Tháng 11 là Tháng Thánh Hóa

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chia sẻ và chuyển dịch

 

 

Sau Tháng 10 là Tháng Mân Côi cũng là Tháng Truyền Giáo, Kitô hữu Công Giáo chúng ta cùng Giáo Hội hoàn vũ tiến vào Tháng 11 là Tháng Thánh Hóa, Tháng được mở màn bằng hai lễ, Lễ Trọng Kính Chư Thánh Nam Nữ Trên Trời ngày mùng 1 và lễ Các Đẳng hay lễ Các Linh Hồn trong Luyện Ngục ngày mùng 2. Đó là lư do chúng ta cần cùng nhau tái ư thức và cảm nghiệm về vai tṛ ơn gọi Sống Thánh Chứng Nhân của chúng ta, trước hết với gương Sống Thánh Chứng Nhân của Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại, sau đó tới gương Sống Thánh Chứng Nhân của cặp vợ chồng tân chân phước là cha mẹ của Chị Thánh Thérèsa Hài Đồng Giêsu, và sau hết là gương Sống Thánh Chứng Nhân của một vị linh mục Việt Nam ôm ấp mộng làm Thánh và huấn Thánh cho người Việt Nam.

 

 

 

“Thánh Phaolô đă không c̣n sống cho chính ḿnh.

Ngài sống bởi Chúa Kitô và với Chúa Kitô”

 

Thật vậy, ít khi chúng ta thấy các thánh định nghĩa thế nào là nên thánh, thế nào là thánh. Nhưng đời sống của các ngài là một định nghĩa xác thực nhất thế nào là thánh và thế nào là nên thánh. Từ ngày thực hiện chương tŕnh phát thanh Tin Mừng Sự Sống vào năm 2000, tôi đă  bắt đầu và vẫn thích sử dụng thành ngữ “sống thánh chứng nhân”. Theo tôi, v́ thành ngữ “sống thánh chứng nhân” này tóm tắt tất cả ơn gọi nên thánh lẫn sứ vụ truyền giáo của Kitô hữu chúng ta. Ơn gọi nên Thánh của chúng ta được bắt đầu khi chúng ta lănh nhận Phép Rửa, nhờ đó chúng ta được thánh hóa, được trở nên con cái Thiên Chúa, tức trở nên các vị thánh. Như thế, sống đời Kitô hữu chính là sống Thánh, sống bản chất được thánh hóa của ḿnh vậy. Tới độ, là  ǵ  th́  là, trước hết và trên hết tôi phải là Thánh: Thánh linh mục , Thánh bác sĩ, Thánh sinh viên v.v. hơn là và trước khi là sinh viên Thánh, bác sĩ Thánh, linh mục Thánh. Và sứ vụ truyền giáo của chúng ta cũng được bắt đầu khi chúng ta lănh nhận Phép Rửa. Ở chỗ, mầm mống sự sống thần linh như hạt cải bé mọn được gieo vào linh hồn chúng ta qua Phép Rửa cần phải được lớn lên thành một cây vĩ đại cho chim trời là các linh hồn làm tổ. Và cách thức duy nhất để làm cho hạt cải đức tin, hạt cải sự sống thần linh này thành cây cứu độ cho các linh hồn đó là chính linh hồn chúng ta phải làm sao để trở thành một mảnh đất tốt, nhờ đó mầm sống thần linh mới có thể triển nở, đến độ như Thánh Phaolô nói trong Thư gửi giáo đoàn Galata đoạn 2 câu 20: “sự sống tôi đang sống đây không phải là tôi sống mà là Chúa Kitô sống trong tôi”. Để rồi, cho tới khi Chúa Kitô sống trong chúng ta, hoàn toàn làm chủ cuộc đời và chiếm đoạt con người chúng ta, chúng ta sẽ trở thành chứng nhân trung thực của Người và sống động cho Người, đến độ ai nh́n thấy chúng ta đều nhận thấy Chúa Kitô trong chúng ta và qua chúng ta. Vậy Vị Tông Đồ Dân Ngoại của chúng ta đă Sống Thánh Chứng Nhân như thế nào, để từ một tên Saolê hung hăng bắt bớ đạo Chúa đă trở thành một tuyệt hạng tông đồ của Chúa? Chúng ta hăy lắng nghe Đức Thánh Cha Biển Đức XVI nhận định về vị đại tông đồ này trong buổi triều kiến chung Thứ Tư  8/11/2006 sau đây.

 

“Nh́n vào gương của Thánh Phaolô, chúng ta có thể đặt vấn đề căn bản là: Việc con người gặp gỡ Chúa Kitô xẩy ra như thế nào? Mối liên hệ xuất phát từ cuộc gặp gỡ này là ở chỗ nào? Câu giải đáp được Thánh Phaolô cống hiến có thể được hiểu hai cách.

 

Trước hết, Thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu được giá trị trọng yếu bất khả thay thế của đức tin. Trong bức thư gửi cho giáo đoàn Rôma, ngài đă viết: ‘Chúng ta tin rằng con người được công chính hóa bởi đức tin chứ không phải bởi các việc làm của lề luật’ (3:28). Và trong Thư gửi giáo đoàn Galata: ‘Con người không được công chính hóa bởi những việc làm của lề luật mà là nhờ niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô, cho dù chúng ta đă tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô, để được công chính hóa bởi niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, chứ không phải bằng những việc làm của lề luật, v́ không ai được công chính hóa bởi những việc làm của lề luật’ (2:16).

