ỗi lần
nghĩ đến Thánh Tâm Chúa Giêsu là tôi hết sức nghẹn ngào cảm động,
đến nỗi, đúng như một câu đáp ca Thánh Vịnh đă diễn tả: “Lưỡi tôi
dính vào cuống họng” (Ps 137:6). Bởi khi nghĩ
đến Thánh Tâm Chúa tôi thường
cảm nhận sâu xa những điều sau đây:
Thứ
nhất, Thiên Chúa không phải chỉ là một Thần Linh Toàn Năng mà c̣n là
một Người Cha Toàn Thiện nữa. Nếu trong thời Cựu Ước, Ngài đă tỏ ra
Ngài là một Vị Thiên Chúa Chân Thật Duy Nhất Toàn Năng thế nào th́
trong thời Tân Ước Ngài cũng đă tỏ ra Ngài là vị Thiên Chúa Ba Ngôi
Toàn Thiện như vậy. Ngài Toàn Thiện ở chỗ yêu thương con người. Ngài
yêu thương con người ở chỗ muốn cho họ được Hiệp Thông Thần Linh với
Ngài, được sống chính Sự Sống
Thần Linh vô cùng trọn hảo và viên măn của Ngài. Để con người được
Hiệp Thông Thần Linh với Ngài, Ngài chẳng những đă tỏ ḿnh ra cho họ
qua Lời Nhập Thể là Con Một của Ngài, mà c̣n, ngay trong chính khi
tỏ ḿnh ra cho họ nơi Con Người Giêsu Kitô Thiên Sai của ḿnh, Ngài
đă ban Thánh Thần của Ngài cho họ nữa, để đúng như lời Chúa Giêsu đă
mạc khải ở Lời Nguyện Hiến Tế kết Bữa Tiệc Ly “như Cha ở trong Con
và như Con ở trong Cha, để họ cũng được hiệp nhất trong Chúng Ta” (Jn
17:21-22). Mối Hiệp Thông Thần Linh này đă được hiện thực một cách
cụ thể ngay trên trần gian này nơi Bí Tích Thánh Thể, một Bảo Chứng
Hiệp Thông Vĩnh Hằng.
Thứ Hai,
Thiên Chúa Toàn Thiện chẳng những tỏ ḿnh ra cho chung con người qua
biến cố Lời Nhập Thể và Vượt Qua, cũng như ban Thánh Thần của Ngài
cho chung Giáo Hội qua biến cố Thánh Thần Hiện Xuống vào Ngày Lễ Ngũ
Tuần, mà c̣n tiếp tục tỏ ḿnh ra với mỗi một con người, trong đó có
tôi, như con chiên lạc thứ 100 của Ngài (x Lk 15:4), một ngôi vị con
người đă được Ngài biết trước khi tôi xuất hiện trong ḷng thai mẫu
(x Jer 1:5). Nghĩa là Ngài tiếp tục tỏ ḿnh ra và thông ḿnh ra cho
tôi, cho mỗi một người chúng ta, bằng cách làm cho chúng ta được
nhận biết Ngài hơn như Chúa Kitô nhận biết Ngài, cũng như được hiệp
thông với Ngài hơn bằng Thánh Thần của Ngài. Đó là lư do tôi cảm
thấy vô cùng xúc động và thấm thía khi đọc đến những lời mạc khải tư
sau đây của Chúa Giêsu với nữ giáo dân Magarita trong Thông Điệp
T́nh Yêu Nhân Hậu của Người. V́ tôi thấy những lời ấy chẳng những
hợp với cảm nghiệm sống đạo thực tế của tôi mà c̣n hoàn toàn hợp với
tinh thần Phúc Âm nữa.
Lời mạc
khải tư thứ nhất về t́nh yêu nhân hậu của Thiên Chúa đó là: “Thời
giờ con sống trong những khoái lạc hăo huyền là thời giờ Cha đợi chờ
con” (ngày 11-7-1967). Ôi, thật là chí lư. Thật là cảm kích. Trong
khi tôi sống trong tội lỗi, đang t́m kiếm những sự giả trá mau qua
một cách mù tối, th́ Thiên Chúa là Cha tôi ở trên trời vẫn đợi chờ
tôi. Đó là h́nh ảnh một vị Thiên Chúa Nhập Thể đang ngồi ở bờ giếng
Giacóp vào buổi trưa nóng bức để chờ đợi và gặp cho bằng được người
nữ Samaritanô ngoại lai tội lỗi sống với 6 người chồng, một con
người cảm thấy ḿnh tội lỗi chỉ dám ra giếng kín nước vào lúc vắng
người nhất nhưng có ngờ đâu lại là lúc Thiên Chúa đang ngồi chờ gặp
chị (x Jn 4:6-7).
