
Các chứng nhân trên quê hương Việt Nam
I.- Đôi nét lịch sử
Ngày
19-6-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đă tôn phong hiển thánh 117 chứng
nhân tử đạo Việt Nam. Đó là các vị đă từng được tôn phong chân phước trong
bốn đợt: Năm 1900, Đức Lêô XIII tôn phong 64 vị; năm 1906, Đức Piô X tôn
phong 8 vị; năm 1909, cũng chính ngài tôn phong 20 vị; năm 1912, Đức Piô XII
tôn phong 25 vị. Trong số 117 vị, có 8 giám mục, 50 linh mục, 16 thày giảng,
1 chủng sinh và 42 giáo dân.
Hồ sơ phong
thánh đặc biệt chú ư đến các tên tuổi sau đây:
- Người Việt
Nam: Thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục (+1839), thánh Tôma Trần Văn Thiện, chủng
sinh (+1838), thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, linh mục (+1857), thánh Emmanuen Lê
Văn Phụng, giáo lư viên và cha gia đ́nh (+1859).
- Người
ngoại quốc: Các tu sĩ Đa-minh người Tây-ban-nha thuộc Tỉnh Ḍng Mân Côi:
thánh Giêrônimô Hécmôxila Liêm, giám quản tông ṭa địa phân Đông đàng ngoài
(+1861), thánh Valentinô Beriô Ôchoa, giám mục (+1861) và một vị người Pháp
thuộc Hội Thừa Sai Paris (MEP), thánh Têôphan Vêna (+1861).
II.- Gương chứng nhân
A.- Biết chết cho một lư tưởng siêu việt
1.- Không
làm tổn thương truyền thống cao quí của dân tộc
Khi rao
giảng hoặc sống niềm tin Kitô giáo, các chứng nhân của chúng ta không những
không đi ngược lại truyền thống của dân tộc, mà c̣n củng cố truyền thống đó
khi thanh lọc khỏi truyền thống ấy những ǵ là mê tín dị đoan. Chẳng hạn cha
ông ta tin vào “Ông Trời”, “thiên mệnh”. Chính “Ông Trời” ấy đă được nhắc
tới và tôn dương trong bài giáo lư hoặc giờ cầu nguyện của người tín hữu.
Các chứng nhân giảng giải cho rơ hơn: vị Thượng Đế ấy là ai, đă làm những ǵ
cho loài người chúng ta… Các ngài cũng đưa t́nh huynh đệ đại đồng tới chỗ
yêu thương vô vị lợi, tha thứ không cùng, do đón nhận t́nh yêu của chính
Thiên Chúa vào ḷng. Thánh Carôlô Tân (= Gioan Carôlô Cornay, người Pháp) đă
thưa: “Chúng tôi chỉ chuyên lo giảng đạo, khuyên người ta ăn ngay ở lành,
dạy con cái thờ cha kính mẹ, kêu gọi thần dân vâng phục vua quan. Thế th́
tôi đâu có thể đi ngược lại giáo huấn của ḿnh mà chống nhà vua được?”
hoặc, như thánh Phaolô Khoan: “Chúng tôi không phạm tội ác, không chống
lệnh vua, không lỗi luật nước. Chúng tôi chết chỉ v́ là Kitô hữu”.
Các ngài đă
phải chết, v́ dám tuân theo Thiên Chúa hơn vua. Các ngài đă chết v́ đă hùng
hồn xác định rằng phải tôn thờ Đấng Tối Cao và sẵn sàng hy sinh cả mạng sống
để trung thành với niềm tin. Thánh Têôphan Vêna: “Tôi thiết nghĩ sự sống
đời này đâu quí hóa đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua?”, hoặc thánh
Anrê Thông: “Thà tôi bị lưu đày và phải chết v́ Chúa, chứ tôi
không chối đạo”.
2.- Không
bỏ cha mẹ
Người ta gán cho các ngài tội dạy người ta bất hiếu. Thánh Phêrô Quư đă nói:
“Dù trăng trói, gông cùm tù rạc, chén ngục h́nh xiềng tỏa chi nề,
Miễn vui ḷng cam chịu một bề cho trọn đạo trung thần hiếu tử”,
hoặc thánh Carôlô Tân, như đă nói trên. Thật ra, các ngài đă đặt gia đ́nh
vào đúng chỗ của nó, và đă truyền vào trong gia đ́nh một tinh thần mới, đó
là t́nh yêu phổ quát, lấy từng con người làm đối tượng, lấy Thiên Chúa Ba
Ngôi làm kiểu mẫu. Chúng ta cứ nghe lời thánh Simon Phan Đắc Ḥa nói với các
con: “Cha yêu thương và hằng săn sóc các con, nhưng cha phải yêu Chúa
nhiều hơn nữa”.
3.- Không
làm tay sai cho ngoại quốc
Nếu tính từ
1615 là năm mà Sử VN ghi lại rằng giáo sĩ đầu tiên đă tới đất Ninh Cường (=
Bùi Chu) cho đến đầu thế kỷ XIX, th́ đạo công giáo đă có tới 300 năm lịch sử.