 

“‘Được nên công chính’ đây nghĩa là được làm cho nên chính trực, tức là được Thiên Chúa công minh xót thương, và được hiệp thông với Ngài, nhờ đó có thể thiết lập mối liên hệ chân thực nhiều hơn nữa với tất cả mọi anh chị em của chúng ta: và việc nên công chính này là do bởi t́nh trạng tội lỗi của chúng ta được hoàn toàn thứ tha. Thánh Phaolô đă nói rơ ràng là t́nh trạng này của đời sống không lệ thuộc vào các việc lành khả dĩ của chúng ta, mà là hoàn toàn vào ân sủng của Thiên Chúa: Chúng ta ‘được công chính hóa nhờ ơn Ngài ban, qua việc cứu chuộc nơi Chúa Giêsu Kitô’ (Rm 3:24).

 

“Bằng những lời lẽ ấy, Thánh Phaolô đă diễn tả nội dung sâu xa của việc ngài hoán cải, một hướng đi mới cho cuộc sống của ngài như là thành quả của việc ngài gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh. Trước cuộc hoán cải của ḿnh, Thánh Phaolô đă không phài là một con người xa lạ đối với Thiên Chúa hay đối với lề luật của Chúa. Trái lại, ngài một con người tuân giữ luật lệ, một thứ tuân giữ có tính cách cuồng tín.

 

“Tuy nhiên, trong ánh sáng của cuộc hội ngộ với Chúa Kitô, ngài đă hiểu được rằng nếu sống như thế th́ ngài chỉ t́m cách tự tạo nên sự công chính cho bản thân ngài, và bằng tất cả những ǵ là chính trực ấy ngài chỉ sống cho chính ḿnh ngài mà thôi. Ngài đă hiểu được rằng đời sống của ngài cần phải được hoàn toàn xoay chiều. Và ngài đă bày tỏ chiều hướng mới này như thế vầy: ‘Sự sống giờ đây tôi đang sống trong xác thịt là sự sống tôi sống theo niềm tin tưởng vào Con Thiên Chúa, Đấng đă yêu thương tôi và hiến ḿnh v́ tôi’ (Gal 2:20). 

 

“Bởi vậy, Thánh Phaolô đă không c̣n sống cho chính ḿnh, cho sự công chính của riêng ngài. Ngài sống bởi Chúa Kitô và với Chúa Kitô: Bằng việc hiến thân, ngài không c̣n t́m kiếm bản thân hay sống cho bản thân ḿnh nữa. Đó là một sự công chính mới, một chiều hướng mới được Chúa Kitô cống hiến cho chúng ta, một sự công chính ban niềm tin cho chúng ta. Trước thập giá của Chúa Kitô, dấu hiệu cao cả nhất của việc tự hiến bản thân ḿnh, không ai c̣n vênh vang được nữa về bản thân ḿnh, về sự công chính của riêng ḿnh!

 

“Khi suy nghĩ về những ǵ hàm nghĩa trong việc không công chính ḿnh bởi những việc làm của lề luật mà là bởi đức tin, chúng ta tiến đến điểm thứ hai là điểm xác định căn tính Kitô Giáo được Thánh Phaolô diễn tả về cuộc sống của ngài. Thật vậy, căn tính của Kitô Giáo là những ǵ được cấu tạo nên bởi hai yếu tố, đó là không t́m kiếm bản thân ḿnh, mà là mặc lấy Chúa Kitô và hiến ḿnh cùng với Chúa Kitô, nhờ đó bản thân được tham dự vào đời sống của chính Chúa Kitô cho đến độ được ch́m ngập trong Người, được thông dự vào cả sự chất lẫn sự sống của Người.

 

“Thánh Phaolô đă viết trong Thư gửi giáo đoàn Rôma rằng Chúng ta đă ‘được rửa trong Chúa Giêsu Kitô là chúng ta đă được rửa trong cái chết của Người… chúng ta đă được mai táng với Người … chúng ta đă được nên một với Người…. Bởi vậy mà anh chị em cần phải coi ḿnh như đă chết cho tội mà sống cho Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô’ (6:3,4,5,11). Thật ra lời diễn tả vừa rồi có tính cách triệu chứng, ở chỗ, đối với Thánh Phaolô, không đủ khi nói rằng Kitô hữu được lănh nhận phép rửa là thành phần tín hữu; đối với ngài, cũng quan trọng không kém khi nói rằng họ ‘ở trong Chúa Giêsu Kitô’ nữa (cũng x, Rm 8:1,2,39, 12:5, 16:3,7,10; 1Cor 1:2,3 v.v.).

