Kitô Giáo: Nhân Bản Trọn Lành!
Đaminh Maria Cao
Tấn Tĩnh, BVL
(tiếp)
ếu thân phận
siêu việt của Đức Giêsu Kitô đă chứng thực Kitô giáo có tính cách thần linh
thế nào, th́ đời sống của Ngài làm nên tinh thần và giáo thuyết Kitô Giáo
cũng chứng thực tính cách nhân bản trọn lành của Kitô giáo như vậy.
Đúng thế, để
người Do Thái có thể dễ nhận ra ḿnh hơn, Chúa Giêsu c̣n chứng minh về nguồn
gốc và thân phận thần linh của ḿnh, chẳng những bằng việc căn cứ vào Sách
Thánh của dân Do Thái, mà nhất là c̣n nại đến chính các việc Ngài làm, như
Phúc Aâm Gioan ghi nhận ở đoạn 10, câu 37 và 38: “Nếu Tôi không thi hành
những việc của Cha Tôi th́ qúi vị đứng có tin Tôi. Nhưng nếu Tôi quả thực
làm những việc của Người, cho dù qúi vị không tin vào Tôi đi nữa, th́ cũng
hăy tin nơi những việc này, để nhận ra rằng Cha ở trong Tôi và Tôi ở trong
Người”. Đúng thế, Cha ở trong Ngài và Ngài ở trong Cha là v́ Ngài làm
theo ư Cha Ngài, như Phúc Aâm Gioan ghi lại ở đoạn 6, câu 38, lời Ngài tuyên
bố với người Do Thái: “Tôi từ trời xuống không phải để làm theo ư Tôi mà
là ư của Đấng đă sai Tôi”.
Nếu Chúa Giêsu chỉ làm theo ư Cha ḿnh như thế, th́ tất cả mọi việc Ngài làm
đều là những việc của Thiên Chúa, đồng thời cũng là những việc tỏ Thiên Chúa
ra. Mà những việc của Thiên Chúa và tỏ Thiên Chúa ra đây là ǵ, nếu không
phải là những việc “Người muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân
lư”, như vị Tông Đồ Dân Ngoại đă xác tín trong thư thứ nhất viết gửi cho
môn đệ Timôthêu của ḿnh, ở đoạn 2, câu 4, hoàn toàn ứng hợp với dự án Người
đă tỏ cho Abraham là tổ phụ dân Do Thái biết, như đă được trưng dẫn trước
đây.
V́ Thiên Chúa “muốn mọi người được cứu rỗi” như thế mà những việc Người làm
đều là những việc yêu thương, những việc tỏ ra Người “là Cha trọn lành trên
trời”, như Chúa Giêsu đă truyền dạy các môn đệ Ngài phải nên giống như Người,
ở đoạn 4, câu 48, Phúc Aâm Mathêu. Chính việc hiện diện của Đức Giêsu Kitô
trên thế gian này là việc chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương, như tông đồ Gioan
nhận định trong thư thứ nhất, đoạn 4, câu 9: “T́nh yêu của Thiên Chúa đă
tỏ ra giữa chúng ta là ở chỗ Người đă sai Con duy nhất của Ngài đến thế gian,
để chúng ta nhờ Ngài được sự sống”. Nhất là việc tử giá của Đức Giêsu
Kitô lại càng chứng tỏ bản tính toàn hảo của Thiên Chúa, như vị Tông Đồ Dân
Ngoại xác tín trong thư gửi giáo đoàn Rôma, đoạn 5, câu 8: “Thiên Chúa đă
chứng tỏ t́nh Người yêu chúng ta ở chỗ đang khi chúng ta c̣n là những tội
nhân th́ Đức Kitô đă chết cho chúng ta”, hay nói cách khác, Thiên Chúa “đă
không tiếc Con riêng của ḿnh, song đă trao nộp Ngài v́ tất cả chúng ta”
(cùng bức thư, đoạn 8, câu 32).
