Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

 

 

 

ĐỰƠC CHỌN GIỮA LOÀI NGƯỜI
VÀ CHO LOÀI NGƯỜI  (x. Dt, 5.1)

 

GIÁO SĨ:

Xuất phát từ giáo dân, hiện diện vì giáo dân và cậy dựa vào giáo dân

 

ĐỂ CÙNG LÀM VINH DANH THIÊN CHÚA

 

www.conggiaovietnam.net                          giaosivietnam@gmail.com

Đặc San Điện Tử    Giáo Sĩ Việt Nam    Số 89, Chúa Nhật 22.03.2009


MỤC LỤC 

Các Bí Tích Khác Và Các Á Bí Tích                                                                           Vatican 2

MÔI TRƯỜNG, CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ, VÀ THỰC HÀNH HTXH  (BÀI CUỐI)                      Br. Huynhquảng

VẤN ĐỀ TIỀN BẠC TRONG ĐỜI SỐNG TẬN HIẾN (Chứng từ Ơn gọi, BÀI 4)                  Gs. Trần Văn Cảnh

ĐẸP THAY 70 NĂM SỐNG ĐỜI TẬN HIẾN !                                           Lm. Anmai, C.Ss.R.

THA THỨ, CON ĐƯỜNG TẮT DẪN ĐẾN BÌNH AN VÀ HẠNH PHÚC      Gioan Lê Quang Vinh

ĐI TÌM MÔ THỨC GIẢI QUYẾT NHỮNG BẤT ĐỒNG                                              Trần Hiếu

Đi lễ                                                                                                           TRẦM THIÊN THU

GIỌNG NÓI                                                                                              Lm. Lê Văn Quảng

BỨC TƯỜNG ĐÁ                                                                                       Nhà Văn Quyên Di

NGƯỜI NỮ TU SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN  (tiếp theo)                     Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss 

THƯỢNG THỔ, HẠ TẢ                                                                          Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

NỖI KHỔ -                                                                                  Chuyện phiếm của Gã Siêu


Các Bí Tích Khác Và Các Á Bí Tích

Hiến Chế Về Phụng Vụ Thánh

Sacrosanctum Concilium

 

Bản dịch Việt Ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

 

Chương III

Các Bí Tích Khác Và Các Á Bí Tích

 

59. Bản tính các bí tích. Các Bí Tích có mục đích thánh hóa con người, xây dựng thân thể Chúa Kitô, và sau cùng là thờ phương Thiên Chúa. Tuy nhiên, là những dấu chỉ, các Bí Tích còn giữ vai trò giáo huấn nữa. Không những các Bí Tích giả thiết phải có đức tin, mà còn dùng lời nói và sự vật để nuôi dưỡng, củng cố và diễn tả đức tin đó. Do đó, được gọi là các Bí Tích Ðức Tin. Thực ra các Bí Tích ban ân sủng, nhưng việc cử hành các Bí Tích còn là việc chuẩn bị các tín hữu đón nhận ân sủng đó một cách hữu hiệu để thờ phượng Chúa đúng cách và để thực thi đức bác ái.

Do đó, việc rất quan trọng là làm sao cho các tín hữu dễ dàng hiểu được những dấu chỉ của các Bí Tích, và hết sức siêng năng lui tới đón nhận các Bí Tích, là những Bí Tích được lập ra để nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu.

60. Các á bí tích. Ngoài ra, Giáo Hội Mẹ Thánh còn thiết lập những Á Bí Tích. Ðó là những dấu chỉ thánh, vì một phần nào phỏng theo những Bí Tích, nhờ đó biểu trưng những hậu quả - nhất là những hậu quả thiêng liêng - và thông ban hậu quả đó nhờ sự bầu cử của Giáo Hội. Nhờ các Á Bí Tích ấy, con người được chuẩn bị lãnh nhận hậu quả chính yếu của các Bí Tích và thánh hóa những hoàn cảnh khác biệt trong cuộc sống.

61. Phụng vụ các Bí Tích và Á Bí Tích. Vì thế, phụng vụ các Bí Tích và Á Bí Tích mang lại những hiệu quả này là: đối với các tín hữu đã được chuẩn bị chu đáo, thì hầu hết mọi biến cố trong đời sống sẽ được thánh hóa nhờ thánh ân xuất phát từ mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô chịu thương khó, chịu chết và sống lại, vì Người là nguồn mạch ban năng lực cho tất cả các Bí Tích và Á Bí Tích. Hầu như không có việc xử dụng của cải vật chất một cách chính đáng nào lại không có thể đưa tới mục đích thánh hóa con người và ca khen Thiên Chúa.

62. Canh tân nghi thức. Tuy nhiên, trải qua các thời đại, có một số yếu tố đã len lỏi vào các nghi thức Bí Tích và Á Bí Tích khiến cho bản chất và mục đích kém phần rõ ràng đối với thời đại chúng ta. Vậy cần phải thích nghi vài yếu tố trong các nghi thức đó cho hợp với nhu cầu của thời đại chúng ta; nên trong việc duyệt xét lại những nghi thức ấy, Thánh Công Ðồng quyết định các điều sau đây.

63. Ngôn ngữ. Bởi vì việc dùng tiếng bản quốc trong khi cử hành Bí Tích và Á Bí Tích, nhiều lúc có thể rất hữu ích cho dân chúng, nên sẽ dành cho nó một địa vị rộng rãi hơn, theo những qui tắc sau đây:

a) Tiếng bản quốc có thể được xử dụng trong khi cử hành các Bí Tích và Á Bí Tích theo qui tắc khoản 36.

b) Theo ấn bản mới của Sách Nghi Lễ Roma, Thẩm Quyền Giáo Hội địa phương phải soạn thảo càng sớm càng hay các sách nghi lễ riêng biệt thích nghi với nhu cầu từng miền, cả về phương diện ngôn ngữ, như đã bàn trong khoản 22-2 của Hiến Chế này. Sau khi đã được Tông Tòa duyệt y, các sách này sẽ được xử dụng trong những miền đã soạn thảo. Trong việc soạn thảo các sách nghi lễ này, hay những sách đặc biệt thu tập các nghi lễ, không được bỏ quên những huấn thị ghi ở đầu từng nghi lễ trong Sách Nghi Lễ Roma, dù là huấn thị về mục vụ, về qui tắc chữ đỏ, hay những huấn thị có giá trị xã hội đặc biệt.

64. Lớp dự tòng. Phải cải tổ lớp dự tòng cho người lớn, theo nhiều giai đoạn, và việc thực hiện phải tùy theo phán quyết của Ðấng Bản Quyền địa phương. Nhờ đó, thời gian dự tòng ấn định cho việc huấn luyện tương xứng có thể được thánh hóa bởi những nghi lễ thánh cử hành trong những thời gian kế tiếp nhau.

65. Canh tân nghi lễ rửa tội. Trong các xứ truyền giáo, ngoài những yếu tố đã có trong truyền thống Kitô giáo, cũng còn được phép công nhận những yếu tố nhập giáo khác vẫn thấy xử dụng nơi mỗi dân tộc, miễn là các yếu tố đó có thể thích ứng với nghi lễ Kitô giáo, theo qui tắc khoản 37-40 của Hiến Chế này.

66. Nghi lễ Rửa Tội người lớn. Phải duyệt lại hai nghi lễ Rửa Tội người lớn, một nghi thức đơn giản và một nghi thức trọng thể tùy theo tổ chức dự tòng được cải tổ lại; và sẽ đem vào Sách Lễ Roma một lễ đặc biệt trong dịp "ban phép Rửa Tội".

67. Nghi lễ Rửa Tội trẻ nhỏ. Phải duyệt lại nghi lễ Rửa Tội trẻ nhỏ, và thích nghi với thực trạng của trẻ sơ sinh. Hơn nữa, vai trò và bổn phận của cha mẹ cũng như những người đỡ đầu phải được nêu rõ hơn trong chính nghi thức đó.

68. Khi có đông người chịu phép Rửa Tội. Khi có đông người chịu phép Rửa Tội, thì trong nghi lễ nên có những thích ứng tùy theo phán quyết của Ðấng Bản Quyền địa phương. Ngoài ra còn phải soạn thảo một nghi thức ngắn hơn, để các thầy giảng, nhất là trong các xứ truyền giáo, và cách chung các tín hữu có thể xử dụng trong trường hợp nguy tử khi vắng mặt linh mục hay các thầy phó tế.

69. Nghi thức bổ túc. Thay vì nghi lễ gọi là "nghi thức bù các phép cho các trẻ nhỏ đã rửa tội", phải soạn thảo một nghi lễ mới, trong đó nói lên rõ ràng và thích hợp hơn về điểm này là đứa nhỏ được rửa tội theo nghi thức vắn tắt cũng được nhận vào Giáo Hội rồi.

Cũng thế, phải soạn thảo một nghi thức mới cho những người trước kia đã chịu phép Rửa Tội thành sự, mà nay trở lại đạo thánh Công Giáo, trong đó nêu lên ý nghĩa việc họ được chấp nhận, được hiệp thông với Giáo Hội.

70. Ngoài mùa Phục Sinh. Ngoài mùa phục sinh, có thể làm phép nước rửa tội ngay trong nghi lễ rửa tội, theo một công thức vắn tắt hơn đã được chuẩn nhận.

71. Canh tân nghi lễ thêm sức. Cũng phải duyệt lại nghi lễ Thêm Sức để làm sáng tỏ hơn mối dây liên lạc mật thiết của Bí Tích này với toàn thể nghi lễ nhập Kitô giáo. Vì thế, nên lập lại lời hứa rửa tội ngay trước khi nhận lãnh Bí Tích Thêm Sức.

Nếu thấy tiện, thì Bí Tích Thêm Sức có thể cử hành trong Thánh Lễ. Còn khi cử hành ngoài Thánh Lễ, phải lo soạn thảo một công thức để mở đầu nghi lễ.

72. Canh tân nghi lễ Giải Tội. Nghi Lễ và công thức Bí Tích Giải Tội phải được duyệt lại để diễn tả rõ ràng hơn bản tính và hiệu quả của Bí Tích này.

73. Canh tân nghi lễ Xức Dầu Bệnh Nhân. "Bí Tích Xức Dầu sau hết" hay đúng hơn còn có thể gọi "Bí Tích Xức Dầu bệnh nhân" không phải là Bí Tích dành riêng cho những người hấp hối. Dĩ nhiên, thời gian thuận tiện để nhận Bí Tích này chắc chắn là lúc tín hữu bắt đầu nguy tử vì bệnh tật hay già yếu.

74. Nghi lễ liên tục. Ngoài hai nghi lễ tách biệt nhau là Xức Dầu Bệnh Nhân và Trao Của Ăn Ðàng, phải soạn thảo một bản nghi lễ liên tục, theo đó sẽ xức dầu bệnh nhân sau khi xưng tội và trước khi nhận của ăn đàng.

75. Các lời nguyện trong nghi lễ xức dầu bệnh nhân. Xức dầu mấy chỗ là việc tùy nghi, và các lời nguyện đọc trong nghi lễ xức dầu bệnh nhân phải được duyệt lại sao cho thích ứng với từng trường hợp của bệnh nhân khi nhận lãnh Bí Tích này.

76. Canh tân nghi lễ Truyền Chức Thánh. Các Nghi Lễ Phong Chức phải được duyệt lại cả về nghi thức lẫn bản văn. Những lời huấn dụ của Ðức Giám Mục ở đầu mỗi nghi lễ phong chức hay tấn phong có thể dùng tiếng bản quốc.

Trong Nghi Lễ Tấn Phong Giám Mục, tất cả các Giám Mục hiện diện đều có thể đặt tay.

77. Canh tân nghi lễ Hôn Phối. Nghi lễ cử hành Hôn Phối, hiện có trong sách nghi lễ Roma, phải được duyệt lại và làm phong phú hơn, để ý nghĩa ân sủng của Bí Tích này được thêm rõ ràng và nhấn mạnh hơn nữa bổn phận của hai vợ chồng.

"Nếu ở miền nào có những tập tục và nghi lễ xứng đáng khác trong khi cử hành Bí Tích Hôn Phối, thì Thánh Công Ðồng tha thiết mong ước họ cứ giữ nguyên những tập tục và nghi lễ đó" 1.

Ngoài ra, Thẩm Quyền Giáo Hội địa phương, như đã bàn trong khoản 22?2 của Hiến Chế này, có quyền soạn thảo, theo qui tắc khoản 63, một nghi lễ riêng, thích hợp với tập quán của các địa phương và các dân tộc. Tuy nhiên, phải duy trì luật này là vị linh mục chủ tọa phải hỏi và nhận lời ưng thuận của đôi bên giao ước.

78. Thánh lễ cử hành Bí tích Hôn Phối. Theo thường lệ, Hôn Phối phải cử hành trong Thánh Lễ, sau bài Phúc Âm và bài giảng và trước "lời nguyện giáo dân". Lời nguyện cho người vợ phải được tu chỉnh hợp thời để nhấn mạnh cả hai vợ chồng cùng có bổn phận phải trung tín với nhau. Lời nguyện này có thể đọc bằng tiếng bản quốc.

Nhưng nếu Bí Tích Hôn Phối cử hành không Thánh Lễ, thì phải đọc bài Thánh Thư và Phúc Âm của Lễ Hôn Phối trước khi bắt đầu nghi lễ và luôn luôn phải chúc lành cho đôi tân hôn.

79. Canh tân các á bí tích. Phải duyệt lại các Á Bí Tích, chú ý tới các qui tắc căn bản này, là làm sao cho các tín hữu dễ dàng tham dự một cách ý thức và linh động, lại cũng phải lưu tâm tới những nhu cầu của thời đại chúng ta. Trong khi duyệt lại các nghi thức theo qui tắc khoản 63, cũng có thể thêm các Á Bí Tích mới tùy theo nhu cầu đòi hỏi.

Sẽ có rất ít các nghi lễ làm phép dành riêng, và khi đó chỉ ưu tiên cho các Giám Mục và các Ðấng Bản Quyền thôi.

Phải dự liệu để những giáo dân nào có đủ các đức tính thích hợp, đều có thể cử hành một vài Á Bí Tích, ít là trong những hoàn cảnh đặc biệt và tùy theo phán đoán của Ðấng Bản Quyền. 7*

80. Canh tân nghi lễ Khấn Dòng. Nghi Lễ Thánh Hiến các Trinh Nữ, đã có trong Sách Nghi Lễ Giám Mục Roma, phải được duyệt lại.

Ngoài ra, phải soạn thảo một nghi lễ khấn dòng và tuyên lại lời khấn sao cho có tính cách duy nhất hơn, đơn giản hơn và trang nghiêm hơn. Những ai khấn dòng hay tuyên lại lời khấn trong Thánh Lễ, phải dùng nghi thức này, trừ khi có đặc quyền riêng.

Việc khấn dòng cử hành trong Thánh Lễ là một điều đáng khen ngợi.

81. Canh tân nghe lễ An Táng. Nghi lễ an táng phải diễn tả rõ ràng hơn tính cách phục sinh của cái chết Kitô hữu, và phải đáp ứng hơn nữa những hoàn cảnh và truyền thống của từng miền, ngay cả về màu sắc phụng vụ.

82. Nghi lễ an táng nhi đồng. Phải duyệt lại nghi lễ an táng nhi đồng và lập một Thánh Lễ riêng.

 


Chú Thích:

1 CÐ Trentô, khóa XXIV, 11-11-1563, de reformatione, ch. 1: Conc. Trid., x.b. đã trích, IX. Actorum phần VI, Friburgi Brisgoviae 1924, trg 969. Xem Rituale Romanum, tiết VIII, ch II, số 6.

7* Một vài Nghị Phụ đã lấy ví dụ các bậc cha mẹ có thể ban phép lành cho con cái.

VỀ MỤC LỤC
IX. MÔI TRƯỜNG, CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ, VÀ THỰC HÀNH HTXH (311- 369) (HỌC THUYẾT XÃ HỘI BÀI X - BÀI CUỐI)

  

IX. Môi Trường, Cộng Đồng Quốc Tế, và thực hành HTXH (311- 369) 

101. Kinh Thánh nói lên ý nghĩa của môi trường như thế nào? 

Sách Sáng Thế đoạn 1 câu 25 miêu tả, “Và Thiên Chúa thấy tất cả đều tốt đẹp.” Những lời này của trang đầu Kinh Thánh tỏ cho chúng ta thấy ý nghĩa của những gì Thiên Chúa đã làm, và sau đó chính Ngài đã trao đặc quyền cai quản mặt đất cho con người (cf. St 2:15). Điều này cho thấy mỗi con người đều có một trách nhiệm cụ thể trong lãnh vực môi trường sinh thái. Con người có trách nhiệm với môi trường mà Thiên Chúa ban cho họ nhằm để phẩm giá và sự sống của họ được hoàn thiện trong chính môi trường ấy. Con người có trách nhiệm bảo vệ môi trường không chỉ giới hạn trong hiện tại, nhưng cũng còn có trách nhiệm đối với thế hệ tương lai (cf. Evangelium Vitae, # 42). Vậy khi chu toàn bổn phận này, con người có khả năng vượt qua lối sống ích kỷ là nguyên nhân dẫn tới việc huỷ diệt những tài nguyên tự nhiên (cf. Ecclesia in America, # 25). 

102. Thế giới hôm nay phải đối diện những vấn đề môi trường như thế nào? 

Thực tế cho thấy, hậu quả của việc khai thác các nguồn tài nguyên một cách bừa bãi với một tinh thần thống trị tuyệt đối đã gây ra mối nguy hại vô cùng nghiêm trọng không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho thế hệ tương lai. Tất cả chúng ta đều nhìn thấy hậu quả trực tiếp hay gián tiếp của nền công nghiệp hoá. Chúng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và tác hại nghiêm trọng cho sức khoẻ con người (cf. Sollicitudo Rei Socialis, # 34). Như thế, việc phát triển công nghiệp mà thiếu ý thức về môi trường thì góp phần vào việc huỷ diệt hơn là xây dựng.  

103. Môi trường có liên quan đến đạo đức không? 

Thưa có, chúng ta cần nhớ rằng, quyền cai quản mà Thiên Chúa ban tặng cho con người không phải là một quyền tuyệt đối; cũng không phải là sự tự do muốn thì dùng không muốn thì bỏ đi như ý mình. Nhưng ngay từ đầu, Thiên Chúa đã đặt con người trong giới hạn của loài thọ tạo bằng hình ảnh không được ăn trái cấm (cf. Gn 2:16-17). Như vậy, vấn đề môi trường không chỉ đơn thuần là vấn đề sinh học, nhưng cũng là vấn đề luân lý, đạo đức (cf. Sollicitudo Rei Socialis, # 34). 

104. Nguyên nhân sâu xa của sự huỷ diệt môi trường do từ đâu? 

Trong tâm thức của con người hôm nay mang hai nỗi âu lo. Một mặt họ lo lắng về vấn đề môi trường, mặt khác họ cũng lo lắng về sự an toàn hưởng thụ của họ. Con người hôm nay muốn sở hữu và hưởng thụ hơn là muốn lớn lên trưởng thành. Con người sử dụng các nguồn thiên nhiên và bản thân họ một cách thái quá và rối loạn. Thực ra cốt lõi của sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên bắt nguồn từ sự nhận thức sai lầm của loài người; nhưng thật không may điều này ngày càng lan rộng trong thời đại chúng ta. Con người nhận thức rằng mình có khả năng để cải tạo thế giới nhưng họ lại quên rằng khả năng này phải dựa vào Thiên Chúa. Chính vì thế, thay vì thực hiên vai trò là người cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo dựng, con người lại muốn thế chỗ Thiên Chúa; họ muốn áp đặt hơn là phục tùng Người (cf. Centesimus Annus, # 37). Đó chính là nguyên nhân sâu xa của thảm trạng cho môi trường của thế giới loài người hôm nay. 

105. Môi trường liên quan đến phẩm giá con người ra sao? 

Việc thúc đẩy phẩm giá con người liên quan đến việc tái tạo một môi trường lành mạnh. Vì thực ra quyền này nêu bật tính đa dạng của mối quan hệ giữa mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội. Thế giới hiện tại và tương lai phụ thuộc vào sự ổn định môi trường, bởi vì con người và môi trường có một mối liên hệ vô cùng chặt chẽ. Đặt con người vào trung tâm của những vấn đề môi trường là cách thức chắc chắn nhất để ổn định môi trường (cf. World Day of Peace Message, 1999, # 10)

Br. Huynhquảng

VỀ MỤC LỤC
VẤN ĐỀ TIỀN BẠC TRONG ĐỜI SỐNG TẬN HIẾN (CHỨNG TỪ ƠN GỌI, BÀI 4)
 

Paris. Chủ nhật 15 tháng 03 năm 2009, tại Giáo Xứ Việt Nam, thầy Nguyễn Quốc Tuấn (1), dòng Tên (2), nói chuyện với cộng đoàn về đề tài : « Vấn đề tiền bạc trong đời sống tận hiến ». Đây là đề tài học hỏi thứ bốn trong chương trình « chứng từ ơn gọi », được thực hiện vào mỗi chủ nhật thứ hai mỗi tháng, trong « Năm cầu cho ơn gọi 2009 » tại GXVN Paris.

Chứng từ ơn gọi, bài 1, đã được cha Nguyễn Bình chia sẻ vào chủ nhật 14.12.08 về vấn đề «Làm sao biết Chúa gọi mình» ?

Chứng từ ơn gọi bài 2, đã được cha Phan Tấn Khánh chia sẻ vào chủ nhật 11.01.2009 về đề tài « Tự do trong đời sống tận hiến ».

Chứng từ ơn gọi bài 3, đã được chị Maria Vũ Thị Minh chia sẻ vào chủ  nhật 08.02.2009 về đề tài « Đời sống siêu nhiên của người tận hiến ». 

Sau Phúc Âm, thầy Nguyễn Quốc Tuấn, đã theo lời mời của Đức Ông Mai Đức Vinh, lên chia sẻ với cộng đoàn. Thầy nói (3) : 

A. Tiền: hiện tượng của con người  

Ở đây, con sẽ không vạch lai lịch sử của đồng tiền mà con người đã phát minh ra. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng con người đã sử dụng nhiều đồ vật như là phương tiện trao đổi: Vỏ ốc, sắt, muối, trâu bò…. rồi đến tiền kim loại (trong ngôi đền Tunon Moneta ở Roma, người ta tìm thấy từ “tiền” vàng).

Sau đó, để tiện lợi cho việc trao đổi thương mại, người ta đã chuyển từ tiền kim loại sang tiền giấy. Không có cái gì quen thuộc hơn tiền, vì tiền được sử dụng hàng ngày, tuy nhiên chẳng ai muốn nói tới tiền, vì đó là một chủ đề cấm kỵ (tabou). Tiền vừa là thứ được yêu thích, vừa là thứ gây mặc cảm.

Trước hết, Tiền mang chiều kích tương giao: tương giao trực tiếp với người bán khi chúng ta mua hàng; tương giao với tất cả xã hội, vì người bán hàng không thể chấp nhận tiền của chúng ta nếu như đồng tiền ấy không thể trao đổi được với những người khác. Chấp nhận được trả bằng tiền, đó là tin tưởng vào một phương tiện trao đổi, được nhìn nhận là có giá trị đối với mọi thành viên trong cộng đồng. Đó là sự « tín nhiệm » toàn cầu ( vì kỳ hạn không xác định. Bởi vì tiền có thể đo lường và mua được mọi thứ, tiền được xem như tác vật cần thiết không thể thiếu dược). Tuy nhiên cũng nên nhớ là tiền không thêm gì vào các thành phần căn bản, nhất là vào công việc. Tiền không thể thay thế được bất cứ nhu cầu nào. Người ta không thể sống bằng những con số tiền ở nbân hàng, nhưng bằng bánh và Lời Chúa. Tiền không thể làm cho lúa lớn lên được, ngược lại, nó lại làm tăng thêm hiệu quả của công sức con người trong tương quan với thiên nhiên.

Triết gia Aristote đã nhìn đồng tiền như một thứ quan toà so sánh, nó xem xét các đồ vật, những hành động thuộc bản chất khác nhau. Trao đổi các sự vật khác nhau không cho phép ông dám chắc sự trao đổi tương xứng và công bằng. Trái lại, tiền - một đơn vị tài khoản được khách quan hoá qua biểu trưng con số - cho phép thực hiện sự công bằng này. Như thế, tiền cho phép giải quyết nợ nần và có được sự tự do. Dù là hàng hoá gì đi nữa, khi tôi trả tiền, tôi không còn mắc nợ. Điều này không có ý diễn dịch sự tự chủ do tiền mang lại thành một thứ cá nhân chủ nghĩa. Tự chủ là điều cần thiết cho nhân phẩm của con người. Chính vì tôi thoát khỏi nợ nần với người anh em của tôi, nên tôi mới có thể mang tới cho người anh em ấy một tương giao vô điều kiện. Cũng thế, “ Của ai thì trả lại cho người ấy ” (Rm13,7) là một vấn đề công bình mà thánh Phao lô diễn tả trong hạn từ trả tiền, sự công bình này là một cách thức cụ thể của lòng bác ái.

Tuy nhiên trong Tin Mừng có viết: “ Anh em không thể cùng làm tôi hai chủ, vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6,24) và “cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc” (1Tim 6,10). Là một hiện tượng nhân sinh, tiền không bao giờ hoàn toàn có tính khách quan. Vì mang chiều kích tương giao, nên tiền mang tiềm ẩn những điểm mơ hồ, nước đôi. Chúng ta có thể nêu ra 3 điểm:

Tiền: chỗ nương tựa không vững chắc chắn

Tiền: một thước đo lường sai.

Tiền: với sự quyến rũ của Tiền Của: nguy cơ bị  Thần tiền tài ( Mammon ) chế ngự. 

1. Tiền: nơi nương tựa không chắc chắn.

“Đồ ngốc, nội đêm nay người ta sẽ đòi mạng ngươi, thì những gì ngươi đã sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” (Lc 12,20). Câu hỏi của chính Thiên Chúa đòi buộc chúng ta chất vấn và tự hỏi về giá trị thực sự của tiền bạc.

Một trong những mưu mẹo chính của con người biểu lộ qua đồng tiền là muốn thoát khỏi tình trạng và thân phận của mình : con người muốn đánh lừa thân phận hữu hạn của mình, với ý định thoát ra khỏi thân phận này mà không cần người khác, hoặc nói đúng hơn phải hơn ngưới khác. Tôi muốn một cuộc sống không phụ thuộc vào ai. Giống như mọi sự lừa dối, Tiền tồn tại và có sức sống là từ sự tưởng tượng của người mang nó. Đó chính là một mong muốn nắm lấy mọi khả thể trong tương lai cho dù còn chưa biết tới, bởi vì tôi muốn làm chủ cái tương lai ấy. Tôi nói không với thực tế bằng cách muốn tự mình thoát ra. Thế mà, nói vâng với Thiên Chúa sẽ là nói vâng với thực tại, với tương lai của cả người khác.

Hơn nữa, tiền không đồng nghĩa với giầu có. Do đâu mà có sự nhầm lẫn này? bởi vì tiền là một sự trao đổi phổ quát, nó tạo ra một ảo tưởng quyền lực thực thi tức thời. Nó xoá đi khoảng cách giữa con người và đối tượng mà con người mong muốn. Tiền tạo ra ảo tưởng về súc mạnh toàn năng. Thực tế thì vừa tương đồng, vừa dị biệt. Tương đồng, vì mọi người đều có thể đổi tiền lấy hàng hoá với giá trị được ấn định (tính ngay lập tức). Dị biệt, vì kinh nghiệm cho thấy rằng sức mua của đồng tiền bị suy yếu khi tỷ lệ giá lên cao (giá trị bất thường, niềm tin tương đối). (trường hợp tệ nhất là một ngân phiếu không còn giá trị gì!). Như thế, tiền không thể đảm bảo sự sung túc. Ví dụ: Trên con thuyền giữa đại dương, khi người ta không còn gì để ăn, thì một túi ngân phiếu cũng không giúp ích được gì.

2. Tiền: một thước đo lường sai.

Tiền giúp làm trung gian, từ đó có hiệu quả trao đổi thương mại. Nhưng tính khách quan hiển nhiên của sự trao đổi qua đồng tiền ẩn giấu những tương quan của con người bên dưới những tương quan của các sự vật đong đếm được. Sự trừu xuất này có thể được diễn tả qua câu nói “tiền không có mùi”. Thực thế, việc đo lường dựa trên sự nhầm lẫn về tính khách quan của trao đổi tiền bạc biểu lộ, hoặc qua sự đồi bại của ước muốn, hoặc qua việc tích luỹ vô đáy.

Tha hoá trong ước muốn. Tiền như là một phương tiện thanh toán gây ra ảo tưởng về một “quyền lực giải phóng”. Việc chiếm hữu tiền tạo ra khả năng không còn cần đến ai nữa. Nỗi ám ảnh về tiền biểu hiện qua nỗi lo lắng không còn bị phụ thuộc vào bất cứ ai, điều này làm mất khả năng gặp gỡ một cách thực sự với người khác, và cả với chính Thiên Chúa nữa.

Biến từ tương quan giữa con người với nhau thành tương quan giữa các đồ vật, tiền làm giảm đi sự đụng chạm của những ước muốn riêng tư, qua việc giảm thiểu chỉ còn vào khía cạnh tiền tài. Con người có giá trị theo thước đo của đồng tiền. Khách quan hoá ước muốn này, tiền là kẻ lừa dối. Thần Tiền tạo ra ảo giác rằng khi có tiền, tôi có thể có được mọi thứ, mọi ước muốn sẽ được thoả mãn, qua đó, tiền làm cho chúng ta thành nô lệ. Ơn huệ và tính nhưng không bị đào thải. Như thế con người quên mất ước muốn căn bản đầu tiên là sự sống, mà sự sống là một ơn nhưng không đã được trao ban từ khởi đầu, từ lúc được sinh ra.

Tích luỹ vô đáy. Tích luỹ tiền tài tạo ra nơi người giầu cảm giác tự đủ, một sự bảo đảm chống lại tất cả mọi sự túng bấn. Hình ảnh minh hoạ ở đây là người giầu xây thêm kho lương cho mình và nghĩ rằng có thể tận hưởng phần còn lại của đời mình (Lc 12,19). Tiếc thay, cái lý luận về số lượng lại tạo ra sự rầu rĩ và một lương tâm bất an.

