| |

Xa cha phung phá - Gần cha hoang đàng
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Tin Mừng
Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca
(15:1-3, 11-32)
Khi ấy,
những người thu thuế và những kẻ tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe
Người giảng; thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng:
“Ông nầy đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng”. Bấy
giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: “Người kia có hai con trai. Đứa em
thưa với cha rằng: “Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về
con”. Người cha liền chia gia tài cho các con.
Ít ngày
sau, người em thu nhặt tất cả của ḿnh, trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi
xa xỉ phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của th́ vừa gặp nạn
đói lớn trong miền đó, và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp
việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó
muốn ăn những đồ cặn bă heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho.
Bấy giờ nó hồi tâm lại và tự nhủ: “Biết bao người làm công ở nhà cha tôi
được ăn uống dư dật, c̣n tôi, tôi ở đây phải chết đói. Tôi muốn ra đi
trở về với cha tôi và thưa người rằng: Thưa cha, con đă lỗi phạm đến
trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xưœ
với con như một người làm công của cha”. Vậy nó ra đi và trở về với cha
nó.
Khi nó
c̣n ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động ḷng thương; ông chạy
ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu... Người con trai lúc đó thưa
rằng: “Thưa cha, con đă lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng
được gọi là con cha nữa”. Nhưng người cha bảo đầy tớ: “Mau mang áo đẹp
nhất ra đây và mặc cho cậu, hăy đeo nhẫn vào ngón tay cậu và xoœ giầy
vào chân cậu. Hăy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng: v́ con ta
đây đă chết, nay sống lại, đă mất, nay lại t́m thấy”.
Và
người ta bắt đầu ăn uống linh đ́nh. Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi
về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ
để hoœi xem có chuyện ǵ. Tên đầy tớ nói: “Đó là em cậu đă trở về và cha
cậu đă giết bê béo, v́ thấy cậu ấy về mạnh khoœe”. Anh liền nổi giận và
quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào. Nhưng anh trả lời:
“Cha coi, đă bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào,
mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhoœ để ăn mừng với chúng
bạn. C̣n thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha
với bọn đàng điếm, nay trở về th́ cha lại sai làm thịt bê béo ăn mừng nó”.
Nhưng người cha bảo: “Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều
là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, v́ em con đă chết nay sống
lại, đă mất nay lại t́m thấy”.
hật vậy,
nếu người con phung phá không tin tưởng vào người cha từ bi nhân hậu của
ḿnh, trái lại, biết chắc chắn rằng người cha sẽ giết chết ḿnh khi vừa
thấy ḿnh, hoặc bỏ thương vương tội nhưng vẫn đối xử tàn tệ với ḿnh cho
bơ ghét, hay để mặc cho người anh, thậm chí cả kẻ ăn người ở trong nhà
tha hồ mà nhục mạ chửi rủa ḿnh, thử hỏi người con phung phá có dám ṃ
về với cha hay chăng, hay thà chết cũng không bao giờ chịu trở về với
cha.
Trong dụ
ngôn này chúng ta thấy có nhiều màn xẩy ra cho người con phung phá, thứ
tự như sau:
1.
Người con xin cha chia phần gia
tài của ḿnh cho.
2.
Sau đó người con này đă đem gia
tài của cha và được cha chia cho đi phung phí vào những đam mê trụy lạc
của ḿnh.
3.
Hậu quả của cuộc đời phung phá là
người con phải trải qua một cảnh bần cùng khốn khổ hết sức nhục nhă và
chán chường.
4.
Thế nhưng, chính trong cơn hoạn
nạn khốn khó ấy người con mới tỉnh ngộ và đă nghĩ về cha, để rồi quyết
định trở về với cha.
5.
Người con hoang đường chẳng những
được cha thứ tha mà c̣n được cha vừa mở tiệc ăn mừng vừa phục hồi lại
cho tất cả những ǵ quí giá người con đă làm mất đi trong quăng đời
phung phá quá khứ của ḿnh.
