2. Hội Đồng Giám Mục (26-28)
26. Những điều trên đây cũng được áp dụng cho cả các ủy ban kiểu này do
Hội Đồng Giám Mục thiết lập theo ư muốn của Công Đồng Vaticanô II (61),
những ủy ban có phần tử là các vị Giám Mục, hoàn toàn khác hẳn với những
chuyên viên trợ tá của các vị. Trường hợp không đủ số phần tử thuộc nội bộ
của Hội Đồng Giám Mục cho việc thiết lập một cách hiệu năng ủy ban phụng vụ
này, bấy giờ mới đi đến chỗ bổ nhiệm một hội đồng hay một nhóm chuyên viên,
nhưng bao giờ cũng thuộc quyền chủ tịch của vị Giám Mục, vị hoàn tất vai tṛ
chủ tịch này bao nhiêu có thể, cho dù không mang danh xưng thuộc “ủy ban
phụng vụ”.
27. Ngay từ năm 1970, Ṭa Thánh đă thông báo việc ngưng thực hiện tất cả
mọi thứ thử nghiệm liên quan đến việc cử hành Thánh Lễ (62), và thông báo
này cũng đă được lập lại vào năm 1988 (63). Bởi thế, các vị Giám Mục và Hội
Đồng của các vị không có năng quyền để cho phép thử nghiệm những bản văn
phụng vụ hay những vấn đề khác được qui định trong các sách phụng vụ. Để
thực hiện việc thử nghiệm theo kiểu này trong tương lai, cần phải có phép
của Thánh Bộ Phượng Tự và Bí Tích. Phép này phải có giấy tờ và phải được Hội
Đồng Giám Mục thỉnh nguyện. Thật vậy, phép này không được chấp nhận nếu
không có lư do quan trọng. Đối với những dự án hội nhập văn hóa về các vấn
đề phụng vụ, những qui tắc đă được ấn định phải được triệt để và trọn vẹn
tuân giữ (64).
28. Tất cả mọi qui tắc về phụng vụ được Hội Đồng Giám Mục thiết lập cho
các giáo phận thuộc quyền ḿnh theo luật lệ đều phải tŕnh cho Thánh Bộ
Phượng Tự và Bí Tích để được phê chuẩn, bằng không những qui tắc ấy không có
hiệu lực ǵ hết (65).
3. Các Vị Linh Mục (29-33)
29. Các vị Linh Mục, với tư cách là những công sự viên có khả năng, khôn
ngoan và bất khả thiếu của hàng Giám Mục (66), được kêu gọi để phục vụ Dân
Chúa, mặc dù mang những trách vụ khác nhau, làm nên một hàng giáo sĩ duy
nhất với vị Giám Mục của ḿnh (67). “Ở mỗi một cộng đồng tín hữu địa phương,
một cách nào đó, các vị hiện diện hóa vị Giám Mục là đấng các vị liên kết
bằng niềm tin tưởng và ḷng quảng đại; theo hàng ngũ của ḿnh, các vị chia
sẻ các nhiệm vụ cùng với những mối quan tâm của ngài, và thực hiện những
điều này nơi hoạt động hằng ngày của các vị”. “V́ được tham dự vào Thiên
Chức Linh Mục và sứ vụ ấy, các vị Lnh Mục phải nh́n nhận Giám Mục thực sự
như là người cha của ḿnh và kính cẩn vâng lời ngài” (68). Ngoài ra, “hằng
quan tâm tới thiện ích của con cái Thiên Chúa, các vị cần phải t́m cách góp
phần vào việc mục vụ của toàn giáo phận, thực sự là vào việc mục vụ của toàn
thể Giáo Hội” (69).
30. Phận sự “đặc biệt thuộc các vị Linh Mục trong việc cử hành Thánh Thể”
là một phận sự cao cả, “v́ các vị có trách nhiệm nhân danh Chúa Kitô đóng
vai tṛ chủ tế Thánh Thể và tỏ ra những chứng từ cùng những việc phục vụ mối
hiệp thông, chẳng những cho cộng đồng dân Chúa trực tiếp tham phần vào việc
cử hành, mà c̣n cho Giáo Hội hoàn vũ, một mối hiệp thông bao giờ cũng được
thể hiện nơi việc cử hành Thánh Thể. Ở đây cần phải than tiếc, nhất là những
năm sau cuộc canh tân phụng vụ hậu Công Đồng Vaticanô II, v́ hậu quả của một
cảm quan sáng tạo và thích ứng lầm lẫn, đă xẩy ra một số những thứ lạm dụng
từng trở thành nguyên cớ gây khổ tâm cho nhiều người” (70).