Là hiện thân sống động của “Thiên Chúa là tinh yêu”, một định nghĩa vô cùng
tuyệt hảo và chính xác như người môn đệ Gioan được Chúa Giêsu yêu cảm nhận
và diễn tả trong thư thứ nhất của ḿnh ở đoạn 4, câu 8 hay câu 16, như thế,
Chúa Giêsu đă là gương mẫu yêu thương trọn lành cho con người, qua việc Ngài
hạ ḿnh phục vụ và hy sinh tự hiến để cứu độ con người, theo lời Ngài tuyên
nhận với các môn đệ, như được ghi nhận trong Phúc Aâm Mathêu, đoạn 20, câu
28: “Con Người đến không phải để được phục vụ, song để phục vụ, để hiến
mạng sống ḿnh làm giá chuộc cho nhiều người”.
Quả thế, theo đạo lư thâm sâu nhất của các tôn giáo lớn trên thế giới, hay
theo triết lư Hy Lạp một thời được coi là khôn ngoan nhất loài người, tất cả
đều không hề nói đến việc phục vụ, nhất là việc “ai muốn làm đầu phải đặt
ḿnh ở dưới hết mọi người và làm tôi tớ cho mọi người”, như lời Chúa
Giêsu dạy các môn đệ của ḿnh, được ghi nhận ở đoạn 9, câu 35, Phúc Aâm
Marcô. Trái lại, cả hai nền đạo lư và triết lư trước Chúa Kitô giáng sinh cả
500 năm đều chủ trương và tỏ ra, không minh nhiên th́ mặc nhiên, coi thường
tất cả những ǵ là yếu đuối, như phụ nữ, ghê tởm những ǵ là hèn hạ, như vật
chất mà hiện thân của nó là xác thịt, hủy hoại những ǵ là phản tự nhiên,
như đau khổ.
Thế mà, vị giáo tổ Kitô giáo lại tỏ ra “pro” những ǵ là yếu đuối, là hèn hạ
và là phản tự nhiên này, đúng như lời Ngài minh định về dự án cứu độ của
Thiên Chúa, Đấng đă sai Ngài, được Phúc Aâm Gioan ghi lại ở đoạn 3, câu 17:
“Thiên Chúa không sai Con đến thế gian để luận phạt thế gian, song để thế
gian nhờ Ngài mà được cứu”, cũng như lời Ngài minh xác mục tiêu vào trần
gian của Ngài hợp với dự định cứu độ của Thiên Chúa, được Phúc Aâm Luca ghi
lại ở đoạn 5, câu 32: “Tôi đến không phải để mời gọi người công chính cải
hối, mà là tội nhân”. Chính việơc Ngài “đă hóa thành nhục thể”, như Phúc
Aâm Gioan, đoạn 1, câu 14, xác nhận, cũng đủ chứng tỏ Ngài “pro” những ǵ là
hèn hạ trước mắt thế gian. Rồi việc Ngài “sinh bởi người nữ”, như vị Tông Đồ
Dân Ngoại Phaolô đề cập đến trong thư gửi giáo đoàn Galata, đoạn 4, câu 4,
cũng cho thấy Ngài tôn trọng những ǵ là yếu đuối trước mặt thế gian. Và
việc Ngài “vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá”, như Tông Đồ Phaolô
nhận định trong thư gửi giáo đoàn Philiphê, đoạn 2, câu 8, cũng nói lên việc
Ngài muốn “chế ngự sự dữ bằng sự lành”, một tinh thần được vị Tông Đồ này
truyền lại cho giáo hữu Rôma trong đoạn thư 12, câu 21.
Kết quả là việc Ngài sống lại từ trong kẻ chết, tức việc, như Tông Đồ Phaolô
nhận định trong thư gửi giáo đoàn Rôma, đoạn 6, câu 9: “Ngài không c̣n
chết nữa, sự chết không c̣n làm ǵ Ngài được nữa”, Ngài đă toàn thắng
sự dữ, dưới h́nh thức luân lư như tội lỗi, hay dưới h́nh thức tự nhiên như
sự chết. Nghĩa là, nơi thân xác phục sinh của ḿnh, Ngài đă hoàn toàn biến
đổi thân xác vốn thấp hèn, yếu đuối và băng hoại của con người thành cao cả,
quyền năng và bất tử. Và nơi nhân tính vinh hiển của ḿnh, một nhân tính
được làm nên bởi hồn thiêng với xác thể không c̣n bị sự chết chia ĺa nữa,
Ngài đă ban cho nhân tính con người một t́nh trạng hiệp nhất vĩnh cửu, một
t́nh trạng mà con người không thể nào có được, v́ họ bị chi phối bởi lề luật
tội lỗi là những ǵ, đă là người, ai cũng cảm thấy một xung khắc không thể
chối căi nơi bản thân ḿnh, giữa phần thượng với phần hạ, giữa bản thân với
tha nhân, cũng như giữa con người với thiên nhiên, mà cuối cùng là con người
không thể thoát được bàn tay phũ phàng của quyền lực sự chết khi họ trở về
với bụi đất.
