Lễ Thánh Phanxicô Xavie

ngày 03/12

BỔN MẠNG CÁC XỨ TRUYỀN GIÁO

Mc 16,15-20


Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

 

MỘT CON NGƯỜI SỐNG KHÓ NGHÈO TUYỆT ĐỐI

Trong mối phúc thứ nhất, thánh Matthêu viết:” Phúc cho những ai có tâm hồn khó nghèo…”. Tâm hồn khó nghèo là tâm hồn khao khát Chúa, muốn chọn Chúa làm gia nghiệp mà gác lại bên cạnh cả sự giầu sang phú quí, danh vọng và tất cả mà thế gian có thể dành cho con người. Thánh Phanxicô Xavie quả thực là con người đă chọn Chúa, chọn cái nghèo khó, mạt đời mà nhân loại vẫn gán cho những người điên…


MỘT CON NGƯỜI NGHÈO DÙ GIA Đ̀NH VÀ BẢN THÂN DƯ ĐẦY:

Thánh nhân sinh ra trong một gia đ́nh phú quí, giầu sang tại giáo phận Pampelure, nước Tây Ban Nha. Dù sống sung túc, dư ăn, dư để. Vào thời đó người ta thường nói “ăn trên ngồi trước””sống trên nhung lụa”. Thánh Phanxicô Xavie không thiếu thốn bất cứ sự ǵ trên đời. Cha mẹ Ngài cũng muốn cho con cái có danh vọng,giầu sang, có địa vị cao trong xă hội. V́ thế, năm 19 tuổi, gia đ́nh gửi Ngài du học bên Pháp vẫn với ư định tạo cho con một địa vị, một thế giá trong xă hội. Thánh nhân học rất thành công, chỉ tám năm sau khi được du học, thánh nhân đă đỗ đạt cao và trở thành giáo sư nổi tiếng tại đại học Pháp. Phanxicô xavie có trí thông minh vượt trổi và Ngài luôn theo đuổi danh vọng thế tục.

 

Nhưng việc ǵ Thiên Chúa định, Thiên Chúa hướng dẫn con người theo ư định của Người đúng như lời thánh Phaolô viết trong thư gửi giáo đoàn Roma rằng:”…Không ai hiểu được tâm tư của Chúa, cũng chẳng ai biết được ư định của Người. Đường lối của Người khác với đường lối của con người”. Thế là Thiên Chúa đă đánh bại Phanxicô xavie để chiếm đoạt Ngài trọn vẹn. Chỉ một lời Tin Mừng qua lời giảng của thánh Ignatiô Loyola:”Lời lăi thế gian mà mất linh hồn th́ được ích ǵ ? “. Qua lời của Chúa, Thiên Chúa đă biến đổi Phanxicô xavie trở thành khí cụ b́nh an của Ngài. Thánh nhân đă lănh nhận sứ mệnh rao giảng Tin Mừng nơi Đức Giáo Hoàng Phaolô III là đem ánh sáng Phúc Âm cho người Ấn Độ.


THÁNH PHANXICÔ XAVIE ĐĂ MIỆT MÀI LOAN BÁO TIN MỪNG:

Như Phaolô trên đường đi Đamas bắt bớ Hội Thánh Chúa, Phanxicô xavie cũng nếm mùi thất bại khi đang hăng say t́m danh vọng giả trá, mau qua.Thánh nhân được biến đổi hoàn toàn như chú chồn hoang trong “Hoàng Tử Nhỏ ”. Được cải hóa biến tan trong t́nh thương của Chúa, thánh Phanxicô xavie đă rong ruổi khấp nơi để giới thiệu Chúa Kitô suốt mười một năm trường. Cuộc hành tŕnh truyền giáo của Ngài không bao giờ ngừng, không bao giờ mệt mỏi. Thánh nhân đă đi mọi nơi từ Ấn Độ, Macao, Nhật Bản và cả Trung Hoa cũng hiện ra trước mắt Ngài. Thánh nhân luôn được thúc bách để rao giảng Tin Mừng như ngày 15/8/1534 khi thánh nhân nhất quyết cùng một số người bạn thân tín lên đồi Montmartre, nơi có nhà thờ Thánh Tâm uy nghi, lộng lẫy và tuyên khấn ba lời khuyên Tin Mừng:Khiết Tịnh, Vâng Phục và Khó Nghèo. Thánh nhân và các bạn đă hoàn toàn thuộc về Chúa. Cuộc hành tŕnh truyền giáo bắt đầu từ đó. Con người mới cũng bắt đầu từ đó. Thánh nhân đă sống giây phút đẹp nhất của ơn cứu độ ngay từ giây phút hoàn toàn v́ Chúa, cho Chúa và sống cho Chúa. Thánh nhân đă sống truyền giáo không mệt mỏi. Ngài đă sống sẵn sàng luôn măi trong tư thế truyền giáo đúng như lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói:” Giáo Hội sống trong t́nh trạng truyền giáo đời đời”. Thánh nhân đă sống cái hăng say, đă sống cái lửa nhiệt thành nhất là đem càng nhiều người về với Chúa bao nhiêu càng tốt.


MỘT CON NGƯỜI ĐĂ CHỌN CÁI NGHÈO NHƯ LẼ SỐNG CỦA ĐỜI:

Khi chọn cái nghèo, thánh Phanxicô Xavie đă muốn họa lại chính con người của Chúa:” chồn có hang, chim có tổ, con người không nơi tựa đầu”.Chọn cuộc đời nghèo khó là sống cái phó thác trọn hảo nhất cho Chúa, sống hoàn toàn trong bàn tay quan pḥng của Chúa, thánh Phanxicô xavie đă chọn cho ḿnh và chọn cho các anh em Ḍng hèn mọn cái gia tài lớn lao nhất là Đức Kitô. Của cải, danh vọng và giầu sang của trần thế luôn tràn ngập. Ḍng anh em hèn mọn do thánh Phanxicô thiết lập có đủ mọi sự theo cái nh́n người đời, nhưng tất cả những của phù vân mau qua đó, thánh nhân và anh em ḍng hèn mọn luôn coi đó chỉ là những phương tiện để mọi người có thể gặp Chúa. Cái quan trọng nhất vẫn là sống cho Chúa và đem nhiều linh hồn về với Chúa. Chính v́ thế, thánh nhân đă nhân hóa hết mọi sự v́ vinh danh Thiên Chúa và v́ phần rỗi các linh hồn: ” Lạy Chúa từ nhân xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người…”.

 

Lạy Chúa, Chúa đă sai thánh Phanxicô đi rao giảng để kêu mời các dân tộc Á Châu đónnhận Tin Mừng. Xin cho các tín hữu được nhiệt thành truyền giáo như thánh nhân, và cho Giáo Hội được hân hoan đón nhận nhiều con cái”(Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Phanxicô xavie, linh mục).

 

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

 

 

Thánh Phanxicô Xaviê

vỚi sỨ vỤ truyỂn giáo


Lm. Nguyễn ngọc Long

 

Ngày xưa con tầu là phương tiện vận chuyển người cùng vật dụng, hay trong dịch vụ buôn bán, từ nước này sang nước khác vượt sông biển xa xôi ngàn dặm, rất phổ thông trong đời sống.


Ngày nay, tuy có những phương tiện vận chuyển mới khác nhanh lẹ hơn, nhưng phương tiện bằng tầu thủy vẫn c̣n thích hợp.


Một con tầu không chỉ là phương tiện vận chuyển đồ trên thủy lộ, nhưng tầu c̣n là phương tiện đưa con người đi du lịch tham quan thắng cảnh trên sông ng̣i, biển cả từ vùng này tới vùng khác, từ nước này sang nước khác. Phương tiện du lịch bằng tầu thủy ngày nay phát triển mạnh, đưa con người đến miền có nhiều cảnh thiên nhiên mới lạ thi vị mơ mộng.


H́nh ảnh một con tầu có liên quan ǵ tới đời sống đức tin của chúng ta không?

Theo Kinh Thánh thuật lại ( St 7,1-24) khi nạn lụt đại hồng thủy dâng lên bao phủ khắp mặt đất 40 ngày đêm, gia đ́nh Ông Noe đă vào sống trong một con tầu. Và nhờ sống trong tầu gia đ́nh Ông mới sống sót không bị nước cuốn tiêu diệt như bao người khác.


H́nh ảnh con tầu lịch sử Noe thầm nói lên ư nghĩa: Một ngôi nhà dùng để vượt qua những nguy hiểm trong đời sống. Ngôi nhà đó là Giáo Hội Chúa ở trần gian.


Trong ngôi nhà đó, các Bí tích là nguồn nước sự sống, là nguồn lương thực đời sống đức tin cho con người.


V́ thế, xưa nay nhiều thánh đường được xây cất theo mô h́nh nhà thờ dài như một con tầu.


Khi sang loan truyền Tin mừng t́nh yêu nước Thiên Chúa, mang con tầu Giáo Hội Chúa đến cho vùng đất xa lạ, các nhà Truyền Giáo cũng đă dùng phương tiện di chuyển bằng tầu vượt qua biển cả từ Âu châu sang tới Á châu, sang Việtnam. Trong số những vị đi truyền giáo đó có Thánh Phanxico Xaviê.


Thánh Phanxicô Xavie không chỉ dùng tầu vượt biển sóng nước đến Á Châu, nhưng Ông c̣n xây dựng con tầu Giáo Hội ở nơi đó nữa.

Sử sách không thấy nói đến Ông xây những ngôi thánh đường nguy nga lộng lẫy theo mô h́nh con tầu. Nhưng chỉ nói đến sứ vụ truyền giáo rao giảng Tin mừng với ḷng nhiệt thành hăng say của ông thôi. Sứ vụ truyền giáo của Thánh nhân qui vào việc xây dựng ngôi nhà Giáo Hội nơi tâm hồn con người. Những ngôi nhà thờ tâm hồn con người, mà Thánh nhân đă xây dựng, để lại “ dấu vết ngàn xưa lưu kư”.


Cũng theo sử sách thuật lại, Thánh nhân đă mang làn nước Bí tích Rửa tội đến cho hàng chục ngàn người bên Trung Hoa bên Ấn Độ.


Làn nước Bí tích rửa tội Thánh nhân mang đến cho những con người đó, là chỉ lối cho họ đi vào ngôi nhà Giáo Hội của Chúa, nơi có nguồn nước sự sống, nguồn lương thực tâm linh cho tâm hồn con người.


Làn nước Bí tích rửa tội, Thánh Phanxico Xaviê đă mang đến cho họ, không chỉ có ánh sáng đức tin soi đường tới ngôi nhà con tầu Giáo Hội của Chúa, nhưng họ c̣n tiếp nhận một con đường, đúng hơn một truyền thống, giáo dục đào tạo Kitô giáo nữa.


Nền giáo dục đào tạo đó thể hiện theo chiều thẳng đứng: Trời và đất, Thiên Chúa và con người liên kết với nhau; theo chiều ngang nền chân trời: con người với nhau, con người với thiên nhiên, với quê hương đất nước, nơi sinh ra nơi sinh sống, cùng trong tương quan liên đới với nhau.

 

Nền giáo dục đào tạo đó đặt nền tảng trên Tám mối phúc thật

"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,v́ Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành,v́ họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.


Phúc thay ai sầu khổ,v́ họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính,v́ họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả ḷng.


Phúc thay ai xót thương người,v́ họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.


Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,v́ họ sẽ được nh́n thấy Thiên Chúa.


Phúc thay ai xây dựng hoà b́nh,v́ họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.


Phúc thay ai bị bách hại v́ sống công chính,v́ Nước Trời là của họ.


Phúc thay anh em khi v́ Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.”(Mt 5,2-12
)


Nền giáo dục đào tạo đó lấy bác ái, khiêm nhường làm mẫu mực cho đời sống: “ đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an ḥa vào nơi tranh chấp, đem chân lư vào chốn lỗi lầm.” ( Kinh ḥa b́nh của Thánh Phanxico)
•••

Thánh Phanxicô Xaviê đă về trời từ hằng trăm năm nay, nhưng ngôi nhà đền thờ tâm hồn con người, qua làn nước Bí tích rửa tội, ngài đă xây dựng vẫn c̣n đó và tiếp tục phát triển nơi con người.


Thánh nhân không c̣n sống trên trần gian từ hàng thế kỷ nay. Nhưng nền giáo dục đào tạo Kiô giáo, mà ngài đă gieo trồng nơi những con người xưa kia, vẫn ăn rễ sâu nơi đời sống tin thần con người, vẫn luôn vang vọng ảnh hưởng đến suy nghĩ cùng cách sống của những thế hệ con người.


Nền Giáo dục đào tạo Kitô giáo đă giúp nhiều người xây dựng đời sống, t́m được niềm vui cùng b́nh an trong đời sống.


Lm. Nguyễn ngọc Long

 

 

THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ

QUAN THÀY CÁC XỨ TRUYỀN GIÁO

Đ.Ô. Mai Đức Vinh

LTS- Giáo Hội dành năm 2006 để nêu bật 500 tinh thần truyền giáo của thánh Phanxicô tại Á Châu. Đối với các cha ḍng Tên, năm 2006 là năm mừng 500 năm sinh nhật của thánh Phanxicô(1506-2006) và450 năm từ trần của thánh Inhaxiô, ra đời năm 1491 và tạ thế năm 1556. Về phần chúng ta, đây là một trùng điệp đầy ư nghĩa thiêng liêng với Hướng đi Mục vụ của Giáo Xứ Việt Nam Paris : Liên Đới Tin Mừng. V́ thế, báo Giáo Xứ dành số này viết về Thánh Phanxicô, và tôi hân hạnh gửi đến quư Độc Giả bài ‘Tiểu sử của Thánh Phanxicô’.

 

Ảnh hưởng của t́nh bạn.

Phanxicô sinh ra năm 1506 tại điện Xaviê, làng Pampelune, tỉnh Navare, nước Tây Ban Nha. Sau khi tốt nghiệp trường Sainte-Barbe, Phanxicô được bổ nhiệm làm giáo sư triết tại đại học Paris. Chẳng bao lâu, người giáo sư trẻ này đă lừng danh và được nhiều người ca tụng. Những thành công ấy đă biến Phanxicô thành con người mải miết đi t́m danh vọng. Nhưng rồi nhờ ảnh hưởng của một người bạn, Phanxicô đă thay đổi hẳn đời sống : người bạn đó chính là Inhaxiô, khách trọ cùng buồng với Phanxicô.

 

Tác động của Lời Chúa.

