vợ của Uria người Hêthê làm vợ mình. Vì thế Chúa phán rằng: Từ gia đình ngươi, Ta sẽ gây nên tai hoạ đổ trên đầu ngươi. Ngay trước mặt ngươi, Ta sẽ đem thê thiếp của ngươi trao cho người khác, nó sẽ ăn ở với chúng ngay dưới ánh sáng mặt trời. Ngươi đã hành động thầm lén, còn Ta, Ta sẽ làm việc đó trước mặt toàn dân Israel và giữa thanh thiên bạch nhật".

Chưa hết, cho dù vua Đavít có tỏ lòng ăn năn thống hối chăng nữa thì tội được tha nhưng hậu quả của tội vua phạm thì vua vẫn phải đền tội của mình một cách cân xứng. Đó là lý do đoạn kết của Bài Đọc 1 hôm nay mới tiếp tục cho biết thêm như sau: 

"Ðavít nói cùng Nathan rằng: 'Tôi đã phạm tội đến Chúa'. Và Nathan nói cùng Ðavít rằng: 'Chúa cũng đã tha tội cho ngài rồi, ngài sẽ không phải chết. Nhưng vì việc này, ngài làm dịp cho quân thù của Chúa nói phạm thượng, nên đứa con của ngài sẽ chết'. Rồi Nathan ra về. Và Chúa giáng hoạ trên đứa con của Ðavít do vợ của Uria sinh ra, nên nó lâm trọng bệnh. Ðavít khẩn cầu Chúa cho đứa trẻ, ông ăn chay và lui về phòng nằm dưới đất. Các kỳ lão đến nhà vua và nài xin vua chỗi dậy, nhưng vua không chịu và không dùng bữa với họ".

Bài Đáp Ca hôm nay, cũng được trích từ Thánh Vịnh 50 là Thánh Vịnh thống hối của Vua Đavít, tiếp ngay sau Bài Phúc Âm hôm qua, bài thánh vịnh trong Bài Đáp Ca hôm nay, sau phần thống hối ăn năn (trong Bài Đáp Ca hôm qua), sang tới phần xin những ơn cần thiết để có thể sống đẹp lòng Chúa, chẳng hạn những ơn tiêu biểu sau đây:

1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. 

2) Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài. 

3) Xin cứu gỡ con khỏi đền nợ máu, ôi lạy Chúa là Chúa cứu độ con, lưỡi con sẽ ca ngợi đức công minh Chúa. Lạy Chúa, xin mở môi con, miệng con sẽ loan truyền lời ca khen. 


 

HẠNH THÁNH TRONG TUẦN

Ngày 25 tháng 1

Lễ Thánh Phaolô, Tông Đồ trở lại

(Lễ kính)

 

Phụng Vụ Giờ Kinh

 

Trên đường đi Đa-mát, ông Sao-lô quê thành Tác-xô đã khám phá ra hai điều : Trước hết, Đức Giê-su Na-da-rét là Đấng đã phục sinh, cũng là Đấng được Thiên Chúa ban phúc lành ; thứ đến, Đấng Phục Sinh với các Ki-tô hữu là các anh em người, chỉ là một. Khám phá này là nguồn ánh sáng soi chiếu cả cuộc đời thánh nhân.

 

Bài đọc 1Gl 1,11-24

Phao-lô, một người Do-thái, trở thành Tông Đồ Đức Ki-tô

Trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ga-lát.

11 Thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết : Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người. 12 Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giê-su Ki-tô đã mặc khải. 13 Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do-thái : tôi đã quá hăng say bắt bớ, và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa. 14 Trong việc giữ đạo Do-thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi : hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông.

15 Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. 16 Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, 17 cũng chẳng lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đã sang xứ Ả-rập, rồi lại trở về Đa-mát. 18 Ba năm sau tôi mới lên Giê-ru-sa-lem diện kiến ông Kê-pha, và ở lại với ông mười lăm ngày. 19 Tôi đã không gặp một vị Tông Đồ nào khác ngoài ông Gia-cô-bê, người anh em của Chúa. 20 Viết cho anh em những điều này, tôi cam đoan trước mặt Thiên Chúa là tôi không nói dối. 21 Sau đó tôi đến miền Xy-ri và miền Ki-li-ki-a. 22 Nhưng lúc ấy các Hội Thánh Đức Ki-tô tại miền Giu-đê không biết mặt tôi. 23 Họ chỉ nghe nói rằng : “Người trước đây bắt bớ chúng ta, bây giờ lại loan báo đức tin mà xưa kia ông những muốn tiêu diệt”, 24 và vì tôi, họ tôn vinh Thiên Chúa.

Bài đọc 2

Vì lòng yêu mến Đức Ki-tô, thánh Phao-lô chịu đựng tất cả

Trích bài giảng của thánh Gio-an Kim Khẩu, giám mục.

Con người là gì, bản tính nhân loại của chúng ta cao trọng thế nào, và con người có khả năng đến đâu dù cũng chỉ là động vật, thì, hơn bất cứ ai, thánh Phao-lô đã cho chúng ta thấy rõ. Người sống mỗi ngày một cao thượng hơn, vươn lên mỗi ngày một mạnh mẽ hơn ; khi gặp hiểm nguy, người luôn chiến đấu với niềm phấn khởi mới. Người cho thấy điều đó khi nói : Tôi quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. Khi thấy giờ chết đã gần kề, thánh Phao-lô khuyến khích người khác cùng hiệp thông và chia sẻ niềm vui với mình, người nói : Anh em hãy vui lên và cùng chia sẻ niềm vui với tôi. Khi gặp nguy hiểm và bị lăng nhục, người lại vui mừng viết cho các tín hữu Cô-rin-tô : Tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, bị bắt bớ. Người gọi đó là khí cụ để làm điều công chính, và cho thấy nhờ vậy người đã gặt hái được những thành quả mỹ mãn.

Vì thế, khi bị âm mưu hãm hại, người vẫn đắc thắng chống lại mọi cuộc tấn công của kẻ thù. Bất cứ ở đâu bị đánh đòn, bị lăng nhục và nguyền rủa, người luôn xử sự như kẻ mừng chiến thắng khải hoàn, thu lượm được nhiều chiến phẩm ; người hãnh diện và tạ ơn Thiên Chúa mà nói : Tạ ơn Thiên Chúa, Đấng hằng chiến thắng khải hoàn nơi chúng tôi. Vậy, người mau mắn đến với những nhục nhằn tủi hổ vì rao giảng Tin Mừng, còn hơn là chúng ta mau mắn đến lãnh nhận danh dự và vinh quang ; người ước mong được chết hơn là chúng ta ham sống, thích khó nghèo hơn là được giàu có ; người muốn làm việc liên lỉ hơn là kẻ khác mong cho xong việc để được nghỉ ngơi. Quả thật, người chỉ khiếp sợ và xa tránh một điều, là làm mất lòng Thiên Chúa, chứ chẳng sợ bất cứ điều gì khác. Vậy, người chẳng ao ước điều gì hơn là luôn luôn làm đẹp lòng Thiên Chúa.

Đối với người, điều lớn hơn tất cả là được hưởng tình yêu của Đức Ki-tô ; được như thế, người cho mình là hạnh phúc hơn hết mọi người ; còn nếu không, người cũng chẳng ham ở trong hàng vua chúa quan quyền. Nhưng người muốn mình là kẻ rốt hết, thậm chí thuộc số những kẻ bị án phạt, mà có lòng yêu mến này, hơn là được ở giữa những người cao sang danh vọng mà không có lòng yêu mến đó.

Thật vậy, đối với người, nỗi đớn đau tột độ, và khác thường là phải tách rời khỏi tình thương của Đức Ki-tô : đó chính là hoả ngục, là hình phạt duy nhất, là khổ hình triền miên không sao chịu được. Còn được hưởng tình thương của Đức Ki-tô là có tất cả : sự sống, trần gian, thiên thần, hiện tại, tương lai, vương quốc, lời hứa và vô số ơn lành. Khi có tình thương này rồi, người chẳng kể chi là buồn phiền hay vui thú. Thật vậy, mọi sự trên đời, người chẳng coi gì là cay đắng hay ngọt ngào nữa.

Người khinh chê mọi vật hữu hình như cỏ thối, xem bạo chúa và đám dân phẫn nộ như loài sâu bọ.

Người coi cái chết, nỗi đớn đau và mọi cực hình như trò chơi của trẻ con, khi vì Đức Ki-tô mà người phải chịu đựng những điều ấy.

 

Xướng đáp1 Tm 1,13b-14 ; 1 Cr 15,9b

XTôi đã được Chúa xót thương, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin.

ĐĐức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người.

XTôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa.

ĐĐức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người.

 

Lạy Chúa, Chúa đã dùng lời rao giảng của thánh Phao-lô tông đồ mà dạy dỗ muôn dân. Hôm nay mừng kỷ niệm ngày thánh nhân trở lại tin theo Đức Ki-tô, xin cho chúng con hằng noi gương thánh nhân để lại mà tiến đến gần Chúa, và trở nên chứng nhân của Tin Mừng. Chúng con cầu xin

 

 

Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Cv 22, 3-16

"Kêu danh thánh Chúa, tôi chỗi dậy".

Bài trích sách Tông đồ Công vụ.

Ngày ấy, Phaolô nói với dân chúng: "Tôi là người Do-thái, sinh tại Tarsê xứ Cilicia, đã được nuôi nấng trong thành này, đã được đào tạo theo chân lý lề luật cha ông dưới chân ông Gamaliêl. Tôi nhiệt thành với lề luật cũng như hết thảy quý vị hôm nay. Tôi đã bắt bớ giết chóc đạo này, xiềng xích và bỏ tù cả đàn ông lẫn đàn bà. Như thầy thượng tế và toàn thể hội đồng kỳ lão đã làm chứng điều đó. Các ngài đã trao cho tôi chứng minh thư để tôi đến kiếm anh em ở Ðamas, bắt trói họ và điệu về Giêrusalem để trừng phạt.

Xảy đến lúc đó khoảng trưa, tôi đang trên đường gần đến Ðamas, thình lình một luồng ánh sáng chan hoà từ trời chói rạng quanh tôi. Tôi ngã xuống đất và nghe tiếng phán bảo tôi: "Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?" Tôi đáp: "Thưa Ngài, Ngài là ai?" Người trả lời: "Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang bắt bớ". Và những người cùng ở đó với tôi lúc ấy, cũng thấy ánh sáng, nhưng không nghe tiếng Ðấng nói với tôi. Tôi hỏi: "Lạy Chúa, con phải làm gì?" Chúa liền nói với tôi: "Hãy chỗi dậy, vào thành Ðamas, ở đó sẽ nói cho ngươi tất cả những gì ngươi phải làm". Nhưng vì ánh sáng chói loà kia, tôi không còn thấy được, nên các bạn tôi cầm tay dẫn tôi vào thành Ðamas. Có một người kia tên là Anania, người đạo đức, sống theo Lề luật, và được mọi người Do-thái ở đó kính phục, đến tìm tôi và đứng gần tôi mà nói: "Hỡi anh Saolô, anh hãy nhìn!" Ngay lúc đó tôi nhìn thấy ông.

Và ông nói: "Thiên Chúa cha ông chúng ta đã tiền định cho anh biết thánh ý Người, thấy Ðấng Công Chính và nghe tiếng Người nói. Vậy anh phải làm chứng cho Người trước mặt mọi người về điều anh đã thấy và đã nghe. Và bây giờ, anh còn chần chừ gì nữa? Hãy chỗi dậy và cầu khẩn danh Người mà chịu thanh tẩy và gột rửa mình cho sạch tội lỗi".

Ðó là lời Chúa.

 



2. Hoặc: Cv 9, 1-22

"Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?"

Bài trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Saolô còn mải say mê hăm doạ giết các môn đồ Chúa. Ông đến thượng tế, xin chứng minh thư gởi đến hội đường ở Ðamas, để nếu gặp ai theo đạo ấy, bất luận nam nữ, ông bắt trói đem về Giêrusalem.

