| |

Ngày 24 Tháng 11
Chư Thánh Tử
Đạo trên Đất Việt

Theo lịch
sử, đầu tiên các vị anh hùng tử đạo trên đất Việt đă được tôn phong chân
phước trong bốn đợt: đợt thứ nhất vào ngày 27/5/1900, Đức Lêô XIII tôn phong
64 vị; đợt thứ hai vào ngày 20/5/1906, Đức Piô X tôn phong 8 vị; đợt thứ ba
vào ngày 2/5/1909, cũng chính Đức Piô X tôn phong 20 vị nữa; và đợt vào ngày
29/4/1951, Đức Piô XII tôn phong 25 vị. Trong số 117 vị, có 8 giám mục, 50
linh mục, 16 thày giảng, 1 chủng sinh và 42 giáo dân. Hồ sơ phong thánh đặc
biệt chú ư đến các tên tuổi sau đây: về phía các vị Việt Nam có Thánh Anrê
Dũng Lạc, linh mục (+1839); thánh Tôma Trần Văn Thiện, chủng sinh (+1838);
thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, linh mục (+1857); thánh Emmanuen Lê Văn Phụng,
giáo lư viên và cha gia đ́nh (+1859). Về phía các vị ngoại quốc có các tu sĩ
ḍng Đa-minh người Tây-ban-nha thuộc Tỉnh Ḍng Mân Côi là thánh Giêrônimô
Hécmôxila Liêm, giám quản tông ṭa địa phân Đông đàng ngoài (+1861); thánh
Valentinô Beriô Ôchoa, giám mục (+1861); và một vị người Pháp thuộc Hội Thừa
Sai Paris (MEP), thánh Têôphan Vêna (+1861). Ngày 19-6-1988, Đức Giáo Hoàng
Gioan-Phaolô II đă tôn phong hiển thánh 117 chứng nhân tử đạo trên Đất Việt.
Chúng ta hăy cùng nhau ôn lại những điểm chính yếu trong bài giảng của ngài
cho Thánh Lễ Phong Thánh có một không hai trong lịch sử của Giáo Hội ở Việt
Nam này, qua bản dịch của Đức Ông Trần Ngọc Thụ.
Anh chị em thân
mến,
“Chúng
tôi rao giảng Chúa Giêsu tử nạn Thập Giá” (1Cr 1, 23)
Làm sao kể
lại cho hết? Tất cả là 117 vị Tử Đạo, trong số đó 8 vị Giám Mục, 50 Linh mục,
59 giáo dân, trong số đó một phụ nữ, Thánh Agnès Lê Thị Thành, mẹ sáu người
con?
Truyền thống
c̣n ghi nhớ lịch sử chết v́ đạo của Giáo Hội Việt Nam rất bao quát, phức tạp
ngay từ lúc ban đầu. Từ năm 1533, nghĩa từ lúc miền Đông Nam Á Châu vừa đựơc
truyền đạo, Giáo Hội Việt Nam đă bị bách hại suốt ba thế kỷ bắt bớ của Giáo
Hội Âu Châu thời xưa. Từng ngàn giáo dân tử đạo, từng trăm số người đă chết
lưu lạc trên núi, trong rừng sâu nước độc!
Để lấy một
ví dụ: Trong các vị Tử Đạo hôm nay, đi tiền phong có Thánh Vinh Sơn Liêm,
ḍng Đaminh là người Việt tử đạo đầu tiên năm 1733. Rồi tới Linh mục Anrê
Dũng Lạc, sinh trưởng trong một gia đ́nh rất nghèo khó, bên lương từ nhỏ đă
phải “bán” cho một thầy giảng dậy giáo lư, nhưng rồi Chúa cho tới
chức Linh mục năm 1823, đựơc bổ nhiệm chánh xứ và đương nhiên trở thành nhà
truyền giáo trong nhiều địa hạt. Nhiều lần đă bị lao tù, nhưng vẫn đựơc giáo
dân tốt lành đem tiền chuộc về, trong khi bản thân ngài mong chờ đựơc chết
v́ Chúa. “Những ngừời chết v́ Đức Tin - ngài nói – th́ lên Thiên
Đàng thẳng rẵng; tại sao chúng ta cứ phải ẩn náu, phải tốn tiền đút lót cho
quan quyền: thà để cho chúng tôi bị bắt và rồi tử đạo có phải hơn không?”.
