Phục Vụ Cho Mối Hiệp Thông
ĐTC Biển Đức
XVI - Bài Giáo Lư Giáo Hội Hiệp Thông 4 ngày 5/4/2008
Anh Chị Em
thân mến:
Trong loạt bài
giáo lư mới được chúng ta bắt đầu mấy tuần trước, chúng ta muốn cứu xét tới
nguồn gốc của Giáo Hội để hiểu được dự án nguyên thủy, nhờ đó hiểu được
những ǵ là chính yếu nơi Giáo Hội, một Giáo Hội đang tồn tại qua gịng thời
gian. Chúng ta cũng muốn hiểu được lư do tại sao chúng ta lại thuộc về Giáo
Hội, nhờ đó chúng ta phải làm sao để dấn thân sống Giáo Hội vào lúc mở màn
cho tân thiên kỷ Kitô Giáo này.
Suy nghĩ về
Giáo Hội sơ khai, chúng ta khám phá thấy hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất
được mănh liện đề cao bởi Thánh Irenaeus Thành Lyon, đại thần học gia tử đạo
vào cuối thế kỷ thứ hai, vị đầu tiên lưu lại cho chúng ta một khoa thần học
ở một nghĩa nào đó.
Thánh Irenaues
viết: ‘Giáo Hội ở đâu th́ Thần Linh Thiên Chúa ở đó; và Thần Linh Chúa ở đâu
th́ ở đó có Giáo Hội cùng với tất cả mọi ân sủng, v́ Thần Linh là chân lư’
("Adversus Haereses," III, 24, 1: PG 7, 966). Bởi thế, có một mối liên hệ
sâu xa giữa Thánh Thần và Giáo Hội. Thánh Thần xây dựng Giáo Hội và ban cho
Giáo Hội chân lư, và như Thánh Phaolô nói, tuôn đổ t́nh yêu vào ḷng tín hữu
(x Rm 5:5).
Thế nhưng,
ngoài ra, c̣n có khía cạnh thứ hai nữa. Mối liên hệ sâu xa này với Thần Linh
không loại trừ nhân tính của chúng ta, với tất cả nỗi yếu hèn của nó, bởi đó,
ngay từ ban đầu, cộng đồng môn đệ chẳng những cảm nghiệm được niềm vui của
Thánh Thần, ân sủng của chân lư và yêu thương, mà c̣n cả thử thách là những
ǵ chính yếu bị gây ra bởi t́nh trạng tương phản giữa các chân lư đức tin
với những rạn nứt xuất phát từ mối hiệp thông.
Như mối hiệp
thông yêu thương đă hiện hữu ngay từ ban đầu và sẽ tiếp tục tồi tại cho tới
cùng (x 1Jn1:1ff) thế nào, th́ bất hạnh thay, cũng ngay từ ban đầu, chia rẽ
đă xẩy ra. Chúng ta không lạ ǵ khi thấy nó vẫn c̣n hiện hữu tới ngày nay:
Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan viết: ‘Chúng từ chúng ta mà ra, nhưng chúng
không thuộc về chúng ta; v́ nếu chúng từ chúng ta mà ra th́ chúng sẽ tiếp
tục ở với chúng ta; song chúng đă đi khỏi để có thể nói rằng tất cả chúng
không thuộc về chúng ta’ (2:19).
Bởi thế, mối
hiểm nguy bao giờ cũng vẫn có đó, nơi t́nh trạng thăng trầm của thế giới
cũng như nơi nỗi yếu hèn của Giáo Hội, của việc mất niềm tin, từ đó, mất yêu
thương và t́nh huynh đệ. Đó là lư do những ai tin vào Giáo Hội của yêu
thương và muốn sống trong Giáo Hội phải có nhiệm vụ đặc biệt để cũng nhận ra
mối nguy hiểm ấy và chấp nhận rằng mối hiệp thông bất khả dĩ với những ai
không ở trong tín lư cứu độ (x 2Jn 9-11).
Những ǵ Giáo
Hội sơ khai nhận thấy một cách rơ ràng về những căng thẳng khả dĩ này nơi
việc sống hiệp thông được chứng tỏ rất rơ nơi Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan.
Không có một tiếng nói mạnh mẽ nào khác trong Tân Ước nhấn mạnh tới thực tại
về nhiệm vụ sống yêu thương huynh đệ nơi Kitô hữu, ngoài cũng cùng một tiếng
nói ấy ngỏ một cách nghiêm nghị cùng thành phần đối phương, thành phần đă
từng là phần tử của cộng đồng này song không c̣n thuộc về cộng đồng ấy nữa.