Rầu rĩ, bởi vì dù với lượng tiền lớn, người ta nhận thấy rằng điều căn bản vẫn thoát khỏi tâm tay (cuộc sống, sức khoẻ, tình yêu). Lương tâm bất an, là vì người công giáo ý thức rằng món nợ đối với tha nhân thì không bao giờ trả xong : ví dụ như đối với cha mẹ. Rầu rĩ và lương tâm bất an có họ hàng với nhau, vì chúng cùng là con của ước muốn bị tha hoá, ước muốn này muốn tìm thấy câu trả lời căn bản của mình qua việc tích luỹ tiền tài.

 3. Tiền: nguy cơ do sự quyến rũ của Tiền Của, và bị  Thần tiền tài ( Mammon ) chế ngự

Một mặt do sợ thiếu tiền, mặt khác do con người từ chối đặt niềm tin vào người khác và vào chính Thiên Chúa. Hai yếu tố này đẩy con người tới chỗ tha hoá chính mình trước Thần Tiền.

Khi thiếu tiền. Lo lắng và sợ hãi rình rập. Người ta lo lắng điều gì ? Đó chính là sợ bị xấu hổ, sợ bị làm nhục, sợ bị loại bỏ, sợ thinh lặng. Người ta không dám nhìn thẳng vào người trước mặt. thậm chí có người còn nghĩ rằng mình không đáng sống. Khi thiếu tiền, người nghèo chỉ còn biết thinh lặng về sự túng bấn. Jacques Loew nói « người nghèo là người không bao giờ có tiếng nói ». Sự túng bấn cho thấy mất tính người, nó làm mất đi bảo đảm tương quan xã hội, nó không cho phép người ta tìm thấy nhân phẩm trong ánh mắt người khác. Dụ ngôn người con hoang đàng (Lc 15, 13-14) cho chúng ta thấy rằng thái độ tiêu xài là thiếu trách nhiệm, một sự hoang phí dẫn tới hậu quả chết chóc. Tuy nhiên, dụ ngôn này cũng dạy cho chúng ta thái độ tin tưởng hạ mình để xin. Khi người con thứ quay về với người cha của mình, cậu ta đã tìm thấy nơi người cha sự đón nhận và tha thứ.

Câu nói của thánh Ambrosio thành Milan thật mãnh liệt : « anh cho người nghèo không phải tiền của anh, nhưng anh hãy trả cho người nghèo phần thuộc về họ, bởi vì tất cả những gì của chung là của mọi người, anh lại lấy làm của riêng. Đất đai là cho mọi người, không phải sở hữu riêng của người giầu ». Thánh Phaolô cũng nói « những gì chúng ta có chẳng phải là chúng ta đã nhận được đó sao ? Như thế, khi người nghèo xin tôi, họ không làm tôi nghèo đi, nhưng là dịp cho tôi thực thi đức Ái. Trước mặt Thiên Chúa, họ là người cho tôi có dịp để học sẻ chia, học cho đi. Cái tôi cho đi không làm tôi mất mát gì nhiều, nhưng đó là dịp để giúp đỡ tha nhân sống và tìm lại phẩm giá của họ. tóm lại, nhờ người nghèo mà tôi có dịp tích luỹ cho mình kho tàng trên trời ».

Con người từ chối tin tưởng nhau và từ chối tin tưởng vào Thiên Chúa. Từ chối xin và từ chối cho, do ích kỷ là hai thái độ từ chối ơn nhưng không, và từ chối sự hiện hữu mà chúng ta phải mang ơn người khác.

Thế mà tiền có thể tạo ra cảm giác rằng tôi không phải mang ơn bất cứ ai, khi có tiền, tôi có cảm tưởng có thể làm điều tôi muốn trong cuộc sống. Quyền lực của đồng tiền làm tiêu tan tính nhưng không của ơn huệ và của bổn phận. Người ta tưởng là được tự do, nhưng thực sự lại là phụ thuộc. Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng con đường tự do duy nhất là phụ thuộc vào Thiên Chúa, và không phải là tự do đối với tiền tài. Tin vào Chúa Giêsu đó là chấp nhận tất cả, là sự mang ơn và biết ơn.

Vâng, tất cả ! Trước hết là mang ơn về chính mình. Phải chấp nhận sự hữu hạn của mình, tôi nhận ra sự nghèo khó của tôi. Người nghèo là người nhận ra rằng họ không có gì để bảo vệ, họ chỉ sống nhờ vào cái họ nhận được. Trong sự tin tưởng, họ đối diện với một tương lai với những điều mới mẻ không thấy trước. Điều mới thậm chí là sự trợ giúp của người vô danh, là chuỗi vô tận những khả thể trao tặng cho người biết đón nhận. Sự tương trợ của người tôi không biết, của tương lai đến với chúng ta qua người khác. Nhờ họ, chúng ta được mời gọi ra khỏi chính mình để đến với những người đến với chúng ta. Như thế, chúng ta mang ơn đối với người khác, với mọi người.

Ngang qua tiền, tương quan giữa con người với nhau được biểu lộ. Tương quan của chúng ta với tiền biểu lộ tương quan của ta với Thiên Chúa và với người khác. Đó là vừa chỗ sâu xa, vừa mơ hồ liên quan tới nhân cách của chúng ta, nó chỉ ra cho chúng ta cách thức đi vào tương quan với người khác trong suốt cuộc đời này. Mối liên hệ thực sự với tiền dao động giữa hai thái độ đối kháng : sự dễ dãi hay nỗi lo sợ thiếu thốn. Thế nên trong đời sống tu trì, lời khấn khó nghèo không phải là vô nghĩa : đó là một lời khấn tận căn của người muốn theo chúa Kitô, đấng mà tiền tài không thể làm hoen ố. Trở nên nghèo khó, đó là được giải thoát khỏi quyền lực làm cho con người bị lệ thuộc. 

B. Những con đường giải thoát 

Thiên Chúa muốn gì nơi chúng ta ? Đó là hạnh phục thực sự. Ngài muốn chúng ta đi vào Giao Ước, chứ không phải là Bò vàng. Mammon là tên gọi mầu nhiệm về tiền, một giá trị biểu trưng sự an toàn tuyệt đối. Nếu không muốn trở thành nô lệ, cách thức duy nhất là phục vụ Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới giải thoát được. Đối với mỗi người chúng ta, con đường giải thoát là sự nghèo khó. Trong Giáo Hội, đó không phải là con đường dành riêng cho những nhà chuyên môn, nhưng cho mọi người : giáo dân, lịch mục, tu sĩ nam nữ. 

1. Người tu sĩ tuyên khấn nghèo, lời khấn này có nghĩa là họ chưa đạt tới sự nghèo đó. Họ luôn luôn phải hướng tới, lòng khát khao trở nên nghèo như chúa Kitô nghèo khó. Cái nghèo thực sự của đời tu không phải là sống bên trong bốn bức tường, và phụ thuộc vào sự vô trách nhiệm về tài chính. Vì thế không phải là ngẫu nhiên mà thánh Biển Đức có tôn chỉ «Cầu nguyện và Làm việc ». Rất nhiều dòng tu chiêm niệm sống bằng công sức lao động của chính bàn tay họ. Họ không sống trong sự thiếu hiểu biết về giá cả, và trong sự vô lo về tài chính, nhưng trái lại, trong sự quản lý có trách nhiệm về các nhu cầu của cuộc sống. Họ đặt mọi sự làm của chung. Bầu khí sống chia sẻ là phương tiện cụ thể thực thi tinh thần sống khó nghèo. Không có sự sở hữu cá nhân, nhưng họ cũng không thấy thiếu thốn gì. Phần dư thừa luông được chia sẻ với các cộng đoàn khác sống nghèo hơn, hay cho các công việc từ thiện. 

2. Đối với Linh mục triều : Dù họ không có lời khấn khó nghèo, nhưng họ phải giải trình về tài chính với đức Giám mục. tôi không phải là cha xứ, nên đó là một lãnh vực vượt ngoài khả năng của tôi. Tuy nhiên, tôi có thể nêu ra vài điểm chính :

Linh mục có quyền giữ tiền và có tài sản riêng. Linh mục phải đối diện trực tiếp và hàng ngày đối với vấn đề tài chính. Làm sao kiếm được tiền để chi phì cho nhà xứ, nhất là vào thời điểm khủng hoảng như hiện nay.

Vì có quyền quản lý tài sản riêng, nên họ dễ bị cám dỗ về tiền bạc hơn. Vì thế, đời sống tận hiến đòi phải có sự từ bỏ dứt khoát với tiền bạc. Cho dù trong đời tu khó có thể bị đói, bị khát, nhưng không vì thế mà đi tu để được sống bảo đảm và ăn uống no say. Đi tu chính là theo sát chúa Kitô như là con đường tự do và được giải thoát, đối với mọi cám dỗ của Thần tiền. Đó là con đường lội ngược dòng, là dấu chỉ. Con đường này từ chối sự cám dỗ tích luỹ tiền tài và khuynh hướng tiêu thụ. 

3. Đối với giáo dân

Người giáo dân cũng được mời gọi sống tinh thần khó nghèo trong sự chia sẻ. Là một người cha tốt để phân chia các khoản chi tiêu trong gia đình không phải là một điều dễ. Khoản chi tiêu nào cũng có lý do của nó, nhưng không phải là luôn đươc phân định cách rõ ràng. Để thoát ra khỏi khuynh hướng tha hoá trong chi tiêu, thánh I-Nhã đưa ra ví dụ về gia đình thánh Gioan Kim và thánh Anne, cha mẹ của đức Mẹ : theo truyền thuyết, mỗi năm họ chia thu nhập làm ba phần, một phần cho người nghèo, một phần dâng vào Đền thờ, và phần còn lại cho cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, chúng ta cần phải để ý tới số lượng của mỗi phần. Mỗi người tín hữu, theo lương tâm của mình, xem xét vấn đề chi tiêu sao cho phù hợp với niềm tin của mình. Đó chính là điểm khó để thoả mãn tất cả các đòi hỏi : ví dụ như nhu cầu của con cái, giúp đỡ cha mẹ, hoặc giúp đỡ người nghèo, đóng góp cho giáo hội… Chắc chắn ai cũng muốn có thêm tiền để đáp ứng mọi nhu cầu, nhưng thực tế mà nói thì không phải dễ.

Mỗi chọn lựa đều hàm chứa sự từ bỏ. Sự từ bỏ này gây ra nỗi đau. Chính nỗi đau này làm cho chọn lựa của chúng ta có thêm ý nghĩa. Vì thế, chúng ta cần phải phân định ý nghĩa của mỗi khoản chi tiêu.

Giữa nỗi sợ thiếu thốn và sự cẩn trọng hợp lý, chúng ta phải chọn điều nào ? Thánh Phêro cho chúng ta một hướng giải quyết : « vàng bạc thì tôi không có, nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây : nhân danh Đức Giêsu Kitô, ngưòi Nazareth, anh đứng dậy mà đi ! » (Acte 3,6). Người tín hữu được mời gọi sử dụng tiền bạc như thể họ không có, thông truyền cái họ đã nhận được chứ không phải cái thuộc về họ. « Cái anh có chẳng phải là điều anh đã nhận đó sao ? » (1Co 4,7). Đó là sự nghịch lý của người tín hữu trong việc sự dụng tiền của. Tiền mất đi quyền thống trị, và chỉ còn là phương tiện xây đắp tình người. Nhận ra gốc rễ của ước muốn giúp người tín hữu sử dụng tiền cách hợp lý, đó chính là sắp đặt các phương tiện theo một đích nhắm. Nhu cầu của người khác sẽ chi phối hành động cũng mình, và sự chi tiêu được sắp xếp vì Vinh quang của Đấng là nguồn mọi ước muốn. 

C. Suy tư thêm : tương quan giữa cha mẹ và con cái 

Các bậc làm cha mẹ không nên lo lắng quá nếu như con cái của mình nghĩ tới đời sống tu trì. Không nên áp đặt theo ý mình điều gì là tốt, điều gì xấu cho con cái. Thiên Chúa luôn chú ý tới từng người trong số con cái của người.

Nếu có người con nào nghĩ tới đời sống tu trì, cha mẹ không nên sợ con cái phải sống trong sự khốn khó. Không nên từ chối hướng sống tu trì của con cái chỉ vì lý do kinh tế, cũng như không ai đi tu để tìm bảo đảm cho đời sống của mình. Đời sống tu trì thuộc về ơn gọi của Thiên Chúa để theo Chúa, để phục vụ Chúa.

Trong đời sống tận hiến, vấn đề quan trọng không phải là « thiếu tiền » hay « nhiều tiền », nhưng là sử dụng tiền mình có làm sao đúng với lý tưởng tận hiến và công việc mục vụ.

Khi con cái muốn đi tu, cha mẹ thường lo lắng, nên mất đi cái nhìn sáng suốt. Khi đó, hãy nhớ tới lời của thánh Phaolô : « cái bạn có chẳng phải là cái bạn đã lãnh nhận đó sao ? ». Con cái chẳng phải là món quà của Thiên Chúa sao ? Cha mẹ cần phải nhận ra nguồn gốc ước muốn của con cái, đó chính hạnh phúc mà Chúa muốn dành cho chúng. Chỉ với thái độ đó, cha mẹ mới có thể sắp xếp mọi phương tiện theo đúng mục đích. Cha mẹ là tác nhân giúp con cái nghe được ơn gọi Chúa muốn đối với con cái. Vì thế, cha mẹ không còn lo lắng thái quá về ơn gọi của con cái, nhưng là niềm vui được nhìn thấy con cái mình theo đuổi một cuộc sống vì vinh quang của Đấng đã mang tới ơn cứu độ cho chúng ta.

Xin cộng đoàn cho phép con được kết thúc bằng cách nhắc lại Nguyên Lý và Nền tảng đối với đời sống của mọi kitô hữu theo thánh I-Nhã : « con người được dựng nên để ngợi khen, tôn kính và phục vụ Thiên Chúa và qua đó cứu rỗi linh hồn mình, và mọi sự trên mặt đất được dựng nên vì con người, để giúp con người đạt được mục đích theo đó con người được dựng nên ».

LỜI KẾT

Nghe nhng li chia s chân tình của thy Tun v « Vấn đề tiền bạc trong đời sống tận hiến, tôi chợt nhớ lại lời chỉ dẫn số 19 về « Vấn đề tiền của » mà Thánh bộ Truyền Giáo đã gởi cho hai Giám Mục Tông Tòa của hai địa phận đầu tiên của Việt Nam vào năm 1659. Năm nay, 2009, ba trăm năm mươi năm sau, 26 giáo phận việt nam đang chuẩn bị cử hành năm thánh và sẽ khởi đầu ngày 24.11.2009 tại Giáo Tỉnh Hà Nội, những lời nhắn  nhủ của Giáo hội khi xưa vẫn còn giá trị cho mọi tín hữu trong việc tông đồ, nhất là những bậc có trách nhiệm : « Về vấn đề vật chất, chư huynh đừng làm phiền tí nào cho dân chúng, hãy nhớ lại các tông đồ khó nghèo đến nỗi phải ra tay làm việc mới có đủ vật dụng cần thiết cho mình và cho các cộng sự viên (4). Huống hồ là chư huynh, những kẻ kế vị và bắt chước các Ngài, khi chư huynh đã có của ăn áo mặc thì chư huynh hãy an phận (5), đừng tìm lợi cách đê tiện (6), đừng đòi của bố thí, đừng kiếm chác bạc tiền, quà tặng, của lễ. Nếu chư huynh từ chối mà người ta vẫn bắt ép chư huynh nhận, thì chư huynh hãy đem phân phát cho người nghèo trước mặt những kẻ đã biết tặng chư huynh ; chư huynh vốn biết, chẳng có gì khiến cho dân chúng ngạc nhiên, để ý bằng thái độ khinh chê của cải trần thế, bằng đức khó nghèo theo Phúc Âm vượt lên trên mọi thực tại nhân thế để thu góp một kho tàng trên trời (7).

Cả chư huynh lẫn các cộng sự viên đừng kết thân luôn luôn với người nào, và đừng mắc nợ một người nào, đặc biệt một nhân vật có uy thế, đến nỗi có vẻ như phục vụ cá nhân họ chứ không phải toàn dân. Bởi vậy, đừng để cho những đặc ân quá to tát lôi cuốn, sợ rằng chúng sẽ làm những cạm bẫy, chẳng những làm hại cho công ích mà còn làm cho chư huynh mất hết quyền tự do ăn nói, tự do phê bình lầm lỗi của chính người ân nhân chư huynh (8) ».

Paris, ngày 17 tháng ba năm 2009

Trần Văn Cảnh 

Chú thích

(1)     Thầy Tuấn là con bác Nguyễn Văn Hộ, người đã tham dự nhiều năm trong Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ, từ khi thành lập.  Bác làm Phó Chủ Tịch hai nhiệm kỳ 1983-1987, rồi chủ tịch hai nhiệm kỳ 1987-1992.

Bác Hộ đã cống hiến cho Chúa ba người con phục vụ cho giáo hội. Thầy Chung, dòng các Sư Huynh La San, hiện đang phục vụ tại Mỹ. Sơ Thoa, đã khấn trọn đời trong một tu hội đời, hiện đang phục vụ tại Giáo xứ Paris. Và thầy Tuấn, khi nhỏ đã sinh hoạt trong nhóm ơn gọi trẻ tại giáo xứ, sau khi đã học xong nha sĩ và hành nghề nhiều năm, thầy đã theo tiếng Chúa gọi, nhập dòng Tên. Thầy đang ở trong một tập viện dòng Tên vùng Paris.

(2)     Dòng Tên, được chính thức thành lập ngày 27.9.1540, ngày mà ĐGH Phaolô III chính thức công bố trọng sắc Regimini Militantis Ecclesiae phê chuẩn Đoàn Giêsu thành một dòng tu giáo sĩ trong Hội Thánh. Từ đó Đoàn Giêsu trở thành Dòng Chúa Giêsu (Societas Jesu - ở Việt Nam quen gọi là Dòng Tên, vì muốn tránh gọi Tên cực trọng Chúa Giêsu). Mười thành viên trong dòng tu mới lập đều nhất trí bầu cha I-nhã làm Bề trên Tổng Quyền tiên khởi (1540-1556). Đặc sủng của Dòng là phục vụ các linh hồn và hỗ trợ Hội Thánh trong việc “bảo vệ và truyền bá đức tin”.

Ở Việt Nam, dòng thuộc số những nhà truyền giáo tiên phong đem Tin Mừng đến đất Việt. Năm 1615, các cha dòng Tên đã đến Hội An, Đà Nẵng. Một khuân mặt nổi bật là cha Đắc Lộ, người đã cùng nhiều thừa sai dòng Tên khác thiết lập những cơ sở công giáo đầu tiên và sáng tạo chữ quốc ngữ cho Việt Nam. Trong thời gian 1615-1773, trên 155 tu sĩ của Dòng thuộc 20 quốc tịch (nhiều nhất là Bồ Đào Nha) đã đến loan Tin Mừng trên Đất Việt, cùng với 33 Giêsu hữu người Việt. Trong số đó, có 12 Giêsu hữu đã làm việc trong Thái Y Viện và Khâm Thiên Giám của các Chúa Nguyễn.

Theo lời mời của Giáo Hội Việt Nam, Dòng đã trở lại Việt Nam từ năm 1957, lập Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X. Từ năm 2007, Dòng đã nâng đơn vị việt nam lên hàng Tỉnh Dòng. Thống Kê 2004 cho biết Dòng có 66 tu sĩ ở Việt Nam, trong đó có 22 linh mục. Trên hình chụp năm 2008, người ta đếm được 85 tu sĩ. Ai muốn hiểu nhiều hơn về Dòng, xin vào cổng thông tin  http://www.dongten.net/

(3)     Xin cám ơn thầy Tuấn đã cho xin văn bản.

(4)     Act 20, 34 : « Chính anh em biết rõ : những gì cần thiết cho tôi và cho những người sống với tôi, đôi tay này đã tự cung cấp. »

(5)     1 Tm 6, 8 : « Vậy nếu có cơm ăn áo mặc, ta hãy lấy thế làm đủ. »

(6)     1 P 5, 2 : « Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em …không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ. »

(7)     Mt 6, 20 : « hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. »

(8)     Xin xem mạng : http://pagesperso-orange.fr/daoquangtoan/articlesPJD/instruction%201659.pdf

VỀ MỤC LỤC
ĐẸP THAY 70 NĂM SỐNG ĐỜI TẬN HIẾN !

 

Quy luật tự nhiên của con người, khi còn trẻ, còn làm được việc này việc kia thì kẻ lui người tới. Thời còn trai trẻ cứ mãi miết trên con đường lao động. Hạnh phúc khi mình còn làm được điều gì đó cho đời và cho người. Khi còn trẻ, người người lui lui tới tới với ta. Thế nhưng, một lúc nào đó nhìn lại, ta lại thấy thời gian qua đi quá nhanh, nhanh đến độ ta không ngờ khi nhìn lại ta đã vào tuổi “xế chiều”.

Vào cái tuổi xế chiều ấy, ta không còn làm gì được nhưng ít nhất ta cũng mãn nguyện vì ta đã làm một chút gì đó để lại cho người và cho đời. Dù chẳng là gì cả nhưng đó là chút mắm muối ta đóng góp cho đời. Sống trên cõi đời này mà không phục vụ, không hiến dâng bỗng nhiên ta thấy đời ta vô vị và tẻ nhạt.

Dẫu không còn hoạt động như thời trai trẻ nhưng còn một việc ta làm được đó là chiêm niệm và cầu nguyện. Chiêm niệm và cầu nguyện cho những người trai trẻ đang hoạt động. Dù bất cứ ơn gọi nào, dù bất cứ hoạt động nào cũng cần lắm những tâm hồn chiêm niệm và cầu nguyện.

Chiều Chúa Nhật III mùa Chay đẹp trời, tôi được dừng lại để cùng nhìn lại quãng đời 70 năm dâng hiến của một nữ tu Nữ Tử Bác Ái. Thánh lễ tạ ơn chiều nay cộng đoàn cùng hiệp ý mừng Ngân khánh khấn dòng của một chị nữa trong cộng đoàn hưu 10 Phan Đăng Lưu của các chị Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn. Tạ ơn Chúa vì muôn vàn ơn phúc mà Chúa đã tuôn đổ xuống trên 70 năm và 25 năm phục vụ của các chị. Có lẽ trân trọng với quãng đời dài hơn 30 năm phục vụ cho anh chị em bị phong ở vùng Tây Nguyên nên Giám mục giáo phận vùng Cao ấy đã về dâng lễ tạ ơn với cây đại thụ của Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn chiều hôm nay.

Khi được Giám mục phỏng vấn về nguyện ước còn lại của mình. Nữ Tu mừng Ngọc Khánh Khấn dòng của mình hôm nay móm mém trả lời : Con muốn trở lại Tây Nguyên để ở với anh chị em bị bệnh phong ! Dù không còn đi đứng như người bình thường nữa, dù giờ đây muốn đi đâu cũng chỉ quanh quẩn với chiếc xe lăn nhưng lòng vẫn nhớ đến những bệnh nhân phong dân tộc thiểu số.   

Còn với nữ tu mừng Ngân Khánh Khấn Dòng hôm nay, được hỏi về cảm nhận của mình, chị chỉ biết cười và không nói nên lời vì muôn muôn vàn hồng ân mà Thiên Chúa đã ban cho chị trong 25 năm sống đời tận hiến. Có lẽ chị muốn nói nhiều nhưng tai nạn giao thông đã làm cho khả năng giao tiếp của chị kém hẳn. Trong Thánh Lễ, nhìn chị ráng đứng dậy mỗi lúc có thể để hiệp thông với cộng đoàn lòng tôi cảm thấy quặn đau với nỗi đau chị đang chịu. Chị đau lắm ! Chị muốn đứng nhưng đôi chân của chị không cho phép như người lành lặn được.

Tưởng chừng tóc bạc da mồi, trí quên nhiều hơn trí nhớ nhưng làm sao quên được những anh chị em bị bệnh phong mà mình đã được phục vụ. Làm sa có thể quên được những người nghèo, những người bị bỏ rơi bên lề của xã hội được. Máu của anh chị em dân tộc, máu của những anh chị em bị phong như đã thấm vào trong máu của vị nữ tu già đáng kính mừng lễ hôm nay.

Trong bài chia sẻ của mình, Đức Giám mục Giáo phận Kontum nhắn nhủ với cộng đoàn rằng vị nữ tu già ngồi xe lăn không làm được việc gì giúp ích cho cộng đoàn nữa và thậm chí còn tốn 2, 3 người phục vụ cho nữ tu già nhưng hoa quả của cộng đoàn, ơn ích của cộng đoàn là nhờ lời cầu nguyện của những cây đại thụ này đây.

Đúng như lời của Đức Cha nói, dù đi đâu, dù ở đâu mà không có đời sống cầu nguyện thì đời sống hoạt động cũng chẳng là gì cả. Đời hoạt động có ý nghĩa khi và chỉ khi nó đặt trên đời sống cầu nguyện. Vì nếu không cầu nguyện thì tất cả những hoạt động của đời tu trì sẽ đặt trên danh dự, trên vinh dự của người thừa sai. Còn nếu chìm sâu trong đời cầu nguyện thì tất cả những thành quả của cuộc đời tận hiến đều quy về Chúa. Điều này dễ dàng nhận thấy sau chặng đường dài phục vụ. Những người tìm danh mình nó sẽ khác với những người đi tìm vinh danh Thiên Chúa. Những người đi tìm vinh danh Thiên Chúa sẽ không bám víu vào những thành quả mà mình đã đạt được mà luôn luôn cầu nguyện cho những nơi mình đã được gửi đến, nơi mình đã được phục vụ. Những ngày còn lại của cuộc đời, lời cầu nguyện của nữ tu già đáng kính sẽ đẹp lòng Chúa và được Chúa nhậm lời một cách nhanh chóng.

Dù không còn làm được gì, dù chỉ ngồi trên chiếc xe lăn ở cái tuổi ngoài 90 của vị nữ tu mừng Ngọc Khánh Khấn Dòng, dù không còn đi lại bình thường, dù phải cố lê từng bước chậm như chị mừng Ngân Khánh hôm nay nhưng có một việc mà các chị làm được đó là các chị luôn luôn cầu nguyện. Hoạt động, sự phát triển của Hội Dòng có được cũng một phần nhờ vào lời cầu nguyện của những cụ già này những người đau lâu ốm dài như vị nữ tu này.

Nếu nhìn theo con mắt của con người, cảm nhận của người đời thì sự hiện diện của những cụ già này trong các nhà hưu dưỡng của các hội dòng sẽ là gánh nặng thế nhưng trong con mắt lòng tin thì sự hiện diện của những cụ già này như là ân huệ mà Thiên Chúa ban cho hội dòng. Thử hỏi, nếu như cách đây 70 năm, 80 năm không có sự hiện diện của các cụ như thế này thì làm sao Hội Dòng có được như ngày hôm nay.   

Một lần nọ, chị phụ trách cộng đoàn hưu nói chuyện về các ngoại ở đây thật là vui ! U 80, U 90 để rồi tính cách hoàn toàn thay đổi. Tính các ngoại giờ đây như con trẻ vậy : Cho ăn thì lại bao chưa cho ăn, cho uống thuốc rồi thì bảo chưa cho uống … Mới 3 giờ sáng đã thức dậy lọ mọ vào nhà nguyện để dự lễ … Chùm chìa khoá cất ở trên nóc tủ thì bảo bị ăn cắp !

Tôi nói với chị phụ trách rằng đó là chuyện hết sức bình thường của đời người. Mai mốt mình già chưa chắc mình được như vậy hay là mình còn trái tính trái nết hơn nữa. (Sống thời buổi đầy hoá chất như bây giờ không biết có được lên đến “hàng năm” hay không chứ đòi đến “hàng tám”, “hàng chín” như các ngoại ở nhà hưu dưỡng này). Mình chăm sóc các cụ này như nhớ lại tất cả công ơn của các cụ đã đóng góp cho Hội Dòng.

Sống ở ngoài đời cũng vậy thôi ! Cha mẹ mình sau một đời lao nhọc lo cho con cái thì cũng phải đến lúc già, lúc lẫn. Chính những lúc ấy mới thể hiện được một con người có nhân có nghĩa hay là không. Những bà ngoại trong nhà hưu này cũng là cha là mẹ của chúng ta trong mối tình thiêng liêng trong đời tận hiến đó thôi. Chăm sóc các cụ như là đền ơn đáp nghĩa các cụ đó thôi.

Vâng ! Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, đó là đạo lý và đức tính của một con người có nhân bản.

80 năm Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn hiện diện vậy mà nữ tu hôm nay mừng lễ đã có 70 năm tận hiến ! Quả là một cuộc đời dâng hiến thật đẹp và như là những người đầu tiên góp công cho sự hình thành và phát triển của Hội Dòng.

Với cái tuổi xế chiều, ắt hẳn ta sẽ không tránh khỏi những cái gọi là “trái tính trái nết” của những “em bé có quyền đòi hỏi” như các cây cổ thụ trong Hội dòng. Thế nhưng, nhìn lại chặng đường dài của sự hình thành và phát triển, nhìn lại những năm tháng khó khăn, Hội Dòng sống được, hoạt động được là do công khó của những “em bé có quyền đòi hỏi” này. Nếu như trước đây những “em bé có quyền đòi hỏi” này mà không vun đắp, không xây dựng thì làm gì mà Hội Dòng tồn tại. Đã có những lúc người ta dốc hết công sức để lo việc đại sự thì nay trong lúc tuổi già, người ta đòi hỏi một chút xíu sự chăm sóc cũng là điều hết sức bình thường trong cái phận người mỏng manh. Có chăng là còn tình còn nghĩa trong những ngày tháng cuối đời con người có dành cho nhau hay không mà thôi.

Đại lễ của các vị đại thụ trong Hội Dòng là lời tri ân của các cụ dâng lên Thiên Chúa vì những hồng ân vô giá mà Thiên Chúa đã tuôn đổ trên cuộc đời của các cụ. Đại lễ của các cụ chúng ta cũng không quên tri ân vì tất cả mọi nỗ lực, mọi cố gắng, mọi đóng góp của cả đời người cho Hội Dòng.