Thực ra, vẫn một ư chí hăng say và được ơn Chúa nâng đỡ, ngài đă anh dũng
chịu trảm quyết tại Hà Nội ngày 21-12-1839.
Các vị Tử
Đạo Việt Nam “gieo trong lệ sầu”, có nghĩa là các ngài đă khởi sự
giữa lớp người đồng hương và giữa nền văn hóa dân tộc một cuộc đối thoại sâu
rộng và cởi mở, bằng cách nêu cao chân lư và tin vào Chúa là sự kiện phổ cập
tất cả hoàn cầu. Đồng thời, các góp phần vào việc nhận định các giá trị và
nghĩa vụ thích hợp với nền văn hóa tôn giáo trong thế giới Đông Phương.
Trong cuốn giáo lư đầu tiên bằng tiếng Việt, các ngài đă tuyên xưng nghĩa vụ
tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi một bản thể đă tạo dựng trời đất. Ra trứơc quan
quyền tra khảo về ĐỨC TIN, các vị Tử Đạo đă quả quyết ḿnh đựơc tự do tín
ngưỡng, và đạo Chúa Trời là đạo duy nhất, nếu ḿnh từ bỏ là bất tuân lệnh
Thương Đế, tức là Thiên Chúa. Đồng thời, các ngài đă can đảm nói lên ư chí
tôn trọng quyền bính trong nước, nhưng không v́ thế mà làm điều ǵ bất chính.
Các ngài đă dậy phải tôn kính Tổ Tiên theo truyền thống dân tộc, và dưới ánh
sang mầu nhiệm Phục Sinh. Do đó, với sự dấn thân và hành động chứng nhân của
các vị Tự Đạo, Giáo Hội Viêt Nam hiên ngang nói lên sự quyết tâm và tha
thiết của ḿnh, không chối bỏ truyền thống văn hóa và các thể chế quốc gia,
trái lại, Giáo Hội tuyên xưng và chứng minh rằng: nếu ḿnh nhập cuộc trong
truyền thống và văn hóa dân tộc là v́ có góp phần vào việc xây dựng quốc gia
một cách trung thực hơn.
Và rồi những
cuộc đấu tranh, những căng thẳng chính trị hồi xưa, xen lộn vào trong những
bang giao giữa giáo dân và nhà cầm quyền, những quan hệ lợi hại giữa các tôn
giáo, những lư do kinh tế xă hội, sự kiện người ta không hiểu rằng: Tín
ngưỡng bao hàm quan niệm siêu việt và phổ cập toàn thế giới là những yếu tố
tạo nên trần gian như một nồi nung nấu, trong đó thanh lọc mọi khía cạnh, để
chỉ nổi bât nét khiết bạch và sức dũng mạnh của tấm gương nhân chứng.
Một lần nữa,
giữa giáo đoàn Viêt Nam, chúng tôi nói lại cho anh em rằng: máu các Tử Đạo
là nguồn ân sủng cho anh em trước tiên, để anh em thăng tiến trong ĐỨC TIN.
Giữa anh em, Đức tin của Tổ Tiên vẫn tiếp tục và c̣n truyền tụng sang nhiều
thế hệ tương lai. ĐỨC TIN này tồn tại để làm nền tảng xây dựng sự kiên tŕ
cho tất cả những người là Việt Nam thuần túy sẽ trung thành với quê hương
đất nước, nhưng đồng thời vẫn c̣n là người tín hữu của Chúa Kitô.