Inhaxicô biết Phanxicô từ năm 1525. Nhưng làm thế nào để chinh phục chàng thanh niên có nhiều triển vọng làm nên những đại sự đang say sưa t́m kiếm danh vọng, gầy dựng sự nghiệp ? Trước hết Inhaxiô cố gắng gây thiện cảm và ḷng tín nhiệm, rồi lâu lâu t́m dịp nhắc cho Phanxicô lời Chúa : «được lợi lăi cả thế gian mà mất linh hồn, th́ ơn ích ǵ ?» (Mt 19,16). Lúc đầu, Phanxicô không chút cảm động về câu Phúc Âm ấy. Nhưng dần dần, chính lời này đă chinh phục hoàn toàn chàng thanh niên đầy tham vọng. Ngày 15.08.1534, chàng đă cùng với Inhaxiô và năm anh em khác đến hầm thánh đường Monmartre khấn hứa «cùng nhau phục vụ Nước Chúa». Ḍng Tên kể như được thiết lập từ đó.


Chuẩn bị hành trang.

Hai năm sau, Phanxicô cùng các bạn từ giă Paris, qua Roma bái yết đức giáo hoàng. Trước khi tới thủ đô Giáo Hội, nhóm người trẻ ghé Venise và chia nhau đi giúp các bệnh nhân trong nhà thương để thực hành đức khiêm tốn và bác ái. Để tập hy sinh và thắng ḿnh, có lần Phanxicô đă cúi xuống hút mủ ở vết thương của một bệnh nhân mà tự nhiên chàng lấy làm kinh tởm. Tới Roma, nhóm anh em được đức Phaolô III vui vẻ tiếp đón và chúc lành cho những đự án của đàn con. Trở về Venise, Phanxicô được thụ phong linh mục, và từ đó, ngài gia tăng việc ăn chay, suy niệm, thực hành bác ái để thánh hóa bản thân và chuẩn bị hành trang cho những sứ vụ sẽ được bề trên trao phó.


Sứ vụ tuyên chứng Tin Mừng.

Mùa xuân năm 1539, vua Bồ Đào Nha là Gioan III muốn xin mấy vị thừa sai đi giảng Tin Mừng cho dân Án Độ. Thánh Inhaxiô bấy giờ là bề trên tiên khởi của ḍng Chúa Giêsu, chúng ta quen gọi là ḍng Tên, cử cha Rotringuez, Robidinla, và thày Phaolô đi. Cha Phanxicô muốn đi lắm, nhưng cha khiêm tốn, để hoàn toàn theo ư bề trên chỉ định, chứ không ngỏ ư xin. Nhưng gần ngày đi, v́ điều kiện sức khỏe, cha Bobinda phải ở lại, thế là cha Phanxicô được cử đi thay thế với chức vụ trưởng phái đoàn. Cha nhanh nhẹn lên đường đi tuyên chứng Tin Mừng, hồ hởi không kém tiên tri Isaia ngày xưa (x.Is 6,8). Năm ấy, cha vừa chẵn 35 tuổi. Sau những tháng lênh đênh trên mặt biển, ngày 07.06.1542, phái đoàn truyền giáo ḍng Tên đặt chân lên thành phố Goa và bắt đầu ngay công việc rao giảng Tin Mừng. Ngoài việc học tiếng và t́m hiểu phong tục bản xứ để dễ bề truyền giáo, cha t́m hết mọi phương cách bác ái, phục vụ và rao giảng, giúp cho dân chúng tin nhận «Thiên Chúa là T́nh Yêu» và «Chúa Giêsu đáng yêu mến là chừng nào». Ngày ngày, cha len lỏi đi thăm các bệnh nhân phong cùi, các người cùng đinh hấp hối trên vệ đường, các tội phạm trong nhà tù và dân nghèo trong các xóm nhà lá… Đức giám mục thành Goa và vua Bồ Đào Nha rất hài ḷng về phương cách truyền giáo của phái bộ ḍng Tên. Trong số đông đảo người tin nhận Phúc Âm, có nhiều gia đ́nh qúy phái hay hoàng tộc.

 

T́nh yêu Chúa thúc đẩy.

Những thành công như trên là kết quả của sứ vụ truyền giáo rập theo mẫu mực của Chúa Giêsu ngày xưa. Thật vậy, trước hết đó là kết quả của ơn Chúa, của đời sống thanh bần, thoát ly mọi dính bén của cải, mọi tham ước danh vọng : chỉ hoạt động v́ t́nh yêu Thiên Chúa thúc đẩy. Hành trang truyền giáo của cha Phanxicô là cây Thánh Giá luôn cầm ở tay, một sắc vải đựng cuốn Thánh Kinh và cuốn Sách Nguyện. Thứ đến là kết quả của đời sống kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu bằng kinh nguyện và tĩnh mạc : Bắt chước Chúa Giêsu, cha Phanxicô suốt ngày đi rao giảng, làm việc bác ái, đêm xuống, cha vào pḥng đóng cửa lại hay t́m nơi thanh vắng cầu nguyện và suy gẫm. Sau cùng, đời sống của cha Phanxicô luôn được thúc đẩy và hun nóng bởi một ḷng khao khát và nhiệt thành làm cho vinh quang của Thiên Chúa được lớn lên (Ad majorem gloriam Dei) và cho nhiều linh hồn được cứu rỗi (Ad animarum salutem). Ḷng khao khát đó, ngày kia khi đứng trên tàu nh́n vào các nước Á châu, cha Phanxicô đă mượn lời thánh Phaolô mà thốt lên : «Ơi t́nh yêu Chúa Kitô đă thúc đẩy tôi (2Cr 5,14)… Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng của Chúa » (1Cr 9,16).


Tham vọng duy nhất : mở rộng Nước Chúa.

Cũng chính v́ khát vọng cho Danh Chúa cả sáng và cứu rỗi được nhiều linh hồn, mà cha Phanxicô không hài ḷng với chương tŕnh chỉ giảng đạo ở một nơi. Ngài muốn đi đến hết mọi nơi nào có thể, không phải để thỏa măn tính ‘phiêu lưu lăng tử‘, nhưng để đem Chúa đến cho mọi người. Dịp may đă đến với cha Phanxicô : năm 1549, nhân dịp một thủy thủ công giáo người Nhật hồi hương, cha đă xin được phép bề trên qua giảng đạo trên đất Phù Tang. Theo một sử gia đáng tin cậy, cha Phanxicô đă đến giảng đạo ở Nam Dương trước khi sang giảng đạo ở Nhật. Ngày 15.08.1549, thuyền đưa cha tới bến Cagosima thuộc đảo Kiu-Siu (Kiou-Siou). Ở đây, sau những tháng chịu đựng cách xử lạnh nhạt của quan chức và dân chúng địa phương, cha đă gieo nhiều hạt giống Phúc Âm và rửa tội cho nhiều người. Lấy Cogosima làm cứ điểm, cha t́m cách tiến vào các đảo và các miền chung quanh như Miyako tức Tokio bây giờ,rồi Yamagouski. Đâu đâu Ngài cũng gặp nhiều khó khăn, nhiều trở ngại. Tuy nhiên sau cùng ngài vẫn đưa phần thắng về cho Giáo hội : Ngài rửa tội nhiều người, lập nhiều cứ điểm dạy giáo lư, huấn luyện nhiều chiến sĩ truyền giáo địa phương. Trong một chuyến tàu từ Nhật qua Trung Hoa, cha Phanxicô đă có dịp ghé vào Việt Nam khi tàu của ngài buộc phải ghé vào để tránh giông tố. Măi tới giữa năm 1552 cha Phanxicô mới tới Tân Châu, cách Quảng Đông hơn 150 cây số. Ngài giảng đạo tại đó, chờ có dịp sẽ tiến sâu vào Trung Hoa lục địa.

 

«Lạy Chúa, xin thêm nữa, xin thêm nữa !»

Chờ đợi măi không có dịp thuận lợi, cha Phanxicô và các bạn hoạch định một chương tŕnh mới là lấy tầu đi tới Thái Lan. Nhưng thánh ư Chúa lại khác ! Tháng 11 năm ấy, cha ngă bệnh nặng. Ngày đêm nằm trên giường cha chỉ lặp đi lặp lại : «Lạy Chúa Giêsu, con vua David, xin thương xót con » (Mt 15,22). Tám hôm sau, cha bất tỉnh và không nói được nữa. Cho đến ngày thứ tư cha mới tỉnh lại và nói đôi chút. Từ lúc đó, cha nói liên tục : «Lạy Chúa, xin thêm nữa, xin thêm nữa ! Lạy Trinh nữ Mẹ Thiên Chúa, xin nhớ đến con ». Mờ sáng ngày 03.12.1552 cha êm ái trút hơi thở, hưởng thọ 46 tuổi. Xác cha được đưa về mai táng tại thành Goa, An Độ.

 

Triều thiên Hiển Thánh.

Cuộc đời truyền giáo của cha Phanxicô tuy ngắn ngủi, nhưng công lao sự nghiệp của ngài thật lớn lao. Trong 12 năm truyền giáo, cha đă đi bộ tới 100 ngàn cây số, và đă rửa tội với con số kỷ lục phỏng độ ba vạn người. Dẫu được thành công, và làm được những việc lớn lao, như lần kia có một người chết chôn từ hôm trước mà cha đă gọi ra khỏi mồ, thánh Phanxicô vẫn một mực khiêm tốn, vâng lời bề trên. Mỗi khi viết thơ cho bề trên, bấy giờ là thánh Inhaxiô, cha Phanxicô qùy gối mà viết. Với sự nghiệp và nhân đức như vậy, cha Phanxicô xứng đáng được Giáo Hội liệt kê vào sổ những bậc đại thánh và làm gương mẫu muôn đời cho các nhà truyền giáo. Cha Phanxicô được phong Chân phước năm 1619 và được cất lên bậc hiển thánh năm 1622. Đức giáo hoàng Biển Đức XIV lại đặt Thánh Phanxicô làm quan thầy nước Ấn Độ. Về sau đức giáo hoàng Piô XI lại tuyên phong thánh nhân làm quan thầy các xứ truyền giáo bên Á đông. Giáo dân Việt Nam từ lâu hằng tỏ ḷng kính mến thánh Phanxicô cách riêng. Nhiều họ đạo nhận Ngài làm bổn mạng và hằng ngày đọc kinh cầu khẩn Ngài. Giáo Hội kính lễ thánh Phanxicô vào ngày 03.12 mỗi năm.

 

Đ.Ô. Mai Đức Vinh

 

 

THÁNH PHANXICÔ XAVIER

VỊ TÔNG ĐỒ MIỀN ĐÔNG Á


Luật Sư Lê Đ́nh Thông

CON ĐƯỜNG ƠN GỌI TRUYỀN GIÁO

Thánh Phanxicô Xavier sinh tại lâu đài Javier ngày 7-4-1506, đến 7-4-2006 là tṛn 500 năm. Giáo dân nước ta gọi ngài là Thánh Phanxicô Xavier, phiên âm từ tiếng Tây Ban Nha Francisco nhưng lại ghép tên viết theo tiếng Pháp là Xavier. Lẽ ra nên viết là Phanxicô Javier, v́ tên gốc là Francisco de Javier. Viết Phanxicô Javier không những trung thực, mà c̣n giúp phát âm đúng. Chúng ta viết tên ngài là Xavier, rồi đọc theo tiếng Việt là Xavier, trong khi người Pháp tuy viết là Xavier nhưng vẫn đọc là Javier như tiếng Tây Ban Nha. Trong bài này, chúng tôi viết tên bằng tiếng mẹ đẻ của ngài là Javier. Trong năm Liên đới Tin mừng 2006, Giáo Xứ Việt Nam tại Paris tôn vinh vị Tông đồ miền Đông Á, v́ ngài là nhà truyền giáo đầu tiên rao giảng Tin Mừng tại Á Châu. Trong hành tŕnh Âu Á từ Ấn Độ sang Trung Quốc và Nhật Bản, ngài đă dừng chân trên đất nước ta để tránh băo. Ngài có công đem Tin Mừng cho ‘‘cả trăm ngàn, sáu trăm ngàn và nhiều triệu người Á Châu’’. Ngài đặt chân đến Ấn Độ có nền triết học và tôn giáo cổ kính, đến Indonexia (trước đây gọi là Nam Dương) là nước Hồi giáo đông dân nhất địa cầu, Nhật Bản với truyền thống Phật giáo kết hợp với Khổng giáo và Thần đạo.


Sử sách nói nhiều đến con đường tơ lụa Âu Á từ Antioche (Syrie) đến Tây An (Thiểm Tây) của Trung Quốc. Thánh Phanxicô Xavier là người đầu tiên hành tŕnh Phúc thật từ Âu sang Á. Trước khi lược tŕnh về hành tŕnh Phúc thật, thiết tưởng cũng nên nhắc lại vài dấu mốc trong cuộc đời thánh nhân.


Lâu đài Javier nơi chôn rau cắt rốn của Phanxicô nằm ở phía tây dăy núi Pyrénées, nơi có hang đá Lộ Đức. Thân phụ ngài Jean de Jassu có bằng tiến sĩ luật. Thân mẫu Marie de Azpilcueta là hậu duệ của triều đại Aragon. Ông bà có ba trai, hai gái. Là con út trong gia đ́nh, Javier học tiếng la tinh từ thuở nhỏ. Năm 19 tuổi, Javier đến Paris học ở Sorbonne, nơi đào tạo các nhà thần học cho Giáo Hội, các luật gia và giáo sư cho xă hội. Paris vào năm 1525 có khoảng ba trăm ngàn người, Sorbonne có bốn ngàn sinh viên. Năm thứ nhất, Javier học ở học viện Sainte-Barbe về văn chương cổ điển, ba năm rưỡi tiếp theo là học tŕnh Cao học Văn chương. Cuộc sống của Javier thay đổi khi gặp Inhigo de Loyota là bạn đồng học ở Sorbonne. Giám đốc học viện Jacques de Gouveia quyết định cho Inhigo (tiếng Pháp : Ignace, phiên âm sang tiếng Việt là Inhaxiô hoặc Y Nhă) ở cùng pḥng với Javier và Favre. Trong năm thứ ba, t́nh bạn nẩy nở giữa Inhaxiô và Javier. Sau này Polanco là một trong các tu sĩ Ḍng Tên đầu tên kể lại : Tôi nghe nói Inhaxiô có thể trộn bột rời rạc chưa được nhào nặn để trở nên mẫu người tận hiến. Từ khi gặp Inhaxiô, Javier trở thành người mới.

