| |

HỒNG ÂN VÀ HUYỀN NHIỆM
NHỮNG ẢNH HƯỞNG ƠN GỌI
Tôi đă nói nhiều về kinh nghiệm tại chủng viện v́ chắc chắn đó là ảnh
hưởng lớn lao nhất trong tiến tŕnh đào luyện tôi thành linh mục. Nhưng
nh́n bức tranh một cách toàn vẹn hơn, tôi thấy rơ ràng một số hoàn cảnh
và cá nhân khác đă tác động nơi tôi một ảnh hưởng tích cực và chắc chắn
Thiên Chúa đă dùng những người này để tiếng Ngài được vang động.
GIA Đ̀NH
Việc chuẩn bị tôi cho thiên chức linh mục tại chủng viện, theo một ư
nghĩa nào đó, đă đến sau việc gia đ́nh chuẩn bị cho tôi, nhờ đời sống và
gương sáng của song thân tôi. Trước tiên, tôi phải biết ơn cha tôi góa
vợ lúc ngài c̣n trẻ. Tôi chưa được Rước Lễ Lần Đầu th́ đă mất mẹ: khi ấy
tôi mới lên chín tuổi. Do đó tôi chưa ư thức được rơ ràng những ǵ mẹ
tôi đă đóng góp cho công việc rèn luyện đời sống đạo của tôi, nhưng chắc
chắn phải lớn lao. Sau khi mẹ tôi chết, rồi tiếp theo đó người anh cả
cũng chết theo, và như vậy tôi sống đơn côi với cha tôi, một người có
ḷng đạo đức thâm sâu. Hàng ngày tôi có thể quan sát thấy lối sống khắc
kỷ của ngài. Trước đây ngài theo binh nghiệp, và sau khi mẹ tôi qua đời,
cuộc sống của ngài trở thành lời cầu nguyện liên lỉ. Thỉnh thoảng thức
giấc nửa đêm, tôi nh́n thấy ngài vẫn quỳ gối, như tôi thường thấy ngài
quỳ trong nhà thờ. Chúng tôi không bao giờ nói về ơn gọi linh mục, nhưng
gương sáng của ngài chính là chủng viện đầu tiên, một loại chủng viện
tại gia.
XƯỞNG MÁY SOLVAY
Sau những năm đầu ấy, hầm đá và xưởng lọc nước trong xưởng hóa chất tại
Borek Falecky trở thành chủng viện của tôi; đó không chỉ là một 'trường
thử' như tại Wadowice. Với tôi, tại thời điểm này, nhà máy đă thực sự là
một chủng viện, dẫu là một chủng viện bí mật. Tôi bắt đầu làm việc tại
hầm đá vào tháng chín năm 1940; một năm sau tôi qua xưởng lọc nước. Đó
là những năm dẫn đưa quyết định cuối cùng của tôi đến chỗ chín mùi. Mùa
thu 1942, tôi bắt đầu theo học tại chủng viện chui như một sinh viên văn
khoa cũ, trong lúc vẫn là một công nhân tại Solvay. Khi ấy tôi chưa nhận
ra được tầm quan trọng của những kinh nghiệm này. Chỉ sau này, khi là
linh mục theo học tại Roma, các đồng môn tại Đại học Bỉ đă giúp tôi ư
thức về vấn đề của các linh mục thợ thuyền và Phong trào Thanh Lao Công
(JOC), lúc đó tôi mới nhận ra tầm quan trọng của những tiếp xúc với thế
giới lao động mà Giáo hội và các linh mục Phương Tây phải đương đầu.
Giao tiếp này đă ghi khắc sâu kinh nghiệm vào cuộc đời tôi.
Thực sự, kinh nghiệm của tôi không phải là kinh nghiệm của một "linh mục
thợ thuyền" nhưng của "chủng sinh thợ thuyền". Bằng đôi tay lao động,
tôi đă hiểu rất rơ ư nghĩa của lao động thể xác. Hàng ngày tôi sinh sống
với những người lam lũ nặng nhọc. Tôi đă đến để hiểu được những hoàn
cảnh sống của họ, gia đ́nh họ, những quan tâm của họ, những giá trị nhân
linh nơi họ và cả tư cách của họ nữa. Đích thân tôi đă cảm nghiệm được
những tấm ḷng hào hiệp của họ. Họ biết tôi là một sinh viên và họ đều
biết rằng khi hoàn cảnh cho phép, tôi sẽ trở lại công việc học hành.