V́ Đức Giêsu Kitô phục sinh có sức tái tạo toàn thể con người cũng như thiên
nhiên nơi nhân tính hiển vinh bất tử của Ngài như thế, tức là việc phục sinh
của Đức Giêsu Kitô có một tác dụng tái tạo lại trật tự hoàn hảo nơi tạo vật,
mà trước khi về trời hiển trị cho tới thời gian tận cùng của tạo vật trên
thế gian này, Ngài đă sai truyền các môn đệ của Ngài, như được ghi lại trong
Phúc Aâm Marcô, đoạn 16, câu 15: “Các con hăy đi khắp thế gian, loan báo
Tin Mừng cho tất cả mọi tạo vật”. Thế là từ đó, một kỷ nguyên mới cho
riêng thế giới loài người cũng như cho chung mọi tạo vật đă được thực sự
khai mở. Thế nhưng, thời điểm chính thức bắt đầu khai mở cho Tân Kỷ Nguyên
này phải kể từ Ngày Giáng Sinh của Đức Giêsu Kitô, ngày mà giữa một trời
đêm lạnh, (một biểu hiệu rơ ràng cho sự chết), các thần trời đă hoan ca:
“Vinh danh Chúa cả trên trời, b́nh an dưới thế cho người Chúa thương”,
một dữ kiện c̣n được ghi lại trong Phúc Aâm Luca, đoạn 2, câu 14.
Có một sự lạ là, kể từ sau Ngày Giáng Sinh của Đức Giêsu Kitô, không c̣n một
tôn giáo chuyên biệt nào xuất hiện nữa. (Hồi Giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ 7
sau Kitô Giáo, tự bản chất, không phải là một tôn giáo chuyên biệt, như Aán
Giáo hay Phật Giáo ở Aán Độ, hoặc như Khổng Giáo hay Lăo Giáo ở Trung Hoa,
v́ Hồi Giáo có dính dáng đến và pha trộn với Do Thái Giáo lẫn Kitô Giáo,
cũng có hai yếu tố chính làm tôn giáo độc thần là mạc khải thần linh và vai
tṛ tiên tri). Như thế, phải chăng Kitô giáo đă hoàn toàn đáp ứng được khát
mong cứu độ và hoài vọng trường sinh của loài người, và vị giáo chủ Kitô
Giáo chính là Đấng Cứu Tinh duy nhất của thế giới?
Đúng thế, lịch sử thế giới đă không cho thấy t́nh trạng loài người dần dần
được tái tạo hay sao, kể từ thời điểm được hiện lịch phân định BC với AD.,
tức từ Ngày Giáng Sinh của Đức Giêsu Kitô, nhất là từ Ngày Hạ Sinh của Nhiệm
Thể Người là Giáo Hội Kitô Giáo, nghĩa là từ ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện
Xuống, ngày Thần Linh Thiên Chúa được sai đến để canh tân bộ mặt trái đất,
qua thành phần môn đệ trung thực của Chúa Kitô, thành phần chứng nhân cho
Chúa Kitô bằng lời rao giảng cũng như bằng đời sống Tin Mừng Phục Sinh, Tin
Mừng Cứu Độ, Tin Mừng Yêu Thương, Tin Mừng An B́nh!
Phải, môn đệ của Chúa Kitô, theo tác động Thần Linh của Người để sống trọn
vẹn đức tin, đă và đang hoàn thành Lệnh Truyền Phục Sinh của Người cho đến
tận thế, như được ghi lại trong Phúc Aâm Mathêu, đoạn 28, từ câu 18 đến câu
20: “Thày đă được toàn quyền trên trời dưới đất; bởi thế, các con hăy đi
mà tuyển mộ các môn đồ ở khắp các dân nước. Các con hăy rửa tội cho họ nhân
danh Cha và Con và Thánh Thần. Các con hăy dạy họ thực hành mọi điều Thày đă
truyền cho các con. Và hăy biết rằng Thày luôn ở với các con cho đến tận thế”.