Các Thánh Tử
Đạo: Tử Đạo Việt Nam! Các ngài là chúng nhân cho Chúa Kitô đă toàn thắng sự
chết. Chứng nhân là con ngừơi vẫn đựơc kêu gọi về hướng trường sinh. Thay v́
h́nh khổ ngắn ngủi, anh em sẽ đựơc nhiều ơn vĩ đại, là ví Thiên Chúa đă
luyện lọc anh em và thấy anh em xứng đáng, Ngài đă thử thách anh em như thử
vàng trên lửa và đă chấp nhận anh em như của lễ toàn thiêu. Phải, của lễ
toàn thiêu hợp với của lễ hy sinh trên Thập Giá của Chúa Kitô. Là v́ kiên
cường cho đến chết, anh em đă tuyên xưng Chúa Kitô tử nạn – Ngài là sự khôn
ngoan, là quyền năng Thiên Chúa. Chúa Kitô: trong Ngài chúng ta đựơc Thiên
Chúa cứu rỗi.
C ũng
theo ghi nhận của lịch sử th́ danh sách các vị tử đạo trên đất Việt đă xẩy
ra như sau: Nếu lấy mốc điểm lịch sử là biến cố Thánh Mẫu La Vang năm 1798,
th́ trước biến cố này mới chỉ mở màn có 6 vị trong thế kỷ 18, và sau biến cố
này trong thế kỷ 19 thêm 111 vị nữa, hoàn toàn dưới triều nhà Nguyễn. Nếu
chia theo các triều đại th́ Thời Chúa Trịnh Doanh (1740-1767) 2 vị, thời
Chúa Trịnh Sâm (1767-1782) 2 vị; thời Cảnh Thịnh (1782-1802) có 2 vị; thời
Minh Mạng từ 1820 đến 1840 có 50 vị; thời Thiệu Trị từ năm 1841 đến năm 1847
có 3 vị; và thời Tự Đức từ năm 1847 đến 1862 và 1883 có 58 vị. Các vị đă bị
hành quyết như thế nào, cũng đă được lịch sử ghi nhận như sau: 1 vị bị xử bá
đao, tức bị cắt từng miếng cho đủ trăm mảnh; 4 vị bị lăng tŕ, tức bị chặt
tay chân trước khi chém đầu; 6 vị bị thiêu sinh đều vào tháng 6 năm 1862; 76
vị bị xử trảm, tức bị chém đầu; 21 vị bị xử giảo, tức bị tṛng giây qua cổ
rồi kéo hai đầu giây cho đến khi chết, và 9 vị bị chết rũ tù. Trong vụ tranh
chấp về vụ Ṭa Khâm Sứ ở Tổng Giáo Phận Hà Nội đầu năm nay, vị chủ chăn trẻ
trung Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ở đây đă tuyên bố là ngài sẵn sàng hy
sinh cho con chiên và chính nghĩa.
Chứng nhân t́nh yêu
Thánh lễ hôm
nay đỏ một mầu máu. Máu của hơn 100 ngàn anh hùng tử đạo. Máu của 117 vị đă
được tôn phong lên hàng hiển thánh. Máu ngập tràn chảy suốt hơn 3 thế kỷ
truyền giáo tại Việt nam.
Có điều máu
lênh láng nhưng không tanh tưởi bởi không phải là thứ máu oan khốc nơi chiến
trường tuôn chảy trong hờn căm oán ghét. Máu đẹp như những cánh hoa v́ phát
xuất từ t́nh yêu cao quí. Máu dường như toả hương thơm bởi khơi nguồn từ
những trái tim chan chứa yêu thương. Máu không gây ghê tởm nhưng gợi ḷng
kính trọng. Máu không tạo oán thù nhưng vực dậy yêu thương. Đó là những ḍng
máu làm chứng cho t́nh yêu.
T́nh yêu
Thiên Chúa
Các thánh tử
đạo Việt nam có ḷng tin mạnh mẽ. Ḷng tin của các ngài không biểu lộ trong
những hành vi cuồng tín, nhưng diễn tả trong thái độ chan chứa yêu thương.
Đă nhận biết Chúa, các ngài yêu mến Chúa tha thiết. Đă cảm nhận được t́nh
yêu của Chúa các ngài mong muốn được đáp đền t́nh yêu đó.