Không bao giờ tôi gặp thù nghịch nơi họ về mục đích này. Tôi không làm
họ bực bội khi mang theo sách đi lao động. Họ thường nói, "Chúng tôi
canh chừng cho đó: cứ tiếp tục đọc sách đi!" Chuyện này đặc biệt xẩy ra
vào những ca ban đêm. Họ thường nói: "Cậu đi kiếm chỗ nghỉ đi, chúng tôi
coi chừng cho!"
Tôi kết thân với các thợ thuyền. Đôi khi họ mời tôi về thăm nhà họ. Sau
này khi đă làm linh mục và giám mục, tôi rửa tội cho con cháu họ, làm
đám cưới cho các con cháu họ và chủ tế những đám tang của họ nữa. Tôi
cũng đă có thể quan sát được ḷng đạo đức thâm sâu đầy trầm lặng của họ
và sự hiểu biết sâu rộng của họ về cuộc sống. Những giao tiếp này vẫn
tiếp tục rất thân t́nh với tôi, cả sau khi cuộc chiếm đóng của Đức Quốc
Xă đă chấm dứt, cho đến ngày tôi được chọn làm Giám Mục Roma. Một vài
người trong họ vẫn liên lạc thư từ với tôi.
GIÁO XỨ DEBNIKI: D̉NG SALÊSIÊNG
Tôi phải lùi trở lại thời gian trước khi vào chủng viện. Tôi không thể
không nhắc tới một địa danh đặc biệt và một nhân vật tại đó, người mà
tôi đă học hỏi rất nhiều trong thời kỳ đó. Địa danh ấy chính là giáo xứ
của tôi được dâng hiến cho Thánh Stanislaus Kostka, tại Debniki, trong
Tổng Giáo phận Cracow. Các cha ḍng Salêsiêng coi sóc giáo xứ này và vào
một ngày đen tối, các ngài bị Đức Quốc Xă lùa vào trại tập trung. Chỉ
c̣n lại cha xứ già cả và vị giám tỉnh. Tất cả những linh mục khác đều bị
giam giữ tại Dachau. Tôi vẫn tin rằng sự hiện diện của các linh mục Ḍng
Salêsiêng đóng một vai tṛ quan trọng trong công việc đào tạo ơn gọi cho
tôi.
Trong giáo xứ có một nhân vật nổi bật: tôi muốn nói tới Jan Tyranowski.
Nghề nghiệp của ông là thư kư, nhưng ông đă chọn làm việc cho tiệm may
của cha ông. Ông nói làm việc như người thợ may dễ giúp ông phát triển
đời sống nội tâm. Ông đặc biệt có đời sống nội tâm thâm trầm. Các cha
Ḍng Salêsiêng thật can đảm khởi động công việc giữa giới trẻ vào giai
đoạn khó khăn này, khi giao cho ông trọng trách thiết lập một mạng lưới
giao tiếp với giới trẻ qua phương thức "Chuỗi Mân Côi Sống" (Living
Rosary). Lúc điều hành công việc này, Jan Tyranowski không tổ chức đơn
độc một ḿnh; ông cũng quan tâm tới việc phải đào tạo tâm linh cho những
người trẻ ông tiếp xúc. Nhờ đó tôi đă học được những phương pháp căn bản
tự đào tạo ḿnh mà sau này được xác quyết và khai triển trong chương
tŕnh đào tạo chủng sinh. Việc đào luyện cuộc sống tâm linh của
Tyranowski dựa trên các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá và Mẹ Têrêsa
Avila. Tyranowski đă giúp tôi đọc các tác phẩm này, một việc làm được
coi như khác thường với lứa tuổi của tôi.
CÁC CHA D̉NG CAMÊLÔ
Đây là điểm giúp tôi quan tâm tới linh đạo Ḍng Kín (Carmelite). Tại
Cracow, trên đường phố Rakowicka có tu viện của các cha Ḍng Camêlô cải
cách. Tôi đă đến đây nhiều lần và trải qua một tuần tĩnh tâm với các
ngài, dưới sự hướng dẫn của cha Leonard thuộc Ḍng Đức Mẹ Sầu Bi.
Có một thời gian tôi cũng có ư nghĩ gia nhập Ḍng Camêlô. Những phân vân
của tôi đă được Đức Hồng y Tổng Giám mục Sapieha giúp giải quyết, khi
ngài nói một câu thật ngắn gọn: "Trước tiên con phải hoàn tất những ǵ
con đă khởi sự." Và đó là tất cả những ǵ đă tiếp diễn.