Ðang khi đi đường, lúc đến gần Ðamas, bỗng nhiên một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông, ông ngã xuống đất và nghe tiếng phán rằng: "Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?" Ông thưa: "Lạy Ngài, Ngài là ai?" Chúa đáp: "Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ; giơ chân đạp mũi nhọn thì khổ cho ngươi". Saolô run sợ và kinh hoàng hỏi rằng: "Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?" Chúa phán: "Hãy chỗi dậy, vào thành, và ở đó người ta sẽ nói cho ngươi phải làm gì". Những kẻ đồng hành với ông đứng lại, hoảng hốt; họ nghe rõ tiếng mà không thấy ai. Saolô chỗi dậy khỏi đất, mắt ông vẫn mở mà không trông thấy gì. Người ta cầm tay dẫn ông vào thành Ðamas; ông ở lại đấy ba ngày mà không thấy, không ăn, cũng không uống.

Bấy giờ ở Ðamas, có một môn đồ tên là Anania; trong một thị kiến, Chúa gọi ông rằng: "Anania". Ông thưa: "Lạy Chúa, này con đây". Chúa phán: "Hãy chỗi dậy và đến phố kia gọi là phố "Thẳng", và tìm tại nhà Giuđa một người tên Saolô, quê ở Tarsê; nó đang cầu nguyện". (Saolô cũng thấy một người tên Anania bước vào, và đặt tay trên ông để ông được sáng mắt). Anania thưa: "Lạy Chúa, con đã nghe nhiều người nói về người này rằng: ông đã gây nhiều tai ác cho các thánh của Chúa tại Giêrusalem; tại đây, ông đã được các thượng tế cho phép bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa". Nhưng Chúa phán: "Cứ đi, vì người này là lợi khí Ta đã chọn, để mang danh Ta đến trước dân ngoại, vua quan và con cái Israel. Ta sẽ tỏ cho nó biết phải chịu nhiều đau khổ vì danh Ta".

Anania ra đi, bước vào nhà, và đặt tay trên Saolô mà nói: "Anh Saolô, Chúa Giêsu, Ðấng hiện ra với anh trên đường đi đến đây, sai tôi đến cùng anh, để anh được thấy và được tràn đầy Thánh Thần. Tức thì có thứ gì như những cái vảy rơi khỏi mắt ông, và ông được sáng mắt.

Ông chỗi dậy chịu phép rửa, và sau khi ăn uống, ông được lại sức, ông ở lại ít ngày cùng với các môn đồ thành Ðamas. Và lập tức ông rao giảng trong các hội đường rằng Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa. Mọi người nghe rao giảng đều kinh ngạc và nói rằng: "Há chẳng phải ông này đã bách hại những người đã cầu khẩn danh ấy tại Giêrusalem, và cũng đã tới đây mà truy nã họ để điệu họ về cho các thượng tế sao?"

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 116, 1. 2

Ðáp: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian (Mc 16, 15).

Xướng: 1) Toàn thể chư dân, hãy ngợi khen Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người! - Ðáp.

2) Vì tình thương Chúa dành cho chúng ta thực là mãnh liệt. và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 15, 16

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Ta đã chọn các con giữa thế gian, hầu để các con đi và mang lại hoa trái, để hoa trái các con tồn tại". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 16, 15-18

"Các con hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu (hiện ra với mười một môn đệ và) nói: "Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu độ; ai không tin, sẽ bị luận phạt. Và đây là những dấu lạ đi theo những người đã tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng lạ, cầm rắn trong tay, và nếu uống phải chất độc thì cũng không bị hại; họ đặt tay trên những người bệnh, và bệnh nhân được lành mạnh".

Ðó là lời Chúa.

 

 

Tại sao gọi Thánh Phaolô là Tông Đồ?

 

Thánh Phaolô là một vị thánh rất đặc biệt trong Giáo Hội, nên:


Ngài vẫn được Giáo Hội vẫn gọi ngài là Tông Đồ, Tông Đồ Dân Ngoại, cho dù ngài không thuộc về hàng ngũ 12 tông đồ, nhưng Thật vậy, theo nguyên tắc thì không thuộc về hàng ngũ 12 tông đố thời Chúa Giêsu, được chính Chúa Kitô tuyển chọn, tỏ mình ra (nhất là khi Người phục sinh từ trong cõi chết) và sai đi như 12 vị có trong danh sách được bộ Phúc Âm Nhất Lãm liệt kê, thì không phải là tông đồ, mà chỉ là môn đệ của Chúa Kitô mà thôi. Tuy nhiên, căn cứ vào 3 yếu tố chính yếu bất khả thiếu để được trở thành tông đồ và đáng gọi là tông đồ đó là: 1- được chính Chúa Giêsu tuyển chọn, 2- được chính Chúa Giêsu tỏ mình ra cho, và 3- được chính Chúa Giêsu sai đi, thì Thánh Phaolô đã hội đủ 3 điều kiện tất yếu này, như được chính ngài tự thuật như sau (và các chi tiết nhiều hơn ở bên dưới đoạn này:


3.1- Được chính Chúa Giêsu tuyển chọn: 

 

"Ta hiện ra với ngươi là để chọn ngươi làm đầy tớ và làm chứng nhân về những điều ngươi đã thấy, cũng như những điều Ta sẽ hiện ra mà tỏ cho ngươi biết" (Tông Vụ 26:16)


Tông Vụ 9:10-22

10 Bấy giờ ở Đa-mát có một môn đệ tên là Kha-na-ni-a. Trong một thị kiến, Chúa phán với ông: "Kha-na-ni-a! " Ông thưa: "Dạ, lạy Chúa, con đây."11 Chúa bảo ông: "Đứng lên, đi tới phố gọi là Phố Thẳng, đến nhà Giu-đa tìm một người tên là Sao-lô quê ở Tác-xô: người ấy đang cầu nguyện12 và thấy một người tên là Kha-na-ni-a đi vào, đặt tay trên mình để làm cho mình lại thấy được."13 Ông Kha-na-ni-a thưa: "Lạy Chúa, con đã nghe lắm kẻ nói về người ấy, về tất cả những điều ác người ấy đã làm cho dân thánh Chúa tại Giê-ru-sa-lem.14 Còn ở đây, người ấy được các thượng tế cho quyền bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa."15 Nhưng Chúa phán với ông: "Cứ đi, vì người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ít-ra-en.16 Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta."17 Ông Kha-na-ni-a liền đi; ông vào nhà, đặt tay trên ông Sao-lô và nói: "Anh Sa-un, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là Đức Giê-su, Đấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy Thánh Thần."18 Lập tức có những cái gì như vảy bong ra khỏi mắt ông Sao-lô, và ông lại thấy được. Ông đứng dậy và chịu phép rửa.19 Rồi ông ăn và khoẻ lại.

20 rồi lập tức ông bắt đầu rao giảng Đức Giê-su trong các hội đường, rằng Người là Con Thiên Chúa.21 Mọi người nghe ông giảng đều kinh ngạc và nói: "Ông này chẳng phải là người ở Giê-ru-sa-lem vẫn tiêu diệt những ai kêu cầu danh Giê-su sao? Chẳng phải ông đã đến đây với mục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao? "22 Nhưng ông Sao-lô càng thêm vững mạnh, và ông làm cho người Do-thái ở Đa-mát phải bẽ mặt, khi minh chứng rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a.

 

Tông Vụ 13:46-47

46 Bấy giờ ông Phao-lô và ông Ba-na-ba mạnh dạn lên tiếng: "Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại.47 Vì Chúa truyền cho chúng tôi thế này: Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất."

 

 

3.2- Được chính Chúa Giêsu tỏ mình:  "Người hiện ra với ông Gia-cô-bê, rồi với tất cả các Tông Đồ.8 Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non" (1Corinto 15:7-8); "Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại" (Galata 1:15-16).  .

 

1Cor 15:3-10

Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh,4 rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh.5 Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai.6 Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ.7 Tiếp đến, Người hiện ra với ông Gia-cô-bê, rồi với tất cả các Tông Đồ.8 Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.

9 Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa.10 Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi. (15)

Galata 1: 11-19, 8-9

Tôi xin nói cho anh em biết: Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người.12 Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giê-su Ki-tô đã mặc khải.13 Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do-thái: tôi đã quá hăng say bắt bớ, và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa.14 Trong việc giữ đạo Do-thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi: hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông.

15 Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người.16 Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên,17 cũng chẳng lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đã sang xứ Ả-rập, rồi lại trở về Đa-mát.18 Ba năm sau tôi mới lên Giê-ru-sa-lem diện kiến ông Kê-pha, và ở lại với ông mười lăm ngày.19 Tôi đã không gặp một vị Tông Đồ nào khác ngoài ông Gia-cô-bê, người anh em của Chúa.

 

8 Nhưng nếu có ai, kể cả chúng tôi, hoặc một thiên thần nào từ trời xuống, loan báo cho anh em Tin Mừng khác với Tin Mừng chúng tôi đã loan báo cho anh em, thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy đi!9 Như tôi đã nói, và nay tôi xin nói lại: nếu có ai loan báo cho anh em một Tin Mừng khác với Tin Mừng anh em đã lãnh nhận, thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy đi!

 

 

3.3- Được chính Chúa Giêsu sai đi: "Ta sẽ cứu ngươi thoát khỏi tay dân Do-thái và các dân ngoại: Ta sai ngươi đến với chúng để mở mắt cho chúng, khiến chúng rời bóng tối mà trở về cùng ánh sáng, thoát khỏi quyền lực Xa-tan mà trở về cùng Thiên Chúa". (Tông Vụ 26:17) 

 

Tông Vụ 22:17-21

17 "Khi trở về Giê-ru-sa-lem, đang lúc tôi cầu nguyện trong Đền Thờ, thì tôi xuất thần18 và thấy Chúa bảo tôi: "Mau lên, hãy rời khỏi Giê-ru-sa-lem gấp, vì chúng sẽ không nhận lời anh làm chứng về Thầy đâu.19 Tôi thưa: "Lạy Chúa, chính họ biết rõ con đây đã đến từng hội đường bắt giam và đánh đòn những kẻ tin Chúa.20 Khi người ta đổ máu ông Tê-pha-nô, chứng nhân của Chúa, thì chính con cũng có mặt, con tán thành và giữ áo cho những kẻ giết ông ấy.21 Chúa bảo tôi: "Hãy đi, vì Thầy sẽ sai anh đến với các dân ngoại ở phương xa”.

Tông Vụ 26:12-18

12 "Thế là sau khi được các thượng tế trao quyền và uỷ nhiệm, tôi lên đường đi Đa-mát.13 Kính thưa đức vua, đang khi đi đường, vào lúc trưa, tôi đã thấy một luồng ánh sáng chói lọi hơn mặt trời, từ trời chiếu toả xuống chung quanh tôi và các bạn đồng hành.14 Tất cả chúng tôi đều ngã nhào xuống đất, và tôi nghe có tiếng nói với tôi bằng tiếng Híp-ri: "Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta? Đá lại mũi nhọn thì khốn cho ngươi!15 Tôi hỏi: "Thưa Ngài, Ngài là ai? Chúa đáp: "Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ.16 Nhưng ngươi hãy chỗi dậy, đứng thẳng lên. Ta hiện ra với ngươi là để chọn ngươi làm đầy tớ và làm chứng nhân về những điều ngươi đã thấy, cũng như những điều Ta sẽ hiện ra mà tỏ cho ngươi biết.17 Ta sẽ cứu ngươi thoát khỏi tay dân Do-thái và các dân ngoại: Ta sai ngươi đến với chúng18 để mở mắt cho chúng, khiến chúng rời bóng tối mà trở về cùng ánh sáng, thoát khỏi quyền lực Xa-tan mà trở về cùng Thiên Chúa. Như vậy, nhờ tin vào Ta, chúng sẽ được ơn tha tội và được hưởng phần gia tài cùng với các người đã được thánh hiến."

2Cor 12:11-12

mặc dầu tôi chẳng là gì, tôi đâu có thua kém các Tông Đồ siêu đẳng kia.12 Anh em đã thấy thực hiện nơi anh em những dấu chỉ của sứ vụ Tông Đồ: nào là đức kiên nhẫn hoàn hảo, nào là những dấu lạ điềm thiêng, nào là các phép l.

