|

MỘT NĂM ĐẶC BIỆT ĐỂ LÀM
MỚI LẠI CÁC LINH MỤC
Trên máy bay trong
chuyến thăm viếng Liên Hiệp Quốc và Hoa kỳ, Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI
đă nói với các phóng viên là Người lấy làm xấu hổ v́ những ǵ xảy ra [lạm
dụng t́nh dục do hàng giáo sĩ Công giáo]. Những vụ bê bối tai tiếng như
thề không chỉ dừng lại ở TGP Boston, TGP Los Angeles mà ở nhiều nơi trên
thế giới (hiện đang phân xử những vụ lạm dụng t́nh dục trong các cơ sở
Công giáo Ái-Nhĩ-Lan), đồng thời với những lệch lạc trong cách nh́n,
đánh giá và sống đức tin, kỹ luật (ví dụ luật độc thân) và những lời
khấn - hứa trong đời sống tận hiến : vâng lời, khó nghèo, trinh khiết.
Mọi cái đều có nguyên do. ở đây là sự buông lơng của các cơ sở đào tạo
của Giáo Hội, không chỉ thiếu sót, mà không đáp ứng được trước một xă
hội tục hoá cao độ. Công đồng Vatican II không được hiểu và áp dụng
đúng đắn. Sẽ ra sao nếu cứ tiếp tục đà nầy? NĂM LINH MỤC với những mục
tiêu rơ rệt có thể coi là một cuộc canh tân vĩ đại. Hai Vị Thánh
Phanxicô Atxidi và Đa Minh đă bằng chính cuộc sống khó nghèo, truyền rao
Lời Chúa, mà đă đem toàn Giáo Hội quay về và trung thành với tinh thần
Tin Mừng. Nhưng chính Thánh Gioan-Maria Vianney – mà Giáo Hội kỷ niệm
150 năm ngày Ngài mất năm nay – cho ta khuôn mẫu của một linh mục mà
Giáo Hội và mọi tín hữu Công Giáo MONG ĐỢI. V́ thế NĂM LINH MỤC, - năm
làm mới lại các linh mục – chính là làm mới việc đào tạo linh mục (BTGH)
Đức Thánh Cha
Biển-Đức XVI đă ban bố Năm Các Linh Mục để tăng cường căn tính thiêng
liêng của các linh mục và để lau chùi sạch sẽ “sự dơ bẩn” của hàng giáo
sĩ. Các Đạo Binh Chúa Kitô ở trong mắt băo. Các chủng viện : sự chẩn
bệnh không thương tiếc của vị thư kư Thánh Bộ Giáo Dục Công giáo.
Sandro Magister
Năm Linh Mục đặc biệt
theo như Đức Biển Đức XVI mong muốn bắt đầu vào ngày 19.06, lễ Thánh Tâm
Chúa Giêsu. Đức Thánh Cha đă chỉ ra cho các Hồng y và các giám mục hợp
thành Thánh Bố Giáo Sĩ quy tụ tham dự phiên họp khoáng đại vào ngày
16.03 vừa qua, thấy những cứu cánh.
Thánh Bộ Giáo Sĩ cho
tới năm 1967 vẫn được gọi là Thánh Bộ “của Công Đồng”, v́ nó được lập ra
sau Công Đồng Triđentinô nhằm bảo đảm việc áp dụng các chỉ dẫn của Công
Đồng do các linh mục phụ trách các linh hồn.
H́nh ảnh linh mục được Công đồng Triđentinô định nghĩa đă tiêu biểu cho
đời sống Giáo Hội Công giáo cho tới giữa thế kỷ XX. Một mẫu gương của
h́nh ảnh linh mục ấy là Thánh Cha Sở Ars, Gioan-Maria Vianney, từ trần
cách nay 150 năm.
Nhưng trong suốt
những thập kỷ gần đây nhất, căn tính người linh mục Công giáo đă biến
đổi, bị làm cho tối tăm, tan vỡ sụp đổ ở nhiều mức độ khác nhau, dưới
những đ̣n tục hoá chí mạng, trong Giáo hội và ở bên ngoài.
Mục tiêu Năm Linh
Mục chính là tái dựng một căn tính thiêng liêng mạnh mẽ của người linh
mục, trung tín với sứ mạng nguyên thuỷ của ḿnh.