 

Ngày 15-8-1534 (1-11-1950 : ĐTC Piô XI trong hiến chế Munificentissimus Deus định ngày 15-8 hàng năm là lễ Đức Mẹ Lên Trời), trên ngọn đồi Tử đạo của Giáo Hội Pháp, sáu anh em dâng lời khấn nghèo khó, khiết trinh, sống cộng đoàn khai nguyên Ḍng Tên. Pierre Favre là linh mục dâng thánh lễ. Ngày 15-8-1534 mở đầu lịch sử Ḍng Tên. Tên tiếng Pháp của nhà ḍng là Société du Nom de Jésus. V́ tôn kính Thánh danh Chúa Giêsu, Giáo Hội Việt Nam quen gọi là Ḍng Tên. Sau ngày khấn ḍng, Javier gặp một thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ, làm phép rửa cho người này. Sự việc này mở đầu sứ mạng truyền giáo của Javier. Nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, sáu anh em ḍng Tên trên đồi Montmartre quyết tâm đem ánh sáng chân lư cho nguời ngoại trên Đất Thánh, thời đó là đất của Hồi giáo. Quyết định sang Jérusalem chưa thực hiện ngay được. Nhà Ḍng quyết định vâng theo ư Đức Thánh Cha, sẵn sàng đi phục vụ bất cứ nơi nào trên thế giới. Inhaxiô ghi lại kinh nghiệm thiêng liêng trong tập Hành giáo (Exercices) : ‘‘Đi gặp những người sinh sống trên mặt đất khác biệt nhau, khác từ phong tục đến mầu da. Có người sống an b́nh, kẻ khác gặp phải loạn lạc.’’

 

ẤN ĐỘ : ĐIỂM HẸN ĐẦU TIÊN

Năm 1537, các tu sĩ Ḍng Tên đến Roma, được ĐTC Phaolô III ban phép lành. Sau đó, họ đến Venise và tất cả đều được thụ phong linh mục, ngoại trừ Pierre Favre đă là linh mục. Năm 1539, vua Jean III nước Bồ Đào Nha xin Ḍng Tên cử người sang Đông Ấn truyền đạo. Cha Simon Rodrigues (người Bồ Đào Nha) và cha Nicolas Bobadilla (người Tây Ban Nha) được chọn nhưng Bobadilla bị sốt. Inhaxiô xin cha Javier lúc đó là bí thư ḍng đi thay. Trước khi lên đường, Javier để lại ba phong thư niêm kín : một chấp thuận Hiến pháp Ḍng Tên (c̣n đang dự thảo), một phiếu bầu cha Inhaxiô làm bề trên cả và và một tuyên khấn trọn đời.


Ngày 7-4-1541, Phanxicô Javier đáp tầu Santiago sang Á Châu truyền giáo. Ngài chỉ mang theo vài bộ đồ cho đỡ lạnh khi đi ngang qua mũi Hảo Vọng (cap de Bonne-Espérance), kinh nhật tụng, cuốn giáo lư, cuốn giáo phụ học, ba cuốn sách nhỏ tiếng la tinh. Ngài viết : Tôi bị say sóng khổ sở suốt hai tháng dọc theo bờ biển Guinée, tuy trời yên bể lặng, đứng gió.


Đúng một năm một tháng sau ngày dời Lisbonne (Bồ Đào Nha), tầu Santiago cặp bến Goa (Ấn Độ). Thánh nhân thuật lại : ‘‘Ở Goa, tôi ở trong bệnh viện sống chung với người nghèo. Tôi giải tội cho các bệnh nhân, ban Ḿnh Thánh Chúa cho họ. Thân này ví xẻ làm ‘‘10’’ được. Sau khi lo cho bệnh nhân, buổi sáng giải tội cho người khoẻ mạnh. Sau đó đến lượt các tù nhân. Tôi dạy cho các em biết cầu nguyện, dạy kinh Tin Kính và 10 điều răn tại nhà nguyện Đức Bà.’’ Đứng đầu Goa là một phó vương thay nhà vua trị v́ lănh thổ Bồ Đào Nha ở hải ngoại. Vào thời đó, Goa được coi như ‘‘Roma châu Á’’. Đối với người Ấn, Javier đến từ một hành tinh khác. Sau khi đến Ấn được 5 tháng, ngài xuống miền nam Dekkan. ‘‘Chúng tôi đến làng mạc công giáo. Ở đây không có người Bồ Đào Nha v́ đất đai cằn cỗi. Không có ai dạy giáo lư cho dân làng. Trên danh nghĩa, họ là người công giáo mà chưa thực sự sống đạo. Không có linh mục cử hành Thánh Lễ, cũng không có ai dạy dân làng kinh Tin Kính, kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng hoặc các điều răn.’’ Công việc mục vụ của thánh nhân ‘‘khi đi ngang ngôi làng là lo tập trung dân chúng vào một chỗ trong ít ngày, dạy cho họ kinh bổn, rửa tội cho người ngoại.’’

 

Tuy đă rửa tội, người Ấn vẫn tụng niệm bùa chú bằng tiếng Phạn. Ngài thay thế bằng các câu Kinh Thánh soạn bằng tiếng tamoul. Một hôm, ngài gặp một sản phụ đau đớn sinh con trong một túp lều nhỏ. Ngài đọc kinh Tin Kính thay thần chú. Nhờ vậy mà mẹ tṛn con vuông. Sau đó cả gia đ́nh xin rửa tội. Cha Coellho kể lại một giai thoại về Javier. Ngài có thói quen ra sân vắng giữa đêm khuya để cầu nguyện và hành xác. Một hôm Javier la lớn lên nhiều lần : ‘‘Lạy Thánh Mẫu Maria, bộ Mẹ không giúp con sao ?’’. Ngài la to đến nỗi người giúp việc Malabar giật ḿnh thức dậy. Một lúc sau là tiếng roi hành xác. Sau đó, cha Phanxicô thiếp đi suốt hai ngày trời. Thánh nhân là người Tây phương đầu tiên học tiếng Phạn. Ngài viết : ‘‘Trong đất nước này, giữa những người hiền lương c̣n những người được gọi là brahman (Bà La Môn). Họ chăm sóc đền thờ bụt thần. Họ là những người tai ác. Chính họ là hiện thân Thánh Vịnh : Xin Chúa che chở con khỏi những người không phải là thánh nhân, đầy bất công lừa đảo (Thánh vịnh 42, 1). Tôi lột trần sự lừa đảo của họ, dân nghèo phải tùng phục họ chỉ v́ sợ hăi.’’


C̉N NHIỀU ĐIỂM HẸN KHÁC TẠI QUẦN ĐẢO NAM DƯƠNG

Phanxicô đă rửa tội khoảng 100 000 tại Ấn Độ và Tích Lan, bắt đầu bằng lễ rửa tội một hoàng tử đạo Phật, cháu vua Kottê Bhuvaneka Bâhu. Trước đó, nhà vua ra lệnh hành quyết con trai v́ theo đạo Công giáo. Tháng 3-1545, gió mùa ẩm ướt khiến tầu bè đi phía tây rất nguy hiểm, thánh nhân phải sang hướng đông, đến Meilapur là nơi an táng thánh Tôma Tông đồ, người có phúc đặt tay vào vết thương của Chúa Kitô Phục sinh. Thực ra, vào thế kỷ thứ 3, xương thánh Tôma đă được chuyển về Edesse miền Tiểu Á. Nơi mộ phần Thánh Tôma, Phanxicô nghe tiếng Chúa. Ngài thuật lại : ‘‘Khi hành hương nơi mộ phần Thánh Tôma đợi ngày đi Malacca, tôi gặp một thương nhân có tầu buôn và hàng hóa. Tôi nói với thương nhân này về Chúa. Chúa đă khiến cho người lái buôn bỏ thuyền bỏ lái, đồng hành sang đảo Macassar sống suốt đời trong khó nghèo để phụng sự Thiên Chúa. Trước kia người thanh niên 35 tuổi đời là một người lính, ngày nay trở nên chiến sĩ của Chúa Kitô.’’

 

Từ tháng 9 đến cuối năm 1545, Javier đáp tầu đi Malacca giữa phong ba băo tố. Malacca nằm trong quần đảo Indonexia (Nam Dương). Khi Javier đặt chân đến Malacca, nơi này được tự do hành đạo. Đền Hồi giáo và Thánh đường Công giáo xây cạnh nhau, cùng với chùa chiền Phật giáo và đền thờ Do Thái giáo. Chỉ có một linh mục tuyên úy lo cho giáo dân đủ mọi sắc dân. Cũng như trước đây ở Goa, Phanxicô chung sống với người nghèo ở Malacca. Phanxicô làm việc ngày quên ăn, đêm quên ngủ. Đêm về, ngài cùng các thiếu nhi công giáo đi qua các đường phố Malacca rung chuông, lớn tiếng cầu nguyện cho các linh hồn ở chốn luyện h́nh. Ngài học tiếng Mă Lai để lo việc truyền giáo.

 

Trong hai năm 1546-1547, Phanxicô sang đảo Moluques nổi tiếng là trù phú, đa số dân chúng theo đạo Hồi. Thánh nhân kể lại : ‘‘Phần lớn trên các đảo này núi lửa phun ầm ĩ ra các tảng đá cực lớn. V́ không có linh mục thuyết giảng, Chúa cho phép cửa hỏa ngục mở ra v́ tội lỗi nhân loại. Một trong các đảo này động đất liên miên. Ngày Lễ Tổng Lănh Thiên Thần Micae, trong lúc đang cử hành Thánh lễ, động đất mạnh đến nỗi tôi sợ bàn thờ bị xiêu vẹo. Có lẽ Thánh Micae dùng quyền lực trừng phạt quỷ sứ, đuổi chúng xuống địa ngục.’’ Ngài ghi thêm : Hải đảo này nên được mang tên là đảo Hy vọng vào Chúa hơn là đảo Maure.


Tại Maluco, Phanxicô quen thân vua Hồi giáo Hairun. Nhà vua mong mỏi Hồi giáo và Thiên Chúa giáo sau cùng có thể gặp nhau. ‘‘Nhà vua tỏ ra ưu ái tôi khiến những kỳ lăo buông lời trách móc. Nhà vua muốn tôi kết thân và nhà vua sẽ chịu phép rửa tội. Hairun muốn rằng tôi là bạn thân, v́ người Công giáo và Hồi giáo đều là con một cha và một ngày kia cả hai sẽ hiệp nhất.’’


Phanxicô không ở một nơi lâu. Trước khi đi, ngài h́nh thành Giáo Hội địa phương. Javier không chỉ là nhà truyền giáo Ḍng Tên. Ngài c̣n là Sứ thần Ṭa Thánh. Ngài thu thập các thông tin về địa dư, dân tộc học hoặc tôn giáo. Trong thời gian từ tháng 9 đến tháng 12-1545, ngài gặp một thương nhân Bồ Đào Nha từng đi Trung Quốc. Ngài cho rằng có thể đến Trung Quốc bằng đường biển từ Malacca khi đó ở trong tay người Bồ Đào Nha. Trung Quốc chính là nước Cathay trong sử liệu của Marco Polo. Javier tin rằng Thánh Toma Tông đồ từng đến Trung Quốc giảng đạo. Tại Malacca, Phanxico gặp một người Nhật tên là Anjiro. Tại Nhật Bản, Anjiro đă nghe tiếng Javier là sứ giả nhà trời. Anjiro lặn lội sang Malacca t́m gặp Javier. Khi sang đến Malacca năm 1546, Javier đă đi nơi khác. Anjiro trở lên mạn bắc, về hướng Trung Quốc và Nhật Bản. Một người Bồ Đào Nha cho anh biết Phanxicô đă trở về Malacca. Hai người gặp nhau vào tháng 12-1547.


Anjiro thuộc giáo phái Phật giáo Chân Ngôn (Shingon). Anh thông thạo tiếng Bồ nhưng không am tường các danh từ thần học. Javier nghĩ ngay đến việc cùng Anjiro dịch thuật. ‘‘Tôi hỏi Anjiro nếu tôi đến Nhật, người Nhật liệu có rửa tội không. Anh trả lời người Nhật không trở lại đạo tức khắc. Anh cho biết dân Nhật sẽ đặt nhiều câu hỏi và tùy theo cách trả lời của tôi và nhất là họ xem lời nói của tôi có đi đôi với việc làm không. Nếu cả hai điều kiện vừa kể tốt đẹp, nửa năm sau có thể vua dân nước Nhật sẽ theo đạo.’’


HAI ĐIỂM HẸN CUỐI ĐỜI : NHẬT VÀ TRUNG HOA

Javier viết về dự định đi Nhật như sau : Về phần con, lạy Chúa, con vẫn chưa quyết định có đi hay không, nhưng dần dà h́nh thành câu trả lời xin vâng. Tháng 5-1548, Phanxicô rửa tội cho Anjirô và hai người Nhật khác. Sau cùng, Javier quyết định sang Nhật, ‘‘quần đảo Nhật Bản được chúc phúc. Người dân có óc cầu tiến, ham học hỏi Lời Chúa.’’ Javier cũng như những người Bồ Đào Nha vào thời đó nghĩ rằng người Tầu và ngựi Nhật có nhiều ưu điểm hơn người Mă Lai và Ấn Độ. Nền văn minh Trung Nhật là văn minh văn tự ‘‘tri thức’’. C̣n tại Nam Á, theo thánh nhân, ngoài một số trí thức thông thạo chữ Phạn và chữ Á rập, c̣n lại dân chúng không biết đọc biết viết. Ngày 14-1-1549, Phanxicô gửi thư cho Inhaxiô báo tin sẽ lên đựng sang Nhật truyền giáo. Ngày 23-6-1549, Javier đi thuyền buồm Trung Quốc qua Malacca. Ngài viết : ‘‘Tất cả các giáo hữu và bạn bè thân thiết tỏ ra lo sợ về chuyến viễn du đầy nguy hiểm này. Về phần tôi, tôi chỉ sợ cho họ thiếu đức tin, v́ Chúa lèo lái và có quyền uy trên phong ba băo tố trên biển Trung Hoa và Nhật Bản. Từ trước tới nay tôi chưa từng chứng kiến trận băo nào ghê hồn đến như vậy. ’’ Javier đi cùng hai giáo sĩ Ḍng Tên người Tây Ban Nha, ba người Nhật trong số có Anjirô. Con thuyền cập bến Kagoshima, lănh địa Satsuma ở cực nam đảo Kyushu vào đúng ngày lễ Đức Mẹ 15-8-1549 (cũng là ngày kỷ niệm thành lập Ḍng Tên). Cảnh trí thật nên thơ : ruộng lúa trên đồng bằng, cây đào cây cam trên sườn núi Sakujima. Phanxicô nhận xét : ‘‘Người Nhật trọng danh dự hơn là tiền của, tỏ ra rất lễ độ. Phần lớn người Nhật biết đọc biết viết. Đó là cách tốt nhất để học kinh bổn.’’ Trong tự điển Nhật Bản về Lịch sử và Truyền thống, tên thánh nhân viết tiếng Nhật là Huranutusuko Zabieru.


Mùa đông 1549-1550, Phanxicô và hai giáo sĩ Ḍng Tên học tiếng Nhật dưới sự hướng dẫn của Anjirô. Phanxicô và Louis Almeida học rất nhanh. Ḥa thượng Nanriji mời Phanxicô vào dạy kinh Công giáo dịch sang tiếng Nhật tại Thiền Viện nơi Ḥa thượng Nanriji trụ tŕ, có tới 100 thiền sư. Có hai thiền sư xin rửa tội một cách kín đáo. Phanxicô định sẽ du nhập giáo huấn Công giáo vào Thiền tông, nhưng gặp sự phản đối của Almeida.