 

Ngài được Giáo Hội kính nhớ 1 năm 2 lễ: Lễ ngài trở lại 25/1, ở bậc lễ kính (feast), và Lễ về biến cố ngài tử đạo, cùng với Thánh Phêrô, cả hai đều ở Roma, tuy ngày tháng khác nhau, và cả hai được Giáo Hội tưởng kính ở bậc lễ trọng ngày 29/6. 


Ngài là vị tông đồ nổi vào bậc nhất trong bộ Thánh Kinh Tân Ước, ở chỗ, bộ Thánh Kinh Tân Ước gồm có 27 cuốn và được chia ra làm 3 phần: phần lịch sử bao gồm 4 Phúc Âm và Tông Vụ, phần giáo huấn gồm 21 bức thư và phần tiên tri là Cuốn Khải Huyền, thề mà, nói chúng, ngài chiếm một nửa số sách Thánh Kinh Tân Ước: 14 cuốn trong số 27 cuốn Thánh Kinh Tân Ước; chưa hết, cũng trong phần lịch sử này, tuy không viết phúc âm, nhưng môn đệ của ngài là Thánh Ludca lại viết phúc âm; rồi trong phần lịch sử, cuốn Tông Vụ là tác phẩm nhắm đến sứ vụ truyền giáo thì ngài đóng vai chính; và trong phần giáo huấn bao gồm 21 bức thư thì 14 bức thư là của ngài, tức chiếm 2/3 số thư.

 

 

Ngày Lễ Thánh Phaolô Trở Lại 25/1 hằng năm được Giáo Hội chọn là ngày Kết Thúc Tuần Bát Nhật Cầu Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoài Thành, là vì: Kitô giáo toàn là dân ngoại (dân ngoài Do Thái giáo), thế giới của vị tông đồ dân ngoại Phaolô này, nơi ngài, mọi nền văn hóa khác nhau của dân ngoại đều được phúc âm hóa và được hiệp nhất nên một trong đức tin tuân phục cùng với đức ái trọn hảo, một hiệp nhất trong đa dạng như nơi thân thể, được ngài so sánh có nhiều phần thể nhưng chỉ có một thân thể duy nhất có Chúa Kitô là Đầu (xem 1Corinto 12:12; Epheso 1:22; Colose 1:18,24).

 

Đaminh Maria cao tấn tĩnh, BVL

 

ĐTC Biển Đức XVI

 

3/9/2008 Thánh Phaolô: Trở Lại

 

27/8/2008- Thánh Phaolô: Tiểu Sử

 

 

 

Ngày 26 tháng 1

Thánh Ti-mô-thê và thánh Ti-tô, giám mục

lễ nhớ bắt buộc

 

Jan. 26: Sts. Timothy and Titus, Bishops AV+ Divine Office Reading. –  AnaStpaul


Cùng với thánh Lu-ca, thánh Ti-mô-thê và thánh Ti-tô là những cộng tác viên trung thành của thánh Phao-lô. Mẹ thánh Ti-mô-thê là người Do-thái, còn chính ông thì đã được thánh Phao-lô thanh tẩy. Ông đã theo thánh Phao-lô trong các chuyến đi truyền giáo, rồi sau được đặt làm thủ lãnh giáo đoàn Ê-phê-xô. Còn thánh Ti-tô đã được thánh Phao-lô nhận ở An-ti-ô-khi-a ngay từ đầu sứ vụ tông đồ. Sau đó, ông được trao nhiệm vụ loan báo Tin Mừng. Thư thánh Phao-lô gửi cho ông Ti-mô-thê (1 – 2 Tm) và thư gửi cho ông Ti-tô (Tt) được gọi là các thư mục vụ, vì trong đó có nhiều lời khuyên dành cho cả những người lãnh đạo cũng như cho hết mọi thành phần trong giáo đoàn.

 

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho hai thánh Ti-mô-thê và Ti-tô những đức tính xứng bậc tông đồ, xin nhậm lời các thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà ban cho chúng con, khi còn ở đời này, biết sống ngay lành và thánh thiện, hầu xứng đáng đạt tới quê trời. Chúng con cầu xin

 

ĐTC Biển Đức XVI Thứ Tư 13/12/2006 -  Bài 27: Thánh Timôthêu và Titô

 

Thánh Timôthê (c. 97?):

Qua Tân Ước, những gì chúng ta biết được về cuộc đời Thánh Timôthê thì giống như của một Giám mục bận rộn ngày nay. Ngài được vinh dự tháp tùng thánh Phaolô, và cả hai đều được ưu tiên rao giảng Phúc Âm và chịu đau khổ.

Thánh Timôthê có cha là người Hy Lạp và mẹ là người Do Thái tên là Eunice. Là kết quả của một hôn nhân "hỗn hợp", nên ngài bị người Do Thái coi là bất hợp pháp. Chính bà ngoại thánh nhân, bà Lois, là người đầu tiên trở lại Kitô giáo. Sau đó, Timôthê được thánh Phaolô rửa tội khoảng năm 47, và sau đó cùng tiếp tay với ngài trong công cuộc tông đồ. Chính ngài và thánh Phalô cùng sáng lập Giáo hội Côrintô. Trong 15 năm làm việc với thánh Phaolô, Timôthê trở nên người bạn trung tín nhất của Phaolô. Ngài được thánh Phaolô gửi đi truyền giáo, thường phải đương đầu với những xáo trộn trong các giáo đoàn mà thánh Phaolô thành lập.

Khi Timôthê đang ở với Phaolô thì bị bắt tại Rôma. Trong một thời gian, chính Timôthê cũng bị tù (Dt 13,23). Và thánh Phaolô đã bổ nhiệm Timôthê làm đại diện cho ngài ở Êphêsô.

Timôthê quá trẻ so với trách nhiệm nặng nề phải đảm trách. "Ðừng để ai coi thường anh vì sự trẻ trung," trong thư I thánh Phaolô viết cho Tm 4,12a). Một vài đoạn khác cho chúng ta biết dường như Timôthê hay bẽn lẽn. Và một trong những câu của thánh Phaolô thường được trích dẫn là câu viết cho Timôthê: "Ðừng chỉ uống nước lã, nhưng hãy dùng thêm chút rượu, vì anh đau dạ dày và ốm yếu luôn" (1Tm 5,23).


Thánh Titô (c. 94?):

Titô có nét đặc biệt là người bạn thân và là môn đệ của thánh Phaolô cũng như tiếp tay trong công cuộc truyền giáo. Ngài là người Hy Lạp, hiển nhiên xuất thân từ Antiôkia. Mặc dù ngài là Dân Ngoại, thánh Phaolô đã không để ngài phải chịu cắt bì ở Giêrusalem. Titô được coi như người hòa giải, người quản đốc, người bạn rất tốt. Trong lá thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô, thánh Phaolô cho chúng ta thấy tình bạn sâu đậm giữa ngài với Titô, và tình đồng đội giữa hai người khi rao giảng Tin Mừng: "Khi tôi đến Troas... Tinh thần tôi không được khuây khỏa vì không gặp được Titô, người anh em của tôi. Do đó tôi từ giã họ và tiếp tục đến Macedonia... Ngay cả khi đến Macedonia, thể xác chúng tôi cũng chưa được yên, mà phải chịu đau khổ đủ mọi cách, xung đột bên ngoài, lo sợ bên trong. Nhưng Thiên Chúa, Ðấng an ủi những kẻ yếu hèn, đã an ủi chúng tôi bằng cách sai Ti-tô đến..." (2 Cr 2,12a, 13; 7, 5-6).

Trong Thư Gửi Titô, lúc ấy Titô được coi như quản đốc của cộng đồng Kitô giáo trên đảo Crete, có trách nhiệm tổ chức, chấn chỉnh những lạm dụng và bổ nhiệm các giám mục phụ tá.

Lời Bàn

Qua đời sống của Thánh Titô, chúng ta có được chút hiểu biết về đời sống Giáo Hội thời tiên khởi: hăng say trong việc tông đồ, kết hợp mật thiết với Ðức Kitô, triển nở tình bạn. Tuy nhiên, luôn luôn có những vấn đề của bản tính con người và những chi tiết không hấp dẫn chút nào trong đời sống hàng ngày: cần phải sống bác ái và kiên nhẫn trong "sự cãi cọ với người khác, lo sợ trong tâm hồn." Qua tất cả những điều ấy, tình yêu của Ðức Kitô đã gìn giữ họ.

https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/thanh-timothe-va-thanh-tito-40934

1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ

Ghi chú cổ nhất về Thánh Lễ kính thánh Timôthê (thế kỷ XII), thường được mừng ngày áp lễ trở lại của thánh Phaolô (tức là ngày 24.01). Hiện tại được mừng vào ngày 26.01, không nhắm tới hai vị giám mục tử đạo. Lời kinh riêng cho thánh Titô chỉ xuất hiện trong lịch Rôma vào ngày 06.02.1854; lời kinh này thành kinh chung cho cả hai Vị thánh.

Thánh Kinh cho biết, Timôthê, người môn đệ yêu dấu của thánh Phaolô, có người cha ngoại giáo và người mẹ Do Thái tên Eunice, đã trở lại (2 Tm 1,5); ngài được dạy dỗ trong một gia đình có đức tin; Thánh Phaolô ghi chú: bà nội Lois đã dạy cho Timôthê biết luật Chúa (2 Tm 3,14-15). Nhờ thánh Phaolô, Timôthê trở lại trong chuyến truyền giáo lần đầu; Timôthê cũng đi theo thánh Phaolô trong chuyến truyền giáo lần thứ hai và thứ ba, theo yêu cầu của giáo đoàn Lystre (Cv 16,1-3) và lần này, ngài đã chạm trán với những khó khăn của đời Tông Đồ (Cv 17,14-15; 18,5-6). Thánh Phaolô buộc ngài phải cắt bì để có thể dễ dàng chu toàn sứ vụ giữa người Do Thái. Người ta thấy ngài đi theo thánh Phaolô và được gởi sang Macédoine (Cv 19,22) và được phó thác các cộng đoàn vùng Thessalonique (1 Tx 3), sau đó là Côrinthô (1 Cr 4,17; 16,10); rồi người ta lại gặp ngài trong nhóm đi theo thánh Phaolô (Cv 10,24). Thánh Phaolô gởi cho ngài một lá thơ từ Êphêsô (1 Tm 1,3) là nơi ngài đang thực hiện sứ vụ giữa cộng đoàn, sau đó một thư khác, trong đó thánh Phaolô gợi lại những giọt nước mắt khi chia tay (2 Tm 1,4).

Thánh Phaolô nhấn mạnh sự trung kiên của Timôtê trong các cơn thử thách. Tình bạn đã nối kết cả hai (x.Pl 2,19-33) thúc đẩy Timôtê ở lại với thánh Phaolô trong lần bị bắt thứ nhất; cũng chính thánh Phaolô cho gọi ngài đến Rôma trong lần bị bắt thứ hai. Chúng ta không biết lúc nào ngài đã lãnh nhận việc đặt tay; có lẽ chúng ta có thể thấy trong đoạn 1Tm 6,12: “Anh đã nói lên lời tuyên xưng cao đẹp trước mặt nhiều nhân chứng”. Không có gì minh chứng rằng Timôthê đã chịu tử đạo, có lẽ ngài đã qua đời tại Êphêsô.

Về thánh Titô, sinh ra trong một gia đình ngoại giáo, đã được thánh Phaolô rửa tội trong chuyến truyền giáo lần thứ nhất. Ngài theo thánh Phaolô và Barnaba lên Giêrusalem (Gl 2,1-3), tại đây thánh Phaolô chống đối việc ngài bị bắt phải cắt bì, vì xuất thân từ ngoại giáo. Khi thánh Phaolô thuật lại việc đến Troas, ngài muốn gặp Titô, “người anh em của tôi” (2 Cr 2,13), cho thấy ngài rất tin tưởng Titô, như người phục vụ trung gian giữa thánh nhân và cộng đoàn Côrinthô để tái lập lại sự hoà thuận giữa Giáo Hội này với thánh nhân (2 Cr 7,5-7). Thánh Phaolô đặt Titô đứng đầu cộng đoàn ở Crète. Trong đoạn Titô 1,4 thánh Phaolô còn gọi Titô là “người con tôi thực sự sinh ra trong cùng một đức tin chung”. Thánh Phaolô còn viết thư bảo ngài đi theo mình từ Nicopolis đến Épire, có lẽ từ đây thánh Phaolô đã sai ngài đi rao giảng vùng Dalmatie. Thánh Timôthê được vùng này tôn kính cách đặc biệt. Theo truyền thuyết, thánh Titô qua đời trong cộng đoàn của ngài tại Crète, lúc tuổi đã xế chiều.