Điều đó bao hàm việc tẩy trừ mănh liệt “sự dơ bẩn” đă làm hoen ố một bộ
phận hàng giáo sĩ, giới hạn về số lượng, nhưng làm cho h́nh ảnh chung
của linh mục thật thảm hại.
Ta lưu ư ở vấn đề nầy
có một sự trùng hợp. Năm Linh Mục bắt đầu cùng lúc với cuộc kinh lư ngay
trong cộng đoàn Các Đạo Binh Chúa Kitô, theo phán quyết của các thẩm
quyền Vatican. Cộng đoàn nầy đáng để ư v́ dồi dào ơn gọi và con số lớn
lao các tân linh mục. Nhưng nó cũng có nguy cơ sụp đổ, như ta thấy ở
h́nh ảnh vị sáng lập có đặc sủng của cộng đoàn, linh mục Marcial Maciel,
mà cuộc sống hai mặt trái đạo đức nghiêm trọng - đă bị lộ ra toàn bộ -
ngày nay trở thành một vụ bê bối tai tiếng khủng khiếp, nhất là đối với
những ai đă là những môn đệ sốt sắng nhất của ngài.
Tái dựng lại căn tính
thiêng liêng của hàng giáo sĩ do vậy cũng bao hàm việc chăm sóc đặc biệt
đến việc đào tạo các giáo sĩ. Giống như chủng viện là một yếu tố căn bản
của cải cách Giáo Hội như Công Đồng Triđentinô mong muốn, củng thế, ngày
nay chính trong các chủng viện mà người ta rèn luyện căn tính các tân
linh mục.
Không phải Thánh Bộ
Giáo Sĩ coi các chủng viện, mà là Thánh Bộ [phụ trách] Giáo Dục Công
giáo.
Thánh Bộ Giáo Dục
Công Giáo do đó, cũng phải hành động để cho Năm Linh Mục mang lại hoa
trái. Trên thực tế, Thánh Bộ nầy cũng đă làm một điều ǵ đó căn cứ bài
diễn văn của Vị thư kư Thánh Bộ, Jean-Louis Brugues, trước các viện
trưởng các chủng viện giáo hoàng tụ họp ở Roma trong những ngày vừa qua.
ĐGM Brugues, 66 tuổi,
Ḍng Đa Minh, trước đây là giám mục giáo phận Angers cho đến năm 2007.
Làm thư kư cho Thánh Bộ Gíao Dục Công Giáo, ngài cũng đồng thời là phó
chủ tịch Hội Truyền Giáo và là thành viên Uỷ Ban về đạo tạo các ứng sinh
chức linh mục. Hơn nữa Ngài c̣n là thành phần của hàn lâm viện giáo
hoàng Thánh Tôma Akinô.
Bài diễn văn của Ngài
với các viện trưởng các chủng viện không có chút ngôn ngữ nào của giáo
triều. Với một sự ngay thẳng ít khi thấy, Ngài mô tả và tố giác bằng
những từ ngữ câu cú rơ rệt những đổ vỡ hư hại của giai đoạn hậu Công
Đồng, nhất là ở Châu Âu, gồm cả sự thiếu hiểu biết đến mức khó tưởng về
những điểm tín lư sơ đẳng, mà ngày nay dễ dàng thấy nơi các thanh niên
vào chủng viện.
Sự kém cơi hiểu biết
nầy đến mức, trong các phương thuốc đưa ra, Đức Cha Brugues ước mong
rằng chủng viện dành trọn một năm để dạy Giáo Lư Công Giáo.
Giáo Lư “ad parochos”
(cho các giáo xứ) là một yếu tố căn bản khác của cuộc cải cách
Triđêntinô. Bốn thế kỷ sau, người ta lại ở chỗ ấy. Sau đây là diễn văn
của Vị thư kư Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo với các viện trưởng, được tờ
Osservatore Romano công bố ngày 03.06.2009.
ĐÀO TẠO ĐỂ LÀM
LINH MỤC : GIỮA TỤC HOÁ VÀ CÁC MẪU GƯƠNG GIÁO HỘI.
