NGƯỜI TÔNG ĐỒ CỦA L̉NG THƯƠNG XÓT CHÚA

 

 

 

Đ

ó là lư do, khi ngài nằm xuống, những vị thân cận ngài nhất đă thấy được mối liên hệ mật thiết giữa bản thân ngài nói riêng và giáo triều ngài nói chung với Ḷng Thương Xót Chúa.

 

Trong bài giảng của ḿnh vào sáng Chúa Nhật II Phục Sinh kính Chúa T́nh Thương, 3/4/2005, cũng là lễ cầu hồn cho ngài tại Quảng Trường Thánh Phêrô, trước 30 ngàn người tham dự, ĐHY Angelo Sodano, đă bày tỏ cảm nhận của ḿnh về vị giáo hoàng mà đức hồng y này được làm quốc vụ khanh với những điểm chính yếu tiêu biểu như sau:

 

“Khi chúng ta khóc thương về cái chết của vị Giáo Hoàng đă ĺa bỏ chúng ta ấy, chúng ta hướng ḷng ḿnh về viễn ảnh định mệnh đời đời của chúng ta… Chúng ta biết rằng, mặc dù chúng ta là những tội nhân, chúng ta được nâng đỡ bởi t́nh thương của Thiên Chúa Cha là Đấng đợi chờ chúng ta. Đó là ư nghĩa của Lễ Kính Ḷng Thương Xót Chúa hôm nay, một lễ được thiết lập bởi chính vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thân yêu vừa ra đi, như là một trong những di sản của giáo triều ngài, để đề cao khía cạnh an ủi nhất của mầu nhiệm Kitô giáo.

 

“Chúa Nhật này, sẽ là những ǵ cảm kích khi đọc lại một trong những thông điệp tuyệt vời nhất của ngài, đó là thông điệp ‘Giầu Ḷng Thương Xót’ – Dives in Misericordia’, được viết trong năm 1980, năm thứ ba của giáo triều ngài”.

 

Trong bức thông điệp này, vị hồng y quốc vụ khanh ṭa thánh cho biết, Đức Gioan Phaolô II “mời gọi chúng ta hăy nh́n lên Chúa Cha, Đấng ‘là t́nh thương và là Vị Thiên Chúa của mọi niềm ủi an, Đấng an ủi chúng ta trong tất cả mọi ưu phiền đớn đau của chúng ta’”, cũng như nh́n lên “Maria là Mẹ T́nh Thương”.

 

Vị hồng y chủ tế nhấn mạnh rằng vị Giáo Hoàng này đă lập đi lập lại qua nhiều năm “rằng những mối tương liên giữa con người cũng như giữa các dân tộc không thể chỉ được dựa vào công lư mà c̣n phải được hoàn hảo bằng t́nh yêu nhân hậu nữa, một thứ t́nh yêu là tiêu biểu của sứ điệp Kitô giáo. Đó là lư do Đức Gioan Phaolô II đă dẫn dắt Giáo Hội của ngàn năm thứ ba Kitô giáo trở thành một người Samaritanô Nhân Lành mới trên các nẻo đường thế giới, trên các con đường của một thế giới vẫn bị rúng động bởi những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Như thế, vị Giáo Hoàng này đă trở thành một điều khiển viên văn minh yêu thương, khi thấy nơi từ ngữ này là một trong những định nghĩa tuyệt vời nhất về ‘văn minh Kitô giáo’. Phải, văn minh Kitô giáo là văn minh yêu thương, hoàn toàn khác hẳn với những thứ văn minh hận thù, những thứ văn minh trong thế kỷ 20 là hậu quả của rất nhiều ư hệ”.

 

Chớ ǵ vị Giáo Hoàng này, “từ trời cao, hăy luôn nh́n xuống trên chúng ta và giúp chúng ta ‘vượt qua ngưỡng cửa hy vọng’ là những ǵ ngài đă nói rất nhiều với chúng ta. Chớ ǵ sứ điệp của ngài luôn được ghi khắc trong tâm can của con người nam nữ hôm nay. Đức Gioan Phaolô II đă từng lập lại những lời của Chúa Kitô: ‘Con Người đến thế gian không phải để luận phạt thế gian mà để thế gian nhờ Người hầu được cứu độ’”.

