
Cỏ Lùng
Trong Ruộng
Các Kitô ngụy tạo
(tiếp)
Trong các giáo
phái (sects) từ trước đến nay, điển h́nh nhất, ghê gớm nhất, trắng trợn nhất
và kinh hoàng nhất, phải kể đến Đạo Satan (Satanism). Ông tổ
của đạo này là Aleister Crowley (1875-1947) người Anh quốc, kẻ xưng ḿnh là
một “con mănh thú” trong Sách Khải Huyền, với chủ trương “tất cả
lề luật là ở tại làm điều ḿnh muốn”, và đệ nhất tông đồ của đạo này là
Anton LaVey bên Hoa Kỳ, nhân vật đă thành lập “giáo hội Satan” và
viết cuốn “kinh thánh Satan” với những tuyên ngôn như: “Satan tiêu
biểu cho thỏa măn chứ không phải cho cầm hăm (1); Satan tiêu biểu cho hiện
sinh chứ không phải cho mơ mộng siêu linh hăo huyền (2); Satan tiêu biểu cho
báo oán hận thù chứ không phải cho việc ch́a cả má kia (5); Satan tiêu biểu
cho tất cả những ǵ là tội lỗi làm thỏa măn về thể chất, tâm thần hay cảm
xúc (8)”, và chủ trương: “Tiếp tục cuộc phản loạn ma quái chống lại
Thiên Chúa và bất cứ những ǵ là thần linh (1); Trong tất cả những ǵ Satan
đă chọn lựa để loại trừ th́ trên hết phải loại trừ mọi ảnh hưởng của Thiên
Chúa hiện diện nơi bất cứ một nơi chốn hay một khía cạnh nào (4)”.
Và trong các
trào lưu tân giáo (new religious movements) từ trước đến nay, khó thấy nhất,
nguy hiểm nhất và ảnh hưởng nhất phải kể đến Phong Trào Thời Mới (New
Age Movement), một phong trào tràn lan từ thập niên 1960 cùng thời
với Công Đồng Vaticanô II, một phong trào tân giáo có thể nói đă được phát
động bởi Alice Anne Bailey (1880-1949), một chuyên viên thần tri
(theosophist) và mật tri (occultist). New Age Movement là một thứ rượu mới (Tây
phương) được đựng trong b́nh cũ (Đông phương), ở chỗ, phong trào này có
khuynh hướng triết lư theo khoa tâm lư nhân bản hiện đại lại hoàn toàn ḥa
hợp với niềm tin của Aán Giáo và Phật Giáo cổ kính. New Age Movement chủ
trương đồng nhất tính (monism): tất cả mọi sự hiện hữu kể cả Thiên
Chúa đều là một và như nhau; phiếm thần (pantheism): v́ tất cả mọi sự
hiện hữu đều là một và như nhau nên mọi sự hiện hữu đều là thần linh, đều là
Thiên Chúa, đều có thần tính, nên không cái này hơn kém cái kia; đồng điệu
tính (syncretism): đạo nào cũng là đạo, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở
lành, nên theo đạo nào cũng được rỗi, đường nào cũng dẫn đến Rôma; ngộ thức
(gnosticism): con người được giải thoát và biến đổi là nhờ ở kiến
thức giác ngộ của ḿnh, một kiến thức chỉ dành cho một số ít người.
Tuy nhiên, giáo phái nào th́
giáo phái, trào lưu tân giáo nào th́ trào lưu, dù họ có làm được phép lạ,
như Chúa Giêsu báo trước trong Phúc Âm Thánh Mathêu, đoạn 24 câu 24: “Các
ngụy kitô và tiên tri giả sẽ xuất hiện, làm nhiều dấu lạ và sự lạ cả thể đến
nỗi lừa được cả thành phần được chọn”, th́ cũng theo lời Chúa Giêsu kêu
gọi: “đừng tin” (Mt.24:26). Thế nhưng, làm thế nào để có thể “coi chừng,
đừng để ai lừa được” (Mt.24:4) như lời Chúa Giêsu cảnh giác, nếu không phân
biệt được đâu là thật đâu là giả, tức làm sao để có thể điểm mặt “các ngụy
kitô”, làm sao nhận ra chân tướng của “các tiên tri giả”. Trong cuốn “Thời
Điểm Maria: Hiệp Sĩ Trái Tim Mẹ” (Cao-Bùi, 1998, trang 118-119), người
viết đă chia sẻ như sau:
Nếu “tinh
thần nào công nhận Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt là tinh thần thuộc về
Thiên Chúa, c̣n tinh thần nào không nhận biết Người (đến trong xác thịt) là
tinh thần không thuộc về Thiên Chúa. Tinh thần như thế là tinh thần phản
kitô” (1Jn.4:1-2), th́ thực tế cho thấy, và càng ngày càng cho thấy, “tinh
thần phản kitô” ở chỗ không chấp nhận “Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt”
được tỏ hiện rơ ràng qua bốn dấu hiệu sau đây:
Dấu hiệu
thứ nhất của “tinh thần phản kitô” là việc không tin tưởng, khinh thường hay
xúc phạm đến “Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt” đang hiện diện thực sự
trong Bí Tích Thánh Thể, bằng chính Ḿnh Thánh và Máu Thánh của Người.
