| |

ĐỨC THÁNH CHA BIỂN
ĐỨC XVI
Khoa Giáo Hội Học
Hiệp Thông của Công Đồng Chung Vaticanô II
ĐHY Joseph
Ratzinger, Tổng Trưởng Thánh Bộ Đức Tin
Bài Mở Đầu cho
Hội Nghị Mục Vụ Giáo Phận Aversa Ư Quốc chiều ngày 15/9/2001
Chuyển dịch từ
tuần san L’Osservatore Romano,
ấn bản Anh Ngữ,
N.4- 23/1/2002, trang 5-7
gay sau Thế Chiến I,
Romano Guardini đă tạo ra một lời phát biểu chẳng mấy chốc trở thành khẩu hiệu
cho những người Công Giáo Đức, đó là câu: “Một biến cố hết sức quan trọng đang
xẩy ra: Giáo Hội đang tỉnh giấc trong các tâm hồn”. Kết quả của việc tỉnh giấc
này cuối cùng là Công Đồng Chung Vaticanô II. Qua những văn kiện khác nhau của
ḿnh, Công Đồng này đă bày tỏ và làm nên một phần gia sản cho toàn thể Giáo Hội
những ǵ, trong 4 thập niên (1920-1960) dậy men và hy vọng, đă chín mùi kiến
thức có được bởi đức tin. Để hiểu được Công Đồng Chung Vaticanô II người ta cần
phải nh́n lại giai đoạn này và t́m cách thấy được, ít là tổng quát, những trào
lưu và chiều hướng cùng hội tụ lại nơi Công Đồng này. Tôi sẽ tŕnh bày cho thấy
những tư tưởng đă đi tiên phong trong giai đoạn này, sau đó sẽ diễn tả những yếu
tố chính yếu nơi giáo huấn của Công Đồng về Giáo Hội.
I.- Giáo Hội là
Thân Ḿnh Chúa Kitô
1) H́nh Ảnh Nhiệm
Thể
“Giáo Hội đang tỉnh
giấc trong các tâm hồn”. Lời diễn tả này của Guardini đă được khéo léo công thức
hóa, v́ tận kỳ cùng th́ nó được công nhận và nghiệm thấy Giáo Hội như là một cái
ǵ đó ở trong chúng ta, chứ không phải là một cơ cấu ở ngoài chúng ta mà là một
cái ǵ đó sống trong chúng ta.
Nếu cho tới khi ấy
chúng ta vốn nghĩ rằng Giáo Hội căn bản là một cơ cấu hay một tổ chức, th́ bấy
giờ, chúng ta cuối cùng cũng đă ư thức được rằng chính chúng ta là Giáo Hội nữa.
Giáo Hội c̣n hơn là một tổ chức: Giáo Hội là một cơ chế của Thánh Linh, một cái
ǵ đó sống động, chi phối thâm tâm của chúng ta. Ư thức này đă được diễn tả bằng
ngôn từ diễn tả quan niệm “Nhiệm Thể Chúa Kitô”, một cụm từ nói lên cho thấy một
thứ cảm nghiệm mới mẻ và thanh thoát về Giáo Hội. Vào cuối cuộc đời của ḿnh,
trong cùng năm Công Đồng ban hành Hiến Chế về Giáo Hội, Gardini đă viết thế này:
Giáo Hội “không phải là một cơ cấu do con người phát minh và thiết dựng… mà là
một thực tại sống động… Giáo Hội vẫn sống qua gịng thời gian. Như tất cả mọi
thực tại sống động, Giáo Hội cũng phát triển, cũng đổi thay… song tự bản chất
sâu xa của ḿnh, Giáo Hội vẫn không thay đổi; trọng tâm của Giáo Hội là Chúa
Kitô… Nếu chúng ta thấy Giáo Hội như là một tổ chức… như là một hiệp hội…. chúng
ta chưa tiến đến chỗ thật sự hiểu được Giáo Hội. Giáo Hội thật ra là một thực
tại sống động và mối liên hệ giữa chúng ta với Giáo Hội phải là sự sống” (La
Chiesa del Signore [Giáo Hội của Chúa]; Morcelliana, Brescia 1967, p. 160).