Ta luôn có thể gặp rủi ro khi giải thích một t́nh h́nh xă hội khởi từ
một cách hiểu và giải thích duy nhất. Nhưng một số ch́a khoá có thể mở
được nhiều cánh cửa hơn là những ch́a khoá khác. Đă từ lâu tôi xác tín
rằng tục hoá đă trở thành một từ khoá để nghĩ các xă hội ngày nay, song
cũng cả Giáo Hội của chúng ta nữa.
Sự tục hoá tiêu biểu
cho một quy tŕnh lịch sử rất xa xưa,bởi v́ nó sinh ra ở Pháp vào giữa
thế kỷ 18, trước khi lan rộng ra trong toàn bộ các xă hội hiện đại.
Nhưng sự tục hoá xă hội thay đổi rất nhiều từ nước nầy sang nước khác.
Ở Pháp và ở Bỉ chẳng
hạn, tục hoá có một khuynh hướng xua những dấu chỉ thuộc về tôn giáo của
lănh vực công cộng và đem đức tin về lại trong lănh vực riêng tư. Người
ta để ư cũng khuynh hướng nầy, nhưng mạnh mẽ hơn, ở Tây Ban Nha, ở Bồ
Đào Nha và ở nước Anh. Ở Hoa kỳ ngược lại, sự tục hoá dễ dàng hoà nhập
với biểu hiện của công chúng về những xác tín tôn giáo : người ta c̣n
thấy rơ điều ấy ở những cuộc bầu cử tổng thống gấn đây nhất.
Kể từ một chục năm
nay, một cuộc tranh luận rất thú vị mở ra về đề tài nầy giữa các chuyên
gia. Cho tới đó dường như người ta phải coi sự tục hoá theo kiểu Châu Âu
là quy tắc và khuôn mẫu, c̣n sự tục hoá theo phong cách Mỹ chỉ là ngoại
lệ. Nhưng ngày nay nhiều người – như Jurgen Habernas,chẳng hạn – nghĩ
rằng điểu ngược lại mới đúng thật và rằng nay ở Châu Âu hậu hiện đại,
các tôn giáo sẽ đóng một vai tṛ xă hội mới.
BẮT ĐẦU LẠI TỪ
GIÁO LƯ
Dù dưới h́nh thức nào, sự tục hoá cũng đă gây ra trong các đất nước
chúng ta một sự sụp đổ nền văn hoá Kitô giáo. Các thanh niên đến tŕnh
diện trong các chủng viện chúng ta không biết chút ǵ hoặc hầu như thề
về giáo lư Công giáo, về lịch sử Giáo Hội và những tập tục trong Giáo
Hội. Sự thấp kém văn hoá phổ biến nầy buộc chúng ta phải rà soát lại
những ǵ chúng ta vẫn thực hành cho tới nay. Tôi xin kể ra hai điều:
Trước hết,
tôi thấy không thể bỏ qua việc thu xếp cho các thanh niên nấy một
thời kỳ - một năm hoặc nhiều hơn - để được đào tạo căn bản, được
“tái giáo dục” cả về giáo lư lẫn văn hoá. Các chương tŕnh học có thể
h́nh thành nhiều cách, hợp với nhu cầu đặc trưng cho mỗi quốc gia. Cá
nhân tôi, tôi nghĩ đến việc dành trọn một năm để có thể tiêu hoá và thấm
nhuần GIAÓ LƯ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO, được tŕnh bày tóm tắt hết sức đầy
đủ.
Thứ đến,
phải xem xét lại các chương tŕnh đào tạo của chúng ta. Các thanh
niên vào chủng viện biết rằng họ không biết. Họ khiêm nhường và ước ao
thấm nhuấn thông điệp của Giáo Hội. Chúng ta có thể làm việc thật sự tốt
đẹp với họ. Việc họ thiếu văn hoá cũng có cái tích cực là họ không kéo
lê với họ nữa những thành kiến tiêu cực của các đàn anh họ. Đó là một
điều may mắn. Như vậy chúng ta bắt đầu phủi bỏ để xây dựng. Đó là lư do
tại sao tôi thiên về một sự đào tạo thần học tổng hợp,mạch lạc và nhắm
tới điều chính yếu.
