Ư Nghĩa “Thần Linh” trong Cựu Ước
rong những bài giáo lư của
chúng ta về ngôi vị và sứ vụ của Chúa Thánh Thần, trước hết chúng ta t́m
nghe lời loan báo và hứa của Chúa Giêsu về Ngài, nhất là ở trong Bữa
Tiệc Ly. Chúng ta cũng đă ôn lại đoạn Ngài đến được sách Tông Đồ Công Vụ
tŕnh thuật lại. Chúng ta c̣n trở về với những đoạn Tân Ước kể lại cho
chúng ta biết việc rao giảng của Giáo Hội ban đầu về Ngài và đức tin của
Giáo Hội nơi Ngài. Tuy nhiên, trong việc t́m hiểu của ḿnh, chúng ta
cũng thường trở về với Cựu Ước. Chính các vị tông đồ, trong việc giảng
dạy ban đầu ngay sau biến cố Hiện Xuống, đă minh nhiên tŕnh bày việc
Chúa Thánh Thần đến như một việc hoàn tất những lời hứa và tiên báo xưa
kia. Các vị coi cựu ước và lịch sử dân Yến Duyên như là một thời đoạn
sửa soạn để lănh nhận tràn đầy chân lư và ân sủng được ban phát nơi Đấng
Thiên Sai.
Thánh Thần Hiện
Xuống qủa thật là một biến cố nhắm đến tương lai. Bởi v́ biến cố này
đánh dấu thời điểm Thánh Linh mở màn, Đấng biện minh cho công cuộc cứu
chuộc cùng với Chúa Cha và Chúa Con, như chính Chúa Giêsu đă xác nhận,
một công cuộc khơi nguồn từ thập giá cần phải được thấm nhập vào cả thế
giới. Tuy nhiên, muốn thấu hiểu tất cả mạc khải về Chúa Thánh Thần một
cách trọn vẹn hơn, cần phải đi ngược lại thời gian, tức là đi trở về với
Cựu Ước, để t́m thấy ở đó những dấu hiệu của một cuộc sửa soạn trường kỳ
cho mầu nhiệm Phục Sinh và Hiện Xuống.
Bởi thế, chúng
ta, một lần nữa, cần phải chú ư tới những dữ kiện thánh kinh liên quan
đến Chúa Thánh Thần cũng như đến tiến tŕnh mạc khải được dần dần hiện
tỏ từ những h́nh bóng của Cựu Ước đến những xác thực tỏ tường nơi Tân
Ước. Điều này được thể hiện trước hết trong cuộc sáng tạo, rồi sau đó
trong công cuộc cứu chuộc, cũng như nơi lịch sử và tiên tri của dân Yến
Duyên mới đến cuộc sống và sứ vụ của Chúa Giêsu Đấng Thiên Sai, từ lúc
Nhập Thể cho tới khi phục sinh.
Trong số những
dữ kiện cần phải được t́m hiểu, dữ kiện thứ nhất là tên gọi ghép cho
Chúa Thánh Thần trong Cựu Ước cùng với những ư nghĩa khác nhau được hàm
ư nơi tên gọi này.
Chúng ta biết
rằng, theo tâm thức của người Do Thái, tên gọi có một tầm quan trọng nổi
bật trong việc làm tiêu biểu cho con người. Ở đây chúng ta nhớ lại tầm
quan trọng nơi cách thức xưng hô với Thiên Chúa trong sách Xuất Hành
cũng như trong cả truyền thống dân Yến Duyên. Moisen đă hỏi Chúa là
Thiên Chúa tên của Ngài là ǵ. Việc tỏ tên ḿnh ra được coi như là một
việc tỏ hiện chính bản thân ḿnh vậy: thánh danh Thiên Chúa đă thiết lập
mối liên hệ giữa dân Do Thái với hữu thể siêu việt mà lại hiện hữu của
chính Thiên Chúa (x.Ex.3:13-14).