CHA KAZIMIERZ FIGLEWICZ
Trong những năm đó, cha linh hướng và giải tội của tôi là linh mục
Kazimierz Figlewicz. Lần đầu tiên tôi gặp ngài lúc ấy tôi theo học năm
đầu tại trung học ở Wadowice. Cha Figlewicz là cha phó của giáo xứ
Wadowice, dậy giáo lư cho chúng tôi. Nhờ ngài, tôi gần gũi với giáo xứ
hơn và trở thành chú giúp lễ và những tay tổ chức nhóm giúp lễ. Khi ngài
dời Wadowice về phục vụ tại Vương Cung Thánh Đường Cracow, nằm tại vùng
cổ Lâu đài Hoàng gia Wawel, tôi vẫn tiếp tục liên lạc với ngài. Tôi c̣n
nhớ vào năm thứ năm trung học, ngài đă mời tôi tới Cracow tham dự Tuần
Tam Nhật Thánh (Sacred Triduum), bắt đầu với "Kinh Những Bóng Tối" vào
buổi chiều Thứ Tư Tuần Thánh. Kinh nghiệm này đă gây những ấn tượng thâm
sâu nơi tôi.
Sau khi tốt nghiệp, ba tôi và tôi dời về Cracow. Khi ấy tôi gần gũi với
linh mục Figlewixz hơn; ngài là linh mục phó xứ Vương Cung Thánh Đường.
Tôi thường tới xưng tội và thăm ngài trong thời kỳ Đức Quốc Xă chiếm
đóng.
Không bao giờ tôi quên ngày mồng một tháng chín năm 1939. Đó là ngày Thứ
Sáu Đầu Tháng. Tôi tới Wawel xưng tội. Vương Cung Thánh Đường hoàn toàn
trống vắng. Có lẽ đó là lần cuối cùng tôi có thể bước vào nhà thờ một
cách tự do. Sau này nhà thờ bị đóng cửa và Lâu Đài Hoàng Gia tại Wawel
trở thành Tổng hành dinh của vị tướng chỉ huy trong chính phủ Đức Quốc
Xă, tướng Hans Frank. Cha Figlewicz là linh mục duy nhất được cử hành
Thánh lễ hai lần một tuần trong Vương Cung Thánh Đường đóng cửa và dưới
sự canh chừng của cảnh sát Đức. Vào những thời buổi khó khăn ấy, thật rơ
ràng tất cả đều mang một ư nghĩa với ngài - Vương Cung Thánh Đường, lăng
tẩm, bàn thờ Thánh Stanislaus, một Giám mục Tử Đạo. Cho tới khi qua đời,
cha Figlewicz vẫn là người canh giữ trung thành linh địa đặc biệt ấy của
Giáo hội và Quốc gia; ngài đă truyền đạt nơi tôi ḷng mộ mến đặc biệt
đối với Vương Cung Thánh Đường tại Wawel, nơi mà một ngày nào đó đă trở
thành Vương Cung Thánh Đường Ṭa Giám mục của tôi.
Vào ngày mồng một năm 1946, tôi được thụ phong linh mục. Ngày hôm sau,
lễ mở tay, tôi cử hành tại hầm mộ Thánh Leonard trong Vương Cung Thánh
Đường. Cha Figlewicz đứng bên cạnh và hướng dẫn tôi. Vị linh mục khả
kính này giờ đây đă an giấc ngàn thu cách đây vài năm. Chỉ có Thiên Chúa
mới có thể trả công cho ngài về tất cả những công trạng ngài đă trợ giúp
tôi.
D̉NG LỊCH SỬ THÁNH MẪU
Thật tự nhiên, khi đề cập đến nguồn gốc ơn gọi linh mục của tôi, tôi
không thể bỏ qua ḍng lịch sử Thánh Mẫu. Tôi đă học được những truyền
thống tôn sùng Mẹ Thiên Chúa nơi gia đ́nh và nơi họ đạo của tôi tại
Wadowice. Tôi c̣n nhớ, trong nhà thờ họ đạo, một bên nguyện đường được
dành tôn kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Vào các buổi sáng, học sinh trung
học đến viếng Đức Mẹ trước giờ học. Buổi chiều, sau giờ học, nhiều học
sinh tới đó cầu nguyện với Mẹ Đồng Trinh.