T́nh yêu của
các ngài là t́nh yêu hi sinh. Nên các ngài đă từ bỏ tất cả: cuộc sống yên ổn,
danh vọng tiền tài, kể cả mạng sống v́ Chúa. Thánh Hồ đ́nh Hy sẵn sàng chịu
mất chức trong triều đ́nh. Thánh Tôma Thiện vui ḷng dâng hiến tuổi xuân
xanh với những lời hứa hẹn chức quyền của vua quan. Thánh nữ Anê Lê thị
Thành mạnh dạn từ bỏ gia đ́nh êm ấm với những người con ngoan ngoăn dễ
thương. Tất cả v́ t́nh yêu Chúa.
T́nh yêu của
các ngài là t́nh yêu chung thuỷ. Các ngài yêu mến Chúa khi b́nh an, các ngài
càng yêu mến Chúa trong những gian nan thử thách. Các ngài đă thực hiện lời
thánh Phao lô: Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần
hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời
cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có ǵ tách được
chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa
chúng ta (Rm 8:35-39).
T́nh yêu của
các ngài là t́nh yêu cao quí. Đáp lại t́nh yêu của Đức Giêsu Kitô đă hiến
thân v́ các ngài, các ngài cũng hiến dâng mạng sống để minh chứng t́nh yêu
với Chúa. Đúng như lời Chúa nói: Không có t́nh thương nào cao cả hơn t́nh
thương của người đă hy sinh tính mạng v́ bạn hữu của ḿnh (Ga 15:13).
T́nh yêu
cuộc sống
Các ngài là
những người yêu mến cuộc sống. Không phải một cuộc sống tầm thường nhưng là
cuộc sống với tất cả những chiều kích cao đẹp của nó. Cuộc sống với những
giá trị thiêng liêng như lư tưởng, như t́nh yêu, ḷng trung tín. Một cuộc
sống không nô lệ cho vật chất. Một cuộc sống trung thực không giả dối. Một
cuộc sống không bị đóng khung trong thế giới hữu hạn mau tàn nhưng mở ra đến
vĩnh cửu. Một cuộc sống không hạ con người xuống nhưng nâng con người lên
ngang với các thần thánh. Thật sự yêu mến cuộc sống nên các ngài sẵn sàng hi
sinh tính mạng để làm chứng, để bảo vệ và xây dựng.
T́nh yêu
nhân loại
Cái chết của
các ngài minh chứng một t́nh yêu vô biên đối với nhân loại. Các ngài không
chỉ yêu mến Chúa mà c̣n yêu mến gia đ́nh. Hăy nh́n cảnh thánh Lê văn Phụng
hoặc thánh nữ Lê thị Thành an ủi con cháu trước khi ra pháp trường. T́nh yêu
thương của các ngài lan cả tới lính gác, cai tù và lư h́nh. Thánh Lê văn
Phụng chữa bệnh cho người cai tù của ḿnh. Tất cả các thánh vui vẻ ra đi
chịu chết. Không có ai tỏ ḷng oán hận. Và nhất là không có vị nào thù ghét
các lư h́nh.
T́nh yêu của
các ngài phát xuất từ t́nh yêu Chúa nên rộng răi toả lan tới mọi người, mọi
nơi các ngài sinh sống. T́nh yêu ấy là t́nh yêu nguyên tuyền nên không biết
đến sự thù ghét, nên sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm hại ḿnh. T́nh yêu ấy như
bông hoa vẫn toả hương trong tay kẻ ṿ nát nó. T́nh yêu ấy giống như loài gỗ
quí vẫn phả hương thơm cả đến chiếc ŕu bổ vào nó (Fulton Sheen).
Động lực
hướng dẫn cuộc đời các ngài là t́nh yêu. Cái chết của các ngài làm chứng cho
t́nh yêu. Đó chính là điều mà ta có thể bắt chước các ngài. Trong hoàn cảnh
hiện nay, ta không có hi vọng được phúc tử đạo, nhưng ta vẫn có thể noi
gương các thánh Việt nam làm chứng cho đạo Chúa. Nếu ta không được chết cho
t́nh yêu, ta vẫn có thể sống cho t́nh yêu. Có lẽ ngày nay Chúa cũng không
mong ta chết v́ đạo mà mong ta hăy sống v́ đạo.
