
Những Kiến
Trúc Sư
xây dựng
Nền Văn Hóa Sự Chết
(tiếp)
Vấn: Theo
ông, trong 23 “kiến trúc sư xây dựng nền văn hóa sự chết” được bàn đến đă
tác hại nhiều nhất cho xă hội?
Đáp: Về
thiệt hại chết chóc và tác hại đến đời sống của con người trên khắp thế giới
th́ dẫn đầu và chịu trách nhiệm hơn hết là Karl Marx.
Arthur Schopenhauer là
một kiến trúc sư quan trọng v́ ông là người đầu tiên coi ư muốn của con
người, một ư muốn gian ác và phi lư trí, như yếu tố nồng cốt của thực tại.
Ông đă ảnh hưởng rất nhiều trên Friedrich Nietzsche là người đă đặt ư muốn
vào cái tôi, và Sigmund Freud đă đặt nó vào “id”. Ayn Rand cũng chịu ảnh
hưởng bởi quan niệm về ư muốn nền tảng ấy.
Sartre đă gây được một
ảnh hưởng rất nhiều về việc tuyệt đối hóa tự do của con người là những ǵ
cuối cùng dẫn đến thứ triết lư chỉ biết đến “quyền tự quyết”.
Vấn: Làm
thế nào Karl Marx đă có thể khai thác được những tác lực về tôn giáo nơi các
đồ đệ của ḿnh, và làm sao ông ta có thể đă bóp méo được giáo điều của Kitô
giáo theo những mục đích phản Kitô giáo của ḿnh?
Đáp: Khi
Marx loại bỏ tôn giáo bằng những câu đáng ghi nhớ như “thuốc phiện làm mê
hoặc dân chúng”, “hào quang tỏa hoạn nạn” và “tiếng thở dài của tạo vật bị
áp đảo, con tim của một thế giới vô tâm”, th́ ông ta không phê phán việc
hành đạo chân chính mà là cái vỏ tôn giáo. Theo Jacques Maritain phân biệt,
Marx phản ứng lại với “thế giới Kitô giáo”, chứ không phải với “Kitô giáo”.
Nói như thế có nghĩa
là ông hiểu lầm bức hí họa phác tả cái nguyên mẫu của nó, là nhạo cười châm
biếm những ǵ là mô mẫu. Nếu hiểu rộng cho Marx th́ như ông ta nói rằng
“Thật là hết sức bất hạnh khi con người đôi khi lạm dụng tôn giáo bằng cách
sử dụng tôn giáo như là một liều thuốc làm cùn nhụt đi những cảm thức về
luân lư và lư trí của họ”.
Nếu thế th́ ông đă suy
nghĩ và hiểu được cái khác nhau giữa những thứ hành đạo gian tà và chân thực.
Song ông đă loại trừ tất cả mọi tôn giáo v́ ông phán đoán cái chính thống
bằng cái giả tạo bất chính thống. Bởi thế ông đă làm mọi sự có thể để ngăn
ngừa t́nh trạng phát triển của tôn giáo chân chính.
Marx tuyên bố rằng
“thật là dễ dàng để làm một thánh nhân nếu bạn không muốn làm người”. Ông
thấy tôn giáo chẳng là ǵ khác hơn một thứ ánh sáng tiêu cực. Tôn giáo chỉ
có một chút giá trị đối với bố mẹ của ông. Bố của ông, để thành đạt trong
nghề làm luật sư, đă trao đổi Do Thái giáo lấy Tin Lành. Cha sao con vậy.
Gia đ́nh ông đă sống như những tín hữu Tin Lành cấp tiến, chẳng có một niềm
tin tôn giáo căn bản nào hết.
Không cần nói ai cũng
biết rằng chẳng có một ai lại xứng hợp làm thánh mà lại không hoàn toàn làm
người đă. Marx đă sử dụng ư hệ sai lầm của ḿnh như một thứ đo lường tôn
giáo. Kitô giáo, tự bản chất, đă bác bỏ nỗ lực nên thánh mà trước hết không
làm người. Kitô giáo gán cho việc thực hành như thế là thứ “Pharisiêu giả
h́nh”.