 

“Trong những lần khác, ngài đảo ngược chữ nghĩa và viết rằng ‘Chúa Kitô ở trong chúng ta / trong anh chị em’ (Rm 8:10; 2Cor 13:5) hay ‘trong tôi’ (Gal 2:20). Việc hiểu biết nhau này giữa Chúa Kitô và Kitô hữu, một đặc tính nơi giáo huấn của Thánh Phaolô, là những ǵ hoàn trọn ư nghĩa của ngài về đức tin. Thật vậy, mặc dù liên kết chúng ta một cách thân t́nh với Chúa Kitô, đức tin vẫn nhấn mạnh tới cái khác biệt giữa chúng ta và Người.

 

“Tuy nhiên, theo Thánh Phaolô, đời sống của Kitô hữu cũng là một yếu tố chúng ta có thể gọi là ‘thần bí’, v́ nó bao hàm việc mất bản thân chúng ta trong Chúa Kitô và Chúa Kitô trong chúng ta. Bởi đó, vị Tông Đồ này c̣n tiến đến chỗ diễn tả những nỗi khổ đau của chúng ta như ‘những đau khổ của Chúa Kitô trong chúng ta’ (2Cor 1:5), nhờ đó chúng ta luôn mang ‘trong thân xác cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, để sự sống của Chúa Giêsu được tỏ hiện nơi thân xác của chúng ta’ (2Cor 4:10).

 

 

“Thiên Chúa nhân lành đă ban cho con một người cha và một người mẹ

xứng với Thiên Đàng hơn là thế gian”

 

B́nh thường chúng ta nghĩ việc truyền giáo là của các vị linh muc và tu sĩ chứ không phải của giáo dân. Cũng thế, chúng ta thường nghĩ chỉ có thành phần tu tŕ mới làm thánh, c̣n thành phần giáo dân sống trần tục khó nên thánh hay không thể nên thánh được. Thật ra, nếu chúng ta căn cứ thánh thiện phải giống như vị thánh này hay vị thánh kia mà chúng ta khâm phục th́ chúng ta sẽ nản, cho rằng ḿnh không thể nào nên thánh như vậy được. Thế nhưng, nếu chúng ta hiểu, trước hết, Thánh Thiện là những ǵ của Chúa, từ Chúa và do Chúa, và về phần chúng ta, thánh thiện là trả về cho Chúa tất cả những ǵ Ngài ban cho chúng ta, 2 nén sinh 2 nén, 5 nén sinh 5 nén, chứ không phải 1 nén sinh lợi đến 10 nén, th́ vấn đề nên thánh và làm thánh ở đây sẽ là những ǵ ở trong tầm tay của mọi người. Vấn đề sinh lợi gấp trăm, 2 sinh 2, 5 sinh 5 đây là ǵ, nếu không phải là việc chúng ta làm sao chu toàn Thánh Ư Chúa, chu toàn ơn gọi của mỗi người chúng ta là đủ. Tóm lại, nên thánh hay làm thánh tức là làm con cưng của Chúa, như Chúa Giêsu, Người Con đẹp ḷng Cha mọi đàng. Thế thôi. Đó là lư do chúng ta thấy trong thành phần giáo dân cũng có các vị thánh hay chân phước. Chẳng hạn nhị vị Louis Martin và Zélie Guérin là cha mẹ của chị Thánh Thérèse Hài Đồng Giêsu mới được phong chân phước ngày Chúa Nhật Truyền Giáo 19/10/2008. Nhân dịp mừng Lễ Kính Chư Thánh, chúng ta cùng nhau cảm nghiệm gương Sống Thánh Chứng Nhân của các vị trong đời sống hôn nhân gia đ́nh như sau.

 

  

  

Lứa đôi Chân Phước

 

“Thiên Chúa nhân lành đă ban cho con một người cha và một người mẹ xứng với Thiên Đàng hơn là thế gian”. Đó là lời chị Thánh Thiên-Sa Hài Đồng Giêsu viết (Lá Thư 261) khi gần qua đời cho Cha Bellière tóm tắt về gia đ́nh của chị. Và đó cũng là lời được khắc trên mộ của cha mẹ chị, khi thi thể của hai vị được cải táng và chôn bên nhau ở gần hậu cung Đền Thờ Lisieux. Vào năm 1956, kỷ niệm 50 năm khấn trọn đời của Céline là một trong 4 chị em vào cùng một ḍng kín Carmêlô, nhưng sau 2 chị và cô em, vị giám mục bản quyền địa phương đă loan báo rằng: “Tôi có một tin vui cho Sơ. Tôi có thể loan báo là án phong chân phước cho cha mẹ của Sơ được bắt đầu”. Ngày 19/8/2008, ĐTC Biển Đức XVI đă phê chuẩn lễ nghi phong chân phước cho các vị. Và ngày ấn định tôn phong chân phước cho nhị vị là ngày Khánh Nhật Truyền Giáo 19/10/2008. Đây là cặp vợ chồng thứ hai được Giáo Hội phong chân phước. Cặp vợ chồng đầu tiên là cặp người Ư Luigi (chết vào năm 1951) và Maria Beltrame Quattrocchi (chết năm 1965), được ĐTC Gioan Phaolô II tuyên phong vào Ngày Truyền Giáo Thế Giới 21/10/2001, 7 năm trước.