Lạy các
thánh tử đạo Việt nam, xin chúc lành cho quê hương và Giáo hội Việt nam.
Amen
Ai trong
chúng ta cũng đều biết, trong số 117 vị tử đạo được Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II tôn phong hiển thánh ngày 19/6/1988, không phải toàn là người Việt
Nam, mà c̣n cả những vị thừa sai ngoại quốc người Pháp và Tây Ban Nha nữa:
10 vị gốc Pháp, 2 giám mục và 8 linh mục thuộc Hội Thừa Sai Balê, và 11 vị
gốc Tây Ban Nha là 6 giám mục và 5 linh mục thuộc Ḍng Đaminh. Bởi thế, danh
xưng "Các Thánh Tử Đạo Việt Nam" cần phải được điều chỉnh cho đúng, đó là "Các
Thánh Tử Đạo Ở Việt Nam (hay) Trên Đất Việt". Tuy nhiên, tinh thần tử đạo
th́ hoàn toàn có tính cách Công Giáo như nhau, điển h́nh nhất là vấn đề tôn
trọng quan quyền và ḷng quí chuộng gia đ́nh, hai vấn đề rất tế nhị liên
quan tới văn hóa địa phương của Việt Nam, cánh đồng truyền giáo của Tây
Phương sau phong rào khám phá tanâthế giới cuối thế kỷ 16. Chúng ta hăy đọc
nhận định của tác giả Hiếu Trung Ḍng Đaminh
dưới đây.
Tôn Trọng Vua Quan và Hết Ḷng v́ Quê Hương
Hội nhập vào nền văn hóa Á Đông theo chế độ xă hội gia trưởng, Giáo hội Việt
Nam đă có nét suy tư sáng tạo đặc biệt đóng góp cho Giáo hội toàn cầu. Ngay
từ thời linh mục Đắc Lộ, tín hữu Việt Nam đă coi nhà cầm quyền như một người
cha, mọi người đều là con trong đại gia đ́nh dân tộc. Linh mục Tự đối đáp
với quan ṭa: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ,
và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng
không thể v́ vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được” (6).
Dĩ nhiên trong bối cảnh lịch sử “thượng tôn tống Nho” của nhà Nguyễn, th́
việc đề cao chữ hiếu hơn chữ trung đủ làm cho triều đ́nh thêm khó chịu. V́
khi đề cao hiếu hơn trung, người Công giáo tuân lệnh vua một cách có suy
nghĩ, có chọn lựa, tuân giữ luật lệ hợp lư, nhưng bạo dạn phản đối điều
nghịch lư trái với lương tâm ḿnh. Dầu sao giới Công giáo không tổ chức nổi
loạn, bạo động. Giám mục Alonso Phê trong thư chung năm 1798 xác định khí
giới đánh giặc bách hại “chẳng phải là súng ống gươm giáo đâu, mà là đức
tin, lời cầu nguyện và đức bác ái” (7).
Đức cha Xuyên ra vạ tuyệt thông cho ai tổ chức bạo động, và buộc những ai vu
cáo ngài cổ động nổi dậy phải cải chính công khai (7). Giám mục Hermosilla
Liêm nhắc nhở các tín hữu phải tuân giữ luật nhà phép nước, c̣n nếu bị vu
cáo tội chính trị th́ cứ an tâm, v́ Đức Giêsu xưa từng bị dân Do Thái lấy cớ
chính trị để giết (Ga 19:12). Ngài nói tiếp: ”... Phô con đừng ḥa tập vuôi
giặc, đừng nghe chúng nói dối dá đấng ấy đấng khác sai chúng nó, v́ cái ấy
là không hẳn” (8).
