ÍT LINH HỒN HƯ ĐI LÀ NHỜ…

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 

Để trả lời cho vấn nạn được một người đặt ra cho ḿnh rằng: “Lạy Thày, số người được cứu độ ít lắm phải không?” (Lk 13:23), Chúa Giêsu trả lời rằng: “Hăy gắng mà vào qua cửa hẹp. Tôi bảo cho anh chị em biết là có nhiều người cố vào mà không được...” (Lk 13:24). Qua câu trả lời này, Chúa Giêsu không trả lời hay cũng có thể nói là chưa trả lời dứt khoát là ít người được cứu độ, tức nhiều người bị hư mất đời đời, bị sa hỏa ngục. Người chỉ minh định là vấn đề được cứu độ là một việc khó khăn, phải cần đến ơn Chúa, chứ tự ḿnh con người không thể nào tự cứu độ. Đó là lư do Người đă phán: “nhiều người cố vào mà không được”, và ở câu 27 Người đă dứt khoát là “Ta không biết các người”, thành phần ở ngay câu trước đó là câu 26 đă thưa cùng Người về t́nh trạng họ sống gần gũi thân t́nh với Người rằng: “Chúng tôi là những người đă ăn uống với Thày và Thày đă giảng dạy chúng tôi nơi phố xá”. Đó, dù Kitô hữu Công giáo chúng ta có “ăn uống với Thày”, ở trong trường hợp của chúng ta có thể hiểu là việc chúng ta năng xưng tội rước lễ, và có được “Thày đă giảng dạy nơi phố xá”, ở trong trường hợp của chúng ta có thể hiểu là chúng ta được công khai nghe giảng dạy trong Thánh Lễ hay trong các buổi tĩnh tâm chung v.v., chúng ta vẫn chưa chắc được cứu độ, trái lại, c̣n bị hư đi là đằng khác, c̣n bị Chúa hoàn toàn và phũ phàng phủ nhận rằng: “Ta không biết các ngươi!”

 

Vậy th́ quả thực, căn cứ vào chiều hướng này, chiều hướng con người không thể tự cứu được ḿnh này, thành phần theo tự nhiên, như Chúa Giêsu khẳng định với Nghị Viên lăo thành Nicôđêmô đến gặp người ban đêm rằng: “chuộng tối tăm hơn ánh sáng” (Jn 3:19), thành phần như Người cũng đă phải than lên trước 3 môn đệ thân tín nhất của Người đang mê man thiếp ngủ không c̣n biết trới đất đâu nữa, vào chính lúc Sư Phụ Thần Linh vô cùng đáng kính đáng mến của các vị bị bắt đi rằng: “Tinh thần th́ mau mắn nhưng bản chất lại bạc nhược” (Mt 26:41), có thể nói rằng Chúa Giêsu đă “không dám” vạch trần sự thật cứu độ hết sức nghiệt ngă rằng: “Đúng, con số người được cứu độ th́ ít ỏi lắm!”. Phải chăng đó là lư do đă làm cho Người phải than lên: “Linh hồn Thày buồn đến chết được” (Mt 26:38), đến “đổ mồ hôi máu nhỏ xuống đất” (Lk 22:44)? Người cũng đă than thở với một trong các thụ khải viên của ḿnh vào hậu bán thế kỷ 20 là Bà Magarita người Bỉ trong Thông Điệp T́nh Yêu Nhân Hậu gửi Đạo Binh Hồn Nhỏ rằng: “Hỡi con gái của Cha ơi, con có biết cái thảm bại của một Vị Thiên Chúa là ǵ không? Đó là Người không thể cứu được hết tât cả mọi người bằng Hy Sinh của Người” (18-5-1970); “Những ư nghĩ của Cha (ở trên đồi Gôngôta) là những ư nghĩ thương hại và thương xót. Họ không biết rằng, chỉ bằng một cử chỉ là Cha đă có thể hủy diệt họ đi rồi. Cha để cho họ tha hồ thỏa tay hành khổ Cha, v́ trong thâm tâm của Cha, Cha đă chấp nhận Hy Sinh theo ư muốn Cha của Cha. Thế nhưng, nỗi sầu khổ của Cha đă tăng lên gấp bội, v́ Cha đă biết rằng, cho dù Cha có để cho ḿnh bị hành h́nh đến như vậy, Cha vẫn không sao cứu được tất cả mọi con cái của Cha, và đối với nhiều người, Hy Sinh của Cha sẽ trở thành luống công vô ích” (Thứ Sáu Tuần Thánh 30-3-1972).