Marx đă vội vàng hấp
tấp trong việc làm biến đổi thế giới mà ít quan tâm đến một số điểm thiết
yếu hơn nơi ư nghĩ luận b́nh của ḿnh: “Các triết gia chỉ giải thích về thế
giới qua những cách thức khác nhau; nhưng vần đề vẫn là làm đổi thay thế
giới”.
Vấn: Ông
ghi nhận là Đức Gioan Phaolô II diễn tả Marx, Nietzsche và Freud như là
“những tổ sư của sự ngờ vực”. Ngài nói như thế có nghĩa ǵ và tại sao ngài
lại nhắm tới những con người đặc biệt đó thôi?
Đáp: Trong
loạt bài “thần học về thân thể” của ḿnh, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề
cập đến “các tổ sư của sự ngờ vực”, một diễn từ ngài mượn từ Paul Ricoeur là
người áp dụng diễn từ ấy cho Sigmund Freud, Karl Marx và Friedrich
Nietzsche.
Đối với ĐTC này th́
các thứ triết lư của bộ ba này tiêu biểu cho những ǵ được Thánh Kư Gioan
diễn tả trong Bức Thư thứ nhất của thánh nhân ở đoạn 2 câu 15 và 16 liên
quan đến “ham muốn về xác thịt”, “ham muốn của con mắt” và “vinh vang của
đời sống”.
Freud muốn giải thoát
bản năng t́nh dục khỏi những giam hăm của “cái siêu ngă”; Marx khuyến khích
các phần tử thuộc giai cấp vô sản nổi loạn để họ có thể thỏa măn những ước
muốn chiếm hữu về vật chất; và Nietzsche truyền bá một thứ thần tôi quá sức
mănh liệt không thể bị luân lư kiềm chế.
Nhục dục, tham lam và
cao ngạo được ba nhân vật cách mạng vô thần này hồ hởi đă không mang đến cho
con người tầm vóc viên măn bản thân. Trái lại, chúng đă dẫn đến một t́nh
trạng phân hóa nhân cách con người. Những hoa trái của nhục dục, tham lam và
cao ngạo là những ǵ tương ứng với tâm trạng cô đơn buồn tủi, bất măn thiêng
liêng và khốn khổ đê hèn.
Đức Gioan Phaolô II
giải thích rằng “những tay tổ của sự ngờ vực” là cụm từ diễn tả chính xác
nhất, v́ cụm từ này muốn nói rằng một con tim tự nhiên tỏ ḿnh ra nơi h́nh
thức nhục dục, tham lam hay cao ngạo là một con tim không thể nào tin tưởng
được. Con tim của con người, như được Freud, Marx và Nietzche diễn tả, là
con tim nổ tung ḿnh ra, do đó, nó trở thành một đối tượng cho mối ngờ vực
sâu xa. Một con tim kỳ dị với chính ḿnh như thế mà nó không thể nào có thể
tin tưởng nổi.
Yếu tố tối yếu đă bị
thiếu hụt nơi tư tưởng của ba tư tưởng gia vô thần này là mối liên hệ với
Chúa Cha. Như Thánh Gioan viết “Nếu ai yêu mến thế gian th́ t́nh yêu của
Chúa Cha không ở trong họ; v́ tất cả mọi sự ở trong thế gian này là ham mê
xác thịt, ham mê của con mắt và cái vinh vang của đời sống; những ǵ không
phải từ Chúa Cha mà là từ thế gian”.