Nhờ mạc khải
nơi Tân Ước, chúng ta mới có thể biết được thực tại của Ngài là một ngôi
vị thần linh, cùng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con, tuy nhiên, danh
xưng được dùng để gọi Chúa Thánh Thần trong Cựu Ước cũng sẽ giúp chúng
ta hiểu được những đặc tính của Ngài. Thật là có lư khi nghĩ rằng từ ngữ
được các tác giả sách thánh chọn th́ chính xác, đúng hơn là chính Chúa
Thánh Thần là Đấng đă linh ứng cho các vị, hướng dẫn tiến tŕnh suy diễn
và hành văn của các vị, ngay trong thời Cứu Ước, để các vị tinh tường
t́m một diễn đạt xứng hợp biểu hiệu cho bản thân của Ngài.
Trong Thánh
Kinh, từ ngữ Do Thái về Thần Linh là ruah. Ư nghĩa thứ nhất của
từ ngữ này, cũng như ư nghĩa chữ spiritus của bản dịch La Tinh,
là “hơi thở”. (Trong Anh ngữ, mối liên hệ giữa thần linh và việc hô hấp
vẫn rơ ràng từ trước đến nay). Hơi thở là một thực tại vô thể như chúng
ta nhận thấy. Nó không thấy được; nó không cụ thể; không thể nắm được
trong tay; dường như không là ǵ mà lại không thể thiếu được. Con người
không hô hấp không thể nào sống được. Sự khác nhau giữa một người sống
và một người chết là ở chỗ người sống c̣n hơi thở và người chết hết thở.
Sự sống từ Thiên Chúa mà có. Bởi thế, hơi thở cũng từ Ngài mà có, và
Ngài có thể rút nó lại (x.Ps.104:29-30). Nhận định về hơi thở như thế
mới thấy rằng sự sống cần phải lệ thuộc vào một nguyên lư linh thiêng,
nguyên lư mà tiếng Do Thái gọi cùng một tên là ruah. Hơi thở của
con người liên hệ với gió là một hơi thở thiên nhiên mạnh hơn hơi thở
của con người rất nhiều.
Tiếng Do Thái
ruah, giống như tiếng Latinh spiritus, c̣n biểu hiệu cho
tác động thổi của gió nữa. Không ai thấy được gió ngoại trừ những dấu
hiệu tỏ tường của nó. Nó lùa may bay, rung cây động lá. Khi lên cơn
phong vũ, nó có thể làm biển cả nổi sóng khiến ch́m đắm tầu bè
(x.Ps.107:25-27). Đối với người xưa, gió được coi như là một quyền lực
huyền nhiệm Thượng Đế tỏ ra (x.Ps.104:3-4). Nó có thể được gọi là “hơi
Thượng Đế thở”.
Trong sách Xuất
Hành, một đoạn văn xuôi thuật lại rằng: “Giavê đă dùng một cơn gió đông
thổi mạnh cả đêm để dồn biển lại, làm biển thành đất khô. Các gịng nước
dựng đứng lên và con cái Yến Duyên đi trên đất khô ngay giữa ḷng
biển...” (Ex.14:21-22). Ở đoạn sau đó, cũng trong biến cố này, được diễn
tả bằng văn vần, cơn gió đông thổi này được gọi là “một luồng thổi mạnh
từ mũi” Thiên Chúa. Thân thưa cùng Thiên Chúa, nhà thơ viết: “Một luồng
thổi mạnh từ mũi Ngài làm cho các gịng nước dựng đứng lên cao... Ngài
thổi một hơi thở của Ngài th́ biển cả đổ xuống trên họ (quân Ai Cập)”
(Ex.15:8-10). Điều ấy nói lên niềm xác tín rất đáng lưu ư ở chỗ gió là
dụng cụ Chúa dùng trong trường hợp này.