Các cuộc đàm đạo thường bắt đầu bằng việc tụng kinh Công giáo bằng tiếng Nhật. Lănh chúa Niiro Isênô Kaminodo sống trong lâu đài Ichiku xin rửa tội, chọn tên thánh là Micae. Lâu đài của ông trở thành cộng đoàn công giáo. Tại Yamaguchi, các tu sĩ daimyô cho Phanxicô sử dụng tu viện. Khi Javier dời Kagoshima để đi Hirado, Aijirô điều khiển một cộng đoàn nhỏ. Về sau, Anjiro bị các nhà sư chống đối, phải trốn khỏi Kagoshima, bị rơi vào tay cướp biển.


Trong bảng tổng kết năm 1552, Phanxicô nhấn mạnh các giáo hữu Nhật phần lớn thuộc tầng lớp quư tộc. Phanxicô đến kinh đô Kyoto với danh nghĩa sứ thần Ṭa Thánh. Việc giao thiệp với các nhà sư Nhật trở nên khó khăn. ‘’Khi đi ngoai đường, đám đông chạy theo chúng tôi nói rằng : Đây là những người nói chúng ta phải tôn thờ Thiên Chúa để được cứu rỗi. Chỉ có Thiên Chúa là đấng cứu độ chúng ta. Người khác nói rằng : Đây là những người rao giảng không thể lấy hai vợ. Người khác lại nói : Đây là những người cấm tội dâm dục.’’

 

Cuối năm 1551, một tầu buôn Bồ Đào Nha cặp bến Kyushu không mang theo thư từ cho Javier. Sống ở Nhật vào thế kỷ 16 giống như bị lưu đầy biệt xứ. Thánh nhân quyết định dời Nhật Bản, giao cho hai giáo sĩ Cosme de Torres và Jean Fernandez chăn dắt đoàn chiên. Trong lá thư gửi Inhaxiô, Phanxicô viết về Trung Quốc như sau : ‘‘Trung Quốc đất rộng, an b́nh và có pháp luật. Chỉ có một Hoàng đế trị v́. Họ là người da trắng, không để râu, mắt hí, tỏ ra đại lượng và rất hiền ḥa. Giữa người Hoa với nhau không có chiến tranh. Năm nay 1552, tôi hy vọng sẽ lên đường sang Trung Quốc để hoàn thành sứ mạng đối với Thiên Chúa. Cái ǵ có thể thực hiện ở Trung Quốc cũng có thể làm ở Nhật Bản. Hơn nữa, khi người Nhật biết người Tầu chấp nhận luật Thiên Chúa, họ sẽ từ bỏ niềm tin vào các giáo phái. Tôi hy vọng nhờ Ḍng Tên, người Hoa cũng như người Nhật sẽ không thờ cúng bụt thần và thờ lạy Chúa Kitô là đấng cứu chuộc loài người.’’


Khi con tầu ghé ngang Malacca, Phanxicô nhận được thư đề ngày 10-10-1549 của Inhaxiô bổ nhiệm ngài làm bề trên tỉnh ḍng tại Ấn Độ. Từ nay Phanxicô phụ trách khắp Á châu, trước đây thuộc quyền của Tỉnh Ḍng Bồ Đào Nha. Phanxicô lên đường sang Trung Quốc mà không được đọc những hàng chữ này của Inhaxiô : ‘‘Tôi tin chắc sự khôn ngoan hướng dẫn cha, tuy nhiên theo các thông tin hiện nay, tôi thiết nghĩ nếu ở lại Ấn Độ cha phục vụ hữu hiệu hơn. Cha nên gửi những anh em khác sang Trung Quốc.’’ Từ tháng 5 đến tháng 11-1552, Phanxicô dời Goa, Cochin đi Malacca. Trước khi đến Trung Quốc, Phanxicô học tiếng Hoa : ‘‘Hán văn được dạy trong các đại học ở Nhật. Các thiền sư biết Hán văn được coi là uyên bác. Mỗi chữ Hán đều mang một ư nghĩa. Người Nhật đọc tiếng Hoa theo phát âm riêng. Chúng tôi biên soạn một cuốn sách bằng tiếng Nhật về tạo thiên lập địa và các mầu nhiệm trong cuộc đời Chúa Kitô. Chúng tôi cũng sẽ soạn một cuốn sách tương tự bằng tiếng Hoa.’’


ĐƯỢC GỌI VỀ ĐIỂM HẸN TRUYỀN GIÁO VĨNH CỬU

Tầu chở Phanxicô gặp băo lớn, phải ném bớt hàng hóa xuống biển. Trên chặng đựng từ Xingapo (Tân Gia Ba) đi ngang hải phận nước ta, thuyền trưởng không c̣n định hướng được nữa. Chính Javier từng đi ngang vùng biển này hai lần đă chỉ một hải đảo nhỏ cách Hồng Kông không xa. Sở dĩ Phanxicô chọn đảo Trường Xuyên (Shangchuan) v́ đây là nơi trao đổi tơ lụa và đồ gốm Trung Quốc lấy hồ tiêu và gia vị Bồ Đào Nha. Phanxicô kể lại rằng ‘‘một người quê Quảng Đông hứa sẽ nhận hai trăm đồng cruzados cho Phanxicô trốn trong nhà trong ba ngày, sau đó đưa ra cửa thành với sách vở và hành lư gặp quan tổng trấn xin yết kiến Hoàng đế Trung Quốc để tŕnh thư của Đức Giám Mục với sứ mạng rao giảng Luật Chúa.’’ Dự định này bất thành. Sang tháng 11, gió bấc lạnh thổi vào hải đảo. Không c̣n người Bồ trên đảo. Chỉ c̣n hai cái lều của Phanxicô và Jacques Vaz là một thương nhân. Vaz nhận thấy Phanxicô suy yếu nên chuyển lên một thương thuyền. Con tầu Santa Croce tṛng trành khiến Phanxicô kiệt sức. Người ta lại vực ngài xuống đảo, ở tạm trong căn lều của Vaz cho đỡ lạnh. Người ta lấy máu ngài vào ống hút theo y học thời ấy. Trước giờ lâm chung, Javier đọc kinh tiếng la tinh và tụng ca bằng tiếng mẹ đẻ (Basques). Ngài qua đời đêm 2 rạng ngày 3-12-1552. Hôm sau, người ta an táng ngài trên bờ biển Trường Xuyên.


5 tháng sau, khi mở quan tài, Phanxicô như đang nằm ngủ. Ngài nổi tiếng về sự thánh thiện và làm nhiều phép lạ. Linh cữu được chuyển về Goa vào mùa chay năm 1554. Quan tài một lần nữa được mở ra với h́nh hài c̣n nguyên như đang ngủ. Ba năm sau Inhaxiô mới biết tin Phanxicô đă qua đời. ĐTC Phaolô V phong chân phước ngày 25-10-1619. ĐTC Grégoire XV phong hiển thánh ngày 12-3-1622.


Có thể tóm tắt cuộc đời thánh Phanxicô Javier vào 5 niên biểu : 1506 : năm sinh. 1534 : dâng lời khấn Montmartre (29 tuổi). 1540 : lên đường sang Á Châu truyền giáo (34 tuổi). 1549 : truyền bá đức tin ở Nhật Bản (43 tuổi) 1552 : từ trần trên lănh thổ Trung Quốc (46 tuổi).


Cũng có thể tóm lược đời Javier trong 5 chữ J (hoặc chữ I, (Iôta trong tự mẫu Hy Lạp) : Javier (nơi sinh), Jésus (Ḍng Tên), India (Ấn Độ), Indonexia (Nam Dương), Japan (Nhật Bản). Chữ I chính là IHS : Thánh Danh Chúa Giêsu : Jesus Hominum Salvator (hoặc Jesus Hierosolymae Salvator) : Chúa Giêsu Đấng Cứu chuộc Nhân loại. C̣n một chữ J liên hệ đến gia đ́nh Javier. Cháu ruột Javier là linh mục Ḍng Tên Jérôme Javier noi gương chú sang Ấn Độ truyền giáo.

 

DI NGÔN CỦA THÁNH PHANXICÔ

Kết thúc bài viết này, xin ghi lại hai giai thoại về Thánh Phanxicô Javier và di ngôn của ngài.


1) Cha Laynez là giáo sư nhà tập kể lại khi các giáo sĩ thực tập trong các bệnh viện ở Ư, Phanxicô Javier thức giấc trong đêm nói rằng : ‘‘Lạy Chúa Giêsu, con mệt mỏi, Chúa có biết con nằm mơ thấy ǵ không ? Con cơng trên lưng một người Ấn Độ, người này nặng quá con không sao cơng nổi’’.


2) Một đêm khác, Phanxicô đánh thức cha Rodrigues nói : ‘‘Mas ! Mas ! Hơn nữa ! Hơn nữa !’’. Trước khi từ biệt Lisbonne, ngài giải thích ư nghĩa của giấc mộng này : ‘‘Tôi thấy ḿnh cơ cực, gặp nhiều nguy hiểm trên đường phụng sự Thiên Chúa. Nhờ hồng phúc ngài nâng đỡ tôi, thúc đẩy tôi khiến tôi không hể không xin ngài thêm nữa. Tôi hy vọng sẽ đến giờ chứng minh điều xin ‘‘Hơn nữa’’ (Mas, Mas) sẽ thực hiện được.’’


Di ngôn : Trong lá thư viết từ Goa tháng 3-1549 gửi một giáo sĩ cùng Ḍng, Phanxicô viết : ‘‘ Trước hết, hăy chú tâm đến bản thân và quan tâm đến sự liên hệ với Thiên Chúa, nhờ vậy bạn trở nên có ích cho những người thân quen. Đừng quên tự xét lương tâm ít nhất một ngày một lần nếu bạn không thể làm hai lần một ngày. Hăy quan tâm về lương tâm của chính bạn hơn là lương tâm người khác, bởi v́ ai không nên thánh, làm sao có thể mang lại cho người khác sự tốt lành ? Trong quan hệ với người khác, hăy bàn bạc và tạo t́nh thân.’’


Phải chăng di ngôn của Thánh Phanxicô Javier nhắc nhở mỗi chúng ta nhiệm vụ truyền giáo, thánh hóa bản thân trong năm Liên Đới Tin Mừng 2006 ?

 

LƯỢC SỬ THÁNH PHANXICÔ XAVIER

Năm thế kỷ Á Châu sống đạo,

Dạ sắt son tiết tháo trung kiên.

Phúc Âm hun đúc người hiền,

Hành tŕnh Phúc Thật khắp miền Á Âu.

 

Năm Lẻ sáu (06) đêm thâu sinh hạ,

Một hài nhi sắt đá tâm can.

Sorbonne học tập mấy năm.

Văn chương phú lục con tằm nhả tơ.

 

Ngài tận hiến không mơ chức vị,

Sống đơn sơ bố thí âm thầm.

Sang Goa truyền bá Phúc Âm,

Số người rửa tội hàng năm khá nhiều.


Sống thánh thiện nhiều điều mẫu mực,

Thương yêu người hiện thực câu kinh.

Cộng đoàn vững chắc thành h́nh,

Ngài đi chỗ khác một ḿnh xả thân.

 

Ra hải đảo ầm ầm núi lửa,

Ngài ra tay mở cửa ơn thiêng.

Cải tà quy chánh một miền,

Danh Cha cả sáng triều thiên nước Trời.


Sang Nhật Bản bằng lời khúc triết,

Ngài luận bàn hơn thiệt cao tăng.

Ngồi thiền đối thoại dưới trăng,

Ngài dùng tiếng Nhật nghiêm trang giảng bài.



 

 

Biển Trung Quốc thiên tai băo tố,

Ngài lo toan cứu độ đông phương.

Trong năm Liên Đới Tin Mừng,

tham gia truyền giáo noi gương Thánh hiền

 

 

Luật Sư Lê Đ́nh Thông

 

 

THÁNH PHANXICÔ XAVIER

NGƯỜI BIẾT ƯỚC MUỐN VÀ NHẬN ĐỊNH

 

Philippe LéCrivain, s.j.

 

Rạng sáng ngày 3.12.1552, cách nay đúng 450 năm, thánh Phanxicô Xavier đă qua đời trên đảo Thượng Xuyên, sát cửa biển tỉnh Quảng Đông của Trung Hoa. Lúc ấy, tay ngài đang cầm một cây nến cháy sáng, do một thanh niên Trung Hoa tên là Antonio, người bạn đồng hành duy nhất của ngài trao. Cả lục địa mênh mông trước mắt ngài sắp đón nhận ánh sáng của rạng đông. Khi được tin ở Rôma, cha Polanco, thư kư của thánh I-nhă, đă viết: “Thiên Chúa nhân hậu (đă gợi lên nơi cha Phanxicô) những ước muốn ấy để ngài được thêm công phúc, nhưng nhất là chính ngài đă muốn bắt chước Chúa Giêsu chết đi như một hạt lúa được gieo xuống đất, ngay cửa ngơ Trung Hoa, để những người khác đến gặt hái hoa quả dồi dào hơn”. Cái chết âm thầm lặng lẽ ấy chẳng bao lâu sẽ trở nên như một chuyện thần kỳ.Nhưng chúng ta hăy tạm dừng lại ở đây để, theo gợi ư của cha Xavier Léon-Dufour, dơi bước theo hành tŕnh của thánh Phanxicô Xavier, đặc biệt ở ba thời điểm quan trọng nhất, tức là khi ngài rời Ấn Độ đi Maluku, đi Nhật Bản và đi Trung Hoa. Ba lần lên đường này có thể hiểu được dựa trên các kinh nghiệm thánh Phanxicô Xavier đă trải qua ở Paris và Rôma, nhưng cũng đưa chúng ta vào những chiều sâu khác nữa. Lần thứ nhất đánh dấu một quyết định quan trọng; lần thứ hai ghi dấu một cuộc chiến đấu cam go; và lần thứ ba là cơ hội tự hiến đến trọn vẹn.

 

ĐI MALUKU

V́ thánh Phanxicô Xavier không để lại nhật kư, nên chúng ta chỉ có thể theo bước chân ngài qua những lá thư ngài gửi cho anh em Ḍng Tên ở Châu Á hay cho thánh I-nhă và các bạn ở Rôma, hoặc cho cha giám tỉnh hay vua Bồ Đào Nha. Đây là những tài liệu khá tản mạn, nhưng không phải là không để lại những dấu ấn cá nhân đáng kể.