H́nh ảnh trong tâm trí
của nhà thơ William Butler Yeats được diễn tả trong cuốn “Lần Đến Thứ Hai”
đó là “Chim ưng không nghe tiếng người luyện chim cắt … t́nh trạng hỗn loạn
lan tràn khắp thế giới”. Con người trong thế giới tân tiến, theo gương “các
tay tổ sư của sự ngờ vực”, đă trở nên quá xa lạ Thiên Chúa đến nỗi họ không
c̣n nghe thấy sứ điệp nhất thống của Chúa Cha nữa. Không có Chúa Cha th́ chỉ
có hỗn loạn mà thôi.
Freud, Marx và
Nietzche, những con người gây ảnh hưởng rất nhiều trên thế giới tân tiến,
đặc biệt cương quyết chối bỏ khía cạnh vai tṛ Thân Phụ của Thiên Chúa. Tất
cả 3 người họ đều tin tưởng và dạy rằng điều kiện để con người được tự do đó
là Vị Thiên Chúa là Cha phải chết đi.
Đối với Freud, có lẽ
yếu tố căn bản nhất trong phương pháp phân tâm học của ông ta đó là chứng
loạn thần kinh chức năng xẩy ra khi có quá nhiều những điều nghiêm khắc của
cái siêu ngă. Bởi thế ông t́m cách giải thoát con người khỏi Lề Luật và tối
hậu là khỏi Đấng Ban Lề Luật làm nên siêu ngă. Freud thấy ḿnh như là một
tân Moisen, hay là một phản Moisen, nhắm mục đích hủy bỏ vai tṛ Thân Phụ
của Thiên Chúa là vai tṛ chiị trách nhiệm về việc áp đặt dồn nén tâm lư con
người.
Marx là người công
khai xưng ḿnh là kẻ thù của bất cứ những ǵ là thần linh. Ông đă tuyên bố
“tôi ghét tất cả mọi thứ thần linh”. Tâm tính của thần Prometheus (biệt chú
của người dịch: Prometheus là con trai của Tiran Iapetus và là anh em với
Atlas, đă ăn cắp lửa của các vị thần linh để ban cho nhân loại. Zenus đă
trừng phạt Prometheus bằng cách xích trói Prometheus vào một tảng đá và sai
một con đại bàng ban ngày đến ăn gan của Prometheus nhưng ban đêm gan của
Prometheus được hồi phục. Dần dần Prometheus được Heracles giải cứu) làm cho
ông phản lại những ǵ ông tin tưởng là một vị thần linh hư cấu, vị thần linh
thoạt tiên thôi miên rồi áp đảo các thứ khối lượng. Ông thấy cái khúm núm
quị lụy trước h́nh ảnh Chúa Cha như là một thứ sát hại cái bản ngă của con
người. Đối với ông th́ không có một hy sinh nào là quá đắt đỏ trong việc hạ
bệ thần linh v́ lợi ích của việc giải phóng con người. Ông hănh diện chủ
trương rằng: “Tôi thà bị cột vào một tảng đá c̣n hơn là tên đầy tớ dễ bảo
của Zeus Cha”.
Nietzsche đă viết bản
văn đều tiên về luân thường đạo lư khi ông mới lên 13 tuổi. Trong bài văn
này, ông đă nghĩ rằng ông giải quyết được vấn đề sự dữ. Ông viết “việc tôi
giải quyết vấn đề này đó là tôn vinh Thiên Chúa như là Đấng công chính duy
nhất và làm cho ngài trở thành cha đẻ của sự dữ”. Nietzche đặt vấn đề “tại
sao ngày nay lại có vô thần?”. “Người cha nơi Thiên Chúa đă hoàn toàn bị bác
bỏ mất rồi”. Ông khuyên răn rằng: “Bằng ân sủng các bạn hăy yêu bản thân
ḿnh; rồi các bạn không c̣n cần ǵ tới Thiên Chúa của các bạn nữa, và các
bạn có thể tự ḿnh tŕnh diễn toàn bộ thảm kịch Sa Ngă và Cứu Chuộc cho đến
màn kết thúc”.
(c̣n tiếp)
Đaminh Maria Cao
Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ Zenit ngày 11-12,14/11/2004
