SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

Chúa Nhật
Lời Chúa
Bài Ðọc I: Is 9, 1-4 (Hr 8, 23b - 9, 3)
"Tại Galilêa các dân tộc và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại".
Trích sách Tiên tri Isaia.
Lúc đầu, đất Giabulon và Nephthali rất hèn hạ, trong tương lai dần dần trở thành đường biển, bên kia sông Giođan trở thành Galilêa các dân tộc. Dân chúng đi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng vĩ đại, và một ánh sáng đã chiếu soi trên dân ở vùng bóng sự chết. Người đã gia tăng dân số, đã ban một nguồn vui lớn; thiên hạ hân hoan trước mặt Người, như hân hoan khi được mùa, nhảy mừng như khi phân chia chiến lợi phẩm. Vì ách đã đè trên họ, đòn ngang nằm trên vai họ, và gậy của kẻ lạm thu họ, Người đã bẻ gẫy tất cả như trong ngày Mađian.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 26, 1. 4. 13-14
Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi (c. 1a).
Xướng: 1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ; tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? - Ðáp.
2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người. - Ðáp.
3) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa. - Ðáp.
Bài Ðọc II: 1 Cr 1, 10-13. 17
"Tất cả anh em hãy đồng tâm hợp ý với nhau, và giữa anh em, đừng có chia rẽ".
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, nhân danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi xin anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý với nhau, giữa anh em đừng có chia rẽ; hãy đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và cùng một tâm tình. Anh em thân mến, tôi đã được các người nhà Khloê cho hay rằng: giữa anh em đang có những sự bất đồng. Tôi có ý nói điều này, là mỗi người trong anh em nói: "Tôi, tôi thuộc về Phaolô; - "Tôi về phe Apollô"; - "Còn tôi, tôi về phe Kêpha"; - "Và tôi thuộc về phe Chúa Kitô". Chúa Kitô bị phân chia rồi sao? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vì anh em đâu? Hay là nhân danh Phaolô mà anh em chịu phép rửa? Ðức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Ðức Kitô ra hư không.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Mt 4, 23
Alleluia, alleluia! - Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 4, 12-23 (bài dài)
"Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: "Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết".
Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: "Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến!"
Nhân lúc Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy hai anh em là Simon, cũng gọi là Phêrô, và Anrê, em ông, cả hai đang thả lưới dưới biển, vì hai ông là ngư phủ. Người bảo hai ông rằng: "Các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta". Lập tức hai ông bỏ lưới đó mà theo Người. Ði xa hơn một đỗi, Người lại thấy hai anh em khác là Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan em ông đang vá lưới trong thuyền với cha là Giêbêđê. Người cũng gọi hai ông. Lập tức hai ông bỏ lưới và cha mình mà đi theo Người.
Và Chúa Giêsu đi rảo quanh khắp xứ Galilêa, dạy dỗ trong các hội đường của họ, rao giảng tin mừng nước trời, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân.
Ðó là lời Chúa.

Suy
niệm
Qua Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay, được Giáo Hội cố ý chọn đọc cho Chúa Nhật III Thường Niên Năm A, chúng ta vẫn thấy đề tài chung cho Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh trước Mùa Chay này là "Người Con duy nhất đến từ Cha (như bài Phúc Âm về Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa mở màn cho Mùa Thường Niên này đã hiển nhiên cho thấy), đầy ân sủng và chân lý", tức đầy Thánh Linh và Lòng Thương Xót Chúa.
Thật vậy, "Người Con duy nhất đến từ Cha" này "đầy chân lý" không phải chỉ ở giáo huấn vô cùng khôn ngoan và đầy thế lực của Người, mà nhất là ở việc Người không bao giờ làm theo ý riêng của Người, mà chỉ làm theo ý muốn của Cha là Đấng đã sai Người. "Người Con duy nhất đến từ Cha" này "đầy ân sủng", chẳng những qua việc chữa lành và trừ quỉ, mà nhất là ở chính Thánh Giá trong cuộc Vượt Qua của Người, một biến cố đã được tiên báo qua chính việc chữa lành về thể xác và trừ quỉ về tâm linh cho con người mắc nguyên tội.
Và chính vì "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" như thế mà Người chẳng những tỏ Lòng Thương Xót Chúa ra mà còn thông ban Thánh Linh của Người ra nữa, nhờ đó, qua Lời Người dạy, việc Người làm và gương Người tỏ, chung nhân loại và riêng những ai có tâm hồn đơn sơ bé nhỏ như Mẹ Maria, Mẹ của Người, có thể nhận biết và tin tưởng vào Người, mà được hiệp thông thần linh với Cha trên trời của Người và với Người, trong cùng một "Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống", và là nguyên lý hiệp thông thần linh.
Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III Thường Niên Năm A theo Thánh Mathêu hôm nay cho thấy "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" ở chỗ Người chính là "ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết", đúng như Thánh ký cảm nhận như lời Tiên Tri Isaia đã tiên báo về Người trong Bài Đọc 1 cùng ngày: "Một ánh sáng đã chiếu soi trên dân ở vùng bóng sự chết", một "vùng bóng sự chết" ám chỉ tình trạng con người sau nguyên tội còn ở trong quyền lực tối tăm của tử thần, cần phải được cứu cho khỏi tội lỗi và sự chết.
Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao "ánh sáng" lại ám chỉ hay phản ảnh "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý"? Nếu không phải đã là "ánh sáng" thì phải chiếu soi, mà đã chiếu soi thì phải chiếu soi trong tăm tối, như Thánh ký Gioan, ngay phần dẫn nhập Phúc Âm của ngài, đã xác tín về Ngôi Lời hằng hữu (xem Gioan 1:1) một khi "đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) thì trở thành "ánh sáng đã chiếu trong tăm tối" (1:5), một thứ tối tăm ám chỉ sự chết cả về linh hồn lẫn thể xác nơi con người mắc nguyên tội.
Như thế, "ánh sáng đã chiếu soi tăm tối" đây ám chỉ sự sống thần linh là chính bản thân của Chúa Giêsu Kitô, Lời Nhập Thể, Đấng được Thiên Chúa là Cha trên trời đã hứa cứu chuộc loài người ngay trong án phạt của con người sau nguyên tội (xem Khởi Nguyên 1:15): "Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời, và sự sống này ở nơi Con của Ngài. Ai có Con là có sự sống" (1Gioan 5:11). Và đó là lý do Chúa Giêsu đã khẳng định về mình và kêu gọi rằng: "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo Tôi sẽ được ánh sáng sự sống" (Gioan 8:12).
"Sự sống" thần linh nơi Chúa Giêsu Kitô được ban cho con người đã tự mình đánh mất bởi nguyên tội và vì thế con người chỉ có thể tái sinh, chỉ có thể được hoan hưởng "sự sống và là sự sống viên mãn" (Gioan 10:10), hơn cả ngay trước nguyên tội, khi họ nhận biết Thiên Chúa nơi Người Con Thiên Sai của Ngài mà thôi: "Sự sống đời đời là ở chỗ nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng được Cha sai là Giêsu Kitô" (Gioan 17:3).
Bởi thế, "dân ở vùng bóng sự chết", được Tiên Tri Isaia ám chỉ trong Bài Đọc 1 đây chính là thành phần "ngồi trong bóng sự chết", được Thánh ký Mathêu làm sáng tỏ trong Bài Phúc Âm, tức là "Galilêa của ngoại bang", tiêu biểu là hai thành phần hoàn toàn ngoại bang là "đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan", thành phần "dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng" là "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý", khi Người Con này xuất hiện và tỏ mình ra cho họ trước tiên.
Tuy nhiên, phần của những nơi và những con người ở đó được diễm phúc "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" tỏ mình ra trước hết này có nhận biết Người và tin tưởng vào Người hay chăng, để nhờ đó họ được "Người ban cho họ được quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12)? Kinh nghiệm cho thấy là chính nơi có thể nói là trung tâm tỏ mình ra của "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" ở "Galilêa của ngoại bang" này là thành Carphanaum vẫn "yêu thích tối tăm hơn ánh sáng" (Gioan 3:19)
Thật thế, nếu thành Carphanaum là trung tâm tỏ mình ra của Người: "Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali", thì chính thành Carphanaum diễm phúc này, như "được đưa lên đến tận trời" (Mathêu 11:23), do thành này đã chứng kiến thấy "các phép lạ xẩy ra" (Mathêu 11:23), mà sau cùng lại bị "hạ xuống hỏa ngục"(Mathêu 11:23).
Bài Đọc 2 cùng ngày hôm nay đã chứng thực cho chúng ta thấy, cho dù là thành phần Kitô hữu chăng nữa, đã được tái sinh trong Chúa Kitô, "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý", nhưng nơi chính bản thân của họ vẫn còn mầm mống nguyên tội, vẫn còn đam mê nhục dục và tính mê nết xấu, nên họ vẫn tiếp tục "yêu thích tối tăm hơn ánh sáng", ở chỗ, "giữa anh em đang có những sự bất đồng", là những gì ám chỉ chết chóc, tối tăm, ma quỉ, hỏa ngục, đến độ vị Tông Đồ dân ngoại đã phải lên tiếng khuyên nhủ rằng: "Xin anh em hãy đồng tâm hiệp ý với nhau, giữa anh em đừng có chia rẽ; hãy đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và cùng một tâm tình".
Chính vì con người dù đã được tái sinh và mặc lấy con người mới là Chúa Giêsu Kitô vẫn tiếp tục "yêu thích tối tăm hơn ánh sáng" như thế mà họ mới càng cần được "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" liên tục tỏ mình ra cho họ, miễn là họ để cho Người làm như thế, với tất cả ý thức về bản thân mình trước Đấng đầy Thánh Linh và Lòng Thương Xót, một ý thức được tỏ hiện theo tâm tình của Thánh Vịnh 26 trong bài Đáp Ca hôm nay:
1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ; tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?
2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người.
3) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa.
"Chúa Giêsu muốn trở thành một vị tiên tri lưu động nay đây mai đó. Người không chờ đợi dân chúng mà là đến gặp gỡ họ. Chúa Giêsu luôn hành trình!...
Chúa tỏ Mình ra cho chúng ta không phải bằng một đường lối phi thường hay nổi bật, mà là trong đời sống thường ngày của chúng ta."
(ĐTC Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật III ngày 22/1/2017)
Xin chào anh chị em thân mến!
Đoạn Phúc Âm hôm nay (xem Mathêu 4:12-23) thuật lại thời điểm mở màn cho việc giảng dạy của Chúa Giêsu ở Galilêa. Người bỏ Nazarét là một ngôi làng ở trên đồi mà đến ở thành Caphanaum, một trung tâm trọng yếu ở bên bờ Hồ, có rất nhiều dân ngoại cư ngụ, một giao điểm giữa Địa Trung Hải và nội địa Mesopotamia. Sự chọn địa điểm này cho thấy rằng thành phần lãnh nhận việc rao giảng của Người không phải chỉ có đồng bào của Người mà còn tất cả những ai sống ở một đại đồng "Galilêa của các Dân Ngoại" (câu 15; xem Isaiah 8:23), như nó được gọi như vậy. So với Giêrusalem là thủ đô thì miền đất này về địa dư ở vùng ngoại biên và dơ bẩn về tôn giáo, vì nó đầy những dân ngoại, ở chỗ pha trộn với tất cả những ai không thuộc về dân Do Thái. Những điều cao cả trọng đại đối với lịch sử cứu độ thực sự là không được mong đợi xuất phát từ Galilêa. Thế mà, chính từ chỗ đó "ánh sáng" đã phát tỏara là điều chúng ta đã suy niệm trong các Chúa Nhật vừa qua: ánh sáng Chúa Kitô. Ánh sáng này thật sự tỏa ra từ một vùng ngoại biên.
Sứ điệp của Chúa Giêsu lập lại sứ điệp của vị Tẩy Giả, loan báo về "Nước Trời" (câu 17). Vương quốc này không bao gồm việc thiết lập một thứ quyền lực mới về chính trị, mà là việc hoàn thành Giao Ước giữa Thiên Chúa và Dân của Ngài, một việc hoàn thành sẽ khai mào cho một mùa hòa bình và công lý. Mỗi người được kêu gọi hoán cải, củng cố Giao Ước này với Thiên Chúa, biến đổi cách suy nghĩ và sống động của mình. Điều quan trọng là ở chỗ hoán cải không phải chỉ là việc thay đổi lối sống mà còn cả lối suy nghĩ của mình nữa. Nó không phải là việc thay đổi y phục mà là những thói quen! Điều làm cho Chúa Giêsu khác với vị Gioan Tẩy Giả đó là kiểu cách và phương pháp. Chúa Giêsu muốn trở thành một vị tiên tri lưu động nay đây mai đó. Người không chờ đợi dân chúng mà là đến gặp gỡ họ. Chúa Giêsu luôn hành trình! Những cuộc truyền giáo đầu tiên của Người đã xẩy ra dọc Biển Hồ Galilêa, giao tiếp với đám đông, đặc biệt là với những người đánh cá. Chúa Giêsu ở đó chẳng những loan báo Nước Thiên Chúa đến mà còn tìm kiếm các bạn đồng hành để cộng tác vào sứ vụ cứu độ của Người. Ở cùng một chỗ ấy, Người đã gặp được hai cặp anh em là Simon và Anrê cùng Giacôbê và Gioan. Người gọi họ mà rằng: "Hãy theo Tôi, và Tôi sẽ làm cho anh em thành những kẻ chài lưới người" (câu 19). Tiếng gọi này chạm đến họ ngay giữa sinh hoạt hằng ngày của họ: Chúa tỏ Mình ra cho chúng ta không phải bằng một đường lối phi thường hay nổi bật, mà là trong đời sống thường ngày của chúng ta. Chúng ta cần phải thấy Chúa ở đó; Người tỏ Mình ra ở đó, làm cho lòng chúng ta cảm thấy được tình yêu của Người; và ở đó - bằng cuộc trao đổi này với Người trong cuộc sống hằng ngày - lòng của chúng ta được biến đổi. Việc đáp ứng của bốn người chài lưới này xẩy ra ngay lập tức: "Họ liền bỏ lưới của mình lại mà theo Người" (câu 20). Thật vậy, chúng ta biết rằng họ đã từng là những người môn đệ của vị Tẩy Giả, và nhờ chứng từ của vị này họ đã bắt đầu tin rằng Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai (xem Gioan 1:35-42).
Thành phần Kitô hữu chúng ta hôm nay đây hân hoan loan báo và làm chứng cho đức tin của chúng ta, vì đó là việc loan báo tiên khởi, vì đã có những con người khiêm tốn và can trường quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu. Cộng đồng môn đệ đầu tiên của Chúa Kitô được xuất thân ở bờ Hồ, ở một miền đất không ngờ. Chớ gì cái nhận thức về những sự khởi đầu này khơi động trong chúng ta ước muốn mang Lời Chúa, tình yêu thương và niềm êm ái dịu dàng của Chúa Giêsu đến cho hết mọi tình huống, cho dù là thành phần không tiếp thu và chống cưỡng nhất. Hãy mang Lời Chúa đến cho tất cả những vùng ngoại biên! Tất cả mọi lãnh vực của đời sống con người đều là khu vực để gieo hạt giống Phúc Âm, nhờ đó hạt giống này mới sinh hoa trái cứu độ.
Xin Trinh Nữ Maria giúp chúng ta, bằng việc chuyển cầu từ mẫu của mình, biết hân hoan đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu, và dấn thân phục vụ Vương Quốc của Thiên Chúa.
https://zenit.org/articles/angelus-address-on-the-need-for-conversion-to-follow-jesus/
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và những chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu
"Galilêa thuộc các dân nước"
(ĐTC Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật III ngày 26/1/2014)
Phúc Âm Chúa Nhật này thuật lại khởi điểm đời sống công khai của Chúa Giêsu ở các phố thị và làng mạc Xứ Galilêa. Sứ vụ của Người không bắt đầu ở Giêrusalem, trung tâm về tôn giáo và cũng là trung tâm về xã hội và chính trị, mà là ở một miền đất ngoại vi bên lề, một miền đất bị hầu hết thành phần Do Thái ngoan đạo khinh bỉ vì ở miền đất này có các thành phần ngoại quốc khác nhau; đó là lý do tại sao Tiên Tri Isaia đã gọi nó là "Xứ Galilêa thuộc các dân nước" (9:1).
Nó là một miền đất biên giới, một nơi qua lại của thành phần dân chúng thuộc các chủng tộc, văn hóa và tôn giáo khác nhau tụ lại. Bởi thế Galilêa trở thành một nơi tiêu biểu cho Phúc Âm hướng tới tất cả mọi dân nước. Theo quan điểm ấy thì Galilêa giống như thế giới ngày nay, ở chỗ đồng hiện diện của các thứ văn hóa khác nhau, nhu cầu cần so sánh và nhu cầu cần hội ngộ. Cả chúng ta nữa bị chìm đắm hằng ngày vào một thứ "Galilêa thuộc các dân nước", và trong thứ bối cảnh này chúng ta cảm thấy lo sợ và chiều theo khuynh hướng thực hiện việc ngăn chặn rào cản để cảm thấy mình được an toàn hơn, được bảo vệ hơn. Thế nhưng Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng Tin Mừng được Người mang đến không phải chỉ dành cho một phần nhân loại mà là được truyền đạt cho hết mọi người. Nó là một thứ loan báo về niềm hân hoan nhắm đến những ai đang đợi chờ nó, thế nhưng cũng cho tất cả những ai có lẽ không còn chờ đợi bất cứ gì nữa và thậm chí không còn sức để tìm kiếm và kêu xin.
Bắt đầu từ Galilêa, Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng không có ai bị loại trừ khỏi ơn cứu độ của Thiên Chúa, trái lại, chính từ những nơi ngoại biên này mà Thiên Chúa thích khởi sự, từ những gì là bé mọn nhất, để vươn tới hết mọi người. Người dạy chúng ta một phương pháp, phương pháp của Người, cũng cho thấy nội dung của của nó là tình thương của Cha....
Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Người chẳng những từ một nơi chốn ngoài tâm điểm mà còn giữa những con người mà người ta có thể gọi, ám chỉ, như là một thứ "hạ cấp - low profile". Khi chọn các môn đệ đầu tiên của mình và là các vị tông đồ sau này, Người đã không hướng tới các trường phái luật sĩ hay tiến sĩ Luật, mà về thành phần thấp hèn và thành phần quê mùa, thành phần ân cần sửa soạn cho việc trị đến của Vương Quốc Thiên Chúa. Chúa Giêsu đến kêu gọi họ ở nơi họ đang làm việc, trên bờ hồ: họ là những tay đánh cá. Người kêu gọi họ, và họ lập tức theo Người. Họ lìa bỏ chài lưới mà đi theo Người: đời sống của họ sẽ trở thành một cuộc mạo hiểm phi thường và hấp dẫn.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch
ĐTC Phanxicô: Giảng Lễ Chúa Nhật Lời Chúa - CN III Thường Niên
Thứ Hai
Lời Chúa
Bài Ðọc I: (năm II) 2 Sm 5, 1-7. 10
"Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel dân Ta".
Trích sách Samuel quyển thứ hai.
Trong những ngày ấy, toàn thể chi tộc Israel đến cùng Ðavít tại Hebron mà nói rằng: "Ðây chúng tôi là cốt nhục của ngài. Nhưng từ trước đến giờ, khi Saolê đang làm vua chúng tôi, thì chính ngài đã dẫn dắt Israel. Và Chúa đã nói với ngài rằng: "Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel dân Ta, và sẽ trở nên thủ lãnh Israel". Vậy tất cả các vị kỳ lão Israel đều đến tìm nhà vua tại Hebron, và tại đó, vua Ðavít ký kết với họ một giao ước trước mặt Chúa. Họ liền xức dầu phong Ðavít làm vua Israel. Khi Ðavít lên làm vua, ngài được ba mươi tuổi, và cai trị được bốn mươi năm. Tại Hebron, ngài cai trị Giuđa được bảy năm rưỡi. Còn tại Giêrusalem, ngài cai trị toàn cõi Israel và Giuđa được ba mươi ba năm.
Nhà vua và tất cả quân sĩ theo ngài kéo đến Giêrusalem, đánh đuổi dân cư Giêbusê. Người ta nói với Ðavít rằng: "Ông đừng vào đây, bằng không những người mù què sẽ đánh đuổi ông". Như thế có nghĩa là: "Ðavít sẽ không vào được nơi này". Nhưng Ðavít đã chiếm đóng đồn Sion làm kinh thành của Ðavít.
Và Ðavít vào thành, càng ngày càng trở nên cường thịnh, và Chúa là Thiên Chúa các đạo binh phù hộ nhà vua.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 88, 20. 21-22. 25-26
Ðáp: Thành tín và ân sủng của Ta hằng ở với người (c. 25a).
Xướng: 1) Xưa trong cuộc thị kiến, Chúa đã phán cùng bầy tôi Chúa: "Ta đội mão triều thiên cho vị anh hùng, Ta cất nhắc người được kén chọn tự trong dân. - Ðáp.
2) Ta đã gặp Ðavít là tôi tớ của Ta, Ta đã xức dầu thánh của Ta cho người, để tay Ta bang trợ người luôn mãi, và cánh tay Ta củng cố thân danh người. - Ðáp.
3) Thành tín và ân sủng của Ta hằng ở với người, và nhân danh Ta, sức mạnh người tăng thêm mãi. Ta đặt tay người trên mặt biển, và tay hữu người, Ta đặt lên sông ngòi. - Ðáp.
Alleluia: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia! - Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu thương người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 3, 22-30
"Satan phải diệt vong".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, những luật sĩ từ Giêrusalem xuống nói rằng: "Ông ấy bị quỷ Belgiêbút ám", và nói thêm rằng: "Chính nhờ tướng quỷ mà ông ấy trừ quỷ". Khi đã gọi họ lại, Chúa Giêsu phán bằng dụ ngôn rằng: "Satan lại trừ Satan làm sao được? Nếu một nước mà tự chia rẽ nhau, thì nước đó tồn tại làm sao được? Vậy nếu Satan dấy lên chống đối với chính mình và tự phân tán, thì nó không thể đứng vững được mà phải diệt vong. Chẳng ai có thể vào nhà một người khoẻ mạnh và cướp của y, nếu không trói được y trước đã, rồi sau mới cướp phá nhà y. Quả thật, Ta bảo các ông hay, mọi tội lỗi và mọi lời phạm thượng của con cái loài người sẽ được tha hết, nhưng kẻ nào nói phạm đến Chúa Thánh Thần, sẽ muôn đời không bao giờ được tha: nó mắc tội muôn đời". Ðó là vì họ nói "Người bị thần ô uế ám".
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Đức Kitô Quyền
Năng
Hôm nay, Thứ Hai, ngày thường đầu tiên trong Tuần 3 Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh, chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho chung thời điểm phụng vụ này vẫn tiếp tục phản ảnh nơi bài Phúc Âm hôm nay.
Bài Phúc Âm hôm nay Thánh ký Marco thuật lại sự kiện đụng độ giữa "những luật sĩ từ Giêrusalem đến" và Chúa Giêsu, một cuộc đụng độ càng cho thấy bản chất "đầy ân sủng và chân lý" của "Người Con duy nhất đến từ Cha" này. Ở chỗ, cho dù bị xuyên tạc chụp mũ Người vẫn "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mathêu 11:29), vẫn nhẫn nhịn giúp cho đối phương nhận ra cái sai lầm của họ và cảnh giác họ để họ khỏi bị đời đời hư mất.
Thật vậy, khi thấy danh tiếng của Chúa Giêsu càng ngày càng nổi nang khắp nơi trong dân chúng, cho dù Người mới chỉ ở Galilêa thuộc miền bắc đất nước Do Thái, chứ chưa xuống tới Giuđêa thuộc miền nam là nơi toàn tòng dân Do Thái và có giáo đô Giêrusalem là trung tâm của Do Thái giáo, thành phần "những luật sĩ từ Giêrusalem đến nói rằng 'Ông ấy bị quỷ Belgiêbút ám', và nói thêm rằng: 'Chính nhờ tướng quỷ mà ông ấy trừ quỷ'".
Không biết thành phần luật sĩ từ Giêrusalem đến này từ bao lâu rồi, đã tận mắt xem thấy Chúa Giêsu trừ quỉ hay chưa, hoặc chỉ nghe nói đến thôi, rồi suy diễn một cách méo mó như vậy để chống phá đối phương mới trở nên nổi tiếng, với chủ đích hạ bệ đối thủ của mình xuống càng sớm càng tốt, càng sâu càng nhục?!
Tuy nhiên, nếu "miệng nói ra những gì đầy trong lòng", như chính Chúa Giêsu đã nói với những người Pharisiêu trong Phúc Âm của Thánh ký Mathêu (12:34) cũng có cùng chủ trương như những người luật sĩ trong bài Phúc Âm hôm nay, thì nội dung của lời phát biểu này dường như chất chứa tính cách cạnh tranh xuất phát từ lòng ghen ghét, chứ chưa nói đến tính cách hết sức phạm thượng của nó, của những ai phát ngôn như thế.
Thế nhưng, cho dù bị phạm thượng như vậy, Chúa Giêsu chẳng những đã không nổi giận, quát mắng họ hay thậm tệ quở trách họ, như Người sẽ làm sau này, được thấy ở nguyên đoạn 23 Phúc Âm Thánh Mathêu, mà còn hết sức nhân từ "gọi họ lại" và "dùng tỉ dụ" (như cha mẹ hay thày cô dạy cho đám học trò con nít của mình) cho dễ hiểu để nhờ đó vạch ra cho họ thấy những gì sơ hở đầy mẫu thuẫn nơi cái nhận định và lập luận đầy thiên kiến vừa thiển cận nông nổi vừa mâu thuẫn mù tối của họ, bằng cách Người đã lấy gậy ông đập lưng ông, như sau:
"Satan lại trừ Satan làm sao được? Nếu một nước mà tự chia rẽ nhau, thì nước đó tồn tại làm sao được? Vậy nếu Satan dấy lên chống đối với chính mình và tự phân tán, thì nó không thể đứng vững được mà phải diệt vong". Tức là Chúa Giêsu muốn nói với thành phần luật sĩ đầy thế lực từ giáo đô Giêrusalem rằng: quí vị thật là mâu thuẫn, chẳng hiểu gì cả, nếu tôi như quí vị nói "bị quỉ Belzebul ám" nhờ đó tôi mới có thể "nhờ chính tướng quỷ mà trừ quỷ" thì ma quỉ tự chúng chia rẽ nhau mà chết thôi - làm gì có cái chuyện hoang đường là ma quỉ quay ra tàn sát lẫn nhau để hủy diệt đi vương quốc tử thần của chúng chứ?
Chưa hết, Chúa Giêsu muốn lợi dụng dịp này để chẳng những sửa lỗi cho họ mà còn tỏ mình ra cho họ thấy rõ hơn một chút nữa, hy vọng họ thấy được quyền phép thần linh của mình là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", một quyền phép vô địch còn hơn cả quyền lực chết chóc của thần dữ, ở chỗ còn khống chế được cả ma quỉ là loài vẫn từng thống trị loài người từ sau nguyên tội: "Chẳng ai có thể vào nhà một người khoẻ mạnh và cướp của y, nếu không trói được y trước đã, rồi sau mới cướp phá nhà y".
Không biết các nhà luật sĩ khôn ngoan thông thái trong bài Phúc Âm hôm nay, nghe xong câu nói nhẹ nhàng xa xa bóng gió này của Chúa Giêsu có hiểu ý Người muốn nói hay chăng, nhưng thực tại đúng là như thế, đúng là Người có một quyền lực vô địch, một quyền lực sẽ đạt đến tột đỉnh của mình nơi cuộc Vượt Qua chiến thắng tội lỗi và sự chết của Người.
Tình thương của Chúa Giêsu tỏ ra với thành phần luật sĩ mù quáng trong bài Phúc Âm hôm nay không phải chỉ ở chỗ: 1- vạch ra cho họ thấy cái sai lầm của họ; và 2- tỏ cho họ thấy quyền lực thần linh trừ quỉ của Người, mà còn 3- cảnh báo về phần rỗi đời đời của họ nữa, như thể khuyên họ hãy cẩn thận và coi chừng thứ tội nguy hiểm được Người thẳng thắn cho họ biết rằng:
"'Quả thật, Ta bảo các ông hay, mọi tội lỗi và mọi lời phạm thượng của con cái loài người sẽ được tha hết, nhưng kẻ nào nói phạm đến Chúa Thánh Thần, sẽ muôn đời không bao giờ được tha: nó mắc tội muôn đời'. Ðó là vì họ nói 'Người bị thần ô uế ám'".
Căn cứ vào lời cảnh báo này của Chúa Giêsu thì ở đây Chúa Giêsu nói đến kẻ phạm tội "kẻ nào nói phạm đến Chúa Thánh Thần... nó mắc tội muôn đời'", hơn là thứ tội "phạm đến Chúa Thánh Thần", và hình phạt muôn đời giành cho kẻ phạm một thứ tội phạm thượng khủng khiếp, dám cho "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" là Đấng có thể khống chế quyền lực của thần dữ "bị thần ô uế ám", có nghĩa là dám hoàn toàn phủ nhận Thánh Linh là "quyền phép Đấng Tối Cao" (Luca 1:35) ở trong Người và làm việc đó, và vì thế cũng có nghĩa là gián tiếp không chấp nhận Người là Đấng Thiên Sai, Đấng Được Xức Dầu Thánh Linh, một điều kiện tối yếu bất khả thiếu để được cứu độ (xem Marco 16:16).
Trong Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cũng thế, sau khi được phong vương để làm vua của toàn cõi đất nước Do Thái bấy giờ, (như Chúa Giêsu nổi tiếng khắp cả đất nước Do Thái sau này), "Nhà vua và tất cả quân sĩ theo ngài kéo đến Giêrusalem, đánh đuổi dân cư Giêbusê. Người ta nói với Ðavít rằng: 'Ông đừng vào đây, bằng không những người mù què sẽ đánh đuổi ông'. Nghĩa là: 'Ðavít sẽ không vào được nơi này'. Nhưng Ðavít đã chiếm đóng đồn Sion làm kinh thành của Ðavít. Và Ðavít vào thành, càng ngày càng trở nên cường thịnh, và Chúa là Thiên Chúa các đạo binh phù hộ nhà vua".
Qua câu Thánh Kinh được trích từ Sách Samuel quyển 2 trong Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy, cho dù bị dân cư Giêbusê chống cưỡng, (như thành phần luật sĩ ở Giêrusalem đến chống phá Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay), Vua Đavít vẫn có thể làm được những gì cần phải làm để thống nhất đất nước và lấy "Sion làm kinh thành", (như Chúa Giêsu trừ quỉ để thống nhất loài người lại bằng việc thiết lập vương quốc của Thiên Chúa), nhờ "Thiên Chúa các đạo binh phù hộ nhà vua" (như Chúa Giêsu đã trừ quỉ bằng quyền năng Thánh Linh vậy).
Bài Đáp Ca hôm nay gián tiếp liên quan đến Bài Phúc Âm hôm nay và trực tiếp liên hệ với Bài Đọc 1 hôm nay, vì cả hai đều liên quan đến quyền năng cứu độ của Thiên Chúa, cách riêng nơi Đavít, và Đavít lại là hình ảnh ám chỉ Đức Kitô Thiên Sai là Đấng sẽ đến để giải thoát và chăn dắt dân Chúa: "Vương quốc của Người sẽ vô tận" (Luca 1:33).
1) Xưa trong cuộc thị kiến, Chúa đã phán cùng bầy tôi Chúa: "Ta đội mão triều thiên cho vị anh hùng, Ta cất nhắc người được kén chọn tự trong dân.
2) Ta đã gặp Ðavít là tôi tớ của Ta, Ta đã xức dầu thánh của Ta cho người, để tay Ta bang trợ người luôn mãi, và cánh tay Ta củng cố thân danh người.
3) Thành tín và ân sủng của Ta hằng ở với người, và nhân danh Ta, sức mạnh người tăng thêm mãi. Ta đặt tay người trên mặt biển, và tay hữu người, Ta đặt lên sông ngòi.
Thứ Ba
Lời Chúa
Bài Ðọc I: (năm
II) 2
Sm 6, 12b-15, 17-19
"Ðavít và toàn dân Israel hân hoan đi rước hòm bia Thiên Chúa".
Trích sách Samuel quyển thứ hai.
Trong những ngày ấy, Ðavít hân hoan đi mang hòm bia Thiên Chúa từ nhà
Obêđê về thành Ðavít. Vua dẫn theo bảy ca đoàn và đàn bò con làm của lễ.
Khi những người mang hòm bia Thiên Chúa đi được sáu bước, thì Ðavít hiến
tế một con bò và một con bê. Ngài tận lực nhảy múa trước Thiên Chúa.
Ngài mang khăn vải điều ngang lưng. Ngài và toàn thể nhà Israel mang hòm
bia Thiên Chúa hân hoan và trong tiếng kèn trống. Họ rước hòm bia Thiên
Chúa vào đặt giữa nhà tạm mà Ðavít đã dựng sẵn. Rồi ngài hiến dâng của
lễ toàn thiêu và của lễ bình an; ngài nhân danh Chúa các đạo binh mà
chúc lành cho dân chúng, đoạn ngài phân phát cho toàn dân Israel, nam
cũng như nữ, mỗi người một ổ bánh mì, một miếng thịt và một chiếc bánh
chiên dầu. Và toàn dân giải tán, ai về nhà nấy.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 23, 7. 8. 9. 10
Ðáp: Vua
hiển vinh là ai vậy? Chính Người là Thiên Chúa (c. 8a).
Xướng: 1) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên; vươn mình lên, hỡi cửa ngàn
thu, để vua hiển vinh Người ngự quá! - Ðáp.
2) Nhưng vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa dũng lực hùng anh, đó là
Chúa anh hùng của chiến chinh. - Ðáp.
3) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên, vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu, để
vua hiển vinh Người ngự quá. - Ðáp.
4) Nhưng vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa đạo thiên binh, chính Người
là Hoàng Ðế hiển vinh. - Ðáp.
Alleluia: Ga 15,15b
Alleluia, Alleluia. - Chúa phán: "Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả
những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết".
- Alleluia.
Phúc Âm: Mc 3,31-35
"Ai làm theo ý Thiên Chúa, thì người ấy là anh chị em và là mẹ Ta".
Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.
Khi ấy, mẹ Chúa Giêsu và anh em Người đến và đứng ở ngoài sai người vào
mời Chúa ra.
Bấy giờ có đám đông ngồi chung quanh Người và họ trình với Người rằng:
"Kìa mẹ và anh em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy".
Người trả lời rằng: "Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta?"
Ðó là Lời Chúa.

Suy niệm
Đức Kitô Tình Nghĩa
Bài Phúc Âm cho ngày Thứ Ba trong Tuần 3 Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay vẫn tiếp chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho chung thời điểm phụng vụ này.
Thánh ký Marco thuật lại cho chúng ta biết sự kiện "mẹ Chúa Giêsu và anh em Người đến và đứng ở ngoài sai người vào mời Chúa ra", cũng như phản ứng của Chúa Giêsu khi Người được "đám đông ngồi chung quanh Người trình với Người rằng: 'Kìa mẹ và anh em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy'".
Phản ứng của Chúa Giêsu, qua cả lời nói lẫn cử chỉ tác hành của Người, như được thuật lại trong bài Phúc Âm hôm nay, như sau: "Người trả lời rằng: 'Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta?' Rồi đưa mắt nhìn những người ngồi vòng quanh, Người nói: 'Ðây là mẹ Ta và anh em Ta. Vì ai làm theo ý Thiên Chúa, người ấy là anh chị em và là mẹ Ta'".