 

Thật vậy, án phong thánh cho cha mẹ của chị được bắt đầu tiến hành từ đó, nhưng măi cho đến ngày 10/6/2003, tức gần một nửa thế kỷ mới xong, ngày ĐHY Tổng Giám Mục Milan là Dionigi Tettamanzi long trọng kết thúc án phong chân phước, khi công nhận một phép lạ chữa lành nhờ lời chuyển cầu của các vị. Trong khi ĐHY đang cử hành nghi thức th́ chính em bé 13 tháng tuổi được chữa lành này ḅ ở dưới bàn của ngài. Phép lạ được công nhận này đă xẩy ra cho bé Pietro Schiliro, sinh ở Monza ngày 25/5/2002 trong một gia đ́nh có 5 anh chị em, và đă được chữa lành vào chính ngày lễ quan thày của ḿnh 29/6/2002 khỏi một chứng bệnh phổi rất trầm trọng và nguy tử sau hai tuần cửu nhật với nhị vị cha mẹ đáng kính này, theo lời đề nghị của Cha Sangalli ḍng Carmêlô. Bé đă rời bệnh viện ngày 26/7 hoàn toàn b́nh phục. Và bé cũng đă có mặt ở vương cung thánh đường Lisieux Pháp quốc Chúa Nhật 19/10/2008 trong thánh lễ do Đức Hồng Y Tổng Trưởng Thánh Bộ Án Phong Thánh hưu trí là Saraiva Martins chủ tế phong chân phước cho nhị vị đă chuyển cầu cho việc bé được chữa lành..

 

 

 

  

Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là đâu là đời sống hôn nhân gia đ́nh thánh thiện nơi nhị vị tân chân phước vợ chồng là cha mẹ của vị thánh nữ quan thày các nhà truyền giáo Thiên-Sa Hài Đồng Giêsu?

 

Vào ngày 4/4/1957, Céline, bấy giờ đă là nữ tu Ḍng Kín Carmêlô với tên gọi là Géneviève Thánh Nhan, đă làm chứng trong tiến tŕnh phong chân phước cho cha mẹ ḿnh về một “vẻ đẹp của một đời sống phối ngẫu sống hoàn toàn cho một ḿnh Chúa nhân lành, không theo cái tôi hay vị kỷ. Nếu người tôi tớ Chúa muốn có nhiều con là để hoàn toàn hiến dâng chúng cho Thiên Chúa mà thôi. Tất cả những điều ấy đều xẩy ra một cách đơn thành của một cuộc sống b́nh thường, chịu khó làm việc và đầy những khốn khó được đón nhận bằng niềm phó thác và cậy trông nơi Ư Muốn Thần Linh”.

 

Trong bản Tuyên Ngôn được công bố ngày 13/10/1957 về Các Nhân Đức của cặp vợ chồng thân phụ mẫu của Thánh Thiên-Sa Hài Đồng Giêsu này, người ta đọc thấy những lời được Đức Hồng Y Tổng Trưởng Thánh Bộ Án Phong Thánh hưu trí là Saraiva Martins lập lại để kết thúc bài nói của ngài trong Đại Hội mừng kỷ niệm 150 năm lập gia đ́nh của nhị vị vào ngày 12-13/7/2008 ở Alencon và Lisieux như sau:

 

Chúng ta đă thấy trước mắt chúng ta một cặp vợ chồng, và một gia đ́nh, những người đă sống và đă tác hành hoàn toàn tuân hợp với Phúc Âm, chỉ lo sống trọn mỗi phút giây trong ngày dự án mà Thiên Chúa giành cho họ. Họ chỉ đạt đến sự trọn lành bằng việc t́m kiếm và nghe tiếng của Ngài. Louis và Zélie không phải là những con người rao giảng tin mừng trong các phong trào nhiệt thành hay của một hội tông đồ đặc biệt nào đó, thế nhưng cả gia đ́nh của họ đă sống một cuộc sống b́nh thường được soi dẫn bởi thần linh và siêu nhiên. Đó là chiều kích chính yếu, thuận lợi cho bất cứ ai, được cống hiến cho các gia đ́nh ngày nay noi gương bắt chước. Trước gương của gia đ́nh Martin này, chúng ta có được dưỡng chất, sức mạnh và hướng đi hầu tránh được quyền lực tân tiến của chủ nghĩa tục hóa, nhờ đó vượt lên trên nhiều sầu thương và thấy được tặng ân yêu thương phối ngẫu, cũng như tặng ân làm cha làm mẹ trong ư nghĩa thích đáng của chúng như là Tặng Ân khôn lường của Thiên Chúa”.

 

Sau đây là truyện đời của riêng nhị vị tân chân phước cũng như của chung gia đ́nh hai vị.

  

Thiên duyên tiền định

 

Louis, đứa con thứ hai trong 5 người con của gia đ́nh Martin, vào đời ngày 22/8/1823 ở Bordeaux. Cha của Louis Martin giải ngũ và dọn về ở Alencon. Louis đă học hành ở đó cho đến năm 22 tuổi th́ quyết định hành nghề chế tạo đồng hồ. Louis đă đến Strasbourg học nghề này. Trong thời gian học nghề ấy, có một lần chàng đến thăm Đan Viện Thánh Bênađô sống theo Luật Thánh Âu Quốc Tinh, một đan viện có một địa thế cao nhất Âu Châu, 6000 bộ trên mặt biển ở rặng núi Alps, lạnh âm 20 độ vào mùa đông. Khi trở về, chàng mang theo một cành hoa nhỏ, và cành hoa này đă được t́m thấy trong những thứ đồ đạc của chàng sau khi qua đời.