Ngày nay, khó ḷng
nói lên được cái hào hứng và niềm vui mừng phát xuất từ sự nhận thức này vào lúc
bấy giờ. Trong kỷ nguyên của chủ nghĩa giải phóng trước Thế Chiến Thứ Nhất, Giáo
Hội Công Giáo được quan niệm như là một thứ tổ chức hóa thạch, ngang bướng chống
lại tất cả mọi thứ thành đạt tân thời. Thần học đă quá chú trọng tới vấn đề
thượng quyền để làm cho Giáo Hội hiện lên thật sự như là một tổ chức tập trung,
đến nỗi người ta dường như trung thành bênh vực chỉ những ǵ liên hệ đến bề
ngoài mà thôi. Một lần nữa, vấn đề đă trở nên rơ ràng là Giáo Hội c̣n hơn thế
nữa – Giáo Hội là một cái ǵ đó được tất cả chúng ta làm thăng tiến trong đức
tin bằng một đường lối sống động, cũng như Giáo Hội làm cho chúng ta thăng tiến
vậy. Thật ra Giáo Hội đă nghiệm thấy được việc phát triển về cơ cấu qua nhiều
thế kỷ, và tiếp tục phát triển cho tới ngày nay. Qua Giáo Hội, mầu nhiệm Nhập
Thể vẫn c̣n tồn tại tới ngày nay: Chúa Kitô vẫn tiếp tục chuyển động qua gịng
thời gian. Nếu chúng ta tự đặt vấn đề yếu tố nào hiện diện ngay từ ban đầu vẫn
c̣n được thấy nơi Công Đồng Chung Vaticanô II, lời giải đáp cho chúng ta đó là
câu Giáo Hội định nghĩa về Kitô Học. J.A. Mohler, một nhà lănh đạo việc phục
hưng thần học Công Giáo bị tàn phá bởi Thời Minh Tri, có lần đă nói rằng: một
thứ thần học sai lạc có thể bị bêu diễu bằng câu ngắn ngủi này: “Từ ban đầu Chúa
Kitô đă thiết lập phẩm trật và bởi đó đă trọn vẹn chăm sóc cho Giáo Hội đến ngày
cùng tháng tận rồi”. Ngược lại với quan niệm này là sự kiện Giáo Hội là một
Nhiệm Thể; Chúa Kitô và việc Người thiết lập Giáo Hội không bao giờ cùng song
luôn mới mẻ. Trong Giáo Hội, Chúa Kitô không bao giờ chỉ thuộc về quá khứ mà
thôi, Người bao giờ cũng là và trên hết là hiện tại và tương lai. Giáo Hội là sự
hiện diện của Chúa Kitô: Người đồng thời với chúng ta và chúng ta là những người
đương thời của Người. Giáo Hội sống là ở chỗ này, ở chỗ Chúa Kitô hiện diện
trong tâm hồn của chúng ta và chính nơi đó Người h́nh thành Giáo Hội của Người.