Phải chăng Người tỏ ra như thể bị gia đình làm phiền Người đang khi Người thi hành sứ vụ Thiên Sai của Người, nên Người có thái độ như lạnh nhạt hơn là vồn vã với gia đình của Người, thậm chí Người còn có vẻ coi trọng thính giả của Người hơn cả gia đình của Người nữa.
Bề ngoài có thể là thế thật, nhưng tận sâu xa ở những lời nói và cử chỉ có vẻ tiêu cực này của mình, Người lại sử dụng đường lối phủ nhận cách liên quan đến mối liên hệ ruột thịt tự nhiên với gia đình của Người để khẳng định một chân lý hết sức quan trọng về mối liên hệ thiêng liêng với Người là những gì Người đang thiết lập và sẽ hoàn thành vào cuộc Vượt Qua của Người trong tương lai.
Thật vậy, là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", Người không đến chỉ cho Mẹ của Người hay gia đình của Người thôi, mà cho toàn thể nhân loại, được đại diện bởi thành phần thính giả của Người bấy giờ.
Nếu "Lời đã hóa thành nhục thể và ở cùng chúng ta" (Gioan 1:14) như "ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9), để "ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12), thì Người quả thực, qua việc rao giảng và tỏ mình ra, "như ánh sáng chiếu soi mọi người", đang thiết lập mối liên hệ thiêng liêng với nhân loại, nghĩa là Người đang làm cho nhân loại tin vào Người, "chấp nhận Người", để họ "được quyền làm con Thiên Chúa" như Người và với Người.
Bởi thế, so với tình nghĩa thiêng liêng vô cùng chân thật, hoàn hảo và bền vững thì tình nghĩa xác thịt thấp hèn, hạn hữu và trần tục không thể nào sánh bằng, và vì thế tình nghĩa xác thịt tự nhiên cần phải được thăng hoa, cần được thánh hóa, cần phải được nâng cấp bằng lời Chúa.
Nếu tình nghĩa thiêng liêng với Chúa Kitô, như Người nói, ở chỗ "làm theo ý Thiên Chúa", như chính bản thân Người liên lỉ chú trọng và thực thi cho tới cùng, thì không còn ai hơn Mẹ của Người, một Trinh Nữ đã đáp ứng lời thiên sứ truyền tin Lời Nhập Thể bằng tất cả đức tin siêu vượt của mình qua tiếng "Xin Vâng" (Luca 1:38), cho đến khi "đứng chân Thánh Giá Chúa Giêsu" (Gioan 19:25).
Như vậy, lời nói và thái độ có vẻ dửng dưng lạnh lùng như phủ nhận gia đình mình của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay thực sự là những gì chẳng những phấn khích việc nâng cấp cho thành phần thính giả của Người bấy giờ mà nhất là còn cố ý chúc tụng Mẹ của Người, lấy Mẹ của Người như là một mô phạm cho thành phần thính giả ấy trong việc lắng nghe lời Chúa (xem Luca 2:19,51).
Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cũng cho thấy tính chất gia đình thiêng liêng hay mối liên hệ thiêng liêng hết sức cao quí nơi dân Do Thái, vượt lên trên tất cả các mối liên hệ tự nhiên trong mọi lãnh vực, như lãnh vực tam cương của Khổng giáo là quân-sư-phụ: vua tôi, thày trò và cha con, ở sự kiện "Ðavít hân hoan đi mang hòm bia Thiên Chúa từ nhà Obêđê về thành Ðavít".
Trước hết, tính chất gia đình thiêng liêng nơi dân Do Thái dưới triều đại Vua Đavít là ở chỗ có Thiên Chúa ở giữa và ở cùng họ: "Họ rước hòm bia Thiên Chúa vào đặt giữa nhà tạm mà Ðavít đã dựng sẵn", một hành động, ở một nghĩa nào đó, theo đúng đường lối Chúa Giêsu đã khẳng định trong Bài Phúc Âm hôm nay về mối liên hệ thiêng liêng với Người, ở chỗ "làm theo ý Thiên Chúa".
Sau nữa, tính chất gia đình thiêng liêng nơi dân Do Thái dưới triều đại Vua Đavít là ở chỗ vua tôi sống với nhau một cách bình dân thân tình, như Bài Đọc 1 hôm nay thuật lại đặc biệt về hành động của vua: "Vua dẫn theo bảy ca đoàn và đàn bò con làm của lễ. Khi những người mang hòm bia Thiên Chúa đi được sáu bước, thì Ðavít hiến tế một con bò và một con bê. Ngài tận lực nhảy múa trước Thiên Chúa. Ngài mang khăn vải điều ngang lưng. Ngài và toàn thể nhà Israel mang hòm bia Thiên Chúa hân hoan và trong tiếng kèn trống".
Sau hết, tính chất gia đình thiêng liêng nơi dân Do Thái dưới triều đại Vua Đavít còn là ở chỗ vua đóng vai như cha mẹ của con dân, luôn quan tâm đến con dân của mình và chăm sóc cho con dân của mình: "Rồi ngài hiến dâng của lễ toàn thiêu và của lễ bình an; ngài nhân danh Chúa các đạo binh mà chúc lành cho dân chúng, đoạn ngài phân phát cho toàn dân Israel, nam cũng như nữ, mỗi người một ổ bánh mì, một miếng thịt và một chiếc bánh chiên dầu. Và toàn dân giải tán, ai về nhà nấy".
Nếu "đâu có tình yêu thương ở đấy có Đức Chúa Trời - Ubi caritas et amor, Deus ibi est" thì ở đấy cũng là gia đình của Chúa, trong đó mọi người là anh em với nhau trong Chúa Kitô và với Chúa Kitô, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý". Cảm nhận này được bày tỏ trong Bài Đáp Ca hôm nay, một Bài Đáp Ca tôn vinh chúc tụng Thiên Chúa là Vị Vua cần phải ngự đến ở giữa con dân của Ngài là dân Do Thái ngày xưa và Giáo Hội Nhiệm Thể Chúa Kitô ngày nay.
1) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên; vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu, để vua hiển vinh Người ngự quá!
2) Nhưng vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa dũng lực hùng anh, đó là Chúa anh hùng của chiến chinh.
3) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên, vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu, để vua hiển vinh Người ngự quá.
4) Nhưng vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa đạo thiên binh, chính Người là Hoàng Ðế hiển vinh.
Thứ Tư
Lời Chúa
Bài Ðọc I: (năm
II) 2
Sm 7, 4-17
"Ta sẽ cho con của ngươi kế vị, và bảo đảm triều đại ngươi".
Trích sách Samuel quyển thứ hai.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Nathan lời này rằng: "Hãy đi và nói
với Ðavít tôi tớ Ta rằng: Chúa phán thế này: Có phải ngươi sẽ xây cất
cho Ta một ngôi nhà để ở chăng? Vì từ ngày Ta dẫn dắt con cái Israel ra
khỏi đất Ai-cập cho đến ngày nay, Ta không ở trong nhà, nhưng Ta di
chuyển trong nhà tạm và trong trại. Khắp mọi nơi Ta đi qua với con cái
Israel, có khi nào Ta nói cùng một trong các chi họ Israel mà Ta truyền
dạy chăn dắt Israel dân Ta rằng: "Tại sao không xây cất cho Ta một ngôi
nhà bằng cây hương nam?"
Giờ đây, ngươi hãy nói cùng Ðavít tôi tớ Ta rằng: "Chúa các đạo binh
phán thế này: Ta đã đem ngươi ra khỏi đồi cỏ lúc ngươi còn theo sau đoàn
chiên, để ngươi trở nên thủ lãnh Israel dân Ta và Ta đã ở cùng ngươi
trong mọi nơi ngươi đi. Ta sẽ tiêu diệt mọi quân thù trước mặt ngươi, và
Ta sẽ làm cho danh ngươi nên cao trọng như danh các bậc vĩ nhân trên mặt
đất. Ta sẽ đặt để một nơi cho Israel dân Ta, và Ta sẽ vun trồng nó tại
đó. Nó sẽ ở đó và sẽ không còn bị quấy rối nữa. Con cái sự dữ sẽ không
còn đến đàn áp nó như xưa nữa, như ngày Ta thiết lập các vị Thẩm phán
trên Israel dân Ta. Ta sẽ cho ngươi được bằng yên khỏi mọi quân thù. Và
Chúa phán trước cho ngươi biết là Chúa sẽ tạo lập cho ngươi một ngôi
nhà. Ðến khi qua đời, ngươi sẽ được an giấc cùng các tổ phụ ngươi. Kế đó
Ta sẽ cho con của ngươi kế vị và làm cho vương quốc ngươi vững mạnh.
Chính người sẽ xây dựng cho danh Ta một ngôi nhà, và Ta bảo đảm ngôi báu
triều đại ngươi tồn tại đến muôn đời. Ta sẽ là Cha người, và người sẽ là
con Ta. Nếu người có phạm lỗi, Ta sẽ sửa trị người bằng roi người lớn và
bằng tai hoạ con cái loài người. Nhưng Ta sẽ không cất khỏi người lòng
từ bi của Ta, như Ta đã xử với Saolê, kẻ đã bị Ta khai trừ khỏi mặt Ta.
Và nhà của ngươi và triều đại ngươi sẽ vững chắc đến muôn đời trước mặt
Ta; ngôi báu ngươi sẽ vững bền mãi mãi!" Nathan đã thuật lại cho Ðavít
tất cả những lời và thị kiến này.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 88, 4-5. 27-28. 29-30
Ðáp: Ðời đời Ta sẽ dành cho người lòng sủng ái (c.
29).
Xướng: 1) Ta đã ký minh ước cùng người Ta tuyển lựa. Ta đã thề cùng
Ðavít là tôi tớ của Ta rằng: "Cho tới muôn đời Ta bảo tồn miêu duệ của
ngươi, và Ta thiết lập ngai báu ngươi qua muôn thế hệ". - Ðáp.
2) Chính người sẽ thưa cùng Ta: "Chúa là Cha con, là Thiên Chúa và Ðá
Tảng cứu độ của con". Và Ta sẽ đặt người làm trưởng tử, cao sang hơn các
vua chúa ở trần gian. - Ðáp.
3) Ðời đời Ta sẽ dành cho người lòng sủng ái, và lời ước Ta ký với người
sẽ được mãi mãi duy trì. Ta sẽ gìn giữ miêu duệ người tới muôn đời, và
ngai báu người như những ngày của cõi cao xanh. - Ðáp.
Alleluia: 1Sam 3,9
Alleluia, Alleluia. - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng
tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 4,1-20
"Người gieo hạt đi gieo hạt giống"
Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu bắt đầu giảng dạy ở bờ biển và có đám đông dân chúng
tụ lại gần Người, nên Người xuống ngồi trong một chiếc thuyền trên mặt
biển, tất cả đám đông thì ở trên đất theo dọc bờ biển.
Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều, và khi giảng, Người nói với họ
rằng:
"Các ngươi hãy nghe! Nầy người gieo hạt đi gieo hạt giống.
Khi gieo, một phần hạt rơi xuống vệ đường và chim trời đến ăn hết.
Phần khác rơi trên đất sỏi, nơi không có nhiều đất.
Hạt giống đã mọc lên ngay, vì lớp đất không sâu.
Nhưng khi mặt trời mọc lên, hạt giống bị nắng đốt và vì không rễ, nên bị
chết khô.
Một phần khác rơi vào bụi gai và gai mọc lên làm hạt giống chết mà không
sinh hoa trái được.
Phần hạt khác rơi vào đất tốt, mọc lên, nẩy nở và sinh quả, hạt thì sinh
được ba mươi, hạt được sáu mươi, hạt được một trăm".
Và Người phán rằng: "Ai có tai nghe thì hãy nghe".
Khi Người còn lại một mình, thì mười hai ông là những kẻ luôn ở với
Người, hỏi Người về ý nghĩa dụ ngôn, Người liền bảo các ông:
"Các con được ơn biết mầu nhiệm về nước Thiên Chúa, còn những người khác
ở ngoài thì mọi sự được giảng dạy bằng dụ ngôn, vì chúng nhìn mà không
thấy, nghe mà không hiểu, kẻo chúng trở lại mà được tha tội".
Người nói với các ông:
"Các con không hiểu dụ ngôn đó sao? Vậy thì hiểu sao được tất cả những
dụ ngôn khác?
Người gieo hạt là gieo lời Chúa.
Vệ đường mà lời Chúa được gieo vào, là những kẻ vừa nghe xong, thì Satan
đến và cất lấy lời Chúa gieo trong tâm hồn họ.
Và cũng thế, những hạt giống rơi trên đất sỏi, là những kẻ khi nghe lời
Chúa thì đón nhận vui vẻ, nhưng chúng không đâm rễ bên trong và là những
người hay thay đổi: sau đó gặp phải cơ cực hay bắt bớ vì lời Chúa, thì
họ sa ngã liền.
Lại có những hạt giống rơi trong bụi gai.
Ðây là những kẻ nghe lời Chúa, nhưng những lo lắng trần tục, bóp nghẹt
lời Chúa, khiến không thể sinh hoa trái được.
Còn những hạt giống gieo trong đất tốt: đó là những người nghe lời Chúa,
biết giữ lấy và làm sinh lợi, hạt ba mươi, hạt sáu mươi và hạt một
trăm".
Ðó là Lời Chúa.

Suy niệm
Đức Kitô Mạc Khải
Tiếp tục "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh, bài Phúc Âm Thứ Tư hôm nay trong Tuần 3 của thời điểm phụng vụ này liên quan đến dụ ngôn "người gieo hạt đi gieo hạt giống".
Theo bài Phúc Âm thuật lại ở phần đầu thì nội dung của dụ ngôn này như sau: "Khi gieo, một phần hạt rơi xuống vệ đường và chim trời đến ăn hết. Phần khác rơi trên đất sỏi, nơi không có nhiều đất. Hạt giống đã mọc lên ngay, vì lớp đất không sâu. Nhưng khi mặt trời mọc lên, hạt giống bị nắng đốt và vì không rễ, nên bị chết khô. Một phần khác rơi vào bụi gai và gai mọc lên làm hạt giống chết mà không sinh hoa trái được. Phần hạt khác rơi vào đất tốt, mọc lên, nẩy nở và sinh quả, hạt thì sinh được ba mươi, hạt được sáu mươi, hạt được một trăm".
Cũng theo bài Phúc Âm hôm nay, ở phần cuối Chúa Giêsu đã giải thích ý nghĩa của từng hình ảnh được ám chỉ trong dụ ngôn cho các môn đệ nghe, như lời yêu cầu của các vị:
"Người gieo hạt là gieo lời Chúa. Vệ đường mà lời Chúa được gieo vào, là những kẻ vừa nghe xong, thì Satan đến và cất lấy lời Chúa gieo trong tâm hồn họ. Và cũng thế, những hạt giống rơi trên đất sỏi, là những kẻ khi nghe lời Chúa thì đón nhận vui vẻ, nhưng chúng không đâm rễ bên trong và là những người hay thay đổi: sau đó gặp phải cơ cực hay bắt bớ vì lời Chúa, thì họ sa ngã liền. Lại có những hạt giống rơi trong bụi gai. Ðây là những kẻ nghe lời Chúa, nhưng những lo lắng trần tục, bóp nghẹt lời Chúa, khiến không thể sinh hoa trái được. Còn những hạt giống gieo trong đất tốt: đó là những người nghe lời Chúa, biết giữ lấy và làm sinh lợi, hạt ba mươi, hạt sáu mươi và hạt một trăm".
Trong phần dẫn giải của mình, Chúa Giêsu không cho biết "người gieo hạt" là ai. Tuy nhiên, vì "gieo hạt là gieo lời Chúa" như Chúa Giêsu dẫn giải, thì "người gieo hạt" đây còn ai khác ngoài chính bản thân Người, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý".
Nếu "hạt đây là lời Chúa" và lời Chúa đây chất chứa "ân sủng và chân lý", vì chính bản thân Người là "Lời", bởi thế "người gieo hạt" đây tức là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" tỏ mình ra để thông ban cho "những ai chấp nhận Người" (Gioan 1:12) "ân sủng và chân lý" của Người và từ Người: "ân sủng" là "được quyền làm con Thiên Chúa" và "chân lý" là "được sinh ra bởi Thiên Chúa, chứ không phải bởi huyết nhục, bởi nhục dục hay bởi ý muốn của con người" (Gioan 1:13).
Đúng thế, theo dẫn giải của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay thì hạt khi chưa gieo vẫn còn là hạt, nhưng một khi đã gieo xuống rồi thì hạt được gieo xuống ấy trở thành người nghe, người đón nhận. Có tất cả 4 loại người chính yếu tiêu biểu đáp ứng lời Chúa, đáp ứng mạc khải thần linh là chính Chúa Kitô, hay "chấp nhận" Chúa Kitô cũng thế.
Nếu "ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12) và là người "sinh bởi Thiên Chúa" thì họ quả thực là "những hạt giống gieo trong đất tốt: đó là những người nghe lời Chúa, biết giữ lấy và làm sinh lợi, hạt ba mươi, hạt sáu mươi và hạt một trăm".
Vậy
thì 3 thành phần còn lại sẽ có thể được
suy diễn và áp dụng như sau:
"Những hạt ở trên vệ đường là những kẻ vừa nghe xong, thì Satan đến và cất lấy lời Chúa gieo trong tâm hồn họ" ở đây có thể hiểu về thành phần "sinh bởi huyết nhục", nghĩa là hoàn toàn sống theo tự nhiên nông nổi bề ngoài một cách hờ hững lãnh đạm với những gì siêu nhiên, thuộc lãnh vực đức tin, thuộc đời sống thiêng liêng.
"Những hạt giống rơi trên đất sỏi, là những kẻ khi nghe lời Chúa thì đón nhận vui vẻ, nhưng chúng không đâm rễ bên trong và là những người hay thay đổi: sau đó gặp phải cơ cực hay bắt bớ vì lời Chúa, thì họ sa ngã liền" ở đây có thể hiểu về thành phần "sinh bởi nhục dục", sống theo cảm giác cảm tình nên rất thay đổi bất nhất.