 

Phục vụ một “vua đời tạm”

Vừa đặt chân đến Goa, thánh Phanxicô Xavier bắt tay ngay vào việc: giảng thuyết, dạy giáo lư, giải tội. Ngài hết sức tận tụy. Ngày 20.9.1542, trong thư gửi về Rôma, ngài viết: “Tôi tin rằng ai thực ḷng yêu mến thánh giá Chúa Kitô sẽ t́m thấy an nghỉ khi đương đầu với những thử thách. C̣n cái chết nào tệ hơn đời sống của người, sau khi đă biết Chúa Kitô, lại bỏ Chúa để chạy theo sở thích và quyến luyến riêng! Thật không có ǵ buồn hơn. Trái lại, ai chết đi mỗi ngày, tức là đi nguợc lại ư riêng, không t́m những điều thuộc về ḿnh, nhưng là những điều thuộc về Chúa Giêsu Kitô, sẽ được b́nh an biết bao” (Bt 15,15). Ngài cũng báo tin sẽ xuống phía nam, đồng thời gửi cho thánh I-nhă hai thư khác, một mặt xin Ṭa Thánh rộng ban các đặc ân cho giáo dân Ấn Độ (Bt 16), mặt khác đề cập vai tṛ quan trọng của vị Tổng Trấn và của một trường học tại Goa (Bt 17). Trong hai năm sau đó, thánh Phanxicô Xavier đă “vất vả ngày đêm” nhằm mục đích “chinh phục khu vực ngoại giáo”(Lt 93). Năm 1543, cùng với các tân ṭng, ngài đối diện với những hoạt động thù nghịch của những tín đồ Ấn giáo và Hồi giáo. Ước nguyện duy nhất với ngài - đây cũng là ước nguyện của vị Giám Mục và của vị Tổng Trấn sở tại - là nới rộng biên cương Hội Thánh dưới quyền “bảo trợ” của Bồ Đào Nha. Việc ngài thiếu thiện cảm với văn hóa và tôn giáo Ấn Độ chỉ hiểu được trong bối cảnh ấy. Từ năm 1544, ngài không c̣n đơn độc ở Mũi Comorin nữa: ngài có bạn đồng hành là Malsilhas, người Bồ Đào Nha, một tập sinh được ngài nhận vào Ḍng Tên. Trong các thư gửi cho tập sinh này, chúng ta thấy những hoạt động mục vụ và bác ái của ngài trong lúc giáo đoàn gặp nhiều khó khăn. Rồi tiếng kêu cứu từ Sri Lanca, từ Maluku. Ngài bị xâu xé: phải bảo vệ quyền lợi của Bồ Đào Nha hay phải bênh vực người Ấn Độ?

 

Cuối cùng, ngài dứt khoát. Ngày 20.1.1545, ngài viết thư xin vua Joăo III của Bồ Đào Nha nghiêm túc xem xét lại những mục tiêu đă đề ra ở Châu Á. Nhưng không phải v́ giận người Bồ Đào Nha mà ngài bỏ đi; thư gởi về Rôma sau đó mấy ngày cho thấy những lư do tích cực hơn và có lẽ cũng sâu xa hơn.

 

Đến với Thiên Chúa bằng một con đường khác

Thánh Phanxicô Xavier đă hiểu ra: việc phục vụ một vua đời tạm chỉ nhằm mục đích “giúp chiêm ngắm đời sống vị vua muôn đời”(Lt 91). Phải trải qua kinh nghiệm ngài mới vào được trong khoa sư phạm ấy: liên kết ư muốn của con người với ư muốn của Thiên Chúa, mục tiêu với phương tiện của một t́nh yêu đích thực.

 

Chúng ta hăy theo ngài. Ngày 20.9.1542, ngài viết: “Xin Chúa ban sức mạnh cho chúng ta ở đời này, để chúng ta phục vụ Chúa trong mọi sự, như Chúa truyền dạy, và chu toàn thánh ư Chúa ở đời này.”(Bt 15, câu kết). Ngày 15.1.1544, ngài tiến thêm một bước: “Xin Chúa ban cho chúng ta ơn này là suốt thời gian đang phải lưu đày, chúng ta cảm nghiệm được, từ bên trong tâm hồn, và chu toàn ư muốn rất thánh Chúa Người.”(Bt 20, câu kết). Ngày 27.1.1545, ngài bước thêm một bước dài: “Xin Chúa ban cho chúng ta được biết và nhận ra ư muốn rất thánh thiện của Chúa, và khi đă nhận ra, xin Chúa ban dồi dào sức lực và ân sủng, để với đức mến, chúng ta chu toàn thánh ư ngay ở đời này.”(Bt 48, câu kết).

Kế đến, ngày 7 tháng 4 năm ấy, ngài viết cho Mansilhas: “Chúa muốn chúng ta luôn sẵn sàng chu toàn thánh ư mỗi khi Người bày tỏ và cho chúng ta cảm nhận được từ trong ḷng. Muốn sống tốt ở đời này, chúng ta phải làm khách hành hương để đi bất cứ đâu, đến nơi chúng ta có thể phục vụ Chúa.”(Bt 50,2). Sau khi cho biết ở “Malacca”, v́ thiếu người giúp, nên nhiều người không theo đạo được, ngài kết luận: “Tôi c̣n nguyên tháng 5 để quyết định.” (Bt 50,3). Ngài đến Săo Tomé để nhận định. Cha Coelho, cha sở nơi đó, người đă cho ngài trọ, sau này kể lại: “Ngài có thói quen cứ tối đến là lén… đến cḥi lá sát đền kính vị tông đồ… Một đêm, đang khi thầm thĩ cầu nguyện, ngài kêu lên nhiều lần: Thưa Mẹ, vậy Mẹ không giúp con sao?” Tối tăm bao trùm trong khi Chúa Thánh Thần thinh lặng. Nhưng cuối cùng, ngài nhận được ánh sáng. Trong thư gửi về Goa ngày 8.5.1545, ngài viết: “Luôn sẵn ḷng từ bi, đang đă thương nhớ đến tôi, và tôi đă cảm nhận được an ủi nội tâm mạnh mẽ, nên biết ư Chúa là tôi phải đi vùng Malacca” (Bt 51,1).

 

Kết quả, ngài đă đến tận đảo Môrô, điểm tận cùng của ư Chúa và của “an ủi”. Ngài viết cho anh em Ḍng Tên ở Rôma ngày 20.1.1548: “Tôi nhớ là xưa nay chưa từng được an ủi thiêng liêng lớn lao và liên tiếp như trên các đảo này, lại ít cảm thấy phải cực nhọc vê phần xác (…) Thay v́ gọi đó là Các Đảo Môrô, có lẽ nên gọi là Các Đảo Hy Vọng Vào Chúa th́ hơn” (Bt 59,4).

 

GIỮA SÓNG DẬP GIÓ VÙI

Nhờ ơn Chúa, ngay trên quần đảo Inđônêxia, thánh Phanxicô Xavier đă tận hiến cho Thiên Chúa: “Sau khi đă suy nghĩ, con muốn và ước ao nên giống Chúa, miễn là điều này giúp con phục vụ và ca ngợi Chúa hơn…” (Lt 98). Nhưng ở Malacca, trên bán đảo Mă Lai, đang khi ngài chờ tàu đi Ấn Độ, có một người Nhật Bản đến gặp ngài (Bt 59,15).

 

Một lựa chọn đúng và tốt

Kể từ ngày ấy, các ḥn đảo Nhật Bản chiếm một chỗ quan trọng trong tâm trí ngài. Ngày 20.1.1548, ngài viết cho thánh I-nhă: “Con chưa quyết định dứt khoát là trong khoảng một năm rưỡi nữa con sẽ phải đi Nhật Bản cùng với một hay hai anh em trong Ḍng, hoặc con sẽ phải gửi hai anh em trong Ḍng đến đó. Có điều chắc chắn là nếu con không đi được, con sẽ gửi người đi. Cho đến nay, con nghiêng về phía chính con đi hơn. Con đang xin Chúa cho con biết rơ điều nào phù hợp với ư Chúa hơn” (Bt 60,4). Cùng hôm ấy, ngài nói rơ ư định của ḿnh trong các thư gửi vua Joăo III và anh em Ḍng Tên ở Rôma. Trong thư trước, ngài đă nghĩ đến việc không ở lại Ấn Độ nữa: “Tôi chưa quyết định dứt khoát đi Nhật Bản, nhưng dần dần tôi sẽ biết phải làm ǵ, v́ tôi rất ít tin tưởng là tôi sẽ được giúp đỡ thực sự ở Ấn Độ, cả để đạo thánh tiến triển cũng như để duy tŕ t́nh trạng đạo như hiện nay” (Bt 61,9). Trong thư sau, ngài có cái nh́n tích cực hơn về việc ra đi: “Tôi nghĩ (người Nhật Bản) hiếu học hơn tất cả các dân khác chúng ta từng biết cho đến nay” (Bt 59,16). Ít lâu sau, ngày 2.4.1548, viết cho ông Diogo Pereira, ngài đă dứt khoát: “Tôi rất ước ao và rất vui báo cho ông đôi điều, như với một người bạn đích thực và tâm phúc của tôi, về chuyến đi Nhật Bản mà tôi dự tính sẽ thực hiện trong ṿng một năm nữa” (Bt 65,1).

 

Đến ngày 1.2.1459, việc nhận định kết thúc: ngài sẽ cùng với cha Cosma de Torres khởi hành vào tháng 4. Ngài viết cho thánh I-nhă: “Ở Nhật Bản, tất cả là lương dân, không có người Hồi giáo cũng không có người Do Thái, mà lại có đầu óc ṭ ṃ, rất muốn học biết cái mới, cả về Thiên Chúa cũng như về những điều tự nhiên khác, nên con đă quyết định sẽ đến đó. Con thấy tâm hồn rất phấn khởi… Con không ngại đi Nhật Bản, v́ con cảm nhận trong tâm hồn ḿnh cái ǵ đó dào dạt, mặc dầu con hầu như chắc chắn sẽ gặp nhiều nguy hiểm lớn lao hơn những ǵ con từng gặp xưa nay” (Bt 70,8.10). Tin chắc là đă được chính Thiên Chúa thúc bách, ngài nêu lên những lư do (Lt 180-183). Ngài giải thích với thánh I-nhă là ở Nhật Bản “anh em trong Ḍng chúng ta có thể dùng đời sống làm trổ sinh hoa trái, và sau đó chính họ sẽ tiếp nối” (Bt 70,8). Về điều này, ngài đă được xác chuẩn: Anjiro, người Nhật Bản ngài đă gặp ở Malacca, cùng với hai người bạn đă sẵn sàng lên đường. Ngài viết cho thánh I-nhă: “Ở Học viện Đức Tin tại Goa, có ba thanh niên sinh trưởngt tại đảo Nhật Bản ấy. Họ cùng từ Malacca đến đó với con năm 48. Họ đă cho con biết nhiều điều về khu vực Nhật Bản, và con hiểu dân chúng ở đó có phong hóa tốt, lại rất thông minh, cách riêng là Phaolô… Trong ṿng 8 tháng, Phaolô đă học đọc, viết và nói tiếng Bồ Đào Nha, và hiện đang tập Linh Thao. Anh ấy tiến rất xa và đi sâu vào những điều thuộc Đức Tin. Con rất hy vọng, điều này chỉ đặt hết nơi Thiên Chúa, là ở Nhật Bản sẽ có nhiều người theo đạo” (Bt 71,8). Với cha Simăo Rodrigues, ngài nói rơ: “Trong các khu vực này (Ấn Độ), người ta không cần đến tôi lắm nữa, v́ có các cha đến trong năm nay” (Bt 73,3).

 

Viết cho vua Joăo III, ngài nói khác: “Kinh nghiệm đă dạy cho tôi biết là Hoàng Thượng thi hành quyền bính ở Ấn Độ không phải chỉ v́ muốn tăng số người tin vào Đức Kitô: Hoàng Thượng thi hành quyền bính cũng để chiếm hữu của cải vật chất ở Ấn Độ nữa. Xin Hoàng Thượng thứ lỗi v́ tôi nói toạc ra như vậy (…) Tôi không hy vọng chút nào là những mệnh lệnh hay chỉ thị có lợi cho giáo đoàn mà Hoàng Thượng gửi đến sẽ được tuân giữ ở Ấn Độ. Chính v́ vậy mà tôi đi Nhật Bản, gần như bỏ trốn, để khỏi mất thêm thời giờ như trước kia đă mất” (Bt 77,2.3). Đến Malacca vào mùa xuân năm 1549. Ngài biết rơ là những nguy hiểm do băo tố và cướp biển luôn chờ đợi ngài. Với những ai sợ, ngài trả lời: “V́ Thiên Chúa có quyền trên chúng ta hết thảy, nên tôi không sợ ai, ngoại trừ Thiên Chúa… C̣n những nỗi sợ, những nguy hiểm khác, những đau khổ khác, mà bạn bè nói tới, tôi kể là số không. Tôi chỉ c̣n sợ Thiên Chúa, v́ nỗi sợ đối với các thụ tạo chỉ lớn tới mức Đấng Sáng Tạo ra chúng cho phép là cùng” (Bt 78,2). Nhưng một cuộc chiến khác đang chờ đợi người “khách hành hương”.

 

Đương đầu với “thủ lănh các kẻ thù”

Lúc c̣n ở Ấn Độ, để khích lệ cha Henriques đang ở Travancore, ngài đă viết: “Hăy thấy là cha sinh được nhiều hoa trái ở vương quốc Travancore này hơn cha nghĩ, v́ từ khi cha đến đó, bao nhiêu trẻ em đă được rửa tội và đă qua đời, hiện nay đang sống trong vinh quang Thiên Đàng (…) Kẻ thù của loài người rất thù ghét cha, và muốn cha tránh xa xứ ấy, để đừng ai rời bỏ vương quốc Travancore mà lên Thiên Đàng nữa. Ma quỉ thường nhử những người đang phục vụ Đức Giêsu Kitô là họ sẽ phục vụ Thiên Chúa được nhiều hơn, với ư xấu là làm cho một linh hồn đang phục vụ Thiên Chúa được ở nơi này phải áy náy và bối rối, v́ vậy bỏ đi nơi khác, thế là nó đuổi được người ấy ra khỏi nơi họ đang phục vụ được Thiên Chúa” (Bt 68,3). Mấy tháng sau, đang khi chờ tàu tại Malacca, ngài viết thư gửi anh em Ḍng Tên Ấn Độ: “Kẻ Thù vùng vẫy rất nhiều để ngăn cản tôi thực hiện chuyến đi này: tôi không biết nó sợ ǵ trong việc chúng tôi đi Nhật Bản.” Rồi ngài viết tiếp: “Thực ra, tôi luôn luôn giữ trước mắt và trước trí khôn tôi điều tôi đă nhiều lần nghe cha I-nhă nói: những ai muốn thuộc về Ḍng này phải chịu gian khổ để thắng được ḿnh và đuổi xa mọi nỗi sợ là điều ngăn cản người ta tin, cậy và mến Chúa, và muốn được như vậy, phải sử dụng những phương thế thích đáng” (Bt 85,8.13). Đây chẳng phải là ngài ám chỉ các qui tắc nhận định sao (Lt 325-327)?