Đại lễ qua đi nhưng chúng ta cùng tiếp tục dâng lời cầu nguyện cho những ngày còn lại của cuộc đời dâng hiến của các cụ là những ngày sống trong bầu khí tuyệt vời của chiêm niệm, của cầu nguyện. Và cũng nhờ lời cầu nguyện, đời chiêm niệm của các cụ mà Hội Dòng của chúng ta mới vượt qua những khó khăn, những thử thách của cuộc đời.

Lm. Anmai, C.Ss.R.

VỀ MỤC LỤC
THA THỨ, CON ĐƯỜNG TẮT DẪN ĐẾN BÌNH AN VÀ HẠNH PHÚC
 

Có một chuyện vui kể rằng “Anh chồng trẻ tuổi lần đầu tiên say rượu, khi tỉnh dậy anh rất hối hận và xin vợ tha thứ. Người vợ nói rằng cô sẽ quên và tha thứ cho anh. Nhưng sau đó một tháng, cứ cách vài ngày cô vợ lại nhắc đến chuyện say rượu hôm nào của chồng. Anh ta không chịu được nữa bèn nói: “Em đã nói là sẽ quên và tha thứ cho anh vậy mà sao em cứ nhắc đi nhắc lại mãi thế?” Người vợ trả lời: “Vâng, em chỉ muốn nhắc cho anh nhớ là em đã quên chuyện đó và em đã tha thứ cho anh!” Chỉ là vui cười, nhưng câu chuyện đặt cho chúng ta một dấu hỏi: tha thứ đích thực nghĩa là gì, có phải nói tha rồi lâu lâu nhắc lại để dằn mặt? Giáo huấn Đức Giêsu, Thầy chí thánh của chúng ta, luôn nhấn mạnh đến lòng khoan dung tha thứ như nét chính yếu và độc đáo của Tin Mừng mà Người mang đến khi Người muốn “ném lửa vào trong thế gian này”. Nếu mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc nếu được diễn tả bằng một từ ngữ khác, chắc chắn đó sẽ là mầu nhiệm của ơn tha thứ. Vậy Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải theo bước của Ngài để thực hiện chương trình của Ngài mà luôn sống trong tình trạng sẵn sàng tha thứ. Ở một khía cạnh khác, tha thứ là con đưởng dẫn đến bình an và hạnh phúc, như lời Soeur Hồng Quế, một nữ tu Đaminh, khi chị trao đổi về vấn đề mục vụ.

Trong Tin Mừng, lời cảm động nhất có lẽ là một trong bảy Lời sau cùng của Đức Giêsu trên Thập Giá: “Lạy Cha, xin hãy tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. Đó là Lời đúc kết tất cả mọi Lời rao giảng của Người và cũng là mục tiêu của công cuộc Nhập Thể và Cứu Chuộc. Con Người Giêsu là mục tiêu của những ganh tị, thù ghét và chống đối, và dĩ nhiên chỉ cần dùng một lời, tất cả những kẻ chống lại Người sẽ phải biến thành hư vô như Thánh Vịnh diễn tả: “Người bắn tên, khiến địch thù tán loạn; phóng chớp ra, làm chúng phải tan tành” (TV. 18,15). Nhưng Đấng Cứu Độ đã chọn cách hành xử rất bất ngờ: tha thứ, và Người truyền cho những kẻ theo Người phải thực hành một giới răn mới: phải tha thứ. “Thầy không bảo con là đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18,21-22), nghĩa là phải luôn tha thứ. Dường như có một mối liên hệ sâu xa giữa lời răn dạy này và lời truyền của Đức Giêsu: "Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban cho các con bình an của Thầy" (Ga. 14,27). Lý do là khi tha thứ cho anh em, người ta sẽ cảm được sự bình an sâu thẳm trong đáy lòng mình.

Vậy chúng ta phải tha thứ cho ai và tha thứ như thế nào? Có thể nói rằng ai cũng cần chúng ta tha thứ, bởi vì hễ sống chung là có xung đột và bất hoà. Nhiều khi chúng ta cũng phải tha thứ cho một người mà chúng ta chưa hề gặp bao giờ. Có người giận tổng thống Mỹ về chuyện ông ấy nói hớ, một chuyện chẳng liên quan gì đến mình! Nhưng điều quan trọng nhất là hãy tập tha thứ cho người thân yêu của mình, người bạn thân thiết, người trong gia đình, người yêu… Lý do là khi người ta càng yêu thương nhau thì những lỗi dù nhỏ vẫn mang tính xúc phạm lớn lao. Chúng ta tạm xếp những người cần được tha thứ thành ba nhóm: những người xúc phạm hay làm hại chúng ta bằng lời nói hay hành vi, những người đùa giỡn không giới hạn làm chúng ta tức giận hay khó xử, và những người không làm theo ý  chúng ta muốn. Trong đó, những người xúc phạm đến chúng ta bằng lời nói hay hành vi là “đáng tội” nhất. Thế nhưng, chính những con người ấy lại được Đức Giêsu tha thứ trước hết, bởi vì Người đến “để tìm và cứu vớt những gì hư mất”.

Tha thứ để được cái gì? Câu trả lời thật đơn giản: để được chính con người mà ta tha thứ ấy. Chúng ta không chỉ nhận lại họ trong tình nghĩa cũ, mà còn là nhận lại họ thẳm sâu hơn trong thân mình mầu nhiệm Đức Kytô, vì ở đâu có tình yêu và tha thứ thì ở đấy có Đức Chúa ngự giữa. Và chính vì thế mà tha thứ là nguồn bình an, niềm vui và hạnh phúc. Xét ở bình diện con người, tha thứ đem lại cho con người niềm vui thư giãn. Khi nghiên cứu về sự căng thẳng và các vần đề tim mạch, các nhà nghiên cứu tại Đại học Hope, Michigan, Hoa Kỳ, đã cho thấy con người bị căng thẳng về tim mạch đáng kể khi họ tìm cách trả thù. Nhưng khi nghĩ đến tha thứ, họ lại giảm hẳn sự căng thẳng. Một nghiên cứu khác tại Đại học Stanford cũng cho thấy kết quả tương tự. Có lẽ ai trong chúng ta cũng hiểu được những phân tích ấy, bởi vì chúng ta đã từng là những “chuyên gia nổi giận và tìm cách trả đũa”. Khi ấy chúng ta bực bội, nóng nảy và rối trí. Nói cách khác, khi nổi giận, chúng ta bước vào con đường đi xa sự bình an và thanh thản, đi xa niềm vui và hạnh phúc. Và kinh nghiệm cũng dạy chúng ta rằng khi bắt tay làm hoà hay khi nói lời tha thứ, lòng ta vui hẳn, như có một làn gió mát thổi vào. Thánh Thần Thiên Chúa chính là làn gió mát ấy, bởi Ngài là Tình Yêu và Ngài không cư ngụ ở nơi oán thù. Một gia đình mà sự tha thứ luôn đồng hành với cách ứng xử với nhau, thì gia đình ấy chắc chắn hạnh phúc.

Nhưng tha thứ là gì? Tha thứ là quên đi lỗi lầm của anh em và chấp nhận chính con người của họ. Muốn tha thứ, trước hết phải đặt mình vào hoàn cảnh người ấy, xem nếu ta ở vào giờ khắc ấy, chỗ ấy và với tâm trạng ấy, liệu ta có hành xử tốt hơn người ấy chăng. Sự đồng cảm và thấu hiểu là bước đầu của sự tha thứ. Có một người mắng chửi ta như tát nuớc… cống vào mặt. Rửa mặt xong, ta còn thấy như đang đi trong lòng ống cống. Nhưng nếu ta bị đối xử như người ấy và bị kích động như người ấy thì sao? Biết đâu nhờ mắng mỏ như thế, người ấy bớt giận và tránh được những hành vi tồi tệ hơn. Vậy hãy mỉm cười tha thứ và… cám ơn người ấy! Tha thứ còn là chấp nhận người anh em ấy của mình với tất cả những thiếu sót và yếu đuối của kiếp người. Chúng ta cũng lỗi lầm, chúng ta cũng thiếu sót, thì không có lẽ gì chúng ta bắt anh em mình phải thành toàn tuyệt đối, dù đó là lý tưởng mà Đức Giêsu mời gọi chúng ta hướng tới: “Các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên Trời là Đấng trọn lành”. Tha thứ là dịp nhắc cho chính mình và cho anh em mình sửa đổi lối sống cho phù hợp với Tin Mừng.

Có một điều cũng rất thiết yếu trong tiến trình tha thứ lỗi lầm. Đức Giêsu luôn nhắc nhở những con người mà Người chữa bệnh tật và tha thứ: “Con hãy về và đừng phạm tội nữa”. Yếu tố quan trọng để nhận được lời  thứ tha là lời hứa “không tái phạm”. Không thể cứ xúc phạm đến người ta liên tục, không chút hối lỗi. Con người dễ sa ngã tái phạm, nhưng ít ra cũng phải biết hối lỗi, được diễn đạt bằng lời xin lỗi chân tình. Không thể bám vào một lối sống sai lạc và bắt anh chị em mình tha thứ. Một cô gái bỏ cha mẹ anh em để chạy theo một kẻ vô lại làm gia đình tan nát làm sao đòi được tha thứ nếu cô ta nhất định không quay về. Một người sống theo lối “mục đích biện minh cho phương tiện”, chà đạp anh em mình để mình tiến lên, lại yêu cầu được tha thứ mà chính kẻ ấy không thay đổi, làm xã hội bị hại lây thì quả là phi lý. Những kẻ liên tục làm cho anh em mình gặp gian khổ, cản trở họ tìm đến với Đấng Yêu Thương, đánh cho họ tan nát, ngồi rung đùi mà đòi tha thứ ư? Tất cả những con người ấy vẫn cần và có thể được tha thứ, với một điều kiện: “Hãy về và đừng phạm tội nữa”.

Mùa chay thánh là mùa quay về. Chúng ta quay về với Thiên Chúa để đón nhận Ngài từng giậy phút đời mình. Chúng ta quay về với anh chị em để sẵn sàng thứ tha. Chúng ta quay về để không ở lì trong sự ác và quyền lực tối tăm. Và như vậy, quay về chính là tìm gặp bình an và hạnh phúc thật sự trong đời mình.

Lạy Mẹ là Đấng lắng nghe trọn vẹn bảy Lời sau cùng của Con Mẹ trong nước mắt đau thương, xin Mẹ dạy chúng con biết bắt chước Người mà tha thứ cho nhau để được xứng đáng nghe Lời Người nói “Đây là Mẹ của con”.

 

Gioan Lê Quang Vinh

VỀ MỤC LỤC
ĐI TÌM MÔ THỨC GIẢI QUYẾT NHỮNG BẤT ĐỒNG  

 

Biết phải mà cho mình phải là sai,

Biết sai mà cho mình sai mới là phải.

- Lão Tử 

Xung khắc là điều gần như không thể tránh khỏi trong các quan hệ con người.  Tuy nhiên, điều đáng mừng là nó không nhất thiết mang đến bất hoà, một khi người trong cuộc biết cách giải quyết vấn đề. 

Thực ra, sự xung khắc nhiều khi cũng cần thiết, vì qua đó người ta mới nhìn ra các góc cạnh của vấn đề.  Tổng thống Franklin D. Roosevelt trước một vấn đề quan trọng mà chưa được nghe các ý kiến khác biệt ông ngưng quyết định, vì ông cho rằng vấn đề chưa được bàn thảo một cách kỹ càng. 

Thế nhưng làm sao đối phó với những bất đồng? 

Các nguyên tắc căn bản 

Thiện chí là điều kiện cần thiết trong việc giải quyết bất đồng.  Ngoại trừ trường hợp trầm trọng cần đến người chuyên môn giúp đỡ, phần lớn người ta đều biết cách làm hoà.  Tuy nhiên, một khi thấy nổ lực làm hoà của mình không thành, trong đối thoại, bạn cần để ý các nguyên tắc sau đây:

  • Chú tâm vào sự kiện hay vấn đề cần tranh luận, tránh chú tâm vào cá nhân.  Vì sao?  Khi một người cảm thấy bị phê bình, phản ứng tự nhiên của họ là tự vệ bằng cách chống lại hoặc trốn chạy.  Để tránh các phản ứng tiêu cực nầy, chúng ta cần nêu rõ vấn đề là gì, đâu là chuyện đáng quan tâm cần giải quyết.

  • Giữ thể diện và lòng tự qúy của người khác.  Là con người, ai ai cũng có nhu cầu cần được nhìn nhận, được tôn trọng.  Một người khi được tôn trọng sẽ cảm thấy phấn chấn, dễ chú tâm vào vấn đề và ra sức hợp tác vì lợi ích chung.  Ghi nhận ưu điểm và thiện chí của người khác, khen ngợi các thành tựu của họ và gạt bỏ mọi lời phê bình dẫu lời phê bình có xác đáng đi chăng nữa.

  • Dùng lối nói “lấy tôi làm chủ từ” (I message).  Ví dụ, thay vì nói, “Anh làm tôi bực mình vì anh trễ hẹn”, thì nói, “Tôi cảm thấy bực mình vì bị trễ hẹn”.  Đây là lối nói diễn đạt cảm nghĩ để người khác hiểu mình chứ không cố ý công kích nên dễ được người khác chấp nhận hơn. 

  • Chứng tỏ thiện chí qua việc đưa ra các giải pháp để giải quyết bất đồng.  Có câu nói, “Mọi dặm đường đều được khởi sự từ bước đầu tiên”.  Chúng ta cần nêu câu hỏi, “Nếu tôi không bắt đầu, ai sẽ bắt đầu?”  Khi có người khởi sự, cơ hội giải quyết bất đồng đã được mở ra. 

Mô thức giải quyết bất đồng 

Các nhà tâm lý xã hội nêu ra bốn mô thức người ta thường dùng để giải quyết các xung đột, đó là (1) Anh thắng, tôi thua; (2) Anh thua, tôi thắng; (3) Dung hoà; và (4) Anh thắng, tôi thắng.  Hai mô thức đầu đều có kẻ thắng người thua nên người thua chắc sẽ có cảm giác bất mãn.  Ngay cả mô thức dung hoà nhiều khi cũng không làm người ta hài lòng, vì kết qủa của nó đòi hỏi mỗi người chịu thiệt một phần.   

Có người, vì muốn giữ hoà khí bằng mọi gía, nên chấp nhận nhường nhịn hoặc chịu thua hoàn toàn.  Nhưng trong một quan hệ lành mạnh, việc nhường nhịn cũng cần có chừng mực, nếu không một khi bất mãn lên cao, quan hệ có ngày sẽ bị đổ vỡ. 

Bạn hãy nghĩ coi một vấn đề bạn có với ai đó là gì và bạn muốn giải quyết cách nào.  Bạn có muốn thử mô thức “Anh thắng, tôi thắng” hay không?  Nếu có, bạn hãy tuần tự theo một tiến trình gồm năm bước sau đây: 

  1. Nhận diện và đặt vấn đề:  Trong giai đoạn nầy mỗi bên đều cần lắng nghe để hiểu người khác.  Khi nghe, cần đặt mình vào vị thế của người đối diện để hiểu quan điểm của họ.  Dùng lối nói “lấy tôi làm chủ từ” (I message) để nói lên cảm nghĩ của mình.  Sau khi trao đổi, các bên liên hệ bắt đầu hiểu và đặt vấn đề.  Cần đặt vấn đề đúng vì nếu không, mỗi bên sẽ đi sai mục tiêu mình muốn đạt.

  1. Đề ra một số giải pháp để giải quyết vấn đề:  Không phải dễ dàng để có một giải pháp cho các bên chấp nhận ngay.  Tuy nhiên đây là lúc mỗi bên cần lắng nghe quan điểm của người khác, tránh phán đoán chỉ trích, và cố giữ thể diện cho người đối diện.  Dần dà qua thảo luận, các bên sẽ đưa ra những giải pháp khả thi hơn.  Khi một số giải pháp được đưa ra, mỗi bên đều cân nhắc lợi hại để đi đến chấp nhận hoặc thay đổi cho phù hợp ý muốn của mình.  Mỗi bên cần thành thực trong việc đánh giá ở giai đoạn nầy vì nếu không, họ sẽ không đưa ra được các giải pháp hợp lý hợp tình. 

  1. Chọn giải pháp:  Sau khi lượng định, các bên cần đồng ý với một giải pháp trổi vượt hơn hết để thi hành.  Là giải pháp được chọn, các bên cần hiểu rõ những điều mình ưng thuận vì nếu không, nó sẽ không được nghiêm chỉnh thi hành. 

  1. Thi hành giải pháp:  Ai sẽ làm gì và làm khi nào?  Đây là lúc mỗi bên cần thi hành điều mình đã đồng ý theo một lịch trình được ấn định với nhau.  Khi một bên thiếu sót trong thi hành, họ cần được nhắc nhở ngay với lối nói “lấy tôi làm chủ từ”. 

  1. Lượng gía tiếp theo:  Chúng ta hiểu rằng, không phải các giải pháp được đề ra theo mô thức nầy đều hoàn hảo. Trong khi thi hành, chúng ta mới nhận ra những khuyết điểm của giải pháp.  Khi đó, nếu cần thay đổi, các bên cần ngồi lại để xét duyệt và đồng ý với các điểm thay đổi. 

Khi một trong các bước trên đây bị bế tắc, các bên thảo luận lại với nhau, và nếu cần, trở lui lại theo từng bước từ đầu cho đến khi tiến trình giải quyết bất đồng được kết thúc hoàn toàn. 

Bạn hãy nhớ rằng các xung khắc xảy ra thường liên quan đến tình cảm hơn là lý lẽ.  Một khi bị tình cảm chi phối, chúng ta có khuynh hướng phản ứng chứ không giữ sự bình thản nhằm tìm giải pháp hiệu nghiệm.  Hơn nữa, thái độ của bạn khi giải quyết vấn đề sẽ giúp bạn rất nhiều.  Vì vậy, khi có sự xung khắc, bạn thử nghĩ  coi đâu là cách thức tốt nhất để giải quyết vấn đề. 

Mô thức “Anh thắng, tôi thắng” cống hiến cho chúng ta các bước tuần tự trong tiến trình giải quyết xung đột và có thể dùng trong nhiều trường hợp.  Và nếu có lúc cả hai bên đều thắng không thể đạt được, khi đó chúng ta cần áp dụng mô thức dung hoà với ý nghĩ rằng mỗi bên chịu thiệt thòi một chút để giữ được hoà.- 

Trần Hiếu

VỀ MỤC LỤC
ĐI LỄ
  

Tôi thường tham dự Thánh lễ chiều tại một nhà thờ nhở ở quận Bình thạnh (Saigon). Nhà thờ không có gì đặc biệt, rất đơn giản. Những ngày lễ trong và Chúa nhật thì giáo dân tham dự Thánh lễ đông, đầy cả hai bên ngoài và sân nhà thờ. Nhưng Thánh lễ chiều ngày thường chỉ có khỏang 50-70 người.

  

Anh và tôi hay ngồi chung ghế, hoặc có lúc kẻ trước người sau. Một hôm, khi cùng nhau lấy xe về sau Thánh lễ, tôi thực sự giật mình khi anh nhìn tôi, cười và nói: “Anh chịu khó đi lễ quá ha”. Tôi nói ngay: “Thật ra mình chẳng đạo đức hay thánh thiện gì, tôi rảnh giờ này, không biết làm gì thì đi lễ thôi, cũng chỉ là thời gian thừa dành cho Chúa”. Anh nói: “Nhưng chịu đi lễ cũng tốt rồi, hiếm người chịu đi, nhiều người rảnh cũng chẳng đi lễ”. Tôi phân bua: “Tôi đi lễ vì thấy mình tội lỗi hơn người khác. Bệnh nhân mới cần bác sĩ, người khỏe không cần bác sĩ”.

  

Anh lại cười. Anh và tôi lên xe, mỗi người đi một hướng…

  

TRẦM THIÊN THU

 

THOÁNG NGHĨ…

  

Nhà thờ nhỏ, linh mục (LM) xứ ngoài 60, những bài giảng của ngài ngắn gọn, không văn hoa nhưng có chiều sâu và thực tế sống đạo tích cực.

  

Phần chúc bình an, ngài không theo công thức một cách “máy móc” mà nói: “Chúng ta hãy chúc bình an cho nhau”, rồi ngài cúi đầu chúc mọi người. Nhiều LM nói: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”, còn mình thì đứng yên, nếu có LM đồng tế thì họ chúc nhau chứ không chúc giáo dân.

  

Cả tuần qua, LM xứ đi vắng, đến dang Thánh lễ chiều là một LM dòng Thánh Thể, tuổi độ 60. Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy cách xưng hô của LM này khi ngài giới thiệu: “Kính thưa quý ông bà, anh chị em. CON là Trần Anh Dũng, thuộc dòng Thánh Thể. Cha xứ đi vắng và nhờ CON đến dâng lễ từ nay tới thứ Bảy. CON phụ trách Huynh đoàn Thánh Thể hoặc dòng ba Thánh Thể, cũng gọi là Hiệp hội Thánh Thể, toàn quốc. Cha xứ muốn có Huynh đoàn Thánh Thể tại giáo xứ này nên nhờ CON nói lại với quý ông bà, anh chị em. Ai có thể thì xin ghi danh. CON xin cảm ơn”.

  

Tôi thấy tại Đồng nai có một dòng nam mới tự trị hơn 2 năm. Sau bài giảng, các LM dòng này nói: “Xin cảm ơn anh chị em”. Những lần tham dự đại hội thánh nhạc toàn quốc tại Trung tâm Công giáo hoặc Trung tâm Mục vụ Giáo phận TPHCM, tôi thấy trước đây là GM Tri Bửu Thiên và mới đây là GM Nguyễn Văn Khảm, khi nói trước anh chị am Nhạc sĩ (cả LM, tu sĩ và giáo dân), GM Thiên và Khảm đều dùng đại từ ngôi thứ nhất là CON. Dĩ nhiên các ngài không xưng là CON đối với người bằng tuổi và nhỏ tuổi hơn mình, mà trong số người nghe có những vị cao niên hơn mình.

  

Tôi đi nhiều giáo xứ, cả thôn quê lẫn thị thành, nhiều LM xứ luôn xưng mình là TÔI dù trong xứ có rất những vị cao niên hơn mình nhiều! Khi giảng thì “chỉ trích” nhiều hơn “khuyên bảo”, trong Thánh lễ lại nói nhiều lần và nói dai, thiếu chiều sâu, không bao giờ biết nói tiếng “cảm ơn”!

  

Một thoáng nghĩ về những gì nghe và thấy…

  

TRẦM THIÊN THU

VỀ MỤC LỤC
GIỌNG NÓI

 

Khi chúng ta nói với con trẻ, chúng thường nghe giọng chúng ta hơn là lời chúng ta xử dụng. Thỉnh thoảng ở trong chợ, trong công viên, hay những lúc nhóm họp, ở đó cha mẹ và con cái cùng chung với nhau, chúng ta hãy thử lắng nghe giọng nói được dùng bỡi người lớn. Họ ít khi nói với con trẻ bằng một giọng điệu bình thường như họ dùng để nói với nhau. Rồi khi họ về nhà, hãy thử nghe giọng nói của mình. Các bạn muốn diễn tả gì với giọng điệu như thế? Và con cái các bạn nghe gì? 

Rất nhiều lần, chính chúng ta tạo nên những hành vi sai lầm cho đứa trẻ vì giọng nói chúng ta. 

Thanh Minh tuyên bố nó sắp đi tưới cỏ. “Ô, không, không được con ơi, bà mẹ xác quyết mạnh mẽ. Con ở đây, trong nhà nầy.” Cậu bé nhìn mẹ một lúc rồi chuồn ra ngoài. Bà mẹ nghe thấy tiếng nước chảy. Cậu bé đang tưới cỏ. 

Giọng bà mẹ như giọng một nhà độc tài, qua đó bà muốn diễn tả một sự cương quyết, mang lại một cuộc chiến “tranh quyền” mà cậu bé đã khởi sự. Cô gái 16 tuổi, người có mặt vào lúc đó, được phỏng vấn: “Cô đã nghe gì trong giọng điệu được dùng bỡi bà me?”. Cô trả lời: “Cô bị đe dọa. Đó là một giọng điệu của một sự cương quyết sai lầm.” 

Ông bố đang giúp cậu bé Quốc Huy, 10 tuổi, làm bài tập ở nhà. Cậu bé xem ra không hiểu nhiều về điều nó phải làm. “Chắc chắn con hiểu nhiều” ông bố nói với giọng nặng nề. Cậu bé càng cúi xuống gần sách hơn vì xem ra nó càng rối hơn. 

Giọng của ông bố cho thấy rằng ông không hy vọng nhiều vào việc học hành của cậu bé. Ông đã làm tăng thêm sự thất vọng của đứa trẻ. 

Trong gian hàng chợ, bà mẹ gặp một người bạn mà đã từ lâu không có dịp gặp từ khi cô bé Thùy Loan được sinh ra.

- Nó mấy tuổi rồi?

- Mười một tháng.

- Ô, cô bé dễ thương quá.

Đoạn bà bạn vỗ nhẹ cằm và má cô bé. 

Những cuộc nói chuyện đơn giản và thô sơ mà chúng ta dùng với con trẻ cho thấy cảm tưởng của chúng ta đối với con trẻ. Chúng ta nói chuyện với chúng trong cách thế và giọng điệu mà chúng ta không bao giờ dùng với bạn bè chúng ta. Nếu chúng ta để ý, chúng ta sẽ khám phá ra một sự thiếu kính trọng đối với con trẻ. Chúng ta dễ có khuynh hướng truyền lệnh cho chúng, và tạo một chút hồi hộp để kích thích sự thích thú, hoặc nói với sự ngọt ngào để chiếm được sự cộng tác của chúng. Một khi chúng ta ý thức về những sai lầm trong giọng điệu chúng ta, chúng ta đang ở trong vị thế thay đổi. Nếu chúng ta nói chuyện với con trẻ chúng ta như những người bạn trong sự tương kính lẫn nhau là chúng ta đang mở rộng cánh cữa đối thoại. 

Lm. Lê Văn Quảng, tiến sĩ tâm lý

VỀ MỤC LỤC

BỨC TƯỜNG ĐÁ

 

Tôi đang ngồi trong thư viện một trường đại học Công giáo cổ kính. Khung cửa kính rộng cho tôi nhìn thấy toàn cảnh bên ngoài. Trời hôm nay nhiều mây xám, không biết chiều nay có mưa không, nhưng hình như bầu trời ngậm nước. Khung kính thư viện trông ra một khu vườn hoang đã bên ngoài, có những cây cổ thụ cành lá rườm rà, nhiều loại hoa leo đủ màu sặc sỡ tôi chưa từng biết tên, và những ngọn cỏ đang rạp mình theo chiều gió thổi. Có những con chim lạ từ đâu bay tới, con nào cũng đẹp với hình dáng và màu sắc riêng; chúng vừa bay vừa hót ríu rít. Vài chú sóc không biết từ một gốc cây nào đó rủ nhau ra giữa vườn cỏ đùa giỡn, rời thoắt chốc đã leo lên những cành cây cao chót vót.

Nhìn sang người bạn ngồi ở ô đối điện, tôi thấy bạn cắm cúi trên sang sách, Bạn tôi có lẽ đang tập trung tâm trí vào bài học, còn tôi thì lại thả cho hồn bay lượn ngoài trời

Mắt tôi đừng lại ở bức tường, ngăn cách khuôn viên đại học với thế giới bên ngoài. Những viên đá được xếp chồng lên nhau, không biết đã từ bao giờ, làm thành một bức tường đài, cổ kính. Như bị cuốn hút, tôi rời chỗ, đứng lên tìm lối đi ra khu vườn với bức tường đá ấy. Những ngọn cỏ cúi chào, chim chóc bay xào xạc, những chú sóc vội vàng trốn chạy, còn những bông hoa dại vẫn tươi tắn mỉm cười. Khung cảnh vừa yên tĩnh, vừa thơ mộng một cách hoang sơ. Tôi đưa tay ngắt một bông hoa tím rồi bước đọc theo bức tường đá, đầu óc nghĩ ngợi mông lung.

Những bức tường...

Ngôi nhà nào, cơ sở nào, khu vực nào cũng có những bức tường ngăn cách nó với thế giới bên ngoài. Những bức tường tạo nên một ranh giới, bên trong và bên ngoài. Nếu tôi có một căn nhà, thì bên trong bức tường thuộc về tôi, chứa đựng những gì của tôi. Bên ngoài là những gì không phải của tôi, không thuộc về tôi. Bên trong là thân thương, bên ngoài là xa lạ. Nếu tôi ở trong một cơ sở như một trường học chẳng hạn, thì bên trong bức tường là sinh hoạt của nhà trường, với những lớp học, thư viện, sân chơi, những giáo sư, sinh viên, nhân viên, sách vở và một hệ thống giáo dục của nhà trường; còn bên ngoài là sinh hoạt của thành phố, với xe cộ, hàng quán, đường xá, nhà cửa, cảnh sát, khách bộ hành..., những gì không thuộc về nhà trường mà tôi đang ở trong.

Bức tường bảo vệ cho những gì ở bên trong và khiến cho bên trong trở thành một cái gì có tên. Nếu nhà không có tường thì người và đồ vật trong nhà không được bảo vệ. Hơn nữa, khi ấy ''cái nhà '' không còn phải là nhà , không có tên là cái nhà nữa, Nếu một cơ sở không có tường thì cơ sở không còn là cơ sở, và không thể nào có những sinh hoạt đặc thù của mình nữa. Như thế, hỏi tường có cần không, thì tường cần lắm, rất cần. Bởi vậy, thật là hữu ích khi trường học có tường, tu viện có tường. Có tường là có an toàn, là người bên trong được bảo vệ . Người ở bên trong tường, nếu chấp nhận sự hiện hữu của tường, tức là chấp nhận những gì có bên trong tường, xảy ra bên trong tường.

Tuy nhiên, tường chỉ giúp tôi khi tường bảo vệ tôi, mà không ngăn cản tôi. Nghĩa là tôi phải được tự do ra vào, tự do hòa nhập với thế giới bên ngoài khi tôi muốn. Chính vì vậy mà có tường thì thường có cửa, có cổng. Cánh cửa hay cánh cổng là dấu hiệu của sự thông thương. Cổng mở là dấu hiệu của tự do và mời gọi. Cổng đóng là dấu hiệu của hạn chế và chối từ. Người ở trong tường được tự do hay không, điều đó được xác định ở chỗ người đó có được mở cổng và đóng cổng theo ý của mình không.