Thật vậy,
qua dụ ngôn này chúng ta mới thấy rằng chỉ có duy một ḿnh Thiên Chúa
mới quả thực là người cha đích thật, mới xứng đáng mang danh làm cha và
được gọi là “cha”. Bởi v́, Ngài vô cùng nhân hậu và xót thương, thông
cảm với đứa con yếu đuối và lầm lạc, chẳng những không chấp nhất nó,
trừng phạt lỗi lầm của nó, mà c̣n hết sức nhẫn nại, ngong ngóng trông
đợi nó hồi tâm nghĩ lại mà trở về với ḿnh, để rồi khi vừa thấy nó tỏ ư
muốn và dứt khoát trở về liên tự động nhào tới đón nhận nó, chứ không
cần đợi nó phải mở miệng xin lỗi trước rồi mới tha sau, như thể muốn
giải ḥa với nó trước (x Mt 5:23-24), thậm chí đă tự động bù đắp lại cho
nó những ǵ nó đă đem phung phá, nhất là c̣n mở tiệc linh đ́nh mừng nó
trở về, như thể nó đă lập được một thành tích lớn cho cha, một hành động
làm cho người con cả tức điên lên, hận đến nỗi không chịu bước vào nhà,
làm cho người cha phải khuyên giải mới nguôi ngoai.
Một dụ
ngôn ba bí tích
Phân tích
dụ ngôn này, chúng ta thấy Chúa Giêsu đă ngấm ngầm tỏ cho các môn đệ
biết Ngài có ư định lập 3 bí tích cho Giáo Hội, đó là bí tích rửa tội,
bí tích giải tội và bí tích Thánh Thể.
Bí tích rửa
tội trong dụ ngôn này được thể hiện nơi việc người con xin chia gia tài,
thái độ của con người muốn lănh nhận phép rửa, muốn được phần gia tài sự
sống thần linh, và người cha đă theo ư nó chia phần gia tài thuộc về nó
cho nó, như Cha trên trời đă thông ban sự sống thần linh của Ngài, bằng
Ơn Thánh Sủng cùng với các thần đức Tin Cậy Mến cho con người khi họ
lănh nhận phép rửa.
Bí tích
giải tội trong dụ ngôn này được thể hiện ở chỗ người con phung phá xét
ḿnh, ăn năn dốc ḷng chừa, xưng tội và đền tội. Nó chẳng xét ḿnh là ǵ
khi nghĩ lại thân phận của ḿnh trong lúc cùng cực nhất cuộc đời? Nó
chẳng dốc ḷng chừa là ǵ khi cương quyết chỗi dậy trở về cùng cha,
không phải chỉ v́ để tránh khỏi cảnh cùng khốn của ḿnh, một t́nh trạng
dù sao cũng tạo điều kiện để nó nghĩ lại, cho bằng v́ thấy ḿnh sống bất
xứng với thân phận làm con, tức làm nhục cho cha, làm ô danh cha, “không
xứng đáng làm con cha”? Nó đă chẳng xưng tội khi xót xa thống hối mà
thưa cùng cha “con đă xúc phạm đến trời và đến cha”? Nó đă chẳng đền tội
là ǵ khi bị anh nó căm giận thù ghét, hậu quả không phải chỉ ở việc nó
bỏ nhà ra đi phung phá gia tài của cha mà c̣n được cha nồng hậu tiếp
nhận khi nó trở về nữa?
Bí tích
Thánh Thể trong dụ ngôn này được thể hiện qua việc người cha mở tiệc
linh đ́nh để ăn mừng người con “như chết mà sống lại”. Thật vậy, người
cha không ăn mừng rồi mới trang sức lại cho người con phung phá, trái
lại, như bí tích giải tội trả về cho con người đă chết bởi trọng tội
chẳng những Thánh Sủng họ đă đánh mất mà c̣n tất cả mọi công nghiệp họ
lập được nhờ các thần đức là khả năng thần linh của họ, người cha cũng
đă tái trang sức cho nó những ǵ xứng với phẩm vị của nó là một người
con trong nhà, để nó có đủ tư cách tiếp tục ngồi vào bàn của cha và với
cha, bàn tiệc Thánh Thể Lời Nhập Thể, bàn tiệc Sự Sống Thần Linh, “sự
sống viên măn hơn” (Jn 10:10) là chính mạng sống của vị mục tử nhân lành
đi t́m từng con chiên lạc (x Jn 10:10; Lk 15:4).