"Những hạt giống rơi trong bụi gai. Ðây là những kẻ nghe lời Chúa, nhưng những lo lắng trần tục, bóp nghẹt lời Chúa, khiến không thể sinh hoa trái được" ở đây có thể hiểu về thành phần "sinh bởi ý muốn của con người", sống tìm kiếm và theo đuổi ưu tiên lợi lộc trần gian, coi trọng giá trị trần gian hơn những gì là chân thực bất biến.
Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cho thấy Thánh Vương Đavít là một "hạt giống gieo trong đất tốt", ở chỗ, vua luôn nghĩ đến Thiên Chúa và coi trọng Thiên Chúa trong suốt cả cuộc đời của mình, (tất nhiên cũng có một lúc vua đã sa ngã phạm tội trầm trọng nhưng vua đã hết lòng ăn năn thống hối), cũng như trong triều đại của vua. Chẳng hạn vua có ý định "xây cất cho (Chúa) một ngôi nhà để ở" khi vua thấy vua ở trong đền đại nguy nga lộng lẫy mà Hòm Bia Chúa lại ở "nhà tạm", một nơi không xứng với Thiên Chúa vô cùng uy nghi cao cả chí tôn.
Bởi thế, vì vua "là người nghe lời Chúa, biết giữ lấy và làm sinh lợi" nên vua là "hạt ba mươi, hạt sáu mươi và hạt một trăm".
Vua là "hạt ba mươi", ở chỗ: "Ta sẽ tiêu diệt mọi quân thù trước mặt ngươi, và Ta sẽ làm cho danh ngươi nên cao trọng như danh các bậc vĩ nhân trên mặt đất... Ta sẽ cho ngươi được bằng yên khỏi mọi quân thù. Và Chúa phán trước cho ngươi biết là Chúa sẽ tạo lập cho ngươi một ngôi nhà. Ðến khi qua đời, ngươi sẽ được an giấc cùng các tổ phụ ngươi".
Vua là
"hạt sáu mươi", ở
chỗ:
"Kế đó Ta sẽ cho con của ngươi kế vị và làm cho vương quốc ngươi vững
mạnh. Chính người sẽ xây dựng cho danh Ta một ngôi nhà, và Ta bảo đảm
ngôi báu triều đại ngươi tồn tại đến muôn đời. Ta sẽ là Cha người, và
người sẽ là con Ta...".
Vua là
"hạt một
trăm", ở
chỗ:
"Nhà của ngươi và triều đại ngươi sẽ vững chắc đến muôn đời trước mặt
Ta; ngôi báu ngươi sẽ vững bền mãi mãi!"
Bài Đáp Ca hôm nay liên quan trực tiếp với bản thân vua Đavít, vương tổ của Chúa Kitô và là tiền thân cho vương quyền của Người, một mảnh đất tốt cũng chính là hạt sinh gấp trăm trong dụ ngôn người gieo hạt của Chúa Kitô trong Bài Phúc Âm hôm nay:
1) Ta đã ký minh ước cùng người Ta tuyển lựa. Ta đã thề cùng Ðavít là
tôi tớ của Ta rằng: "Cho tới muôn đời Ta bảo tồn miêu duệ của ngươi, và
Ta thiết lập ngai báu ngươi qua muôn thế hệ".
2) Chính người sẽ thưa cùng Ta: "Chúa là Cha con, là Thiên Chúa và Ðá Tảng cứu độ của con". Và Ta sẽ đặt người làm trưởng tử, cao sang hơn các vua chúa ở trần gian.
3) Ðời đời Ta sẽ dành cho người lòng sủng ái, và lời ước Ta ký với người sẽ được mãi mãi duy trì. Ta sẽ gìn giữ miêu duệ người tới muôn đời, và ngai báu người như những ngày của cõi cao xanh.
Thứ Năm
Lời Chúa
Bài Ðọc I: (năm
II) 2
Sm 7, 18-19. 24-29
"Lạy Chúa là Thiên Chúa, tôi là ai và gia đình tôi là chi?"
Trích sách Samuel quyển thứ hai.
Sau khi Nathan nói với Ðavít xong, vua Ðavít đến ngồi trước Thiên Chúa
mà nói rằng: "Lạy Chúa là Thiên Chúa, con là ai và gia đình con là chi
mà Chúa dẫn con đến đây? Nhưng lạy Chúa là Thiên Chúa, như thế Chúa còn
cho là ít, nên Chúa còn nói đến nhà tôi tớ Chúa trong tương lai lâu dài,
vì lạy Chúa, đó là thường tình của loài người.
"Chúa đã thiết lập dân Israel làm dân Chúa đến muôn đời, và lạy Chúa,
chính Chúa trở thành Thiên Chúa của họ. Vậy giờ đây, lạy Chúa là Thiên
Chúa, xin hãy thực hiện mãi mãi lời Chúa đã nói về tôi tớ và về nhà của
nó, và hãy làm như Chúa đã phán, để danh Chúa được ca khen đến muôn đời,
và được truyền tụng rằng: 'Chúa các đạo binh là Thiên Chúa của Israel'.
Xin cho nhà tôi tớ Chúa được vững chắc trước nhan thánh Chúa. Lạy Chúa
các đạo binh, Thiên Chúa của Israel, vì Chúa đã mạc khải cho tôi tớ Chúa
biết những lời này: 'Ta sẽ xây dựng cho ngươi một ngôi nhà', vì thế, tôi
tớ Chúa vững tâm thốt lên lời khẩn nguyện trên đây. Vậy giờ đây, lạy
Chúa là Thiên Chúa, và lời Chúa thì chân thật, vì Chúa đã tỏ ra cho tôi
tớ Chúa những điều hạnh phúc ấy. Giờ đây, xin hãy khởi sự chúc phúc cho
nhà tôi tớ Chúa, để nhà tôi tớ Chúa tồn tại trước mặt Chúa đến muôn đời,
vì lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa đã phán và xin giáng phúc cho nhà tôi tớ
Chúa đến muôn đời".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 131, 1-2. 3-5. 11. 12. 13-14
Ðáp: Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu
Ðavít tổ phụ Người (Lc 1, 32a).
Xướng: 1) Lạy Chúa, để thương Ðavít, xin Chúa nhớ đến mọi nỗi ưu tư của
người: người đã thề như thế nào với Chúa, người đã khấn hứa cùng Ðấng
toàn năng nhà Giacóp rằng: - Ðáp.
2) "Tôi sẽ không vào lều trại nhà tôi, tôi sẽ không bước lên giường nằm,
tôi sẽ không nhắm mắt ngủ, không để cho mi mắt tôi được nghỉ an, cho tới
khi tôi gặp được nơi ngự điện cho Chúa, gặp được cung lâu cho Ðấng Toàn
năng nhà Giacóp". - Ðáp.
3) Chúa đã thề hứa cùng Ðavít một lời hứa quả quyết mà Người sẽ chẳng
rút lời, rằng: "Ta sẽ đặt lên ngai báu của ngươi một người con cháu
thuộc dòng giống của ngươi". - Ðáp.
4) "Nếu các con ngươi tuân giữ điều ước của Ta và những luật lệ mà Ta
ban ra dạy chúng, thì cả con cháu chúng cũng được muôn đời ngồi cai trị
trên ngai báu của ngươi". - Ðáp.
5) Bởi chưng Chúa đã kén chọn Sion, đã thích lựa Sion làm nơi cư ngụ cho
mình. Ngài phán: "Ðây là nơi nghỉ ngơi của Ta tới muôn đời, Ta sẽ cư ngụ
nơi đây, vì Ta ưa thích". - Ðáp.
Alleluia: Tv 24, 4c và 5a
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Chúa, và
xin hướng dẫn con trong chân lý của Ngài. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 4, 21-25
"Ðèn đốt lên là để đặt trên giá đèn. Các ngươi đong đấu nào, thì người
ta sẽ đong đấu ấy cho các ngươi".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Có ai đem đèn sáng đặt
trong thùng hay dưới gầm giường chăng? Chẳng phải là để đặt trên giá đèn
sao? Vì chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà
không bị đưa ra ánh sáng. Ai có tai để nghe, thì hãy nghe". Và Người bảo
họ rằng: "Hãy coi chừng điều các ngươi nghe thấy. Các ngươi đong bằng
đấu nào, thì người ta sẽ đong lại cho các ngươi bằng đấu ấy, và người ta
còn thêm nữa. Vì ai có, sẽ được cho thêm; và ai không có, cả cái đang có
cũng bị lấy mất".
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Đức Kitô tỏa sáng
Hôm nay, Thứ Năm Tuần 3 Thường Niên hậu Giáng Sinh, chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho chung thời điểm phụng vụ này liên quan đến những lời Chúa dạy trong bài Phúc Âm sau đây:
"Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: 'Có ai đem đèn sáng đặt trong thùng hay dưới gầm giường chăng? Chẳng phải là để đặt trên giá đèn sao? Vì chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà không bị đưa ra ánh sáng. Ai có tai để nghe, thì hãy nghe'. Và Người bảo họ rằng: 'Hãy coi chừng điều các ngươi nghe thấy. Các ngươi đong bằng đấu nào, thì người ta sẽ đong lại cho các ngươi bằng đấu ấy, và người ta còn thêm nữa. Vì ai có, sẽ được cho thêm; và ai không có, cả cái đang có cũng bị lấy mất'".
Đối tượng của những lời Chúa Giêsu phán dạy trong bài Phúc Âm hôm nay, như Thánh ký Marco cho biết, đó là "dân chúng", chứ không phải là các môn đệ của Người, cho dù các môn đệ của Người là thành phần đã được Người ví như "là ánh sáng thế gian" (Mathêu 5:14).
"Có ai đem đèn sáng đặt trong thùng hay dưới gầm giường chăng? Chẳng phải là để đặt trên giá đèn sao?": Chúa Giêsu muốn nói gì đây hay ám chỉ ai đây? Phải chăng Người muốn ám chỉ Lời giảng dạy của Người? Vì "Lời Ngài là đèn soi chân con bước, là ánh sáng soi đường con đi" (Thánh Vịnh 119:105).
Thật vậy, bài Phúc Âm hôm nay tiếp theo ngay sau bài Phúc Âm hôm qua, mà bài Phúc Âm hôm qua về dụ ngôn "người đi gieo hạt" và "hạt là Lời Chúa", thì bài Phúc Âm hôm nay Người muốn tiếp tục đề tài Lời Chúa hay mạc khải thần linh, nhưng bằng một hình ảnh khác hay đúng hơn bằng một tác động khác, thay vì "đi gieo hạt" như trong bài Phúc Âm hôm qua thì lại "đặt trên giá đèn" trong bài Phúc Âm hôm nay.
Nếu ánh sáng là hình ảnh hay tiêu biểu cho sự thật cũng như cho bản chất của ánh sáng hay của sự thật là chiếu soi, là giải phóng thì quả thực, đúng như lời Chúa Giêsu khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay, "chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà không bị đưa ra ánh sáng".
Câu "chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà không bị đưa ra ánh sáng" này cũng có thể hiểu là không gì có thể ẩn khuất, cho dù là thâm tâm của con người, là âm mưu tinh quái nhất của con người, cũng không thể nào qua mặt được Lời Chúa, không thể nào che giấu được Lời Chúa là Chúa Kitô, che giấu được ánh mắt thần linh của Người: "Người tự mình biết được những gì nơi con người ta" (Gioan 2:25).
Trong bài Phúc Âm hôm qua, khi nói về dụ ngôn "người đi gieo hạt", Chúa Giêsu còn nói cả về phía thành phần lãnh nhận và đáp ứng thế nào: hạt vệ đường, hạt đá sỏi, hạt bụi gai, hạt đất tốt bao gồm hạt 30, hạt 60 và hạt 100, thì trong bài Phúc Âm hôm nay cũng thế, Người cũng bao gồm cả vế thành phần lãnh nhận nữa: "Hãy coi chừng điều các ngươi nghe thấy" (chính động từ "nghe" ở đây cũng cho thấy "đèn soi" là Lời Chúa, đối tượng của tác động "nghe").
"'Ai có tai để nghe, thì hãy nghe'. Và Người bảo họ rằng: 'Hãy coi chừng
điều các ngươi nghe thấy. Các ngươi đong bằng đấu nào, thì người ta sẽ
đong lại cho các ngươi bằng đấu ấy, và người ta còn thêm nữa. Vì ai có,
sẽ được cho thêm; và ai không có, cả cái đang có cũng bị lấy mất'".
Đúng thế, càng cởi mở và khao khát lời Chúa, nhất là càng nhiệt thành và mau mắn đón nhận Lời Chúa, tức là càng tìm kiếm chân lý là Chúa Kitô, càng đáp ứng Chúa Kitô là mạc khải thần linh, thì tùy theo tầm vóc của mình, một tầm vóc được ví như cái "đấu", cũng như tùy theo cường độ khát vọng thần linh của mình, tùy theo khoảng rộng cởi mở của mình, một thứ cường độ và khoảng rộng được ví như tác động "đong" của con người lãnh nhận, Lời Chúa ở nơi họ, một là "có, sẽ được cho thêm", hai là "không có, cả cái đang có cũng bị lấy mất".
Thật ra, cho dù tác dụng của "đèn soi" hay của "hạt gieo" có vẻ bị lệ thuộc vào môi trường là người nhận, ở chỗ nếu họ không mở cửa thì ánh sáng của "đèn soi" không lọt vào được, hay nếu không gặp "đất tốt" thì "hạt gieo" sẽ không thể nẩy mầm và phát triển, nhưng tự mình, "đèn soi" vẫn không thể nào không tỏa sáng để làm cho môi trường biến khuất tối tăm, và "hạt gieo" vẫn chất chứa mầm sống để làm cho môi trường phát triển tốt tươi.
Những môi trường nhân bản nào khép kín không tiếp nhận ánh sáng của "đèn soi", hay khô cằn không thể thích hợp với mầm sống của "hạt gieo" là những môi trường nhân bản hay những con người tự tác hại bản thân mình, chứ không thể nào tác hại đến chính "đèn soi" tự bản chất vẫn soi chiếu, hay đến chính "hạt gieo" tự bản chất vẫn làm cho cây cối phát triển.
Nếu Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm qua cho thấy một Đavít "đất tốt" thế nào thì Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cũng tiếp tục cho thấy một Đavít "đong đấu" như vậy, đến độ vua ở vào trường hợp "ai đã có, sẽ được cho thêm", như chính vua đã cảm nhận ở đầu Bài Đọc 1 hôm nay:
"Lạy Chúa là Thiên Chúa, con là ai và gia đình con là chi mà Chúa dẫn con đến đây? Nhưng lạy Chúa là Thiên Chúa, như thế Chúa còn cho là ít, nên Chúa còn nói đến nhà tôi tớ Chúa trong tương lai lâu dài, vì lạy Chúa, đó là thường tình của loài người".
Vua Đavít "đã có" ở chỗ: "Chúa đã thiết lập dân Israel làm dân Chúa đến muôn đời, và lạy Chúa, chính Chúa trở thành Thiên Chúa của họ. Vậy giờ đây, lạy Chúa là Thiên Chúa, xin hãy thực hiện mãi mãi lời Chúa đã nói về tôi tớ và về nhà của nó, và hãy làm như Chúa đã phán, để danh Chúa được ca khen đến muôn đời, và được truyền tụng rằng: 'Chúa các đạo binh là Thiên Chúa của Israel'".
Vua Đavít "sẽ được cho thêm" ở chỗ: "Xin cho nhà tôi tớ Chúa được vững chắc trước nhan thánh Chúa. Lạy Chúa các đạo binh, Thiên Chúa của Israel, vì Chúa đã mạc khải cho tôi tớ Chúa biết những lời này: 'Ta sẽ xây dựng cho ngươi một ngôi nhà', vì thế, tôi tớ Chúa vững tâm thốt lên lời khẩn nguyện trên đây. Vậy giờ đây, ... xin hãy khởi sự chúc phúc cho nhà tôi tớ Chúa, để nhà tôi tớ Chúa tồn tại trước mặt Chúa đến muôn đời, vì lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa đã phán và xin giáng phúc cho nhà tôi tớ Chúa đến muôn đời".
Bài Đáp Ca hôm nay được trích từ Thánh Vịnh 131, một Bài Thánh Vịnh nói về Vua Đavít chứ không phải Bài Thánh Vịnh của Vua Đavít, nhưng lại chất chứa những gì từ vua hướng về Chúa Kitô là giòng dõi của vua, như câu đáp chính của bài Đáp Ca hôm nay nói rõ: "Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người":
1) Lạy Chúa, để thương Ðavít, xin Chúa nhớ đến mọi nỗi ưu tư của người:
người đã thề như thế nào với Chúa, người đã khấn hứa cùng Ðấng toàn năng
nhà Giacóp rằng:
2) "Tôi sẽ không vào lều trại nhà tôi, tôi sẽ không bước lên giường nằm, tôi sẽ không nhắm mắt ngủ, không để cho mi mắt tôi được nghỉ an, cho tới khi tôi gặp được nơi ngự điện cho Chúa, gặp được cung lâu cho Ðấng Toàn năng nhà Giacóp".
3) Chúa đã thề hứa cùng Ðavít một lời hứa quả quyết mà Người sẽ chẳng rút lời, rằng: "Ta sẽ đặt lên ngai báu của ngươi một người con cháu thuộc dòng giống của ngươi".
4) "Nếu các con ngươi tuân giữ điều ước của Ta và những luật lệ mà Ta ban ra dạy chúng, thì cả con cháu chúng cũng được muôn đời ngồi cai trị trên ngai báu của ngươi".
5) Bởi chưng Chúa đã kén chọn Sion, đã thích lựa Sion làm nơi cư ngụ cho mình. Ngài phán: "Ðây là nơi nghỉ ngơi của Ta tới muôn đời, Ta sẽ cư ngụ nơi đây, vì Ta ưa thích".