Thế mà măi đến hậu bán thế kỷ XIX, đất nước mới bị người Pháp chiếm. Theo
những biên bản c̣n lưu lại, các vị tử đạo nhất mực chối tất cả những bỏ vạ
cáo gian về phương diện chính triï. Như thánh Phaolô Khoan: “Chúng tôi
không phạm tội ác, không chống lệnh vua, không lỗi luật nước. Chúng tôi
chết chỉ v́ là Kitô hữu”. Trong số những nguyên nhân đưa đến mất nước,
ông Trần Trọng Kim kể ra ḷng tàn bạo của giới cầm quyền thời ấy, bất chấp
chữ nhân của cha ông, cũng như sự thiển cận của họ (chẳng hạn Tổng
đốc Trịnh Quang Khanh đă coi nước Pháp không bằng tỉnh Nam Định của ông!).
Không ai quên rằng người dâng sớ lên nhà vua để xin cải cách quốc gia là ông
Nguyễn Trường Tộ, một người công giáo. Các ngài chết chỉ v́ một lư tưởng:
“Ai khôn mới biết hiến ḿnh cho chân lư, để chiếm hữu phần gia
nghiệp muôn đời” (thánh Phêrô Truật).
B.- Biết chết một cách sáng suốt, như một chọn lựa tự do
Các ngài
không tự ḿnh đi t́m cái chết, v́ đó là tự tử: “Chúng tôi không được tự
vẫn v́ đó là trọng tội. Nhưng nếu v́ đạo mà quan truyền giết tôi, th́
tôi vui mừng khôn kể xiết” (thánh Inhaxiô Y).Theo lời dạy của Thầy chí
thánh, các môn đệ Người không tự phụ, coi rẻ sự sống. Các ngài vẫn sợ chết;
các ngài vẫn muốn sống như ai. Thánh Vinhsơn Liêm đă tuyên bố: “Nếu vua
quan tha cho, th́ chúng tôi thành thực cám ơn.” Nhưng các ngài muốn
sống là để phụng sự Thiên Chúa, để tiếp tục giữ đạo, chứ không phải trong
thân phận phản bội niềm tin: “Tôi đă suy xét kỹ, và tin nhận đạo
Thiên Chúa là đạo thật, nên tôi không chối bỏ bao giờ” (Thánh Micaen Mỹ).
Nếu trốn
tránh mà vẫn bị bắt, các ngài b́nh thản đi theo lư h́nh, đến trước mặt quan
quyền. Ở đây các ngài đă nói lên chọn lựa ư thức và tự do: “Thân xác tôi
ở trong tay quan, quan muốn làm khổ thế nào tùy ư. Nhưng linh hồn tôi
là của Chúa, không có ǵ khiến tôi hy sinh nó được” (thánh Phaolô
Tịnh). Khi nghe thánh Giaxintô Castaneda bị xử v́ là người ngoại quốc, c̣n
ḿnh được tha về, thánh Vinhsơn Liêm đă nài xin cho được theo chân bạn, để
cũng lấy máu đào tưới vườn nho Giáo Hội VN.
C.- Biết chết với một quả tim vững niềm tin cậy và yêu thương
Các ngài đă
chấp nhận chết, không phải v́ các ngài cuồng tín, cũng không phải v́ các
ngài đầy ơn Chúa như một chất thuốc mê hay thuốc tê làm cho các ngài không
c̣n cảm thấy đau đớn ǵ ! Các ngài đă can đảm chết v́ tin vào Chúa: “Vinh
danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa là Chúa Cả trời đất. Chúng con
xin dâng mạng sống cho Ngài” (thánh Phaolô Khoan). Các ngài tin vào
Thiên Chúa là Đấng toàn năng đă tạo dựng nên ḿnh, th́ cũng có thể tái tạo
ḿnh.
Các ngài dám
chết, v́ cậy trông vào Chúa: “Đức Kitô không chỉ nh́n tôi chiến đấu, mà
chính Người đang chiến đấu và chiến thắng” (thánh Phaolô Tịnh). Các
ngài tin Thiên Chúa có toàn quyền trên ḿnh mà lại yêu thương ḿnh, th́ ḿnh
hoàn toàn có thể cậy dựa nơi Người.
Các ngài sẵn
sàng chết trong t́nh yêu và v́ t́nh yêu: “Cha yêu thương và hằng săn sóc
các con, nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn nữa. Chúa đă muốn cha chịu khổ
h́nh, cha xin vâng ư Người cho trọn” (thánh Simon Ḥa). Các ngài
nhận thức rằng Thiên Chúa đă yêu thương ḿnh đến nỗi ban tặng chính Con Một
của Người, không tiếc ǵ với ḿnh, th́ giờ đây các ngài dùng cái chết như
một lời bày tỏ ḷng cảm mến ân t́nh bao la đó.
Lạy các
thánh Tử Đạo Việt Nam,
các ngài đă
dám sống đến cùng ơn gọi Kitô hữu
trong một
hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm.
Sự hy sinh của các ngài
cho thấy t́nh yêu mạnh hơn sự chết
và chết là cửa mở vào cơi sống bất diệt.
Dù mang phận người yếu đuối,
nhưng nhờ ơn Chúa đỡ nâng,
các ngài đă chiến thắng khải hoàn.
Xin cầu cho chung con là con cháu các ngài
biết can trường sống đức tin của bậc cha anh
trong một thế giới vắng bóng Thiên Chúa,
biết
nhiệt thành làm chứng về t́nh yêu
bằng một
đời hiến thân phục vụ.
Ước ǵ
ngọn lửa đức tin
mà các
ngài đă thắp lên
bằng cuộc
sống và cái chết,
được bừng tỏa trên Tổ quốc Việt Nam.
Ước ǵ máu thắm của các ngài
thấm vào mảnh đất quê hương
để công cuộc truyền giáo sinh nhiều hoa trái.
FX Long, ofm, tổng hợp