Một Mái
Nhà Hai Cuộc Sống
Bài dụ ngôn
trong Phúc Âm được Giáo Hội chọn đọc vào Chúa Nhật Thứ IV Mùa Chay Năm C
này c̣n cho thấy một điểm rất đặc biệt nữa, đó là sự kiện người con ở
gần cha nhất lại là người con hoang đàng, c̣n người con phung phá lại là
người con gần cha hơn hết. Không phải hay sao, người con phung phá đă
luôn ở gần cha, ở chỗ tin tưởng vào t́nh yêu nhân hậu của cha và đă trở
về với cha, để từ t́nh trạng chết đi mà được sống lại, t́nh trạng mất
hết mọi sự không c̣n ǵ mà lại được tất cả mọi sự. Trái lại, người con
cả gần cha, không lúc nào rời xa cha, bao giờ cũng làm theo ư muốn của
cha, lại không hề hiểu cha, cho rằng của cha khác với của ḿnh, chứ
không phải “mọi sự của cha là của con”, bởi đó mới có thái độ tranh chấp,
mới thành đứa con hoang đàng, cách biệt cha.
Đó là lư do
chúng ta đừng khinh thường thành phần chúng ta cho là “tội nhân” đáng
thương. Chẳng biết họ đáng thương hay chúng ta đáng thương, nếu chúng ta
tự phụ cho ḿnh là đạo đức tốt lành, đọc kinh hằng ngày, đi lễ hằng tuần,
xưng tội hằng tháng, mà lại hay phán xét người khác và khinh thường
những người anh chị em “phung phá” của ḿnh. Họ quả thực đă có lúc là
đứa con nói với cha “con không đi” làm vườn nho cho cha, nhưng sau đó
lại đi, như một Mathêu (x Mt 9:9-13), Giakêu (x Lk 19:1-10), Mai Đệ Liên
(x Lk 7:36-50, 8:2), thành phần tiêu biểu cho tội nhân có những hành
động gian tham của cải trần gian như bọn thu thuế và/hay có những xu
hướng đam mê xác thịt như đám gái điếm bán thân phụng sự các thứ ngẫu
tượng hay thần tượng (x. Mt 21:31), hay như người đàn bà Samaritanô (x
Jn 4:19,28-30), thành phần tiêu biểu cho dân ngoại ô uế trước con mắt
dân Do Thái, c̣n chúng ta, như nhóm luật sĩ và Pharisiêu trong dân Do
Thái xưa, lúc này có vẻ như đang sẵn sàng đi làm theo ư cha của ḿnh đấy,
nhưng thực ra chẳng làm ǵ cả, thậm chí c̣n làm trái với ư cha của ḿnh
nữa mà không biết là đàng khác (x Mt 21:28-32).
Ở đây chúng
ta cũng nên lưu ư một điều hết sức quan trọng nữa là t́nh thương của
Thiên Chúa được phát xuất bởi t́nh yêu vô cùng trọn lành, một t́nh
thương là tất cả dung nhan của một Vị Thiên Chúa vô cùng toàn hảo trọn
lành, do đó, không phải là một thứ thương hại, làm giảm giá trị của đối
tượng được thương và cần thương, mà là tôn trọng ngôi vị của họ, phục
hồi phẩm giá cho họ và thăng hóa đời sống của họ. Đó là ư tưởng đă được
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhấn mạnh trong Thông Điệp “Giầu Ḷng
Thương Xót” Dives in Mesericordia của Ngài, ở đoạn 5 và nhất là đoạn 6,
ban hành ngày 13/11/1980, Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng.