Cũng thế, trên một đỉnh đồi ở Wadowice, Ḍng Khổ Tu Camêlô đă được thành
lập từ thời Thánh Raphael Kalinowski. Người dân từ Wadowice leo lên đây
đông đảo và nhờ vậy việc tôn sùng đeo Dây Đức Bà Núi Camêlô trở thành
phổ thông. Tôi cũng nhận được Dây Đức Bà và tôi nghĩ lúc đó mới lên mười
và tôi c̣n đeo tới ngày nay. Các tín hữu cũng c̣n đến đây xưng tội. Và
như vậy, cả tại giáo xứ và tại thánh đường của ḍng khổ tu Camêlô, ḷng
sùng kính Mẹ Maria của tôi đă được h́nh thành ngay từ những năm thơ ấu,
rồi niên thiếu và qua những năm trung học.
Khi lớn lên ở Cracow, tại Debniki, tôi gia nhập nhóm "Chuỗi kinh Mân Côi
Sống" trong giáo xứ của các cha ḍng Salêsiêng. Nơi đó ḷng tôn kính
thật đặc biệt với Mẹ Maria, Đấng Phù Trợ các Kitô hữu. Tại Debniki, vào
thời điểm ơn gọi linh mục của tôi triển nở dưới ảnh hưởng của Jan
Tyranowski, tôi nhớ có một thay đổi trong kiến thức về ḷng tôn sùng Mẹ
Thiên Chúa. Tôi đă xác tín rằng Mẹ Maria dẫn dắt chúng ta tới Chúa Kitô,
nhưng vào thời điểm này, tôi cũng bắt đầu nhận ra Chúa Kitô dẫn dắt
chúng ta tới Mẹ Ngài. Ở một điểm nào đó, tôi bắt đầu đặt câu hỏi về ḷng
tôn sùng Mẹ Maria khi tin rằng, nếu ḷng tôn sùng đó mănh liệt quá, chắc
hẳn sẽ phương hại đến việc ưu tiên tôn thờ Chúa Kitô. Lúc đó, tôi đă dựa
rất nhiều vào cuốn sách của Thánh Louis Marie Grignion de Montfort mang
tựa đề "Luận án về sùng kính Đức Trinh Nữ." Nơi đây tôi đă t́m được các
câu trả lời. Phải, Mẹ Maria dẫn đưa chúng ta gần gũi với Chúa Kitô hơn;
Mẹ d́u dắt chúng ta tới Chúa, miễn là chúng ta sống huyền nhiệm của ngài
trong Chúa Kitô. Luận án này của Thánh Louis Marie Grignion de Montfort
có phần gây ra bối rối, qua lối hành văn hoa mỹ và kỳ dị, nhưng người ta
không thể chối căi được những chân lư thần học chính yếu trong đó. Tác
giả là một nhà thần học lừng danh. Những tư tưởng Thánh Mẫu học của ngài
đă đâm rễ sâu từ mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và chân lư Nhập Thể của Ngôi Lời
Thiên Chúa.
Rồi tôi mới hiểu lư do tại sao Giáo hội đọc kinh Truyền Tin (Angelus) ba
lần một ngày. Tôi nhận ra những lời kinh đó thật quan trọng: "Thánh
Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần...
Này tôi là tôi tá Đức Chúa Trời: tôi xin vâng như lời Thánh Thiên Thần
truyền... Chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người và ở cùng chúng tôi..."
Thật là những lời thần lực! Những lời ấy diễn tả thực tế thâm sâu của
một biến cố trọng đại nhất đi vào lịch sử nhân loại.
Đó là gốc nguồn của khẩu hiệu Totus Tuus. Câu nói này phát xuất từ Thánh
Louis Marie Grignion de Monfort. Đó là lời nguyện tắt của câu nghi thức
tín thác đầy đủ hơn nơi Mẹ Thiên Chúa được diễn tả như sau: "Totus Tuus
ego sum et omnia mea Tua sunt. Accipio Te in mea omnia. Praebe mihi cor
Tuum, Maria." (Con đây là Tất cả của Mẹ và mọi sự của con là Của Mẹ. Con
nhận lănh Mẹ trong tất cả mọi sự của con. Xin Mẹ hăy cho con mượn trái
tim Mẹ, lạy Mẹ Maria).
Và như thế, nhờ Thánh Louis, tôi bắt đầu khám phá ra những kho tàng bao
la trong việc sùng kính Mẹ Maria theo những nhăn quan mới. Thí dụ, khi
c̣n trẻ thơ, tôi thường nghe hát "Giờ kinh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội"
trong nhà thờ giáo xứ, nhưng chỉ sau này tôi mới nhận ra được nội dung
thần học và Thánh Kinh phong phú. Cũng thế, các bài hát dân ca như những
bản Thánh ca Giáng Sinh Ba Lan và Kinh Cầu Chịu Nạn trong Mùa Chay làm
nổi bật những lời tâm hồn than văn với Mẹ Sầu Bi.