Giáo Hội của
yêu thương cũng là Giáo Hội của chân lư, trước hết được hiểu là Giáo Hội
trung thành với Phúc Âm được Chúa Giêsu kư thác cho Giáo Hội riêng của
Người. T́nh huynh đệ Kitô hữu được xuất phát từ sự kiện là con cái của cùng
một Cha bởi Thần Chân Lư: ‘V́ tất cả những ai được Thần Chúa dẫn dắt đều là
con cái Thiên Chúa’ (Rm 8:14). Thế nhưng, sống trong hiệp nhất và an b́nh,
gia đ́nh con cái Chúa cần một người giữ họ trong chân lư và dẫn dắt họ một
cách khôn ngoan sáng suốt có thẩm quyền: Đó là những ǵ thừa tác vụ của các
vị tông đồ được kêu gọi thực hiện.
Đến đây chúng
ta tiến tới một điểm quan trọng. Giáo Hội hoàn toàn bởi Thần Linh, thế nhưng
Giáo Hội có một cấu trúc, đó là việc thừa kế tông đồ, một việc thừa kế có
trách nhiệm để làm sao có thể bảo đảm được tính cách vĩnh viễn của Giáo Hội
trong chân lư do Chúa Kitô ban bố, từ đó cũng xuất phát cả khả năng yêu
thương. Câu tóm tắt đầu tiên của Sách Tông Vụ cho thấy tính cách hết sức
hiệu nghiệm về việc đồng qui các thứ giá trị này nơi đời sống Giáo Hội sơ
khai: ‘Họ chuyên tâm vào giáo huấn của các Tông Đồ và việc hiệp thông
(‘koinonia’), vào việc bẻ bánh và cầu nguyện’ (Acts 2:42).
Mối hiệp thông
được phát xuất từ niềm tin do việc rao giảng tông truyền, nó được nuôi dưỡng
bằng việc bẻ bánh và nguyện cầu, và được thể hiện trong đức ái huynh đệ và
phục vụ. Chúng ta đang ở trước h́nh ảnh của mối hiệp thông thuộc Giáo Hội sơ
khai trong sự phong phú của những thứ năng động nội tại cùng với những thể
hiện hữu h́nh: Tặng ân hiệp thông được ǵn giữ và phát triển đặc biệt bởi
thừa tác vụ tông đồ, một thừa tác vụ trở thành tặng ân cho toàn thể cộng
đồng.
Bởi vậy, các
vị tông đồ và những vị thừa kế các ngài là thành phần bảo hộ và là những
nhân chứng có thẩm quyền về kho tàng đức tin của Giáo Hội, và họ cũng là
những thừa tác viên đức ái: hai khía cạnh đi với nhau. Họ bao giờ cũng phải
nghĩ đến tính cách bất khả phân ly của việc phục vụ lưỡng đôi ấy, một việc
phục vụ thật sự như nhau: chân lư và đức ái là những ǵ được Chúa Giêsu tỏ
bày và ban tặng. Bởi thế, trước hết các vị thi hành việc phục vụ yêu thương:
đức ái họ phải sống và cổ vơ không thể nào được tách khỏi sự thật họ ǵn giữ
và truyền đạt.
Chân lư và yêu
thương là hai mặt của cùng một tặng ân, một tặng ân xuất phát từ Thiên Chúa
và là một tặng ân, nhờ thừa tác vụ tông đồ, được Giáo Hội bảo tồn và truyền
đạt cho chúng ta tới ngày nay! Qua việc phục vụ của các tông đồ và thành
phần thừa kế của các vị, chúng ta cũng nhận được t́nh yêu của Thiên Chúa Ba
Ngôi trong việc truyền đạt sự thật giải thoát chúng ta (x Jn 8:32)! Tất cả
những điều chúng ta thấy nơi Giáo Hội sơ khai dẫn chúng ta tới chỗ nguyện
cầu cho thành phần thừa kế các vị tông đồ, cho tất cả các vị giám mục, cũng
như cho các vị Thừa Nhiệm Thánh Phêrô, để các vị thực sự là những người bảo
quản cho chân lư đồng thời cho cả đức ái nữa, để các vị thật sự là những
tông đồ của Chúa Kitô, dể ánh sáng của các vị, ánh sáng chân lư và đức ái
không bao giờ bị lịm tắt trong Giáo Hội và trên thế giới.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
5/4/2006