 

Sau đó một năm, tức vào năm 23 tuổi, cảm thấy có ơn gọi làm linh mục, chàng quyết định trở lại với Đan Viện Thánh Bênađô ấy một lần nữa, nơi hợp với ḷng yêu thích thiên nhiên và khuynh hướng chiêm niệm của chàng. Thế nhưng, v́ đan viện trưởng đă đ̣i hỏi chàng một điều kiện, đó là “anh cần phải học tiếng Latinh đă”. Thế là chàng đă cố gắng học tiếng Latinh. Người ta c̣n thấy trong cuốn sổ chi tiêu của chàng những ghi nhận về việc mua các cuốn sách giáo khoa Latinh và các bài học Latinh hằng tuần. Rồi đùng một cái, người ta thấy xuất hiện một ghi chú là “bán cuốn tự điển Pháp – Latinh…” Thế là chàng đă bỏ cuộc, không theo đuổi ơn gọi linh mục nữa. Nhưng vẫn không có hay chưa có  ư định lập gia đ́nh.

 

Chàng tiếp tục học nghề chế tạo đồng hồ ở Strasbourg và sau mấy năm học thêm ở Paris, chàng đă hoàn tất việc huấn nghệ này. Trở về Alencon, chàng đă mua một căn nhà và mở tiệm chế tạo đồng hồ lẫn sửa chữa đồng hồ ở địa chỉ 17 rue du Pont Neuf 21 năm. Công việc làm ăn của chàng thành công đến nỗi sau đó chàng mở thêm tiệm nữ trang nữa. (Th́ ra từ hậu bán thế kỷ 19 đă có những tiệm bán đồng hộ kiêm nữ trang rồi, chứ không phải bây giờ mới có). Chàng thích đọc sách, bơi lội, cầu nguyện, chơi thục bida, câu cá và đi bách bộ lâu giờ ở đồng quê.  Chàng tậu một khu đất có một cái cḥi để có thể sống một cuộc đời b́nh lặng thảnh thơi. Tuy nhiên, mẹ của chàng lại có ư khác. Bà đă sắp xếp cho chàng gặp Zélie là cô bé cùng học lớp làm ren với bà…

 

Zélie, người con thứ hai trong 3 chị em, sinh ngày 23/12/1831 ở Gandelain. Cha của nàng cũng là một quân nhân và giải ngũ như cha của Louis. Sau khi vợ ông mở tiệm cà phê bị lỗ lă, ông đă dọn về Alencon để hai đứa con gái của ông được học ở trường Công Giáo của các Chị Ḍng Thánh Tâm. Zélie rất thông minh. Cô đă chiếm giải nhất thi viết văn 10 trong 11 lần. Cô đă trải qua thời niên thiếu khốn khổ với người mẹ khắc nghiệt. Sau này cô đă viết cho đứa em trai Isidore của cô rằng: “Mẹ tỏ ra quá nghiêm khắc với chị, c̣n em th́ lại được mẹ nuông chiều”.

 

Zélie đă xin vào Ḍng Thánh Vinh Sơn Phaolô ở Alencon, đă gặp mẹ bề trên, vị đă nói với cô rằng cô không có ơn kêu gọi. Tuy cảm thấy buồn khi phải chấp nhận lời khuyên này, v́ cô nhận ra Thánh Ư Chúa khi kêu lên cùng Ngài rằng: “Chúa Trời con ơi, con sẽ đi lập gia đ́nh để chu toàn thánh ư của Chúa. Vậy con xin Chúa hăy ban cho con nhiều con cái và chúng được thánh hiến cho Chúa”.

 

Thế là cô trở về quyết định theo học nghề làm ren. Alencon là trung tâm làm ren ở Pháp. Zélie đă trở thành một chuyên nghiệp viên về ngành nghề này. Cô đă điều hành một nhóm phụ nữ, vẽ kiểu và mua chỉ sợi. Cứ mỗi Thứ Năm họ tới nhà của cô để cô giao cho một số việc nào đó mang về làm ở nhà họ trong ṿng một tuần, và nộp lại cho cô vào Thứ Năm sau đó. Cô ráp nối những ǵ họ làm, điều chỉnh những sai sót rồi lại chia việc cho họ làm tiếp. Cô rất thành công trong ngành nghề này. Cô đă biến lầu một căn nhà của cô cư ngụ ở Rue Ste Blaise thành văn pḥng và công xưởng. (Đường lối làm việc này vẫn c̣n thịnh hành cho tới ngày nay, ngay trong cộng đồng Người Việt Hải Ngoại Nam California).