Có một thứ tường thật cao mà không có cổng, hay nếu  có thì cổng luôn luôn đóng. Đó là tường của nhà tù. Người ở trong tù mất quyền tự do, do đó, họ không được tự nhiên mở cổng mà ra. Khi đó, bức tường tạo nên sự ngăn cách hoàn toàn, khiến cho người tù không nhìn thấy được người và khung cảnh bên ngoài, không được quyền tiếp xúc với người và hòa nhập những sinh hoạt của xã hội bên ngoài. Tường mang ý nghĩa sự cấm cản, mất tự do

Xây tường và đóng cổng để chỉ lo cho mình, không biết đến người bên ngoài là hành động ích kỉ. Khi đó người ta biến nhà của mình thành một pháo đài an toàn. Tôi chỉ biết lo cho tôi, cho sự an toàn và no đủ của tôi mà không cần biết đến sự bất an và đói khổ của những người bên ngoài. Tường tạo nên sự an toàn, cổng cần phải đóng để giữ được an toàn cho người trong nhà. Nhưng người trong nhà cũng cần mở cổng để đón tiếp những người khác, khi những người này cần đến sự giúp đỡ. Bất cứ bị thúc đẩy bởi một lí do nào để người bên trong xây tường cao và đóng kín cổng, người ấy đã tự biến mình thành một thứ tù nhân.

''Trèo tường '' hay ''trèo cổng'' ra ngoài là hành động biểu lộ một sự phản kháng, một sự chối từ những gì ở bên trong bức tường, ở tuổi thiếu niên cuồng dại, Đinh Hùng đã nhiều phen trèo cổng bỏ trường về, xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn. '' Như thế có nghĩa là ở vào tuổi ấy Đinh Hùng vì cuồng dại đã phủ nhận đường lối giáo dục của nhà trường! Ở vào một thời đại khác và với một ý thức khác hằng ngàn người dân Đông Đức đã trèo qua bức tường Bá Linh; ngăn cách Đông và Tây Đức. Hành động ấy biểu lộ ý chí chối từ của người dân Đông Đức đối với chế độ chính trị của phần lãnh thổ này. Bức tường ấy bây giờ không còn nữa. Người dân Đức, trong đó chắc chắn có nhiều người đã từng trèo qua nó, đã phá đổ bức tường ấy. Bây giờ không còn ngăn cách nữa, người Đức tự do đi lại mà không hề bị cấm cản.

''Trèo tường '' hay ''trèo cổng'' vào trong thì gọi là ''đột nhập” , Có nhiều lí do của hành động đột nhập nhà hay cơ sở; Có thể đột nhập để trộm cướp, mà cũng có thể đột nhập để cứu thoát một người nào đó. Đột nhập để trộm cướp người ta trở thành kẻ trộm, kẻ cướp. Nhưng đột nhập để giải cứu người bị giam giữ hay bị nạn, một cách chính đáng, người ta trở thành anh hùng.

Như thế, ''trèo cổng '' hay ''trèo tường '' là một hành động táo bạo và nguy hiểm, tuy nhiên tốt hay xấu không do hành động ''trèo '', mà do mục đích của hành động ấy.

Tôi và những người chung quanh tôi cũng đều có những bức tường vây bọc. Bức tường ấy tạo nên tôi, với bản chất, tính nết, tâm tình, hoàn cảnh riêng của tôi. Nếu không có bức tường ấy, tôi không còn phải là tôi. Khi tôi ra khỏi bức tường, tôi hòa nhập với mọi người, sinh hoạt với mọi người. Nhưng khi tôi vào trong bức tường, tôi có thế giới của riêng tôi. Người khác cũng thế, ,ai cũng cần có một thế giới riêng của mình, một nơi thân mật nhất, chỉ có mình và những người mình cho phép mới vào được. Thỉnh thoảng tôi nghe có những người nói về người này, người khác, đôi khi nói về chính người chồng hay người vợ mình, với một câu: ''Ông ấy (hay bà ấy,) tôi biết quá rồi ? '' Khi nghe một người nói rằng họ "biết quá " về một người nào đó, hơn nữa người đó lại là một phụ nữ, tôi thường cảm thấy hoài nghi. Tôi vẫn nghĩ mỗi người đều có một bức tường, nhất là người phụ nữ. Không ai có thể vượt qua bức tuồng ấy mà vào bên trong, trừ khi chính người bên trong sẵn lòng mở cửa cho họ vào.

Một khi bức tường là của tôi, do chính tôi đựng nên, thì việc giữ lại nó, hay phá đổ nó thuộc quyền tự do của tôi. Nói đến những bức tường ngăn cách người này với người Khác, người ta thường có ấn tượng không tốt và đều có khuynh hướng muốn mọi người phá đổ những bức tường ấy. Tôi thì không đâu, tôi muốn giữ bức tường của tôi. nhưng tôi cũng muốn có ý chí và tự do để ra vào bên ngoài, bên trong bức tường ấy khi có sự cần thiết. Cần thiết cho chính tôi cũng như cần thiết cho người khác. Như vậy tôi vừa giữ được cái gì thuộc riêng về nội tâm của tôi, vừa bước được ra ngoài, cùng chung sức với những người khác để kiến tạo một xã hội, một cộng đồng, trong đó có nhiều người chung sống.

Với những người thân, tôi vẫn giữ bức tường là bản chất của riêng tôi, nhưng tôi để họ tự đo ra vào qua bức tường ấy. Với một vài người, tôi để cho họ tự do khám phá những gì có bên trong bức tường, và có thể tôi gợi ý để họ khám phá những gì mà tự họ không nhìn thấy được. Tôi cố gắng tránh khuynh hướng nhốt họ lại trong bức tường của tôi. Khi tôi đã mở cửa và cho họ tự do, họ có quyền vào, ở lại, mà cũng có quyền ra đi. Đi hay ở khi đó là quyền của họ.. Họ ở lại, nếu căn nhà của tôi có gì khiến họ quyến luyến và ràng buộc; họ ra đi, nếu họ thấy những gì bên trong bức tường không thích hợp với họ, nhất là khiến họ chán ngán. Do đó, nếu muốn người nào đó ở lại bên trong bức tường của tôi, thay vì tìm cách nhốt họ, tôi cố gắng làm cho trong tôi có điều gì khiến họ yêu thương yà quyến luyến.

Tôi tuyệt đối tránh hành động ''trèo tường '' hay ''trèo cổng '' để đột nhập căn nhà nội tâm của người khác. Tôi gợi ý, cớ thể tôi xin, để họ mở cửa cho tôi vào nếu tôi thực sự muốn. Ép uổng tình cảm, tư tưởng của người khác là điều không tốt và tôi không muốn làm. Ngay cả việc muốn hướng dẫn tâm hồn người khác, cũng phải tôn trọng quyền tự do và đời sống riêng của họ . Chúa Ki tô bảo: ''Ai không cứ cửa mà vào chuồng chiên, song trèo qua lối khác mà vào, thì ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. " (Gioan: 10: 1)

Với một người, giờ đây tôi luôn luôn muốn mở toang cửa để đón: tôi muốn giữa người ấy và tôi không còn một bức tường nào cả . Tôi muốn bản thể của tôi hòa nhập với bản thể của người ấy, tình yêu của tôi hòa nhập với tình yêu của người ấy, tất cả những gì của tôi đều thuộc về người ấy. Đối với người ấy, tôi không muốn giữ lấy bất cứ cái gì là của riêng nữa. Tôi muốn dâng hiến tất cả. Người ấy là Chúa Ki tô.

Tôi suy nghĩ nhiều về bức tranh người họa sĩ kia vẽ Chúa Ki tô. Ngài đứng trước một căn nhà tường xây kín mít, kiên nhẫn gõ cánh cửa đóng im ỉm, mà nắm đấm mở cửa lại nằm phía bên trong nhà chứ không ở bên ngoài. Có phải bức tranh ấy vẽ về chính căn nhà của tôi, căn nhà đã có một thời chối từ không muốn Chúa Ki tô vào thăm viếng?. . .

Trời đã xế chiều, từng mảng tối đã chập choạng che phủ cảnh vật. Tôi vẫn cầm bông hoa tím đứng bên cạnh bức tường đá . Qua khung cửa kính thư viện, tôi thấy bạn tôi đang giơ tay vẫy gọi. Bạn, bạn có muốn mở cánh cửa trổ ra từ bức tường của bạn, để tôi được bước vào không?

Nhà Văn Quyên Di

VỀ MỤC LỤC
CỦNG CỐ NHỮNG BƯỚC ĐẦU PHÂN ĐỊNH VÀ SỐNG ƠN GỌI (Tiếp theo)

 

NGƯỜI NỮ TU SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN  

tác giả: Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss 

LỚP THẦN HỌC LIÊN TU SĨ - TÒA GIÁM MỤC BÙI CHU  (2008 - 2009)

CHƯƠNG II : CỦNG CỐ NHỮNG BƯỚC ĐẦU PHÂN ĐỊNH VÀ SỐNG ƠN GỌI (Tiếp theo)

     

VI. TRỞ THÀNH ỨNG SINH TU SĨ 

1. Con đường ơn gọi phát sinh từ một cuộc đổi đời và trở thành 

a. Trở thành Ứng sinh tu sĩ 

1) Chia cắt với cái đi trước, nghĩa là người đang trở thành ứng sinh tu sĩ từ bỏ một cách sống, một cách hiểu biết đối với Thiên Chúa, với vũ trụ, với chính mình và tha nhân, tức là con người thế trần. Thánh Phaolô khuyên “quên hẳn đàng sau, nhắm phía trước mà chạy tới.”  

2) Mở ra với những gì đang đến, nghĩa là một hiện hữu mới, một ý nghĩa độc đáo và bất ngờ đối với cái đi trước. Như thế, sự trở thành mở đường vào cuộc sống ứng sinh tu sĩ là một sự xé rách, một thứ cái chết, nhưng rách để lành, chết để sống; đó là một thứ biến đổi một mất một còn.

(slideshow NHƯ CHIM PHƯỢNG HOÀNG) 

Dường như có một đổ vỡ giữa người thiếu nữ và ứng sinh tu sĩ. Thật thế, chị đang bước vào đời ứng sinh tu sĩ, nhưng vẫn còn có con người trần tục bên cạnh con người thiêng liêng.            

Tính lưỡng diện này vẫn tồn tại lâu dài, có khi suốt cả cuộc đời nữa, trải qua những chiến đấu, dòn mỏng… với thành công và có khi thất bại nữa: “Ai từng chiến thắng mà không hề chiến bại? Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Nhưng đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!” (Nguyễn Thái Học).  

b. Một kinh nghiệm đổ vỡ 

Ta có thể nhìn kinh nghiệm đổ vỡ (sự chia cắt và cái chết) nầy qua hình ảnh Abraham cắt đứt mọi mối quan hệ cộng đồng và yêu thương với gia đình, với đồng bào và thiên nhiên, rời bỏ quê hương để đi tìm một quê hương mới, hầu được triển nở thành thủ lãnh / cha một dân tộc. Như thế, hành trình theo ơn gọi bẻ gãy tính thuần nhất của những gì đã nhận lãnh trong cuộc đời, ghi khắc một đổ vỡ và thay đổi các giá trị vốn có. 

2. Cuộc trở thành của Ứng sinh tu sĩ            

1) Một cuộc đổ vỡ lịch sử và nền tảng

Ứng sinh tu sĩ không sợ nói lên kinh nghiệm bản thân để mô tả thứ thanh tẩy cần thiết hầu đi vào hành trình thiêng liêng, chuẩn bị tiến tới tuyên khấn làm người nữ tu. Muốn thế, cần có tín nhiệm lẫn nhau thực sự trong linh hướng.       

Cái quan trọng là có nơi mỗi ứng sinh một biến cố lịch sử đánh dấu thời khắc họ trở thành ứng sinh, và thời khắc đó được sống thường xuyên trong tất cả công cuộc tìm kiếm và thực thi thánh ý Chúa: Người tu sĩ sống căn tính tu sĩ suốt cả đời.  

2) Đổ vỡ là sự khởi đầu

Biện chứng pháp dẫn ta từ đối chọi tiền đề – phản đề đến một quan điểm mới (hợp đề). Cũng thế, mỗi một đổ vỡ mở ra một khởi đầu mới:  

Tiền đề ↔ Phản đề → Hợp đề

Hợp đề này = Tiền đề mới ↔ Phản đề mới → Hợp đề mới = Tiền đề mới ….  

3) Sống ơn gọi như sự chia tách

Sự kiện người đi tu xem ra hiện hữu tách biệt với người đời khiến người ta than phiền đi tu là cắt khỏi cuộc sống (xuất thế). Nhưng một cách nào đó đời tu đòi sẽ lại sự chia tách nầy (nhập thế) và khoảng cách giữa tu và không tu là một dữ kiện có một ý nghĩa hữu lý: sống một cách khác hợp với chọn lựa của đời mình. Do đó, đổ vỡ nầy đánh dấu sự khởi đầu của tất cả mọi cuộc đời. 

3. Chết cho cái cũ để sống cho cái mới     

Phải chăng đôi bên có mâu thuẫn và loại trừ lẫn nhau, và mối tương quan được định nghĩa bằng cái chết?            

Lý tưởng tu sĩ của ứng sinh chưa phải là một thực tại cụ thể (năng thể), nhưng là một hy vọng mà ứng sinh có nhiệm vụ phải biến thành hiện thực (hiện thể). Có thể nói đây là một bạo lực ngọt ngào: giết chết cái chất trần tục trong con người mình, để cuối cùng được sinh ra trong con người ứng sinh tu sĩ: “Anh em hãy mặc lấy con người mới đã được Đức Kitô Phục Sinh biến đổi”                        

Và đó là tiến trình lâu dài của một công cuộc hợp tác đào tạo và tự đào tạo, vừa thần linh vừa nhân loại. 

(slideshow CHƯA XONG!)  

VII. ỨNG SINH TỰ ĐÁNH GIÁ 

Trong suốt thời kỳ huấn luyện, các ứng sinh được khích lệ tự suy nghĩ về chính bản thân mình, dựa trên một bảng câu hỏi xuất phát từ những chất liệu khám phá được từ khung cảnh linh hướng. Bảng câu hỏi này liên quan đến: 

1. Những điều kiện bên ngoài

-          môi trường xã hội,

-          gia đình,

-          những mối liên hệ với các linh mục,

-          liên hệ với người khác giới.

-          tương quan với các Nữ Tu quen biết 

2. Những điều kiện tự nhiên 

-          sức khoẻ,

-          tính tình,

-          trí thông minh,

-          các tài năng và khả năng.  

3. Những điều kiện thiêng liêng

-          tinh thần xả kỷ,

-          tinh thần trách nhiệm,

-          tinh thần siêu nhiên,

-          tinh thần đức tin,

-          tinh thần cộng tác,

-          tinh thần vâng phục,

-          tinh thần nghèo khó,

-          tinh thần thanh khiết,

-          tinh thần phụng vụ,

-          tinh thần mục vụ

-          và tinh thần lao động chân tay.  

Bảng câu hỏi nhằm giúp ứng sinh biện phân ơn gọi của mình và đưa ra một quyết định trưởng thành cho cuộc đời mình với sự tự do nội tâm hoàn toàn.   

Để những nỗ lực này được dễ dàng hơn, họ phải được khuyến khích xây dựng một hình ảnh nữ tu lý tưởng mà lòng họ ước ao (x. Mô Hình Người Nữ Tu Hôm Nay và Ngày Mai)  

Việc tự đánh giá nghiêm túc có thể dẫn ứng sinh tới một trong hai kết luận:  

a) Hoặc là Chúa muốn chị theo con đường khác.           

Chị đã được trang bị các đức tính và những khả năng cần thiết để sống đời sống Kitô hữu một cách trọn vẹn với tư cách là một giáo dân. Vậy tinh thần trách nhiệm sẽ khích lệ chị thay đổi ơn gọi.  

b) Hoặc là Thiên Chúa chọn chị làm nữ tu.

Mặc dù chị tự kiểm một cách nghiêm túc, chị vẫn không thể tuyệt đối chắc chắn về ơn gọi của mình. Sự chấp thuận của Bề Trên và Hội Dòng sẽ hoàn tất chọn lựa này và làm cho chị an tâm.  

Để tiến trình tu tập được tiến bộ và kết quả, ứng sinh cần tự kiểm và tự đào luyện, cùng với sự giúp đỡ thường xuyên của người đồng hành.   

BẢNG CÂU HỎI CHI TIẾT GIÚP ỨNG SINH TỰ ĐÁNH GIÁ 

1. Những Điều Kiện Bên Ngoài 

1) Môi Trường Xã Hội 

Não trạng của người dân ở giáo xứ quê hương tôi hay của những người hàng xóm với gia đình tôi về đời sống tu trì là gì? Họ thực hành đạo thế nào? Họ có ảnh hưởng tốt hay xấu đến ơn gọi của tôi? Đặc biệt là tình bằng hữu của bà con họ hàng đối với gia đình tôi và với cá nhân tôi thế nào? Họ nghĩ thế nào về ơn gọi của tôi? Trong gia đình tôi hay trong những người bà con họ hàng tôi có ai sống đời thánh hiến không? Đâu là ảnh hưởng và mối tương quan giữa tôi và những anh chị em cùng lớp? Tôi có quan hệ đặc biệt nào với ai không?     

2) Gia Đình Tôi 

Sức khỏe của ông bà tôi, cha mẹ tôi, anh chị em tôi thế nào? Họ quan niệm thế nào và đối xử làm sao với ơn gọi của tôi, tích cực hay tiêu cực? Họ có cho phép tôi tự do chọn lựa, hay bắt tôi chịu áp lực của họ? Ai trong gia đình tôi là người có tầm ảnh hưởng quan trọng và tích cực nhất đối với ơn gọi của tôi? Cảm nghĩ của tôi về gia đình: quan tâm, gắn bó, thờ ơ lạnh nhạt, thất vọng? Tại sao? Mối tương quan đặc biệt của tôi với gia đình sẽ là gì, nhất là sau khi đã thành người nữ tu?  

3) Tương Quan với các Linh Mục

Đâu là ảnh hưởng thiêng liêng của Cha Bảo trợ đối với tôi? Ngài có thường xuyên liên lạc, giúp đỡ tài chính cho tôi không? Đâu là điểm tích cực mà tôi học được nơi ngài? Ngài có ảnh hưởng gì tiêu cực trên đời sống tôi không? Mối tương quan của tôi với cha xứ trong suốt năm học ở trường, nhất là trong những ngày nghỉ hè là gì? Mối tương quan giữa Cha xứ với gia đình tôi là gì? Khi được người khác khen hay chê thì thái độ của tôi là gì? Đời sống tư và việc tông đồ của cha xứ có ảnh hưởng gì đến ơn gọi của tôi? Tôi có quen biết cách đặc biệt nào với một số Cha khác không? Đâu là lý do của sự quen biết này và nó có ảnh hưởng gì đến tôi, về mặt thiêng liêng hay kinh tế? Tôi có tương quan dễ dàng và tốt lành với nhiều Cha trong Giáo phận tôi không, nhất là với các cha trẻ?     

4) Tương Quan Với Người Khác Phái 

Quan niệm của tôi về người khác phái là gì? Đâu là cách tôi giữ mối liên lạc với người khác phái? Tôi có mối quan hệ gần gũi với ai trong số những người nam sống đời thánh hiến không? Đâu là nguyên nhân của mối tương quan này? Đâu là cách tôi giữ liên lạc với anh ấy? Có gì đáng quan tâm hay dấu hiệu gì đáng đặt dấu hỏi không? Mọi người đều mang bản tính nhân loại và có giới tính. Tôi có thận trọng hơn trong tương quan với người đời, nhất là với các bạn không có Đạo? 

5) Tương quan với các Nữ Tu quen biết

Đâu là ảnh hưởng của cộng đoàn nữ tu ở trong giáo xứ đối với tôi, về tinh thần cũng như về vật chất? Ơn gọi tôi bắt đầu thế nào? Ai gợi ý và giúp tôi về ơn gọi? Đâu là điểm tích cực mà tôi học được nơi các Dì? Các Dì có ảnh hưởng gì tiêu cực trên đời sống ơn gọi của tôi không? Mối tương quan của tôi với các Dì trong suốt thời gian đi học? Mối tương quan giữa các Dì và gia đình tôi thế nào? Khi người ta khen hay chê các Dì thì thái độ của tôi là gì? Đời sống tình cảm riêng tư và việc tông đồ của các Dì có ảnh hưởng gì đến ơn gọi của tôi? Tôi có tương quan dễ dàng và tốt lành với bất cứ nữ tu nào không?  

2. Những Điều Kiện Tự Nhiên  

1) Sức Khoẻ Của Tôi 

Sức khoẻ của gia đình tôi thế nào? Có bệnh di truyền nào không? Tôi có lo lắng gì về bệnh tật trong tương lai không? Tôi gìn giữ sức khoẻ bằng cách nào? Đâu là nhịp độ ăn uống, ngủ nghỉ và làm việc của tôi trong thời gian học đều đặn cũng như trong thời thi cử?   

2) Tính Tình Của Tôi 

Tôi có thể mô tả tính tình của tôi thế nào: cảm xúc hay vô cảm, hoạt động hay không hoạt động, sáng kiến hay thụ động? Tôi có đầu óc hẹp hòi hay cởi mở, có điều độ ngăn nắp hay lộn xộn bừa bãi? Tôi lạc quan hay bi quan, nhút nhát hay liều lĩnh, khiêm tốn hay kiêu hãnh, chăm chỉ hay lười biếng, có óc tổ chức hay làm theo hứng? 

3) Trí Khôn Của Tôi

Trí khôn của tôi thế nào: xuất sắc, rất tốt, tốt hay kém? Kết quả học tập của tôi thế nào? Có tình trạng đặc biệt nào ảnh hưởng tới trí khôn của tôi không? Tôi có phương pháp nào để luyện trí nhớ và trí hiểu không? Tôi thích học thuộc lòng hay thích suy tư, phân tích hay tổng hợp ? 

4) Năng Khiếu và Khả Năng Của Tôi

Trong học tập, trong nghệ thuật và hoạt động, năng khiếu đặc biệt của tôi là gì? Đâu là điểm yếu của tôi trong những lãnh vực này? Tại sao? Đâu là cách tôi vun trồng và nâng cao năng khiếu của tôi?  

3. Những Điều Kiện Thiêng Liêng 

1) Tinh Thần Tự Hiến

Ơn gọi của tôi đã lớn lên và phát triển thế nào? Bây giờ ra sao? Tại sao tôi lại chọn đời sống thánh hiến? Tôi có luôn suy nghĩ về ơn gọi của tôi không? Có gì cản trở không? Làm thế nào để vượt qua? Tôi có lạc quan và hy vọng không, hay lại bi quan và thất vọng về tình trạng hiện tại của tôi? Tại sao? Tôi tự nguyện theo đuổi ơn gọi hay có áp lực nào không? Đâu là cách đặc biệt để gìn giữ và phát huy tinh thần dâng hiến của tôi, bây giờ và trong tương lai?  

2) Tinh Thần Trách Nhiệm

Tôi chu toàn bổn phận vì Chúa và vì muốn đời sống ơn gọi được chắc chắn hơn hay chỉ vì luật, vì ý bề trên, hay vì lòng tự trọng với chị em trong cộng đoàn? Phương pháp học của tôi là gì? Tôi học tất cả các môn hay chỉ học những môn ưa thích? Cách tôi học ở lớp, ở nhà là gì? Cách tôi làm bài thi và đọc sách  thế nào? Tôi tận dụng tối đa thời gian hay lãng phí nó? Quan điểm của tôi về luật lệ là gì? Tôi thường hay vi phạm điều nào? Công tác của tôi trong tu viện là gì và đâu là cách tôi thi hành công tác ấy?   

3) Tinh Thần Đời Sống Thiêng Liêng 

Tôi có tin rằng đời sống thiêng liêng là tối quan trọng đối với người sống đời thánh hiến không? Tình trạng hiện nay về đời sống thiêng liêng của tôi là gì và đâu là những cố gắng? Tôi có thói quen dâng ngày mới cho Chúa không? Đời sống cầu nguyện của tôi thế nào? Tôi có cầu nguyện đều đặn trong những kỳ nghỉ không? Tôi tham dự thánh lễ, chuẩn bị rước lễ và cám ơn sau rước lễ thế nào? Tôi có nhận thấy rõ Thánh Thể là trung tâm đời sống của mọi Kitô hữu, nhất là của những người sống đời thánh hiến không? Tôi có tập đọc sách thiêng liêng, nhất là Thánh Kinh cách đều đặn không? Tôi có viếng Chúa Giêsu Thánh Thể, thường xuyên xét mình để chuẩn bị tâm hồn lãnh nhận Bí tích Hoà giải không? Lòng sùng kính Đức Mẹ của tôi thế nào: có lần chuỗi, suy niệm và bắt chước Mẹ không? Vai trò của Đức Mẹ trong đời sống ơn gọi của tôi là gì? Mối liên hệ của tôi với các thánh và các linh hồn là gì? 

4) Tinh Thần Đức Tin 

Cách tôi nhìn các sự kiện trong đời sống tôi và trong xã hội là gì? Tôi có nhìn mọi việc với tinh thần đức tin không? Tôi có thường phải đối diện với những cám dỗ về đức tin không: mức độ thế nào và phản ứng của tôi làm sao? Những thái độ sống đức tin của tôi: trong nhà thờ, trong khi cử hành phụng vụ, khi cầu nguyện trong lớp học là gì?  

5) Tinh Thần Cộng Tác 

Tôi cảm thấy dễ hay khó khi quan hệ với mọi người bằng sự cởi mở, đối thoại, trợ giúp và hợp tác? Tại sao? Đâu là những cố gắng phải vượt qua? Đời sống chung và tình bạn hữu của tôi thế nào: thiện cảm hay ác cảm? Tương quan với bề trên, với vị linh hướng và với các nhà đào tạo khác: có dễ dàng tiếp xúc và cởi mở đón nhận những gợi ý của các ngài với lòng biết ơn không? Tôi có biết rằng tinh thần cộng đoàn và cộng tác là yếu tố cần thiết trong việc gìn giữ và xây dựng đời sống thánh hiến không?  

6) Tinh Thần Vâng Phục 

Tôi có suy nghĩ gì về tự do, về quyền bính và  vâng phục trong Hội Thánh? Tôi vâng lời cha mẹ và anh chị em thế nào? Và sự vâng phục của tôi đối với các bề trên, các nhà đào tạo ra sao? Tôi không hài lòng với họ về điểm nào? Tôi làm sao để khắc phục vượt qua, tìm thánh ý Chúa trong các ngài, nhận ra tình thương của các ngài, và thông cảm các giới hạn và trách nhiệm của các ngài? 

7) Tinh Thần Nghèo Khó

Quan niệm của tôi về nghèo khó là gì? Tôi có tập và sống khó nghèo không? Tình trạng kinh tế của tôi: giàu có, dư dật, đầy đủ hay thiếu thốn, túng bấn? Cách tôi kiếm tiền và tiêu tiền là g? Tôi có tính sổ hàng tháng, hàng năm không? Tôi có thích dùng những đồ sang trọng không? Tôi có tuân giữ trọn vẹn Luật Dòng về  đức khó nghèo không? Tôi có coi của chung như của riêng mình không?  

8) Tinh Thần Thanh Khiết

Tôi có tôn trọng và hiểu rằng sự trong sạch trong đời sống tu sĩ là một hiến tế, từ bỏ chính mình, dành tình yêu cho Chúa và cho các linh hồn không? Tôi có hiểu rằng đời sống độc thân thánh hiến là khó, cần phải có ơn Chúa (đời sống cầu nguyện) và cố gắng liên lỉ (khổ chế và hy sinh) không? Tôi có tránh những dịp cám dỗ: báo chí, phim ảnh, quan hệ và những lời nói tán tỉnh không? Tôi có thường xuyên bị cám dỗ trong tư tưởng không? Cách tôi chiến đấu chống lại nó là gì, luôn thắng trận hay bại trận? Tôi có tìm ra phương pháp nào để sống trong sạch không? Tôi có suy nghĩ tích cực hay tiêu cực về giá trị đời sống độc thân thánh hiến? Quan niệm của tôi về hôn nhân, tình yêu đôi lứa và về giới tính là gì? Tôi nghĩ gì về cơn khủng khoảng hiện nay của một số linh mục, tu sĩ?      

9) Tinh Thần Phụng Vụ

Tinh thần phụng vụ lúc này của tôi thế nào? Tôi có ý thức rằng phụng vụ, nhất là Phụng vụ Thánh Thể là trung tâm đời sống của Hội Thánh và của những người sống đời thánh hiến không? Tôi tham dự thánh lễ và các bí tích khác thế nào? Tôi có khao khát và cố gắng tham dự vào các hoạt động phụng vụ: Kinh nhật tụng, chầu Thánh Thể, tập thánh ca, lo hoa nến, vệ sinh nhà thờ và cầu nguyện hằng ngày?   

10) Tinh thần Mục Vụ

Tôi có ý thức rằng công tác mục vụ là nhiệm vụ hàng đầu trong sứ vụ dưỡng giáo và truyền giáo không? Tôi có tập trung tất cả những công việc hiện tại của mình để chuẩn bị cho các công tác mục vụ tương lai không? Tôi đã chuẩn bị cho việc dạy giáo lý và giúp sống Lời Chúa thế nào? Tôi có thăm viếng các gia đình, nhất là thăm những người nghèo khó và đau yếu không? Tôi có thể sống đúng mực và làm việc có trách nhiệm với những người già cả, trẻ em không? Hướng mục vụ của tôi được gợi hứng từ tinh thần của công đồng Vatican II là gì? Điều gì tôi thích: nhận nhiệm vụ nơi thôn quê hay chốn đô thị? Tôi có nhận định gì về đời sống mục vụ của các tu sĩ hiện nay: ưu điểm và khuyết điểm, mặt tích cực và mặt tiêu cực?  