 

Vị hồng y chủ tế nhặc lại rằng Đức Gioan Phaolô II “đă truyền bá Phúc Âm hy vọng này trên thế giới, khi kêu gọi tất cả Giáo Hội hăy ôm ấp con người ngày nay, nâng họ lên bằng t́nh yêu cứu độ. Chúng ta hăy lănh nhận công việc tiếp tục sứ điệp của vị đă để lại cho chúng ta và làm cho nó sinh hoa kết trái v́ phần rỗi của thế giới”.

 

Trong bài giảng Thánh Lễ An Táng Thứ Sáu 8/4/2005, tại quảng trường Thánh Phêrô, một lễ an táng lớn nhất lịch sử loài người, với cả mấy triệu người tại Rôma và cả tỉ người trên khắp thế giới theo dơi qua truyền h́nh, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, trưởng Hồng Y Đoàn, cũng đă chia sẻ nhận định của ḿnh về vị giáo hoàng đă luôn muốn đức hồng y giữ vai tṛ là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, như sau:

 

“Hăy theo Thày! Kèm theo lệnh truyền chăm sóc cho đàn chiên của Người, Chúa Kitô c̣n báo cho Phêrô rằng thánh nhân sẽ phải chịu một cái chết tử đạo. Bằng những lời này, những lời kết thúc và tóm tắt cuộc đối thoại về ḷng mến yêu cũng như về lệnh truyền làm chủ chiên hoàn vũ, Chúa Kitô đă nhắc lại một cuộc đối thoại khác đă diễn ra trong Bữa Tiệc Ly. Bấy giờ Chúa Giêsu đă phán: ‘Nơi Thày đi các con không thể nào tới được’ Thánh Phêrô thưa Người rằng: ‘Lạy Thày, Thày đi đâu thế?’ Chúa Giêsu đáp: ‘Nơi Thày đi hiện nay con không thể nào theo Thày nổi đâu; nhưng sau này con sẽ theo Thày’ (Jn 13:33,36). Từ Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đă tiến tới Thập Giá, tiến tới cuộc phục sinh của Người – Người đă đi vào cuộc vượt qua của Người; và Thánh Phêrô chưa thể nào theo được Người. Giờ đây, sau cuộc phục sinh, thời giờ ấy đă đến, thời điểm ‘sau này’ đă đến. Bằng việc chăn dắt đàn chiên của Chúa Kitô, Thánh Phêrô đă đi vào mầu nhiệm vượt qua, thánh nhân đă tiến về phía thập tự giá và về cuộc phục sinh. Chúa Kitô đă nói về điều này bằng những lời: ‘… khi con c̣n trẻ, con thường tự ḿnh thắt lưng lấy và đi đâu tùy ư con muốn’ (Jn 21:18). Trong những năm đầu của giáo triều ḿnh, những năm c̣n trẻ trung và đầy nhiệt huyết, Đức Thánh Cha đă đi đến tận cùng trái đất theo sự dẫn dắt của Chúa Kitô. Thế nhưng sau đó, ngài càng ngày càng đi sâu vào cuộc hiệp thông khổ đau với Chúa Kitô; càng hiểu được sự thật của những lời này: ‘Người ta sẽ thắt lưng cho con’. Và trong chính cuộc hiệp thông đau khổ này với Chúa Kitô một cách liên tục và càng gia tăng hơn, ngài đă loan báo Phúc Âm, loan báo mầu nhiệm về một t́nh yêu thương cho đến cùng tận (x Jn 13:1).