 

Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là, nếu nhân loại chúng ta, sau nguyên tội, đă trở nên mù quáng, mà c̣n biết khôn ngoan muốn tất cả những ǵ có lợi cho ḿnh và dùng tất cả mọi phương tiện hay nhất để đạt được mục tiêu lợi lộc tối đa nhất cho ḿnh khi làm bất cứ chuyện ǵ, th́ phải nói làm sao về Thiên Chúa, Đấng vô cùng khôn ngoan thượng trí và toàn năng, Đấng đă dựng nên loài người là để cho họ được hiệp thông thần linh với Ngài, mà chẳng lẽ lại hoàn toàn thất bại, mà lại chịu thua Satan cùng bọn ngụy thần cũng là thành phần tạo vật của Ngài hay sao? Đó là lư do, cũng qua cùng nữ thụ khải viên trên đây, Chúa Giêsu đă bày tỏ tất cả tâm can của ḿnh ra rằng: “Khi Cha bị đóng đanh trên Thánh Giá như một tội nhân chỉ v́ yêu, lẽ nào Cha lại chỉ được ôm lấy khoảng không trống rỗng” (15/10/1966); “Hỏa ngục chỉ thu nhặt được những cặn bă xấu nhất của nhân loại. Con hăy tin rằng trước khi đành bỏ cho hỏa ngục một linh hồn, Cha đă thử dùng mọi phương thế theo ḷng thương xót của Cha, để cứu rỗi linh hồn ấy...!” (4/10/1967). Vậy, Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan và toàn năng sẽ làm như thế nào để cứu các linh hồn, để thực hiện dự án và lời hứa của ḿnh về thân phận vô vàn linh hồn được cứu rỗi, chứ không phải là ít, khi Ngài phán với tổ phụ Abraham rằng: “Ta sẽ làm cho con cháu của ngươi nhiều như sao trời cát biển” (Gen 22:17, 32:13; 41:49).

 

Phải chăng Ngài luôn chơi tṛ 5-10-15-20-25-30-35-40-45-50 v.v. với con người, một tṛ chơi của trẻ con ở Việt Nam ngày xưa, một đứa lấy hai tay bịt mắt lại hay quay vào tường đọc từ 5 tới 100, cách nhau cứ 5 số như vậy, sau đó mở mắt ra đi t́m cho bằng được những đứa khác đă trốn mất trong lúc đứa này đọc tràng số cứ cách nhau 5 như thế; nếu bắt được đứa nào trước nhất th́ đứa ấy lại phải đọc câu thần chú là tràng số cách 5 này cho những đứa khác trốn? Đúng thế, Thiên Chúa đă chẳng sẵn ḷng chơi tṛ này với tổ phụ Abraham là ǵ, khi Ngài, sau khi tỏ cho vị tổ phụ này biết rằng Ngài có ư định hủy diệt thành Sodoma tội lỗi, đă theo đuổi cho đến cùng cuộc mặc cả của vị tổ phụ này với Ngài về số người công chính, từ 50, 45, 40, 30, 20, 10, để có thể cứu thành Sodoma khỏi bị hủy diệt nhờ số người công chính thiểu số cũng sống ở trong cùng thành ấy (xem Gen 18:16-33). Cũng trong Cựu Ước, việc hy sinh giang tay ra cầu nguyện của một ḿnh Moisen cũng được Thiên Chúa sử dụng như một điều kiện bất khả thiếu để giành phần thắng lợi cho chung quân Do Thái trong tận chiến giữa dân Chúa tuyển chọn với quân Amalek trong sa mạc (xem Ex 17:11). Quả vậy, theo dự án thần linh của ḿnh, ngay từ ban đầu, Thiên Chúa đă dựng nên con người “có nam có nữ” (Gen 1:26), tức đă dựng nên con người như một cộng đồng thế nào, th́ khi cứu họ, Ngài cũng muốn cứu họ như một cộng đồng như thế, chứ không phải cứu riêng một cá nhân nào, như Ngài đă cứu cả gia đ́nh Noe 8 người trong trận lụt đại hồng thủy vậy, một gia đ́nh được cứu nhờ Noe sống công chính (xem Gen 7:1) và từ một gia đ́nh này mọi loài cũng được cứu nữa (xem Gen 9:8-10).