 

Thấy ḿnh không có ơn gọi làm nữ tu, cố đă quyết định lập gia đ́nh. Một ngày kia, t́nh cờ cô lưu ư tới một chàng thanh niên có vóc dáng quí phái đi ngang qua mặt cô. Bấy giờ cô nghe thấy một tiếng nói trong ḷng rằng “chàng là người Ta sửa soạn cho con đó”. Ít lâu sau nàng biết được người thanh niên đó là Louis Martin. Qua việc sắp xếp của mẹ Louis, hai người đă gặp nhau và chỉ sau 3 tháng, họ đă quyết dịnh tiến tới hôn nhân, và chính thức trở thành vợ chồng với nhau tại Nhà Thờ Đức Mẹ Ban Ơn, vào nửa đêm Thứ Ba ngày 13/7/1858, khi Zélie ở vào tuổi 27 và Louis ở vào tuổi 35.

 

Khi quyết định lập gia đ́nh, cô không có ư nghĩ ǵ về vấn đề sinh sản. Vào chính ngày cưới, nghe thấy vấn đề này, cô đă đến gặp người chị của cô bấy giờ là Nữ Tu Maria-Dosithée Ḍng Thăm Viếng ở Le Mans cũng vào năm 1858, khóc lóc thảm thiết. Nhưng sau đó cô đă viết trong một bức thư rằng: “Em không bao giờ hối tiếc về việc lập gia đ́nh”.  Louis là một con người sống lư tưởng, thậm chí là một con người lăng mạn, đă thuyết phục nàng rằng cả hai sẽ sống với nhau như anh em theo gương Thánh Giuse và Mẹ Maria.

 

Tuy nhiên, 10 tháng sau, qua vị giải tội, nhận thấy việc sống như thế không hợp với ư muốn của Thiên Chúa, nhất là Zélie lại muốn có con, cặp vợ chồng có một không hai này đă bắt đầu cho ra đời những đứa con, đầu tiên là Maria, rồi tới Pauline và Léonie. Zélie viết: “Chúng tôi chỉ sống cho con cái của ḿnh, chúng là tất cả những ǵ may lành mà chúng tôi chỉ t́m thấy nơi chúng”. Nàng c̣n viết cho người con gái Pauline của nàng rằng: “Đối với mẹ th́ mẹ muốn có nhiều con cái để mẹ có thể dưỡng dục chúng cho Thiên Đàng”. Bởi thế, chưa đầy 13 năm, họ đă có tất cả là 9 người con, 4 người con chết yểu (2 trai 2 gái) và 5 người c̣n lại toàn gái đă dâng ḿnh cho Chúa, 4 trong ḍng kín Carmêlô ở Lisieux, trong đó có chị Thánh Thé èse Hài Đồng Giêsu của chúng ta

 

 

 

 

Lư Tưởng Thánh Đồng Công

 

 

Theo lịch sử Giáo Hội th́ có 3 nước nhiều hiển thánh cá nhân nhất, có những vị thánh nổi danh nhất thế giới, đó là nước Ư với khoảng 341 vị, nước Pháp với khoảng 327 vị, và nước Tây Ban Nha khoảng 129 vị. Nước Ư với Thánh Biển Đức tổ phụ đan tu Tây phương, Thánh Phanxicô Khó Khăn sáng lập Ḍng Anh Em Hèn Mọn, Thánh Tôma Tiến Sĩ Thiên Thần, Thánh Catarina Sienna, Thánh Phanxicô Salêsiô, Thánh An-Phong-Sô sáng lập Ḍng Chúa Cứu Thế, Thánh Don Bosco v.v. Nước Pháp có Thánh Bênađô, Thánh Vinh Sơn đệ Phaolô, Thánh Long Mộng Phố Louis Montfort, Thánh Giang Viễn Linh Cha Sở Họ A, Thánh Thiên-Sa Hài Đồng Giêsu, Thánh Jean Baptiste de la Salle sáng lập ḍng các frère, Thánh Bernadette vị thụ khải ở Lộ Đức v.v. Nước Tây Ban Nha có Thánh Đaminh sáng lập Ḍng Giảng Thuyết, Thánh Têrêsa Avilla và Thánh Gioan Thánh Giá là hai vị thần bí gia cải cách ḍng kín Carmelô, Thánh Ignatio sáng lập Ḍng Tên, Thánh Phanxicô Xavier quan thày các nhà truyền giáo, Thánh Vinh Sơn Ferrier vị làm phép lạ như nước, và Thánh Gioan Thiên Chúa sáng lập ḍng bệnh viện v.v. Vào tiền bán thế kỷ 20 ở Việt Nam có một vị linh mục rất ham ước nên thánh và muốn Việt Nam có thánh như Tây phương. Ngài đă có ư định sống đời khổ tu, nhưng Thiên Chúa lại sử dụng ngài để thành lập một hội ḍng tiên khởi của người Việt Nam và cho người Việt Nam từ đầu thập niên 1940, đó là Ḍng Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc. Ngài vừa qua đời cách đây mới một năm rưỡi, hưởng thọ 101 tuổi. Cuộc đời của ngài có thể tóm lại một chữ duy nhất đó là “Thánh”. Ngài đă Sống Thánh Chứng Nhân như thế nào? Theo tôi, một môn sinh nhân chứng của ngài, tôi đă cảm thấy sau những tháng ngày được ngài trực tiếp huấn thánh như sau.