 

Nhưng mặt biển mới là nơi thử thách nặng nề. Trên chiếc thuyền gỗ của một nhà buôn Trung Hoa có biệt danh là Hải Tặc, một bức tượng Thủy Tề được đặt trang trọng ở mũi thuyền. Thánh Phanxicô Xavier kinh hoàng và khổ sở: “Người ta mang theo một tượng thần trên thuyền, đặt ngay ở phía trước; anh thuyền trưởng và các kẻ ngoại khác cầu khẩn cúng bái bức tượng liên tục, và chúng tôi không sao ngăn cản được họ nhiều lần gieo quẻ để hỏi tượng thần xem chúng tôi có đến Nhật Bản được không, gió cần cho thuyền chạy có kéo dài không: khi th́ họ nói là tốt, khi th́ họ nói là xấu, theo như họ tin (…) Anh em thấy là chúng tôi phải khổ sở thế nào trong chuyến đ̣ ấy, v́ chúng tôi có đi Nhật Bản được hay không là tùy thuộc ư kiến của ma quỉ và các tôi tớ của nó, mà những người điều khiển và hướng dẫn con thuyền th́ cứ nhất nhất làm theo như ma quỉ nói với họ qua các thẻ”(Bt 90,2.4). Hẳn là ngài nghĩ đến điều thánh I-nhă viết trong Linh Thao: Luxiphe gửi thuộc hạ đi “bủa lưới và xiềng xích” khắp nơi (Lt 142). Băo tố nổi lên, các tai họa dồn dập, và thánh Phanxicô Xavier bị thử thách tận trong đấy ḷng. Chính ngài phải chiến đấu: “Tôi cảm nhận được, biết được bằng chính cảm nghiệm, nhiều điều liên hệ đến những nỗi kinh hoàng rụng rời do ma quỉ gây ra” (Bt 90,7). Nhưng chính Thiên Chúa cũng chỉ cho ngài lối thoát: “Phương thuốc tốt nhất cần dùng trong những hoàn cảnh như vậy là hết sức dũng cảm chống lại Kẻ Thù, đừng tin tưởng chút nào nơi ḿnh, nhưng đặt hết tin tưởng nơi Thiên Chúa, đặt tất cả sức mạnh và tất cả hi vọng nơi Người, và nhờ Đấng Bảo Vệ vĩ đại như vậy, chúng ta trở nên mạnh mẽ; đừng hèn nhát và không chút nghi ngờ việc ḿnh sẽ chiến thắng” (Bt 90,7). Vậy là ngài trở nên rất khiêm tốn, thoát ra khỏi chính ḿnh, đặt ḿnh trọn vẹn trong tay Chúa: ngài đang chiến đấu dưới cờ hiệu của Đức Kitô, “ở một nơi khiêm tốn, xinh đẹp và dễ thương”, chứ không phải như Luxiphe hay các thuộc hạ của nó “dữ tợn và đáng sợ, ngồi trên ngai lửa và khói” (Lt 140 và 143).

 

Băo tố đến rồi đi. V́ có hải tặc, người chủ thuyền không dám ghé vào Quảng Đông như dự tính, nhưng tiến thẳng đến Nhật Bản, và mọi chuyện êm xuôi. Trong lá thư đề ngày 29.1.1552, gửi anh em Ḍng Tên ở Rôma, thánh Phanxicô Xavier kể khá kỹ về thời gian ngài lưu lại trên đất Nhật Bản, đặc biệt là những câu hỏi người ta nêu lên về Thiên Chúa và việc Sáng Tạo (Bt 96). Nhưng người Nhật Bản vẫn thắc mắc: Tại sao người Trung Hoa không biết và tin Chúa Giêsu?

 

HƯỚNG VỀ TRUNG HOA

Trên đường trở lại Ấn Độ, thánh Phanxicô Xavier dừng chân tại Malacca. Ngài nhận được nhiều thư từ và tin tức, đặc biệt thư của thánh I-nhă thiết lập Tỉnh Ḍng Ấn Độ và đặt ngài làm giám tỉnh, và t́nh trạng đáng lo ngại ở Học viện Thánh Phaolô tại Goa. Ngài có nhiều việc phải lo hơn, nhưng cũng được tự do trong hoạt động tông đồ hơn.

 

Sức mạnh của ḷng yêu mến

Trước khi đi Nhật Bản, thánh Phanxicô Xavier đă đi thăm một ṿng các anh em ở nhiều nơi để thảo luận về công cuộc truyền giáo và về việc thiết lập hay phát triển các trường học. Riêng về Học viện Thánh Phaolô ở Goa, mặc dầu ngài thấy cha viện trưởng Antonio Gomes quá độc đoán, cần phải thuyên chuyển, nhưng ngài chưa dứt khoát. Ngài đă viết cho thánh I-nhă trong thư ngày 1.2.1549: “Ở đây, anh em trong Ḍng không lấy làm gương sáng lắm trước lệnh do N. mang đến là bắt giam và trói bằng xiềng xích những ai, theo N., không làm gương sáng lắm ở đây để gửi vể Bồ Đào Nha”(Bt 70,4). Rồi ngài tâm sự với thánh I-nhă: “Con nghĩ rằng Ḍng Tên là Ḍng yêu mến và hiệp nhất tâm hồn, chứ không phải là ép buộc hay sợ hăi như nô lệ”(Bt 70,5). Ba năm sau, từ Nhật Bản trở về, ngài thấy t́nh h́nh trở nên tệ hại hơn, và ngài vẫn không thay đổi ư kiến. Cha Antonio Gomes quả là không hiểu ǵ thánh Phanxicô Xavier khi muốn biến Học viện Thánh Phaolô ở Goa thành một Học viện Coimbra thứ hai: xây dựng thật lớn lao, nhưng chỉ nhận học sinh người Bồ Đào Nha. Trái lại, ở Cochin, Ḍng Tên cũng có một trường học, nhưng không có một nhà thờ xứng đáng, ngài đă không ngần ngại tiếp nhận nhà thờ Madre de Dios, của Hội Từ Thiện Casa da Misericordia, tổ chức tốt nhất của người Bồ Đào Nha tại Châu Á thời ấy. Trong một thời gian ngắn, ngài thu xếp mọi công việc đâu vào đó, để rồi lại thực hiện một chuyến đi xa nữa.

 

Thực ra, ước nguyện của thánh Phanxicô Xavier không chỉ dừng lại ở việc làm “triển nở” cộng đồng tín hữu Bồ Đào Nha ở Ấn Độ, nhưng c̣n muốn góp phần tạo ra những cộng đồng mới: không c̣n tranh chấp, kiện tụng, gương xấu, nhưng giữa anh em Ḍng Tên và hàng giáo sĩ, triều cũng như ḍng, có sự thông cảm và cộng tác; c̣n những kỳ đà cản mũi trong Ḍng Tên th́ bị loại trừ khỏi Ḍng (Bt 100 và 101). Đi xa hơn nữa, ngài ra lệnh cho cha Berze, viện trưởng mới của Học viện Thánh Phaolô: “Trong cách xử sự với các cha và các anh em, phải rất quí mến, bác ái và khiêm tốn, đừng thô bạo hay gắt gao…”(Bt 115,1); “C̣n về cách giúp (các tín hữu) th́ càng phổ cập hơn càng tốt” (Bt 115,4). Ngài cũng muốn các tập sinh trong Ḍng phải được huấn luyện tử tế bằng việc tập Linh Thao và thực hiện nghiêm túc các thực nghiệm. Nhưng ngài nhấn mạnh đặc biệt đến việc anh em trong Ḍng phải hiệp nhất với nhau và với bề trên (Bt 117). Ngài nghĩ cả đến việc được gọi trở về Rôma để gặp thánh I-nhă. Trong thư ngày 29.1.1552, ngài gần như gợi ư với thánh I-nhă: “Cha viết cho con là cha rất mong được gặp con trước khi ĺa khỏi cơi đời này… Đối với đức tuân phục th́ không có ǵ là không thể được”(Bt 97,3). Thư hồi âm của thánh I-nhă đến Ấn Độ th́ thánh Phanxicô Xavier đă qua đời từ lâu rồi!

 

Chẳng những là một người dễ gần gũi, mà thánh Phanxicô Xavier c̣n là một người thích chia sẻ và hiệp thông nữa. Ngài học được với thánh I-nhă là “mọi điều thiện hảo, mọi ân huệ đều từ trên cao ban xuống” (Lt 237), nên việc kết hiệp với Thiên Chúa được đặt nền móng trên việc Người hiện diện khắp nơi. Nhưng đối với thánh Phanxicô Xavier, kinh nghiệm này rất sống động. T́m gặp Thiên Chúa trong hiện tại chính là t́m kiếm Người mọi nơi mọi lúc. Do đó, nơi ngài, việc nhận định được liên kết với việc mở rộng hoạt động truyền giáo, và muốn tiến bộ trong chiêm niệm phải nh́n ngắm thế giới này bằng con mắt thiêng liêng. Như trong bài “Chiêm niệm để đạt tới t́nh yêu” trong Linh Thao (Lt 230-237), việc “t́m gặp Thiên Chúa trong mọi sự” được nâng lên thành một chia sẻ và hiệp thông trong yêu mến, nơi đó con người được mời gọi mở cửa cho Thiên Chúa, Đấng hoạt động cả bên trong cũng bên ngoài.

 

“Xin đừng bao giờ để con ĺa xa Chúa”

Vừa về đến Ấn Độ, thánh Phanxicô Xavier bày tỏ ngay với thánh I-nhă về ước muốn đi Trung Hoa để phục vụ Thiên Chúa hơn. Chúng ta đă biết điều ǵ thúc bách ngài, ở đây chúng ta để ư đến điểm đặc biệt là các suy nghĩ của ngài rất gần với những điều được tŕnh bày trong Hiến Chương Ḍng Tên. Nguyên tắc hướng dẫn việc lựa chọn hoạt động tông đồ của Hiến Chương Ḍng Tên là trong hoàn cảnh cụ thể, ưu tiên cho hoạt động nào “phục vụ Thiên Chúa hơn và lợi ích phổ cập hơn”. Đó cũng chính là điều thánh Phanxicô Xavier đă nghĩ khi viết: “Trong Thiên Chúa, tôi rất hi vọng là một con đường sắp được mở ra, không chỉ cho anh em trong Ḍng, mà c̣n cho tất cả các ḍng khác…” (Bt 96,52).

 

Theo Hiến Chương Ḍng Tên, phải chọn nơi nào người ta sẵn sàng để hoa trái thiêng liêng trổ sinh hơn. Thánh Phanxicô Xavier quyết định đi Trung Hoa v́ người Trung Hoa “có trí khôn sâu sắc” và “hiếu học” hơn người Nhật Bản nhiều (Bt 96,50). Theo Hiến Chương Ḍng Tên, “sự thiện càng phổ cập càng đẹp ḷng Thiên Chúa”, nên phải ưu tiên đối với những người sẽ làm cho sự thiện đến được những người khác nữa, “những người dưới quyền họ hoặc chịu ảnh hưởng của họ”. Đây cũng chính là điều thánh Phanxicô Xavier nhắm tới: khi người Trung Hoa đón nhận Đạo Chúa Kitô, họ sẽ giúp cho người Nhật Bản bỏ ḷng tin tưởng nơi các giáo phái từ Trung Hoa truyền sang.

 

Đă nắm vững những nguyên tắc hướng dẫn ấy, thánh Phanxicô Xavier chuẩn bị chuyến đi hết sức chu đáo. Ngày 8.4.1552, ngài viết cho vua Joăo III: “Ông Diogo Pereira đi với tư cách là đại sứ (của Tổng Trấn Bồ Đào Nha tại Ấn Độ), để đ̣i lại những người Bồ Đào Nha đang bị (chính quyền Trung Hoa) cầm tù, và cũng để thiết lập quan hệ ḥa b́nh và hữu nghị giữa Hoàng Thượng và vua Trung Hoa. Về phần chúng tôi, các linh mục Ḍng Tên Chúa Giêsu, tôi tớ của Hoàng Thượng, chúng tôi đi để gây chiến tranh và bất ḥa giữa ma quỉ với những người thờ lạy chúng, thay mặt Thiên Chúa nài van trước là nhà vua, sau là tất cả dân chúng trong vương quốc, để họ đừng thờ lạy ma quỷ nữa, nhưng thờ lạy Đấng tạo thành trời đất, v́ chính Người đă dựng nên họ, và chính Chúa Giêsu Kitô đă cứu chuộc họ” (Bt 109,5). Trong lá thư cuối gửi cho thánh I-nhă, thánh Phanxicô Xavier hạ giọng hơn, như thổ lộ tâm t́nh, trong đó chúng ta thấy sứ mạng và chiêm niệm quyện vào nhau: “Mọi người đều nói với con là từ Trung Hoa có thể đi Giêrusalem được”(Bt 110,12). Sau khi huấn dụ anh em Ḍng Tên ở Goa vào đêm thứ năm Tuần Thánh, ngài rời Goa đi Malacca để theo tàu của ông Pereira đi Trung Hoa. Thật bất ngờ: hai người con của nhà thám hiểm lỗi lạc Vasco da Gama cùng ở Malacca, nhưng đối xử với ngài hoàn toàn khác nhau. Người anh là Pedro da Silva da Gama, trấn thủ trên đất, hết ḷng ủng hộ ngài, nhưng người em là Alvaro da Ataida da Gama, trấn thủ trên biển, nhất định không cho tàu nhổ neo. Ngài phải lấy quyền Phái Viên Ṭa Thánh để ra vạ tuyệt thông, nhưng viên sĩ quan ấy cũng chỉ cho phép tàu đi mà không có ông Pereira. Mọi sự bỗng nhiên như sụp đổ trước mắt ngài. Nhưng rồi ngài vẫn đi, “không có một đặc ân nào của ai, hi vọng một người Môrô hay một kẻ ngoại sẽ chở tôi vào đất liền ở Trung Hoa”(Bt 125,4).