Đó là lư do tại sao nguyên khởi của Giáo Hội là Chúa Kitô chứ không phải chính
Giáo Hội. Giáo Hội lành mạnh ở chỗ Giáo Hội dồn mọi chú tâm vào Người. Công Đồng
Chung Vaticanô II đă khéo đặt quan niệm này ở chỗ móc nối cho những cân nhắc của
ḿnh; bản văn nền tảng về Giáo Hội này được mở đầu bằng những lời lẽ Lumen
gentium cum sit Christus: “v́ Chúa Kitô là Ánh Sáng Thế Gian… Giáo Hội là
gương soi vinh quang của Người; Giáo Hội phản ánh rạng ngời của Người”. Nếu
chúng ta muốn hiểu được Công Đồng Chung Vaticanô II một cách đúng đắn, chúng ta
luôn phải trở về với lời phát biểu mở đầu này…
Tiếp đến, từ khởi
điểm ấy, chúng ta cần phải nắm được cả tính chất nội tại của Giáo Hội lẫn bản
chất thông đạt của Giáo Hội nữa. Giáo Hội phát triển từ bên trong và hường ngoại
chứ không ngược lại. Trước hết, Người là dấu hiệu của mối hiệp thông mật thiết
nhất với Chúa Kitô.. Giáo Hội được h́nh thành chính yếu là ở đời sống nguyện cầu,
ở các bí tích cũng như ở những thái độ tin, cậy, mến sâu xa. Bởi thế nếu có ai
hỏi tôi cần phải làm những ǵ để trở nên Giáo Hội và để phát triển như Giáo Hội
th́ câu trả lời phải như thế này: quí vị phải trở nên một con người sống đức
tin, cậy và mến. Cái xây dựng Giáo Hội là việc cầu nguyện và mối hiệp thông của
các bí tích; nơi các bí tích lời cầu nguyện của Giáo Hội gặp gỡ chúng ta. Kỳ hè
vừa rồi tôi đă gặp một linh mục giáo xứ nói với tôi rằng giáo xứ của ngài chưa
hề có được một ơn gọi linh mục nào từ nhiều năm qua. Vị linh mục ấy cần phải làm
ǵ? Chúng ta không thể sản xuất ra các ơn gọi, Chúa mới là Đấng tạo nên các ơn
gọi. Như thế chẳng lẽ chúng ta cứ chực chờ một cách vô dụng hay sao? Vị linh mục
này đă quyết định hằng năm thực hiện một cuộc hành hương, một cuộc hành hương xa
xôi và khó nhọc đến Đền Thánh Mẫu Altotting để cầu xin cho các ơn gọi, đồng thời
cũng kêu mời những ai có cùng chí nguyện với ngài cùng ngài hành hương và chung
lời cầu nguyện. Từ năm này qua năm khác, con số tham dự vào cuộc hành hương gia
tăng cho đến cuối cùng, năm nay, cả làng hết sức vui mừng cử hành Thánh Lễ đầu
tiên được vị linh mục phát xuất từ giáo xứ này dâng…
Giáo Hội phát triển
từ bên trong: đó là ư nghĩa của lời diễn tả “Thân Ḿnh Chúa Kitô”. Cụm từ này
c̣n hàm ư hơn thế nữa, ở chỗ Chúa Kitô đă h́nh thành cho Người một thân ḿnh.
Nếu tôi muốn t́m Người và biến Người thành của tôi, tôi liền được kêu gọi trở
thành một phần thể bé nhỏ, hoàn toàn và trọn vẹn của Thân Ḿnh Người, và việc
trở thành một trong những phần thể của Người, trở thành một bộ phận của Thân
Ḿnh Người trên thế gian này, tôi sẽ đời đời là như thế. Tư tưởng của thần học
giải phóng cho rằng trong khi Chúa Giêsu tự ḿnh thoải mái th́ Giáo Hội lại là
một thực tại khốn khổ, là tư tưởng hoàn toàn trái nghịch với ư thức ấy. Chúa
Kitô chỉ ban phát Ḿnh trong thân thể của Người mà thôi, chứ không bao giờ lại
là một thứ thuần lư tưởng. Nghĩa là Người trao ban Bản Thân Người cùng với những
thứ khác, nơi một mối hiệp thông bất gián đoạn kéo dài qua năm tháng và là chính
Thân Ḿnh của Người. Điều này có nghĩa rằng Giáo Hội không phải là một tư tưởng,
Giáo Hội là một Thân Thể. Cái vấp phạm trước việc trở thành nhục thể nơi biến
cố nhập thể của Chúa Giêsu vốn xẩy ra nơi rất nhiều người đương thời của Người
đă được tái diễn nơi “đặc tính gây vấp phạm” của Giáo Hội. Trong trường hợp này,
lời của Chúa Giêsu vẫn có giá trị: “Phúc cho kẻ nào không v́ Ta mà vấp phạm”.