 

 

H

́nh ảnh sâu đậm của ngài nơi tôi đó là h́nh ảnh một vị linh mục Yêu Thánh, Sống Thánh và Huấn Thánh. Việc ngài Yêu Thánh được tỏ hiện, trước nhất, nơi việc ngài thường lấy gương Chúa Mẹ và Các Thánh (Tây phương) ra khuyên giục anh em ḿnh, và đặc biệt nhất, qua chính việc ngài Sống Thánh và Huấn Thánh. Riêng về việc ngài Sống Thánh, ngài đă được tiếng là “Cha Thánh Thủ” ngay từ khi c̣n ở ngoài Bắc. Có lẽ v́ bề ngoài người ta thấy cuộc sống của ngài khổ hạnh, ở chỗ ăn uống kham khổ, nằm ngủ dưới đất v.v., cuộc sống của một linh mục triều mà chẳng khác ǵ một tu sĩ khổ tu ḍng Biển Đức, một cuộc sống giống như Cha Sở Họ A ở bên Pháp là Cha Thánh Gioan Vianney. Người ngoài có thể c̣n không biết những ǵ ngài âm thầm sống khổ chế khác nữa, chẳng hạn như việc ngài tuyên hứa không găi ngứa, một việc khó làm chứ không dễ, trong khi ngài bị phong ngứa ở chân. Riêng tôi, tôi c̣n thấy dấu hiệu thánh thiện nơi ngài qua việc ngài cử hành Thánh Lễ. Ngài đă giành giờ dọn ḿnh dâng lễ mỗi ngày và tạ lễ sau đó hằng mấy tiếng đồng hồ. Dường như ngài đă dùng thời giờ cầu nguyện, suy gẫm và dọn lễ và tạ lễ bằng 15 tràng Mân Côi mỗi ngày. Có lần chính tôi giúp lễ cho ngài mà ngài cũng không biết là ai, v́ trong cuộc nói chuyện với ngài măi sau đó, tôi có nói đến một chi tiết trong Thánh Lễ ngài dâng th́ đă khám phá ra được điều này.

 

Thế nhưng, hầu như chỉ có anh em ḍng mới biết được vị sáng lập ḍng của ḿnh c̣n thánh thiện ở chỗ nào, ở một điểm khác nữa, liên quan tới tinh thần tu đức, đó là ḷng khiêm nhượng. Ngài không để cho ai khen ngài trước mặt, bằng không, đối với ngài, những lời khen tặng đó như là những lời nói phạm thượng, phạm đến chính Đấng “đă làm cho tôi những sự trọng đại” (Lk 1:49). Đó là lư do ngài đă nhận một câu tâm niệm cho đời sống thánh của ngài, một câu tâm niệm bằng tiếng Latinh, với hai chữ đầu là QP, nên ngài thường được anh em ḍng (khi nói với nhau) gọi ngài là "Anh QP" thế này thế kia, nếu không muốn gọi là Anh Cả, một danh xưng thường được dùng để trực tiếp thân thưa với ngài. QP là Quorum Primus, hai chữ cuối cùng trong câu Thánh Tông Đồ Phaolô nói về ḿnh ở Thư Thứ Nhất gửi môn đệ Timôthêu, đoạn 1 câu 15: “Chúa Giêsu Kitô đă đến thế gian để cứu các tội nhân. Trong đó, tôi là con người tội lỗi nhất”.

 

Phải, người Anh Cả của anh em tu sĩ ḍng Đồng Công mang biệt danh QP đây chính là “con người tội lỗi nhất”, bởi đó khen tặng “một con người tội lỗi nhất”, một con người thật ra chỉ đáng trách nhất, đáng bị nguyền rủa nhất, đáng đền tội nhất, đáng bị trừng phạt nhất, đối với ngài, quả thực là phạm thượng, là những ǵ không thể nào chấp nhận được. Đó cũng là lư do, hầu như không một bài huấn đức nào mà ngài không đề cập đến vấn đề “hạ ḿnh xuống, vui chịu khinh chê giầy đạp, chịu dể duôi bắt bớ”, như chính lời kinh nguyện ngài đặt ra cho anh em ḍng đọc hằng ngày. Thậm chí ngài c̣n dạy “hăy luôn nhận ḿnh là trái”, một lời khuyên thoạt nghe thật là chướng tai, nhưng lại hoàn toàn phản ảnh tinh thần của câu Phúc Âm nạn nhân phải tự đi làm ḥa trước với kẻ thù của ḿnh (x Mt 5:23-24). Đối với ngài, cái trở ngại lớn nhất trong việc nên thánh đây chính là cái tôi đầy tự ái của con người, không dẹp bỏ được nó th́ không thể nào nên thánh được, không thể nào theo Chúa nổi, đúng như chính Người đă khẳng định: “Ai muốn theo Thày th́ phải từ bỏ ḿnh đi, vác thập giá ḿnh hằng ngày mà theo Thày” (Mt 16:24); “Ai không vác thập giá ḿnh mà theo Thày th́ không xứng với Thày” (Mt. 10:38).