 

“Ngài đă giải thích cho chúng ta mầu nhiệm vượt qua như là một mầu nhiệm của ḷng thương xót Chúa. Trong tác phẩm cuối cùng của ḿnh, ngài đă viết: Cái giới hạn áp đặt trên sự dữ ‘tối hậu là Ḷng Thương Xót Chúa’ (Hồi Niệm và Căn Tính, trang 60-61). Và khi suy nghĩ về biến cố mạng sống ngài bị cố sát, ngài đă nói: ‘Trong việc hy hiến ḿnh cho tất cả chúng ta, Chúa Kitô đă cống hiến cho đau khổ một ư nghĩa mới, mở ra một chiều kích mới, một trật tự mới, đó là trật tự của yêu thương… Chính cái đau khổ này đốt cháy và thiêu rụi đi sự dữ bằng ngọn lửa yêu thương và rút ran gay từ tội lỗi cả một cuộc bừng nở đầy những thiện hảo’ (cùng nguồn, trang 189-190). Được thôi thúc bởi nhăn quan ấy, vị Giáo Hoàng này đă chịu đựng khổ đau và đă yêu qúi việc hiệp thông với Chúa Kitô, nên đó là lư do tại sao sứ điệp về khổ đau của ngài cùng việc thinh lặng của ngài là những ǵ thất là sống động và hiệu năng.

 

“Ḷng Thương Xót Chúa: Đức Thánh Cha đă thấy được cái phản ảnh thuần khiết nhất của t́nh thương Thiên Chúa nơi Người Mẹ Thiên Chúa. Ngài là người đă mồ côi mẹ từ nhỏ đă càng tỏ ra kính mến người mẹ thần linh này hơn nữa. Ngài đă nghe thấy những lời của Chúa Kitô tử giá như là lời nói với riêng ngài: ‘Này là Mẹ của con’. Bởi thế, ngài thực hiện như người môn đệ yêu dấu đă làm, đó là ngài đă đem Mẹ về nhà của ngài (eis ta idia: Jn 19:27) – ‘Totus Tuus – tất cả của con là của Mẹ’. Và từ người mẹ này, ngài đă học nên giống Chúa Kitô”.

 

ĐGM Renato Boccardo, mới đây được bổ nhiệm làm tổng thư kư cho Quốc Đô Vatican, đă hướng dẫn tín hữu cầu nguyện ở Quảng Trường Thánh Phêrô sau lời loan báo về cái chết của Đức Giáo Hoàng. Vị giám mục này đă gọi Đức Gioan Phaolô II là “vị tông đồ của t́nh thương”. Trong cuộc phỏng vấn với Zenit, vị giám mục này đă chứng tỏ nhận định này của ḿnh qua những câu vấn đáp sau đây:

 

“Vấn:   Ở cuộc tĩnh tâm cho các linh mục trên thế giới (được dự trù vào ngày 20-24/6 ở Krakow Balan), đức cha đă được mời để nói về Đức Giáo Hoàng này như là một vị tông đồ của t́nh thương. Vị Giáo Hoàng này là một tông đồ t́nh thương ở chỗ nào?

 

“Đáp:   Tôi nghĩ rằng trong gần 27 năm trời của giáo triều ḿnh, vị Giáo Hoàng này đă là một vị tông đồ t́nh thương ở hai lănh vực.

 

“Trước hết là qua giáo huấn của ḿnh được ban bố qua những văn kiện khác nhau, nhất là qua thông điệp ‘Giầu Ḷng Thương Xót – Dives in Misericordia’ của ngài. Thế nhưng, đồng thời cũng qua cả chiều kích thứ hai nơi các hành vi cử chỉ của ngài nữa. Chính hành vi cử chỉ của ngài mới là những ǵ tồn tại nơi kư ức và lương tâm của Giáo Hội hơn cả lời ngài nói nữa.

 

“Tôi nghĩ tới việc ngài tha thứ cho kẻ ám sát ngài rồi đến viếng thăm anh ta trong tù. Tôi nghĩ đến việc ngài gắn bó nhiều lần được tỏ ra với tất cả những ai đặc biệt cần đến Ḷng Thương Xót Chúa. Tức là thành phần bị hội chứng liệt kháng, thành phần già lăo bị bỏ rơi, thành phần bệnh nhân nói chung.

 

“Tôi nghĩ tới ngài vào Thứ Sáu Tuần Thánh ở Đền Thờ Thánh Phêrô, tiếp nhận những người hành hương nơi bí tích cáo giải, một dụng cụ cao cả nhất của t́nh thương Thiên Chúa.