Những kinh nghiệm thiêng liêng này đă là nền tảng h́nh thành cho hành
tŕnh cầu nguyện và chiêm niệm dần dần dẫn đưa tôi tới thiên chức linh
mục và sau này vẫn tiếp tục dẫn hướng tôi trong mọi biến cố cuộc đời.
Suốt từ hồi thơ ấu và cho tới khi làm linh mục và giám mục, hành tŕnh
cầu nguyện và chiêm niệm này vẫn dẫn dắt tôi thường xuyên lên đường hành
hương Thánh Mẫu về Kalwaria Zebrzydowska. Kalwaria là một linh địa kính
Đức Mẹ chính yếu của Tổng Giáo phận Cracow. Tôi thường đến đó, đi dọc
theo lối ṃn trong thanh vắng và trong lời kinh, tôi tŕnh bầy với Chúa
nhiều vấn đề đa dạng trong Giáo hội, nhất là vào những thời kỳ đầy khó
khăn trong cuộc chiến đấu chống Cộng sản. Khi nh́n lại, tôi thấy tất cả
mọi chuyện được nối kết với nhau: ngày nay cũng như quá khứ, chúng ta
nhận ra ḿnh cũng bị lôi vào một huyền nhiệm thật thâm sâu.
ANH THÁNH ALBERT
Đôi khi tôi tự hỏi không biết Anh Thánh Albert đă đóng góp ǵ vào ơn gọi
của tôi. Adam Chmielowski, chính là tên anh. Anh không phải là linh mục.
Nhưng mọi người dân Balan đều biết anh là ai. Trong thời kỳ say mê theo
đuổi diễn kịch và nghệ thuật, khuôn mặt của con người can đảm này đă gợi
hứng cho tôi rất nhiều. Anh đă tham dự vào cuộc "Nổi Dậy Tháng Giêng"
năm 1864 và cụt mất một chân trong cuộc chiến đấu này. Anh Albert là một
họa sĩ đă theo học tại Munich. Những tác phẩm nghệ thuật anh để lại đă
chứng tỏ tài nghệ xuất chúng của anh. Tuy nhiên, vào một giai đoạn nào
đó trong cuộc đời, anh đă bỏ lại dang dở những đeo đuổi nghệ thuật, chỉ
v́ anh nhận ra Chúa đă gọi anh cho những trách vụ quan trọng hơn nhiều.
Một lần kia, anh ư thức được những hoàn cảnh bi đát của các người nghèo
khổ tại Cracow. Họ thường tụ họp nhau lại tại nhà ngủ công cộng được coi
như một "tụ điểm xách động" trên đường phố Krakowska, và Adam
Chmielowski quyết định trở thành một thành viên trong bọn họ, không phải
như một người phát chẩn từ bên ngoài đến phân phát quà, nhưng như một
người hoàn toàn hiến thân phục vụ những kẻ xấu số.
Gương hy sinh đầy nhiệt hứng này đă lôi kéo được nhiều người nhập cuộc.
Nhiều người thuộc cả hai phái nam nữ đến tụ tập chung quanh Anh Albert.
Hai ḍng tu hiến thân phục vụ những người nghèo khổ nhất được khai sinh.
Tất cả xẩy ra hồi đầu kỷ nguyên của chúng ta, đúng vào thời điểm trước
Đệ Nhất Thế Chiến.
Anh Thánh Albert không c̣n sống để được nh́n thấy ngày nay BaLan đă dành
lại độc lập. Anh chết vào Lễ Giáng Sinh 1916. Tuy thế, những việc làm
của anh c̣n tiếp tục sau khi anh quá cố và vẫn trở thành một diễn tả của
truyền thống Balan đi theo lư tưởng nền tảng của Tin Mừng, theo vết chân
Thánh Phanxicô Assisi và Thánh Gioan Thánh Giá.