Lời mạc
khải tư thứ hai về t́nh yêu nhân hậu của Thiên Chúa đó là: “Trong
con mắt của Cha, một tội nhân t́m kiếm Cha th́ không c̣n là một tội
nhân nữa, mà là một linh hồn bị thương đang trên đường t́m về Ánh
Sáng và Chân Lư” (ngày 21-1-1969). Ôi, Cha trên trời luôn sẵn sàng
tha thứ cho tội nhân chúng ta trước khi chúng ta ngỏ lời xin Ngài
tha thứ nữa ḱa. Bởi thế, điều Ngài làm đau ḷng nhất và tội phạm
đến Ngài nhất không phải là tội sát nhân, loạn luân, trộm cướp v.v.
mà là thái độ không tin tưởng vào ḷng thương xót vô cùng nhân hậu
của Ngài, tức là tội phạm đến Thánh Linh, một tội không thể tha thứ
cả ở đời này lẫn đời sau. Không phải hay sao, trong thời gian đứa
con thứ đang phung phá gia tài ân sủng được Cha chia cho, th́ Ngài
chẳng những đợi chờ nó, mà c̣n trông ngóng nó về, đến nỗi, vừa trông
thấy bóng nó xuất hiện từ đằng xa, nghĩa là nó chưa thấy Cha nó, th́
chính ông đă tự động chạy lại với nó, đón nó, ôm choàng lấy nó mà
hôn lấy hôn để rồi (x Lk 15:20). Chứ không cần phải đợi nó bước chân
vào đến nhà và qú xuống van lạy ông mới tha cho nó, thậm chí bị ông
chửi cho một trận rồi mới chịu tha, như thường xẩy ra nơi người cha
trần gian hay sao?
Lời mạc
khải tư thứ ba về t́nh yêu nhân hậu của Thiên Chúa đó là: “Một Thiên
Chúa báo oán chỉ là một Người Cha tội nghiệp khi phải trừng phạt con
cái ḿnh để buộc chúng phải hồi tâm nghĩ lại” (ngày 19-12-1973). Ôi,
tội nghiệp Cha tôi, v́ mỗi khi con người tội lỗi gặp khổ đau là hậu
quả xẩy ra cho họ bởi tội lỗi do chính họ gây ra, họ chẳng những
không thức tỉnh mà c̣n lao đầu thêm vào tội lỗi, phạm thêm tội lỗi,
ở chỗ than trách trời cao không có mắt. Tất cả mọi đau khổ trên đời
này thật sự không phải trực tiếp từ Thiên Chúa mà đến. Thiên Chúa
Toàn Thiện không bao giờ lại dựng lên sự dữ, như đau khổ và chết
chóc. Thế nhưng, Ngài Toàn Thiện và Toàn Năng ở chỗ Ngài đă dùng
chính những hậu quả bởi tội lỗi loài người này để cứu chuộc họ, để
làm cho họ nhận biết bản thân yếu đuối của họ mà tin tưởng Ngài hơn.
Đó là lư do, cho dù vô cùng toàn năng và khôn ngoan thượng trí, Ngài
đă không dùng cách nào khác để cứu chuộc con người, ngoài Thập Giá
Chúa Kitô. Đúng thế, nếu người đàn bà ngoại t́nh không bị Thiên Chúa
công minh trừng phạt bằng sự kiện chị bị bắt quả tang đang làm việc
tồi bại trước mắt thế gian và phản luật Moisen cũng là luật Chúa,
th́ chị đâu có dịp được trực diện với Chúa Giêsu là hiện thân của
Thiên Chúa là T́nh Yêu ở giữa loài người, và nhờ đó, chị đă cảm nhận
được Người xót thương nhân hậu là chừng nào để có thể nhận biết ḿnh
mà trở về với Người bằng cuộc sống tốt lành hơn (x Jn 8:3-4, 10-11).