2. Thông điệp và tính thời sự

Kinh Tổng Nguyện, chung cho cả hai vị thánh, gợi lên nhân đức xứng đáng với chức vị Tông Đồ mà Thiên Chúa ban cho hai môn đệ trung thành của thánh Phaolô. Lá thư thứ hai gởi cho Timôthê ca tụng đức tin chân thành của người con yêu quí, đã khuyến khích : Tôi nhắc nhớ anh phải luôn gợi lên trong anh ân sủng của Thiên Chúa mà anh đã lãnh nhận khi tôi đặt tay cho anh.

Ân sủng của Thiên Chúa mà thánh Phaolô nói đến là “đặc sủng” mà Timôthê đã lãnh nhận và thánh hiến ngài trong sứ vụ mục tử. Đánh thức ân sủng này, có nghĩa là làm sống lại ân sủng của Thiên Chúa, Đấng là Thần Trí sức mạnh, tình yêu và làm chủ bản thân.

Cũng trong lá thư gởi cho Timôthê, thánh Phaolô nói với người môn đệ của mình: “Hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” thánh Phaolô đã nhắc nhở ngài việc sửa sai anh em: “Hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2 Tm 4,2). Đó chính là các nhân đức Tông Đồ mà các mục tử luôn cần thiết, được kêu gọi tỉnh thức, không yếu đuối và không thoả thuận.

Kinh Tổng Nguyện kêu gọi chúng ta sống công chính và đạo đức trong thế giới này, lấy hứng từ lá thư thánh Phaolô gởi cho Titô: “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính, đạo đức ở thế gian này. Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng Cứu Độ chúng ta, xuất hiện vinh quang (Tit 2,11-13). Câu đáp cho bài kinh Magnificat: “Chúng ta hãy sống công chính và ngay thẳng, chờ đợi ngày Chúa đến”, cũng nhấn mạnh lời đòi hỏi trung tín theo nghĩa cánh chung của cuộc đời Kitô hữu.

Trong lá thư gởi cho Titô, thánh Phaolô xin người môn đệ của mình minh chứng một mẫu gương đức hạnh ngay trong chính bản thân (2,7); cũng thế, ngài động viên mọi hạng người sống theo tình trạng và điều kiện của mình. Dù vậy, nền tảng tín lý của các trách nhiệm chính yếu và đặc thù đều là một cho mọi người: “Niềm hy vọng được sự sống đời đời mà Thiên Chúa, Đấng không hề nói dối, đã hứa từ thuở đời đời” (1,2). Những việc dấn thân của chúng ta trong hiện tại là sống trong một tình trạng tỉnh thức, sẵn sàng chờ đợi sự kiện cánh chung của Chúa. Sự công chính và lòng đạo đức mà chúng ta được gọi để sống, là trung tâm của nền luân lý Kitô giáo. Sự công chính (theo nghĩa Thánh Kinh) đi kèm theo lòng đạo đức, có nghĩa là tình yêu bác ái sẽ làm cho các mệnh lệnh và trách nhiệm trở thành một ách êm ái và một gánh thật nhẹ nhàng.

Enzo Lodi (Nguồn:tgpHaNoi)

https://www.kath-vietnamesen.de/26-01-thanh-timothe-va-thanh-tito-giam-muc-le-kinh/

 

 

 

 

Ngày 27-01: Thánh Angêla Mêrici, Đồng Trinh, Lập Dòng ...

 

 

 

 

Angela sinh ngày 21 tháng 3 năm 1474  tại Desenzano, xứ Lombardie, Ý Đại Lợi. Angela mồ côi cha mẹ và ở với các anh và cậu. Vào lúc 56 tuổi, Angela Merici từ chối lời yêu cầu của Ðức Giáo Hoàng. Ngài biết Ðức Clementê VII muốn ban cho ngài một vinh dự lớn lao và một cơ hội vĩ đại để phục vụ khi đức giáo hoàng yêu cầu ngài nhận trách nhiệm lãnh đạo một dòng nữ tu chuyên về điều dưỡng. Nhưng Angela biết công việc điều dưỡng không phải là điều Thiên Chúa muốn mời gọi ngài thi hành.


Ngài mới từ Ðất Thánh trở về. Khi trên đường đến đó ngài bị bệnh nặng và bị mù. Tuy nhiên, ngài nhất quyết tiếp tục cuộc hành hương và thăm viếng các thánh địa với tất cả lòng sùng kính hơn là muốn chiêm ngưỡng bằng cặp mắt. Trên đường về ngài được chữa lành và được sáng mắt. Ðiều ấy chắc chắn đã nhắc nhở ngài rằng không thể nhắm mắt trước nhu cầu của những người chung quanh, và đừng đóng cửa lòng trước lời mời của Thiên Chúa.


Ở khắp nơi trong thành phố, đâu đâu ngài cũng thấy các em gái nghèo nàn, không có học vấn và cũng không có tương lai. Trong thế kỷ mười lăm và mười sáu của Thánh Angela, vấn đề giáo dục phụ nữ là dành cho người giầu và cho các nữ tu. Angela là người có học thức. Cha mẹ ngài chết sớm khi ngài mới mười tuổi và sau đó ngài phải sống với người chú. Ngài thực sự bối rối khi thấy chị của ngài từ trần mà không được lãnh nhận các bí tích. Trong một thị kiến ngài được đảm bảo là chị của ngài được an toàn trong bàn tay Thiên Chúa — và cũng qua thị kiến ấy ngài tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa.


Khi chú ngài từ trần, trở về nhà ngài nhận thấy các em gái trong vùng không có một chút học vấn. Nhưng ai sẽ dạy các em? Thời ấy thật khác biệt. Phụ nữ không được phép làm nghề giáo và các cô chưa chồng thì không được tự ý đi ra ngoài — dù để phục vụ người khác. Nữ tu là các phụ nữ có kiến thức nhưng họ không được phép bước chân ra khỏi tu viện. Thời đó không có dòng nữ tu chuyên về giáo dục như ngày nay.


Ðể giúp đỡ các em, Angela nghĩ ra một phương cách mới. Ngài quy tụ một nhóm các cô thuộc dòng Ba Phanxicô, đi ra đường phố và tụ tập các em gái lại để dạy học cho các em. Các cô không có tiền cũng như không có quyền thế, họ chỉ có tấm lòng tận tụy cho việc giáo dục và cho Ðức Kitô. Sống trong chính nhà của mình, họ gặp gỡ để cầu nguyện và dạy học. Họ thành công đến nỗi Angela được yêu cầu đưa sáng kiến ấy để thực hiện ở các thành phố khác, và đã làm nhiều người kinh ngạc, kể cả đức giáo hoàng.


Mặc dù ngài từ chối đức giáo hoàng, nhưng có lẽ thỉnh cầu của đức giáo hoàng đã gợi ý cho ngài thấy rằng cần phải chính thức hóa tổ chức của ngài. Mặc dù chưa bao giờ là một nữ tu, Hội Thánh Ursula của Angela là nhóm nữ tu đầu tiên hoạt động ngoài khuôn khổ nhà dòng và là dòng nữ đầu tiên chuyên lo giáo dục.

Lúc đó, chưa có những nữ tu viện dành cho các chị em và cũng chẳng có ai đã từng nghĩ đến chuyện này bao giờ. Thánh nữ Angiêla Merisi là người đầu tiên đã tụ họp một nhóm chị em và mở các trường dạy trẻ. Vào ngày 25 tháng Mười Một năm 1535, hai mươi tám chị em đã tận hiến cuộc đời mình cho Thiên Chúa. Họ tuân giữ luật dòng thánh Ursula. Angiêla đặt hội dòng dưới sự bảo trợ của thánh Ursula. Đây là lý do họ có được danh hiệu đó. Thoạt đầu, các chị đã cư ngụ tại nhà quê của mình. Bởi có nhiều khó khăn nên phải trải qua một thời gian dài sau họ mới có thể cùng được chung sống trong tu viện. Thánh nữ Angiêla Merisi mất vào ngày 27 tháng Giêng năm 1540 khi hội dòng của ngài vừa được phôi dựng. Lòng cậy trông phó thác nơi Thiên Chúa đã giúp Angiêla vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Ngài không hồ nghi gì về việc Thiên Chúa sẽ quan phòng lo liệu cho công việc ngài đã khởi sự. Và Thiên Chúa đã thực hiện.

Các nữ tu dòng thánh Ursula đã có mặt tại nhiều quốc gia. Hội dòng hiện vẫn tiếp tục hoạt động cho Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người; nhất là việc giáo dục các trẻ em và các thanh thiếu niên.

Thánh nữ Angiêla Merisi nhắc nhở chúng ta rằng những sự khó và những chán nản thất vọng có thể giúp chúng ta nhận ra những nỗi đau thương nơi người khác. Khi chúng ta sẵn lòng vươn tay ra, Thiên Chúa sẽ dùng chúng ta để thực hiện những công việc phi thường của Người. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ Angiêla Merisi giúp chúng ta biết cách tỏ lòng tế nhị và xót thương đối với tha nhân.

Thánh Angela Merici từ trần ngày 27 tháng 1 năm 1540 tại Brescia, khi ngài khoảng bảy mươi tuổi. Mộ phần trở nên một nơi hành hương. Thánh tích còn tại thánh đường Thánh Afra, Brescia Ý Đại Lợi. Ngay sau khi qua đời, nữ tu Angela đã được dân chúng thành phố ca tụng như một đấng thánh. Họ đến kính viếng thi hài của chị thánh đông đảo đến độ phải hoãn lễ an táng đến 30 ngày sau.

Thánh nữ được tôn phong Chân Phước năm 1768 do Đức Giáo Hoàng Clement XIII và đến ngày 27 tháng 5 năm 1807 Đức Giáo Hoàng Pius VII đã ghi tên thánh nữ vào sổ bộ các thánh của Giáo Hội.

Lời Trích
Khi sự thay đổi trở nên khó khăn đối với nhiều người, có lẽ thật hữu ích khi nhớ lại lời của thánh nữ nói với các nữ tu: "Nếu theo thời gian và vì nhu cầu, các chị phải vâng theo các quy luật mới và thay đổi một vài điều, thì hãy thi hành với sự thận trọng và hãy để ý đến lời khuyên bảo."


Đaminh Maria cao tấn tĩnh tổng hợp

 

 

 

Ngày 28 tháng 1

Thánh Tô-ma A-qui-nô, linh mục, tiến sĩ Hội Thánh

lễ nhớ bắt buộc


Sinh năm 1225 trong một gia đình quý tộc ở A-qui-nô, rồi theo học tại đan viện Mon-tê Cát-xi-nô, tiếp đến tại đại học Na-pô-li, cuối cùng Tô-ma nhập Dòng Anh Em Thuyết Giáo và hoàn tất việc học tại Pa-ri và Cô-lô-nhơ, dưới sự dẫn dắt của một bậc thánh sư là An-bê-tô Cả. Thánh Tô-ma đã thể hiện trọn vẹn lý tưởng dòng thánh Đa-minh là chiêm niệm và truyền đạt cho tha nhân điều mình đã chiêm niệm. Vừa là triết gia, vừa là thần học gia, trong vai trò giáo sư, thánh nhân đã suy nghĩ, giảng dạy và viết rất nhiều. Nhưng trước hết và trên hết, thánh nhân là người chiêm niệm, người đã cầu nguyện nhiều và đã tuân thủ một kỷ luật nghiêm khắc để có thể đạt tới ánh sáng tinh tuyền. Thánh nhân qua đời ngày 7 tháng 3 năm 1274 tại đan viện Xi-tô ở Phốt-xa-nô-va. Ngày 28 tháng Giêng là ngày thi hài thánh nhân được cải táng đưa về Tu-lu-dơ năm 1369.