11) Tinh Thần Lao Động Chân Tay 

Tôi có ý thức giá trị của lao động chân tay không? Hay tôi bị miễn cưỡng làm việc? Tinh thần lao động của tôi là gì khi tôi tham gia vào các hoạt động lao động chân tay trong cộng đoàn để sống và làm việc tông đồ? Tôi có nhận ra ý nghĩa đào tạo thiêng liêng qua các việc lao động chân tay không? Phát triển đời sống nhân đức làm cho lúa tốt, hoa đẹp? Loại trừ tận gốc các tật xấu như nhổ hết rễ cỏ dại? v.v…  

BẢNG ỨNG SINH TỰ KIỂM 

1. Bảo Vệ Đời Sống Thiêng Liêng & Ơn Gọi 

a.      Diệt Trừ Tội Lỗi Nhờ Bí Tích Giải Tội

- Tuyệt đối tránh tội trọng vì nó giết chết "sự sống siêu nhiên." Cố gắng tránh những tội nhẹ cố tình vì nó làm suy yếu "sự sống siêu nhiên", và có nguy cơ dẫn đến tội trọng. 

- Không những nên biết và thú nhận những tội mình đã phạm, mà còn phải biết tại sao mình phạm những tội ấy và chọn những phương cách thích nghi và hữu hiệu có thể giúp ta tránh.  

Ví dụ: Thay vì thú nhận “thưa cha, con có lỗi đức chân thành vài lần,” hãy xác định trường hợp nào, vì lý do gì chị đã nói dối, chẳng hạn “con có nói láo vì khoe khoang, vì sợ bị hạ nhục, vì có ý đưa mình lên trên kẻ khác.”  

Hay ví dụ khác: “con có lỗi đức bác ái,” phải xác định “con lỗi bác ái, không phải là một việc thông thường, mà lỗi này phát sinh từ một ác cảm, một ghen tức hay một oán thù, có ý thức, nhưng con vẫn cố tình chiều theo.”  

- Nhờ việc linh hướng, chúng ta sẽ có cơ hội thuận lợi để tìm ra các nguyên nhân tội lỗi, và có như thế chúng ta mới có thể chữa trị tận gốc, ngõ hầu đi xa hơn và vững hơn trong đường lối của Chúa, tức là trở nên con người mới, con người thuộc về Chúa Kitô mỗi ngày một thành toàn hơn trong các mối tương quan với Chúa, với tha nhân và với bản thân. 

b. Diệt trừ Tính xấu chủ đạo

và Thực tập Nhân đức ngược lại

- Con người thật của ta có những tính tốt, mà cũng có nhiều khuynh hướng và tập quán xấu.  

- Muốn bài trừ tận tuyệt tính xấu, ta phải luyện tập nhân đức đối lập. Thí dụ: người nóng tính cần luyện tập nhân đức hiền lành, người nhút nhát phải tập đức can đảm, người ham muốn sắc dục phải tập đức khiết tịnh…. 

- Ghi ra các tính xấu hay mắc phải để cố gắng tìm ra nguyên nhân hay tìm ra tính xấu chủ đạo là tính xấu mạnh nhất (thường ẩn kín, nhưng điều động những tính xấu khác).

- Về nhân đức cần thực tập, cần có những nghiên cứu thêm, tìm hiểu sâu xa nhân đức này để biết và yêu mến, đồng thời tìm ra những phương thế cụ thể trong luyện tập. 

c. Độc thân khiết tịnh (Trưởng thành nhân bản: ứng xử, tình cảm và giới tính)

- Trong thế giới đề cao sự "hưởng thụ" hôm nay, "độc thân khiết tịnh" đang là một thách đố thật lớn.  

- Về vấn đề này, vị linh hướng hay cha giải tội là một người hướng dẫn, một người bạn thật quí giá. Hãy tin tưởng, trình bày và bàn hỏi với ngài ngay từ lúc đầu khi ta "cảm thấy có vấn đề". Đừng để đến khi "quá trễ" rồi mới trình bày. 

- Các vấn đề nổi cộm hiện nay: Lạm dụng tình dục, “sinh viên tầm gửi”, đồng tính luyến ái, thủ dâm…

2. Tăng Trưởng Đời Sống Thiêng Liêng 

a. Dâng ngày, Thánh lễ, Chuỗi Mân Côi

- Chọn ý hướng dâng ngày cụ thể: mỗi ngày hoặc mỗi tuần một ý hướng. 

- Ghi lại những khám phá thêm qua học hỏi, qua gương sáng, qua những cảm nhận được về Thánh lễ (ví dụ: về một lời nào đó trong Phụng vụ Lời Chúa, trong Kinh Nguyện Thánh Thể, về việc chuẩn bị dâng thánh lễ hay cám ơn sau rước lễ…) 

- Chọn cho mình một cách lần chuỗi Mân Côi (những ý chỉ cầu nguyện, tìm những tài liệu hướng dẫn…) 

- Coi việc sống Mầu Nhiệm Thánh Thể và sùng kính Mẹ Maria là phương thế nâng đỡ và bảo đảm trung thành cho đời sống thánh hiến.

b. Sách Đạo Đức – Thiêng Liêng

- Trao đổi với vị linh hướng để có sách thiêng liêng thích hợp mà đọc.

- Ghi lại tên sách - tác giả - chủ đề đã đọc trong tháng.

- Ghi tóm tắt những cảm nghĩ, những khám phá giúp ích cho đời sống thiêng liêng… 

- Đừng quan niệm môn Tu đức như đứng tách biệt với các môn học khác. Để nuôi dưỡng đời sống nội tâm và lớn lên trong đời sống thiêng liêng, ứng sinh phải được giúp cầu nguyện và chiêm ngắm trong và qua các môn học. 

c. Xét mình, Nhật ký, Tĩnh tâm

- “Hãy tự biết mình” – “Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con.”  Muốn thế, cần có sự xét mình mỗi ngày.   

- Trung thành như thế nào? Chị đã dùng cách nào đề xét mình? Để viết nhật ký đạo đức ? 

- Những khó khăn trong khi xét mình, khi viết nhật ký đạo đức, khi tĩnh tâm? Những ích lợi mà mình nhận ra. 

d. Nguyện gẫm

- Mỗi người chọn cho mình một cách nguyện gẫm thích hợp.

- Cách của Xuân Bích có ba thì căn bản: Đặt Chúa Giêsu ở trước mắt, đặt Chúa Giêsu trong con tim và đặt Chúa Giêsu trên bàn tay. 

- Tập viết lại bài nguyện gẫm đã thực hiện, theo phương pháp mà mình đã chọn, để đọc lại hầu nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và trao đổi với vị Linh hướng. 

- Ghi lại những tiến bộ hoặc khó khăn đang gặp đối với việc nguyện gẫm. 

e. Viếng Thánh Thể

- Mầu nhiệm Thánh Thể là nguồn suối và chóp đỉnh của đời sống và sứ vụ.

- Tập sống thân mật với Chúa Giêsu Thánh Thể, năng viếng Mình Thánh Chúa.

- Chương trình dành cho Chúa Giêsu Thánh Thể (lúc nào? đã làm thế nào?)

- Viết lại tóm tắt những cảm nhận đối với Chúa Giêsu Thánh Thể. 

f. Đời sống bác ái huynh đệ

- "Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo" (Col. 3,14). 

- Sự thánh thiện được hiểu trong bối cảnh các mối tương quan: Cuộc sống chung tốt đẹp cần những yêu tố nào? Cuộc sống chung nặng nề do những nguyên nhân nào? 

- Việc bác ái là một phương thế hữu hiệu giúp "tăng trưởng đời sống thiêng liêng" 

- Có những quyết tâm làm những việc bác ái cụ thể. 

g. Kỷ Luật Dòng

- “Ai tuân giữ kỷ luật, kỷ luật sẽ gìn giữ người đó.” 

- Ghi lại những điểm nào về kỷ luật mà mình cảm thấy khó giữ và cho biết nguyên nhân khó khăn ? 

- Ghi lại những kinh nghiệm cụ thể về những điểm kỷ luật đã thực hiện tốt ?

h. Hướng dẫn của Chúa (những cảm nhận riêng)

- Chúa Thánh Thần luôn họat động: Ngài sẽ nhắc các con mọi điều Thầy đã dạy các con; Ngài sẽ dạy các con phải nói gì và nói thế nào, và Ngài sẽ nói thay cho các con nữa… 

- Ghi lại những điều khám phá, những điều đánh động mình một các đặc biệt (một gương sáng, một câu Phúc âm…)

3. Thao Thức Tông Đồ 

a. Hiểu, khám phá, xác tín thêm gì  về Ơn gọi. Ước mơ gì? Chuẩn bị thế nào cho đời sống Tu sĩ?

- Khai triển “Mô Hình Người Nữ Tu Hôm Nay và Ngày Mai” để phác họa cho chính mình mẫu nữ tu mà mình sẽ thực hiện trong tương lai. 

- Nếu tôi làm nữ tu, tôi sẽ làm gì để: Dạy giáo lý.... (sứ vụ Tiên Tri); Tổ chức phụng vụ, ca đoàn, phòng thánh... (sứ vụ Tư Tế); Điều hành, hướng dẫn cộng đoàn, các đoàn thể, các công việc từ thiện xã hội... (sứ vụ Vương Đế) 

- Hiện nay tôi thấy cần phải chuẩn bị gì để trở thành một nữ tu tốt như lòng Chúa mong ước? 

b. Vấn Đề Cần Trao Đổi

Chủ động nêu ra các thắc mắc hay vấn đề gì muốn tìm hiểu thêm, muốn bàn hỏi thêm. 

VIII. TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ CUỐI CÙNG VÀ GỌI TUYÊN KHẤN 

Họ phải được thử thách trước đã, rồi mới được thi hành chức vụ…” ( 1 Tm 3: 10) 

Cũng như đào tạo linh mục, việc đào tạo tu sĩ cũng theo  tiến trình bốn chiều kích căn bản: nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ. Việc đào tạo này nhằm giúp ứng sinh trưởng thành và cung cấp một đánh giá xác thực và hữu ích cho việc Bề trên gọi ứng sinh tuyên khấn.  

Mục đích của việc Bề Trên và ban đào tạo nhận xét hàng năm là để giúp ứng sinh tự suy nghĩ và đánh giá, nhờ đó, trong cái nhìn xác thực về đời mình, chị có thể thấy những gì cần phải thay đổi và lên kế hoạch cụ thể để việc thay đổi ấy được hiệu quả.  

Đức Gioan Phaolô II đề cao: “Tính thích hợp của ứng sinh, trên hết, nhắm đến tinh thần cầu nguyện, sự thấm nhuần sâu xa giáo lý đức tin, khả năng sống tình huynh đệ và đặc sủng sống độc thân thánh hiến. 

Vì thế, bên cạnh các nhận xét của ban đào tạo, người ta cũng mong muốn có sự tham khảo các bạn đồng môn, và những người ứng sinh thi hành sứ vụ (tham khảo thôi, chứ không có giá trị quyết định).  

Mọi người phải tôn trọng chặt chẽ phận vụ của toà trong và toà ngoài. Các giá trị và kỹ năng đánh giá dựa trên giáo huấn của Hội Thánh và dựa trên đặc sủng, linh đạo, hiếp pháp của Hội Dòng.  

Hội đồng Dòng và tất cả các nhà đào tạo cố gắng hiểu biết đầy đủ về từng ứng sinh để giáo dục chị và giúp chị phát huy nỗ lực tự đào tạo của chị.  

Các ngài góp phần vào công việc chung của Hội Dòng, bằng việc đánh giá cuối cùng và giới thiệu ứng sinh lên tuyên khấn.  

Việc đánh giá này nhấn mạnh những lãnh vực chủ yếu:

-          Trưởng thành nhân bản;

-          Đời sống cộng đoàn và những kỹ năng tương tác liên nhân vị;

-          Trưởng thành thiêng liêng được diễn tả bởi cam kết dấn thân cầu nguyện và sống mật thiết với Chúa Kitô, siêng năng lãnh nhận các bí tích;

-          Hiểu biết đầy đủ về đời tu và chấp nhận giáo huấn của Hội Thánh về đức tin và luân lý;

-          Hiểu biết đầy đủ và sống đặc sủng, linh đạo và hiến pháp của Hội Dòng;

-          Sẵn sàng nắm giữ đời sống độc thân thánh hiến qua ba lời khấn Dòng (Vâng phục, Khó nghèo, Thanh khiết);

-          Sẵn sàng chấp nhận cuộc sống bất định của kẻ được sai đi (tới nơi không muốn, ở với người không ưa và làm việc không thích);

-          Sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm tiếp tục được đào tạo và tự đào tạo;

-          v.v... 

“Khoa tâm lý giáo dục đương thời cung cấp nhiều kỹ thuật để đánh giá cách thích hợp hơn sự phát triển thực sự của ứng sinh.”  

Vì bí mật của việc linh hướng, vị linh hướng bị ràng buộc bởi toà trong và do đó, không được bàn cải khi đánh giá và nhận xét về tính thích hợp của ứng sinh trong việc tuyên khấn.  

Còn các vị khác đã tương tác làm việc với ứng sinh cách công cộng và ở toà ngoài nên bị đòi buộc tham dự tiến trình đánh giá này: không những cho biết thái độ ứng xử bên ngoài của ứng sinh (những gì chị nói và làm, cũng như đạt được những kiến thức đòi hỏi), mà còn đánh giá tính thích hợp của việc chị tuyên khấn, vì đó là trách nhiệm đã được trao phó cho các ngài.  

Như “những thừa tác viên hợp luật của Hội Thánh được trao trách nhiệm phán đoán tính thích hợp của các ứng sinh,” Bề Trên và Ban đào tạo bỏ phiếu trong buổi đánh giá cuối cùng. Phiếu bầu có nhiều loại: khẳng định, khẳng định có ghi chú, tiêu cực và loại.  

Loại “khẳng định có ghi chú” có nghĩa là còn có khiếm khuyết cần phải sửa chữa và trau dồi thêm, nghĩa là bị dừng lại chưa cho khấn. Nếu là phiếu loại thì nên giải thích đầy đủ. 

Nên nhắm giáo dục hơn là loại bỏ: Mỗi vị thánh đều có một quá khứ, và mỗi tội nhân đều có một tương lai. Giáo dục nhắm biến đổi người xấu thành người tốt và người tốt thành người tốt hơn, phó thác cho quyền năng của ơn Chúa. Đối với con người thì không thể, nhưng với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể. 

Các ứng sinh cũng phải được biết về những lầm lỗi của mình, đặc biệt là những lầm lỗi quan trọng; được phép giải thích và biện hộ lý do của mình (x.Cv 25,16); cũng cần có thời gian và cơ hội để thực hiện sự hoán cải cần thiết.  

Đây là mệnh lệnh của Tin Mừng đối với việc tha thứ và biến đổi. Điều mà tổ tiên người Việt Nam quan tâm là “làm người, không ai thoát khỏi lầm lỗi; có lầm lỗi thì phải sửa mình; và khi đã sửa rồi thì không còn lầm lỗi nữa.” 

Tin Mừng chứng tỏ nhiều tội nhân trở thành thánh nhân nhờ sự trợ giúp quyền năng của ân sủng Thiên Chúa (Ga 8,7). Đây là tình yêu thương xót của Chúa (Mt 9,12-13).   

Trên thực tế, những người đã hoán cải mà có lòng khiêm tốn còn tốt hơn những ai không hề có lỗi lầm nào đáng kể, mà mắc phải chứng kiêu hãnh và tự phụ.  

Mọi nỗ lực và sự quan tâm đặc biệt đối với việc đào tạo là nhằm cung cấp cho các ứng sinh những phương tiện để biện phân ơn gọi của mình, để họ thu thập được kiến thức, thái độ và những kỹ năng cần thiết cho một tu sĩ tốt, trong niềm tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ hoàn tất công việc quan trọng này của Hội Thánh bằng những ơn huệ của Chúa Thánh Thần. 

Nhưng trong cảm thức cộng đoàn, người ta không dừng lại ở đó, mà còn quan tâm đến các khuynh hướng đặc biệt, những khả năng và đức tính của ứng sinh nữa, ngõ hầu giúp Bề Trên “dùng” và bổ nhiệm chị phù hợp với các ân huệ Chúa ban cho chị và các nhu cầu của Hội Dòng.  

Ban đào tạo cũng có thể gợi ý và đề nghị cho phép một số ứng sinh đẩy xa việc học hơn nữa hầu có thể cống hiến cho Dòng và Giáo Hội những nhà đào tạo tương lai bén nhạy với các nhu cầu thiêng liêng hiện nay, bởi vì không phải bất cứ ai cũng có thể trở thành nhà đào tạo, nhất là linh hướng. 

Đây là sự chuẩn bị các người kế vị thích hợp của Hội Dòng. Vì sự sống còn và phát triển Hội Dòng, Bề Trên nên chọn những nữ tu ưu tú để được huấn luyện thành các nhà đào tạo tương lai. Ai được chọn thì phải sẵn sàng “trả lại” cả vốn lẫn lãi nén bạc Chúa đã trao cho. 

IX. TrẮc NghiỆm Tâm Lý và Phân ĐỊnh Ơn GỌI 

1.      Đông Lực và Những Giới Hạn   

Vì ảnh hưởng của lối sống buông thả luân lý và hưởng thụ khoái lạc, cùng những gương xấu và hậu quả tai hại của lạm dụng tình dục, nhiều người đòi hỏi các ứng sinh ơn gọi phải trải qua những trắc nghiệm tâm lý và tính dục.  

Đối với tâm thức của người Việt Nam vốn rất dè dặt, nhất là trong lãnh vực giới tính, việc này rất tế nhị và có nguy cơ tai hại là làm cho người ta bị cám dỗ nói dối, và nếu đã nói dối một lần, họ sẽ có cớ mạnh để tiếp tục nói dối nữa.  

Vì thế, những trắc nghiệm tâm lý nên chỉ được sử dụng giới hạn thôi, và không được dùng để điều tra lai lịch, moi móc những bí mật sâu kín, hầu đánh giá tính thích hợp toàn diện của ơn gọi ứng sinh. 

Tuy nhiên, trắc nghiệm tâm lý ở những giai đoạn khác nhau của cuộc đời vẫn là hữu ích: khả năng và thái độ của ứng sinh có thể được kiểm tra và bất cứ khuyết điểm hay yếu kém tâm lý nào cũng có thể được chữa lành nhờ chữa trị hay tham vấn tâm lý.  

Nhưng nhà chuyên môn chỉ được phép tìm kiếm và tường trình về những gì mà chính ứng sinh không biết hay không thể diễn tả và giải thích được.

Hơn thế nữa, theo Đức Gioan Phaolô II, chúng ta phải quan tâm tới việc đào tạo các chuyên gia tâm lý: ngoài trình độ khoa học cao, họ còn cần có sự hiểu biết đến nơi đến chốn quan điểm Kitô giáo về đời sống và ơn gọi tu trì nữa, hầu cung ứng sự trợ giúp hữu hiệu cho việc hội nhập cần thiết của các chiều kích nhân bản và siêu nhiên. 

Đồng ý với quan điểm của Đức Thánh Cha, tiến sĩ Rick Fitzgibbons, chuyên gia tâm thần đề nghị rằng các chuyên gia tâm lý và tâm thần dấn thân cho nhiệm vụ quan trọng đặc biệt là đánh giá các ứng sinh phải tham dự các chương trình đào tạo trung thành với giáo huấn của Hội Thánh về luân lý tính dục. 

2. Tiến Trình  

Cơ sở đào tạo sẽ cung ứng cho ứng sinh việc tham vấn cá nhân với một chuyên gia tâm lý/tâm thần. Cuộc đối thoại phải được giữ riêng tư và bí mật. Mỗi cá nhân được tự do gặp chuyên gia tâm lý/tâm thần khi nào tùy ý muốn.   

Khuôn khổ căn bản của việc tư vấn là một mô hình trị liệu ngắn, trong đó các kỹ thuật trị liệu tập trung vào các đề tài nổi cộm và những xung đột đã biết.

Mục đích là làm cho ứng sinh được tư vấn có khả năng gia tăng các phương tiện có sẵn của mình để hiểu rõ và giải quyết xung đột, đồng thời giúp ứng sinh trở thành người trị liệu cho chính mình, nghĩa là giúp đương sự hội nhập các phương diện của câu chuyện đời, nhân cách và tâm linh của đương sự.  

Thỉnh thoảng có những thiếu cân bằng hoá học khiến các cá nhân trải nghiệm sự chán nản và những chán nản này cần được chẩn đoán và chữa trị. Cũng tương tự như thế với một số tình trạng băn khoăn lo lắng. 

Phải hiểu vai trò chuyên gia tâm lý/tâm thần là trợ giúp ứng sinh hiểu biết toàn diện hơn về nhân cách của mình. Do đó, ứng sinh hoàn toàn tín nhiệm chọn tư vấn với chuyên gia tâm lý/tâm thần được nhà đào tạo đề nghị. 

Sự tín nhiệm này vẫn còn nguyên vẹn, ngay cả khi nhà đào tạo đề nghị một tư vấn như thế nhằm cho ứng sinh trưởng thành ở mức độ sâu hơn.  

3. Trắc Nghiệm Tâm Lý Trong Việc Tuyển Lựa và Đào Tạo Ứng Sinh 

Theo bà Gladys A. Sweeney, có những ứng sinh xác tín rằng mình có ơn gọi, nhưng động lực ơn gọi ấy đôi khi đến từ một ước muốn vô thức muốn tránh đời sống vợ chồng hoặc muốn chạy trốn những mối tương quan liên nhân vị. Khoa tâm lý giúp làm sáng tỏ các trở ngại này, và như thế giúp ích rất lớn, không những cho Giáo Hội mà còn cho chính ứng sinh nữa.  

Việc sử dụng các phương tiện tâm lý và những cuộc phỏng vấn chẩn đoán làm cho người ta có thể thấy được chướng ngại mang bản chất tâm thần, tình cảm hay cơ chế thể lý đang ngăn cản ứng sinh tự do quyết định về ơn gọi của mình, trong khi đó ơn gọi phải là một quyết định hoàn toàn tự do dựa trên tình yêu.  

Việc đào tạo ứng sinh là một công cuộc lâu dài đòi hỏi một mức độ tự xem xét nội tâm và kiểm tra mạnh mẽ về chính bản thân. Trong thời kỳ đào tạo có thể xuất hiện các hiện tượng tâm lý kiểu như nỗi thống khổ, sự lo âu, những lúc căng thẳng, và chúng sẽ được dọn dẹp sáng sủa nhờ việc linh hướng. Cũng có những trường hợp phải kêu gọi đến sự giúp đỡ của các khoa học tâm lý. Trong trường hợp này, việc tham khảo một chuyên gia tâm lý có thể cứu vãn được ơn gọi. 

Một chuyên gia tâm lý có phẩm chất tốt là một nhà tâm lý học biết thấu đáo về những phát minh mới nhất của khoa học, đồng thời phải hiểu rõ viễn ảnh toàn tiện của chiều kích siêu nhiên của ơn gọi.  

Có thể rằng những thời kỳ lo âu hay chán nản không phải là phản ánh của tình trạng rối loạn chức năng tâm lý, nhưng đó là biểu hiện của giai đoạn nhất thời của đời sống thiêng liêng, như “đêm tối của linh hồn.” Trong trường hợp này, một khi giai đoạn ấy kết thúc, đương sự sẽ ở trong mức độ đời sống thiêng liêng cao hơn.  

Nếu một chuyên gia tâm lý không hiểu biết gì về những phương diện siêu nhiên của ơn gọi, mà chỉ thấy đó là những rối loạn chức năng tâm lý, thì chuyên gia tâm lý ấy đã làm điều xấu hơn điều tốt, vì đã cản trở sự phát triển đời sống thiêng liêng của ứng sinh. Trái lại, nếu đó chỉ là một vấn đề tâm lý thì thật là sai lầm khi coi nó như một vấn đề thiêng liêng. Vì thế, các chuyên gia tâm lý được đào tạo kỹ lưỡng về trình độ tri thức và thiêng liêng có thể giúp ích rất nhiều, không những trong việc tuyển chọn mà còn đào tạo ứng sinh nữa.  

Một cái nhìn toàn diện về con người là một cái nhìn bao gồm mọi khía cạnh: tâm lý, thiêng liêng và luân lý. Những ai có vấn đề về tâm lý thường có khuynh hướng quyết định một cách thiếu khôn ngoan, đi ngược với bản tính nhân loại, và đôi khi còn theo cách vô luân nữa.   

Trong trường hợp này, khoa tâm lý học phải can thiệp để giải thoát ý chí hầu ứng sinh có thể thấy được các trạng huống cách khách quan, phân biệt cách khôn ngoan việc phải làm và làm trong đường lối luân lý và nhân đức. Bấy giờ, khoa tâm lý phục vụ sự thật, và giúp “uốn cho ngay đường của Chúa” hầu con người biết chọn điều thiện. 

4. Liên Quan Đến Độc Thân Thánh Hiến 

Cần phải cẩn trọng và khôn ngoan giải thích cách đầy đủ cho ứng sinh biết đời sống tu trì và độc thân thánh hiến đích thực là gì, để ứng sinh hiểu được mục đích của việc đào tạo và cộng tác cách tốt hơn với Chúa Thánh Thần qua vị linh hướng.  

Ngay trước khi tuyên khấn hay chịu chức, ứng viên đã phải hiểu đầy đủ và phát triển cách thích hợp động lực tình cảm, tình yêu trưởng thành và nồng nhiệt cho Đức Giêsu, hy vọng sống động vì Nước trời, và lòng nhiệt thành hăng hái giúp tha nhân vào Nước Trời.  

Ứng sinh phải tiết dục hoàn toàn và sống đức thanh khiết cách bình an, không bị dục vọng thiêu đốt, nhờ đó sẽ được chắc chắn về mặt luân lý trước lời hứa sống độc thân thánh hiến của mình.  

Với một đời sống thiêng liêng trưởng thành, ứng sinh sẽ thấy đời sống độc thân thánh hiến là quà tặng thiêng liêng của Chúa vì phần rỗi của loài người hơn là một gánh nặng. Do đó, chủ đề giới tính là nhu cầu khẩn cấp trong chương trình đào tạo nhân bản và thiêng liêng cho ứng sinh.  

Theo những khám phá mới đây của John Jay College of Criminal Justice thì cơn khủng hoảng trong Giáo Hội là đồng tính luyến ái (phần lớn các nạn nhân không phải là trẻ em).  

Nỗi cô đơn và thiếu sự tự tín là nguyên nhân của sự hấp dẫn đồng giới. Nhưng các hấp dẫn này được giải quyết với sự trợ giúp của Chúa. Đức thanh khiết nên được trình bày như một đường lối lành mạnh của cuộc sống. Hỏi ứng sinh xem họ thích người khác giới hay đồng giới thôi thì chưa đủ. Phải giúp ứng sinh nỗ lực đối mặt và giải quyết các xung đột tình cảm của y  nhờ tâm lý trị liệu và linh hướng.  

Những ứng sinh có các hấp dẫn đồng tính phải trải qua tư vấn và trị liệu tâm lý, và chỉ những ai đã hoàn toàn trị liệu thành công mới được phép tiếp tục. Ứng sinh ấy sẽ không được khấn hay chịu chức, cho đến khi các xung đột này được chữa lành và không còn bị coi là đồng tính luyến ái (x. Huấn Thị của Bộ Giáo Dục Công Giáo về đồng tính luyến ái ngày 04-11-2005). 

Trong lãnh vực này, các nhà đào tạo có một chương trình rộng lớn và thách thức để phát triển, nhất là làm gương sáng. Gương sáng hiệu quả hơn các thuyết giảng của họ: Ở đâu sự độc thân thánh hiến được sống cách sung mãn và vui tươi, ở đó đời sống thiêng liêng sẽ được sống cách cao độ. 

Phải dạy ứng sinh hiểu được ý nghĩa đích thực của đời độc thân thánh hiến và hiểu lý do tại sao Hội Thánh đòi hỏi phải sống độc thân thánh hiến, đồng thời phải học tận dụng các phương tiện nhân bản và siêu nhiên để sống cam kết này cách vui tươi. 

Những mối tương quan lành mạnh với cả hai giới làm nên một phần quan trọng trong việc giáo dục và phân định liên quan đến đời sống độc thân thánh hiến. Các nhà đào tạo đóng vai trò chìa khóa trong việc đào tạo đời sống độc thân thánh hiến. Chính họ phải hội nhập tốt lãnh vực giới tính và đời sống độc thân thánh hiến.  

Đời sống độc thân thánh hiến gắn liền với các nhân đức Phúc âm khác là khó nghèo và vâng phục. Vì thế, đào tạo sống đời độc thân thánh hiến phải đi đôi với đào tạo sống giản dị và vâng lời có trách nhiệm.  

Chúng ta có thể kết luận với Đức Gioan Phaolô II: “Bảo đảm tốt nhất của đời sống độc thân nằm ở việc đào tạo đúng đắn và quân bình cho các ứng sinh. Họ được mời gọi tha thiết nắm giữ, với vui mừng và quảng đại, một lối sống khiêm nhường, giản dị và thanh khiết, vốn là nền tảng thực hành của đời sống độc thân thánh hiến của Hội Thánh” (John Paul II, “On Psychology and Candidates for the Priesthood”: Speech to Session of Congregation for Catholic Education” February 21, 2002)

(slideshow DẪU CON LÀ AI)

X. Ứng Sinh Không Thích HỢp

(Hát CHÚA CẤT TIẾNG GỌI CON) 

Trong việc biện phân ơn gọi của một ứng sinh, phải phân biệt hai yếu tố: - Ước muốn - và sự thích hợp.  

Lòng ước muốn thuộc bình diện tình cảm, trong khi sự thích hợp đòi hỏi phẩm chất và khả năng. Một thiếu nữ có thể rất muốn trở thành nữ tu, nhưng chị lại không đủ phẩm chất và khả năng khiến chị có thể làm một nữ tu xứng đáng. Vì thế, toà ngoài phải phán đoán tính thích hợp này, ngõ hầu đón nhận hay từ chối một ứng sinh. 

Còn ở toà trong, lòng ước muốn phải được vị linh hướng xét xem có phù hợp với ước muốn của Chúa Thánh Thần không. Việc này giao phó ứng sinh cho hoạt động của Chúa Thánh Thần, và sự tiếp nhận lắng nghe những gì được nói với chị ở toà ngoài. Toà ngoài cũng phải tìm biết những dấu chỉ của hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống của ứng sinh.

Ứng sinh nào bị phát hiện là không thích hợp, vì khiếm khuyết thể lý, quân bình tâm lý hay luân lý, thì nên nhanh chóng đưa chị  ra khỏi con đường theo đuổi ơn gọi. Cả hai phía, các nhà đào tạo và ứng sinh, không được phép nuôi dưỡng những hy vọng hảo huyền và những ảo tưởng nguy hiểm. Cũng không ai được tự phụ rằng ơn thánh sẽ thay thế cho những khiếm khuyết tự nhiên.  