 

“Đối với tôi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă liên kết lời nói và việc làm xót thương lại với nhau. Một t́nh thương được tỏ hiện ngay ở cử chỉ chăm sóc, lắng nghe, qua cách ngài chăm chú nh́n vào những ai khổ đau.

“Tôi nghĩ đến mẫu gương t́nh thương, một mẫu gương cống hiến cơ hội thứ tha trong Đại Năm Thánh 2000. Bởi thế, qua con người của ḿnh cũng như qua giáo huấn của ḿnh, Vị Giáo Hoàng này đă nhắc nhở Giáo Hội chiều kích sâu xa này của đời sống Kitô giáo.

 

“Vấn:   Đức Gioan Phaolô II đă nói: “T́nh Thương là hy vọng duy nhất cho thế giới này”. Tại sao ngài lại quá quan trọng Ḷng Thương Xót Chúa đối với tương lai của thế giới này như thế?

 

“Đáp:   Thế giới hậu tân tiến và tân tiến của chúng ta đây dường như đă hết sức cảm thấy được việc cố gắng cải tiến đời sống của ḿnh nhờ tiến bộ khoa học và kỹ thuật, song vẫn tiếp tục trải qua một t́nh trạng bần cùng khổng khiếp. Chúng ta hăy nhớ lại những lời Phúc Âm: Có lợi ích ǵ cho con người trong việc chiếm được cả thế gian mà lại mất chính linh hồn ḿnh?

 

“Mà thế giới tân tiến của chúng ta đây, rất phong phú về những khám phá khoa học và kỹ thuật, lại thấy ḿnh bị bí tắc trong việc t́m kiếm ư nghĩa cho việc hiện hữu của chính ḿnh. Nó cảm thấy bản thân ḿnh bị phân rẽ nội tâm, bị chi phối bởi hận thù, chiến tranh và chết chóc, và chiến đấu để t́m được sức mạnh cùng với lư do để sống và hy vọng. 

 

“Và Kitô hữu chúng ta tin rằng lư do của chúng ta và niềm hy vọng của chúng ta cho việc hiện hữu được t́m thấy nơi trái tim của Thiên Chúa mà thôi. Bởi thế mà thế giới hậu tân tiến của chúng ta, một thế giới bị ch́m đắm trong cảnh bần cùng của ḿnh, cần phải nghe hơn bao giờ hết việc loan báo ân sủng và t́nh thương từ trời cao.

 

Vấn:   Lễ Chúa T́nh Thương đă tác dụng ra sao, nếu có, trên đời sống của Giáo Hội?

 

“Đáp:   Trước hết, tôi tin rằng lễ Chúa T́nh Thương là một tặng vật Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă cống hiến cho Giáo Hội, khi ngài thiết lập lễ này vào Chúa Nhật thứ nhất sau Lễ Phục Sinh, một tặng vật có lẽ để đáp ứng với nhu cầu của thế giới hơn bao giờ hết đang cảm thấy cần đến ḷng xót thương và t́nh nhân ái.

 

“Và chúng ta biết rằng nguồn mạch, suối nguồn t́nh thương và ḷng nhân ái ở nơi con tim của Thiên Chúa. Vấn đề cần là, như vị Giáo Hoàng này đă nói đến một số lần, Giáo Hội càng ngày càng phải trở thành thừa tác viên cho t́nh thương và ḷng lành này của Thiên Chúa.

 

“Bởi vậy, giờ đây, bằng việc công bố một ngày đặc biệt giành cho việc cử hành và loan báo t́nh thương của Thiên Chúa, Đấng qua hy tế của Chúa Kitô đă vươn tới tất cả loài người, ngày nay đă trở thành một hoạt động truyền bá phúc âm hóa.

 

“Vấn:   Tại sao Đức Thánh Cha đă đặt lễ Chúa T́nh Thương quá sát với Lễ Phục Sinh như vậy?

 

“Đáp:   Việc cử hành T́nh Thương Chúa vào Chúa Nhật thứ nhất sau Lễ Phục Sinh, tôi có thể nói, là việc tái xác nhận tính cách cao cả của mầu nhiệm Phục Sinh. Thiên Chúa Cha muốn cứu độ nhân loại đă sai Con Ngài đến. Và Con của Ngài đă hiến mạng sống ḿnh v́ nhân loại. Bởi thế, điều ấy có nghĩa là ǵ nếu không phải là t́nh thương của Thiên Chúa?”