Anh Albert có một chỗ đứng đặc biệt trong lịch sử tu đức của BaLan. Với
tôi, anh đóng một vai tṛ quan trọng đặc biệt, v́ tôi t́m thấy nơi anh
một nâng đỡ và gương mẫu linh thiêng thực sự, khi bỏ lại đàng sau thế
giới nghệ thuật, văn chương và kịch nghệ để quyết định một lựa chọn rốt
ráo đeo đuổi ơn gọi làm linh mục. Một trong những niềm vui trọng đại của
tôi khi làm Giáo hoàng chính là cất nhắc con người nghèo khổ này của
Cracow, ăn mặc bộ đồ xám, lên tới danh dự được tôn vinh trên bàn thờ,
trước tiên với việc phong chân phước tại Blonie Krakowskie trong lần đầu
tôi về thăm viếng Balan vào năm 1983 và tiếp tới là phong thánh tại Roma
vào tháng mười một năm 1989 đáng ghi nhớ. Nhiều nhà văn đă bất tử hoá
khuôn mặt của Anh Albert trong văn học Ba Lan. Xứng đáng được ghi nhớ
giữa những tác phẩm nghệ thuật khác nhau, cũng như trong tiểu thuyết và
kịch nghệ, chúng ta phải kể tới linh mục Konstanty Michalski đă viết một
cuốn biên khảo dâng tặng anh. C̣n tôi, là một linh mục trẻ, khi tôi c̣n
là phó xứ nhà thờ Saint Florian tại Cracow, tôi đă soạn một vở bi kịch
vinh danh anh với nhan đề Người Em Của Chúa Chúng Ta (Le Frère de notre
Dieu). Đó là cách thức tôi đền đáp công ơn anh.
KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH
Như tôi vẫn thường nói, ơn gọi linh mục đă chín mùi dứt khoát vào thời
điểm Đệ Nhị Thế Chiến, trong thời Đức Quốc chiếm đóng. Phải chăng đây
chỉ là chuyện t́nh cờ hay là một nối kết thâm sâu hơn giữa những ǵ đang
phát triển trong tôi với những biến động lịch sử bên ngoài? Thực khó trả
lời cho một câu hỏi như thế. Chắc chắn, trong kế hoạch của Thiên Chúa,
chẳng có ǵ xẩy ra ngẫu nhiên cả. Tất cả những ǵ tôi muốn nói chính là
thảm kịch chiến tranh đă đem tới diễn tŕnh chín mùi cho một chọn lựa ơn
gọi một cách độc đáo.. Điều đó đă giúp tôi hiểu theo một cách thức mới
về giá trị và tầm quan trọng của ơn gọi. Đối diện với những tội ác hoành
hành và những thảm khốc của chiến tranh, tôi cũng hiểu được ư nghĩa và
sứ mạng của thiên chức linh mục trong thế giới.
Chiến tranh bùng nổ đă đẩy tôi xa khỏi đại học và công việc bút nghiên
và theo học Đại học. Vào thời điểm này, tôi cũng mất người cha thân yêu
là một thành phần thân thuộc trực tiếp cuối cùng trong gia đ́nh tôi. Một
cách khách quan, tất cả những chuyện đó đă đem tôi thoát dần khỏi những
kế hoạch đầu đời của tôi, giống như đă bị đánh bật rễ khỏi mảnh đất đă
vun trồng nhân loại tính của tôi cho đến lúc đó.
Tiến tŕnh này không chỉ tiêu cực như thế, nhưng cùng lúc một điểm sáng
bắt đầu chiếu rọi rơ rệt hơn bao giờ hết trong kư ức tôi: Thiên Chúa
muốn tôi trở thành linh mục của Ngài. Một ngày kia tôi nh́n thấy điều
này thật rơ rệt tựa như một khai ngộ nội giới đem đến cho tôi niềm hân
hoan và chắc chắn về một ơn gọi mới. Chính tâm thức này đă làm ngập tràn
hồn tôi niềm an b́nh thâm sâu cao cả.
Tất cả những chuyện này xẩy ra đối kháng lại đấu trường của những biến
cố kinh hoàng đang xẩy ra chung quanh tôi tại Cracow, Ba Lan, Âu Châu và
trên thế giới. Tôi chỉ trực tiếp cảm nghiệm được một phần nhỏ những ǵ
mà những người đồng hương của tôi đă phải trải qua từ năm 1939 về sau.