Từ những nhận
xét về gió vô h́nh và mănh lực như thế, người ta có một ư niệm về sự
hiện hữu của “thần trí Thiên Chúa”. Trong những bản văn của Cựu Ước,
người ta dễ dàng đi từ nghĩa này đến nghĩa khác, và ngay trong Tân Ước,
chúng ta cũng thấy có hai ư nghĩa. Để giúp cho Nicôđêmô hiểu được cách
thức tác động của Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu đă so sánh với gió, và
Người đă sử dụng cùng một từ ngữ cho cả hai trường hợp: “Gió thổi đâu
th́ thổi... Tất cả những ai sinh bởi Gió (như bởi Thánh Thần) đều giống
như thế” (Jn.3:8).
Bởi thế, ư niệm
sâu xa được diễn tả nơi danh xưng mà thánh kinh đặt cho Thần Linh không
phải là danh xưng về một quyền năng thuộc lănh vực tâm lư, cho bằng là
danh xưng của một thúc đẩy sinh động, tương tự như quyền lực của gió.
Theo Thánh Kinh, phận sự chính của thần trí không phải là soi hiểu hơn
là tác động; không phải chiếu soi hơn là thúc động.
Tuy nhiên,
phương diện về Thần Linh này vẫn chưa phải là tất cả. Những phương diện
khác cũng đă được diễn tả để dọn đường cho mạc khải sau này. Trước hết
và trên hết là phương diện nội tâm. Thật vậy, hơi thở nhập vào con người.
Theo từ ngữ thánh kinh, điều này có thể được diễn tả khi nói rằng Thiên
Chúa đặt thần trí trong tâm can con người (x.Ez.36:26; Rm.5:5). V́ không
khí rất nhẹ, nó thẩm thấu chẳng những thân xác chúng ta, mà c̣n tất cả
mọi nơi, mọi kẽ hở. Sự kiện này cho chúng ta hiểu được rằng, như Sách
Khôn Ngoan viết, “thần trí của Chúa tràn lan khắp hoàn vũ” (Wis.1:7) và
thần trí của Ngài đặc biệt thấu nhập vào “tất cả mọi tâm linh tinh anh,
tinh tuyền và tinh tế nhất” (7:23).
Liên quan đến
phương diện nội tâm là phương diện kiến thức. Thánh Phaolô đặt vấn nạn:
“Ai có thể thấu hiểu được thâm cung con người, nếu không phải là tâm
linh của họ?” (1Cor.2:11). Chỉ có tâm linh của chúng ta mới biết được
những phản ứng và tư tưởng sâu xa chưa được truyền đạt ra cho người khác
của chúng ta thôi. Tương tự như thế, và c̣n hơn thế, Thần Linh Chúa hiện
diện trong tất cả mọi hữu thể nơi vũ trụ biết hết mọi sự ngay từ bên
trong (Wis.1:7). Thật vậy, “Thần Linh ḍ thấu thẳm cung mọi sự, ngay cả
thâm cung Thiên Chúa... Thâm cung Thiên Chúa chỉ có thể biết được bởi
Thần Linh Thiên Chúa mà thôi” (1Cor.2:10-11).
Về vấn đề hiểu
biết và truyền thông với nhau, hơi thở có một liên hệ tự nhiên với ngôn
từ. Để phát biểu, chúng ta phải sử dụng hơi thở của ḿnh. Những âm thanh
làm cho hơi thở rung động, nhờ đó, hơi thở rung động này mới có thể
chuyền sang cho những thanh âm của ngôn từ. Cảm hứng bởi sự kiện này,
Thánh Kinh đă rút ra được một so sánh giữa ngôn từ và hơi thở
(x.Is.11:4), hay giữa ngôn từ và tâm linh. Nhờ hơi thở của chúng ta mà
ngôn từ được truyền đạt; bởi hơi thở của chúng ta, ngôn từ mới có sức
phát động. Thánh Vịnh 33 đă sử dụng lối so sánh này vào biến cố tạo dựng
thuở nguyên khai mà rằng: “Nhờ lời của Giavê mà các tầng trời được tạo
thành, toàn thể cơ cấu của chúng cũng bởi hơi thở miệng Ngài...” (câu
6).