31. Để giữ những lời hứa long trọng được tuyên thệ trong nghi thức Chịu
Chức Thánh và được lập lại mỗi năm trong Thánh Lễ Truyền Dầu, các vị Linh
Mục hăy cử hành “các mầu nhiệm của Chúa Kitô một cách sốt sắng và trung thực
để chúc tụng Thiên Chúa và thánh hóa dân Kitô hữu, theo truyền thống của
Giáo Hội, nhất là về Hiến Tế Thánh Thể và Bí Tích Ḥa Giải” (71). Các vị
không được lệch lạc khỏi ư nghĩa sâu xa nơi thừa tác vụ của các vị bằng cách
làm hư hoại việc cử hành phụng vụ, ở chỗ thay đổi hay bỏ đi hoặc chủ quan
thêm thắt (72). V́ như Thánh Ambrôsiô nói: “Không phải là ở nơi chính ḿnh….
mà là nơi chúng ta Giáo Hội đă bị tổn thương. Chúng ta hăy coi chừng đừng để
cho việc bại hoại của chúng ta gây tổn thương Giáo Hội” (73). Vậy đừng để
cho Giáo Hội Chúa bị tổn thương bởi các vị Linh Mục đă trân trọng dấn thân
sống thừa tác vụ của các vị. Thật vậy, dựa vào thẩm quyền của vị Giám Mục,
chớ ǵ các vị luôn t́m cách ngăn ngừa những người khác nữa khỏi gây ra những
thứ lệch lạc này.
32. “Chớ ǵ vị Linh Mục Giáo Xứ cố gắng để làm sao cho Thánh Thể Cực
Linh trở thành tâm điểm của cộng đồng tín hữu giáo xứ; chớ ǵ ngài hoạt động
để làm sao bảo đảm được rằng tín hữu Chúa Kitô được nuôi dưỡng bằng việc sốt
sắng cử hành các Bí Tích, nhất là được thường xuyên lănh nhận Thánh Thể Cực
Linh và Bí Tích Ḥa Giải; thêm vào đó, chớ ǵ ngài bảo đảm được rằng người
tín hữu biết hăng hái cầu nguyện trong gia đ́nh của họ nữa, và tham dự một
cách ư thức và chủ động vào Phụng Vụ Thánh là vấn đề mà vị Linh Mục Giáo Xứ,
theo thẩm quyền của vị Giám Mục giáo phận, buộc phải điều hành và coi chừng
trong giáo xứ của ḿnh hầu ngăn ngừa không để xẩy ra những thứ lạm dụng”
(74). Mặc dù ngài cần phải được các phần tử khác nhau thuộc thành phần tín
hữu Chúa Kitô giúp đỡ một cách thích hợp vào việc sửa soạn cho tốt đẹp những
việc cử hành phụng vụ, ngài vẫn không được nhường cho họ một cách nào đó nơi
những điều chỉ xứng hợp cho phần vụ của riêng ngài.
33. Sau hết, tất cả mọi “vị Linh Mục đều phải đi đến chỗ hăng say gieo
văi một cách thích hợp những kiến thức và khả năng phụng vụ của các vị, để
qua thừa tác vụ về phụng vụ của các vị, Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần
được chúc tụng một cách tuyệt diệu hơn bao giờ hết bởi cộng đồng Kitô hữu
được trao phó cho các vị” (75). Nhất là chớ ǵ các vị được đầy những cảm
thức ngất ngây là những ǵ Mầu Nhiệm Vượt Qua, khi được cử hành, thấm nhập
vào tâm can tín hữu (76).
4. Các Vị Phó Tế (34-35)
34. Các Vị Phó Tế, “được đặt tay không phải để lănh chức Linh Mục mà là
để phục vụ” (77), với tư cách là những con người có danh thơm tiếng tốt
(78), cần phải tác hành một cách, nhờ ơn Chúa giúp, họ được công nhận là
những người môn đệ thực sự (79) của Đấng “đến để phục vụ chứ không phải để
được phục vụ” (80), và là Đấng ở giữa các môn đệ “như một người phục dịch”
(81). Được củng cố bằng tặng ân Thánh Thần qua việc đặt tay, họ thực hiện
việc phục vụ Dân Chúa trong mối hiệp thông với vị Giám Mục và hàng giáo sĩ
của ngài (82). Bởi thế, họ phải coi Đức Giám Mục như cha, và giúp đỡ ngài
cũng như các vị Linh Mục “trong thừa tác vụ lời Chúa, bàn thờ và bác ái”
(83).
35. Chớ ǵ họ đừng bao giờ thôi, “như Thánh Tông Đồ nói, nắm vững mầu
nhiệm đức tin với một lương tâm minh bạch (84), và rao giảng đức tin này
bằng lời nói cũng như bằng việc làm theo Phúc Âm cũng như theo truyền thống
của Giáo Hội” (85), trong việc nhiệt tâm, trung thành và khiêm tốn phục vụ
Phụng Vụ Thánh là nguồn mạch và là tột đỉnh của đời sống giáo hội, “nhờ đó,
tất cả mọi người, được trở thành con cái Thiên Chúa bởi đức tin và Phép Rửa,
có thể hiệp nhất qui tụ lại với nhau, bằng việc chúc tụng Thiên Chúa giữa
ḷng Giáo Hội, để tham dự vào Hy Tế và Bữa của Chúa” (86). Bởi thế, chớ ǵ
tất cả mọi Phó Tế hăy thực hiện phần vụ của ḿnh hầu Phụng Vụ Thánh được cử
hành theo các qui tắc của các sách phụng vụ được chuẩn nhận thích đáng.