 

Bài đọc 2

Không có gương nhân đức nào mà không có nơi thập giá

Trích bài chia sẻ của thánh Tô-ma A-qui-nô, linh mục.

Có cần thiết Con Thiên Chúa phải chịu đau khổ vì chúng ta không ? Thưa cần lắm, và có thể tóm lại trong hai lý do : một là để làm phương dược chữa trị tội lỗi, hai là để làm gương cho chúng ta noi theo.

Xét về phương dược để chữa trị mọi sự dữ mà chúng ta mắc phải vì tội lỗi, chúng ta gặp thấy linh dược nhờ cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô.

Nhưng xét về gương sáng thì ích lợi cũng không nhỏ, vì cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô đủ để soi sáng trọn vẹn cuộc đời chúng ta. Quả vậy, bất cứ ai muốn sống đời hoàn hảo, người ấy không cần làm gì khác ngoài việc khinh chê những gì Đức Ki-tô đã khinh chê trên thập giá và ao ước những gì Người đã ước ao. Bởi lẽ không có gương nhân đức nào mà không có nơi thập giá.

Nếu bạn muốn tìm một tấm gương bác ái, thì đây : Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Đó là điều Đức Ki-tô đã thực hiện trên thập giá. Vậy nếu Người đã hy sinh mạng sống vì chúng ta, thì khi vì Người mà chúng ta phải chịu bất cứ đau khổ nào, sẽ chẳng có chi là quá nặng.

Nếu bạn muốn tìm một tấm gương nhẫn nhục, thì nơi thập giá có cả một tấm gương sáng ngời. Thật vậy, sự nhẫn nhục sẽ lớn lao vì hai lý do : hoặc khi người ta chịu những đau khổ lớn lao, hoặc khi người ta chịu những đau khổ có thể tránh được mà lại không tránh. Quả thế, Đức Ki-tô đã mang lấy những đau khổ lớn lao trên thập giá, và nhẫn nhục chịu đựng : Người chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín trước mặt kẻ xén lông, Người chẳng hề mở miệng. Như thế, sự nhẫn nhục của Đức Ki-tô trên thập giá thật là lớn lao : Chúng ta hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giê-su là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục.

Nếu bạn muốn tìm một tấm gương khiêm nhường, thì xin bạn nhìn lên Đấng chịu đóng đinh : Đấng vốn là Thiên Chúa mà đã muốn chịu xét xử dưới thời Phong-xi-ô Phi-la-tô và chịu chết.

Nếu bạn muốn tìm một tấm gương tuân phục, bạn chỉ việc bước theo Đấng đã vâng lời Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết : Cũng như vì một người duy nhất, tức là ông A-đam, đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ trở thành người công chính.

Nếu bạn muốn tìm một tấm gương khinh chê của cải trần gian, bạn chỉ việc bước theo Đấng là Vua các vua và là Chúa các chúa, nơi Người có cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết, thế mà trên thập giá Người đã chịu trần truồng, bị chế giễu, bị khạc nhổ, bị đánh đập, bị đội vòng gai và phải uống giấm chua mật đắng.

Vậy bạn đừng bám víu vào y phục và của cải, vì áo xống tôi, chúng đem chia chác ; đừng bám víu vào danh dự, vì Người đã chịu lăng nhục và bị đánh đòn ; đừng say mê chức tước, vì họ đã kết một vòng gai làm vương miện đội lên đầu Người ; và đừng ham mê thú vui nữa, vì tôi khát nước, lại cho uống giấm chua.

Lạy Chúa, Chúa làm cho thánh Tô-ma trở nên một bậc thầy lỗi lạc, vì đã ban cho người lòng tha thiết sống cuộc đời thánh thiện và hăng say giảng dạy đạo lý cao siêu. Xin Chúa thương mở lòng soi trí để chúng con ngày càng hiểu biết điều người dạy và ra công bắt chước việc người làm. Chúng con cầu xin

ĐTC Biển Đức XVI:

23/6/2010 –  Bài 112: Thánh Thomas Aquinas - Tổng Luận Thần Học

16/6/2010 – Bài 111: Thánh Thomas Aquinas - Triết Lý Thần Học

2/6/2010 – Bài 110: Thánh Thomas Aquinas - Tiểu Sử


 

 

Ngày 31 tháng 1

Thánh Gio-an Bốt-cô, linh mục

lễ nhớ bắt buộc

Tiểu sử
 
Chào đời năm 1815 tại Cát-ten-nô-vô, giáo phận Tô-ri-nô, Gio-an đã trải qua thời thơ ấu trong hoàn cảnh khó khăn, vì thế khi làm linh mục, người dấn thân lo việc giáo dục thanh thiếu niên. Người lập dòng các tu sĩ Sa-lê-diêng và dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu để huấn luyện thanh thiếu niên về nghề nghiệp và đời sống đạo. Người qua đời năm 1888.

 

Noi gương Đức Giê-su và để cho tình yêu hướng dẫn

Trích thư của thánh Gio-an Bốt-cô, linh mục.

Nếu chúng ta muốn tỏ ra là người tha thiết quan tâm tới lợi ích đích thực của các học sinh chúng ta, và thôi thúc chúng chu toàn bổn phận, các con đừng bao giờ quên rằng mình đang thay mặt cho cha mẹ của lớp trẻ thân yêu này, lớp trẻ đã từng là đối tượng ưu ái khiến cha luôn bận tâm, lao nhọc, học hỏi, và thực thi tác vụ linh mục. Chúng còn là đối tượng cho toàn thể dòng Sa-lê-diêng chúng ta phục vụ nữa. Do đó, nếu chúng con muốn là những người cha đích thực của các học sinh, nhất thiết chúng con phải có tấm lòng của một người cha ; và như thế, chúng con đừng bao giờ dùng tới biện pháp cưỡng chế hay ra hình phạt cách vô lý và không công bằng, cũng đừng theo lối của người làm việc miễn cưỡng, hoặc chỉ làm vừa đủ để chu toàn phận sự của mình.

Các con rất thân mến, trong công việc giáo dục lâu dài của cha, biết bao lần cha đã phải tâm niệm về chân lý cao cả này : bực tức thì bao giờ cũng dễ hơn là nhẫn nại, doạ nạt một đứa trẻ thì dễ hơn là thu phục nó. Cha còn dám nói thêm rằng : thường chúng ta dễ theo tính kiêu căng và nóng nảy mà trừng phạt những em bướng bỉnh, hơn là lấy lòng cương nghị và hiền từ mà sửa dạy và chịu đựng chúng. Lòng bác ái mà cha xin chúng con chính là đức ái mà thánh Phao-lô đã dành cho các tín hữu mới trở lại đạo Chúa. Đức ái này đã khiến thánh nhân phải nhiều phen khóc lóc van nài khi thấy họ ít vâng lời và không đáp lại lòng nhiệt thành của người.

Khi sửa phạt, thật khó mà giữ được bình tĩnh. Nhưng đó lại là điều tối cần để không ai có thể nghĩ rằng ta làm thế vì muốn thị uy hay trút cơn nóng giận.

Hãy coi các trẻ nhỏ dưới quyền chúng ta như là con cái. Hãy dấn thân phục vụ chúng theo gương Chúa Giê-su. Người đến không phải để ra lệnh nhưng để vâng phục. Các con phải cảm thấy xấu hổ khi thấy mình lộ vẻ thống trị ; và nếu có thống trị thì cũng chỉ là để phục vụ đắc lực hơn mà thôi. Chúa Giê-su đã cư xử như thế với các Tông Đồ. Người chịu đựng sự dốt nát, thô kệch, và cả lòng trung thành yếu kém của các ông nữa. Rồi khi đối xử với các tội nhân cách nhân hậu và thân mật, Người đã làm cho lắm kẻ phải ngạc nhiên, nhiều người khó chịu, nhưng cũng khiến cho biết bao người hy vọng được Thiên Chúa thứ tha. Vì thế, Đức Giê-su bảo ta hãy học nơi Người để biết sống hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

Bởi vì trẻ em là con cái chúng ta, nên khi phải sửa trị lỗi lầm của chúng, ta phải tránh mọi sự nóng giận, hay ít ra phải nén lòng tới độ xem ra đã hoàn toàn dập tắt được cơn nóng giận rồi. Tuyệt đối không được để cho cõi lòng sôi sục, không được có khoé nhìn khinh bỉ, không được phép dùng lời ăn tiếng nói hạ nhục một ai. Nhưng ta hãy cứ cảm thông lúc này và hy vọng vào tương lai. Như vậy, các con mới là những người cha đích thực, và sửa dạy chúng thật sự.

Trong những trường hợp trầm trọng, ta nên khiêm hạ nài xin Thiên Chúa, hơn là tuôn ra những lời lẽ vừa khiến cho người nghe phật lòng, lại vừa không ích lợi gì cho kẻ phạm lỗi.

Các con hãy nhớ rằng giáo dục là công việc của tâm hồn, nơi chỉ có Thiên Chúa làm chủ. Thế nên ta không thể đạt được gì nếu Thiên Chúa không dạy ta nghệ thuật và không trao cho ta bí quyết giáo dục.

Hãy cố gắng làm cho mình được yêu mến. Hãy vun trồng tâm tình kính sợ Thiên Chúa. Như thế, ta có thể dễ dàng mở được cánh cửa của bao tâm hồn và liên kết lại với chúng ta mà ca hát, ngợi khen và chúc tụng Đấng đã muốn trở nên mẫu mực của chúng ta, đường đi của chúng ta và gương lành cho chúng ta trong mọi sự, đặc biệt trong việc giáo dục thanh thiếu niên.

Xướng đápMc 10,13-14 ; Mt 18,5

XNgười ta dẫn trẻ em đến với Đức Giê-su, để Người chạm tay vào chúng ; nhưng các môn đệ xẵng giọng với chúng. Thấy vậy, Người bực mình nói với các ông :

Đ“Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng.

XAi tiếp đón một em nhỏ như thế này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.”

Đ“Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng.

Lạy Chúa, Chúa đã cho xuất hiện trong Hội Thánh một người cha và một bậc thầy của giới thanh thiếu niên là thánh Gio-an Bốt-cô linh mục. Xin Chúa cũng đốt lửa yêu mến trong lòng chúng con, để chúng con biết phụng sự một mình Chúa và lo cho anh em được cứu độ. Chúng con cầu xin

 

 

 


Là cha, thầy và bạn của
Thanh Thiếu Niên
Phạm Bá Nha 
 
 Cuộc đời thánh Gioan Don Bosco, như chính ngài viết trong nhật ký theo lệnh ÐGH Pio IX, ghi lại dòng Salésiens, gồm 3 phần : sống nghèo với cảnh mẹ góa con côi. Ơn gọi làm linh mục mở trường giáo dục con em và lập Dòng Salésiens. Cha Thánh suốt đời sống và phục vụ người trẻ. Trước khi qua đời, (31.01.1888), cha nói : Hãy nói với các bạn trẻ, ta chờ chúng ở trên Thiên Ðàng. Thánh nhân được phong Chân Phước 02.06.1926, và Hiển Thánh 1.4.1934, do ÐGH Pio XI. Lễ kính 31.1. hàng năm. Khi phong thánh, ÐHG tôn vinh Don Bosco là cha và thầy của thanh thiếu niên
Năm 2015, kỷ niệm 200 sinh nhật Thánh Don Bosco, ÐGH Phanxico nói : Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật thánh nhân, xin hoán cải giới trẻ trong tinh thần tươi trẻ huynh đệ như xưa, ngài đã đào luyện.
 
 I. Nghèo cảnh Mẹ Góa con côi
 
 Thánh Gioan Don Bosco sinh 15.08.1815, lễ Ðức Mẹ Lên Trời, tại làng Becchi, Marialdo, thị trấn Castelnuovo d’Asti, bắc Ý, xa Torino 17 cây số. Ngày 17, Gioan được rửa tội do cha Giuse Festa. Trong sổ rửa tội ghi tên em nhỏ : Bosco Joannes Melchior. Melchior là tên ông nội. Chữ Don thêm vào để ‘‘tôn kính’’ hay ‘‘cha’’.
 