 

Thật ra, không ai trên thế gian này, là loài người thuần túy, thậm chí cả đệ nhất tạo vật đầy ơn phúc Maria, có thể thực hiện được việc “yêu thay đền thay” theo chiều hướng cứu độ linh hồn bất tử và vô giá của con người, ngoại trừ một “Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Con Người Giêsu Kitô” (1Tim 2:5). Thế nhưng, theo dự án và công cuộc cứu độ của Thiên Chúa, nhờ Chúa Kitô và với Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần duy nhất, Đấng đă hóa thân làm người, đă liên kết với con người, con người cũng có thể cứu anh em ḿnh nữa. Đó là lư do, lịch sử các thánh đă cho thấy Thiên Chúa đă tiếp tục công cuộc cứu độ các linh hồn qua các ngài. Chẳng hạn như Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, hay Thánh Faustina, v.v., những vị thánh đă cứu được rất nhiều các linh hồn bằng các việc âm thầm hy sinh chịu khổ của các vị. Thậm chí các vị linh mục, dù về linh quyền các vị ban phát ơn cứu độ qua các phép bí tích, cũng mang lại vô vàn lợi ích thiêng liêng cho đàn chiên của ḿnh hay cho thế gian bằng đời sống thánh thiện của các vị, chẳng hạn như Cha Piô Năm Dấu hay Cha Sở Họ A Gioan Mai-Hoa Viễn-Linh (Gioan Maria Vianney). Những việc làm có tính cách yêu thay đền thay, thật sự có tác dụng cứu độ được vô vàn các linh hồn tội nhân đáng thương này của các thánh, như Thánh Giang Mai-Hoa Viễn-Linh và Thánh Faustina, theo tiểu sử của các ngài cho thấy, đă làm cho ma quỉ vô cùng hận tức đến nỗi có những lúc muốn ăn tươi nuốt sống các vị. Sở dĩ việc làm của Kitô hữu nói chung, thành phần c̣n ơn nghĩa Chúa, ít là không mắc tội trọng và có ư xấu, cho dù là việc nhỏ mọn mấy đi nữa, như quét nhà, rửa chén v.v. cũng có công trước mặt Chúa, cũng có giá trị cứu độ, có trị yêu thay đền thay, v́ Chúa Kitô sống trong họ bởi Thánh Thần của Người, tức chính Người làm những việc đó trong họ và qua họ.

 