 

Ḷng khiêm nhượng của ngài quả thực đă đẹp ḷng Chúa, đến nỗi đă được Chúa đóng ấn bằng những hiểu lầm cả trong lẫn ngoài, nhờ đó, đức ái trọn hảo (perfecta caritas) của ngài càng được sáng tỏ, nhất là đối với những con người được Chúa dùng để giúp ngài nên thánh hơn, nên giống Chúa Kitô Khổ Giá hơn. Có thể nói cảm nghiệm tu đức nên thánh của ngài là “hạ ḿnh xuống, vui chịu khinh chê giầy đạp, chịu dể duôi bắt bớ”, như ngài đă trải qua, chẳng những trở thành những ǵ thâm tín nơi ngài mà c̣n là một nền tảng nên thánh mà ngài hết sức muốn truyền lại cho những ai muốn theo ngài nữa. ..

 

Nói đến việc Sống Thánh của Cha Thủ, ngoài ra, không thể không kể đến một yếu tố nữa, hay một nhân đức nữa hết sức nổi bật của ngài, đó là niềm tin bất khuất, có lúc đến “liều lĩnh” của ngài. Người ta, kể cả anh em trong ḍng, vẫn không hiểu là ngài lấy tiền ở đâu để nuôi anh em. Vẫn biết là theo tinh thần “tự lực mưu sinh” của ḍng, anh em của ngài đă luôn luôn cố gắng thực hiện những việc kinh tài, không thuê mướn ai, chẳng hạn Trại Gà Thiện Chí (từ năm 1965), Ao Cá và cơ sở phát hành Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ ở Thủ Đức, đồn điền trà bơ mít Thiên Mẫu ở Di Linh Lâm Đồng (từ năm 1971) v.v. Thế mà cũng chẳng được bao nhiêu, nguyên cho vấn đề ăn mặc và di chuyển của anh em thôi, chứ chưa nói đến vấn đề chi phí cho các hoạt động tông đồ truyền giáo, chẳng hạn như Nhà Hưu Dưỡng cho các vị linh mục ở Thủ Đức (từ năm 1957), các trạm phát thuốc ở Qui Nhơn (từ năm 1957), cư xá Rạng Đông cho sinh viên miễn phí ở Đà Lạt (từ năm 1970) v.v. Cho tới nay, với con số anh em ḍng chỉ được ở một chỗ duy nhất là Thủ Đức lên tới cả 400-500 người, chẳng làm ăn ǵ cả, thế mà hằng ngày vẫn đủ cơm ăn áo mặc và các thứ chi dùng cần thiết cả 15 năm năm nay, đặc biệt từ khi Cha Thủ đột nhiên bị tống về không được ở tù từ chung thân xuống 20 năm nữa. Tiền ở đâu ra? Nếu là phép lạ hay sự lạ th́ phải chăng nhờ ở đức tin của vị sáng lập ḍng?

 

Đức tin của ngài chẳng những lạ lùng như thế song có lúc c̣n tỏ ra “liều lĩnh” nữa. Địa điểm truyền giáo rất nguy hiểm ở Nhà Đá giữa quận Phú Cát và Phù Mỹ, Tỉnh B́nh Định ngoài Qui Nhơn, nơi không một ḍng tu nào hay một vị linh mục triều nào dám bén mảng tới. Thế mà, anh em theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công với ngài đă hiên ngang hoạt động ở đây suốt từ năm 1966 tới 1975  (trừ thời khoảng 1972-1974 không thể ở nổi v́ quá nguy hiểm). Họ đă từng nghe chiêu hồi về đêm, giữa cả bên quốc gia lẫn bên mặt trận giải phóng. Có những lúc quá nguy hiểm, họ đă phải đi bộ từ Nhà Đá về Quận Phù Mỹ vào khoảng chiều chiều, cách 6 cây số, để ngủ qua đêm, sang hôm sau trở lại tái sinh hoạt. Họ đă chứng kiến vào năm 1974 những chiếc cầu bị giật sập vào ngay sáng sớm, những buổi chợ bị đạn nổ ngay giữa ban ngày. Họ đă gặp những em học sinh trong trường đột  nhiên bỏ học đi tập kích rồi bất ngờ xuất hiện vác súng về thăm bạn bè thày dạy.

 

Đối với riêng tôi, tôi vẫn cảm thấy đúng như những ǵ tôi đă viết trong cuốn “Sống Thánh Chứng Nhân” (Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới Việt Nam xuất bản năm 2006), trang 174, như sau: “thật thế, phải thú nhận rằng, mỗi khi nghe ngài giảng dạy, ḷng tôi không thể nào không cảm thấy bừng nóng lên như hai môn đệ đi Emmau nghe Chúa Giêsu giải thích Thánh Kinh trong cuộc hành tŕnh của họ (x Lk 24:32). Chưa hết, chẳng cần nghe ngài nói, chỉ cần trông thấy ngài thôi, tôi đă cảm thấy ḿnh ra sao và tự nhiên thấy được nhắc nhở phải nên thánh, phải sống thánh”.

 

 

Hai câu truyện Sống Thánh Chứng Nhân cuối về nhị vị tân Chân Phước ba mẹ của Chị Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Cha Đaminh Maria Trần Đ́nh Thủ c̣n dài. Nếu cần xem tiếp, xin vào hai cái link của www.thoidiemmaria.net sau đây:

 

Cặp Chân Phước Luois và Zélie Martin 19/10/2008

 

Cha Đaminh Maria Trần Đ́nh Thủ - Lư Tưởng Thánh Đồng Công