 Mẹ Gioan là Magarita Occhiena di Capriglio (+1865). Ông bà thành hôn năm ông 28 tuổi bà 24 tuổi. Cha của Gioan là Phanxico Aloysii, dân quê. Ông qua đời 12.5.1817, 34 tuổi. Năm đó, Bosco mới 22 tháng, mẹ kéo Gioan vào buồng khóc, nói : Bố không còn nữa. Trên mộ ông,  ghi : Orphanorum pater, cha trẻ mồ côi. Gia đình có ba anh em : Antôn con mẹ trước, Têrêxa mất khi mới hai ngày. Giuse và Gioan. Trong nhà còn bà nội, 70  tuổi.
 
 Gia đình sống trong thời đói kém. Dân làng ăn cháo bột bắp hay mì. Người chết đói la liệt ngoài đường, miệng còn ngậm cỏ. Có tiền cũng không mua được thức ăn. Có lần bà mẹ nhờ người hàng xóm đi mua thức ăn. Họ mang tiền về. Cả nhà bàng hoàng lo sợ. Giữa lúc túng bấn ngặt nghèo, bà qua nhà bên cạnh vay mượn chút ít. Nhưng không ai có. Bà nói với các con : Khi bố chết, có dặn : phải có lòng tin. Nghe lời bố cả nhà qùi xuống cầu kinh. Rồi bà xuống bắt con bê, nấu một phần cho con ăn, qua cơn đói.
 
 Ngay trong những ngày đói kém, có người ngỏ ý muốn kết hôn. Bà từ chối : Thiên Chúa cho tôi một người chồng. Nay Chúa cất đi. Anh trao lại cho tôi ba đứa con. Tôi sẽ là người mẹ độc ác, nếu bỏ rơi chúng. Ðang khi chúng cần tôi. Người ta nói với bà tìm cho mỗi đứa một người giám hộ tốt. Bà trả lời : giám hộ chỉ là bạn. Tôi là mẹ, không bao giờ bỏ con. Dù cho tôi vàng bạc.  
 
 Chính bà để tâm dạy các con đọc kinh chung, lần chuỗi và cầu nguyện. Năm con Bosco lên sáu, xưng tội lần đầu mẹ dẫn con đến nhà thờ, tham dự Lễ, bà xưng tội trước, sau đến con. Ðức Pio XII nói về gia đình bà : hãy xem người phụ nữ góa, cùng ba đứa con cầu nguyện. Chúng như thiên thần nhỏ. Người mẹ mở tủ, lấy quần áo cho con mặc. Ðem con đi nhà thờ làng bên cạnh. Sau cơm tối, con cái vây quanh, bà nhắc các con 10 giới răn. Kể cho con cuộc tử nạn Chúa Giêsu.  Sau này, Bosco kể lại, nhờ mẹ, mà mình có lòng tôn kính Phép Thánh Thể.
 
 Mẹ con không có nghề trong tay, nên Bosco làm nhiều việc, phụ giúp nuôi gia đình, như : chăn bò, bửa củi, bồi bàn càfê, may quần áo... Năm 11 tuổi, Gioan mới cắp sách, đi bộ 4 cây số, mới đến trường. Do các linh mục điểu hành, kỷ luật.
 
 Nghèo, lại lận đận học hành, Bosco mất học nhiều năm. Từ nhỏ nuôi mộng thành linh mục. Nhưng sợ mẹ vất vả tốn kém. Bà đã nói với con :đừng băn khoăn. Mẹ nghèo, sống và chết nghèo. Năm 16 tuổi, Bosco nhập tu. Giờ rảnh Bosco xin tập họp trẻ mồ côi, vui chơi và dạy giáo lý. Sau khi làm linh mục, cha bắt tay gầy dựng theo ước mơ. Lần đầu 1 trẻ đến. Ba hôm sau có 9 em. 3 tháng có 25 em. Chẳng bao lâu, toàn trẻ mồ côi đến. Sáng lễ, xưng tội. Chiều giáo lý, hát vui chơi. Cha lập các ‘‘nguyện xá’’ qui tụ thanh thiếu niên, vui chơi. Cha có thiên tài viết nhạc thuyết phục trẻ và chủ trương : Nhà Salésiens thiếu âm nhạc, chỉ là xác không hồn. Bosco yêu giới trẻ.
 
 Có mẹ Margarita, Thánh Gioan Don Bosco trở thành nhà giáo dục thanh thiếu niên tài giỏi. Anh của Bosco nóng tính hay hành hạ em. Bà buồn. Cha sở thấy Gioan thông minh chọn vào nhà xứ học latinh, chuẩn bị đi tu. Anh ghét, bắt Gioan làm việc tối ngày lại đánh đập, có khi Gioan ngất xỉu. Nhìn xa, biết con sẽ đau khổ, bà gửi con tới nhà cậu em, xa 20 cây số. ở nhà cậu, em làm bánh mì, nặng nhọc thức khuya dạy sớm. Dưới ánh lửa tối, Gioan lấy sách ra học. Ðôi khi bà gửi con đến nhà những người quen.    
 
 Ðến hôm người anh lập gia đình, ở riêng.  Bà mẹ đem con về nhà và gửi vào cha xứ tiếp tục tu luyện. Ngày con nhập tu viện Torino, nghèo bà phải bán áo cưới may cho con áo chùng thâm. Ngày con thụ phong linh mục, bà qùi nhận phép lành, bà nói : mẹ sung sướng thấy con thành linh mục. Con thành tâm phụng sự Chúa và các linh hồn.
 
 Có lần thấy mẹ lạnh, ăn mặc lôi thôi, cha mua cho mẹ áo mới. Lâu không thấy mẹ mặc, cha hỏi. Mẹ trả lời đã bán phụ tiền nuôi trẻ. Sau nhiều năm phụ con, cạn tiền, lại già, kiệt sức, vì lũ trẻ tinh nghịch, phá phách bà xin nghỉ. Cha nói với mẹ: vắng mẹ, còn ai giúp con. Bà mẹ mắt mờ, lưng còng, hai mẹ con nhìn nhau, nước mắt lưng tròng, nói : Gioan con, mẹ hiểu và ở lại với con....cho đến chết. Tụi nó là con mẹ. Sau 20 năm phụ con, bà qua đời ai cũng mộ mến và gọi là má Magarita. Hiện có tượng má lớn ngay cổng vào làng cũ xưa. Tay mang giỏ hoa. Bà qua đời năm 1865, sau 20 năm phụ con giáo dục, giúp trẻ em. Ai cũng mộ mến gọi bà : Má Margarita. (Những Người Lữ Hành Trên Ðường Hy Vọng. ttr.193-197).
 
 II. Linh Mục trẻ ở Torino

Cậu kể lại giấc mơ, năm lên 10. Một đêm trong giấc mơ, Gioan Don Bosco thấy mình đứng giữa bọn trẻ đang đánh nhau và chửi tục. Cậu khuyên can, chúng không nghe. Bỗng, người áo trắng đến mỉm cười, nói :
- Bằng tình yêu, em sẽ biến chúng thành ngoan ngoãn đạo hạnh.
- Nhưng thưa ông, cháu nghèo và dốt.
- Vâng lời, chịu khó học, em sẽ làm được.
- Thưa, ông là ai ? 
- Ta là con Trinh Nữ mà mẹ em đã dạy phải cầu nguyện, em hãy xin Mẹ Ta giúp.
 Rồi kìa, Ðức Mẹ xuất hiện, mặt dịu hiền, nói với Don Bosco :
- Con nhìn xem...
Theo tay Mẹ chỉ, Bosco nhìn thấy đoàn chó dữ. Ðức Mẹ tiếp :
- Như Mẹ xử với đoàn chó dữ thế nào, con hãy xử với các trẻ như vậy.
 
 Từ giấc chiêm bao đó, Don Bosco hiểu được sứ vụ giáo dục phục vụ thanh thiếu niên.
Ngày kia, mẹ dẫn Bosco đi coi xiệc. Về nhà, Bosco nảy ra, bắt chước trong xiệc ‘'tự tập leo giây’’. Mỗi lần té, Bosco lại đọc Kinh Kính Mừng. Sau nhiều lần. Bosco thành công. Tập hết màn này, sang màn khác.
Tập xong tài nghệ này, cậu lại tập sang tài nghệ khác của ngưới làm xiếc.  Cuối cùng, Vào một tối Chúa Nhật, cậu mời một số người đến xem trình diễn.  Họ ngạc nhiên thích thú và vỗ tay tán thưởng liên  hồi. Nhưng ẩn sau cuộc giải trí lành mạnh đó Don Bosco còn có một động lực khác thúc đẩy.  Chen kẽ các tiết mục trình diễn tài nghê? cậu hát các bài thánh ca mừng kính Ðức Mẹ.  Mọi người hiện diện đều hợp giọng thánh thót dâng lên trời cao.  Thế rồi cậu hô hào mọi người:
- Nào, xin qúi vị vui lòng đọc kinh Mân Côi trong khi cháu trình diễn, nếu không cháu sẽ té nhào xuống đất, bể đầu mất !
Họ nghe theo lời cậu và bắt đầu cầu nguyện.  Cuối cuộc trình diễn.  Don Bosco nhắc lại bài giảng của cha xứ trong thánh lễ sáng hôm đó.  Mọi người ra về trong hân hoan cả tinh thần lẫn thể chất.
Một đêm khác, người ta dự trù cuộc vui chơi trần tục khiêu vũ công cộng.  Cuộc vui chơi trần tục này có thể đưa đến tội lỗi.  Don Bosco lúc đó mới 12 tuổi đầu, cậu suy tư, loay hoay tìm cách ngăn cản dân chúng khỏi cuộc vui chơi đó.  Cuối cùng, cậu đã tìm được giải pháp.  Chúa ban cho cậu có giọng hát thật hay, do đó cậu đứng giữa phố chợ bắt đầu hát.  Giọng hát  du dương trầm bổng của cậu đã thu hút được đám đông quần chúng.  Cậu từ từ dẫn họ về phía nhà thờ, để rồi mọi người cùng với cậu vào trong nhà thờ hát kinh tối và nghe cha giảng thuyết.
 
Từ nhỏ, Don Bosco đã nuôi mộng trở thành linh mục.  Nhưng tự biết phận mình con nhà nghèo nếu xin đi học, mẹ cậu sẽ phải vất vả và tằn tiện rất nhiều.  Cậu không muốn mẹ phải hy sinh như thế. Nhưng mẹ cậu thực là người tốt lành, hiểu ý con.  Bà nói với con đừng băn khoăn lo lắng về bà, nhưng hãy lo thực hiện điều Chúa muốn nơi cậu:
- Mẹ sinh ra nghèo khó, mẹ hiện sống túng nghèo, mẹ muốn chết trong nghèo hèn.

Mẹ thánh nhân nói với con lúc 14 tuổi khi vào chủng viện Chierin ở Turino : Mẹ tràn đầy niềm vui, khi thấy con mặc áo chùng thâm, nhưng con nên nhớ ‘‘chiếc áo không làm nên thầy tu’’. Nếu ngày nào con nghi ngờ ơn gọi, thì mẹ van xin con, hãy chọn con đường khác. Mẹ thích đứa con nông dân nghèo hơn linh mục sao lãng bổn phận. Lúc con chào đời, mẹ đã dâng con cho Đức Mẹ. khi con đi học, mẹ đã dặn con tôn kính Người trong khó khăn. Giờ đây con hãy chọn Đức Mẹ là nữ vương của con.

Kết quả, Don Bosco được nhập tiểu chủng viện lúc 16 tuổi.
Trong đời chủng sinh, bất kỳ lúc nào có giờ rảnh là Don Bosco tụ họp bọn trẻ mồ côi, rách rưới, rồi dẫn chúng ra ngoài đồi cỏ vui đùa với chúng và dậy giáo lý cho chúng.
Năm 1848, Don Bosco thụ phong linh mục. Sau khi lãnh Chức Linh Mục, Cha Don Bosco trở về làng dâng lễ mở tay.  Cả làng, già trẻ lớn bé vui mừng hớn hở đến dự lễ và mừng cho cha mới.  Mẹ Don Bosco nước mắt trào tràn đôi mi, lăn dài trên gò má.  Còn niềm vui sướng nào sánh bằng niềm vui mẹ thấy con bước lên bàn thánh tế lễ Chúa Tình Yêu ! Lúc đầu ngài làm tuyên úy nhà tù, sau có mẹ phụ giúp, phục vụ giới trẻ trong xóm lao động. Và 1844, làm tuyên úy lưu xá sinh viên. Từ 1856, hai mẹ con trực tiếp nuôi khoảng 150 đến 200 trẻ em.
 