Có lẽ con
người đầy quyền lực về khoa học và kỹ thuật ngày nay nhưng lại quá yếu
đuối về tâm lư và bại hoại về luân lư cần đến ḷng thương xót Chúa hơn
bao giờ hết. Dường như con người càng bại hoại, càng làm méo mó h́nh ảnh
thần linh vô cùng cao cả của ḿnh, qua những trào lưu công khai sống
đồng tính luyến ái và đồng tính lấy nhau, qua những thứ kỹ thuật tạo
sinh sao bản con người, qua những hành động phá thai và khủng bố coi sự
sống vô giá như đồ bỏ của nền văn hóa sự chết từ cuối thế kỷ 20 và đầu
thế kỷ 21 này, th́ dung nhan vô cùng yêu thương nhân hậu của “Thiên Chúa
là Thần Linh” (Jn 4:24) càng tỏ hiện. Đó là lư do, ngay từ đầu thế kỷ
20, vào chính thời điểm của Thế Chiến Thứ I, Mẹ Maria đă bảo 3 Thiếu Nhi
Fatima, sau khi đă tiết lộ cho các em Bí Mật Fatima, với phần thứ nhất
là thị kiến hỏa ngục, là sau mỗi chục Kinh Kính Mừng, hăy đọc thêm lời
“Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa
hỏa ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn
cần đến ḷng thương xót Chúa hơn”. Ở Biến Cố Thánh Mẫu Fatima, Mẹ Maria
đă cho 3 Thiếu Nhi Fatima được thị kiến thấy hỏa ngục và dậy các em Lời
Nguyện Fatima này là để làm ǵ, nếu không phải để nhắc nhở và cảnh báo
con người nói chung và thành phần môn đệ Chúa Kitô nói riêng về những ǵ
Chúa Giêsu đă kết thúc dụ ngôn phán xét chung: “Hỡi đồ bị kết án các
ngươi, hăy xéo đi cho khỏi nhan của Ta mà vào lửa đời đời đă giành sẵn
cho ma qủi cùng các thần của hắn” (Mt 25:41).
Từ đầu thế
kỷ 19, mở màn cho Thời Điểm Maria của ḿnh, Mẹ Maria đă “tiến lên như
Rạng Đông” ở Biến Cố Thánh Mẫu Paris năm 1830, nơi Mẹ bảo làm một mẫu
ảnh Mẹ Ban Ơn đứng trên quả cầu và đạp đầu rắn quỉ; “đẹp như mặt trăng”
ở Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức 1858, nơi Mẹ xưng ḿnh “Vô Nhiễm Thai” và là
nơi duy nhất Mẹ mỉm cười trong tất cả các nơi Mẹ hiện ra; “rực rỡ như
mặt trời” ở Biến Cố Thánh Mẫu Fatima, nơi Mẹ xưng ḿnh là “Đức Mẹ Mân
Côi” và là nơi xẩy ra phép lạ cả thể mặt trời nhẩy múa trên không trung;
và “oai hùng như đạo binh dàn trận”, qua phong trào Tượng Mẹ Thánh Du
Quốc Tế đi khắp nơi trên thế giới, nhất là qua Biến Cố Đông Âu sụp đổ
cuối năm 1989, cũng như qua biến cố Liên Sô Nga Cộng giải thể vào Giáng
Sinh năm 1991. Mẹ đến để đem con người về với Chúa là Cha trên trời. Bởi
v́, bỏ Cha mà đi, cho rằng Thiên Chúa đă chết, để sống một sống vô thần
duy vật, con người đă và đang trở thành những tên làm nô lệ cho nhục dục,
thưởng thức cả những thứ đớn hèn của loài heo mà cũng không thỏa. Chỉ có
trở về với Cha, sống xứng với vai tṛ và thân phận làm con Thiên Chúa
của ḿnh, xứng với bản chất là h́nh ảnh thần linh của ḿnh, con người
mới được hoàn toàn tự do, với tư cách là chủ nhân ông của ḿnh, như
trường hợp sau khi trở về của người con phung phá.