Thứ Sáu
Lời
Chúa
Bài Ðọc I: (năm
II) 2
Sm 11, 1-4a. 5-10b. 13-17
"Ngươi đã khinh dể Ta và đã cướp vợ Uria làm vợ mình".
Trích sách Samuel quyển thứ hai.
Khi ấy, sang năm mới, là lúc các vua thường ra trận, thì Ðavít sai
Gioáp, các tôi tớ của vua và toàn dân Israel đi tiêu diệt dân Ammon và
bao vây Rabba. Còn Ðavít thì ở lại Giêrusalem. Khi chiến tranh đang diễn
tiến, thì một bữa trưa nọ, Ðavít ra khỏi giường ngủ, đi bách bộ trên sân
thượng nhà vua, liền nhìn thấy một phụ nữ đang tắm trên sân thượng nhà
bà. Bà rất xinh đẹp. Vậy vua sai dò hỏi người phụ nữ đó là ai. Người ta
thưa đó là bà Bethsabê, con ông Êliam, vợ Uria người Hêthê. Ðavít sai
cận vệ đi tìm bà. Khi trở về nhà, bà mang thai, nên sai người báo tin
cho Ðavít mà rằng: "Tôi đã có thai".
Vậy Ðavít sai người đến nói với Gioáp rằng: "Hãy sai tướng Uria người
Hêthê về đây cho trẫm". Gioáp sai Uria về gặp Ðavít, và Uria đến gặp
Ðavít. Ðavít hỏi thăm tin tức về Gioáp, quân sĩ, và trận chiến diễn tiến
thế nào. Rồi Ðavít nói cùng Uria: "Ngươi hãy về nhà rửa chân đi". Uria
rời khỏi hoàng cung, và người ta mang cho ông một phần ăn của nhà vua,
nhưng Uria cùng các cận vệ nằm ngủ ngay trước cửa nhà vua chứ không về
nhà. Người ta đi báo tin cho Ðavít hay "Uria không đi về nhà". Ðavít mời
ông ăn uống trước mặt mình và ép uống rượu cho say. Ðến chiều Uria đi ra
cùng với các cận vệ ngủ trên chõng, chớ không về nhà. Sáng hôm sau,
Ðavít viết một lá thư gởi cho Gioáp và sai Uria mang đi. Trong thư, ngài
viết như sau: "Hãy đặt Uria vào nơi giao tranh gay cấn nhất, rồi bỏ mặc
hắn, để hắn bị đánh cho chết". Vậy khi Gioáp bao vây thành, liền cử Uria
đến địa điểm mà ông biết có những quân địch mạnh nhất. Quân trong thành
kéo ra nghinh chiến với Gioáp, nhiều quân sĩ của Ðavít ngã gục, và cả
Uria người Hêthê cũng tử trận.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 50, 3-4. 5-6a. 6bc-7. 10-11
Ðáp: Lạy Chúa, xin thương xót chúng con, vì chúng
con đã phạm tội (c. 3a).
Xướng: 1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội
con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con
sạch lâng tội ác. - Ðáp.
2) Vì sự lỗi con, chính con đã biết, và tội con ở trước mặt con luôn.
Con phạm tội phản nghịch cùng một Chúa. - Ðáp.
3) Con thi hành điều ác trước thiên nhan, hầu tỏ ra Chúa công bình khi
phê phán. Này coi, con đã chào đời trong ô uế, và trong tội, mẹ đã hoài
thai con. - Ðáp.
4) Xin cho con cảm thấy vui mừng hoan hỉ, cho xương bị Chúa đập hớn hở
reo lên. Xin ngoảnh mặt đi, đừng nhìn tội lỗi, và tẩy xoá mọi điều gian
ác của con. - Ðáp.
Alleluia: Tv 94, 8ab
Alleluia, alleluia! - Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng
cứng lòng. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 4, 26-34
"Người kia đã gieo hạt xuống đất, rồi đi ngủ, hạt giống mọc lên thế nào
người đó cũng không hay biết".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Nước Thiên Chúa giống như
người kia đã gieo hạt xuống đất: người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày,
hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết
nữa. Ðất tự nó làm cây lúa mọc lên: trước hết thành cây, rồi đâm bông,
rồi kết hạt. Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".
Người còn phán: "Chúng ta sẽ lấy gì mà hình dung nước Thiên Chúa? hay
dùng dụ ngôn nào mà so sánh nước đó được? Nước đó giống như hạt cải, khi
gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất. Nhưng
khi gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to,
đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được". Người dùng nhiều dụ ngôn
như thế mà rao giảng lời Chúa cho họ, tuỳ sức họ có thể hiểu được, và
Người chỉ nói với họ bằng dụ ngôn, nhưng khi ở riêng với các môn đệ,
Người giải thích tất cả cho các ông.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Đức Kitô Nước Trời
Thứ Sáu Tuần 3 Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay, Bài Phúc Âm nói riêng và phụng vụ Lời Chúa nói chung vẫn phản ảnh chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của thời điểm phụng vụ này.
Trước hết, ở bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã sử dụng 2 dụ ngôn để nói về mầu nhiệm hay thực tại "Nước Thiên Chúa", dụ ngôn đầu về "người kia đã gieo hạt xuống đất" và dụ ngôn sau về "hạt cải", thứ tự như sau:
Dụ ngôn về "người
kia đã gieo hạt xuống đất": "Nước
Thiên Chúa giống như người kia đã gieo hạt xuống đất: người đó ngủ hay
thức, đêm hay ngày, hạt giống
cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa. Ðất tự
nó làm cây lúa mọc lên: trước hết thành cây, rồi đâm bông, rồi kết hạt.
Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".
Dụ ngôn về "hạt
cải":
"Nước
đó giống như hạt cải, khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả
các hạt trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn
nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được".
Về dụ ngôn "người kia đã gieo hạt xuống đất", Chúa Giêsu có bao gồm 2 đặc điểm liên hệ với nhau giữa người gieo hạt giống và chính hạt giống, đó là "người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa".
"Người đó cũng không hay biết nữa" ở đây có thể hiểu là: 1- không cần để ý, vì theo kinh nghiệm nhà nông người này đã thừa biết rằng: "đất tự nó làm cây lúa mọc lên"; 2- hoàn toàn tin tưởng vào khả năng của hạt giống được mình gieo xuống: "hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên... trước hết thành cây, rồi đâm bông, rồi kết hạt"; và 3- sống trong chờ đợi công lao gieo vãi chuyên nghiệp của mình: "Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".
Dụ ngôn thứ nhất của Bài Phúc Âm hôm nay rất thích hợp với trường hợp của Vua Đavít trong Bài Đọc 1 hôm nay. Ở chỗ, thật sự là "người gieo hạt xuống đất..." như đã "ngủ" say đến độ "không hay biết" những giây phút gian ác thầm kín ngoại tình và sát nhân của một vị vua được gọi là Thánh Vương Đavít này.
Vua đã ngoại tình ở chỗ: "Khi chiến tranh đang diễn tiến, thì một bữa trưa nọ, Ðavít ra khỏi giường ngủ, đi bách bộ trên sân thượng nhà vua, liền nhìn thấy một phụ nữ đang tắm trên sân thượng nhà bà. Bà rất xinh đẹp. Vậy vua sai dò hỏi người phụ nữ đó là ai. Người ta thưa đó là bà Bethsabê, con ông Êliam, vợ Uria người Hêthê. Ðavít sai cận vệ đi tìm bà. Khi trở về nhà, bà mang thai, nên sai người báo tin cho Ðavít mà rằng: 'Tôi đã có thai'".
Vua đã sát nhân ở chỗ: "Ðavít mời ông ăn uống trước mặt mình và ép uống rượu cho say. Ðến chiều Uria đi ra cùng với các cận vệ ngủ trên chõng, chớ không về nhà. Sáng hôm sau, Ðavít viết một lá thư gởi cho Gioáp và sai Uria mang đi. Trong thư, ngài viết như sau: 'Hãy đặt Uria vào nơi giao tranh gay cấn nhất, rồi bỏ mặc hắn, để hắn bị đánh cho chết'. Vậy khi Gioáp bao vây thành, liền cử Uria đến địa điểm mà ông biết có những quân địch mạnh nhất. Quân trong thành kéo ra nghinh chiến với Gioáp, nhiều quân sĩ của Ðavít ngã gục, và cả Uria người Hêthê cũng tử trận".
Tội ngoại tình và sát nhân của Thánh Vương Đavít này dường như đã thích hợp với dụ ngôn thứ hai về "hạt cải": Ở chỗ, "khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất", một tính chất có thể áp dụng vào trường hợp của Vua Đavít là những gì vua làm trong Bài Đọc 1 hôm nay: hèn hạ, xấu xa, "nhỏ bé nhất" so với tất cả những gì cao cả vua đã từng làm suốt đời của vua, từ hồi niên thiếu. "Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được", ở chỗ, vua đã nhận biết mình và ăn năn thống hối cùng chấp nhận đền tội lỗi của mình, lại càng làm cho Chúa được vinh danh hơn.
Trong bài giảng lễ ngày thường ở Nhà Trọ Matta hôm Thứ Hai ngày 18/1/2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã bày tỏ cảm nhận của mình về trường hợp vua Đavít như sau:
1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo
lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng
tội ác.
2) Vì sự lỗi con, chính con đã biết, và tội con ở trước mặt con luôn. Con phạm tội phản nghịch cùng một Chúa.
3) Con thi hành điều ác trước thiên nhan, hầu tỏ ra Chúa công bình khi phê phán. Này coi, con đã chào đời trong ô uế, và trong tội, mẹ đã hoài thai con.
4) Xin cho con cảm thấy vui mừng hoan hỉ, cho xương bị Chúa đập hớn hở reo lên. Xin ngoảnh mặt đi, đừng nhìn tội lỗi, và tẩy xoá mọi điều gian ác của con.
"Đời
sống của con người này đã đánh động tôi. Nó
khiến chúng ta nghĩ về cuộc đời của mình. Tất cả chúng ta đều đã được
Chúa chọn lãnh nhận Phép Rửa, đều thuộc về dân của Ngài, đều trở thành
các vị thánh; chúng ta đã được Chúa thánh hóa trên đường nên thánh.
Khi đọc về cuộc đời này, cuộc đời của một đứa nhỏ - không... không phải
là một đứa nhỏ, mà là một nam thiếu niên - từ thiếu thời tới già đời,
khoảng thời gian con người này đã làm nhiều điều tốt lành cũng như
những điều không tốt khác. Nó làm cho tôi nghĩ rằng trong cuộc hành
trình Kitô hữu, cuộc hành trình Chúa đã mời gọi chúng ta thực hiện, không
có một vị thánh nào mà không có quá khứ và cũng không có một tội nhân
nào mà lại không có tương lai".
Phải, chính vì "cuộc hành trình Chúa đã mời gọi chúng ta thực hiện, không có một vị thánh nào mà không có quá khứ và cũng không có một tội nhân nào mà lại không có tương lai", như Đức Giáo Hoàng Phanxicô cảm nhận, mà "Nước Thiên Chúa giống như người kia đã gieo hạt xuống đất: người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa. Ðất tự nó làm cây lúa mọc lên: trước hết thành cây, rồi đâm bông, rồi kết hạt. Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".
Thứ Bảy
Lời
Chúa
Bài Ðọc I: (năm
II) 2
Sm 12, 1-7a, 10-17
"Tôi đã phạm tội đến Chúa".
Trích sách Samuel quyển thứ hai.
Trong những ngày ấy, Chúa sai Nathan đến cùng Ðavít. Ông đến và nói với
Ðavít rằng: "Trong thành kia có hai người, một người giàu và một người
nghèo. Người giàu có rất nhiều chiên bò, còn người nghèo thì không có
gì, ngoài một con chiên con mà ông đã mua và nuôi dưỡng, nó lớn lên
trong nhà ông cùng với con cái ông, cùng ăn một bánh, cùng uống một chén
và cùng ngủ một giường với ông; ông kể nó như con gái mình. Có một người
khách đến thăm người giàu ấy, ông ta không muốn bắt chiên bò của mình để
dọn tiệc đãi khách, nhưng lại bắt con chiên của người nghèo mà dọn tiệc
đãi khách". Ðavít tức giận người đó lắm, và nói cùng Nathan rằng: "Nhân
danh Thiên Chúa hằng sống! Người làm như thế là đáng chết. Nó phải bồi
thường gấp bốn lần vì đã hành động bất nhân như thế!"
Nathan liền nói với Ðavít: "Ngài chính là người đó. Chúa là Thiên Chúa
Israel phán rằng: Lưỡi gươm sẽ không bao giờ rời khỏi dòng dõi ngươi cho
đến muôn đời, vì ngươi đã khinh dể Ta, đã cướp vợ của Uria người Hêthê
làm vợ mình. Vì thế Chúa phán rằng: Từ gia đình ngươi, Ta sẽ gây nên tai
hoạ đổ trên đầu ngươi. Ngay trước mặt ngươi, Ta sẽ đem thê thiếp của
ngươi trao cho người khác, nó sẽ ăn ở với chúng ngay dưới ánh sáng mặt
trời. Ngươi đã hành động thầm lén, còn Ta, Ta sẽ làm việc đó trước mặt
toàn dân Israel và giữa thanh thiên bạch nhật".
Ðavít nói cùng Nathan rằng: "Tôi đã phạm tội đến Chúa". Và Nathan nói
cùng Ðavít rằng: "Chúa cũng đã tha tội cho ngài rồi, ngài sẽ không phải
chết. Nhưng vì việc này, ngài làm dịp cho quân thù của Chúa nói phạm
thượng, nên đứa con của ngài sẽ chết". Rồi Nathan ra về.
Và Chúa giáng hoạ trên đứa con của Ðavít do vợ của Uria sinh ra, nên nó
lâm trọng bệnh. Ðavít khẩn cầu Chúa cho đứa trẻ, ông ăn chay và lui về
phòng nằm dưới đất. Các kỳ lão đến nhà vua và nài xin vua chỗi dậy,
nhưng vua không chịu và không dùng bữa với họ.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 50, 12-13. 14-15. 16-17.
Ðáp: Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong
sạch (c. 12a).
Xướng: 1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân
tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan
Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. - Ðáp.
2) Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa
đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ
trở về với Ngài. - Ðáp.
3) Xin cứu gỡ con khỏi đền nợ máu, ôi lạy Chúa là Chúa cứu độ con, lưỡi
con sẽ ca ngợi đức công minh Chúa. Lạy Chúa, xin mở môi con, miệng con
sẽ loan truyền lời ca khen. - Ðáp.
Alleluia: Tv 118, 27
Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh
của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 4, 35-41
"Người là ai mà cả gió lẫn biển cũng đều vâng lệnh Người?"
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Ngày ấy, khi chiều đến, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Chúng ta
hãy sang bên kia biển hồ". Các ông giải tán đám đông; vì Người đang ở
dưới thuyền, nên các ông chở Người đi. Cũng có nhiều thuyền khác theo
Người. Chợt có một cơn bão lớn và những lớp sóng ùa vào thuyền đến nỗi
sắp đầy nước. Và Người thì ở đàng lái dựa gối mà ngủ. Các ông đánh thức
Người và nói: "Thưa Thầy, chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến
sao?" Chỗi dậy, Người đe gió và phán với biển rằng: "Hãy im đi, hãy lặng
đi". Tức thì gió ngừng biển lặng như tờ. Rồi Người nói với các ông: "Sao
các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?" Bấy giờ các ông kinh
hãi và nói với nhau rằng: "Người là ai mà cả gió lẫn biển cũng đều vâng
lệnh Người?"
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Đức Kitô chỗi dậy
Hôm nay Thứ Bảy, ngày cuối cùng của Tuần 3 Thường Niên hậu Giáng Sinh, chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của thời điểm phụng vụ này vẫn được tiếp tục ở chung phụng vụ Lời Chúa hôm nay, cách riêng là bài Phúc Âm, qua sự kiện Người dẹp yên bão tố.
Thật vậy, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này đã tỏ mình ra qua sự kiện dẹp yên bão tố để cứu các môn đệ của Người, thành phần yếu đức tin cần phải mạnh tin hơn nhờ chứng kiến thấy quyền năng của Người: "Bấy giờ các ông kinh hãi và nói với nhau rằng: 'Người là ai mà cả gió lẫn biển cũng đều vâng lệnh Người?'"
Căn cứ vào sự kiện xẩy ra được Phúc Âm hôm nay thuật lại là "chợt có một cơn bão lớn và những lớp sóng ùa vào thuyền đến nỗi sắp đầy nước. Và Người thì ở đàng lái dựa gối mà ngủ. Các ông đánh thức Người và nói: 'Thưa Thầy, chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến sao?'" chúng ta thấy quả thực các môn đệ đáng bị Thày của các vị quở trách: "Sao các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?"
Lời quở trách này của Người như thể Người muốn nói cùng các vị rằng: Tại sao các con lại cuống lên và quá hoảng loạn như thế. Chính Thày đang ở bên các con và ở cùng các con mà các con còn sợ và vẫn sợ hay sao. Các con không nhớ rằng Thày đã từng tỏ quyền năng thần linh của Thày ra bằng cách chữa lành đủ thứ bệnh nạn tật nguyền, thậm chí trừ được cả quyền lực của ngụy thần ma quỉ.
Phải, chắc chắn các môn đệ của Người không chối cãi được quyền năng của Thày trong việc Người chữa lành và trừ quỉ, nhưng còn bão tố dữ dội khủng khiếp trong thiên nhiên như lần này thì các vị mới gặp lần đầu tiên, nên không biết quyền năng của Thày các vị ra sao và tới đâu, liệu có thể làm chủ nổi sức mạnh cuồng phong kinh hoàng bấy giờ hay chăng thì chưa thấy, do đó để chắc ăn các vị cần phải "đánh thức Người đậy mà nói: 'Thưa Thầy, chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến sao?'"