 Nguyện xá ở Valdosco
 
 Năm 1848, chuyện xảy ra khiến cha nghĩ phải lập nhà riêng cho giới trẻ nghèo.

Đó là mấy tháng sau khi làm linh mục, đang khi dọn mình dâng lễ tại buồng áo, Cha Don Bosco chứng kiến cảnh ông từ la mắng một chú nhỏ không biết cách giúp lễ.  Ðộng lòng trắc ẩn, vị Linh Mục tới gần cậu bé can thiệp:
- Con có muốn Cha dậy con cách giúp lễ không ?
Với lòng biết ơn, chú bé gật đầu lia lịa !  Sau khi dậy cho cậu nhỏ biết cách giúp lễ, Cha Don Bosco xin cậu ngày hôm sau đem bạn bè của cậu đến gặp Cha.

Tên cậu Garetti Bartholomew, 16 tuổi, làm gạch. Ba hôm sau cậu rủ thêm 8 người khác, đến gặp cha. Rồi được Thiên Chúa và Ðức Mẹ thúc đẩy, Cha nghĩ ra nơi tập trung cho thanh thiếu niên đến ngày một đông. Cha đặt tên cho trung tâm này Nguyện xá. Các linh mục, dân chúng, trong vùng không tán thành vì cho rằng cha đã lôi kéo bọn trẻ, chúng không đến nhà thờ được. Trong khi đó, chính quyền làm khó dễ, cho là ồn ào, mất an ninh. Nên bước đầu cha tập trung thanh thiếu niên ngoài cánh đồng. Ngủ lều, lưu động, mưa gió, nhất là thực phẩm vô cùng khó khăn. Có những ngày, cha dẫn đàn em xin ăn. Bên ngoài nhìn vào, người ta cho cha điên. Nhưng kiên tâm, kết quả tốt, nhờ giúp đỡ người thiện nguyện. Chính trong các Nguyện Xá có thánh lễ, ca hát, lớp học chữ và nghề.

 Ngày nay, trung tâm Valdocco còn lại : lớp học, phòng ăn, phòng ngủ, sân chơi, vòi nước... xưa, rộng rãi, một lúc cho cả mấy ngàn em... Nguyện xá lần lượt xây cất, dựng lên, với bao tiếng hoan hô và khâm mộ. Các em đến ngày một đông. Nổi tiếng. 
 

 Ii. Lập Dòng Phanxico Salésiens.
 
 Một mình không thể làm xuể. Có lần Cha mệt, té, tưởng chết. Từ đó, năm 1859, cha và các cộng sự viên có ý tưởng lập Dòng Don Bosco, chuyên giáo dục thanh niên. Có dòng nam và nữ Salésiens. Người ta thường gọi Don Bosco là Vincent de Paul mới. Theo tinh thần của Thánh Phanxico. Ðược Tòa Thánh công bố, 22.07.1864, mang tên Hội Ðạo Ðức thánh Phanxico đệ Salê, với sắc lệnh Decretum Laudis. Ðức Pio IX, phê chuẩn hiến luật, 1873.
 
 - 1859, đầu tiên có dòng Nam, tên là ‘‘Phanxico Salésiens’’ (SDB). Dòng lo giáo dục, dạy nghề cho thanh thiếu niên. Dòng còn lo truyền giáo.Triết lý giáo dục là hiểu biết và yêu thương giới trẻ. Chân phước linh mục Michel Rua là 1 trong 8 tu sỹ khấn dòng đầu tiên. Sau làm Bề trên kế nghiệp Cha Bosco. Họ được chọn trong những em được cha Bosco nuôi.

 Khẩu hiệu Dòng : Da mihi animas, coetera tolle, Xin cho tôi các linh hồn. Các sự khác cứ lấy đi (x.St. 24, 21-23)                                                                                                                                                                                                                                                                                     
 (Huy hiệu) Logo Dòng cũ do Giáo sư Boas thiết kế (1885) : Ngôi sao rạng rỡ (niềm tin), mỏ neo (hy vọng), và một trái tim (tổ chức). Ðặt trên nền khu rừng nhỏ (hình đấng sáng lập) với ngọn núi cao (thành viên Salésiens vươn cao). Vòng quanh, là cành nguyệt tuế đan quanh xen nhau. Phía dưới câu khẩu hiệu Dòng.
 
 Huy hiệu mới : Thánh Bosco với vòng tay mở rộng, cô đọng trong ba từ : Lý trí, tôn giáo và lòng thương yêu. Các trung tâm (nhà dòng trên thế giới được che dưới đường chữ ‘‘S’’ (Salésiens)  Ba mũi có vòng đỏ trên đầu, chỉ ba người, người giữa cao hơn. Che bởi mái nhà.
 
 - 1872, Cha cùng thánh Marie Mazzarello lập Dòng Nữ mang tên ‘‘Dòng con Ðức Mẹ Phù Hộ Giáo Hữu’’ (FMA)
 - 1876, Cha bề trên cả Phillip Rinaldi (sau là chân phước) thành lập ‘‘Chí nguyện Don Bosco (VDB) nhiệt tâm với giới trẻ. Họ là những người độc thân, có nam, có nữ được thánh hiến. Dưới sự hướng dẫn của linh mục Salésiens.
 
 Sau khi Thánh Don Bosco qua đời, những người tình nguyện và cựu học sinh mộ mến Dòng, lập ra ba tổ chức sau, yểm trợ cho Dòng tiếp tục đào tạo thế hệ trẻ.
 - ‘‘Hội Cựu học viên Don Bosco’’ (FMA) gồm những học sinh đã chịu ơn Salésiens, rải  rác khắp nơi, đóng góp tài sức cho dòng Salésiens. 
 - ‘‘Hội Cộng tác viên Salésiens’’ gồm giáo dân sống trong gia đình và cả linh mục trong xứ đạo, sống Tin Mừng theo tinh thần Don Bosco, trên thế giới, phục vụ giới trẻ địa phương.
 - ''Hội Truyền giáo giáo dân Salésiens’’ gồm nam nữ độc thân hay có gia đình, làm việc tự nguyện, ít ngày, bên cạnh SDB, FMA, tại các nước truyền giáo, có người Salésiens.  
 
 Nay Salésiens có mặt tại 130 nước, gần 20.000 tu sỹ. VN có 11 cộng đoàn. Sau Ý, Salésiens mở  sang Nice, 1875 (Pháp) rồi Argentina... từ 1911, phát triển qua Colombia, Trung Quốc, ấn  Ðộ, Nam Phi.. Năm 1877, ‘‘Tập san Salésiens’’ đầu tiên phát hành.
 
 
 III. Trung tâm Valdosco Torino
 
 Trung tâm phát sinh Salésiens, nay còn ba nơi hành hương kính viếng, vết tích công trình thời thánh Don Bosco để lại.                                                                                                                                                                                       
 1. Vương cung thánh đường Ðức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, ở trên, có hầm. Dưới hầm đặt hơn 3.000 xương các Tử  Ðạo. Bên phải có xác Thánh Don Bosco. Vương Cung Thánh Ðường chứa khoảng 5.000... Ngày 09.06.1868, thánh lễ thánh hiến đầu tiên, có tới 1.200 em trường Don Bosco tham dự. Vòm nhà thờ có hàng chữ : Hic Domus Mea, inde Gloria mea (Ðây là nhà của Mẹ. Từ đây giải tỏa vinh quang của Mẹ). Báo Unita Catonca viết : Ngôi thánh đường do người ngheo xây cất, để phục vụ người nghèo. Sau đó trong vùng ngôi trường thứ ba xây cất.  
 
 Gioan Don Bosco qua đời ngày 31.01. 1888. 72 tuổi. Don Bosco muốn ở với đàn con, trong khu trường, thành phố Torino. Nhưng vì vệ sinh, thi thể ngài an táng bên cạnh, ở Valsalice, chiều 06.02.1888, xa Torino 400 mét.
 
 Ngày 16.05.1929, dịp phong chân phước cho cha Don Bosco, Thi thể Thánh nhân được bốc lên. Xác còn nguyên vẹn, đầy đủ. ÐGH Pio XI phong chân phước cho ngài, ngày 02.06.1929 và hiển Thánh 01.04.1934.
 
 Hòm kiếng đựng Thánh Quan, bàn tay phải, ban phép lành, được đặt trên ngực, Hai bên hông có hàng chữ khẩu hiệu Dòng Da Mihi Animas. Cetera Tolle. Ðầu và cuối Thánh Quan có hình đông trẻ em và bản đồ thế giới Salésiens. Thánh quan nặng 820 kg, dài 2m53, rộng 1m08, cao 1m32.
 
 Ngày 09.06.1929, Thánh Quan Don Bosco long trọng đặt  trong hòm kiếng nghinh về đặt bên phải Ðền Thánh Ðức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu.
 
 Ðể đón chào kỷ niệm 150 năm thành lập Dòng, hòm kiếng thánh quan Don Bosco di chuyển đi 130 nước, có Salésiens. VN đón mừng từ 21.01.2011 đến 01.02.2011. Thánh quan trở về kịp năm 2015, 200 năm sinh nhật của thánh sáng lập Salésiens.
 
 2. Tấm Khăn Liệm Chúa Giêsu.
 
 Nhân dịp kỷ niệm 200 năm sinh nhật thánh Gioan Don Bosco (1815-2015). Khăn Liệm được trưng bày từ 19.04 đến 24.06.2015. Ðức Giáo Hoàng Phanxicô đến kính viếng vào 21.06.2015.
 
 Muốn kính viếng Khăn Liệm. Vì an ninh, người hành hương được kiểm soát hành lý như đi máy bay. Ði bộ, leo giốc, khoảng hơn 10.000 bước.Mục đích vừa đi vừa suy gẫm sự Thương Khó Chúa Giêsu.      
 
 Theo Thánh sử Gioan, Chúa Giêsu đã sống lại, nhưng Khăn Liệm còn đặt gọn ở mộ. Khăn này lọt vào tay vợ Philatô, muốn tha Chúa Giêsu. Từ 325, khăn được đem qua Thổ Nhĩ Kỳ. Khăn được cất dấu, vì chính trị và tôn giáo. Lúc thấy tôn kính ở Palestin (670), ở Hy Lạp (1203).
 
 Ðến năm 1418, thấy ở Lyon, Chambery, Pháp. Năm 1506, ÐGH Julius ban hành sắc lệnh công nhận Thánh Tích của Chúa Giêsu, lễ kính vào 4.5 hàng năm. Ngày 17.9.1578, từ Pháp chuyển về Torino, Ý. Một thời gian khăn lưu vong qua Bồ Ðào Nha. Từ 1690, khăn trở lại Torino đặt trong nhà thờ Thánh Gioan Baotixita cho tới nay.
 
 Khăn dài 441cm và rộng 113cm. Qua nhiều lần xét nghiệm  (1978, 1988, 1997) và tiếp tục tranh cãi về tính xác thực của thánh tích... Ðền thánh Torino là nơi đông người đến tôn kính Khăn Liệm. Khăn được trưng bày công khai cho dân chúng kính viếng, qua các năm 1898, 1933, 1973, 1978, 1984, và 2015
 
 Các ÐGH đến viếng : Ðức Hồng Y Karol Wojtila(1978), và khi làm Giáo Hoàng Gioan Phaolo II (năm Thánh 2000) Ðức Benedicto XVI (02.05.2005), và năm nay Ðức Phanxico đến vào 21.06.2015.
 
 Ðứng trước khăn, mỗi người trong thinh nguyện, được nhìn Năm Dấu Thánh Chúa trên khăn, để lại. Những giọt nước mắt ăn năn từ từ lăn trên má. Chưa bao giờ có trong đời.
 