 

Khoảng đầu tháng 9 năm 1552, ngài đặt chân lên đảo Thượng Xuyên, một ḥn đảo vốn hoang vu đă được các nhà buôn Trung Hoa và Bồ Đào Nha biến thành một thương cảng. Nhờ các tàu buôn Bồ Đào Nha đi Malacca, thánh Phanxicô Xavier tiếp tục điều hành Tỉnh Ḍng qua thư từ. Trong khi nóng ḷng chờ đợi một nhà buôn Trung Hoa đến đón như đă hẹn, ngài đề ra những phương án khả thi khác: trở về Ấn Độ, theo một phái đoàn sứ thần Thái Lan để vào Trung Hoa. Nhưng rồi ngài ngă bệnh. Dầu vậy, ngài vẫn chưa ngă ḷng: “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai c̣n chống lại được chúng ta?” (Rm 8,31). Nhưng ngài không dậy được nữa. Giờ đă đến để ngài dâng lên Thiên Chúa của lễ tối hậu: “Lạy Chúa, xin thương nhận… Mọi sự đều là của Chúa, xin Chúa sử dụng tùy ư Chúa. Xin ban cho con t́nh yêu và ân sủng của Chúa. Ơn Chúa làm thỏa ḷng con(Lt 234).

 

Nếu ước nguyện duy nhất của thánh Phanxicô Xavier là đem Tin Mừng đến cho những người ở xa, th́ mười năm ở Châu Á của ngài được ghi dấu bằng ba cột mốc là ba chuyến đi lớn. Khi rời Ấn Độ đi Inđônêxia, ngài phần nào tách khỏi quyền “bảo trợ truyền giáo” của Bồ Đào Nha và lao ḿnh vào nơi ngài chưa hề biết ǵ. Đó cũng là dịp để ngài đến với Thiên Chúa một cách khác. Quyết định đi Nhật Bản là kết quả một cuộc nhận định lâu dài, nhưng dọc theo bờ biển Trung Hoa, ngài khám phá ra Thiên Chúa đ̣i hỏi ngài hơn nữa: phó thác trọn vẹn nơi Người. Chuyến đi cuối cùng của ngài vẫn nằm trong ước nguyện cơ bản nguyên thủy: đó không phải là một cuộc chạy trốn về phía trước, v́ mặc dầu bất đắc dĩ phải ở lại Thượng Xuyên, ngài vẫn tận t́nh chu toàn nhiệm vụ giám tỉnh. Nhưng chính lúc ấy, cái đến đến thật bất ngờ. Chắc chắn ba chuyến đi ấy chưa làm cho ngài kiệt sức, nhưng đủ làm nổi rơ những đường nét thâm sâu trong cuộc sống của ngài.

 

 

Philippe LéCrivain, s.j.

Người dịch: Cosma Hoàng Văn Đạt, s.j. (Paris 8.10.2002)

 

 

 

 

 

 

 

VÀI H̀NH ẢNH VỀ THÁNH PHANXICO-XAVIE

 

                          

 

                         

                              

                                               

                       

CUỘC ĐỜI VÀ TIẾNG GỌI.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

Khi được hỏi về việc chọn một lời Thánh Kinh làm châm ngôn cho đời giám mục của ḿnh, Đức tân Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm đă trả lời: Tôi chọn lời Thánh Kinh làm châm ngôn nhắc nhớ chính ḿnh là: “Hăy theo Thầy”.


“Hăy theo Thầy” là lời nhắc nhớ rằng dù làm linh mục hay làm giám mục, vẫn chỉ là một tiếng gọi mà thôi, có chăng là tiếng gọi ấy thôi thúc hơn và mạnh mẽ hơn.


“Hăy theo Thầy” là lời nhắc nhớ rằng điều quan trọng trong đời dâng hiến không phải là đi đâu và làm ǵ, mà là đi với ai. Đi theo Thầy Giêsu th́ dù làm ǵ và ở đâu cũng là đi trên đường sự thật và là đường dẫn đến sự sống.


“Hăy theo Thầy” là lời nhắc nhớ rằng muốn làm người lănh đạo th́ trước hết phải làm môn đệ, và càng sống tư cách môn đệ tốt bao nhiêu th́ càng có hi vọng lănh đạo tốt bấy nhiêu…Theo Thầy không chỉ là theo bằng trí mà là theo bằng tâm; cho nên theo Thầy là để tâm ḿnh gắn bó với tâm của Thầy, để mang trong ḷng ḿnh những tâm tư của Thầy (x. Pl 2,5). (tinvui.org).


Đọc Phúc Âm ta nghe âm vang lời mời gọi. “Hăy theo Thầy”. Tiếng gọi của Chúa Giêsu luôn để lại những âm vang làm chuyển biến cuộc đời. Những ngư phủ đă trở thành Tông đồ, những kẻ chuyên nghề đánh bắt cá đă trở nên người chuyên nghiệp bủa lưới các tâm hồn.


Ngày 3.12, Giáo Hội mừng lễ Thánh Phanxicô Xaviê, một nhà truyền giáo vĩ đại, người tiên phong cho cuộc truyền giáo thời đại mới. Đọc lại tiểu sử để thấy cuộc đời ngài được dệt bằng những tiếng gọi “Hăy Theo Thầy”.


1. Cuộc đời

Thánh nhân sinh năm 1506 tại lâu đài Xaviê trong một gia đ́nh quyền quư của vương quốc Navarre nhỏ bé miền bắc nước Tây Ban Nha ngày nay. Khi ngài 5 tuổi, nước Tây Ban Nha thôn tính và sát nhập Navarre khiến gia đ́nh ngài lâm cảnh nước mất nhà tan. Muốn tiến thân bằng con đường trí thức, năm 17 tuổi ngài đến Paris học (1525-1536).


Tại Paris ngài sống trong cùng một căn pḥng với chân phước Phêrô Favre và sau đó với thánh Ignaxiô. Lần lượt Phêrô Favre rồi Phanxicô Xaviê được thánh Ignatiô thu phục. Năm 28 tuổi ngài cùng với nhóm bạn của thánh Ignatiô khấn sống khó nghèo, khiết tịnh và làm việc tông đồ. Năm 31 tuổi, ngài chịu chức linh mục tại Venezia miền đông bắc nước Ư năm 1537. Năm 35 tuổi ngài xuống tàu đi truyền giáo ở vùng Đông Á theo lệnh Đức Thánh Cha Phaolô III.

Tháng 4.1541 ngài xuống tàu tại Lisbon và măi 14 tháng sau mới đến được Goa bên Ấn độ. Trong suốt 10 năm truyền giáo (1542-1552) ngài đă đi cả trăm ngàn cây số. Trong 7 năm đầu, ngài truyền giáo ở mũi Cormorin, sau đó ở Ceylan, Malaisia và từ đó đến Indonésia. Là vị giám tỉnh đầu tiên của tỉnh ḍng đầu tiên ngoài Châu Âu, ngài yêu mến và gắn bó keo sơn với Chúa Giêsu, tha thiết với Ḍng và anh em trong Ḍng, kính trọng và tuân phục thánh Ignatiô, nhiệt thành lạ lùng với việc tông đồ. Ngài đă rửa tội cho hàng trăm ngàn tân ṭng và gầy dựng nhiều cộng đoàn tín hữu khắp nơi. Thành quả tông đồ của ngài đă tạo nên một đỉnh cao trong lịch sử truyền giáo của Hội thánh.


Trong ṿng 2 năm (1549-1551), ngài đă thành lập một cộng đoàn tín hữu ở Nhật Bản; trước khi ra đi ngài trao lại cho cho một linh mục Bồ Đào Nha; 20 năm sau cộng đoàn này đă lên đến 30 ngàn người. Cuối cùng v́ muốn vào Trung Quốc truyền đạo, ngài đă đến đảo Thượng Xuyên ngay cửa khẩu Quăng Châu, để chờ thuyền lén lút đưa ngài vào Trung Quốc. Tiếc rằng tại đây ngài ngă bệnh và qua đời trong một cḥi tranh chỉ có anh thanh niên trẻ thông dịch viên bên cạnh. Vài tuần lễ sau, người ta từ Goa đến t́m xác ngài, đem về Goa để chôn cất.


Thánh Phanxicô Xaviê qua đời ngày 3.12.1552, được ĐTC Grêgôriô XV phong thánh cùng với thánh Ignatiô vào năm 1622 và được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo. (x.Phụng vụ chư thánh tập 2, Lm Augustin Nguyễn Văn Trinh).

 

2. Tiếng gọi.

ĐGM Giuse Vũ Duy Thống đă chiêm nghiệm cuộc đời thánh nhân qua 3 tiếng gọi: Lời Chúa, bạn bè và nhu cầu truyền giáo. (x. Làm nụ hoa trắng, tr 135).

a. Tiếng gọi từ Lời Chúa.

Đức Giêsu hỏi: "Có lợi ích ǵ nếu được cả thế gian mà mất sự sống?" (Mt 16,26a). Câu hỏi trên đă trở thành lời tâm niệm của một giáo sư triết trẻ tuổi, với một tương lai đầy hứa hẹn trong giới kinh viện mà sự thành công, uy tín và vinh dự đang chờ đón.


Sinh ra trong gia đ́nh quyền quư nhưng Phanxicô Xaviê luôn nuôi trong ḿnh những ước vọng bay cao, ngài t́m thăng tiến qua nẻo đường học hành.


Phanxicô Xaviê lên Paris theo đuổi khoa bảng dùi mài kinh sử để cuối cùng trở thành giáo sư môn Triết học. Nhưng trên đỉnh cao danh vọng ấy, một lần tiếp cận Tin Mừng, gặp được câu: “lời lăi cả thế gian mà mất linh hồn liệu ích ǵ?” và dù không quen cân đo đong đếm kinh tế, ngài cũng đặt tất cả lên cán cân giá trị; lời lăi trần thế mà đời sống linh hồn trống rỗng không có ǵ th́ là lỗ vốn, đạt được ước vọng trong cuộc sống này mà đời sau lại mất hết th́ là bể bụi cuộc đời trắng tay sự nghiệp. V́ thế mà thánh Phanxicô Xaviê đă suy nghĩ lựa chọn định hướng đời ḿnh sao cho có lợi cho đời sống Thiên Chúa. Phanxicô Xaviê không muốn dừng lại hưởng thụ cuộc sống đầy đủ muốn ǵ được nấy, nhưng luôn được kích thích bởi ước vọng vươn lên; không muốn một cuộc đời chật hẹp g̣ bó dù luôn có kẻ hầu người hạ mà lại thích vất vả khai phá lên đường; không muốn ngày ngày làm quen với vũ khí chiến đấu pḥng thủ hoặc tấn công chỉ v́ lănh địa đồi núi hoang sơ, nhưng lại ham thích vũ khí tinh thần là sách vở kiến thức không gây bực bội tinh thần và cũng chẳng hôi tanh mùi máu.


Lời Chúa ở đây quả là lựa chọn đă trở thành sức mạnh giúp thánh nhân định hướng đời sống.

b. Tiếng gọi đến từ môi trường bè bạn.

Lời Chúa gọi khi Phanxicô Xaviê mới 24 tuổi, đang sinh sống và giảng dạy ở kinh thành Paris tráng lệ. Ngài không thay đổi ngay lập tức khi nghe những lời ấy, nhưng tất cả là nhờ ở người bạn tốt, Cha Ignatiô ở Loyola đă liên lỉ thuyết phục và sau cùng đă chiếm được người thanh niên ấy cho Đức Kitô. Sau đó, Phanxicô tập luyện đời sống tâm linh dưới sự hướng dẫn của Cha Ignatiô, và năm 1534 ngài gia nhập cộng đoàn nhỏ bé của Cha Ignatiô (là Ḍng Tên thời tiên khởi). Tại Montmartre, các ngài khấn sống khó nghèo, khiết tịnh và hoạt động tông đồ dưới sự hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng.


Bạn bè có một ảnh hưởng không nhỏ đến chọn lựa của Phanxicô Xaviê. Đó là tiếng gọi thứ hai.


Ở Paris sống đời sinh viên trau dồi trí thức, Phanxicô Xaviê đă gặp gỡ Ignaxiô trong t́nh thân bạn bè. Sự thân thiết này đă giúp ngài cởi mở cơi ḷng, tâm sự chia sẻ cuộc sống tinh thần. Nhận biết Phanxicô là con người đầy cao vọng, nhất là những ước vọng lành thánh, Inhaxiô một hôm nói với Phanxicô rằng: “Con người nhiều cao vọng như anh mà chịu dừng lại trong vinh quang trần thế th́ qúa uổng. Thiết nghĩ chỉ có vinh quang Thiên Chúa mới xứng với tầm cao ước vọng của anh”.


Câu nói của Ignatiô tác dụng như một liều thuốc mạnh có sức công phá không ǵ có thể cầm lại được. “ Chỉ có vinh quang Thiên Chúa mới xứng với khát vọng khôn cùng”, Phanxicô Xaviê đă coi đây như châm ngôn để ngài dấn thân phục vụ Giáo Hội trong Giáo Hội và theo đường lối của Giáo Hội. Ngài từ bỏ tất cả công danh sự ngthiệp, nhận chức Linh mục, rồi sau đó cùng với Ignaxiô thành lập Ḍng Tên với khẩu hiệu “ cho vinh danh Chúa hơn”.


Nhắc lại vài đoạn trong bút tích Thánh Phanxicô Xaviê cũng đủ thấy t́nh anh em bạn bè luôn nâng đỡ ngài trên hành tŕnh truyền giáo. Tất cả anh em trong Ḍng hiện diện liên lỉ trong tâm trí tôi (Bt 48,1);( bút tích Thánh Phanxicô Xaviê, tài liệu 48 số 1); Ở Ấn Độ, để giải trí, tôi rất thường nhớ đến anh em trong Ḍng, và nhớ đến thời gian, v́ Chúa quá thương, tôi đựoc biết anh em và sống với anh em. Nhờ lời anh em cầu nguyện, và v́ anh em luôn nhớ đến tôi, Chúa ban cho tôi ơn rất lớn là dù xa cách anh em về thể xác, nhưng nhờ anh em nâng đỡ và giúp đỡ, Chúa cho tôi cảm thấy muôn vàn tội lỗi của ḿnh, và cho tôi sức mạnh để đến giữa dân ngoại (Bt 20,14)…Để đừng bao giờ quên anh em trong Ḍng, và lúc nào cũng nhớ đặc biệt đến anh em, tôi đă cất tên của anh em trong các thư từ chính tay anh em viết cho tôi, tôi có thể luôn luôn mang trên ḿnh, cùng với lời khấn của tôi. Điều này đem lại cho tôi nhiều an ủi…Tôi cảm thấy sung sướng khi mang tên của anh em trên ḿnh (Bt 55,10). Gặp anh em th́ tâm hồn tôi đựơc an ủi hơn nhiều. Vậy mà tôi cứ phải viết thư cho anh em, lại không chắc thư đến, v́ từ Ấn Độ đến Roma xa quá…Tôi nghĩ ḿnh không lầm khi nói xa cách phần xác không làm cho chúng ta, vốn yêu mến nhau trong Chúa bớt yêu mến và nghĩ đến nhau (Bt 48,1). Đặc biệt đối với Cha Ignatiô, Phanxicô đă xúc động thổ lộ tâm tư. Chúa đă ban ân huệ lớn lao khi cho tôi được biết Cha Ignatiô. Bao lâu c̣n sống, không bao giờ tôi trả được món nợ đối với ngài (Bt,16)…Trong số nhiều lời thánh thiện và an ủi của ngài, tôi đọc được những lời thế này: “hoàn toàn thuộc về nhau. Không bao giờ quên được nhau”. Tôi đă rơi lệ khi đọc những chữ ấy, và cũng rơi lệ khi kể lại, v́ nhớ lại thời gian đă qua, nhớ đến ngài đă và vẫn luôn luôn rất thương tôi, và nhờ những lời khẩn nguyện thánh thiện của ngài, Thiên Chúa đă cho tôi thoát đựoc bao gian nan, bao nguy hiểm (Bt 97,1)…Đó là một con người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, đời sống không có ǵ chê trách đựoc (Bt 1,7).


c. Tiếng gọi đến từ nhu cầu truyền giáo.