 

Chính v́ ư thức được:

1.       ‘Nhân loại sẽ không bao giờ t́m thấy ḥa b́nh, cho đến khi họ tin tưởng quay về với Ḷng Thương Xót Chúa’ (Diary, trang 132). Ḷng Thương Xót Chúa! Đó là quà tặng Phục Sinh Giáo Hội đă nhận được từ Chúa Kitô phục sinh để cống hiến cho loài người vào lúc rạng động của một thiên kỷ” (bài giảng Lễ Chúa T́nh Thương 2001, như được trích dẫn trên đây).

 

2.       “Hôm nay đây chúng ta dường như được kêu gọi đặc biệt để loan báo sứ điệp này trước thế giới. Chúng ta không thể lơ là với sứ vụ này, nếu chính Thiên Chúa đă kêu gọi chúng ta thực hiện sứ vụ này qua chứng từ của Thánh Nữ Faustina. Thiên Chúa đă chọn thời đại của chúng ta cho mục đích này” (bài giảng Lễ Phong Chân Phước cho 4 vị đồng hương Balan năm 2002, như được trích dẫn trên đây).

 

3.       Sứ điệp t́nh yêu nhân hậu cần được vang vọng một cách mạnh mẽ một lần nữa. Thế giới cần đến thứ t́nh yêu này. Đă đến thời giờ cần phải mang sứ điệp của Chúa Kitô đến cho mọi người: cho các kẻ trị v́ và thành phần bị áp bức, cho những ai có bản tính và phẩm vị bị tiêu ma trong mầu nhiệm lỗi lầm. Đă đến thời giờ sứ điệp Ḷng Thương Xót Chúa có thể làm cho các tâm hồn tràn đầy hy vọng và trở nên tia sáng cho một nền văn minh mới, một nền văn minh yêu thương” (bài giảng Lễ Phong Chân Phước cho 4 vị đồng hương Balan năm 2002, như được trích dẫn trên đây).

 

Mà “tia sáng phát hiện từ Balan” Karol Wojtyla Gioan Phaolô II này, một tia sáng được Chúa Giêsu cho biết là “để sửa soạn thế giới cho lần đến cuối cùng của Cha”, mới trở thành vị giáo hoàng của “Giáo Hội trong thế giới tân tiến” (nội dung của Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội ‘Gaudium et Spes’), mới là vị giáo hoàng của riêng Giáo Hội Công giáo song lại là vị giáo hoàng cho chung toàn thể nhân loại. Đó là lư do, sau khi vĩnh viễn nằm xuống, ngài đă trở thành một vĩ nhân của cả lịch sử Giáo Hội lẫn lịch sử thế giới trong thời hậu bán thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 mở màn cho đệ tam thiên kỷ Kitô giáo. Lịch sử thế giới làm sao có thể bỏ qua không ghi nhận những ǵ ngài đă dấn thân hoạt động để xây dựng cho công lư và ḥa b́nh trên thế giới trong suốt 26 năm rưỡi, với tư cách là vị lănh đạo tối cao của riêng Giáo Hội Công giáo và của chung thế giới Kitô giáo. Chẳng hạn 4 việc xót thương điển h́nh ngài đă thực hiện sau đây:

 

1.      Về chính trị: Góp phần vào việc làm sụp đổ khối Cộng Sản Đông Âu;

 

2.      Về công lư: Vận động ḥa b́nh thế giới, đặc biệt ở Trung Đông, nhất là ở Iraq;

 

3.      Về kinh tế: Đề nghị băi nợ quốc tế hay ít là giảm nợ quốc tế;

 

4.      Về văn hóa: Tranh đấu bảo vệ sự sống con người và hủy bỏ án tử h́nh;

 

5.      Về luân lư: Tranh đấu chống lại mưu đồ toàn cầu hóa chính sách phá thai ở Hội Nghị Dân Số 1994;

 

6.      Về đạo lư: Công khai xin lỗi và thứ lỗi.