Việc yêu thay đền thay của một thiểu số các linh hồn được tuyển chọn không phải chỉ mang lại lợi ích cho các tội nhân đáng thương mà thôi, thật ra, trước hết và trên hết, mang lại lợi ích thiêng liêng cho chính họ, làm cho họ được thánh hóa, được càng ngày càng nên giống Đấng Tử Giá hơn. Đó là lư do, để cứu các tội nhân đáng thương, để yêu thay đền thay, các linh hồn được tuyển chọn thường phải hy sinh bản thân ḿnh, thường phải chịu nhiều đau khổ, thậm chí mang trên thân xác các dấu tích của Chúa Kitô, như trường hợp Cha Thánh Piô Năm Dấu. Chúa Kitô Phục Sinh nhưng vẫn c̣n mang trên thân xác dấu vết tử giá của Người, như Người tỏ cho các môn đệ thấy sau khi phục sinh để chứng thực rằng Người đă sống lại với các vị (xem Lk 24:40; Jn 20:27), và dấu vết tử giá của Đấng Phục Sinh ấy, Đấng ở lại cùng Giáo Hội cho tới tận thế ấy (xem Mt 28:20) ấy, trong gịng lịch sử Giáo Hội, vẫn liên tục và tiếp tục tỏ hiện nơi bản thân và cuộc đời của một thiểu số linh hồn tuyển chọn, điển h́nh nhất là các vị tử đạo, thuộc thành phần 5-10-15-20 của tổ phụ Abraham. Câu Thánh Phaolô nói rằng “tôi mang trên thân xác tôi những dấu vết của Chúa Kitô” (Gal 6:17), và “tôi bù đắp nơi xác thịt tôi những ǵ c̣n thiếu nơi cuộc khổ nạn của Chúa Kitô phải chịu v́ thân thể Người là Giáo Hội” (Col 1:24) quả thực là chí lư theo ư nghĩa “yêu thay đền thay” có tính cách hiệp thông cứu độ này. Có thể nói, v́ các tội nhân mà một thiểu số linh hồn đă trở thành ưu tuyển và được biệt đăi trong việc gần gũi thân t́nh với Chúa, nhất là nên giống Người qua cuộc khổ nạn của Người, để nhờ công nghiệp của họ hợp với Người và qua thế giá của họ nơi Người, Người thương đoái thương đến các tội nhân. Như thế, trong ư định quan pḥng thần linh của Thiên Chúa, tội nhân là mối lợi cho thánh nhân và thánh nhân sinh lợi cho tội nhân. Tương tự như đă xẩy ra và đang xẩy ra trong trường hợp giữa dân Do Thái và Dân Ngoại, ở chỗ, nhờ dân Do Thái cứng ḷng mà Dân Ngoại đă được cứu cho tới khi đủ số Dân Ngoại th́ dân Do Thái được cứu vậy (xem Rm 11:25-26).

Thậm chí Người cũng có thể sử dụng tất cả những hy sinh đau khổ của thành phần không phải là Kitô hữu nói chung và thành phần Kitô hữu Công giáo thánh thiện nói riêng nữa, để yêu thay đền thay, để cứu độ các linh hồn tội nhân đáng thương, thành phần càng không thể tự cứu ḿnh. Chẳng hạn, Người có thể sử dụng những hy sinh của thành phần thai nhi vô tội bị sát hại trong bụng mẹ, như trường hợp các Thánh Anh Hài ngày xưa chết thay cho Hài Nhi Giêsu (xem Mt 2:13-18), hay thành phần vô tội bị sát hại bởi cả thiên tai (động đất, băo lụt, hỏa hoạn v.v.) lẫn nhân tai (chiến tranh, khủng bố v.v.), như trường hợp của một Simeon v́ bất đắc dĩ phải vác đỡ thập giá của Chúa Kitô và với Chúa Kitô (xem Mt 27:32).  