 Ðức Phanxicô nói: Con người trên Khăn Liệm mời gọi chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu Nazareth. Hình ảnh này nói với trái tim của chúng ta và đưa chúng ta trèo lên ngọn đồi Calvaire. Nhìn đến Thánh Giá và hóa mình trong im lặng hùng hồn tình yêu. Ngài còn soạn kinh khi viếng, với lời kết :
 Lạy Thiên Chúa tối cao và vinh hiển,
 xin chiếu sáng cõi lòng tăm tối của con.
 Xin ban cho con đức tin ngay thẳng,
 đức cậy vững vàng, đức mến hoàn hảo,
 cảm thức và hiểu biết, để con thi hành huấn
 lệnh thánh
 
 Trước vết thương Chúa còn in trên khăn, ai mà không cảm mến, như ‘'Bên Khăn Liệm’’
Con đứng đây lặng ngắm bóng hình
Trải dài trên khăn liệm năm xưa
Tấm khăn gởi trọn tình Thiên Chúa
Vì yêu con đến phải lụy mình
Bao vết đòn roi, bao giọt máu
Ðã nhỏ ra từ những vết thương đau
Còn in dấu mãi đến ngàn sau
Làm chứng tá một tình yêu cao cả
Xin cho con dâng lời cảm tạ
Trong tim con xin khắc mãi bóng hình Cha    
(Minh Thanh. Hành hương GXVN. 04.2015)
 

 3. ‘‘Cái Nôi’’, làng cũ của Don Bosco
 
 Ðây, quảng trường rộng lớn. Công trình lớn nhất là đại thánh đường, có tầng và hầm. Kiến trúc tối tân. Bên ngoài là beton, nhưng trong là gỗ. Sau bàn thờ trên cao là tượng gỗ Chúa Phục Sinh giang tay, cao 16 thước. Theo thánh Don Bosco, thì Chúa Phục Sinh dễ khuất phục người trẻ hơn Chúa Chịu nạn.
 
 Bên cánh phải bàn thờ chính có bàn thờ cạnh, đặt tượng thánh Dominico Savio, trên tường gắn đầy thư, kỷ vật của những cặp vợ chồng trẻ, tạ ơn, vì hiếm muộn, được ơn có con, hay nuôi con khó mà nuôi con khỏe mạnh.
 
 Làng quê thánh Don Bosco, mang tên Colle Don Bosco, có phần đất nhỏ dưới thung lũng cây cỏ um tùm, để hoang. Trong căn nhà mô hình nông trại xưa, còn nhiều dụng cụ nhà nông thô sơ. Cày, cuốc, xẻng, cào... Bên cạnh nhà ở gia đình Thánh Don Bosco, phòng ngủ, phòng nguyện gia đình dành cho Cha khi mới chịu chức. Bàn thờ phủ khăn, còn nguyên.
 
 Cũng trong khu có Bảo Tàng Truyền Giáo, nhiều kỷ vật của các vị truyền giáo Salésiens, từ 5 châu gửi về. Khu Việt Nam chưa có gì. Các cha Salésiens VN có gửi tại đây tượng Ðức Mẹ La vang, mà chưa trưng ra. Một nhà nguyện nhỏ, trên tường đầy những bao thư viết cám ơn thánh Trẻ Dominico Savio đã ban cho những cặp trẻ hiếm muộn hay khó nuôi con. 

 Bên ngoài, đầu nhà nguyện, dưới gốc cây, có mộ trống thánh trẻ Dominico Savio. Ði bộ một lên sườn đồi một chút gặp nhà của gia đình Thánh trẻ. Bà quản gia vui vẻ, cười tươi khi có phái đoàn đến. 
   
 Suốt đời, Thánh Nhân đã tôn kính Đức Mẹ và kêu cầu Đức Mẹ dưới tước hiệu Đức Mẹ phù hộ các giáo hữu’’. Trên áo tu các tu sỹ dòng Don Bosco có ghi Da mihi animas cetera tolle tibi.
 
 Khi còn sống, Cha Thánh không Iàm phép lạ. Nhưng được cứu thoát cách lạ lùng. Một buổi tối, khi Cha Don Bosco đang đi bách bộ một mình, đột nhiên bốn gã to côn đồ giở trò ám hại Cha.  Một con chó lạ xuất hiện từ bóng tối nhẩy vào tấn công một tên côn đồ.  Ba tên kia sợ hãi bỏ chạy ! Cha Don Bosco phải gọi con chó buông tha cho nạn nhân, rồi con chó lạ lùng cùng Cha Don Bosco sánh bước về nhà.  Nhưng đang khi đi, bỗng nhiên con chó biến mất trong bóng đêm.  Về sau, nhiều lần gặp nguy hiểm trong đời, chính con chó lạ này lại đến cứu mạng Cha Don Bosco.  Nhưng tuyệt nhiên người ta không rõ nó từ đâu tới ! Hình chó và cha có trưng bày trong khu nhà cũ của cha.
 
 Theo chân Thánh lập dòng, hàng ngũ đông đảo nam nữ Salésiens, 16.092 người, tại 1.859 nhà thuộc 130 nước, có VN, từ 1952 (2009) đang hiến dâng cuộc đời phục vụ người trẻ.
 
 Cùng nhau đọc lời kinh cầu nguyện dịp 200 sinh nhật thánh tổ phụ :
 
 Lạy thánh Gioan Don Bosco, là người cha, thầy, bạn tuyệt vời của bạn trẻ. Xin cho chúng con biết noi gương Ngài cả đời đem hết tâm huyết nhiệt tình lo cho thanh thiếu niên, giáo dục bằng tình yêu và gương sáng, để giúp các em về và ở lại với Chúa mãi mãi. Amen.
 

Tài liệu viết bài
 
- Ða minh phạm xuân Uyển dịch.
  Don Bosco, Một tiểi sử mới. Sàigòn. 2014
- Ða minh phạm xuân Uyển dịch.
  Hồi ký Nguyện xá Thánh Phanxico Salê.
  Sài gòn. 2014.

- Webesite : Salésiens Don Bosco. 

http://giaoxuvnparis.org/bai-viet/475-thanh-gioan-don-bosco-y-1815-1888-.html


Một số chi tiết được bổ túc sau từ Đaminh Maria cao tấn tĩnh

 

Những thời khắc lịch sử trong cuộc đời Thánh Gioan Bosco

 

 

- Ngày 16/8/1815: Gioan Bosco sinh tại Becchi, Castelnuovo d’Asti, nước Ý. Cha của ngài là Phanxicô Bosco và mẹ là Magarita Occhiena.

- Năm 1817: Ông Phanxicô Bosco qua đời khi Gioan Bosco mới 2 tuổi.

- Năm 1824: Giấc mơ lúc 9 tuổi mạc khải cho Gioan Bosco sứ mệnh mà Thiên Chúa kêu gọi: Giáo dục những người trẻ bị bỏ rơi và những đứa trẻ đã theo con đường xấu.

- Năm 1826: Gioan Bosco được rước lễ lần đầu.

- Năm 1827: Gioan Bosco xa nhà để làm thuê cho trang trại Moglia ở Moncucco, vì xích mích với anh Antôn, người anh cùng cha khác mẹ không muốn Gioan Bosco đi học.
- Tháng 11/1829: Trở về nhà, Gioan Bosco bắt đầu đi học ở nơi cha già Calosso, tại Morialdo.

- Tháng 11/1830: Cha Calosso qua đời. Antôn muốn lập gia đình, nên không muốn Gioan Bosco đi học ở trường công ở Castelnuovo.

- Ngày 04/11/1831: Gioan Bosco tới Chieri ở trọ và đi làm thuê bằng nhiều việc khác nhau để kiếm sống và đi học trong thời gian 10 năm.

- Năm 1833: Gioan Bosco lãnh bí tích Thêm sức tại Buttigliera d’Asti.

- Ngày 29/3/184: Tư giáo Gioan Bosco chịu chức phó tế.

- Ngày 05/6/184: Thầy Gioan Bosco chịu chức linh mục do Đức Tổng Giám mục Torino, Fransoni, trong nhà nguyện của tòa Tổng Giám mục.

- Mùa thu năm 184: Don Bosco ghi danh vào Học viện Giáo sĩ thánh Phanxicô Assisi để đào sâu các môn thần học. Thời gian này ngài tìm hiểu thành phố Torino và khám phá ra những vấn đề nghiêm trọng của giới trẻ nghèo và bị bỏ rơi, hậu quả của cuộc “Cách mạng kỹ nghệ” đang xâm nhập thành phố này.

- Ngày 08/12/184: Don Bosco gặp cậu bé Bartolomeo Garelli quê Asti, tại Valdocco, trong phòng áo của nhà thờ thánh Phanxicô Assisi. Công cuộc nguyện xá bắt đầu khởi sự.

- Ngày 12/4/1846: Nguyện xá chuyển tới khu nhà thuê của ông Phanxicô Pinardi, tại Valdocco. Nơi đây được coi như mô hình nguyện xá kiểu mẫu về sứ mệnh giáo dục Salêdiêng.

- Ngày 03/11/1846: Sau một thời gian dưỡng bệnh dài ở Becchi, Don Bosco trở về Nguyện xá, có mẹ Magaritta đi cùng. Bà đến Nguyện xá làm mẹ đám trẻ con của Don Bosco. Don Bosco thuê hai phòng để khởi sự trường học.

- Năm 1851: Don Bosco mua khu nhà Pinardi và bắt đầu xây dựng ngôi nhà thờ kính thánh Phanxocô Salê. Ngôi nhà thờ hoàn tất và được thánh hiến năm 1852.

- Ngày 26/01/1854: Don Bosco đề nghị bốn thanh niên (Rua, Cagliero, Rocchietti, Artiglia) lập nên các Salêdiêng với một lời hứa dấn thân “Thực hành đức ái với tha nhân”.

- Ngày 29/10/1854: Đaminh Saviô, một đứa trẻ thánh thiện vào Nguyện xá.

- Ngày 08/6/1856: Đaminh Saviô lập Hội Đức Mẹ Vô Nhiễm. Đó là nhóm các người trẻ cộng tác với Don Bosco để giúp đỡ và làm điều tốt cho các bạn của mình.

- Năm 1858: Don Bosco đi Roma để trình bày công cuộc của ngài cho Đức Thánh Cha Pio IX, ngài được đề nghị viết lại “Những điều kỳ diệu” vào lúc khởi đầu công cuộc ngài cho Đức Thánh Cha.

- Ngày 18/12/1859: Tu hội Salêdiêng chính thức khai sinh. Công cuộc Don Bosco có 18 Salêdiêng tiên khởi.

- Tháng 03/1864: Don Bosco xây dựng đền thờ dâng kính Mẹ Phù Hộ tại Valdocco, Tôrinô.

- Ngày 09/6/1868: Thánh hiến đền thờ Đức Mẹ.

- Ngày 05/8/1872: Don Bosco cùng với Mẹ Maria Mazza-rello thành lập Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ (FMA).

- Ngày 03/4/1874: Tòa Thánh châu phê dứt khoát Quy luật của Tu Hội Salêdiêng.

- Ngày 11/11/1875: Don Bosco khởi đầu công cuộc truyền giáo Saliêdiêng tại Patagonia, Achentina.

- Năm 1876: Don Bosco thành lập Hiệp Hội Cộng tác viên Salêdiêng.

- Năm 1880: Đức Leo XIII ủy thác cho Don Bosco việc xây dựng Đền thờ kính Thánh Tâm Chúa tại Roma.

- Năm 1887: Don Bosco đi tới Roma lần cuối cùng để thánh hiến Đền thờ Thánh Tâm Chúa. Lúc này sức khỏe của ngài đã bị suy kiệt.

- Ngày 31/01/1888: Don Bosco qua đời để lại niềm thương tiếc cho khắp nước Ý và tất cả những ai từng biết về công cuộc giáo dục giới trẻ của ngài.

- Ngày 01/4/1934: Vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh, Don Bosco được Đức Thánh Cha Pio XI tôn phong hiển thánh.

- Ngày 24/01/1989: Don Bosco được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên bố ngài là “Cha và Thầy của giới trẻ”

 

https://www.songtinmungtinhyeu.org/index.php?open=contents&id=873