Thật vậy, tất cả Tin Mừng Phúc Aâm mà Giáo Hội Chúa Kitô loan báo và truyền
giảng cho thế giới từ trước tới nay, được bắt đầu từ và chính yếu ở, biến cố
và mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh, Đấng “được toàn quyền trên trời dưới
đất”, Đấng toàn thắng tội lỗi và sự chết. Bởi thế, Tin Mừng Phúc Aâm chính
là Tin Mừng Phục Sinh, Tin Mừng Giải Thoát, Tin Mừng Cứu Độ; và truyền giảng
Tin Mừng Phúc Aâm là Tin Mừng Phục Sinh này tức là loan báo cho riêng loài
người cũng như cho chung mọi tạo vật biết rằng tạo vật đă được Thiên Chúa
hoàn toàn giải phóng, hoàn toàn cứu độ nơi Chúa Giêsu Kitô phục sinh, khi
con người được tái sinh trong Bí Tích Rửa Tội “nhân danh Cha và Con và Thánh
Thần”, để thông phần vào Sự Sống Thần Linh của Chúa Ba Ngôi.
Và Sự Sống Thần Linh mà loài người, thành phần được Thiên Chúa nhập thể mặc
lấy nhân tính của ḿnh, đại diện cho mọi tạo vật, được thông phần và thừa
hưởng ngay trên thế gian này là ǵ, nếu không phải là Sự Sống của Chúa Giêsu
Kitô Phục Sinh cũng là Sự Sống Ba Ngôi, như đă được hùng hồn và hết sức tỏ
tường chứng thực nơi đời sống của các thánh nhân qua các thế kỷ Kitô giáo.
Nếu Sự Sống Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô không hoàn toàn làm chủ con người,
và Sự Sống Ba Ngôi Toàn Aùi không tràn đầy tâm trí, th́ con người đă không
thắng vượt được tội lỗi và sự chết nơi ḿnh, để có thể xả thân cứu vớt đồng
loại của ḿnh, như thánh Maximilianô Kolbe, vị đă bị thiêu ở Auschwitz ngày
15-8-1941, v́ tự nguyện chết thay cho một người gia trưởng, ông Francois
Gajawniczek, hoặc có thể phục vụ “người nghèo nhất trong các người nghèo” 50
năm trường ngay giữa ḷng Aán Giáo, như Mẹ Têrêsa Calcutta, một nhân vật đă
được cả thế giới ngưỡng mộ như một vị thánh sống thời đại.
Kết qủa là, không nhiều (như ở Aâu Châu) th́ ít (như ở Á Châu), mọi dân nước,
(chứ không nguyên ở riêng vùng nào), đều đă đón nhận Tin Mừng Phục Sinh,
cũng đủ nói lên chân lư được Phúc Aâm Gioan, đoạn 1, câu 9, xác tín, đó là:
“Ánh sáng đă đến trong thế gian, ánh sáng thật chiếu soi mọi người”.
Như thế không có nghĩa là giáo thuyết của các đạo giáo trước Kitô Giáo đều
là giả tạo, là sai quấy, nói cho đúng hơn, tự bản chất và xét theo mục tiêu
của ḿnh, các giáo thuyết này cũng mang tính cách soi sáng, một sáng soi
phản ánh một phần nào “ánh sáng thật” và báo trước “ánh sáng thật”,
một ánh sáng sẽ mọc lên như mặt trời của Ngày Cứu Chuộc, “Ngày Chúa đă dựng
nên” (lời họa của bài Đáp Ca Đại Lễ Phục Sinh). Nói cách khác, đạo lư của
các tôn giáo chính khác, trừ Do Thái Giáo, đều là những ǵ do tâm trí con
người nghĩ ra, theo khuynh hướng và nỗ lực t́m kiếm cùng đích tối hậu của
ḿnh là Thiên Chúa, một Thực Tại Thần Linh Toàn Chân Thiện Mỹ, Đấng sẽ tỏ
ḿnh ra, “vào thời gian sau hết” (Heb.1:2), hoàn toàn và trọn vẹn nhất, nơi
Đức Giêsu Kitô Cứu Thế.