Thật ra, muốn làm một việc ǵ có công trước nhan Chúa, chủ thể cần phải hội đủ điều kiện ư thức, tuy nhiên, v́ là những ǵ được Thiên Chúa cố ư sử dụng, nên việc vác đỡ thập giá Chúa Kitô của Simêon thành Cyrênê Phi Châu đây cũng có tác dụng cứu độ theo dự án của Thiên Chúa. Trường hợp các thai nhi cũng thế, sự sống của họ không phải là những ǵ vô ích. Nếu sự sống của các thai nhi vô tội c̣n quí hơn các loài hữu h́nh khác trên thế gian này (xem Mt 10:31, 6:26-34) th́ bị triệt tiêu một cách vô ích như thế có hợp với ư định dựng nên của Thiên Chúa hay chăng? Nếu Lời Nhập Thể đă liên kết với chung loài người và riêng từng người thế nào Người cũng tiếp tục là “những người anh em hèn mọn nhất” của chung nhân loại và của riêng thành phần Kitô hữu như thế, đến nỗi, ai làm ơn cho “một trong những người anh em hèn mọn nhất” là làm ơn cho Người, hay ngược lại (xem Mt 25:40,45), th́ quả thực sự sống của các thai nhi vô tội, v́ là "thành phần anh em hèn mọn nhất" của Người, được liên kết một cách nào đó với Người là Lời Nhập Thể, đă có một giá trị được Người lợi dụng trong công cuộc cứu độ của Người vậy. Máu chiên ḅ trong Cựu Ước ngày xưa c̣n có giá trị chuộc đền và thánh hóa (xem Heb 9:13-14), huống chi mạng sống cao quí của thai nhi con người, loài được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa và tượng tự như Ngài (xem Gen 1:26-27). Nếu "Thiên Chúa đă sai Con Người đến trần gian không phải là để kết án thế gian mà để thế gian nhờ Con mà được cứu độ" (Jn 3:17), và v́ thế,  Chúa Kitô cũng thế, như Người tuyên bố: "Con Người đến là để t́m kiếm và cứu lấy những ǵ đă trầm hư" (Lk 19:10), th́ chẳng lẽ Người coi thường giá trị của một thai nhi con người vô tội và không lợi dụng giá trị ấy cho phần rỗi của các linh hồn đáng thương về luân lư, nhờ đó, nhờ giá trị cứu rỗi của mạng sống vô tội của ḿnh, hợp với giá Máu vô cùng châu báu của Chúa Kitô, chính linh hồn các thai nhi cũng được cứu độ.

Chưa hết, nếu cha mẹ có thể thay cho đứa con sơ sinh của ḿnh trong việc lănh nhận phép rửa hiệu thành của chúng thế nào, th́ các tâm hồn cầu nguyện cho thai nhi bị sát hại hay/và đau đớn trước cuộc thảm sát thai nhi vô tội này, trước nhan Chúa, cũng có thể được coi như cái đau thay cho thai nhi và  của chính thai nhi, ư thức thay cho thai nhi và của chính thai nhi bị sát hại, nhờ đó, việc hy sinh của các thai nhi cũng đáng có một tác dụng yêu thay đền thay. Nếu lưỡi đ̣ng đâm vào cạnh sườn Chúa Kitô đă chết, lúc Người không c̣n cảm thấy ǵ nữa, không c̣n ư thức nữa, vẫn là những ǵ thuộc về công cuộc cứu độ, chứ không phải việc Người bị đâm thâu sau khi chết ấy không được tính vào việc cứu độ của Người thế nào, th́ các thai nhi vô tội chưa ư thức cũng thế, họ bị sát hại không hoàn toàn vô ích đâu. Vả  lại, khi thấy Con Ḿnh bị đâm như thế, chính Mẹ Maria đứng dưới chân thập giá Chúa (xem Jn 19:25) đă đau niềm đau của Chúa và thay cho Chúa, như bị gươm sắc thâu qua ḷng (xem Lk 2:34-35); trường hợp các thai nhi vô tội bị sát hại cũng thế, họ dù chưa ư thức nhưng vẫn được trái tim Thiên Chúa yêu thương, một trái tim tiếp tục bị đâm thâu nơi các thai nhi bị phá, nhưng vẫn có thể cảm thấy đớn đau qua con tim của những ai gắn bó với Người trong công cuộc cứu độ, trong việc pḥ sự sống, được Người tuyển chọn trong thành phần thiểu số 5-10-15-20, điển h́nh nhất là Chân Phước Giaxinta thiếu nhi nhỏ bé ở Fatima được Giáo Hội tuyên phong ngày 13/5/2000.

Tóm lại, theo dự án và công cuộc cứu độ thần linh vô cùng huyền nhiệm của vị "Thiên Chúa là t́nh yêu" (1Jn 4:8,16), Đấng đă dựng nên con người là để cho họ được sống, được muôn đời hiệp thông với Ngài, Đnấg vô cùng toàn năng và khôn ngoan, th́ con số được cứu độ, theo người viết này, nhiều hơn là ít, nhiều thật là nhiều, "như sao trời cát biển" trong đại dương bao la và vũ trụ bất tận của Ḷng Thương Xót Chúa!