Bản chất thông đạt
của Giáo Hội cần phải bao gồm cả đặc tính “chúng ta” của Giáo Hội. Giáo Hội
không phải là một cái ǵ ở đâu đó tách khỏi chúng ta, chính chúng ta là thành
phần làm nên Giáo Hội. Không một người nào có thể nói “tôi là Giáo Hội”, nhưng
mỗi người trong chúng ta có thể và phải nói “chúng tôi là Giáo Hội”. Cái “chúng
ta” không tiêu biểu cho một nhóm biệt lập mà là một nhóm hiện hữu trong toàn thể
cộng đồng của tất cả mọi phần tử của Giáo Hội, c̣n sống cũng như đă qua đời. Đó
là lư do một nhóm có thể thực sự nói: “chúng tôi là Giáo Hội”. Giáo Hội là ở chỗ
này, ở chỗ “chúng tôi” phổ quát xóa bỏ đi những biên giới xă hội và chính trị,
cả biên giới giữa trời và đất nữa. Chúng ta là Giáo Hội. Điều này làm phát sinh
một thứ đồng trách nhiệm cũng như khả năng hợp tác theo cá thể. Ư thức này đă
làm nẩy sinh quyền được b́nh phẩm nhưng việc b́nh phẩm của chúng ta trước hết
phải là tự b́nh phẩm bản thân ḿnh. Chúng ta cần lập lại là Giáo Hội không “ở
một nơi nào đó”; hay Giáo Hội là một “người nào đó”. Chính chúng ta xây dựng
Giáo Hội. Những tư tưởng này đă chín mùi và đă dẫn thẳng tới Công Đồng Chung
Vaticanô II. Hết mọi điều được nói về trách nhiệm chung của giáo dân, cùng với
những h́nh thức pháp lư được thiết định để làm dễ dàng cho việc thi hành trách
nhiệm chung này một cách rơ ràng, đều là thành quả của luồng tư tưởng ấy.
Sau hết, quan niệm
về việc phát triển và v́ thế về cả năng động lịch sử của Giáo Hội đều có liên hệ
với vấn đề này. Một thân thể tự nó vẫn c̣n nguyên theo gịng đời bởi sự kiện là
nó luôn canh tân ḿnh theo tiến tŕnh của sự sống. Đối với vị đại Hồng Ư Người
Anh Newman th́ tư tưởng về việc phát triển là một chiếc cầu thực sự và xứng hợp
dẫn đến biến cố trở lại Công Giáo của ngài. Tôi tin rằng tư tưởng về việc phát
triển thuộc về nhiều quan niệm nền tảng của Công Giáo chưa hoàn toàn được khai
triển. Một lần nữa, chúng ta phải biết ơn Công Đồng Chung Vaticanô II v́ công
đồng này cũng đă long trọng thiết lập công thức về tư tưởng này trong một văn
kiện chính thức của Huấn Quyền. Ai chỉ muốn thắt kết ḿnh với những dẫn giải
theo nghĩa đen về Thánh Kinh hay với những thể thức về Giáo Hội của các Giáo Phụ
là bắt Chúa Kitô giam giữ vào “ngày hôm qua”. Hậu quả xẩy ra, một là đức tin
hoàn toàn tàn héo không có ǵ để nói với thời đại của chúng ta đây, hai là cao
ngạo cho rằng ḿnh có quyền qua mặt 2 ngàn năm lịch sử, gán ghép cho những tháng
năm lịch sử ấy như một thùng rác chất đầy những lỗi lầm, và cố gắng xem làm cách
náo để Kitô giáo xứng hợp với Thánh Kinh hay với Chúa Giêsu. Thành quả duy nhất
khả đạt sẽ là một thứ sáng chế nhân tạo do chính chúng ta thực hiện, làm trống
rỗng tất cả những ǵ là nhất trí. Căn tính đích thực được bắt đầu từ Chúa Kitô
chỉ khả hữu chỉ khi nào có đươc một sự liên tục sống động làm phát triển cái ban
đầu ấy và thực sự bảo tŕ được cái ban đầu này bằng việc phát triển ấy.
(c̣n tiếp)
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

|
|