Lời mạc
khải thứ tư về t́nh yêu nhân hậu của Thiên Chúa đó là: “Trước khi
Cha đến như một Vị Quan Án công minh, th́ Cha đến như một Đức Vua
của T́nh Thương. Trước ngày công thẳng, dân chúng sẽ được thấy một
dấu hiệu trên các tầng trời như thế này: Tất cả ánh sáng trên các
tầng trời sẽ bị tắt hết, và bóng tối khủng khiếp sẽ bao trùm cả trái
đất. Đoạn trên bầu trời sẽ xuất hiện h́nh bóng cây thánh giá, và từ
những kẽ hở của các bàn tay chân bị đóng đanh của Chúa Cứu Thế sẽ
phát ra những ánh sáng cả thể chiếu soi mặt đất trong một khoảng
thời gian. Điều này sẽ xẩy ra không lâu trước ngày cùng tận”.
Riêng
lời mạc khải này, Chúa Giêsu đă nói với nữ tu Maria Faustina. Trong
lễ phong thánh cho vị thánh nữ được Ngài gọi là vị thánh đầu tiên
trong ngàn năm thứ ba này, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă trích ra
một câu Chúa Giêsu nói với chị rằng: “Nhân loại sẽ không t́m thấy
b́nh an cho tới khi nó tin tưởng vào ḷng thương xót Chúa” (Nhật Kư,
p. 132 – Tuần San L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ phát hành
ngày 3/5/2000, trang 1). Rất đặc biệt là câu được Đức Thánh Cha
trích lại này lại sát liền với câu được trích dẫn trên đây (Divine
Mercy in My Soul – Diary St. M. Faustina Kowalska, Marian Press
1987, Bản dịch Anh Ngữ trang 139: câu ĐTC trích ở đoạn 300, c̣n câu
ở đây trích ở đoạn 301). Nếu Đức Thánh Cha là vị Mục Tử Tối Cao của
Giáo Hội, tiêu biểu cho Đức Tin Công Giáo, đă tin vào lời mạc khải
tư của Chúa Giêsu nói với chị Faustina th́ câu được trích dẫn ở đây
cũng là những điều chân thật, tức những điều chắc chắn sẽ xẩy ra
đúng như Chúa Giêsu báo trước. Nghĩa là, trước khi Thiên Chúa tỏ đức
công minh của Ngài ra th́ Ngài tỏ ḷng thương xót, để sau đó không
ai c̣n oán than Ngài được nữa. Thế nhưng, Ngài đă tỏ ḷng thương xót
trước khi ra tay công thẳng như thế nào, nếu không phải, trước hết,
nhờ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.
Thật
vậy, ngày 30/4/2000 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă phong hiển
thánh cho chị nữ tu Faustina người Balan, vị tông đồ của Ḷng Thương
Xót Chúa và cho Ḷng Thương Xót Chúa. Và vào tháng sau đó, Giáo Hội
đă chính thức thiết lập Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh là Chúa Nhật Lễ
Chúa T́nh Thương, và Lễ Chúa T́nh Thương này đă được Giáo Hội chính
thức cử hành lần đầu tiên vào Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh Năm 2001.
Chúa Giêsu, vào thời điểm giữa hai Thế Chiến I và II, thật sự đă yêu
cầu chị thánh Faustina xin Giáo Hội cho thiết lập Lễ Kính Chúa T́nh
Thương này vào Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh. V́ bài Phúc Âm của Chúa
Nhật này phản ảnh nội dung sứ điệp Người tỏ cho chị thánh biết và
qua chị cho thế giới biết, đó là Thiên Chúa yêu thương con người tội
lỗi và muốn họ hăy hoàn toàn tin tưởng vào Người. Đúng thế, hơn bao
giờ hết, con người ngày nay càng văn minh vật chất càng băng hoại về
luân lư và đạo đức. Tất cả những ǵ được Thiên Chúa thiết lập ngay
từ ban đầu là hôn nhân nam nữ và sinh con đẻ cái, th́ con người văn
minh ngày nay chẳng những phá đổ bằng luật pháp cho phép ly dị và
phá thai, mà c̣n thay thế vào đó, vào những ǵ được Thiên Chúa thiết
lập ngay từ ban đầu ấy những thần tượng, những con ḅ vàng do họ đúc
nên, như luật cho phép hôn nhân đồng tính và tạo sinh sao bản phi
tính dục cloning.