Như thế,
trong Thời Điểm Maria, thời điểm được Thánh Long Mộng Phố (Louis
Montfort) gọi là “vào những thời gian sau này”, tức sau thời của ngài là
đầu thế kỷ 18, và đă suy diễn trong cuốn Thành Thực Sùng Kính Mẹ Maria (khoản
49 và 50.4) về vấn đề hai lần đến của Chúa Kitô, có thể gọi là Mùa Vọng
Cánh Chung, Mẹ Maria đă đến để dẫn con người phung phá, con người văn
minh hầu như tuyệt đỉnh về vật chất và nhân bản, nhưng đang phá sản văn
hóa và khủng hoảng đức tin, về nhà Cha, về với dự án nguyên thủy của
Thiên Chúa giành cho họ, đó là dự án con người “làm chủ trái đất” (Gen
1:28), với tư cách là con Thiên Chúa.
Dung
Nhan Đích Thực của Thiên Chúa là T́nh Yêu
Trong Thông
Điệp T́nh Yêu Nhân Hậu gửi cho các Hồn Nhỏ, qua nữ thư kư Magarita người
Bỉ của ḿnh, Chúa Giêsu đă nói những lời rất phản ảnh nội dung của bài
Phúc Âm Chúa Nhật III Mùa Chay Năm C tuần này, đúng hơn phản ảnh t́nh
yêu nhân hậu của người cha đối với cả người con phung phá trở về lẫn
người con hoang đàng không muốn vào nhà. Đọc dụ ngôn của bài Phúc Âm
Chúa Nhật tuần này và đọc những lời Chúa Giêsu lập lại t́nh yêu nhân hậu
của Người với con người thời đại ngày nay, chúng ta thấy rằng con người
không thể nào hư đi được, trừ phi họ không chấp nhận t́nh thương của
Ngài, tức xúc phạm đến chính bản tính trọn lành của Ngài, xúc phạm đến
Thánh Linh, một tội không thể tha thứ được cả đời này lẫn đời sau (x Mt
12:32).
“Nếu con
cảm thấy ḿnh yếu đuối và bất lực, chính là v́ Cha đă mặc cho con đức
khiêm hạ của một vị Thiên Chúa bị đóng đanh” (18/12/1967)
“Hăy dâng
cho Cha nhân tính của con. Cha lại đă chẳng mặc lấy nó khi v́ yêu thương
mà làm người hay sao? Cha sẽ mặc cho con thần tính của Cha để con yêu
mến Cha bằng t́nh yêu của các thần trời” (10/4/1967)
“Cha không
phải là một Thiên Chúa kềm kẹp con, mà là một Thiên Chúa làm cho con
hoàn toàn phát triển theo ánh sáng của ḷng con ưng thuận trước những ơn
soi động của Cha. Ngay cả khi Cha muốn con nên trọn lành, trong khi đó
t́nh yêu của con vẫn cứ bất toàn, th́ hỡi con nhỏ của Cha, Cha lại đă
chẳng mặc lấy nhân tính của con làm như của Cha hay sao?... Ngày gặp đêm
rồi mất hút trong đêm thế nào. Cũng vậy, từ ánh sáng mà ra, linh hồn đi
sâu vào tăm tối. Thế nhưng, ân sủng phát sinh một ngày mới c̣n tươi sáng
hơn cả ngày trước đó, v́ nó giải cứu linh hồn khỏi bóng đêm phong tỏa
linh hồn” (19/8/1967).
Qua dụ ngôn
người con phung phá và người cha nhân lành này, cũng như qua những lời
mạc khải tư hiện đại rất hợp với mạc khải Phúc Âm vừa được trích dẫn,
tôi cảm nghiệm được những điều sau đây:
1) Tột
đỉnh của t́nh yêu chính là t́nh thương, v́ yêu mà không thương sẽ đi đến
chỗ vị kỷ và chia rẽ (kỳ thị hay ly dị) một khi đối tượng được yêu không
c̣n hợp với ḿnh nữa, trái lại t́nh thương sẽ biến chủ thể yêu trở thành
đáng thương hơn đối tượng được thương, tới nỗi, làm cho chủ thể yêu hoàn
toàn hiệp thông với đối tượng yêu.