Là dân trong nước, các tín hữu sẵn sàng thi hành nghĩa vụ công dân, từ thuế
khóa cho đến gia nhập quân ngũ. Năm 1838 nguyên tại tỉnh Nam Định, quan tổng
đốc Trịnh quang Khanh đă tụ tập được năm trăm binh sĩ Công giáo, để rồi bắt
đạp lên thánh giá (9). Trong quan trường, chiếu chỉ tháng 9.1855 ra lệnh
sàng lọc các quan Công giáo, cấm đạo đồ đi thi hay nhận chức vụ trong làng
trong tổng (10). Thế mà sáu năm sau (1861), trong một đợt thanh trừng, triều
đ́nh c̣n bắt được ba mươi hai viên quan, ba người chối đạo, mười tám bị giết,
mười một bị lưu đày (11).
Các thừa sai Pháp sẵn sàng làm nhân viên thông dịch cho nhà vua. Chính Minh
Mạng định phong các ngài làm quan chức trong triều đ́nh. Linh mục Gagelin
Kính đại diện anh em từ chối đặc ân đó, “tuy nhiên, những việc đó nào có thể
dung ḥa với nhiệm vụ linh mục của tôi, tôi sẵn sàng giúp đỡ nhà vua”. Thừa
sai Jaccard Phan liên tục giúp vua mười năm, dù bị lănh ba án tử h́nh: Lần
đầu vua giảm thành án xung quân để dịch sách, lần hai đổi thành án lưu đầy
chung với thừa sai Odorico Phương, vị này chết nơi rừng thiêng nước độc, c̣n
ngài vẫn sống sót và tiếp tục dạy sinh ngữ và dịch sách cho hoàng triều. Lần
cuối cùng cha tử đạo vào ngày 21.9.1838. Trước đó, nhiều người khuyên ngài
bỏ trốn, ngài nói: “Không bao giờ, tôi muốn chứng tỏ phải dùng điều thiện để
thắng điều ác”.
Cuốn giáo lư đầu tiên cho người Công giáo Việt Nam, cuốn “Phép giảng tám
ngày” (1651) của cha Đắc Lộ đă khẳng định các tín hữu theo đạo Thiên Chúa,
đạo của mọi quốc gia chứ không phải đạo Phú Lăng Sa (12). Đến thời Lê Cảnh
Hưng (1740-1786), trong cuộc tranh luận bốn tôn giáo, được ghi lại trong
cuốn Hội Đồng Tứ Giáo (Tân Định, 1959, tr. 4-6), các linh mục Công giáo đă
trả lời vấn nạn “Đạo Hoa Lang là đạo ngoại quốc” rằng: “Chớ ǵ đạo Phật
chẳng từ Ấn độ, đạo Nho từ nước Lỗ, c̣n đạo Lăo chẳng từ đời nhà Châu ở
Trung Hoa sao? và đă khẳng định: “Chẳng có đạo nào là đạo Hoa Lang. Đạo
chúng tôi là đạo Thiên Chúa, chúng tôi ước ao thiên hạ mọi nước đều biết”.
Linh mục Vũ bá Loan tŕnh bày điều đó với quan: “Tôi chẳng theo đạo của nước
nào cả, tôi chỉ thờ Chúa trời đất, Chúa của muôn dân thôi”.
Cũng v́ vậy khi quân đội Pháp tiến vào Đà Nẳng năm 1858, giới Công giáo
không hề làm nội ứng như thừa sai Pellerin tưởng (13). Ngược lại, họ t́nh
nguyện đi bảo vệ non sông. Có điều vua Tự Đức đ̣i họ muốn tham chiến phải bỏ
đạo trước đă. Tháng 7.1857, có mười bốn binh sĩ, một bỏ đạo, mười ba bị lưu
đày. Tháng 4.1858, trong nhóm hai mươi binh sĩ, bốn bỏ đạo, mười sáu bị lưu
đày. Và khi tàu Pháp đến, một trăm chín mươi ba binh sĩ Công giáo chuẩn bị
lên đường xuống Đà Nẵng, v́ không chối đạo đă lănh án chung thân.