Dấu hiệu
thứ hai của “tinh thần phản kitô” là việc không tin tưởng, bất tuân phục hay
chống đối “Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt” nơi quyền bính Giáo Hoàng,
một con người bằng xương bắng thịt kế vị Thánh Phêrô, để đại diện Chúa Kitô
chăn dắt đoàn chiên của Người trên thế gian.
Dấu hiệu
thứ ba của “tinh thần phản kitô” là việc không tin tưởng, khinh thường và
bất kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa Vô Nhiễm Nguyên Tội Trọn Đời Trinh Nguyên,
người nữ đă thụ thai và hạ sinh “Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt”.
Dấu hiệu
thứ bốn của “tinh thần phản kitô” là việc khinh bỉ (như kỳ thị), giầy đạp (như
ly dị) hay hủy hoại (như phá thai) tất cả những ǵ thấp hèn (như nghèo khổ),
yếu kém (như thai nhi) hay bất hạnh (như tật nguyền) là thân phận sống đă
được “Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt” mặc lấy (x.Phil.2:7-8; 2Cor.8:9)
để có thể đồng hóa ḿnh với “các người anh em bé mọn nhất của (Người)”
(Mt.25:40,45) và cũng để nhờ đó “cứu lấy những ǵ trầm hư” (Lk.19:10).
Tuy nhiên,
kinh nghiệm cho thấy, dù có đủ các dấu hiệu thứ nhất, thứ ba hay thứ bốn
trên đây, nếu thiếu dấu hiệu cốt yếu thứ hai là ḷng tuân phục Huấn Quyền và
sùng kính Đức Thánh Cha th́ cũng “hăy coi chừng, đừng để ḿnh bị lừa đảo”
(Mt.24:4).
Trước hết, đối
với dấu hiệu thứ nhất, không thể nào một người tôn sùng Chúa Giêsu Thánh Thể
mà lại không hiệp nhất với Giáo Hội, mà lại công khai chỉ trích hay đả phá
Giáo Quyền và Đức Thánh Cha, như Lá Thư Hoa Kỳ số 14 (20-8-1992) và
23 (1-6-1993) của một giáo dân Việt Nam ở San Dimas Nam California, hay như
Tiếng Loa Cảnh Báo 1 (11/98) và 2 (12/98) của một giáo dân Việt Nam
khác ở San Jose Bắc California, cả hai phổ biến đều có nội dung hay những
mục chống lại Thánh Lễ canh tân theo Công Đồng Chung Vaticanô II.
Thứ đến, đối
với dấu hiệu thứ ba, không thể nào tôn sùng Mẹ Maria mà lại mất ḷng tin
tưởng Huấn Quyền và Vị Đại Diện Con Mẹ, như trường hợp chính người viết đă
gặp trong một lần được mời đến tham dự buổi đọc kinh ngày Chúa Nhật với một
nhóm hơn 10 người, tại nhà một người giáo dân ở giáo phận Orange Nam
California. Sau cả tiếng đồng hồ mới đọc xong một chuỗi 50 Kinh Mân Côi rất
sốt sắng, với những bài hát xen kẽ, kèm theo cử chỉ giang tay và phục ḿnh
xuống đất, th́ có một bà già (chứ không phải trẻ), trong lúc chia sẻ sống
đạo đă phát biểu thế này: “Giáo Hội nói ǵ th́ nói cũng tùy cái mà tin”.
Sau nữa, đối
với dấu hiệu thứ bốn, không thể nào bênh vực luật tự nhiên, bênh vực sự sống
con người mà lại chống đối Huấn Quyền và Đức Giáo Hoàng về cùng một vấn đề,
như trường hợp của tờ A Voice Crying in the Wilderness số 1 (mà người
viết nhận được biếu không vào giữa năm 1998), phát xuất từ Most Holy Family
Monastery ở New York miền Đông Bắc Hoa Kỳ, cho rằng Công Đồng Chung Vaticanô
II, trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, cũng như Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II, trong Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống, đă gây ra việc ngừa thai
qúa mức, v́ cả Công Đồng lẫn Đức Thánh Cha đă cổ động việc ngừa thai nhân
tạo: “Vatican II and John Paul II have promoted NFP (Natural Family
Planning)”
Sau hết, đối
với dấu hiệu thứ hai, không thể nào tỏ ra bênh vực Giáo Hội mà lại quay ra
đả pháchính Giáo Hội cũng như Đấng Đại Diện Chúa Kitô chăn dắt Giáo Hội Chúa
trên trần gian, bằng những công khai tuyên bố “Giáo Hoàng Mất Đức Tin”,
trong đó có “Giáo Hoàng Phaolô VI” và “Giáo Hoàng Gioan Phaolô II”,
như cuốn Trước Cơn Giông Tố (1995) của chính người giáo dân Công Giáo
Việt Nam phổ biến tờ nguyệt san Tiếng Loa Cảnh Báo trên đây, hay như bản kết
án “101 lạc thuyết của Giáo Hoàng Giả Gioan Phaolô II”, cũng của vị
tu sĩ tác giả chủ trương tờ A Voice Crying in the Wilderness trên đây.
(c̣n tiếp)
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh,
BVL