Tôi đặc biệt nghĩ đến các bạn học cùng lớp tại Wadowice, những người bạn
thân thiết, và một số trong họ là người Do Thái. Một số đă đăng kư vào
quân đội từ năm 1938. Tôi tin rằng người đầu tiên bỏ ḿnh trong cuộc
chiến chính là người trẻ nhất trong lớp tôi. Sau này tôi biết được một
cách đại quan về số phận của những người khác đă ngă gục trên những
chiến tuyến khác, hoặc chết trong các trại tập trung, hoặc chiến đấu tại
Tobruk và Montecassino, hoặc bị đem đi đầy ải tại các lănh thổ của Liên
Bang Sô Viết: Nga Sô và Kazakhstan. Lúc đầu tôi biết được những chuyện
này một phần, nhưng sau đó đầy đủ hơn trong buổi họp mặt các bạn học cũ
tổ chức năm 1948 tại Wadiwice, nhân dịp kỷ niệm năm thứ mười ngày tốt
nghiệp của chúng tôi.
Tôi đă được che chở rất nhiều khỏi tấn thảm kịch rộng lớn và hăi hùng
của Đệ Nhị Thế Chiến.
Tôi có thể bị bắt giữ bất cứ ngày nào tại nhà, nơi hầm đá, trong công
xưởng và bị đưa đến trại tập trung. Đôi khi tôi tự hỏi: vô số người trẻ
cùng trang lứa đă thiệt mạng, tại sao không phải tôi? Ngày nay tôi hiểu
rằng đó không chỉ là số may. Giữa những chồng chất của tội ác chiến
tranh như thế, những ǵ xẩy ra trong cuộc sống cá nhân của tôi đều hướng
đến lợi ích cho ơn gọi của tôi. Tôi không thể quên những tấm ḷng từ
nhân biểu lộ nơi những người Chúa đă đặt định trong bước đường đời của
tôi vào giai đoạn cực kỳ khó khăn đó, kể cả những phần tử trong gia đ́nh
tôi, đồng môn của tôi cũng như những bạn hữu của tôi.
CÁC LINH MỤC BALAN HY SINH
Điều này nói lên một khía cạnh khác thật đặc biệt và chất chứa đầy ư
nghĩa. Những năm Đức Quốc Xă chiếm đóng Tây Âu và Liên Xô chiếm đóng
Đông Âu đă đưa tới hậu quả là một con số khổng lồ các linh mục Ba Lan bị
đẩy vào các trại tập trung. Tại nguyên một trại Dachau đă có khoảng ba
ngàn linh mục bị giam giữ. C̣n có nhiều trại khác như Auschwitz, nơi Cha
Thánh Maximilian Maria Kolbe, một linh mục ḍng Phanxicô tại
Niepokalanow đă hiến thân cho Chúa Kitô. Ngài đă trở thành vị linh mục
đầu tiên được phong thánh sau chiến tranh. Trong số các tù nhân tại trại
Dachau có Đức Giám Mục Michal Kozal thuộc Giáo phận Wloclawek, năm 1987
tôi đă hân hoan phong chân phước cho ngài tại Warsaw. Sau chiến tranh,
một số linh mục bị giam giữ trong các trại tập trung, đă được phong chức
Giám mục. Hai Đức Tổng Giám mục Kazimierz Majdanski và Kozlowiecki và
Đức Giám Mục Ignacy Jez ngày nay vẫn c̣n sống. Ba vị Giám mục cuối cùng
đă chứng kiến những ǵ đă xẩy ra tại trại diệt chủng Dachau. Các ngài
hiểu biết rất rơ những kinh nghiệm ấy đem lại bao ư nghĩa cho cuộc sống
nhiều linh mục. Để hoàn chỉnh bức tranh ấy, tôi cũng phải nhắc tới các
linh mục Đức Quốc trong thời điểm đó cũng cùng chia sẻ số phận trong các
trại tập trung. Tôi đă được vinh dự tôn phong chân phước cho một số linh
mục: trước tiên là cha Rupert Mayer tại Munich và rồi mới đây trong
chuyến tông du tới Đức quốc, là Đức Ông Bernhard Lichtenberg, cha sở của
Vương Cung Thánh Đường Bá Linh và sau cùng là Cha Karl Leisner trong
giáo phận Munster. Cha Leisner được phong chức linh mục trong trại tập
trung năm 1944 và chỉ có thể cử hành Thánh Lễ một lần sau khi được phong
chức.
Thực ra tôi phải nhắc nhở đặc biệt đến các linh mục tử đạo trong khi bị
giam giữ trong các trại tại Bây Bá Lợi Á và trong các trại khác thuộc
lănh thổ của Liên Bang Sô Viết. Trong số rất đông đảo những người bị
giam cầm tại đó, tôi muốn nhắc đến Cha Tadeusz Fedorowicz, một khuôn mặt
nổi danh tại Ba Lan, vị linh mục mà tôi đă mang nợ khá nhiều về những
hướng dẫn tâm linh.