Một vị tử đạo thời này là binh sĩ Phanxicô Trần văn Trung, đă bị giết v́
khẳng khái tuyên bố: “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất
nước, nhưng bỏ đạo th́ không bao giờ (14).
Mặn Nồng T́nh Nghĩa Gia Đ́nh
Một trong những đóng góp của giới Công giáo vào cơ chế pháp lư gia đ́nh Việt
Nam, là luật lệ một vợ một chồng. Trong giai đoạn văn hóa quá ảnh hưởng quan
điểm Nho giáo “trai năm thê bảy thiếp”, các tín hữu đă góp phần đề cao đạo
đức thủy chung của dân tộc trong truyện trầu cau. Dĩ nhiên không phải mọi
tín hữu đều trung thành với lời cam kết hôn nhân, như ông Gẫm, binh sĩ Huy,
Cai Th́n, quan Hồ đ́nh Hy... đă có thời gian sa ngă, thế nhưng tất cả đều
biết trở về để vun đắp lại mái ấm gia đ́nh của ḿnh.
Trong danh sách 117, trừ một số theo đạo khi đă trưởng thành, c̣n những ai
sinh ra trong gia đ́nh Công giáo đều được rửa tội và giáo dục đức tin ngay
từ bé. Thầy Đaminh Úy từng mạnh dạn tuyên bố, giữ vững niềm tin là giữ đạo
cha ông: “Nếu tôi cả gan bước lên thánh giá, th́ tôi xúc phạm đến Chúa và
bất hiếu với mẹ cha. V́ song thân sinh ra tôi đă dạy tôi trung thành với
niềm tin cho đến chết”. Nói chung các vị tử đạo khi bị bắt không thoát khỏi
t́nh cảm quyến luyến với người thân, có điều các vị chọn lựa Thiên Chúa và
tin tưởng phó thác người thân cho Ngài. Nhiều vị đang bị giam được về thăm
gia đ́nh, đă b́nh tĩnh khuyên vợ con vui vẻ cho ḿnh chịu tử đạo, rồi tự
động trở vào tù như các ông Dũng, Thuần, Ngôn, Năm Thường... Ta có thể biết
điều đó trong vài di ngôn cuối cùng sau:
Ông Thọ căn dặn các con vào thăm trong tù: “Các con thân mến, cha không c̣n
làm ǵ giúp các con ở thế gian này được nữa, cha chỉ c̣n lo chuẩn bị tâm hồn
đón nhận những thử thách cuối cùng. Ư Chúa đă muốn cha xa ĺa các con măi
măi, nhưng các con c̣n có mẹ, hăy cố vâng lời mẹ. Các con lớn hăy nhớ quan
tâm săn sóc em ḿnh. Các con nhỏ phải biết kính trọng vâng lời anh chị. Hăy
yêu thương nhau, siêng năng làm việc đỡ đần mẹ. Hăy nhớ đọc kinh tối sáng và
lần chuỗi Mân Côi hằng ngày. Chúa trao cho mỗi người một thánh giá riêng,
hăy vui vẻ vác theo chân Chúa và kiên trung giữ đạo”.
Y sĩ Phan đắc Ḥa th́ nói: “Cha yêu thương các con và hằng chăm sóc các con,
nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn, các con hăy vui ḷng vâng ư Chúa, đừng
buồn làm chi. Các con ở với mẹ, yêu thương nhau và săn sóc việc nhà...”.
Nói đến t́nh nghĩa gia đ́nh, chúng ta khó có thể quên một số h́nh ảnh như:
Linh mục Triệu v́ thương mẹ già ở lại Huế ba tháng dựng nhà cho mẹ, nên mới
bị bắt. Ông đội Trung có con gái được phép ở trong tù chăm sóc, nhưng ông
bắt con về nhà để kịp học giáo lư với bạn bè trong xứ. Ông trùm Phụng tại
pháp trường gặp lại con gái, cô Anna Nhiên, đă đeo cho con ảnh Thánh giá ở
cổ ḿnh và nói: “Con hăy nhận lấy kỷ vật của ba. Đây là ảnh Đức Giêsu Kitô
Chúa chúng ta, ảnh này quư hơn vàng bạc bội phần. Con hăy luôn mang nơi cổ
và trung thành cầu nguyện sớm chiều con nhé”. Nếu nói đến gia đ́nh tử đạo
phải kể: anh em có Anrê Tường — Vinh Sơn Tưởng; cha con có Án Khảm — Cai
Th́n; con rể bố vợ có Lư Mỹ — Trùm Đích.