Đúng là cơn bão tố quá dữ dội đến độ đã làm cho các môn đệ trở nên hoảng loạn, thậm chí các vị không còn bình tĩnh để nghĩ được rằng tại sao Thày của các vị có thể ngủ say đến thế, ở chỗ "những lớp sóng ùa vào thuyền đến nỗi sắp đầy nước" mà Thày lại cứ "dựa gối mà ngủ ở đằng lái" được là làm sao? Các vị đang hết sức chống chọi với bão tố mà còn có thể bị chết thì chẳng lẽ Thày ngủ như vậy mà thoát chết được hay sao??
Tuy nhiên, dầu sao cũng nhờ tình trạng quá yếu kém đức tin của các vị mà Chúa Kitô được dịp tỏ quyền năng của Người nơi cả thiên nhiên tạo vật nữa, chứ không phải chỉ nơi loài người hay nơi ma quỉ mà thôi. Thiên nhiên tạo vật sở dĩ xẩy ra những thiên tai cũng do bởi tội lỗi của loài người, như bệnh hoạn tật nguyền cũng bởi nguyên tội, bị quỉ ám cũng bởi nguyên tội. Là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", Người cứu độ con người chẳng những phần hồn mà còn phần xác của họ nữa.
Chỉ vào lúc con người cảm thấy hoàn toàn bất lực, cảm thấy bất khả cứu vãn, Thiên Chúa thường mới lợi dụng để tỏ mình ra, nhờ đó đức tin của họ được gia tăng trong đời sống trần gian này và Người được họ nhận biết. Bởi thế, như bài Phúc Âm hôm nay thuật lại: "Chỗi dậy, Người đe gió và phán với biển rằng: 'Hãy im đi, hãy lặng đi'. Tức thì gió ngừng biển lặng như tờ".
Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cũng cho thấy trường hợp sóng gió bão bùng nổi lên trong cuộc đời của Vua Đavít, gây ra bởi tội lỗi của vua, như được thuật lại trong Bài Đọc 1 hôm qua. Bão tố nổi lên như hậu quả của tội vua phạm, như lời tiên tri Nathan tiên báo trong Bài Đọc 1 hôm nay, đó là:
"Lưỡi gươm sẽ không bao giờ rời khỏi dòng dõi ngươi cho đến muôn đời, vì ngươi đã khinh dể Ta, đã cướp vợ của Uria người Hêthê làm vợ mình. Vì thế Chúa phán rằng: Từ gia đình ngươi, Ta sẽ gây nên tai hoạ đổ trên đầu ngươi. Ngay trước mặt ngươi, Ta sẽ đem thê thiếp của ngươi trao cho người khác, nó sẽ ăn ở với chúng ngay dưới ánh sáng mặt trời. Ngươi đã hành động thầm lén, còn Ta, Ta sẽ làm việc đó trước mặt toàn dân Israel và giữa thanh thiên bạch nhật".
Chưa hết, cho dù vua Đavít có tỏ lòng ăn năn thống hối chăng nữa thì tội được tha nhưng hậu quả của tội vua phạm thì vua vẫn phải đền tội của mình một cách cân xứng. Đó là lý do đoạn kết của Bài Đọc 1 hôm nay mới tiếp tục cho biết thêm như sau:
"Ðavít nói cùng Nathan rằng: 'Tôi đã phạm tội đến Chúa'. Và Nathan nói cùng Ðavít rằng: 'Chúa cũng đã tha tội cho ngài rồi, ngài sẽ không phải chết. Nhưng vì việc này, ngài làm dịp cho quân thù của Chúa nói phạm thượng, nên đứa con của ngài sẽ chết'. Rồi Nathan ra về. Và Chúa giáng hoạ trên đứa con của Ðavít do vợ của Uria sinh ra, nên nó lâm trọng bệnh. Ðavít khẩn cầu Chúa cho đứa trẻ, ông ăn chay và lui về phòng nằm dưới đất. Các kỳ lão đến nhà vua và nài xin vua chỗi dậy, nhưng vua không chịu và không dùng bữa với họ".
Bài Đáp Ca hôm nay, cũng được trích từ Thánh Vịnh 50 là Thánh Vịnh thống hối của Vua Đavít, tiếp ngay sau Bài Phúc Âm hôm qua, bài thánh vịnh trong Bài Đáp Ca hôm nay, sau phần thống hối ăn năn (trong Bài Đáp Ca hôm qua), sang tới phần xin những ơn cần thiết để có thể sống đẹp lòng Chúa, chẳng hạn những ơn tiêu biểu sau đây:
1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và
canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi
thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con.
2) Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài.
3) Xin cứu gỡ con khỏi đền nợ máu, ôi lạy Chúa là Chúa cứu độ con, lưỡi con sẽ ca ngợi đức công minh Chúa. Lạy Chúa, xin mở môi con, miệng con sẽ loan truyền lời ca khen.
Ngày 25 tháng 1
Lễ Thánh Phaolô, Tông Đồ trở lại
(Lễ kính)
Phụng Vụ Giờ Kinh
Trên đường đi Đa-mát, ông Sao-lô quê thành Tác-xô đã khám phá ra hai điều : Trước hết, Đức Giê-su Na-da-rét là Đấng đã phục sinh, cũng là Đấng được Thiên Chúa ban phúc lành ; thứ đến, Đấng Phục Sinh với các Ki-tô hữu là các anh em người, chỉ là một. Khám phá này là nguồn ánh sáng soi chiếu cả cuộc đời thánh nhân.
Phao-lô, một người Do-thái, trở thành Tông Đồ Đức Ki-tô
Trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ga-lát.
11 Thưa
anh em, tôi xin nói cho anh em biết : Tin Mừng tôi loan báo không phải
là do loài người. 12 Vì
không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy,
nhưng là chính Đức Giê-su Ki-tô đã mặc khải. 13 Anh
em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do-thái : tôi
đã quá hăng say bắt bớ, và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên
Chúa. 14 Trong
việc giữ đạo Do-thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với
tôi : hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha
ông.
15 Nhưng
Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã
gọi tôi nhờ ân sủng của Người. 16 Người
đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng
về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự
nhiên, 17 cũng
chẳng lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức
khắc tôi đã sang xứ Ả-rập, rồi lại trở về Đa-mát. 18 Ba
năm sau tôi mới lên Giê-ru-sa-lem diện kiến ông Kê-pha, và ở lại với ông
mười lăm ngày. 19 Tôi
đã không gặp một vị Tông Đồ nào khác ngoài ông Gia-cô-bê, người anh em
của Chúa. 20 Viết
cho anh em những điều này, tôi cam đoan trước mặt Thiên Chúa là tôi
không nói dối. 21 Sau
đó tôi đến miền Xy-ri và miền Ki-li-ki-a. 22 Nhưng
lúc ấy các Hội Thánh Đức Ki-tô tại miền Giu-đê không biết mặt tôi. 23 Họ
chỉ nghe nói rằng : “Người trước đây bắt bớ chúng ta, bây giờ lại loan
báo đức tin mà xưa kia ông những muốn tiêu diệt”, 24 và
vì tôi, họ tôn vinh Thiên Chúa.
Vì lòng yêu mến Đức Ki-tô, thánh Phao-lô chịu đựng tất cả
Trích bài giảng của thánh Gio-an Kim Khẩu, giám mục.
Con người là gì, bản tính nhân loại của chúng ta cao trọng thế nào, và con người có khả năng đến đâu dù cũng chỉ là động vật, thì, hơn bất cứ ai, thánh Phao-lô đã cho chúng ta thấy rõ. Người sống mỗi ngày một cao thượng hơn, vươn lên mỗi ngày một mạnh mẽ hơn ; khi gặp hiểm nguy, người luôn chiến đấu với niềm phấn khởi mới. Người cho thấy điều đó khi nói : Tôi quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. Khi thấy giờ chết đã gần kề, thánh Phao-lô khuyến khích người khác cùng hiệp thông và chia sẻ niềm vui với mình, người nói : Anh em hãy vui lên và cùng chia sẻ niềm vui với tôi. Khi gặp nguy hiểm và bị lăng nhục, người lại vui mừng viết cho các tín hữu Cô-rin-tô : Tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, bị bắt bớ. Người gọi đó là khí cụ để làm điều công chính, và cho thấy nhờ vậy người đã gặt hái được những thành quả mỹ mãn.
Vì thế, khi bị âm mưu hãm hại, người vẫn đắc thắng chống lại mọi cuộc tấn công của kẻ thù. Bất cứ ở đâu bị đánh đòn, bị lăng nhục và nguyền rủa, người luôn xử sự như kẻ mừng chiến thắng khải hoàn, thu lượm được nhiều chiến phẩm ; người hãnh diện và tạ ơn Thiên Chúa mà nói : Tạ ơn Thiên Chúa, Đấng hằng chiến thắng khải hoàn nơi chúng tôi. Vậy, người mau mắn đến với những nhục nhằn tủi hổ vì rao giảng Tin Mừng, còn hơn là chúng ta mau mắn đến lãnh nhận danh dự và vinh quang ; người ước mong được chết hơn là chúng ta ham sống, thích khó nghèo hơn là được giàu có ; người muốn làm việc liên lỉ hơn là kẻ khác mong cho xong việc để được nghỉ ngơi. Quả thật, người chỉ khiếp sợ và xa tránh một điều, là làm mất lòng Thiên Chúa, chứ chẳng sợ bất cứ điều gì khác. Vậy, người chẳng ao ước điều gì hơn là luôn luôn làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Đối với người, điều lớn hơn tất cả là được hưởng tình yêu của Đức Ki-tô ; được như thế, người cho mình là hạnh phúc hơn hết mọi người ; còn nếu không, người cũng chẳng ham ở trong hàng vua chúa quan quyền. Nhưng người muốn mình là kẻ rốt hết, thậm chí thuộc số những kẻ bị án phạt, mà có lòng yêu mến này, hơn là được ở giữa những người cao sang danh vọng mà không có lòng yêu mến đó.
Thật vậy, đối với người, nỗi đớn đau tột độ, và khác thường là phải tách rời khỏi tình thương của Đức Ki-tô : đó chính là hoả ngục, là hình phạt duy nhất, là khổ hình triền miên không sao chịu được. Còn được hưởng tình thương của Đức Ki-tô là có tất cả : sự sống, trần gian, thiên thần, hiện tại, tương lai, vương quốc, lời hứa và vô số ơn lành. Khi có tình thương này rồi, người chẳng kể chi là buồn phiền hay vui thú. Thật vậy, mọi sự trên đời, người chẳng coi gì là cay đắng hay ngọt ngào nữa.
Người khinh chê mọi vật hữu hình như cỏ thối, xem bạo chúa và đám dân phẫn nộ như loài sâu bọ.
Người coi cái chết, nỗi đớn đau và mọi cực hình như trò chơi của trẻ con, khi vì Đức Ki-tô mà người phải chịu đựng những điều ấy.
XTôi đã được Chúa xót thương, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin.
ĐĐức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người.
XTôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa.
ĐĐức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người.
Lạy Chúa, Chúa đã dùng lời rao giảng của thánh Phao-lô tông đồ mà dạy dỗ muôn dân. Hôm nay mừng kỷ niệm ngày thánh nhân trở lại tin theo Đức Ki-tô, xin cho chúng con hằng noi gương thánh nhân để lại mà tiến đến gần Chúa, và trở nên chứng nhân của Tin Mừng. Chúng con cầu xin
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: Cv 22, 3-16
"Kêu danh thánh Chúa, tôi chỗi dậy".
Bài trích sách Tông đồ Công vụ.
Ngày ấy, Phaolô nói với dân chúng: "Tôi là người Do-thái, sinh tại Tarsê xứ Cilicia, đã được nuôi nấng trong thành này, đã được đào tạo theo chân lý lề luật cha ông dưới chân ông Gamaliêl. Tôi nhiệt thành với lề luật cũng như hết thảy quý vị hôm nay. Tôi đã bắt bớ giết chóc đạo này, xiềng xích và bỏ tù cả đàn ông lẫn đàn bà. Như thầy thượng tế và toàn thể hội đồng kỳ lão đã làm chứng điều đó. Các ngài đã trao cho tôi chứng minh thư để tôi đến kiếm anh em ở Ðamas, bắt trói họ và điệu về Giêrusalem để trừng phạt.
Xảy đến lúc đó khoảng trưa, tôi đang trên đường gần đến Ðamas, thình lình một luồng ánh sáng chan hoà từ trời chói rạng quanh tôi. Tôi ngã xuống đất và nghe tiếng phán bảo tôi: "Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?" Tôi đáp: "Thưa Ngài, Ngài là ai?" Người trả lời: "Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang bắt bớ". Và những người cùng ở đó với tôi lúc ấy, cũng thấy ánh sáng, nhưng không nghe tiếng Ðấng nói với tôi. Tôi hỏi: "Lạy Chúa, con phải làm gì?" Chúa liền nói với tôi: "Hãy chỗi dậy, vào thành Ðamas, ở đó sẽ nói cho ngươi tất cả những gì ngươi phải làm". Nhưng vì ánh sáng chói loà kia, tôi không còn thấy được, nên các bạn tôi cầm tay dẫn tôi vào thành Ðamas. Có một người kia tên là Anania, người đạo đức, sống theo Lề luật, và được mọi người Do-thái ở đó kính phục, đến tìm tôi và đứng gần tôi mà nói: "Hỡi anh Saolô, anh hãy nhìn!" Ngay lúc đó tôi nhìn thấy ông.
Và ông nói: "Thiên Chúa cha ông chúng ta đã tiền định cho anh biết thánh ý Người, thấy Ðấng Công Chính và nghe tiếng Người nói. Vậy anh phải làm chứng cho Người trước mặt mọi người về điều anh đã thấy và đã nghe. Và bây giờ, anh còn chần chừ gì nữa? Hãy chỗi dậy và cầu khẩn danh Người mà chịu thanh tẩy và gột rửa mình cho sạch tội lỗi".
Ðó là lời Chúa.

2. Hoặc: Cv 9, 1-22
"Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?"
Bài trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, Saolô còn mải say mê hăm doạ giết các môn đồ Chúa. Ông đến thượng tế, xin chứng minh thư gởi đến hội đường ở Ðamas, để nếu gặp ai theo đạo ấy, bất luận nam nữ, ông bắt trói đem về Giêrusalem.
Ðang khi đi đường, lúc đến gần Ðamas, bỗng nhiên một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông, ông ngã xuống đất và nghe tiếng phán rằng: "Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?" Ông thưa: "Lạy Ngài, Ngài là ai?" Chúa đáp: "Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ; giơ chân đạp mũi nhọn thì khổ cho ngươi". Saolô run sợ và kinh hoàng hỏi rằng: "Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?" Chúa phán: "Hãy chỗi dậy, vào thành, và ở đó người ta sẽ nói cho ngươi phải làm gì". Những kẻ đồng hành với ông đứng lại, hoảng hốt; họ nghe rõ tiếng mà không thấy ai. Saolô chỗi dậy khỏi đất, mắt ông vẫn mở mà không trông thấy gì. Người ta cầm tay dẫn ông vào thành Ðamas; ông ở lại đấy ba ngày mà không thấy, không ăn, cũng không uống.
Bấy giờ ở Ðamas, có một môn đồ tên là Anania; trong một thị kiến, Chúa gọi ông rằng: "Anania". Ông thưa: "Lạy Chúa, này con đây". Chúa phán: "Hãy chỗi dậy và đến phố kia gọi là phố "Thẳng", và tìm tại nhà Giuđa một người tên Saolô, quê ở Tarsê; nó đang cầu nguyện". (Saolô cũng thấy một người tên Anania bước vào, và đặt tay trên ông để ông được sáng mắt). Anania thưa: "Lạy Chúa, con đã nghe nhiều người nói về người này rằng: ông đã gây nhiều tai ác cho các thánh của Chúa tại Giêrusalem; tại đây, ông đã được các thượng tế cho phép bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa". Nhưng Chúa phán: "Cứ đi, vì người này là lợi khí Ta đã chọn, để mang danh Ta đến trước dân ngoại, vua quan và con cái Israel. Ta sẽ tỏ cho nó biết phải chịu nhiều đau khổ vì danh Ta".
Anania ra đi, bước vào nhà, và đặt tay trên Saolô mà nói: "Anh Saolô, Chúa Giêsu, Ðấng hiện ra với anh trên đường đi đến đây, sai tôi đến cùng anh, để anh được thấy và được tràn đầy Thánh Thần. Tức thì có thứ gì như những cái vảy rơi khỏi mắt ông, và ông được sáng mắt.
Ông chỗi dậy chịu phép rửa, và sau khi ăn uống, ông được lại sức, ông ở lại ít ngày cùng với các môn đồ thành Ðamas. Và lập tức ông rao giảng trong các hội đường rằng Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa. Mọi người nghe rao giảng đều kinh ngạc và nói rằng: "Há chẳng phải ông này đã bách hại những người đã cầu khẩn danh ấy tại Giêrusalem, và cũng đã tới đây mà truy nã họ để điệu họ về cho các thượng tế sao?"
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 116, 1. 2
Ðáp: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian (Mc 16, 15).
Xướng: 1) Toàn thể chư dân, hãy ngợi khen Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người! - Ðáp.
2) Vì tình thương Chúa dành cho chúng ta thực là mãnh liệt. và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời. - Ðáp.
Alleluia: Ga 15, 16
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Ta đã chọn các con giữa thế gian, hầu để các con đi và mang lại hoa trái, để hoa trái các con tồn tại". - Alleluia.
Phúc Âm: Mc 16, 15-18
"Các con hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu (hiện ra với mười một môn đệ và) nói: "Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu độ; ai không tin, sẽ bị luận phạt. Và đây là những dấu lạ đi theo những người đã tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng lạ, cầm rắn trong tay, và nếu uống phải chất độc thì cũng không bị hại; họ đặt tay trên những người bệnh, và bệnh nhân được lành mạnh".
Ðó là lời Chúa.
Tại sao gọi Thánh Phaolô là Tông Đồ?