Ban đầu nhận công tác đi t́m Vinh Danh Chúa qua việc phục vụ các bệnh nhân, nhưng chừng như chưa đủ, Phanxicô Xaviê vẫn khát vọng xa hơn là hiến thân loan báo Tin Mừng tận miền sâu miền xa của địa cầu. Tiếng gọi thứ ba đến từ nhu cầu truyền giáo.


Từ Venice, là nơi ngài thụ phong linh mục năm 1537, Cha Phanxicô Xaviê đến Lisbon và từ đó ngài dong buồm đến Ấn Độ, cập bến làng Goa ở bờ biển phía tây nước Ấn. Trong ṿng 10 năm tiếp đó, ngài đă tích cực hoạt động để đem đức tin đến cho rất nhiều dân tộc, trong đó có người Ấn Độ, Mă Lai và Nhật Bản. Cha Phanxicô đến các quần đảo ở Mă Lai, và Nhật Bản. Ngài học tiếng Nhật và rao giảng cho các người dân chất phác, dạy giáo lư và rửa tội cho họ, cũng như thành lập các trụ sở truyền giáo cho những người muốn giúp đỡ công cuộc của ngài. Từ Nhật Bản, ngài mơ ước đến Trung Hoa, nhưng dự tính này không bao giờ thực hiện được. Ngài đă từ trần trước khi đặt chân đến phần đất này.


Tới Goa ngày 6.5.1542, Phanxicô rong ruổi khắp nơi, nhiệt t́nh rao giảng cho người ta biết con người Nagiaret nghèo nàn kia chính là Thiên Chúa ở giữa loài người. Trong 7 năm (1542-1549), Ngài là nhà truyền giáo rửa tội đựơc nhiều nhất, tới 100.000 người, “có những buổi chiều nhức mỏi cả cánh tay” như thánh nhân viết. Từ Malaca, Ngài đến Nhật, xứ sở mặt trời. Ngài muốn gặp gỡ t́m hiểu trao đổi để Lời Chúa sáng ngời qua đối thoại. Ngài dự định đến tận kinh đô Nhật, vào các Đại học, gặp gỡ các nhà Sư để trao đổi. Phanxicô hoạt động nhiều nhất tại Kagoshima, Hirado, Bungo trên đảo Kyushu, lên Yamaguchi, từ đó đi hai tháng lên khinh đô Myako (tức Kyoto). Sau hai năm ở Nhật, Phanxicô trở về Goa, trao công việc truyền giáo lại cho cha Torres và tu huynh Fernandez.


Ngày 14.4.1552 nhà truyền giáo lên tàu, tháng 8 năm đó ngài tới đảo Thượng Xuyên, cửa ngơ Trung Hoa. Ba tháng sau Phanxicô bị sốt nặng, ḷng vẫn ngong ngóng đựơc nhà cầm quyền Quăng Đông cho phép vào đất liền. Thật bất ngờ, ngài qua đời vào 2-3 giờ sáng ngày 3.12.1552, mới 46 tuổi đời. Nói theo “thói thế gian”, đó là vỡ mộng, mọi việc c̣n dang dỡ…Nhưng đối với Thiên Chúa th́ Phanxicô đă làm trọn ư Người và mọi sự đă hoàn thành, dù chưa đựơc phép bước vào nước Đại Minh thời đó với dân số dưới 200 triệu người.


Bất cứ chỗ nào ngài đến, ngài đều sống với người nghèo, chia sẻ thức ăn và các phương tiện thô sơ với họ. Ngài dành rất nhiều thời giờ để chăm sóc người đau yếu, nghèo khổ, nhất là người cùi. Rất nhiều khi ngài không có thời giờ để ngủ hoặc ngay cả để đọc kinh nhật tụng, nhưng qua các thư từ ngài để lại chúng ta được biết, ngài luôn luôn tràn ngập niềm vui.


Hành tŕnh không mệt mỏi, Phanxicô Xaviê rong ruổi những nẻo đường Á Châu, một miền xa lạ và xôi xa. Nhưng mặc kệ. Sợ ǵ! Đối với thánh nhân:Tôi không sợ ai ngoại trừ Thiên Chúa, chỉ sợ Người phạt v́ chểnh mảng trong việc phục vụ Người, v́ vụng về và vô dụng trong việc truyền bá danh Chúa Giêsu giữa những kẻ chưa biết Người (Bt 78,2). Ở đâu có vinh quang Thiên Chúa, Phanxicô Xaviê sẳn sàng lên đường. Mỗi một tâm hồn chinh phục được là một niềm vui cho vinh quang Thiên Chúa, mỗi một hao ṃn trong thân xác là “một vốn” bỏ ra để có “bốn lời” cho cuộc sống mai hậu. Mỗi một thời khắc sống cho Tin Mừng, cũng chính là một cách đong đầy cho khát vọng cống hiến t́m Vinh Danh Chúa.

Chính v́ thế mà Phanxicô Xaviê đă không mỏi mệt ra đi, dấn bước lên đường: từ Nhật đến Ấn Độ, từ Goa đến biên giới Trung Quốc. Mỗi chặng đường đi qua, lại là một lời “c̣n nữa” vang lên không ngừng. Tiếng gọi từ nhu cầu truyền giáo đă hớp lấy tâm hồn Phanxicô Xaviê. Thánh nhân đă sống do và cho tiếng gọi này đến hơi thở cuối cùng trên con đường sang Trung Quốc. Đúng là một con người đầy cao vọng nhưng là một cao vọng đích thực chỉ ḿnh Thiên Chúa mới có thể đong đầy, mới làm no thỏa.


3. Biết tận dụng Ơn Chúa ban

Nh́n cuộc đời thánh Phanxicô Xaviê trong ba tiếng gọi: Lời Chúa, bè bạn và nhu cầu truyền giáo cũng là một cách học tập đời sống của ngài để họa lại trong đời sống của ḿnh.


Đời mỗi tín hữu cũng đong đầy những tiếng gọi như thế.


Xin cho những tiếng gọi của Lời Chúa được ta lắng nghe chân thành và thực thi trung thành, bởi đó là ánh sáng soi lối ta đi. Xin cho những tiếng gọi từ những người xung quanh không bị ta quên lăng, bởi tưởng như tầm thường, nhưng đó lại là tiếng gọi nhiều khi rất quư hiếm cho vững bước đi lên. Và xin cho nhu cầu truyền giáo của Giáo Hội luôn là tiếng gọi ta phải quan tâm để ư, bởi đó là sự sống và là sự sống c̣n của Giáo Hội.


Tất cả mọi người chúng ta đều được mời gọi “ Hăy theo Thầy” để "ra đi và rao giảng cho muôn dân" (Mt 28,19). Chúng ta không nhất thiết phải đi đến những nơi xa xôi để rao giảng, mà hăy rao giảng ngay trong gia đ́nh, cho con cái, vợ chồng, và những người cùng làm việc với chúng ta. Rao giảng không chỉ bằng lời nói, nhưng c̣n qua đời sống hàng ngày. Chính nhờ sự hy sinh, từ bỏ tất cả những ǵ của riêng ḿnh, mà Thánh Phanxicô mới có tự do để đem Tin Mừng đến cho người khác. Hy sinh là quên đi cái tôi của ḿnh v́ lợi ích cao cả hơn, lợi ích của sự cầu nguyện, lợi ích khi giúp đỡ người có nhu cầu, lợi ích khi lắng nghe người khác. Món quà lớn nhất của cuộc đời chúng ta là Ơn Chúa.Thánh Phanxicô đă đón nhận hồng ân ấy, rồi làm trổ sinh hoa trái trong suốt năm tháng truyền giáo. Lời khuyên và cũng là lẽ sống của ngài cho chúng ta: Không ai là người yếu đuối, nếu biết tận dụng Ơn Chúa ban cho ḿnh (Bt 90,8.9).


Ơn Chúa có thể đến bất cứ từ nơi đâu, trong mọi cảnh huống cuộc đời, lúc vui mừng hay đau khổ, lúc thành công hay khi thất bại. Điều quan trọng là chúng ta biết nhận ra đó là ân ban của Chúa. Người có niềm tin nh́n tất cả chỗ nào cũng là ân sủng, và mỗi một ân ban là một cuộc "Chúa đến viếng thăm", là tiếng gọi trong hành tŕnh cuộc đời.

 

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

 

 

 

 

Thánh Phanxicô Xaviê:

NghiỆt ngẢ phẬn ngưỜi,

nhưng vinh quang cho tôi tỚ Chúa

Phanxicô Xavie


Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, có đoạn (1 Cr 9, 16-19.22-23) thánh Phao-lô muốn chia sẻ ư thức trách nhiệm và thái độ cần phải có của một người ra đi rao giảng Lời Chúa. Ngài rao giảng không phải để tự hào, nhưng đó là sự cần thiết mà lương tâm bắt buộc ngài phải làm. Ngài rao giảng với thái độ của một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tự nguyện chấp nhận trở thành nô lệ của mọi người v́ phần rỗi của họ, và theo lời Thầy Giêsu mời gọi: "Anh em hăy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo." (Mc 16, 15).


Như vậy Lời Chúa đă chỉ rơ, việc rao giảng Tin Mừng không hề có biên giới, cũng không phân biệt màu da hay chủng tộc, tầng lớp giai cấp hay chính kiến xă hội...Tất cả mọi người đều có quyền được thông chia phần phúc của Tin Mừng.


Và trao ban, theo Tin Mừng không phải là một việc tùy tiện. Muốn trao ban hay không tùy ư. Nhưng đó là ơn gọi bẩm sinh của con người. Không thể trao ban những thứ thừa thăi, hay những thứ không c̣n sử dụng được nữa. Mà là trao ban chính ḿnh. Việc trao ban chỉ ư nghĩa và có giá trị khi được trao ban với ư thức và liên đới với tha nhân. Một hành động trao ban nhưng không, như Thầy Giêsu đă trao ban chính mạng sống ḿnh, không v́ tư lợi cá nhân hay v́ mục đích nào khác, ngoài t́nh yêu thương. Mà sau này Người cũng truyền lại cho chúng ta: "Anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em." (Ga 15, 12)

Nhận ra ư nghĩa cuộc đời ḿnh, từ lời thách thức của Tin Mừng:"Lời lăi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích ǵ ?", đă khiến một vị giáo sư trẻ tuổi nhiều tham vọng, từ bỏ tương lai đầy hứa hẹn, chỉ để đeo đuổi một mục đích duy nhất trong cuộc đời: sự sống đời đời của chính ḿnh và của tha nhân.


Vị giào sư trẻ tuổi đó chính là thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng của các xứ truyền giáo. Chưa tṛn 25 tuổi, Phanxicô đă nổi tiếng như một giáo sư triết học tài ba.tại đại học Paris.Giữa lúc danh vọng đang đến gần, Phanxicô Xaviê đă nhận được lời thách thức trên đây từ một người bạn thân Ignaxiô.


Không thể cưỡng lại với Lời Chúa, Phanxicô đă đến Montmartre để cùng với Ignaxiô sống đời khó nghèo, khiết tịnh và phục vụ tông đồ theo sự hướng dẫn của Đức Thánh Cha.


Đến năm 1537, nghĩa là 3 năm sau khi đă tuyên khấn, Phanxicô Xaviê lănh chức Linh mục. Từ Italia, ngài sang Lisbon của Bồ Đào Nha để lên dường đi truyền giáo tại Ấn Độ.

Trong 10 năm ngắn ngủi (1542-1552), Phanxicô Xaviê đă rảo bước đi khắp nơi để đem Tin Mừng đến cho dân tộc Nhật Bản, Mă Lai, Indonésia và Ấn Độ. Chưa đạt được giấc mơ đến Trung Hoa và Việt Nam, thánh nhân đă qua đời trong kiệt sức v́ bệnh tật tại một hải đảo xa xôi, cách Hồng Kông 100 cây số.


Thánh Phanxicô Xaviê là hiện thân của Tin Mừng phổ quát, không biên giới. Ngài nhận ra giá trị đích thực của Tin Mừng, và bổn phận của người tôi tớ Chúa. Từ giă vinh hoa phú quí, thánh nhân rong ruổi trên những nẻo dường Châu Á xa lạ. Cuộc đời của ngài là một chia sẻ cảm thông sâu xa với những người nghèo khổ, bất hạnh thuộc mọi chủng tộc, mọi quốc gia. Ngài phục vụ họ suốt hành tŕnh không biết mệt mỏi, nhưng luôn tràn ngập niềm vui, mà chỉ những người phục vụ trong yêu thương mới có được.


Như sự nghiệt ngă của rừng thiêng nước độc ở vùng đất xa xôi hẻo lánh, đă lấy đi mạng sống của ngài trong trơ trụi nghèo nàn.Th́ sự nghiệt ngă mà ngày nay vẫn c̣n kéo dài và đang hằn sâu trên gương mặt khắc khổ của những con người, v́ sự thật: bị cầm tù, bị nhục mạ, và chịu nhiều bất công, đói nghèo trên mảnh đất Châu Á nhỏ bé này Nghiệt ngă phận người, nhưng vinh quang cho tôi tớ Chúa.


Mừng kính thánh Phanxicô Xaviê, với tâm t́nh cảm tạ Chúa và tri ân, v́ nhờ ngài chúng ta được biết Chúa để tôn thờ và mến yêu, được biết chân lư Sự Thật. Chúng ta xin Chúa, qua lời chuyển cầu của thánh nhân, cho mỗi người Việt Nam hôm nay luôn ư thức trách nhiệm người thợ gặt của Chúa, trên cánh đồng truyền giáo mênh mông tại quê hương ḿnh. Đặc biệt, xin Chúa ban ơn can đảm và bền đỗ đến cùng, cho những người đang bị bách hại v́ sự công chính, xin cho họ biết đón nhận mọi thử thách, như dấu chỉ của ḷng tín thác và niềm hy vọng cậy trông vào ngày Chúa quang lâm.

 

Phanxicô Xavie