2) Nếu
t́nh thương là chân dung đích thực của t́nh yêu như thế th́ t́nh thương
không phải là những ǵ hạ giá đối tượng được thương mà c̣n thăng hóa đối
tượng thương đến độ thậm chí đối tượng được thương c̣n trở thành cao quí
hơn cả chủ thể thương, một chủ thể hiến mạng sống ḿnh cho đối tượng
được thương.
3) Trong
Cựu Ước, vị Thiên Chúa đă tỏ ḿnh ra cho dân Do Thái biết rằng Ngài là
Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, cũng được Ngài chứng thực chân lư cứu
độ bằng t́nh thương bao la vô đối của Ngài, một t́nh thương thể hiện qua
việc Ngài trung thành cho đến cùng những ǵ Ngài đă tự hứa với tổ phụ
của dân tộc này, dù dân tộc này liên lỉ bất trung với Ngài. Như thế,
t́nh thương không phải là dung nhan đích thực của Vị Thiên Chúa chân
thật duy nhất hay sao.
4) Vị
Thiên Chúa chân thật duy nhất đă hoàn toàn tỏ hiện dung nhan đích thực
của ḿnh ra trên thế gian này qua Lời Nhập Thể Tử Giá, và chỉ nh́n lên
Dung Nhan Thần Linh không c̣n h́nh tượng con người này loài người tội
nhân mới được cứu độ (x Jn 3:14), mới được hiệp thông với Đấng đă yêu
thương họ đến ban Con Một ḿnh, Đấng yêu thương con người khi họ c̣n là
thành phần tội nhân đáng phạt, thậm chí Ngài đă yêu thương con người tội
nhân đáng phạt này đến phó nạp Con ḿnh (x Rm 5:8;8:32).
5) Đó là
lư do tội phạm đến Thiên Chúa nhất đó là tội không tin tưởng vào ḷng
thương xót của Ngài, một tội không thể thứ tha (x Mt 12:32) và là một
tội xúc phạm đến Thiên Chúa nhất, chẳng khác ǵ như lưỡi đ̣ng đâm thâu
qua cạnh sườn vị Thiên Chúa làm người đă tử giá mà vẫn c̣n những con
người tự do không chấp nhận t́nh thương của Thiên Chúa, tức không nh́n
nhận chân dung của Ngài, hay không chấp nhận Chúa Giêsu Kitô cũng vậy.
6) Nếu
Thiên Chúa chân thật duy nhất là Vị Thiên Chúa cứu độ (x Lk 1:47), Vị
Thiên Chúa của ḷng xót thương (x Lk 1:54-55), Vị Thiên Chúa đă thực sự
và hoàn toàn tỏ chân dung của Ngài ra nơi Lời Nhập Thể Tử Giá, và nếu "sự
sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng
Cha sai là Đức Giêsu Kitô" (Jn 17:3), th́ sự chết đời đời là ở chỗ không
tin vào một Vị Thần Linh có thể yêu thương con người, đến chẳng những
hóa thân làm người như họ mà c̣n hiến mạng sống ḿnh cho họ.
7) Linh
đạo chính yếu của Kitô hữu là ở chỗ yêu thương hơn là lễ vật và việc
lành: "Khi các con đến bàn thờ dâng của lễ mà chợt nhớ rằng anh em có
điều ǵ với các con th́ các con hăy bỏ của lễ đó mà về làm ḥa cùng anh
em các con trước đă rồi hăy đến dâng lễ vật" (Mt 5:23-24); "các người
hăy đi học cho hiểu ư nghĩa của điều này là Ta mong muốn ḷng xót thương
chứ không phải hy tế" (Mt 9:13). Đứa con cả luôn ở gần cha, luôn làm
việc cho cha và giữ tất cả những ǵ cha muốn, nhưng chỉ v́ không có ḷng
thương xót như cha, nên vẫn không hiệp thông với cha, vẫn là một đứa con
hoang đàng, c̣n đáng thương hơn cả đứa em phung phá nhưng lại biết tin
vào ḷng thương xót của cha và trở về với cha vậy!
|
|