Thánh Phaolô là một vị thánh rất đặc biệt trong Giáo Hội, nên:
Ngài vẫn được Giáo Hội vẫn gọi ngài là Tông Đồ, Tông Đồ Dân Ngoại, cho dù ngài không thuộc về hàng ngũ 12 tông đồ, nhưng Thật vậy, theo nguyên tắc thì không thuộc về hàng ngũ 12 tông đố thời Chúa Giêsu, được chính Chúa Kitô tuyển chọn, tỏ mình ra (nhất là khi Người phục sinh từ trong cõi chết) và sai đi như 12 vị có trong danh sách được bộ Phúc Âm Nhất Lãm liệt kê, thì không phải là tông đồ, mà chỉ là môn đệ của Chúa Kitô mà thôi. Tuy nhiên, căn cứ vào 3 yếu tố chính yếu bất khả thiếu để được trở thành tông đồ và đáng gọi là tông đồ đó là: 1- được chính Chúa Giêsu tuyển chọn, 2- được chính Chúa Giêsu tỏ mình ra cho, và 3- được chính Chúa Giêsu sai đi, thì Thánh Phaolô đã hội đủ 3 điều kiện tất yếu này, như được chính ngài tự thuật như sau (và các chi tiết nhiều hơn ở bên dưới đoạn này:
3.1- Được chính Chúa Giêsu tuyển chọn:
"Ta hiện ra với ngươi là để chọn ngươi làm đầy tớ và làm chứng nhân về những điều ngươi đã thấy, cũng như những điều Ta sẽ hiện ra mà tỏ cho ngươi biết" (Tông Vụ 26:16)
Tông Vụ 9:10-22
10 Bấy giờ ở Đa-mát có một môn đệ tên là Kha-na-ni-a. Trong một thị kiến, Chúa phán với ông: "Kha-na-ni-a! " Ông thưa: "Dạ, lạy Chúa, con đây."11 Chúa bảo ông: "Đứng lên, đi tới phố gọi là Phố Thẳng, đến nhà Giu-đa tìm một người tên là Sao-lô quê ở Tác-xô: người ấy đang cầu nguyện12 và thấy một người tên là Kha-na-ni-a đi vào, đặt tay trên mình để làm cho mình lại thấy được."13 Ông Kha-na-ni-a thưa: "Lạy Chúa, con đã nghe lắm kẻ nói về người ấy, về tất cả những điều ác người ấy đã làm cho dân thánh Chúa tại Giê-ru-sa-lem.14 Còn ở đây, người ấy được các thượng tế cho quyền bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa."15 Nhưng Chúa phán với ông: "Cứ đi, vì người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ít-ra-en.16 Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta."17 Ông Kha-na-ni-a liền đi; ông vào nhà, đặt tay trên ông Sao-lô và nói: "Anh Sa-un, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là Đức Giê-su, Đấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy Thánh Thần."18 Lập tức có những cái gì như vảy bong ra khỏi mắt ông Sao-lô, và ông lại thấy được. Ông đứng dậy và chịu phép rửa.19 Rồi ông ăn và khoẻ lại.
20 rồi lập tức ông bắt đầu rao giảng Đức Giê-su trong các hội đường, rằng Người là Con Thiên Chúa.21 Mọi người nghe ông giảng đều kinh ngạc và nói: "Ông này chẳng phải là người ở Giê-ru-sa-lem vẫn tiêu diệt những ai kêu cầu danh Giê-su sao? Chẳng phải ông đã đến đây với mục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao? "22 Nhưng ông Sao-lô càng thêm vững mạnh, và ông làm cho người Do-thái ở Đa-mát phải bẽ mặt, khi minh chứng rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a.
Tông Vụ 13:46-47
46 Bấy giờ ông Phao-lô và ông Ba-na-ba mạnh dạn lên tiếng: "Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại.47 Vì Chúa truyền cho chúng tôi thế này: Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất."
3.2- Được chính Chúa Giêsu tỏ mình: "Người hiện ra với ông Gia-cô-bê, rồi với tất cả các Tông Đồ.8 Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non" (1Corinto 15:7-8); "Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại" (Galata 1:15-16). .
1Cor 15:3-10
Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh,4 rồi
Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh
Thánh.5 Người
đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai.6 Sau
đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần
đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ.7 Tiếp
đến, Người hiện ra với ông Gia-cô-bê, rồi với tất cả các Tông Đồ.8 Sau
hết, Người
cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.
9 Thật
vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được
gọi là Tông Đồ,
vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa.10 Nhưng tôi
có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô
hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng
không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi. (15)
Galata 1: 11-19, 8-9
Tôi xin nói cho anh em biết: Tin
Mừng tôi loan báo không phải là do loài người.12 Vì
không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy,
nhưng là chính Đức Giê-su Ki-tô đã mặc khải.13 Anh
em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do-thái: tôi
đã quá hăng say bắt bớ, và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên
Chúa.14 Trong
việc giữ đạo Do-thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với
tôi: hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha
ông.
8 Nhưng nếu có ai, kể cả chúng tôi, hoặc một thiên thần nào từ trời xuống, loan báo cho anh em Tin Mừng khác với Tin Mừng chúng tôi đã loan báo cho anh em, thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy đi!9 Như tôi đã nói, và nay tôi xin nói lại: nếu có ai loan báo cho anh em một Tin Mừng khác với Tin Mừng anh em đã lãnh nhận, thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy đi!
3.3- Được chính Chúa Giêsu sai đi: "Ta
sẽ cứu ngươi thoát
khỏi tay dân Do-thái và các dân ngoại: Ta sai
ngươi đến với chúng để
mở mắt cho chúng, khiến chúng rời bóng tối mà trở về cùng ánh sáng,
thoát khỏi quyền lực Xa-tan mà trở về cùng Thiên Chúa". (Tông
Vụ 26:17)
Tông Vụ 22:17-21
17 "Khi trở về Giê-ru-sa-lem, đang lúc tôi cầu nguyện trong Đền Thờ, thì tôi xuất thần18 và thấy Chúa bảo tôi: "Mau lên, hãy rời khỏi Giê-ru-sa-lem gấp, vì chúng sẽ không nhận lời anh làm chứng về Thầy đâu.19 Tôi thưa: "Lạy Chúa, chính họ biết rõ con đây đã đến từng hội đường bắt giam và đánh đòn những kẻ tin Chúa.20 Khi người ta đổ máu ông Tê-pha-nô, chứng nhân của Chúa, thì chính con cũng có mặt, con tán thành và giữ áo cho những kẻ giết ông ấy.21 Chúa bảo tôi: "Hãy đi, vì Thầy sẽ sai anh đến với các dân ngoại ở phương xa”.
Tông Vụ 26:12-18
12 "Thế
là sau khi được các thượng tế trao quyền và uỷ nhiệm, tôi lên đường đi
Đa-mát.13 Kính
thưa đức vua, đang khi đi đường, vào lúc trưa, tôi đã thấy một luồng ánh
sáng chói lọi hơn mặt trời, từ trời chiếu toả xuống chung quanh tôi và
các bạn đồng hành.14 Tất
cả chúng tôi đều ngã nhào xuống đất, và tôi nghe có tiếng nói với tôi
bằng tiếng Híp-ri: "Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta? Đá lại mũi
nhọn thì khốn cho ngươi!15 Tôi
hỏi: "Thưa Ngài, Ngài là ai? Chúa đáp: "Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt
bớ.16 Nhưng
ngươi hãy chỗi dậy, đứng thẳng lên. Ta hiện ra với ngươi là để chọn
ngươi làm đầy tớ và làm chứng nhân về những điều ngươi đã thấy, cũng như
những điều Ta sẽ hiện ra mà tỏ cho ngươi biết.17 Ta
sẽ cứu ngươi thoát khỏi tay dân Do-thái và các dân ngoại: Ta sai ngươi
đến với chúng18 để
mở mắt cho chúng, khiến chúng rời bóng tối mà trở về cùng ánh sáng,
thoát khỏi quyền lực Xa-tan mà trở về cùng Thiên Chúa. Như vậy, nhờ tin
vào Ta, chúng sẽ được ơn tha tội và được hưởng phần gia tài cùng với các
người đã được thánh hiến."
2Cor 12:11-12
mặc dầu tôi chẳng là gì, tôi đâu có thua kém các Tông Đồ siêu đẳng kia.12 Anh em đã thấy thực hiện nơi anh em những dấu chỉ của sứ vụ Tông Đồ: nào là đức kiên nhẫn hoàn hảo, nào là những dấu lạ điềm thiêng, nào là các phép lạ.
Ngài được Giáo Hội kính nhớ 1 năm 2 lễ: Lễ ngài trở lại 25/1, ở bậc lễ kính (feast), và Lễ về biến cố ngài tử đạo, cùng với Thánh Phêrô, cả hai đều ở Roma, tuy ngày tháng khác nhau, và cả hai được Giáo Hội tưởng kính ở bậc lễ trọng ngày 29/6.
Ngài là vị tông đồ nổi vào bậc nhất trong bộ Thánh Kinh Tân Ước, ở chỗ, bộ Thánh Kinh Tân Ước gồm có 27 cuốn và được chia ra làm 3 phần: phần lịch sử bao gồm 4 Phúc Âm và Tông Vụ, phần giáo huấn gồm 21 bức thư và phần tiên tri là Cuốn Khải Huyền, thề mà, nói chúng, ngài chiếm một nửa số sách Thánh Kinh Tân Ước: 14 cuốn trong số 27 cuốn Thánh Kinh Tân Ước; chưa hết, cũng trong phần lịch sử này, tuy không viết phúc âm, nhưng môn đệ của ngài là Thánh Ludca lại viết phúc âm; rồi trong phần lịch sử, cuốn Tông Vụ là tác phẩm nhắm đến sứ vụ truyền giáo thì ngài đóng vai chính; và trong phần giáo huấn bao gồm 21 bức thư thì 14 bức thư là của ngài, tức chiếm 2/3 số thư.
Ngày Lễ Thánh Phaolô Trở Lại 25/1 hằng năm được Giáo Hội chọn là ngày Kết Thúc Tuần Bát Nhật Cầu Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoài Thành, là vì: Kitô giáo toàn là dân ngoại (dân ngoài Do Thái giáo), thế giới của vị tông đồ dân ngoại Phaolô này, nơi ngài, mọi nền văn hóa khác nhau của dân ngoại đều được phúc âm hóa và được hiệp nhất nên một trong đức tin tuân phục cùng với đức ái trọn hảo, một hiệp nhất trong đa dạng như nơi thân thể, được ngài so sánh có nhiều phần thể nhưng chỉ có một thân thể duy nhất có Chúa Kitô là Đầu (xem 1Corinto 12:12; Epheso 1:22; Colose 1:18,24).
Đaminh Maria cao tấn tĩnh, BVL
ĐTC Biển Đức XVI
3/9/2008 Thánh Phaolô: Trở Lại
27/8/2008- Thánh Phaolô: Tiểu Sử
Ngày 26 tháng 1
Thánh Ti-mô-thê và thánh Ti-tô, giám mục
lễ nhớ bắt buộc

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho hai thánh Ti-mô-thê và Ti-tô những đức tính xứng bậc tông đồ, xin nhậm lời các thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà ban cho chúng con, khi còn ở đời này, biết sống ngay lành và thánh thiện, hầu xứng đáng đạt tới quê trời. Chúng con cầu xin
Đ

Thánh Timôthê (c. 97?):
Qua Tân Ước, những gì chúng ta biết được về cuộc đời Thánh Timôthê thì giống như của một Giám mục bận rộn ngày nay. Ngài được vinh dự tháp tùng thánh Phaolô, và cả hai đều được ưu tiên rao giảng Phúc Âm và chịu đau khổ.
Thánh Timôthê có cha là người Hy Lạp và mẹ là người Do Thái tên là Eunice. Là kết quả của một hôn nhân "hỗn hợp", nên ngài bị người Do Thái coi là bất hợp pháp. Chính bà ngoại thánh nhân, bà Lois, là người đầu tiên trở lại Kitô giáo. Sau đó, Timôthê được thánh Phaolô rửa tội khoảng năm 47, và sau đó cùng tiếp tay với ngài trong công cuộc tông đồ. Chính ngài và thánh Phalô cùng sáng lập Giáo hội Côrintô. Trong 15 năm làm việc với thánh Phaolô, Timôthê trở nên người bạn trung tín nhất của Phaolô. Ngài được thánh Phaolô gửi đi truyền giáo, thường phải đương đầu với những xáo trộn trong các giáo đoàn mà thánh Phaolô thành lập.
Khi Timôthê đang ở với Phaolô thì bị bắt tại Rôma. Trong một thời gian, chính Timôthê cũng bị tù (Dt 13,23). Và thánh Phaolô đã bổ nhiệm Timôthê làm đại diện cho ngài ở Êphêsô.
Timôthê quá trẻ so với trách nhiệm nặng nề phải đảm trách. "Ðừng để ai coi thường anh vì sự trẻ trung," trong thư I thánh Phaolô viết cho Tm 4,12a). Một vài đoạn khác cho chúng ta biết dường như Timôthê hay bẽn lẽn. Và một trong những câu của thánh Phaolô thường được trích dẫn là câu viết cho Timôthê: "Ðừng chỉ uống nước lã, nhưng hãy dùng thêm chút rượu, vì anh đau dạ dày và ốm yếu luôn" (1Tm 5,23).
Thánh Titô (c. 94?):
Titô có nét đặc
biệt là người bạn thân và là môn đệ của thánh Phaolô cũng như tiếp tay
trong công cuộc truyền giáo. Ngài là người Hy Lạp, hiển nhiên xuất thân
từ Antiôkia. Mặc dù ngài là Dân Ngoại, thánh Phaolô đã không để ngài
phải chịu cắt bì ở Giêrusalem. Titô được coi như người hòa giải, người
quản đốc, người bạn rất tốt. Trong lá thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô,
thánh Phaolô cho chúng ta thấy tình bạn sâu đậm giữa ngài với Titô, và
tình đồng đội giữa hai người khi rao giảng Tin Mừng: "Khi tôi đến
Troas... Tinh thần tôi không được khuây khỏa vì không gặp được Titô,
người anh em của tôi. Do đó tôi từ giã họ và tiếp tục đến Macedonia...
Ngay cả khi đến Macedonia, thể xác chúng tôi cũng chưa được yên, mà phải
chịu đau khổ đủ mọi cách, xung đột bên ngoài, lo sợ bên trong. Nhưng
Thiên Chúa, Ðấng an ủi những kẻ yếu hèn, đã an ủi chúng tôi bằng cách
sai Ti-tô đến..." (2 Cr 2,12a, 13; 7, 5-6).
Trong Thư Gửi
Titô, lúc ấy Titô được coi như quản đốc của cộng đồng Kitô giáo trên đảo
Crete, có trách nhiệm tổ chức, chấn chỉnh những lạm dụng và bổ nhiệm các
giám mục phụ tá.
Lời Bàn
Qua đời sống của Thánh Titô, chúng ta có được chút hiểu biết về đời sống Giáo Hội thời tiên khởi: hăng say trong việc tông đồ, kết hợp mật thiết với Ðức Kitô, triển nở tình bạn. Tuy nhiên, luôn luôn có những vấn đề của bản tính con người và những chi tiết không hấp dẫn chút nào trong đời sống hàng ngày: cần phải sống bác ái và kiên nhẫn trong "sự cãi cọ với người khác, lo sợ trong tâm hồn." Qua tất cả những điều ấy, tình yêu của Ðức Kitô đã gìn giữ họ.
https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/thanh-timothe-va-thanh-tito-40934
1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ
Ghi chú cổ nhất về Thánh Lễ kính thánh Timôthê (thế kỷ XII), thường được mừng ngày áp lễ trở lại của thánh Phaolô (tức là ngày 24.01). Hiện tại được mừng vào ngày 26.01, không nhắm tới hai vị giám mục tử đạo. Lời kinh riêng cho thánh Titô chỉ xuất hiện trong lịch Rôma vào ngày 06.02.1854; lời kinh này thành kinh chung cho cả hai Vị thánh.
Thánh Kinh cho biết, Timôthê, người môn đệ yêu dấu của thánh Phaolô, có người cha ngoại giáo và người mẹ Do Thái tên Eunice, đã trở lại (2 Tm 1,5); ngài được dạy dỗ trong một gia đình có đức tin; Thánh Phaolô ghi chú: bà nội Lois đã dạy cho Timôthê biết luật Chúa (2 Tm 3,14-15). Nhờ thánh Phaolô, Timôthê trở lại trong chuyến truyền giáo lần đầu; Timôthê cũng đi theo thánh Phaolô trong chuyến truyền giáo lần thứ hai và thứ ba, theo yêu cầu của giáo đoàn Lystre (Cv 16,1-3) và lần này, ngài đã chạm trán với những khó khăn của đời Tông Đồ (Cv 17,14-15; 18,5-6). Thánh Phaolô buộc ngài phải cắt bì để có thể dễ dàng chu toàn sứ vụ giữa người Do Thái. Người ta thấy ngài đi theo thánh Phaolô và được gởi sang Macédoine (Cv 19,22) và được phó thác các cộng đoàn vùng Thessalonique (1 Tx 3), sau đó là Côrinthô (1 Cr 4,17; 16,10); rồi người ta lại gặp ngài trong nhóm đi theo thánh Phaolô (Cv 10,24). Thánh Phaolô gởi cho ngài một lá thơ từ Êphêsô (1 Tm 1,3) là nơi ngài đang thực hiện sứ vụ giữa cộng đoàn, sau đó một thư khác, trong đó thánh Phaolô gợi lại những giọt nước mắt khi chia tay (2 Tm 1,4).
Thánh Phaolô nhấn mạnh sự trung kiên của Timôtê trong các cơn thử thách. Tình bạn đã nối kết cả hai (x.Pl 2,19-33) thúc đẩy Timôtê ở lại với thánh Phaolô trong lần bị bắt thứ nhất; cũng chính thánh Phaolô cho gọi ngài đến Rôma trong lần bị bắt thứ hai. Chúng ta không biết lúc nào ngài đã lãnh nhận việc đặt tay; có lẽ chúng ta có thể thấy trong đoạn 1Tm 6,12: “Anh đã nói lên lời tuyên xưng cao đẹp trước mặt nhiều nhân chứng”. Không có gì minh chứng rằng Timôthê đã chịu tử đạo, có lẽ ngài đã qua đời tại Êphêsô.