Ông Lư Mỹ v́ thấy nhạc phụ đă cao niên, mỗi cuộc tra tấn đều tự nguyện chịu
đ̣n hai lần thay thế cho cha. Con gái ông Lư mười hai tuổi, trốn mẹ vào tù
thăm và thưa: “Xin cha can đảm chịu chết v́ Chúa”. Cậu Tường chín tuổi, con
trai ông không đi được, cũng nhắn lời: “Cha đừng lo cho chúng con, cha cứ an
tâm vững ḷng xưng đạo và chịu chết v́ đạo”. Vợ ông, bà Mỹ nói trong tiếng
nghẹn ngào: “Vợ con ai mà chẳng thương tiếc, nhưng ông hăy hy sinh vác thánh
giá rất nặng v́ Chúa. Hăy trung thành đến cùng, đừng lo nghĩ đến mẹ con tôi!
Thiên Chúa sẽ quan pḥng tất cả”.
Như thế, ta thấy những thân nhân của các vị tử đạo, tuy vẫn tiếc thương, vẫn
buồn khóc, nhưng cũng can đảm và tin tưởng yểm trợ tinh thần cho các chứng
nhân. Chúng ta quan tâm đặc biệt đến h́nh ảnh một số bà mẹ:
Bà mẹ của Jaccard Phan, khi nghe tin con chịu chết v́ đức tin đă reo lên:
“Thật là tin vui, gia đ́nh ta có một vị tử đạo”. Bà nói tiếp: “Xin chúc tụng
Chúa, tôi sẽ buồn biết bao, nếu con tôi chịu khuất phục trước gian khổ và
cực h́nh”.
Bà mẹ Castaneda Gia, khi em trai vị linh mục đang t́m cách báo tin sao cho
khéo để mẹ bớt buồn. Bà hỏi: “Tại sao Jacintô của mẹ lại chết? Anh ấy chết
bệnh hay bị giết?”. Cậu Clêmentê hỏi lại: “Vậy mẹ muốn anh ấy chết cách nào?”.
Bà đáp: “Mẹ mong rằng Jacintô chết v́ đức tin”. Clêmentê liền nói: “Vâng
thưa mẹ, chính v́ đức tin mà anh ấy bị giết”. Ngay chiều hôm đó, bà liền đến
nhà thờ ḍng Đaminh để cùng cới các tu sĩ hát lên lời kinh Tạ ơn TE DEUM.
Bà Maria Nhiệm, thân mẫu Thánh Gẫm, năm 1870, tức là hai mươi ba năm sau
cuộc tử đạo của con trai, đă đến làm chứng tại ṭa án phong Chân Phước. Bà
nói: “Khi nghe tin con bị giết, vợ chồng chúng tôi không thảm thiết ǵ hết,
chỉ nói: Chết như vậy đặng làm thánh”.
Nhưng h́nh ảnh nổi bật nhất là bà mẹ binh sĩ Anrê Trông, được Đức Lêo XIII
trong sắc phong Chân Phước năm 1900 ca tụng về ḷng can trường, đă theo
gương “Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo”. Bà có mặt trong cuộc hành quyết để dâng
hiến người con trai duy nhất. Bà đi cạnh con, không than khóc, không sầu
buồn, lại b́nh tĩnh khuyên con bền chí. Và khi đầu vị tử đạo rơi xuống, bà
mạnh dạn tiến vào pháp trường và nói với quan: “Đây là con tôi, xin các ông
trả lại cái đầu nó cho tôi”. Rồi bà mở rộng vạt áo, bọc lấy thủ cấp của
người con yêu quư, đem về an táng ngay trong nhà.


|
|