Bởi
thế, Hăy Đến Với Cha:
1. Dù
các con là người ngoại giáo mới thấy dấu hiệu của Cha như ba nhà đạo
sĩ Đông phương khi Cha mới được sinh ra ngày xưa, chỉ cần các con
nhận biết dấu chỉ thời đại của Cha và thật ḷng t́m kiếm
Chân-Thiện-Mỹ, là các con sẽ t́m thấy Cha là Đấng Tối Cao của các
con (x Mt 2:1-2, 9-11).
2. Dù
các con chỉ đang ṭ ṃ muốn nhín thấy Cha xem Cha như thế nào, như
người trưởng ban thu thuế Giakêu lùn, th́ dù con tội lỗi, miễn là
các con đừng sợ ánh sáng và vẫn thiện tâm t́m kiếm chân lư là các
con sẽ nghe thấy tiếng của Cha (x Jn 18:37) và sẽ được chân lư giải
phóng (x Jn 8:32; Lk 19:9).
3. Dù
các con chưa hề biết Cha là ai, như hai môn đệ của Thánh Gioan Tẩy
Giả (x Jn 1:37), nhưng miễn là khi được đánh động (x Jn 1:36), đă
mau mắn theo đuổi Cha và thành tâm “đến mà xem” (Jn 1:39), th́ các
con sẽ trở thành chứng nhân cho Cha: “Chúng tôi đă gặp Đức Kitô” (Jn
1:41).
4. Dù
các con, sau khi đă ngờ ngợ nhận ra Cha (x Jn 1:3), tuy vẫn c̣n nhát
sợ thế gian, song lại t́m cách lén lút đến gặp Cha trong đêm tối cho
bằng được, như trường hợp Nicôđêmô thuộc Hội Đồng Do Thái (x Jn
3:1-2), các con cũng sẽ gặp được Cha, v́ Cha là “ánh sáng thế gian,
ai theo Cha sẽ không đi trong tăm tối, nhưng sẽ được ánh sáng sự
sống” (Jn 8:12).
5. Dù
các con đang sống trong vũng bùn lầy đầy tội lỗi xấu xa nhơ nhớp,
như người phụ nữ Samaritanô đang sống với người chồng thứ sáu của
chị (x Jn 4:16-18), các con vẫn có thể gặp được Cha, v́ chính Cha
chẳng những không tránh né các con, trái lại, Cha luôn t́m cách để
chặn đầu các con (x Jn 4:4-9), làm cho các con nhận ra chân lư là
Cha và từ đó các con thấy được chính bản thân hèn yếu lỗi lầm của
các con (x Jn 4:15-20, 39).
6. Dù
các con bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại t́nh, như người phụ nữ
bị nhóm người Pharisiêu và luật sĩ dẫn đến với Cha trước khi bị ném
đá chết theo luậỉt Moisen (x Jn 8:3-4), th́ các con hăy nhớ rằng,
chính v́ tội lỗi của các con mà các con lại gặp được Cha, Đấng đến
không phải để luận phạt (x Jn 3:17) mà là để cứu vớt những ǵ đă hư
trầm (x Lk 19:10), bằng việc cứu chuộc và tha thứ tội lỗi cho các
con: nếu loài người các con c̣n biết thứ tha cho nhau th́ chẳng lẽ
Cha lại hẹp ḥi hơn họ hay sao (x Jn 8:11)!?!
7. Dù
các con tội lỗi có tiếng trong thành đi nữa (x Lk 7:37), nhưng nếu
các con nhận ra ánh sáng liền đến với ánh sáng chứ không sợ ánh sáng
(x Jn 3:19-21), được tỏ ra bằng tất cả tấm ḷng thống hối ăn năn đầy
t́nh mến yêu Cha (x Lk 7:38, 44-46), th́ dù tội lỗi của các con có
nhiều đến đâu và nặng đến đâu, cũng được hoàn toàn thứ tha, v́ yêu
nhiều được tha nhiều (x Lk 7:47).
Hăy
Đến Với Cha:
8. V́
Cha lúc nào Cha cũng dong duổi t́m kiếm các con, từ trời xuống để
t́m kiếm các con, như t́m cho bằng được một đồng bạc bị thất lạc,
cho đến khi t́m thấy các con đang lạc bước trên các nẻo đường đời
đầy cạm bẫy và vui mừng vác lên vai từng con chiên lạc trở về đàn (x
Lk 15:8-9,4-6).