Tuy nhiên, người ta sẽ cho ứng sinh không thích hợp ra đi một cách tôn trọng, bằng cách nhấn mạnh về sự không thích hợp với đời sống thánh hiến hơn là những khiếm khuyết hay lỗi lầm, làm tổn thương nhân phẩm và danh dự của họ. Các cựu ứng sinh nầy cũng là kho tàng của Nhà Dòng, họ sẽ hỗ trợ Nhà Dòng  phát triển, cộng tác vào công cuộc đào tạo các ứng sinh cách này hay cách khác.  

Không phải tất cả những ai vào Dòng đều nhất thiết trở thành nữ tu: “Gọi thì nhiều, nhưng chọn thì ít. Người ta phải gợi ý cho chị một thực hiện mới, trong niềm tin tưởng rằng Chúa sẽ dùng chị cách tốt đẹp cho lợi ích của Giáo Hội, đền đáp những gì chị đã lãnh nhận từ Chúa và Giáo Hội của Ngài, qua những năm tháng được đào tạo trong Dòng. Hãy tạo cơ hội cho họ góp phần cách tích cực và hữu hiệu vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội, về nhân lực cũng như vật lực.  

Vậy vấn đề quan trọng là

CHỌN LỰA LÀM SAO CHO ĐÚNG?

Trong bất cứ chọn lựa nào cho suốt cuộc đời, chúng ta phải làm nổi bật hai yếu tố quan trọng THÍCH và HỢP. Thích là ý muốn chủ quan nói lên hứng thú và nguyện vọng, ước mơ. Hợp là yêu cầu khách quan đòi hỏi năng lực và phẩm chất, để có thể theo đuổi suốt cuộc đời lựa chọn hôm nay. Nhưng Thích và Hợp có những mức độ khác nhau liên quan đến chọn lựa của ta, được mô tả như sau: 

           

Các ô từ 1-12 biểu thị các mức độ thích và hợp, đồng thời xác định sự lựa chọn:

-          Nếu vô tình hay buộc lòng chọn các ô 1 2 3 4 5 6 và 9 thì đó là quyết định sai lầm có ảnh hưởng xấu đến tương lai cuộc đời.

-          Nếu phải chấp nhận số 7 và 10 thì chọn lựa đó có thể được với nỗ lực bản thân rất lớn.         

-          Chọn số 8 và 11 là chọn lựa tương đối ổn định, có khả năng hoàn thiện với cố gắng liên lĩ. Đa số ở vào trường hợp này.

-          Chọn số 12 là chọn lựa lý tưởng.

            Tóm lại:

            -  Nếu chỉ thích mà không hợp là không tốt, đừng chọn.

            -  Nếu chỉ hợp mà không thích thì không hay, đừng chọn.

            - Chỉ chọn cái ta thích và hợp với ta. Đó là một quyết định không lầm lẫn. 

Vấn đề quan trọng là xác định thế nào là thích và hợp?

Thích thuộc lãnh vực tình cảm. Có những sở thích nhất thời, không ổn định, theo phong trào: đừng nghĩ đó là hứng thú có thật hay một khát vọng đã được tôi luyện qua nhiều năm tháng, có khả năng kích thích và thôi thúc thực hiện bền bĩ. 

Hợp thuộc lãnh vực phẩm chất và năng lực. Cần phải biết chính mình, xem phẩm chất và năng lực của mình có phù hợp với con đường mình muốn dấn thân vào không? Tự mình có thể ngộ nhận, nên ta cần có sự giúp đỡ chuyên môn của khải đạo, linh hướng, cố vấn tâm lý, trắc nghiệm hướng nghiệp…  

B. KỸ NĂNG CHUYÊN BIỆT: LINH HƯỚNG 

Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,

Biết cả khi con đứng con ngồi.
Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,
Đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét,
Mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.

Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời,
Thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết.
Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước,
Bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con. 

Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm,
Quá cao vời, con chẳng sao vươn tới!
Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài,
Ẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan?

Con có lên trời, Chúa đang ngự đó,
Nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài.
Dù chắp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện,
Đến ở nơi chân trời góc biển phương tây,
Tại đó cũng tay Ngài đưa dẫn,
Cánh tay hùng mạnh giữ lấy con.

Tv 139, 1-10  

I. NhỮng ý niỆm KhỞi đẦu 

Đào tạo thiêng liêng là công việc của Chúa Thánh Thần và Ngài là vị linh hướng đích thực. Ngài dẫn dắt mỗi một người theo một con đường riêng biệt. Mỗi người phải tự khám phá ra con đường Chúa Thánh Thần dẫn dắt mình đi.  

Người hướng dẫn phải nổ lực khám phá ra con đường Chúa Thánh Thần muốn cho người thụ hướng của mình, để giúp người đó nhận ra, điều chỉnh và theo sát con đường độc đáo đó, chứ không được áp đặt con đường của mình, dù tốt đến đâu chăng nữa, nhưng không tốt và thích hợp cho người thụ hướng.  

Người ta cần có sự tín nhiệm thật sự để bộc lộ hết cho nhau. Sự tín nhiệm nầy đòi hỏi sự hợp tác của cả hai phía, với ơn Chúa, để đi vào thế giới tâm hồn của nhau. Thông thường cần có thời gian cho lòng tín nhiệm triển nở, không thể đốt giai đoạn, áp đặt hay cưỡng bách được. 

Vậy khi người thụ hướng chưa nói hết được với vị linh hướng những gì cần thiết, phải kể như chưa nói vì chưa tín nhiệm nhau đủ, chứ không phải cố tình giấu giếm, cả hai đều phải nghĩ như vậy để được bình an tâm hồn, không bị áy náy, mặc cảm “có lỗi” che đậy dối trá. Dĩ nhiên phải khắc phục chấm dứt tình trạng nầy, nếu không thì phải thay đổi người đồng hành, hầu đạt được đúng ý nghĩa và mục đích của việc linh hướng. 

Việc linh hướng đòi hỏi một chuẩn bị nghiêm túc về phía vị linh hướng và về phía người thụ hướng nữa. Vị linh hướng sẽ rất an lòng và vui mừng làm linh hướng cho những ứng sinh chuẩn bị nghiêm túc các vấn đề căn bản hướng về chiều sâu đời thánh hiến. Nhưng lại rất ái ngại, lo âu và nặng lòng khi gặp ứng sinh có vẻ hời hợt, thiếu chuẩn bị, chỉ đề cập những cái phụ tùy cho “qua giờ” hơn là đi vào trọng tâm con đường lý tưởng.

Người nghệ sĩ chỉ dùng nguyên vật liệu có sẵn để làm nên tác phẩm nghệ thuật, chứ không sáng tạo ra được nguyên vật liệu, vốn là công việc chỉ thuộc về Đấng Tạo Hóa. Việc linh hướng quả là một nghệ thuật cao hơn nữa: vị linh hướng không lấy cái mình có, nhưng lấy cái của Chúa mà nắn đúc người thụ hướng.  

Đó là một công cuộc hợp tác hết sức quan trọng, không những giữa hai con người với nhau, mà còn giữa hai con người với Thiên Chúa. Vị linh hướng chỉ là dụng cụ của Chúa Thánh Thần: ngài hướng dẫn ứng sinh, nhưng chính ngài cũng được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần và vị đồng hành thiêng liêng của ngài.  

Trong toàn bộ công cuộc đào tạo đời sống thánh hiến, thời giờ dành cho việc linh hướng không nhiều, nhưng mang tính chất quyết định tối quan trọng và đòi hỏi:

-  một mối quan tâm cao độ,

-  một tinh thần nghiêm túc,

-  một chuẩn bị kỹ lưỡng. 

Có rất nhiều khía cạnh và vấn đề cần được đề cập đến trong tiến trình tiến ơn gọi và sống đời thánh hiến, trong đó có những vấn đề mà chính ứng sinh phải:

-  tự mình đối diện,

-  trắc nghiệm bản thân,

-  lượng lấy sức và tự giải quyết.  

Chỉ có Chúa Thánh Thần mới biết đầy đủ và có thể biến đổi một con người: “Bất cứ sự thay đổi đích thực và bền lâu nào cũng đều chỉ đến từ Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động trực tiếp trên mỗi người và trong mọi hoàn cảnh.”  

Nhưng đừng quên yếu tố thời gian: không ai một sớm một chiều mà nên thánh hay thành ác quỷ! Thiên Chúa luôn nhẫn nại hơn con người (x. Sách Giảng viên 3). 

Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho chúng ta vào lúc thích hợp những gì phải nói và nói thế nào (x. Mt 10,19-20). Nhưng, “một thừa tác viên hướng dẫn tốt của Chúa (ngày nay họ có thể là giáo sĩ, tu sĩ hoặc giáo dân), sẽ hướng dẫn người khác cách hữu hiệu trong hành trình thiêng liêng.”  

Nếu vị linh hướng luôn luôn “ngoan ngoãn vâng theo những linh hứng của Chúa Thánh Thần,” người có thể làm việc cùng với Ngài, như các tông đồ xưa đã khẳng quyết: “Thánh Thần và chúng tôi” (Cv 15,28).  

II. ĐỊnh nghĩa 

Linh hướng là nghệ thuật của mọi nghệ thuật.

Làm sao đi vào thế giới nội tâm của ứng sinh để khám phá được Chúa kêu gọi chị, từ các vấn đề thực tế đời sống của chị trong tương quan với Chúa và tha nhân? Làm sao phân định được điều Chúa nói với ứng sinh qua vị linh hướng? Làm sao giúp ứng sinh quyết định cuộc đời chị với ý thức, hiểu biết, trưởng thành và tự do nội tâm? Làm sao biết được ý Chúa cho vị linh hướng qua ứng sinh được đồng hành?  

Linh hướng là một công tác mục vụ đặc biệt nhằm:

-  giúp ứng sinh lớn lên trong tương quan với Chúa Cha,

-  cởi mở đáp lại Chúa Kitô

-  và sẵn sàng để Chúa Thánh Thần hướng dẫn,

-  ngõ hầu biết phân định ơn gọi của mình

-  và chuẩn bị cho sứ vụ của mình trong Giáo Hội.  

Linh hướng là một tiến trình trưởng thành liên nhân vị, qua đó tiếng gọi của Chúa được lắng nghe và đáp lại trong đức tin.  

Linh hướng nhằm nuôi dưỡng một con tim phân định can đảm đang tìm khám phá để đạt được ý Chúa. 

Linh hướng trước hết liên hệ với sự trưởng thành toàn diện trong đức tin, trong khi đối mặt kịp thời với các vấn đề và khủng hoảng để kích thích đức tin phát triển.  

Việc linh hướng sẽ hữu hiệu khi sự trưởng thành được biểu lộ rõ nét trong sự gia tăng tình thương, lòng trung thành và trách nhiệm. 

Việc linh hướng cung cấp một bầu khí yêu thương vô điều kiện, là môi trường của bầu khí cầu nguyện. Tiên vàn đó là công việc của Chúa Thánh Thần, và vị linh hướng phải học biết làm cho dễ dàng, chứ không cản trở hoạt động của ơn thánh. 

Dù có tính cách liên nhân vị, việc linh hướng mang chiều kích cộng đồng và Giáo Hội rất cao. Nó nuôi dưỡng viễn ảnh toàn diện và cánh chung, nội tại lẫn siêu việt.  

III. Các nguyên tẮc chung 

Việc linh hướng thường nhắm đến những mục đích sau:

-          Giúp sống tương quan mật thiết với Chúa;

-          Giúp trực tiếp thưa chuyện với Chúa và lắng nghe những gì Ngài chỉ dạy;

-          Giúp nhận ra và sống những kinh nghiệm thực tế trong tương quan với Thiên Chúa: kinh nghiệm sống đạo đối với việc linh hướng cũng giống như thực phẩm đối với việc nấu nướng;

-          Giúp lưu tâm đáp lại tiếng Chúa mời gọi để càng ngày càng sống thân mật với Ngài hơn;

-          Giúp biết luôn đặt mình trước mặt Chúa bằng cả con người và trong suốt cuộc đời mình;

-          Giúp ý thức trách nhiệm của mình để duy trì và phát huy trong ánh sáng của Chúa Thánh Thần, Ngài vốn là vị linh hướng đích thực;

-          Giúp tìm được con đường mà Chúa mời gọi, để chọn lựa phù hợp ý Chúa, với ý thức và tự do nội tâm.  

Theo Đức Gioan Phaolô II, ta nên tạo ra thói quen:

-          sống thân mật với Chúa Kitô như là người bạn trong mọi chi tiết đời sống mình

-          và sống mầu nhiệm phục sinh của Chúa

-          để biết cách khai tâm cho những người được trao phó cho mình coi sóc (Pastores Dabo Vobis, số 45). 

Giai đoạn đào tạo thiêng liêng của Nhà Tập là giai đoạn chính yếu và toàn bộ. Giai đoạn này được triển nở qua việc đào sâu và sống đặc sủng - linh đạo Hội Dòng, linh hướng, đời sống cầu nguyện và đời sống nội tâm, thông qua việc thực hành hài hoà giữa toà ngoài và toà trong, nhằm giúp ứng sinh có đủ tự do lương tâm trong việc quyết định đời sống ơn gọi của mình.  

Tiến trình đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng được đặt dưới sự hướng dẫn trực tiếp và được củng cố bằng ba cách thực hành:

-          Bề Trên có những buổi huấn đức thường kỳ và bất thường,

-          Ứng sinh luôn được đồng hành và đều đặn linh hướng riêng tư,

-          Chia sẻ và trợ giúp theo nhóm, dưới sự hướng dẫn của một nhà đào tạo.  

Trong tiến trình đào tạo này, việc linh hướng chiếm một chỗ rất quan trọng, nhằm giúp ứng sinh kinh nghiệm về Chúa và sự hiện diện của Ngài, khám phá ra đường lối Chúa kêu gọi và  chị đáp lại với tự do nội tâm, dấn thân đi theo và sống tương quan thân mật với Chúa, nhận rõ trách nhiệm của mình và phát triển nó dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.  

Hầu hết các văn kiện mới đây viết về việc linh hướng đều nhấn mạnh rằng người thụ hướng phải chủ động trong quan hệ với vị linh hướng. Lịch gặp gỡ và đề tài thảo luận phải đáp ứng được với nhu cầu của người thụ hướng.  

Vị linh hướng cũng phải tích cực làm cho việc đào tạo thiêng liêng của người thụ hướng được dễ dàng. Một số linh mục dòng được mời hướng dẫn các kỳ tĩnh tâm thường niên hay các khoá phân định ơn gọi để đảm bảo một sự đánh giá khách quan về mức độ trưởng thành của các ứng sinh.  

Cuộc sống nội tâm của ứng sinh cần được cổ vũ nhờ các phương tiện thiêng liêng để thánh hoá bản thân:

-    hợp nhất với Chúa Kitô trong mọi trạng huống của cuộc sống;

-    sống nhờ hai bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, được cử hành trong Thánh Lễ và được sùng kính trong Nhà Tạm;

-    tự xét lương tâm hằng ngày;

-    đọc sách thiêng liêng để tìm ý Chúa nhờ tác động của Chúa Thánh Thần;

-    các dấu chỉ thời đại và các biến cố cuộc sống;

-    lòng sùng kính Trinh Nữ Maria, mẫu gương người nữ tu;

-    các cuộc tĩnh tâm và linh hướng;

-    và các dạng khẩu nguyện, tâm nguyện và suy nguyện khác. 

IV. Ba MỐi Tương Quan KHÉP KÍN trong viỆc   linh hưỚng: Chúa Thành ThẦn - Ứng Sinh –VỊ linh hưỚng 

Chúa Giêsu là vị linh hướng tuyệt vời:

·         Ngài nhìn nhận thực tế, nhưng không dừng lại ở thực tế, mà hướng về tương lai được biến đổi tốt đẹp hơn;

·         Tha thứ, nhưng vẫn đòi hỏi gắt gao (“tội con đã được tha, hãy đi bằng an và đừng phạm tội nữa”;

·         Anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo khốn khổ hơn trước);

·         Quên lỗi quá khứ, cư xử như với một con người mới (không có lỗi) và tin tưởng giao trách nhiệm (hãy chăn chiên của thầy, hãy đi báo với anh em là họ sẽ gặp Thầy ở Galilê), v.v…

·         Chúa Giêsu kết án tội, chứ không kết án người có tội. 

Giới biệt phái và luật sĩ nghiêm túc giữ và bảo vệ lề luật đạo đức, nhưng lại luôn chôn cứng và khóa chặt người ta trong lỗi lầm hiện tại và định kiến bất di bất dịch. Họ chỉ thấy tình trạng tội lỗi mà không thấy tình trạng được tha thứ và biến đổi; chỉ thấy tình trạng trước mà không muốn thấy tình trạng sau. 

Đời người là cả một hành trình theo ánh sao đi tìm gặp Chúa, một cuộc gặp gỡ đổi đời, lật sang trang mới: Một linh hồn vươn mình lên được sẽ nâng cả thế giới lên. 

Tất cả đều từ quan điểm: “Người xưa dạy… Còn Ta, Ta bảo…” Phúc thay ai chọn được vị linh hướng theo mô hình Chúa Giêsu!  

1) Tương quan vị Linh hướng với Chúa

Vị linh hướng cần làm quen với những kinh nghiệm năng động trong đời sống thiêng liêng, để:

-          tập trung lắng nghe Chúa,

-          để Chúa Thánh Thần hướng dẫn và nói qua ngài vào   những lúc quyết định.  

Với một cảm thức trực giác trong đời sống cầu nguyện:

-          ngài cảm nhận được dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời mình,

-          nhờ đó ngài sẽ là một hiện diện đem lại an tĩnh, tập trung

-          và có thể trở nên gương mẫu cho người thụ hướng.  

Mối tương quan với Chúa giúp ngài duy trì thế quân bình của sức mạnh tâm lý và thiêng liêng cần cho việc linh hướng. Chúa có thể dùng tất cả con người của vị linh hướng để làm cho người thụ hướng tương quan với Chúa.  

   2) Tương Quan Ứng Sinh Với Chúa

Quan niệm tiên quyết là nhận biết rằng Chúa Thánh Thần là vị linh hướng đích thực.  

Ứng sinh được trợ giúp:

-          để lớn lên trong tự do nội tâm,

-          phát triển một mối tương quan cá nhân thân mật sâu xa với Chúa,

-          phân định và nhận ra điều gì Chúa mời gọi anh thực hiện trong hoàn cảnh đặc biệt này?

-          Vị linh hướng giúp bằng cách gọi tên những hỗ trợ và cản trở hay chướng ngại đưa tới thân mật với Chúa.   

3) Tương Quan Ứng Sinh Và Vị Linh Hướng

Vai trò của vị linh hướng rất quan trọng. Mỗi ứng sinh phải có vị linh hướng riêng, được chọn trong số các nhà đào tạo nội trú trọn thời gian.  

Mối tương quan này luôn thuộc về toà trong, nghĩa là tính bí mật luôn được bảo vệ cẩn thận.  

Chúa Thánh Thần hướng dẫn mỗi người theo một đường lối rất đặc biệt. Cả vị linh hướng lẫn người thụ hướng đều phải khám phá ra đường lối ấy.

Vị linh hướng phải giúp người thụ hướng tự mình khám phá ra đường lối mà Chúa kêu gọi chị và điều chỉnh đời sống chị theo đúng ý Chúa muốn cho chị.  

* Về phía Ứng sinh

Về phần mình, ứng sinh được mời gọi chọn cho mình một vị linh hướng, để được giúp nhìn thấy mình rõ ràng hơn, sâu xa hơn, giải thích lòng khao khát Chúa và sự trưởng thành thiêng liêng của chị trong ánh sáng đức tin.  

Người thụ hướng sẽ kể lại lịch sử đời chị mà không phê phán, với những yếu tố:

-          những người có ảnh hưởng quan trọng trong đời chị,

-          các hoạt động chị dấn thân,

-          những nơi chốn, biến cố đặc biệt,

-          kinh nghiệm thân xác,

-          những cảm xúc tái đi tái lại,

-          những giấc mơ quan trọng,

-          những gợi hứng và những ý tưởng mới,

-          những kinh nghiệm tôn giáo và đời sống cầu nguyện.  

Chị sẽ nói cách cởi mở và thành thật, trong sự bộc lộ hổ tương, với lòng quảng đại và can đảm lắng nghe, suy gẫm trong thinh lặng bề trong lẫn bề ngoài, xác tín rằng Chúa Thánh Thần hướng dẫn chị qua vị linh hướng.  

Trong quá trình phân định ơn gọi, mối quan tâm của cả hai người, ứng sinh và vị linh hướng, là lợi ích của Hội Thánh. Ứng sinh không quá để tâm đến ý riêng hay ước vọng cá nhân của mình. Đúng hơn, chị tìm khám phá ý muốn của Chúa cho chị, bằng cách phân tích các khả năng và động lực của chị đối với những kỳ vọng và nhu cầu của Hội Thánh.  

* Về phía Vị Linh Hướng

Vị linh hướng phải hiện diện và đồng cảm với người thụ hướng, trong sự bộc lộ hổ tương;

-          chăm chú lắng nghe chị với lòng kiên nhẫn, can đảm và yên lặng;

-          đón nhận câu chuyện cuộc đời chị hay chính con người của chị, cách không phê phán, định kiến hay tiên kiến;

-          hỏi những câu hỏi hỗ trợ và đối thoại:

. để khẳng định các giá trị của chị,

. để biết chị đang ở đâu trên hành trình thiêng liêng,

. ngõ hầu phân định và xác định con đường Chúa Thánh Thần dẫn dắt chị;

. cống hiến cho chị những gợi ý suy nghĩ và cầu nguyện.  

Vị linh hướng giúp ứng sinh theo đuổi lời mời gọi trở thành môn đệ Đức Giêsu trong Giáo Hội của Ngài.  

Lời cầu nguyện và đời sống của Hội Thánh cũng là một nguồn đào tạo thiêng liêng cho ứng sinh.

 Điều kiện căn bản để thành công trong việc linh hướng là tính cởi mở và thành thật của người thụ hướng trong khi đối thoại với vị linh hướng. Người thụ hướng phải mang đến trong tương quan này sự sẵn lòng nói lên sự thật về chính mình, và một sự cởi mở khiến chị trở nên trong suốt.  

V. TƯƠNG TÁC TÒA TRONG VÀ TÒA NGOÀI 

1. Định Nghĩa

Người ta phân biệt toà trong như nơi phán xử lương tâm của một người và toà ngoài như toà án của cơ chế nhân loại. Trong việc biện phân ơn gọi, “toà” được quan niệm như “quyền” phê phán ơn gọi của một ứng sinh. 

Toà Trong nói về việc phán xét trong lương tâm của ứng sinh. Chị quyết định tự trình diện với Hội Thánh để trở thành một nữ tu, vì chị cảm thấy được Chúa gọi.   

Theo sự phán đoán của chính mình, chị đánh giá rằng chị có khả năng phục vụ Hội Thánh như nữ tu. Chính chị phân định ơn gọi của chị, dưới sự hướng dẫn của vị linh hướng. Chị phân định về thực tại khách quan của đời sống thánh hiến và thực tại chủ quan của lời mời gọi cá nhân của chị. 

Vị linh hướng đi vào trong tiến trình này bằng cách cống hiến ý kiến riêng làm sao ngài kinh nghiệm rằng ứng sinh ấy được Chúa gọi. Ngài có lý mạnh để can thiệp, nếu cảm thấy người thụ hướng đang làm một lầm lỗi nghiêm trọng.  

Toà ngoài là phê phán và quyết định của những người đào tạo hơn là của ứng sinh. Đánh giá một ứng sinh có thích hợp với đời sống thánh hiến hay không là trách nhiệm của Bề Trên và ban đào tạo. Với đánh giá cuối cùng, hội đồng Dòng sẽ quyết định cho một ứng sinh tuyên khấn hay không.  

2. Tiến Trình và Tương Tác Giữa Tòa Trong và Tòa Ngoài           

* Khác Biệt Nhưng Bổ Túc Cho Nhau

Điều mà vị linh hướng khám phá về ứng sinh ở toà trong sẽ không được tiết lộ ra ở toà ngoài. Dữ kiện này có cùng một qui chế như ấn toà giải tội. 

Điều này không chỉ để bảo vệ ứng sinh, mà còn cống hiến cho chị sự tín nhiệm và tin tưởng rằng điều gì chị đã bộc lộ ở tòa trong vẫn được giữ bí mật.   

Trong quá trình phân định ơn gọi, mối quan tâm chính là lợi ích của Hội Thánh. Ứng sinh không tìm phân định ý riêng hay ước vọng cá nhân của mình, nhưng tìm khám phá ý muốn của Chúa cho chị, bằng cách phân tích các khả năng và động lực của chị đối với những kỳ vọng và nhu cầu của Hội Thánh.  

Do đó, ở toà trong, vị linh hướng không chỉ thụ động lắng nghe, song phải sẵn lòng và có khả năng thách đố và đối đầu, khi sự việc đòi hỏi, để giúp ứng sinh trải qua một tiến trình phân định ơn gọi đích thực.  

Vị Bề Trên có trách nhiệm hàng đầu ở toà ngoài trong việc đánh giá tính thích hợp với cuộc đời thánh hiến của ứng sinh, nên không thể đóng một vai trò nào ở toà trong.  

Sự hiểu biết có được ở toà ngoài về ứng sinh đều do nhận xét của nhiều nhà đào tạo. Sự hiểu biết này thường có một mức độ chắc chắn khác và ít toàn diện hơn sự chắc chắn có được ở tòa trong. 

Tất cả các nhận xét đều nhằm trả lời câu hỏi “Người này có được Chúa kêu gọi không?” Trong khi tìm trả lời câu hỏi này, các nhà đào tạo sẽ thừa nhận với tất cả khiêm tốn rằng Chúa kêu gọi người yếu đuối để làm xấu hổ kẻ hùng mạnh! (x. 1Cr 1, 26-29).  

Không phải Giáo Hội kêu gọi ứng sinh, nhưng là chính Thiên Chúa. Vai trò của Bề Trên và các nhà đào tạo là đánh giá lời kêu gọi ấy và rồi chấp nhận ứng sinh với vui mừng và tạ ơn Thiên Chúa.

* Thực Hành Chuyên Biệt

Khi đánh giá ứng sinh, vị linh hướng không bao giờ được lên tiếng, để kết án mà cũng chẳng được lên tiếng để bảo vệ: ngài phải im lặng khi hội đồng Dòng nói về người thụ hướng của mình. Sự bảo mật này nhằm bảo đảm cho tự do nội tâm của ứng sinh.  

Nhưng nhờ nghe trong hội đồng Dòng những quan điểm khác quan điểm của mình về người thụ hướng, vị linh hướng có được thông tin về những yếu tố khác, nhờ đó ngài sẽ phân định tốt hơn và chọn lựa sự giúp đỡ thích hợp hơn cho người thụ hướng của mình.  

Toà ngoài hình thành phán quyết của mình từ sự hiểu biết trong tiến trình đào tạo mỗi ngày, vì cuộc sống hàng ngày mạc khải trọn vẹn con người. Vì thế, cần có sự đồng hành sâu sát qua việc “đích thân kiểm soát bằng sự hiện diện yêu thương phục vụ” 

Như thế, toà trong và toà ngoài không đối nghịch, nhưng bổ túc nhau để phục vụ một công việc chung của Hội Thánh.

* Giải Quyết Những Khác Biệt

Bề Trên và ban đào tạo có thể đã đi tới quyết định rằng một ứng sinh rất xứng đáng và có khả năng theo đuổi việc chuẩn bị tuyên khấn, trong khi chị lại nhận thấy rằng cảm thức được gọi của chị là sai lầm và xin rút lui. 

Trường hợp này, Bề Trên và ban đào tạo chỉ có thể chấp nhận sự chân thành trong nhận định mới của ứng sinh đó, tin tưởng rằng Chúa sẽ sử dụng chị cách tốt lành cho lợi ích của Giáo Hội.  

Trường hợp khác biệt thứ hai không dễ giải quyết: Bề Trên và ban đào tạo đều đồng ý không nên cho một ứng sinh tiếp tục, trong khi đó chị ta lại xác tín rằng chị được Chúa kêu gọi làm nữ tu.

Quyết định tòa ngoài phải được giải thích thỏa đáng cho ứng sinh ấy, để chị hiểu và chấp nhận quyết định đã được đưa ra. 

Trường hợp tòa ngoài thấy chị có một điều gì đó không thích hợp nhưng có thể sửa chữa được, thì nên yêu cầu chị ra sống ở ngoài sở cho tới khi vấn đề đã được sửa chữa. Con đường ơn gọi không hoàn toàn đóng lại đối với chị.  

Khi toà ngoài quyết định không chấp nhận chị làm ứng sinh nữa thì phải giải thích cho chị cách tế nhị và tình cảm. Ở Việt Nam, nhất là tại Miền Bắc, quyết định rời khỏi Dòng chịu ảnh hưởng sâu xa bởi gia đình và áp lực của xã hội, cũng như bởi cảm thức xấu hổ, ân nghĩa và tình bạn bè. Dòng nên quan tâm hướng dẫn và giúp đỡ chị vượt qua các khó khăn ấy. 

Mọi người đều biết rằng quyết định dứt khóat của toà trong ăn khớp với lương tâm của ứng sinh. Điều này cần đào tạo một lương tâm trưởng thành và vị linh hướng phải dự phần quan trọng trong đó.  

Việc linh hướng và phận định thiêng liêng rất tế nhị và khó khăn đối với con người trong việc đồng hành ứng sinh trên đường tới Chúa. Hoạt động này bao gồm mọi chiều kích của đời sống, nhân bản và thiêng liêng, tự nhiên và siêu nhiên.  

Sau khi đã chú ý lắng nghe với biện phân và khiêm tốn, vị linh hướng có thể khám phá được người thụ hướng được Chúa gọi hay không.

-    Nếu có, ngài xác định cho chị tiếp tục đi tới với niềm vui tươi, hy vọng và hạnh phúc, mặc dù chị sẽ gặp thấy những khó khăn và đen tối trong cuộc sống lữ hành của chị.

-    Nếu không, ngài nên gợi ý cho chị đổi hướng sống trong bình an, đồng thời bước theo con đường Chúa mời gọi chị đi với can đảm và hạnh phúc. 