Nơi những bản
văn cùng một loại này, chúng ta nhận thấy có một cuộc sửa soạn xa xa cho
mạc khải Kitô giáo về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa Ngôi Cha là
nguồn gốc của tạo thành. Ngài đă h́nh thành nó bằng Lời Ngài, đó là Ngôi
Con, và bởi Hơi Thở của Ngài là Ngôi Thánh Thần.
Từ ngữ ruah
theo tiếng Do Thái được Thánh Kinh sử dụng để biểu hiệu cho Thần Linh có
nhiều ư nghĩa khác nhau như thế có thể khơi lên một số lầm lẫn. Đúng
thế, trong nguyên một bản văn thôi, thường không thể nào xác định được ư
nghĩa đích thực của từ ngữ này. Người ta có thể lưỡng lự giữa gió và hơi
thở, giữa hơi thở và thần trí, hay giữa tâm linh thụ tạo và Thần Linh
Thiên Chúa.
Tuy nhiên, tính
cách đa diện này lại có một sự phong phú riêng, v́ nó làm cho việc
truyền thông được hiệu nghiệm hơn khi gặp phải biết bao nhiêu là những
trường hợp khác nhau như vậy. Thế nên, thà bỏ qua việc đi vào phần t́m
hiểu những lư luận thuận hợp cho vấn đề này để đi ngay vào những quan
niệm quảng bá th́ hơn. Khi chúng ta nghĩ về Chúa Thánh Thần, chúng ta
nên nhớ rằng danh xưng theo thánh kinh của Ngài là “hơi thở”, và hơi thở
th́ lại liên hệ với việc thổi mạnh của gió cũng như với việc hô hấp thầm
lắng riêng của chúng ta. Thay v́ dính chặt với một quan niệm qúa trừu
tượng và khô khan, chi bằng chúng ta hăy lợi dụng tính cách phong phú về
h́nh ảnh và dữ kiện này. Tiếc thay, các bản dịch không thể nào chuyên
chở cho chúng ta tất cả những h́nh ảnh và dữ kiện này một lúc, v́ những
bản dịch đó bị bó buộc phải lựa chọn từ ngữ nào thích hợp nhất. Để dịch
chữ Ruah trong tiếng Do Thái, bản dịch Bảy Mươi bằng tiếng Hy Lạp
đă phải dùng đến 24 từ khác nhau, và như thế, đă không làm cho người ta
thấy được tất cả những liên đới giữa các bản văn Thánh Kinh Do Thái.
Để chấm dứt
việc phân tích từ vựng của các bản văn Cựu Ước liên quan đến chữ ruah
này, chúng ta có thể nói rằng hơi thở của Thiên Chúa, nơi các bản văn
này, được coi như là một quyền lực ban sự sống cho các tạo vật. Nó tỏ
hiện như một thực tại sâu xa của Thiên Chúa tác hành trong con người. Nó
c̣n tỏ hiện như một cuộc biểu dương sinh động của Thiên Chúa được thông
sang cho các tạo vật.
Mặc dầu chưa
hiểu được như là một Ngôi Vị chuyên biệt trong liên hệ hữu thể thần linh,
“hơi thở” hay “Thần Linh” của Thiên Chúa, nơi các bản văn Cựu Ước này,
cũng được phân biệt một cách nào đó với Thiên Chúa là Đấng gửi “hơi thở”
hay “Thần Linh” của Ngài đến để điều hành nơi các tạo vật. Như thế, ngay
cả theo quan điểm văn tự, lư trí con người cũng đă được dần dần sửa soạn
để lănh nhận mạc khải về Ngôi Vị của Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ xuất hiện
như một diễn đạt sự sống nội tại và quyền toàn năng của Thiên
Chúa.
(Đaminh Maria Cao Tấn
Tĩnh, BVL, Bài Giáo Lư thứ 27 của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, chia sẻ
ngày Thứ Tư, 3-1-1990,
trong loạt 80 bài về chủ đề Chúa Thánh Thần)