Cha Fedorowicz, một linh mục trẻ thuộc Tổng Giáo phận Lwow đă tự nguyện
đến xin Đức Tổng Giám mục cho phép ngài đi theo nhóm người Ba Lan bị đầy
đi miền Đông. Đức Tổng Giám mục Twardowski đă ưng thuận và cha
Fedorowicz đă có thể thực hiện theo sứ vụ linh mục sống giữa các đồng
hương bị phân tán trên khắp các lănh thổ của Liên Bang Sô Viết, và đặc
biệt tại Kazakhstan. Ngài đă mô tả những biến cố bi thảm này trong một
cuốn sách thật tuyệt diệu.
Dĩ nhiên, những ǵ tôi nói về các trại tập trung chỉ phản ảnh một phần,
thật bi thảm, của cuốn "sách khải huyền" của thế kỷ chúng ta. Tôi đă
khơi lên để muốn nhấn mạnh rằng chức vụ linh mục của tôi, ngay lúc khởi
đầu, đă mang dấu vết những hy sinh lớn lao của vô vàn các người cùng thế
hệ với tôi. Chúa Quan pḥng đă miễn trừ cho tôi những kinh nghiệm khổ ải
nhất: và như vậy tôi cảm thấy ḿnh mang ơn nghĩa thật nhiều, cả với
những người tôi quen biết cũng như với bao người tôi không quen biết.
Tất cả, không phân biệt quốc tịch hay ngôn ngữ, bằng những hy sinh trên
bàn thờ diệu kỳ của lịch sử, đă giúp ơn gọi làm linh mục của tôi trở
thành hiện thực. Một cách nào đó, tất cả những con người ấy đă dẫn hướng
tôi đi theo lối đường này. Bằng những hy sinh của ḿnh, các ngài đă chỉ
cho tôi chân lư thâm sâu nhất và chính yếu nhất về thiên chức linh mục
của Chúa Kitô.
CẢM NGHIỆM L̉NG THIỆN HẢO GIỮA
NHỮNG KHẮC NGHIỆT CỦA CHIẾN TRANH
Tôi vẫn thường nói rằng giữa những năm tháng chiến tranh khó khăn, tôi
đă cảm nghiệm được bao tấm ḷng thiện hảo của nhiều người. Đặc biệt tôi
nhớ đến một gia đ́nh, thực ra nhiều gia đ́nh, tôi quen biết trong thời
ngoại bang chiếm đóng. Tôi đă làm việc chung với Juliusz Kydrynski,
trước tiên trong hầm đá, rồi trong xưởng Solvay. Chúng tôi thuộc nhóm
sinh viên-nhân công, gồm có cả Wojciech Zukrowski, người em Antoni của
Wojciech và Wieslaw Kaczmarczyk. Juliusz Kydrynski và tôi biết nhau
trước chiến tranh, đă học chung với nhau năm thứ nhất văn chương và ngôn
ngữ Ba Lan. Trong thời gian chiến tranh, t́nh bạn giữa chúng tôi khắng
khít. Tôi biết má anh goá bụa, rồi chị anh và em trai anh. Gia đ́nh
Kydrynsky rất ân cần và thương mến tôi và quan tâm lo lắng cho tôi rất
nhiều khi cha tôi qua đời vào ngày 18 tháng hai năm 1941. Tôi nhớ ngày
ấy thật rơ: khi đi làm về, tôi thấy cha tôi đă chết rồi. T́nh bạn giữa
tôi với gia đ́nh Kydrynskis đă là niềm an ủi lớn lao cho tôi vào thời
điểm đó. Rồi t́nh bạn giữa chúng tôi gia tăng để tôi kết thân với các
gia đ́nh khác nữa, nhất là gia đ́nh Szkocki sống trên đường phố Ksiecia
Jozefa. Tôi bắt đầu học tiếng Pháp nhờ ơn bà Jadwiga Lewaj đang sống
trong gia đ́nh ấy. Con gái đầu của gia đ́nh Szkockis, cô Zofia Pozniak
có chồng đang bị giam giữ trong trại, đă mời chúng tôi tới tham dự những
buổi ḥa nhạc tổ chức trong nhà họ. Nhờ vậy, thời kỳ đen tối của chiến
tranh và quê hương bị chiếm đóng đă được âm nhạc và thơ văn làm sáng rực
lên. Tất cả những chuyện này diễn ra thời gian trước khi tôi bước vào
chủng viện.
(c̣n tiếp)
|
|