   3. Thinh Lặng trong tiến trình Tòa Trong

Thinh lặng biểu lộ rõ nét nơi việc tuân giữ lòng tín cẩn và bí mật của ấn tòa giải tội và việc linh hướng (tòa trong).  

Càng có thói quen thinh lặng, biết cẩn trọng đắn đo điều mình nói, ta càng có khả năng giữ điều bí mật và bảo đảm lòng tín nhiệm của tha nhân. 

Thinh lặng là một thách đố cho bất cứ ai muốn sống thật đầy ý thức, chăm chú, cảnh giác và hoàn toàn hướng về Thiên Chúa. 

Người có tinh thần siêu nhiên biết tôn trọng lương tâm của người khác, không xía vô cuộc đời người khác và vội vàng phê phán kết án; nhưng tuyệt đối tin tưởng giao phó cho Thiên Chúa, xác tín rằng lời đánh giá cuối cùng thuộc về Ngài: “Thế mà chúng tôi nghe nói: trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào. Nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô, chúng tôi truyền dạy và khuyên nhủ những người ấy hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân. Phần anh em, hãy làm việc thiện, đừng sờn lòng nản chí!” (2 Tx 3,11-13).  

VI. SỰ CẦN THIẾT VÀ GIÁ TRỊ CỦA Thinh LẶng 

       1. Điều Kiện Thiết Yếu Cho Đời Sống Nội Tâm 

       Ý Nghĩa và Mục Đích của Thinh Lặng

Sự thing lặng không thể bị chia tách bên ngoài và bên trong được. Thinh lặng bên ngoài vừa là hy sinh hãm mình vừa là phương tiện bảo đảm sự yên tĩnh của tâm hồn, để hồi tâm và sống thân mật với Thiên Chúa.

Giá Trị của Thinh Lặng

Thinh lặng là bầu khí thiêng liêng và sống còn để cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa. Nhờ thinh lặng, con người biết chỗ của mình trước mặt Chúa, đồng thời tỏ lộ lòng khiêm tốn và khả năng lắng nghe khi Chúa nói.  

Nhờ thinh lặng của thân xác, trí óc và con tim, người tu sĩ mới có thể đạt tới sự hiệp nhất và hiệp thông với Chúa: “Hãy lặng thinh và hãy biết rằng Ta là Thiên Chúa” (Tv 46, 10).  

Thinh lặng này không phải là một không gian trống rỗng, bởi vì Thiên Chúa luôn có đó để lấp đầy. Nhiệm vụ quan trọng nhất là phải ý thức rằng ta luôn ở trong sự hiện diện của Chúa và không thể tách khỏi Ngài.

Thách Đố của Thinh Lặng

Thinh lặng là một trong những thách đố lớn: Người này tìm kiếm thinh lặng, kẻ khác lại làm mọi cách để tránh nó.  

Nhưng thinh lặng hỗ trợ lời nói, chuẩn bị lời nói và làm cho lời nói nên phong phú. Ngôi Lời, chìm sâu trong mầu nhiệm lặng thinh của Thiên Chúa để bộc lộ và thông truyền Thiên Chúa cho con người.   

Thinh lặng, nội tâm lẫn bên ngoài, là bầu khí đúng đắn của việc giáo dục toàn diện: Tu viện phải là nơi của thinh lặng, là nhà cầu nguyện, nơi đó Chúa tiếp tục qui tụ các môn đệ riêng ra, để họ sống cái kinh nghiệm mạnh mẽ của sự gặp gỡ và chiêm niệm.”  

   2. Những hỗ trợ của thinh lặng 

Thinh Lặng trong Phụng Vụ

Thinh lặng luôn là một phần của việc thờ phượng. Phụng vụ cung cấp nhiều cơ hội để thinh lặng: Ngưng nghỉ một khoảng thời gian thích hợp sau mỗi bài đọc; nghỉ chốc lát để suy niệm sau bài giảng, hay sau lời kêu mời “chúng ta dâng lời cầu nguyện.” Sau hiệp lễ, nên dành một thời gian thinh lặng. 

Phụng vụ các Giờ Kinh cũng cho nhiều dịp để thinh lặng: Sau vinh tụng ca và trước điệp ca của thánh vịnh kế tiếp, một chút ngưng nghỉ để cộng đoàn suy niệm về thánh vị đó; sau bài đọc Lời Chúa và trước xướng đáp, một lúc thinh lặng hợp lý để suy niệm.

Thinh Lặng Trong Nhà

Mọi người đều phải cẩn trọng để khỏi làm xáo trộn sự thinh lặng của người khác. Radio, máy nghe băng, Tivi, âm lượng trao đổi… phải được kiềm chế và điều chỉnh để bảo vệ bầu khí chiêm niệm, vốn phù hợp cho đời sống cầu nguyện và học tập. Không đòi phải thinh lặng tuyệt đối, nhưng cuộc trao đổi phải được giữ ở mức tối thiểu.

Thinh Lặng Cấm Phòng hay Tĩnh Tâm

Các cuộc tĩnh tâm bồi dưỡng thiêng liêng là:

-          những cơ hội khả dĩ để trải nghiệm sự thinh lặng,

-          tìm lại nguồn năng lượng cho đời sống cầu nguyện và đức tin,

-          cũng còn là dịp để lấy lại sức lực cho thể xác, trí khôn và linh hồn.  

Người tĩnh tâm được khuyến khích loại bỏ những mối bận tâm làm mất sự thinh lặng bề ngoài như báo chí, truyền thanh, truyền hình…  

Càng đi vào thinh lặng và thăng tiến đời sống chiêm niệm, chúng ta càng có thể lắng nghe tiếng Chúa với những âm thanh khác nhau và mới lạ.  

 VII. NỘi Dung & TiẾn Trình GẶp Linh HưỚng

1. Lắng Nghe

Khi người thụ hướng bộc lộ câu chuyện đời chị cho vị linh hướng, chị cảm nhận tương quan của chị với Thiên Chúa nơi Đức Kitô được mở ra và phát triển. Vị linh hướng lắng nghe câu chuyện của chị, tìm giúp chị hiểu và làm sáng tỏ điều Thiên Chúa đang chất vấn chị.

2. Chú Tâm vào Hình Ảnh Thiên Chúa

Mô hình và định hướng đời sống thiêng liêng của một người được tác động sâu xa bởi hình ảnh mà người ấy có về Thiên Chúa. Kinh Thánh mạc khải cho chúng ta một Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu và của cộng đoàn Giáo Hội. Vị linh hướng giúp ứng sinh trong nhiệm vụ căn bản này.

3. Giúp Làm Sáng Tỏ Kinh Nghiệm

Vị linh hướng giúp ứng sinh suy nghĩ và khám phá chiều kích tôn giáo trong những kinh nghiệm đa dạng của chị, nhận biết sự hiện diện và tiếng nói của Thiên Chúa trong những kinh nghiệm ấy. 

4. Nhận Ra và Làm Sáng Tỏ Hệ Thống Giá Trị

Người thụ hướng ra sức làm việc để lớn lên trong tương quan với Chúa và với tha nhân. Những chủ đề quan trọng trong cuộc đối thoại là viễn ảnh và các giá trị Tin Mừng mà người thụ hướng muốn thủ đắc: vâng phục, thanh khiết của tình yêu độc thân, quan tâm tới công bằng xã hội như một chiều kích của việc rao giảng Tin Mừng.

5. Khẳng Định Và Thách Đố

Vị linh hướng khẳng định và giúp người thụ hướng dùng tài năng Chúa ban để phục vụ Chúa và tha nhân. Ngài cũng giúp chị chấp nhận những thách đố của lòng tốt của Chúa và làm cho người ta nhận biết lòng tốt ấy.

6. Giáo Huấn Và Hội Nhập

Vị linh hướng chỉ dạy và giúp người thụ hướng hội nhập các yếu tố khác nhau trong cuộc đời chị quanh một trung tâm là chính Thiên Chúa.

7. Trách Nhiệm

Vị linh hướng giúp người thụ hướng tránh những sai lầm trong việc tự đánh giá và giữ một thái độ tập trung vào Chúa ở giữa bao nhiêu công việc hàng ngày và những mối tương quan đa dạng.

8. Trợ Giúp Trong Lúc Khó Khăn

Mối đe doạ lúc nào cũng có mặt trong hành trình thiêng liêng của chúng ta. Việc linh hướng có thể cung cấp phương tiện để thấy chính mình qua các giai đoạn chiến đấu trong suốt con đường. 

9. Cầu Nguyện

Cầu nguyện là suối nguồn và diễn tả mối tương quan của chúng ta với Chúa.

viii.  NHỮNG Nguyên TẮc Khi CẦn Thay ĐỔi VỊ Linh HưỚng 

Có thể xảy ra trường hợp thiếu hoặc mất tín nhiệm, thì “việc thay đổi linh hướng là luôn có thể và đôi khi đáng ao ước nữa.”     

Ứng sinh có thể đề nghị trước. Đôi khi, vị linh hướng sẽ yêu cầu ứng sinh đi linh hướng với người khác, bởi vì ngài nghĩ rằng ngài sẽ không thể tiếp tục trách nhiệm ấy nữa.”  

Vì lợi ích của người thụ hướng, những nguyên tắc sau đây giúp chị phân định xem có nên tiếp tục hay không gặp một vị linh hướng cá biệt. Chị thẳng thắn xem xét các động lực khiến chị muốn thay đổi vị linh hướng của chị:

-    Có phải do mâu thuẫn cá nhân?

-    Có phải chị muốn thoát khỏi bị thách đố?

-    Có phải chị đang phóng chiếu những tính tiêu cực như hách dịch, vô cảm, thiếu thông cảm và hiểu biết lên vị linh hướng của chị?

-    Có những mong đợi không thực tiễn chăng?

-    Có phải vì vị linh hướng từ chối cung cấp thêm ảo tưởng cho chị?

-    Chị cần tranh luận với vị linh hướng về những khó khăn mà chị đang trải nghiệm trong giao tế?

-    Chị có tiếp tục nhận được ích lợi thiêng liêng từ việc hướng dẫn này không?

-    Có vị linh hướng khác mà chị bị lôi cuốn chăng?

-    Đâu là những lý do khác nữa?  

Người thụ hướng cần phải có đủ thời gian để suy nghĩ về toàn bộ vấn đề trước khi đưa ra một quyết định. Chị không nên vội vả, nhưng nên bàn hỏi vấn đề này với một người trung lập.

-    Có phải đó là sự chấm dứt tự nhiên, vì sự hướng dẫn tìm kiếm đã được thực hiện?

-    Liệu đây có phải là thời gian để thay đổi vì hoàn cảnh của chị hay của vị linh hướng, hoặc của cả hai? Do thay đổi sự bổ nhiệm, chuyển sang giai đoạn huấn luyện khác? Hay còn những việc khác xem ra gặp phải trên đường tương quan linh hướng như: lòng tín nhiệm, hấp dẫn giới tính, đổ vỡ giá trị?   

    IX. VỊ LINH HƯỚNG TỐT 

     1. Các Đức Tính của Vị  Linh Hướng Tốt

Theo Mẹ Têrêsa Avila, một vị linh hướng tốt phải được đào tạo kỹ lưỡng và thành thạo, với nền đào tạo vững chắc về thần học và kinh nghiệm cầu nguyện cao (cầu nguyện yên tĩnh, cầu nguyện nhiệm hiệp), bởi vì mẹ đã phải đau khổ rất nhiều trong tay những người học hành nửa vời.  

Vị linh hướng phải có kiến thức vững chắc về thần học, về linh đạo và về Kinh Thánh, một ít hiểu biết căn bản về kỹ năng tư vấn, quen thuộc các vấn đề tâm lý và tâm thần.  

Vị linh hướng nên có cái nhìn quân bình trong kinh nghiệm cầu nguyện và ý thức rằng chán nãn trong cầu nguyện là có thể có, đồng thời nên biết phân biệt các an ủi và chán nãn từ các kinh nghiệm đích thực về Chúa.  

Vị linh hướng cũng nên quan tâm thực sự về sự thoải mái của người thụ hướng.  

Thánh Gioan Thánh Giá nhấn mạnh rằng vị linh hướng phải giúp người thụ hướng lắng nghe Chúa Thánh Thần, Đấng là người hướng dẫn chính đang làm việc nơi người thụ hướng. Chính Thần Khí Chúa Giêsu là trung tâm của đời sống thiêng liêng và của việc linh hướng.  

Vị linh hướng thành thạo giúp người thụ hướng cởi mở hoàn toàn cho hoạt động bên trong của Chúa, sẵn sàng thay đổi ý kiến và cuộc sống.  

Vị linh hướng phải ngoan ngoãn nghe theo những gì Chúa Thánh Thần đang làm nơi người thụ hướng, hầu có thể khẳng định và xác nhận việc Chúa Thánh Thần làm đó.  

Vị linh hướng dạy cho người thụ hướng làm sao áp dụng Lời Chúa vào hoàn cảnh cụ thể và đặc biệt của cuộc sống mỗi ngày; đồng thời biết quan tâm đến những gì Thiên Chúa nghĩ hơn là những gì con người nghĩ.  

Thiên Chúa có thể hành động trực tiếp, nhưng Ngài thích dạy con người qua con người hơn, chẳng hạn như trường hợp Saolô ngã ngựa (x. Cv 9, 1-19).  

Thánh Gioan Thánh giá đồng quan điểm với thánh Têrêsa Avila rằng vị linh hướng cần được đào tạo, nhạy cảm, tín cẩn, có kinh nghiệm trong đời sống cầu nguyện và kiến thức chắc chắn về tâm lý thực hành.  

Tóm lại, những đức tính của một vị linh hướng tốt là:

-          Một con người có trí phán đoán lành mạnh và lương tri tốt,

-          đủ tự tin để khơi dậy lòng tín nhiệm nơi người khác.

-          kinh nghiệm Thần Khí và mở rộng kinh nghiệm ấy qua việc quan sát kinh nghiệm của người thụ hướng.

-          khiêm tốn tập việc dưới sự hướng dẫn của người có kỹ năng.

-          có sự trưởng thành cá nhân trong cầu nguyện và xác tín tầm quan trọng của cầu nguyện.

-          luôn luôn cập nhận hoá việc học với tinh thần cầu tiến.

-          sẵn sàng chất vấn và cũng sẵn sàng để được chất vấn.

-          có khả năng khích lệ và thúc đẩy người thụ hướng.

-          biết chăm chú lắng nghe với lòng thiện cảm, khiêm tốn và yêu thương.

-          có khả năng sống thành thật với chính mình và với người khác, với khả năng gây tín nhiệm nơi người thụ hướng.  

   2. Những Gì Vị Linh Hướng Tốt Phải Tránh 

Vị linh hướng tốt không áp đặt giá trị lên người thụ hướng, nhưng phải rõ ràng với những giá trị quan trọng. Ngài nhắc lại những giá trị ấy, nhưng để người thụ hướng tự do, ngõ hầu chị có thể chọn lựa một giá trị cho mình cách tự do.  

Vị linh hướng tốt không gài bẫy người thụ hướng, nhưng rất thẳng thắn với chị. Vị linh hướng tốt không cố trở thành người giải quyết vấn đề.  

Vị linh hướng tốt không bắt người thụ hướng phải chịu thẩm vấn. Vị linh hướng tốt không cố chứng minh điều gì đó với người thụ hướng mà ngài biết rằng chị không sẵn sàng chấp nhận vào lúc đó.  

Vị linh hướng tốt không sợ thinh lặng, bởi vì thoải mái thinh lặng chứng tỏ rằng mình đang cảm thấy dễ chịu.

Vị linh hướng tốt không nhắm đến mục đích cứng nhắc: “Tôi muốn hướng dẫn chị và đưa chị phải đi lối này.” 

Vị linh hướng tốt không quá bộc lộ tình cảm hoặc lạnh lùng như người vô cảm.  

Vị linh hướng tốt không vội vàng chỉnh sửa tất cả những quan niệm sai lầm của người thụ hướng ngay lập tức. Vị linh hướng tốt không lên án người thụ hướng. 

Vị linh hướng tốt không lợi dụng người khác để thỏa mãn nhu cầu của riêng mình. Vị linh hướng tốt không kỳ vọng quá nhiều việc ngay một lần.  

Vị linh hướng tốt không bảo đảm cho người thụ hướng cách quá nhanh chóng, vì thái độ này làm cho chị bị lệ thuộc.  

Vị linh hướng tốt không vội vã trả lời những vấn nạn của người thụ hướng. Vị linh hướng tốt đôi khi nên gửi trả lại câu hỏi: “Đây là một câu hỏi hay.” 

   3. Những Gì Vị Linh Hướng Tốt Phải Làm

Vị linh hướng tốt phải lắng nghe người thụ hướng, để cho chị cơ hội thấu hiểu kinh nghiệm của chính chị. Vị linh hướng tốt cùng người thụ hướng lắng nghe lời mang tính hiện sinh, ngôn sứ và thời sự của Chúa.  

Vị linh hướng tốt chuẩn bị đất cho một cam kết hoàn toàn tự do, hoặc tái cam kết với giá trị và ý nghĩa của toàn bộ đời sống của người thụ hướng, hầu kiến tạo căn tính cá biệt của một con người, nhờ sự trung thành có tính cách sáng tạo.  

Vị linh hướng tốt phải ý thức rằng một quyết định của một đời người phải được thực hiện trong lúc tự do. Vị linh hướng tốt ý thức rằng lối sống và cách giải thích kinh nghiệm của một con người phải được kiểm chứng bởi những kinh nghiệm lặp đi lặp lại được giải thích và đánh giá cùng với nhau.

VỀ MỤC LỤC
THƯỢNG THỔ, HẠ TẢ

 

Thường thường, tiêu chẩy và nôn là những rối loạn lành tính, tự hết khi các chất có hại đã được loại ra khỏi ống tiêu hóa. Tuy nhiên, trước các triệu chứng của bệnh, nhiều bệnh nhân cũng hết sức e ngại, đặc biệt là khi các bà mẹ thấy con mình “thượng thổ, hạ tả” liên tục ngày đêm.

Ấy vậy mà các rối loạn này rất phổ biến, nhiều khi hiểm nghèo. Theo cơ quan Y tế Thế giới, hàng năm có tới 2 triệu người trên trái đất, nhất là trẻ em, thiệt mạng vì chúng.

Để có thể đối phó đúng cách, xin cùng tìm hiểu.

Tiêu chẩy

Tiêu chẩy hoặc tháo dạ là tình trạng làm cho chất thải trong ruột tháo ra liên tục nhiều lần dưới dạng nước. Người bệnh có thể đi cầu trên ba lần mỗi ngày và đưa ra ngoài cả vài lít phân lỏng. Bình thường mỗi ngày cơ thể lành mạnh thải ra từ 100-300gr phân, tùy theo số lượng các thực phẩm không được hấp thụ như tinh bột.

Bệnh có thể diễn ra trong 1 hoặc 2 ngày rồi hết mà không cần điều trị.

Khi bệnh kéo dài hơn 2 ngày thì nên lưu ý vì đây có thể là dấu hiệu của một bệnh kinh niên nào đó. Tiêu chảy kinh niên có thể lâu tới trên 4 tuần lễ.

Nguyên nhân

Tiêu chẩy cấp tính thường là do nhiễm các vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng. Trường hợp kinh niên có thể là do rối loạn chức năng của bộ phận tiêu hóa.

Sau đây là một số nguyên nhân gây ra tiêu chảy:

- Tiêu thụ các thức ăn, nước uống có nhiễm các loại vi khuẩn như Salmonella, Escherichia coli (E coli), Shigella.

- Do các virus viêm gan, rotavirus, virus herps simplex.

- Do các ký sinh trùng  Giardia lamblia, entamoeba histolyca.

- Do bất dung (intolerance) với vài thành phần của thực phẩm như đường hóa học, đường lactose trong sữa.

- Phản úng với dược phẩm như thuốc kháng sinh, thuốc trị cao huyết áp, trị ung thư. Kháng sinh hủy diệt vi khuẩn tốt xấu, đưa tới mất cân bằng vi sinh vật trong ruột rồi bị tiêu chảy với loại vi khuẩn Clostrium difficile.

- Tiêu chẩy do bệnh của ruột như viêm ruột, bệnh Crohn.

- Do rối loạn chức năng ruột như trường hợp Hội chứng kích thích ruột (Irritable Bowel Syndrome.)

- Tiêu chẩy sau giải phẫu bao tử, túi mật vì thực phẩm xuống ruột quá mau và có quá nhiều mật ở ruột.

- Một trường hợp đặc biệt mệnh danh là Tiêu Chẩy Du Lịch (Traveller’s Diarrhea) khi đi chơi xa mà tiêu thụ thức ăn nước uống nhiễm các vi sinh vật nguy hại.

Dấu hiệu

Dấu hiệu bệnh tiêu chảy gồm có ngầm ngầm đau trong bụng, đầy bụng, buồn nôn, ói mửa, mót đi cầu nhiều lần đôi khi phân lẫn máu và nóng sốt.

Sở dĩ phân nhiều chất lỏng là do mấy nguyên lý:

          a- Các phần tử không được hấp thụ như lactose trong sữa tươi, sorbitol trong kẹo nằm lại ở ruột sẽ hút  nhiều chất lỏng và chất điện giải khiến cho phân trở nên loãng. Đó là sự tiêu chẩy do thẩm thấu (osmotic diarrhea).

          b- Bình thường, nhiều chất lỏng được tiết ra trong ruột nhưng chúng đều được hấp thụ trở lại trước khi xuống ruột già.

Tiêu chảy xảy ra khi sự tiết chất lỏng trong ruột nhiều hơn là sự tái hấp thụ.

Độc tố của vi khuẩn như trong bệnh tả cholera, một vài loại thuốc xổ, chất hữu cơ hoặc kim loại nguy hại có thể gây ra rối loạn này và được gọi là tiêu chẩy do sản xuất nhiều chất lỏng ( Secretory diarrhea).

         c- Ống tiêu hóa đều được một lớp niêm mạc bảo vệ. Khi niêm mạc bị tổn thương, chức năng hấp thụ chất dinh dưỡng và chất lỏng của ruột không còn nữa và chất lỏng theo nhau chạy ra ngoài. Đó là trường trường hợp tiêu chảy do viêm và nhiễm đường ruột ( Inflammatory and Infectious Diarrhea). Các vi khuẩn Salmonella, E coli, các rotavirus, động vật nguyên sinh Giardia…tiết ra độc tố gây ra loại tiêu chảy này. 

        d- Để được hấp thụ, thực phẩm và chất lỏng phải nằm ở lại ruột một thời gian cần thiết, bình thường là 12 giờ. Nếu các chất này chỉ thoáng dừng chân rồi kéo nhau thoát ra khỏi ruột thì sẽ đưa tới tiêu chảy do kém hấp thụ

và rối loạn nhu động ruột (Diarrhea associated with Derranged Motility). Đó là trường hợp cắt bỏ một phần dạ dày, ruột, bắc cầu dạ dày-ruột hoặc do vái hóa chất như Mg trong thuốc chống acid, thuốc xổ táo bón.

Chẩn đoán bệnh

Tiêu chảy thường không gây hại nhưng nếu có các dấu hiệu sau đây, nên đi bác sĩ để được khám nghiệm:

- Tiêu chảy kéo dài quá 3 ngày

- Có dấu hiệu khô nước trong người

- Đau quặn ở bụng và trực tràng

- Nhiệt độ cơ thể cao hơn 101ºF (38º C)

- Máu tươi, máu bầm hoặc chất dầu trong phân.

- Mới đi du lịch về.

- Trẻ em ói mửa liên tục

Bác sĩ sẽ khám tồng quát và thực hiện một số thử nghiệm như sau.

- Thử phân để tìm vi sinh vật gây ra bệnh.

- Thử máu

- Nội soi ruột để quan sát tình trạng ruột già, trực tràng

- Chụp hình  X-quang để tìm ra sự thay đổi về cấu trúc của ruột, dạ dày.

Thường thường chỉ cần thử nghiệm khi tiêu chảy kéo dài quá 4 ngày, ngoại trừ khi có khử nước, máu trong phân, nóng sốt, đau bụng, giảm huyết áp, dấu hiệu trúng độc.

Biến chứng

Biến chứng quan trọng nhất của tiêu chảy là sự Khô nước (Dehydration) trong cơ thể vì chất lỏng và các chất điện giải như Na. K, Mg,

Cl trong người theo nhau chạy ra ngoài. Biến chứng này rất quan trọng ở trẻ em và người già và cần điều trị ngay để tránh các rối loạn trầm trọng cho sức khỏe.

Các dấu hiệu của Khô nước là khát nước, tiểu tiện ít, da khô, mệt mỏi, đầu óc choáng váng. Trẻ em thường có thêm miệng lưỡi khô, sốt, mắt má hóp, không có nước mắt khi khóc.

Điều trị

Tiêu chẩy trầm trọng cần  được bổ sung chất lỏng và chất điện phân càng sớm càng tốt, qua miệng hoặc truyền tĩnh mạch.

Dược phẩm chống tiêu chảy có thể có ích, nhưng không nên dùng ở người bị tiêu chảy do vi khuẩn hoặc ký sinh trùng gây ra. Nếu ta chặn tiêu chảy thì các vi sinh vật gây bệnh vẫn còn nằm trong ruột và tiếp tục tác hại. Do đó, các bác sĩ đều chữa ngay với kháng sinh thích hợp để tiêu diệt vi khuẩn. Với virus thì cứ để tự nhiên lành hoặc dùng thuốc tùy theo loại virus.

Vì tiêu chẩy là dấu hiệu của nhiều bệnh khác nhau, cho nên tìm ra nguyên nhân gây bệnh rồi điều trị là điều cần làm. Đó là công việc của bác sĩ.

Áp dụng thực tế”

- Uống nhiều nước. Bắt đầu nhấn nháp bất cứ loại nước nào ngoại trừ rượu và nước có nhiều caffeine. Sữa có thể kéo dài tình trạng tiêu chẩy nhưng cung cấp chất dinh dưỡng và chất lỏng. Các dung dịch nước điện phân bán tại các tiệm thuốc tây như Pedialyte…đều rất tốt.

- Không nên dùng các thuốc chống tiêu chảy nếu chưa có ý kiến của bác sĩ. Tiêu chảy là để loại bỏ chất độc hại trong ruột, thuốc chống tiêu chảy có thể gây trở ngại cho việc loại bỏ này.

- Nghỉ ngơi 

Trường hợp các cháu bé:

- Tiêu chảy nhẹ không đáng quan ngại nếu cháu ăn uống, chơi đùa bình thường. Chỉ sau vài ngày bệnh sẽ hết với chăm sóc tại gia.

Các cháu không bị khô nước hoặc ói mửa có thể tiếp tục ăn uống như thường lệ kể cả sữa mẹ hoặc thực phẩm chế biến, nhưng với số lượng ít hơn một chút. Tiếp tục nuôi như vậy có thể giảm thời gian tiêu chảy mà còn cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho bé.

Buồn Nôn và Nôn

Bây giờ quay sang với trường hợp “thượng thổ”, y học gọi là “Buồn Nôn và Nôn”.

Thực ra Buồn Nôn và Nôn không phải là bệnh mà là triệu chứng của nhiều bệnh khác nhau.

 Buồn Nôn (Nausea) là cảm giác dạ dày muốn tự trút bỏ hết chất chứa ra ngoài.

Theo nhà ngữ học Paul McFredries, nausea có nguồn gốc Hy Lạp: naus=ship= con tàu; ia=sick=bệnh. Nausea chỉ bệnh nôn khi ngồi tàu sông biển. một trong nhiều nguyên nhân của chứng bệnh này.

Còn Nôn hoặc Mửa (Vomiting)  là động tác  tống khứ  một cách tự ý hoặc vô tình các thứ trong dạ dày qua miệng.

Nhiều người tưởng nôn  có nguồn gốc từ bao từ, nhưng thực ra, nôn do một trung tâm đặc biệt trên não bộ kiểm soát. Trung tâm này nhận tín hiệu gây nôn từ nhiều nơi như là bao tử và ruột khi bị nhiễm trùng, ngộ độc thực phẩm hoặc thương tích; từ tai trong khi say sóng, say xe; từ não khi có chấn thương, u bướu, nhiễm trùng não bộ hoặc trong bệnh thiên đầu thống migraine.

Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân gây ra Nôn:

1- Nôn vì say sóng, say tàu trong khi di chuyển.

2- Nôn trong bệnh viêm dạ dày vì các tác nhân kích thích màng lót cơ quan này, như trong trường hợp bị nhiễm vi khuẩn, virus, ngộ độc thực phẩm, hóa chất, loét dạ dày.

3- Nôn trong bệnh tiểu đường, bệnh viêm gan, sỏi thận, suy thận, viêm ruột, viêm phổi, cơn đau thắt ngực (angina), cường tuyến giáp…

4- Tác dụng phụ của dược phẩm như hóa trị hoặc xạ trị ung thư, thuốc chống đau, viêm, thuốc kháng sinh, rượu, nicotine.

5- Nghẹt ruột khiến cho thực phẩm không xuống được ruột già và dội ngược lên miệng.

6- Chấn thương hoặc viêm não, u bướu não, rối loạn tai trong khi di chuyển máy bay, tàu thủy.

7- Phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu vì thay đổi lượng hormon trong máu.

Thời gian buồn nôn và nôn xuất hiện có thể cho biết nguyên nhân. Nếu triệu chứng xảy ra ngay sau bữa ăn có thể là chỉ dấu của loét dạ dày hoặc do bệnh tâm trí. Nếu xảy ra từ 1 tới 8 giờ sau bữa ăn có thể là do ngộ độc thực phẩm. Bệnh do nhiễm vi khuẩn trong thức ăn thường xuất hiện trễ vì ví khuẩn cần thời gian lâu hơn để gây ra bệnh.

Điều trị

Thường thường nôn tuy coi có vẻ dữ giằn nhưng tự hết. Đôi khi nôn có thể trở nên nguy hiểm nếu đưa tới khô nước, đặc biệt là ở trẻ em và nếu nôn là dấu hiệu của các bệnh hiểm nghèo như tổn thương não, nghẹt ruột, viêm ruột dư, nhức đầu, u não.

Do đó, căn bản điều trị Nôn là tìm ra nguyên nhân gây ra các triệu chứng, vì một khi bệnh chính được chữa khỏi thì nôn không còn nữa. Đó là việc làm của bác sĩ. Trong khi chờ đợi, vẫn phải bổ sung chất lỏng mất đi và giảm thiểu nôn.