9. V́
Cha hằng trông ngóng các con trở về, những đứa con đă được Cha ban
gia tài Thánh Sủng cho qua Bí Tích Rửa Tội, nhưng đă phung phá gia
tài Thần Linh vô cùng cao quí này bằng cuộc đời buông tuồng tội lỗi
của ḿnh, Cha sẽ chẳng những trả lại cho các con tất cả những ǵ các
con đă đánh mất, nơi Bí Tích Ḥa Giải, mà c̣n cho các con lại được
ngồi vào hoan hưởng Bàn Tiệc Thánh Thể vô cùng thịnh soạn xứng hợp
với thân phận làm con cái của Cha (x Lk 15:11-24).
10. V́
Cha nhất định sẽ minh oan cho các con (x Lk 18:7-8), khi các con bị
thế gian hiểu lầm, đối xử bất công, chống đối, khinh bỉ, bắt bớ,
thậm chí sát hại, v́ danh Thày (x Jn 15:18-21), bằng cách Cha sẽ
biến đổi nỗi buồn đau của các con ấy thành niềm vui chứa chan, để,
như người đàn bà vui mừng quên hết đớn đau khi đưa con vào đời (x Jn
16:20-22), các con cũng vui v́ được chịu khổ v́ Cha như thế (x Acts
5:41).
11. V́
Cha đang ngủ trên khoang thuyền (x Mk 4:37-38) tâm hồn của các con,
dù con thuyền cuộc đời của các con có nghêng ngả gần ch́m trước
giông ba băo tố thử thách nổi lên, bởi những chước cám dỗ của quỉ
ma, những lôi cuốn chiều chuộng của thế gian, cùng với những đ̣i hỏi
thấp hèn của đam mê nhục dục nơi bản thân con người, nó cũng không
thể ch́m được, không thể nhận ch́m Đấng “là sự sống lại và là sự
sống” (Jn 11:25) trong các con.
12. V́
Cha đang đồng hành với các con, như với hai môn đệ đi về làng Emmau
ngày xưa vào ngày thứ nhất trong tuần khi Cha sống lại từ trong cơi
chết (x Lk 24:15), để soi sáng và hâm nóng tâm trí các con, bằng
việc tỏ ḿnh ra cho các con, vào chính lúc cây đèn đức tin của các
con đă cạn dầu đức cậy và hầu như lịm tắt lửa đức mến.
13. V́
Cha đang ở ngay bên các con, như ở ngay trước mắt Mai Đệ Liên đang
khóc lóc t́m xác Cha quanh mộ của Cha nhưng không nhận ra Cha, dù
nh́n thấy Cha, Đấng sẽ đáp lại tấm ḷng thiết tha gắn bó của các con
bằng việc gọi đích danh các con của Cha (x Jn 20:14-16), cho các con
thấy rằng Cha biết các con hơn là các con biết Cha, và các con chỉ
nhận ra Cha khi Cha tỏ ḿnh ra cho các con mà thôi.
14. V́
Cha muốn sống thân t́nh với các con, muốn sống trong các con, hơn là
muốn các con chỉ chuyên tâm phục vụ Cha như Matta ở Bêtania, một con
người lo lắng nhiều chuyện cho Cha song lại thiếu vắng Cha, đến nỗi,
không có Cha, cô chẳng những đă tỏ ra ghen tị với em cô mà c̣n trách
móc cả Cha (x Lk 10:40-41), trái lại, nếu các con ở trong Cha, như
cành nho dính liền với thân nho, các con sẽ sinh muôn vàn hoa trái
(x Jn 15:4-5).
15. V́
Cha muốn trẻ nhỏ đến cùng Cha, không cho ai ngăn cản chúng (x Mt
19:13-14), thành phần nhỏ bé đến nỗi không tự đến cùng Cha được, cần
phải được Mẹ Maria mang đến cho Cha, nhưng lại là thành phần chiếm
được Nước Trời và trở nên cao trọng nhất trên Nước Trời, ở chỗ chúng
được Cha trên trời tỏ cho biết mầu nhiệm Nước Trời, mầu nhiệm Ngài
giấu không cho thành phần khôn ngoan thông thái thế gian biết
(x Lk 10:21).