Về thánh Titô, sinh ra trong một gia đình ngoại giáo, đã được thánh Phaolô rửa tội trong chuyến truyền giáo lần thứ nhất. Ngài theo thánh Phaolô và Barnaba lên Giêrusalem (Gl 2,1-3), tại đây thánh Phaolô chống đối việc ngài bị bắt phải cắt bì, vì xuất thân từ ngoại giáo. Khi thánh Phaolô thuật lại việc đến Troas, ngài muốn gặp Titô, “người anh em của tôi” (2 Cr 2,13), cho thấy ngài rất tin tưởng Titô, như người phục vụ trung gian giữa thánh nhân và cộng đoàn Côrinthô để tái lập lại sự hoà thuận giữa Giáo Hội này với thánh nhân (2 Cr 7,5-7). Thánh Phaolô đặt Titô đứng đầu cộng đoàn ở Crète. Trong đoạn Titô 1,4 thánh Phaolô còn gọi Titô là “người con tôi thực sự sinh ra trong cùng một đức tin chung”. Thánh Phaolô còn viết thư bảo ngài đi theo mình từ Nicopolis đến Épire, có lẽ từ đây thánh Phaolô đã sai ngài đi rao giảng vùng Dalmatie. Thánh Timôthê được vùng này tôn kính cách đặc biệt. Theo truyền thuyết, thánh Titô qua đời trong cộng đoàn của ngài tại Crète, lúc tuổi đã xế chiều.
2. Thông điệp và tính thời sự
Kinh Tổng Nguyện, chung cho cả hai vị thánh, gợi lên nhân đức xứng đáng với chức vị Tông Đồ mà Thiên Chúa ban cho hai môn đệ trung thành của thánh Phaolô. Lá thư thứ hai gởi cho Timôthê ca tụng đức tin chân thành của người con yêu quí, đã khuyến khích : Tôi nhắc nhớ anh phải luôn gợi lên trong anh ân sủng của Thiên Chúa mà anh đã lãnh nhận khi tôi đặt tay cho anh.
Ân sủng của Thiên Chúa mà thánh Phaolô nói đến là “đặc sủng” mà Timôthê đã lãnh nhận và thánh hiến ngài trong sứ vụ mục tử. Đánh thức ân sủng này, có nghĩa là làm sống lại ân sủng của Thiên Chúa, Đấng là Thần Trí sức mạnh, tình yêu và làm chủ bản thân.
Cũng trong lá thư gởi cho Timôthê, thánh Phaolô nói với người môn đệ của mình: “Hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” thánh Phaolô đã nhắc nhở ngài việc sửa sai anh em: “Hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2 Tm 4,2). Đó chính là các nhân đức Tông Đồ mà các mục tử luôn cần thiết, được kêu gọi tỉnh thức, không yếu đuối và không thoả thuận.
Kinh Tổng Nguyện kêu gọi chúng ta sống công chính và đạo đức trong thế giới này, lấy hứng từ lá thư thánh Phaolô gởi cho Titô: “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính, đạo đức ở thế gian này. Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng Cứu Độ chúng ta, xuất hiện vinh quang (Tit 2,11-13). Câu đáp cho bài kinh Magnificat: “Chúng ta hãy sống công chính và ngay thẳng, chờ đợi ngày Chúa đến”, cũng nhấn mạnh lời đòi hỏi trung tín theo nghĩa cánh chung của cuộc đời Kitô hữu.
Trong lá thư gởi cho Titô, thánh Phaolô xin người môn đệ của mình minh chứng một mẫu gương đức hạnh ngay trong chính bản thân (2,7); cũng thế, ngài động viên mọi hạng người sống theo tình trạng và điều kiện của mình. Dù vậy, nền tảng tín lý của các trách nhiệm chính yếu và đặc thù đều là một cho mọi người: “Niềm hy vọng được sự sống đời đời mà Thiên Chúa, Đấng không hề nói dối, đã hứa từ thuở đời đời” (1,2). Những việc dấn thân của chúng ta trong hiện tại là sống trong một tình trạng tỉnh thức, sẵn sàng chờ đợi sự kiện cánh chung của Chúa. Sự công chính và lòng đạo đức mà chúng ta được gọi để sống, là trung tâm của nền luân lý Kitô giáo. Sự công chính (theo nghĩa Thánh Kinh) đi kèm theo lòng đạo đức, có nghĩa là tình yêu bác ái sẽ làm cho các mệnh lệnh và trách nhiệm trở thành một ách êm ái và một gánh thật nhẹ nhàng.
Enzo Lodi (Nguồn:tgpHaNoi)
https://www.kath-vietnamesen.de/26-01-thanh-timothe-va-thanh-tito-giam-muc-le-kinh/

Angela sinh ngày 21 tháng 3 năm 1474 tại Desenzano, xứ Lombardie, Ý Đại Lợi. Angela mồ côi cha mẹ và ở với các anh và cậu. Vào lúc 56 tuổi, Angela Merici từ chối lời yêu cầu của Ðức Giáo Hoàng. Ngài biết Ðức Clementê VII muốn ban cho ngài một vinh dự lớn lao và một cơ hội vĩ đại để phục vụ khi đức giáo hoàng yêu cầu ngài nhận trách nhiệm lãnh đạo một dòng nữ tu chuyên về điều dưỡng. Nhưng Angela biết công việc điều dưỡng không phải là điều Thiên Chúa muốn mời gọi ngài thi hành.
Lúc đó, chưa có những nữ tu viện dành cho các chị em và cũng chẳng có ai đã từng nghĩ đến chuyện này bao giờ. Thánh nữ Angiêla Merisi là người đầu tiên đã tụ họp một nhóm chị em và mở các trường dạy trẻ. Vào ngày 25 tháng Mười Một năm 1535, hai mươi tám chị em đã tận hiến cuộc đời mình cho Thiên Chúa. Họ tuân giữ luật dòng thánh Ursula. Angiêla đặt hội dòng dưới sự bảo trợ của thánh Ursula. Đây là lý do họ có được danh hiệu đó. Thoạt đầu, các chị đã cư ngụ tại nhà quê của mình. Bởi có nhiều khó khăn nên phải trải qua một thời gian dài sau họ mới có thể cùng được chung sống trong tu viện. Thánh nữ Angiêla Merisi mất vào ngày 27 tháng Giêng năm 1540 khi hội dòng của ngài vừa được phôi dựng. Lòng cậy trông phó thác nơi Thiên Chúa đã giúp Angiêla vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Ngài không hồ nghi gì về việc Thiên Chúa sẽ quan phòng lo liệu cho công việc ngài đã khởi sự. Và Thiên Chúa đã thực hiện.
Các nữ tu dòng thánh Ursula đã có mặt tại nhiều quốc gia. Hội dòng hiện vẫn tiếp tục hoạt động cho Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người; nhất là việc giáo dục các trẻ em và các thanh thiếu niên.
Thánh nữ Angiêla Merisi nhắc nhở chúng ta rằng những sự khó và những chán nản thất vọng có thể giúp chúng ta nhận ra những nỗi đau thương nơi người khác. Khi chúng ta sẵn lòng vươn tay ra, Thiên Chúa sẽ dùng chúng ta để thực hiện những công việc phi thường của Người. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ Angiêla Merisi giúp chúng ta biết cách tỏ lòng tế nhị và xót thương đối với tha nhân.
Thánh Angela Merici từ trần ngày 27 tháng 1 năm 1540 tại Brescia, khi ngài khoảng bảy mươi tuổi. Mộ phần trở nên một nơi hành hương. Thánh tích còn tại thánh đường Thánh Afra, Brescia Ý Đại Lợi. Ngay sau khi qua đời, nữ tu Angela đã được dân chúng thành phố ca tụng như một đấng thánh. Họ đến kính viếng thi hài của chị thánh đông đảo đến độ phải hoãn lễ an táng đến 30 ngày sau.

Ngày 28 tháng 1
Thánh Tô-ma A-qui-nô, linh mục, tiến sĩ Hội Thánh
lễ nhớ bắt buộc

Không có gương nhân đức nào mà không có nơi thập giá
Trích bài chia sẻ của thánh Tô-ma A-qui-nô, linh mục.
Có cần thiết Con Thiên Chúa phải chịu đau khổ vì chúng ta không ? Thưa cần lắm, và có thể tóm lại trong hai lý do : một là để làm phương dược chữa trị tội lỗi, hai là để làm gương cho chúng ta noi theo.
Xét về phương dược để chữa trị mọi sự dữ mà chúng ta mắc phải vì tội lỗi, chúng ta gặp thấy linh dược nhờ cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô.
Nhưng xét về gương sáng thì ích lợi cũng không nhỏ, vì cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô đủ để soi sáng trọn vẹn cuộc đời chúng ta. Quả vậy, bất cứ ai muốn sống đời hoàn hảo, người ấy không cần làm gì khác ngoài việc khinh chê những gì Đức Ki-tô đã khinh chê trên thập giá và ao ước những gì Người đã ước ao. Bởi lẽ không có gương nhân đức nào mà không có nơi thập giá.
Nếu bạn muốn tìm một tấm gương bác ái, thì đây : Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Đó là điều Đức Ki-tô đã thực hiện trên thập giá. Vậy nếu Người đã hy sinh mạng sống vì chúng ta, thì khi vì Người mà chúng ta phải chịu bất cứ đau khổ nào, sẽ chẳng có chi là quá nặng.
Nếu bạn muốn tìm một tấm gương nhẫn nhục, thì nơi thập giá có cả một tấm gương sáng ngời. Thật vậy, sự nhẫn nhục sẽ lớn lao vì hai lý do : hoặc khi người ta chịu những đau khổ lớn lao, hoặc khi người ta chịu những đau khổ có thể tránh được mà lại không tránh. Quả thế, Đức Ki-tô đã mang lấy những đau khổ lớn lao trên thập giá, và nhẫn nhục chịu đựng : Người chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín trước mặt kẻ xén lông, Người chẳng hề mở miệng. Như thế, sự nhẫn nhục của Đức Ki-tô trên thập giá thật là lớn lao : Chúng ta hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giê-su là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục.
Nếu bạn muốn tìm một tấm gương khiêm nhường, thì xin bạn nhìn lên Đấng chịu đóng đinh : Đấng vốn là Thiên Chúa mà đã muốn chịu xét xử dưới thời Phong-xi-ô Phi-la-tô và chịu chết.
Nếu bạn muốn tìm một tấm gương tuân phục, bạn chỉ việc bước theo Đấng đã vâng lời Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết : Cũng như vì một người duy nhất, tức là ông A-đam, đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ trở thành người công chính.
Nếu bạn muốn tìm một tấm gương khinh chê của cải trần gian, bạn chỉ việc bước theo Đấng là Vua các vua và là Chúa các chúa, nơi Người có cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết, thế mà trên thập giá Người đã chịu trần truồng, bị chế giễu, bị khạc nhổ, bị đánh đập, bị đội vòng gai và phải uống giấm chua mật đắng.
Vậy bạn đừng bám víu vào y phục và của cải, vì áo xống tôi, chúng đem chia chác ; đừng bám víu vào danh dự, vì Người đã chịu lăng nhục và bị đánh đòn ; đừng say mê chức tước, vì họ đã kết một vòng gai làm vương miện đội lên đầu Người ; và đừng ham mê thú vui nữa, vì tôi khát nước, lại cho uống giấm chua.
Lạy Chúa, Chúa làm cho thánh Tô-ma trở nên một bậc thầy lỗi lạc, vì đã ban cho người lòng tha thiết sống cuộc đời thánh thiện và hăng say giảng dạy đạo lý cao siêu. Xin Chúa thương mở lòng soi trí để chúng con ngày càng hiểu biết điều người dạy và ra công bắt chước việc người làm. Chúng con cầu xin
ĐTC Biển Đức XVI:
23/6/2010 – Bài 112: Thánh Thomas Aquinas - Tổng Luận Thần Học
16/6/2010 – Bài 111: Thánh Thomas Aquinas - Triết Lý Thần Học
2/6/2010 – Bài 110: Thánh Thomas Aquinas - Tiểu Sử
Ngày 31 tháng 1
Thánh Gio-an Bốt-cô, linh mục
lễ nhớ bắt buộc
Noi gương Đức Giê-su và để cho tình yêu hướng dẫn
Trích thư của thánh Gio-an Bốt-cô, linh mục.
Nếu chúng ta muốn tỏ ra là người tha thiết quan tâm tới lợi ích đích thực của các học sinh chúng ta, và thôi thúc chúng chu toàn bổn phận, các con đừng bao giờ quên rằng mình đang thay mặt cho cha mẹ của lớp trẻ thân yêu này, lớp trẻ đã từng là đối tượng ưu ái khiến cha luôn bận tâm, lao nhọc, học hỏi, và thực thi tác vụ linh mục. Chúng còn là đối tượng cho toàn thể dòng Sa-lê-diêng chúng ta phục vụ nữa. Do đó, nếu chúng con muốn là những người cha đích thực của các học sinh, nhất thiết chúng con phải có tấm lòng của một người cha ; và như thế, chúng con đừng bao giờ dùng tới biện pháp cưỡng chế hay ra hình phạt cách vô lý và không công bằng, cũng đừng theo lối của người làm việc miễn cưỡng, hoặc chỉ làm vừa đủ để chu toàn phận sự của mình.
Các con rất thân mến, trong công việc giáo dục lâu dài của cha, biết bao lần cha đã phải tâm niệm về chân lý cao cả này : bực tức thì bao giờ cũng dễ hơn là nhẫn nại, doạ nạt một đứa trẻ thì dễ hơn là thu phục nó. Cha còn dám nói thêm rằng : thường chúng ta dễ theo tính kiêu căng và nóng nảy mà trừng phạt những em bướng bỉnh, hơn là lấy lòng cương nghị và hiền từ mà sửa dạy và chịu đựng chúng. Lòng bác ái mà cha xin chúng con chính là đức ái mà thánh Phao-lô đã dành cho các tín hữu mới trở lại đạo Chúa. Đức ái này đã khiến thánh nhân phải nhiều phen khóc lóc van nài khi thấy họ ít vâng lời và không đáp lại lòng nhiệt thành của người.
Khi sửa phạt, thật khó mà giữ được bình tĩnh. Nhưng đó lại là điều tối cần để không ai có thể nghĩ rằng ta làm thế vì muốn thị uy hay trút cơn nóng giận.
Hãy coi các trẻ nhỏ dưới quyền chúng ta như là con cái. Hãy dấn thân phục vụ chúng theo gương Chúa Giê-su. Người đến không phải để ra lệnh nhưng để vâng phục. Các con phải cảm thấy xấu hổ khi thấy mình lộ vẻ thống trị ; và nếu có thống trị thì cũng chỉ là để phục vụ đắc lực hơn mà thôi. Chúa Giê-su đã cư xử như thế với các Tông Đồ. Người chịu đựng sự dốt nát, thô kệch, và cả lòng trung thành yếu kém của các ông nữa. Rồi khi đối xử với các tội nhân cách nhân hậu và thân mật, Người đã làm cho lắm kẻ phải ngạc nhiên, nhiều người khó chịu, nhưng cũng khiến cho biết bao người hy vọng được Thiên Chúa thứ tha. Vì thế, Đức Giê-su bảo ta hãy học nơi Người để biết sống hiền lành và khiêm nhường trong lòng.
Bởi vì trẻ em là con cái chúng ta, nên khi phải sửa trị lỗi lầm của chúng, ta phải tránh mọi sự nóng giận, hay ít ra phải nén lòng tới độ xem ra đã hoàn toàn dập tắt được cơn nóng giận rồi. Tuyệt đối không được để cho cõi lòng sôi sục, không được có khoé nhìn khinh bỉ, không được phép dùng lời ăn tiếng nói hạ nhục một ai. Nhưng ta hãy cứ cảm thông lúc này và hy vọng vào tương lai. Như vậy, các con mới là những người cha đích thực, và sửa dạy chúng thật sự.
Trong những trường hợp trầm trọng, ta nên khiêm hạ nài xin Thiên Chúa, hơn là tuôn ra những lời lẽ vừa khiến cho người nghe phật lòng, lại vừa không ích lợi gì cho kẻ phạm lỗi.
Các con hãy nhớ rằng giáo dục là công việc của tâm hồn, nơi chỉ có Thiên Chúa làm chủ. Thế nên ta không thể đạt được gì nếu Thiên Chúa không dạy ta nghệ thuật và không trao cho ta bí quyết giáo dục.
Hãy cố gắng làm cho mình được yêu mến. Hãy vun trồng tâm tình kính sợ Thiên Chúa. Như thế, ta có thể dễ dàng mở được cánh cửa của bao tâm hồn và liên kết lại với chúng ta mà ca hát, ngợi khen và chúc tụng Đấng đã muốn trở nên mẫu mực của chúng ta, đường đi của chúng ta và gương lành cho chúng ta trong mọi sự, đặc biệt trong việc giáo dục thanh thiếu niên.
XNgười ta dẫn trẻ em đến với Đức Giê-su, để Người chạm tay vào chúng ; nhưng các môn đệ xẵng giọng với chúng. Thấy vậy, Người bực mình nói với các ông :
Đ“Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng.
XAi tiếp đón một em nhỏ như thế này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.”
Đ“Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng.
Lạy Chúa, Chúa đã cho xuất hiện trong Hội Thánh một người cha và một bậc thầy của giới thanh thiếu niên là thánh Gio-an Bốt-cô linh mục. Xin Chúa cũng đốt lửa yêu mến trong lòng chúng con, để chúng con biết phụng sự một mình Chúa và lo cho anh em được cứu độ. Chúng con cầu xin


https://www.songtinmungtinhyeu.org/index.php?open=contents&id=873