Nôn gây trở ngại cho việc bổ sung chất lỏng qua miệng cho nên nhiều khi phải chuyền dịch tĩnh mạch, nếu người bệnh có dấu hiệu khô nước.

Có nhiều thuốc chống nôn để bác sĩ lựa chọn như promethazine (Phnergan), prochlorperazine (Compazyme), metoclopramide( Reglan).

Chăm sóc tại nhà

Trong nôn mửa, dạ dày đang bị tồn thương, cần được nghỉ ngơi cho nên dung dịch nước bổ sung trong, không cặn bã (clear fluids) được dùng trong 24 giờ đầu. Thí dụ nước lã, nước cốt thịt cá, nước trái cây không cái, nước đá vụn, kem que. Sau đó, tùy theo tình trạng bệnh, thức ăn bình thường được tiêu thụ dần dần trở lại.

Chỉ nên dùng ít một, nhiều lần trong ngày, nhai kỹ để dạ dày khỏi phải làm việc quá sức.

Nên tránh sữa trong 48 giờ đầu, vì dạ dày chưa tiêu hóa được đường lactose và tiêu chẩy, đầy bụng có thể xảy ra.

Tránh thực phẩm nhiều đường hoặc chiên  sào, nhiều mỡ, quá cay chua.

Đừng pha lẫn thực phẩm nóng, lạnh, đừng nấu nướng, gần nhà bếp để tránh cảm giác nôn vì thức ăn nóng bốc hơi.

Không nên đánh răng sau khi ăn vì nhiều người bị nôn.

Tạm thời ngưng uống các loại thuốc để giảm kích thích bao tử cho tới khi nôn thuyên giảm.

Khi có thai, để bớt nôn khi thức dạy buổi sáng, nên ăn một miếng bánh bích quy sốp mỏng không có bơ (crackers) trước khi rời khỏi giường.

Ngồi hoặc nằm nghỉ với gối hơi cao sau khi ăn. Vận động làm cho nôn trầm trọng hơn.

Để tránh nôn khi di chuyển xe, máy bay, dùng thuốc chống nôn như Dramamine, Bonine mua không cần toa bác sĩ. Nếu đi xa lâu hơn, xin bác sĩ cho thuốc dán có chất scopolamine (transderm Scop).

Bắt đầu ăn thực phẩm đặc 6 giờ sau khi nôn lần cuối. 

- Với trẻ em, dùng thuốc chống ho để tránh việc ho kích thích nôn. Bé say xe, cho ngồi quay mặt về phía trước, vì nhìn ngang các vật di chuyển nhanh làm tăng nôn  mửa.

Khi nào cần đi khám bệnh

Thường thường, nôn chầm dứt từ 6 tới 24 giờ sau khi xuất hiện, khi các chất có hại được tống ra ngoài. Tuy nhiên, các trường hợp sau cần được bác sĩ khám nghiệm:

- Trẻ em dưới 6 tuổi mà nôn quá vài giờ cộng thêm tiêu chảy, có dấu hiệu khô nước, nóng sốt và không tiểu tiện trong 6 giờ.

- Người lớn mà nôn kéo dài 1 ngày hoặc nôn kèm theo tiêu chảy  24 giờ và khi có dấu hiệu khô nước.

Cần đi bác sĩ ngay nếu có các dấu hiệu, triệu chứng như lẫn máu trong chất nôn, nhức đầu, rối loạn trí nhớ, kém tinh anh, mệt mỏi, đau bụng, tiêu chảy, nóng sốt.

Kết luận

Đó là các hiểu biết căn bản vể tiêu chẩy, nôn mửa. Biết để phòng tránh, để biết cách đối phó trước khi phải tới bác sĩ khám chữa. Vưa tốn tiền, vừa mất thì giờ mà đôi khi “thượng thổ, hạ tả” lại do bệnh nguy hiểm tới tính mệnh gây ra.

Nhưng nếu bị thượng thổ hạ tả liên tục nhiều ngày, chất thải có máu, lại nóng sốt, nhức đầu…thì cần đến bác sĩ ngay.

Và áp dụng vài nguyên tắc căn bản về vệ sinh an toàn thực phẩm như “ không nấu chín, không bóc vỏ, không rửa sạch, không ăn”; rửa tay trước sau khi ăn, khi nấu nướng cũng như sau khi đi vệ sinh…

“Phòng bệnh hơn chữa bệnh” mà!!!

Bác sĩ Nguyễn Ý- Đức,  Texas-Hoa Kỳ.

VỀ MỤC LỤC

NỖI KHỔ - Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

Trong đời sống vợ chồng, yếu tố tình cảm nhiều lúc cũng thay đổi như mưa và nắng. Chính vì thế, một tác giả trên báo Phụ Nữ Chủ Nhật đã so sánh theo kiểu dự báo thời tiết như sau :

Vợ giận : Biển động mạnh, gió giật trên cấp 12.

Đưa hết tiền lương cho vợ : Ngày nắng, đêm không mưa.

Vợ khóc nhè : Mưa rào rải rác.

Chồng đi nhậu về muộn : Trong vùng tâm bão.

Vợ nhăn mặt : Gió Lào.

Không chở vợ đi chơi : Áp thấp nhiệt đới đang hình thành.

Vợ im lặng : Đợt không khí lạnh tràn về.

Chồng có bồ nhí : Bão.

Vợ đi siêu thị : Lốc xoáy.

Vợ chồng ngủ riêng : Đợt nắng nóng dài ngày.

Vợ mỉm cười : Nhiệt độ lý tưởng.

Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy từ trong lục phủ ngũ tạng, cũng như từ trong tim gan phèo phổi, dường như ai cũng ước ao một cái gì lý tưởng, ai cũng mong muốn một cái gì hoàn hảo. Thế nhưng, mong ước này quả thực là khó khăn, giống như chuyện mò kim đáy biển, và hơn thế nữa còn là chuyện viển vông, bởi vì làm gì có cái lý tưởng, cái hoàn hảo ấy trên cõi đời này.

Có một ông già cô đơn đã kể lể về những thăng trầm, ba chìm bảy nổi và chín cái lênh đênh trong tình yêu của mình như   sau  :

Tôi đã dành trọn thời gian của tuổi thanh xuân để tìm kiếm một người đờn bà hoàn hảo. Tại Cairô, thủ đô nước Ai Cập, tôi đã gặp một người đờn bà vừa trẻ đẹp lại vừa thông minh, nhưng rất tiếc người đờn bà này chẳng có được một chút dịu hiền, nàng hung dữ như bà chằng lửa.

Tôi đành bỏ Cairô mà tìm đến Bagdah, thủ đô nước Irak, với hy vọng tìm ra người đờn bà lý tưởng của lòng tôi. Tại đây, tôi đã gặp một người đờn bà đúng như lòng tôi mong ước. Nàng vừa trẻ đẹp lại vừa thông minh, vừa quảng đại lại vừa dịu hiền. Chỉ kẹt một nỗi, đó là hai đứa chúng tôi chẳng bao giờ nhất trí được với nhau về bất cứ chuyện gì. Hễ ngồi tâm sự với nhau là bắt đầu cãi vã, ông nói gà bà nói vịt, trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Vì thế, tôi đành phải chào thua.

Và như vậy, hết người đờn bà nọ tới người đờn bà kia. Kẻ được điều này, người mất điều khác. Tôi như kẻ đốt đuốc đi tìm người yêu lý tuởng, mà dường như chẳng bao giờ thấy.

Thế rồi một hôm tôi gặp được nàng, người đờn bà của mơ uớc. Nàng đã kết hợp được tất cả những đức tính mà tôi thầm vẽ ra trong đầu óc. Vừa trẻ đẹp lại vừa thông minh, vừa quảng đại lại vừa dịu hiền, vừa tế nhị lại vừa ăn ý với tôi ngay cả trong những điều nhỏ mọn nhất. Nhưng cuối cùng, tôi vẫn cứ phải gân cổ lên mà ca solo, cam chịu cảnh gối chiếc suốt đời. Các bạn có biết tại sao không ?

Trong lúc mọi người suy nghĩ, ông già cô đơn đáng thương khẽ kéo một hơi thuốc lá, rồi kể tiếp :

- Sở dĩ như thế là vì người đờn bà ấy cũng đang đi tìm một người đờn ông lý tưởng. Và thật chẳng may cho tôi, bởi vì dưới mắt nàng, tôi chỉ là một thằng đờn ông tồi với biết bao nhiêu thói hư tật xấu.

Rồi ông già cô đơn đã khuyên nhủ cánh trẻ với một cung giọng hơi bị cay cú :

- Đi tìm một người yêu lý tưởng, một người tình hoàn hảo chỉ là một việc làm hão huyền và vô ích mà thôi, bởi vì người yêu lý tưởng, người tình hoàn hảo ấy làm gì tồn tại được trên trái đất này.

Đúng thế, người xưa đã từng xác quyết :

- Nhân vô thập toàn.

Đã là người thì ai cũng có những sai lỗi và khuyết điểm, bằng không thì tất cả chúng ta đã là những thánh ông, thánh bà rồi còn gì.

Mẩu đối thoại sau đây do Võ Tấn Thục ghi nhận và đăng trên báo Phụ Nữ Chúa Nhật số ra ngày 4.12.2005 sẽ giúp chúng ta nhận ra sự thật ấy :

Mấy chị em xóm tôi những lúc rảnh rỗi thường hay tụ lại để tán gẫu. Thôi thì đủ thứ chuyện trên đời, nhưng vui nhất là chuyện các chị em đem đức lang quân của mình ra so sánh và ước ao : chồng mình giống như chồng…người ta.

Chị Ân có ông chồng là “bà con với Lưu Linh” than rằng :

- Trên đời này không gì chán bằng ở với chàng say.

Chị tuyên bố hùng hồn rằng :

- “Chả” muốn gì tôi cũng chiều, miễn là đừng say xỉn.

Và chị còn cho rằng nếu chồng mình được như “cục cưng” của bà Ba thì sung sướng quá sức, bởi lẽ ông xã bà Ba không biết rượu bia là gì.

Thế nhưng chị Ba lại trề môi :

- Đừng thấy vậy mà ham. Không rượu bia nhưng cứ vé số, cá độ thì  quá cha cái khoản rượu bia.

Vậy thì chị Châm là người tốt số rồi, chồng chị còn “trên cả tuyệt vời” vì anh ta không chơi cá độ và cũng chẳng rượu bia. Nhưng lạ thay, chị lại lắc đầu nguầy nguậy :

- Mấy bà thấy dzậy chứ không phải dzậy đâu.

Và chị đem căn bệnh đào hoa, ong bướm của chồng ra than thở :

- Có được người chồng chung thủy như mấy chị là hạnh phúc nhất đời rồi, còn ba cái vụ kia thì nhằm nhò gì.

Thế là chị Ân và chị Ba liền nhao nhao phản đối, rồi so sánh, làm cho cuộc “trao đổi tù binh” thêm phần hào hứng. Sau cùng, các chị bỏ phiếu bình chọn chồng chị Tâm là người…hoàn hảo nhất. Thế nhưng, có “người trong cuộc” lại phê bình :

- Lấy nhau mấy năm rồi mà trong nhà có sắm sửa thêm được cái gì đâu, chả bằng con nhỏ Xuân, chồng nó làm ra tiền như nước, nó muốn cái gì cũng được…

Và bởi vì không có mặt nhỏ Xuân ở đây, người may mắn có ông chồng “làm ra tiền như nước”, nên sự so sánh chấm dứt và các chị cứ tíu tít hỏi về người đờn ông lý tưởng kia.  Nếu như có mặt nhỏ Xuân ở đây, chắc nhỏ ấy cũng than rằng mình tuy được sống trong nhung lụa, nhưng lại không được hạnh phúc và luôn ao ước một cuộc đời thật đơn giản như cuộc đời của các chị, thì không biết các bà con đem ai ra mà so sánh và ao ước nữa đây ?

Kết thúc bài viết, tác giả đã kêu gọi :

- Hỡi các bà vợ yêu quí! Hãy bằng lòng với cuộc sống, hãy cố gắng uốn nắn những khuyết điểm của đức lang quân và vun đắp cho tổ ấm, chứ “đừng đứng núi này trông núi nọ” bởi trên đời này làm gì có con người nào hoàn hảo.

Lâu lắm rồi, các đài truyền hình ở Việt Nam có trình chiếu bộ phim nhiều tập mang tựa đề là “Người giàu cũng khóc”. Xem xong những tập phim này, gã bèn ngộ ra rằng thì là : người nghèo có niềm đau của người nghèo và người giàu cũng có nỗi khổ của người giàu, bởi vì khổ đau là như một cái gì gắn liền với thân phận của con người và không miễn trừ cho bất cứ một ai, đúng như một câu danh ngôn đã bảo :

- Bông hồng nào mà chẳng có gai, cuộc đời nào mà chẳng có những đắng cay chua xót của nó.

Trong cuộc sống lứa đôi cũng vậy, ngay cả khi tìm được một người chồng hay một người vợ tương đối lý tưởng, tương đối hoàn hảo, thì nhiều lúc chính cái lý tưởng, chính cái hoàn hảo ấy lại là nguyên nhân gây ra nỗi khổ cho bản thân mình, bởi vì cuộc đời thường có những chuyện chéo cẳng ngỗng, thường có những điều hết sức nghịch lý, khiến cho mình dù có tức anh ách, vẫn cứ phải vui vẻ chấp nhận. Gã xin đưa ra một vài trường hợp điển hình. 

Trường hợp thứ nhất, đó là khi người chồng đàng hoàng đứng đắn.

Khi đi lấy chồng, chị đờn bà nào chẳng mơ ước chồng mình là một người đàng hoàng đứng đắn. Và như thế, có được một người chồng đàng hoàng đứng đắn thì thật là tuyệt vời. Tuy nhiên, trong cái đàng hoàng đứng đắn ấy lại chất chứa biết bao nhiêu cái bực bội tức tối, như lời tâm sự sau đây của Tô Thị Hà.

Chồng tôi không rượu chè hay trai gái, cũng chẳng mê chơi. Anh là một người rất đứng đắn mẫu mực, nghiêm túc trong mọi chuyện…Tóm lại là rất đàng hoàng, vậy mà tôi vẫn phải chịu một nỗi khổ tâm khó nói.

Từ khi làm chồng, anh luôn tư vấn, dạy bảo tôi đủ thứ chuyện : từ đi đứng nói năng sao cho nhẹ nhàng, đến nấu nướng giặt giũ sao cho an toan và tiết kiệm.

Nếu trước đây tôi ăn mặc thế nào cũng được, miễn thoải mái là xong, thì giờ đây tôi luôn nhận được những “nhận định” đại loại : áo này không được vì mỏng quá, hơi hở cổ, nút đơm quá thưa, không kín đáo…Mặc rộng thì anh bảo “mập”, mặc ốm thì anh bảo đẹp nhưng “dễ gợi lòng tà của mấy cha đồng nghiệp”! Mặc kín đáo thì anh chê “già”, theo “mốt” cho trẻ trung thì anh bảo “nhố nhăng, không hợp”. Tôi trang điểm thì anh cho là vụng về và không tự nhiên, mà không son phấn thì anh chê là da nhăn, nổi mụn…

Từ ngày có cục cưng, tôi càng khổ. Trước đó, tôi phải ăn uống, ngủ nghỉ theo “kế hoạch” của anh để tăng cân đúng “chuẩn”. Thương con, tôi cố gắng nuốt những món ăn mà trước đây chỉ ngửi mùi, đã khiến tôi “lợm giọng”. Tôi còn phải xem cả chồng sách do anh ôm về, để biết cách nuôi con đúng phương pháp…

Mỗi khi con ói, con bệnh, tôi vừa xót, vừa cực vì con quấy khóc, vừa điên đầu vừa nhức óc với vô số lời vặn vẹo, tra hỏi để tìm nguyên nhân của anh. Con khỏe mạnh, tôi cũng chẳng thấy “giảm tải” là mấy, khi anh “lên lịch” rất chặt chẽ : mấy giờ con thức, mấy giờ uống sữa, mấy giờ ăn dặm, mấy giờ tắm táp, mấy giờ ngủ trưa…Anh cứ như một cái đồng hồ, không sai lệch. Con muốn ngủ nướng một tí cũng không được. Muốn vui chơi với mẹ, “phá rào” một chút cũng không xong.

Con thì không được cãi cha mẹ. Còn tôi thì phải phục tùng chồng, suốt ngày quay cuồng với đủ loại sữa, đủ loại thức ăn, còn giờ giấc thì cứ răm rắp như nhà binh. Mệt bở hơi tai và lúc nào cũng căng thẳng vì sơ suất là bị “nhắc nhở” và “khiển trách”.

Trước đây, tôi cũng “phản kháng” đôi ba lần. Nhưng lần nào cũng vậy, nếu anh “áp đảo” thì lại vẫn…y như cũ. Còn nếu tôi “cãi” đến cùng, thì anh im luôn từ sáng cho đến chiều. Hỏi gì anh cũng bảo : “Mệt”. Mặt mũi chằm vằm, chẳng nói chẳng cười, chẳng ăn chẳng uống và cũng chẳng chịu hợp tác…Cuối cùng, chịu không nổi bầu không khí nặng nề u ám đó, tôi đành “chuyển thắng thành bại” cho xong. Kết cục, coi như anh lại “thắng”. Tình hình vẫn không thay đổi.

Đọc tin có bệnh dịch, thế là phải ba chân bốn cẳng lo đi mà chích ngừa cho con. Đọc tin có cúm gà, thế là anh cấm vợ con không được đụng tới rơm rạ, không được xài chổi lông gà, không ra ngoài trời nếu không đội nón  “bảo hộ” vì sợ chim “ị” trúng là…tiêu đời. Đọc tin có heo lở mồm long móng, thế là anh cấm ăn thịt hẹo, lạp xưởng, pa tê…Rồi chả lụa, mì, phở…cũng cấm luôn vì sợ có hàn the, phọc môn…

Người mê nhậu còn có lúc tỉnh táo. Người đèo bòng bồ nhí còn có hy vọng “sau cơn mưa trời lại sáng”. Chứ như tôi thì chắc chắn phải chịu đựng suốt đời mà thôi, vì “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”.

Trước mắt tôi sẽ là “những tháng năm bất tận” trôi qua trong niềm khao khát về một cuộc sống thoải mái hơn, phóng khoáng hơn, tươi tắn hơn, rộn rã hơn. Nhưng điều đó có vẻ quá viển vông. Tôi vẫn cố phấn đấu, sửa mình để “hòa hợp” với anh, nhưng sao vẫn thấy nặng nề và mệt mỏi quá!

Vậy đó, lấy chồng đàng hoàng, đứng đắn vẫn khổ như thường. (Phụ Nữ Chủ Nhật, số 6, ngày 12.2.2006). 

Trường hợp thứ hai, đó là khi người chồng thành đạt. 

Chồng thành đạt, có địa vị, sự nghiệp vững vàng cũng là ước mơ của nhiều chị đờn bà. Cuộc sống sung túc phong lưu, chẳng phải lo lắng tới cơm áo gạo tiền.  Ra đường có xe hơi đưa đón, về nhà có ô-sin phục vụ. Thỉnh thoảng sánh vai cùng chồng tham dự tiệc tùng, chiêu đãi, quan hệ với giới thượng lưu…là những gì mà thiên hạ thường nghĩ đến, khi hình dung cuộc sống của những người vợ có chồng làm giám đốc.

Thế nhưng, có “ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Không phải người vợ nào có chồng thành đạt đều hạnh phúc cả đâu. Một chị bạn đã chia sẻ nỗi cô đơn của mình như thế này :

Có những lúc tôi chỉ muốn anh ấy là một người bình thường để có thời giờ chăm sóc cho gia đình và bản thân không phải chịu cảnh có chồng…hờ hững cũng như không. Dù tiền bạc vật chất không thiếu, nhưng đó không phải là tất cả những gì mà một người đờn bà mong đợi ở chồng.

Anh ấy là người chịu khó, không bồ bịch lăng nhăng, nhưng nỗi đam mê làm giàu đã chiếm trọn cả thời gian.

Khi công việc làm ăn phát đạt, thắng lợi hết phi vụ này đến phi vụ khác, vừa ăn mừng “trúng mánh” tuần này, thì tuần sau lại “vô mánh”, rồi nhậu nhẹt liên tiếp khiến anh ấy hầu như cả tháng chỉ về nhà ngủ được dăm ngày, mà lần nào cũng say bét nhè, gõ cửa lúc trời gần sáng.

Còn khi công việc làm ăn thua lỗ, anh ấy lo lắng chạy vạy khắp nơi, không còn thời gian để ăn uống ngủ nghỉ, đành ở lại công ty hết ngày này qua ngày khác.

Tóm lại, dù việc làm ăn thắng hay bại, thì anh ấy cũng có lý do chính đáng để phó mặc mọi việc trong nhà cho vợ. Nói không ngoa, nhiều lúc hỏi thằng con trai đang học mẫu giáo bao nhiêu tuổi, anh ấy cũng không nhớ chính xác, chứ đừng nói đến sinh nhật vợ hay kỷ niệm ngày cưới.

Chị rất thông cảm với anh ấy : Do lúc nhỏ nhà anh ấy rất nghèo, nên nung nấu ý chí làm giàu, khao khát kiếm thật nhiều tiền, đến độ  quên hết mọi việc khác trên đời. Tôi biết anh ấy yêu thương vợ con lắm, nhưng nói hoài anh ấy cũng chẳng chịu nghe. Tiền bạc và công việc đối với anh ấy là như một thứ ma túy gây nghiện, chẳng thể nào rứt ra được.

Và thế là cô vợ trẻ mới chỉ ngoài ba mươi, xinh đẹp và đảm đang, đã phải đóng vai “hòn vọng phu” bên mâm cơm mỗi buổi tối.

Nhiều bà vợ khác lại quay quắt và héo hắt khi thấy bên cạnh ông chồng giám đốc của mình có biết bao nhiều bông hồng kiều diễm : Đối tác có, bè bạn có,  “em út” có, thậm chí cả nữ trợ lý hay nữ thư ký cũng không ngoại lệ. Họ đều là những cô gái hiện đại, trẻ trung, xinh đẹp và “bản lãnh” đầy mình.

Rồi những chuyến công tác dài ngày của người chồng và các đồng sự là những cô gái trẻ trung đầy sức sống, thêm vào đó là những cuộc vui thâu đêm suốt sáng với mục đích “ngoại giao và công việc”…Tất cả đều làm người vợ ở nhà thắc thỏm lo âu, để rồi đi tới kết luận : Nỗi khổ của người giàu cũng trần ai lắm. Không phải hễ có tiền là có hạnh phúc ngay đâu. Khổ nhất là người chồng vừa thừa tiền, lại vừa có thói trăng hoa, thì làm sao mà giữ cho được. (Phụ nữ Chủ nhật, số 10, ngày 12.3.2006).

Người đời thường bảo :

- Sau lưng anh đờn ông thành công, đều có bóng dáng chị đờn bà.

Hay ngược lại :

- Sau lưng chị đờn bà chạy theo thời trang, đều có bóng dáng anh đờn ông đang lom khom kéo cày.

Từ những kinh nghiệm xương máu kể trên, gã cũng có thể đi tới một kết luận :

- Sau lưng anh đờn ông đầy tham vọng và thành đạt, đều có bóng dáng của chị vợ nhiều cô đơn hơn là hạnh phúc.

Thành thử sống trên nhung lụa với tiền bạc rủng rỉnh và được trang bị đủ mọi thứ tiện nghi, nhưng “quí vị phu nhân” này lại ao ước một cuộc sống rất bình dị, lại khao khát một hạnh phúc rất đơn giản, chẳng hạn như một bờ vai để tựa đầu, một lời nói để cảm thông và an ủi, một bữa cơm xum họp theo kiểu :

- Canh tôm nấu với ruột bầu,

  Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon. 

Sau cùng, trường hợp thứ ba, đó là khi người vợ có một sắc đẹp thuộc vào hàng…nghiêng thùng lệch nước.

 

Đối với phe đờn ông con giai, thì sắc đẹp của cánh đờn bà con gái vốn là một cái gì lôi cuốn và hấp dẫn. Có người bảo rằng tình yêu đến với  anh đờn ông con giai bắt đầu từ cái bao tử, bởi vì họ thường thích ăn ngon và khoái khẩu. Tuy nhiên, theo gã thì tình yêu đến với họ bắt đầu từ đôi mắt, bởi vì ngay cái nhìn đầu tiên, vẻ đẹp “chim sa cá lặn” của chị đờn bà con gái đã khiến cho họ chết  mê chết mệt, chết đứ chết  đừ, đúng là cái đẹp đã đè bẹp cái nết.

Vì thế đối với một số anh đờn ông con giai, cái tiêu chuẩn đầu tiên để chọn vợ là phải đẹp cá đã, còn những thứ khác thì…hạ hồi phân giải. Có anh đã tuyên bố một cách hách xì xằng :

- Gì thì gì, vợ tớ sau này ít nhất cũng phải thuộc hàng hoa khôi trở lên. Thông minh, tài giỏi và học thức…có thì tốt, còn chẳng có cũng không sao.

Thế nhưng, sau khi đã chấm được một cô nàng đẹp hết ý và đưa nàng về dinh rồi, lúc đó anh chồng mới sáng mắt ra và nghiệm thấy những rắc rối và những nỗi khổ do chị vợ quá đẹp của mình gây ra.

Cái rắc rối và cái nỗi khổ đầu tiên đó là mỗi khi chị vợ đi ra ngoài đường, thì nhiều cặp mắt…cú vọ hết nhìn rồi tới ngó, hết lườm rồi  tới nguýt, khiến anh chồng tức hộc máu mồm mà vẫn cứ phải nín khe, chẳng dám nói một lời, một tiếng. Rồi ngày cũng đêm lại còn lo canh cánh, chỉ sợ một tên đểu cáng nào đó, tiền nhiều hơn, quyền nhiều hơn bỗng xuất hiện và…phỗng tay trên mất, thì đúng là uổng phí “công anh xúc tép nuôi cò”.

Trong cuộc sống, người được cái này thì lại mất cái kia. Chẳng ai được vẹn toàn trăm phần trăm. Có khi đẹp về thân xác, nhưng lại nhếch nhác về công ăn việc làm, bởi vì các nàng vốn là những tiểu thư, quen được chiều chộng, cung phụng từ tấm bé, nên chẳng biết phải làm gì, ngoài chuyện đi học, đi chơi và làm…đẹp. Sau đây là lời tâm sự của một vị giám đốc có vợ đẹp, nhưng lại rất đoảng về những công việc đời thường.

Đường đường là một vị giám đốc đương độ ăn nên làm ra,  thế mà khi về nhà, anh chồng phải tự thay tã cho con, lại còn phải vào bếp nấu ăn, giặt giũ, làm những công việc của một bà “nội trợ bất đắc dĩ”. Đó là những lúc chị vợ nổi giận, bỏ về nhà ngoại hay đang còn bận rong chơi đâu đó.

Bạn bè thắc mắc sao không thuê người giúp việc, thì anh chồng lắc đầu ngán ngẩm :

- Cô ấy khó tính khó nết, người kiên nhẫn nhất cũng chỉ ở được hai tháng là xin nghỉ.

Con gái anh mỗi tháng gửi nhà ngọai hết 29 ngày, lý do là mẹ bé quá vụng về, không biết chăm sóc con mà cũng chẳng cho “người ngoài” đụng đến bé vì sợ không sạch sẽ. Cứ thế, mọi việc lớn nhỏ đều trút lên đầu ông bố trẻ…

Tại những buổi tiệc sang trọng cùng với đồng nghiệp và đối tác, anh nhận được những lời trầm trồ thán phục dành cho người may mắn sở hữu được một bông hoa đẹp. Tất cả chỉ có vậy mà thôi, còn sau đó là những vất vả, cực nhọc âm thầm và không tên, nào ai biết đến. Phụ nữ Chủ Nhật, số 10, ngày 12.3.2006).

Để kết luận, gã xin kể lại một mẩu chuyện đã được đọc từ lâu, đại khái như thế này : Trong một giấc mơ, anh chồng có chị vợ vừa không đẹp lại vừa không hiền, được ông tiên cho ba lời ước. Anh hí hửng nói lên điều ước thứ nhất :

- Xin ông tiên cho vợ con được trở thành một người đẹp cỡ hoa hậu quốc tế.

Ông tiên bèn quơ chiếc đũa thần và chị vợ xấu xí bỗng trở thành một người đẹp hết ý. Ông tiên hỏi :

- Còn điều ước thứ hai ?

Anh chồng trả lời :

- Xin ông tiên cho vợ con được trở thành một người đạo đức, để nàng cư xử với con vừa có tình lại vừa có lý.

Ông tiên cũng quơ chiếc đũa thần và chị vợ vốn hung dữ trở thành một “em hiền như ma sơ”.

Tuy nhiên sống với người vợ vừa đẹp lại vừa tốt lành chẳng được bao lâu, thì anh chồng vội vã đi gặp ông tiên và nói lên điều mơ ước thứ ba :

- Xin ông tiên cho vợ con được…y như cũ.

Ông tiên còn đang trố mắt ngạc nhiên, thì anh chồng liền giải thích :

- Số là từ ngày trở thành đạo đức và ngoan hiền như ma sơ, tối ngày bà ấy đọc kinh cầu nguyện và nhất định không chịu chung sống với con nữa. Bà ấy bảo : ta là người thánh thiện đạo đức thì làm sao có thể chung sống với một thằng quỉ như ngươi trong cùng một căn nhà!!!

Hãy bằng lòng và chấp nhận cái chưa hoàn hảo, để rồi cùng nhau cải tạo cho nó được trở nên tốt đẹp hơn, chứ đừng được voi đòi tiên nhé.

Gã Siêu    gasieu@gmail.com

VỀ MỤC LỤC

- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến, bài vở..., xin gởi về địa chỉ

giaosivietnam@gmail.com

- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:

Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục vụ của Giáo sĩ;  Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh vực; Mỗi  Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)

- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại

www.conggiaovietnam.net

Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị

Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác nhau.

TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

Lm. Luca Phạm Quốc Sử  USA

 

 

Duoc chon giua loai nguoi va cho loai nguoi; GIAO SI: Xuat phat tu giao dan, hien dien vi giao dan va cay dua vao giao dan, de cung lam VINH DANH THIEN CHUA

*************