Điều nầy hàm ư rằng
những người giảng dạy và những nhà đào tạo phải từ bỏ một sự đào tạo lại
căn bản được tiêu biểu bằng một tinh thần phê b́nh – như là trường
hợp thế hệ của tôi, v́ nó mà việc khám phá Kinh Thánh và giáo lư đă bị
lây nhiễm v́ một tinh thần phê b́nh có hệ thống – và cám dỗ chuyên
biệt hoá quá sớm : chính là v́ các thanh niên nầy c̣n thiếu một nền văn
hoá cần thiết
Cho phép tôi chia sẻ
với các Vị một vài vấn đề hiện ra trong tâm trí tôi lúc nầy. Người ta có
lư hằng ngàn lần khi muốn đem cho các linh mục tương lai một nền đào tạo
đầy đủ và ở mức độ cao. Như một người mẹ ân cần chu đáo, Giáo Hội muốn
điều tốt lành nhất cho các linh mục tương lai của ḿnh. Các giáo tŕnh
do vậy đă được nhân lên, đến mức làm cho các chương tŕnh nên nặng nề
một cách mà theo tôi là tăng quá mức. Các Vị hẳn đă cảm thấy nguy cơ
chán năn nơi rất nhiều chủng sinh của các vị. Tôi xin đặt câu hỏi nầy :
một cái nh́n mang tính bách khoa (kiến thức chung) có thích hợp với
những người trẻ tuổi nầy vốn chưa hề nhận được một sự đào tạo Kitô giáo
giáo căn bản chăng? Cách nh́n nầy có phải đă khiến cho việc đào tạo vỡ
vụn thành nhiều mảnh, một khiến cho các giáo tŕnh chồng chất và làm cho
tổ chức trở nên quá thiên về lịch sử hoá? Có thật sự cần thiết ,chẳng
hạn, phải cho những thanh niên chưa hề học giáo lư,một đào tạo có chiều
sâu về các khoa học nhân văn hoặc các kỹ thuật truyền thông?
Tôi xin khuyên nên
chọn chiều sâu hơn là chiều rộng, tổng hợp hơn là phân tán trong các chi
tiết, cấu trúc hơn là trang trí. Bằng ấy lư do khiến tôi tin tưởng rằng
việc nghiên cứu siêu h́nh học, dù mang tính cưỡng ép đến đâu, cũng là
một giai đoạn mở đầu tuyệt đối không thể thiếu cho việc nghiên cứu thần
học. Những ai đến cới chúng ta thường đă nhận được một đào tạo kỹ thuật
và khoa học – đó là một may mắn – nhưng sự thiêu hiểu biết về văn hoá
tổng quát không cho phép họ đi vào thần học một cách cương quyết.
HAI THẾ HỆ - HAI KHUÔN
MẪU GIÁO HỘI
Đă nhiều dịp, tôi có nói về các thế hệ : thế hệ của tôi,thế hệ trước
tôi,các thế hệ tương lai. Đối với tôi đó là cái nút thắt đầu mối chủ
chốt của t́nh h́nh hiện nay. Đă hẳn, việc chuyển từ một thế hệ nầy qua
một thế hệ khác đă luôn đặt ra các vấn nạn thích ứng, nhưng những ǵ
chúng ta đang sống ngày nay hoàn toàn đặc biệt
Chủ đề tục hoá lẽ ra
phải giúp chúng ta,cả ở đó nữa, hiểu rơ hơn. Nó đă có một sự tăng tốc
chưa hề thấy trong những năm thập niên 1960. Với những người thuộc thế
hệ của tôi và c̣n hơn thế nữa, với những người thuộc lớp trước tôi,
thường được sinh ra và nuôi dạy trong một môi trường Kitô giáo, th́ nó
là một khám phá chính yếu, cuộc mạo hiểm lớn lao của đời họ. Họ c̣n đi
tới chỗ giải thích về nó là “sự mổ ra với thế giới” mà Công Đồng Vatican
II hằng mong ước như là một sự trở lại với sự tục hoá.
Chính như thế mà
chúng tôi đă sống,hoặc c̣n cả ủng hộ, một sự tự-tục-hoá hết sức mạnh mẽ
trong đa số các Giáo Hội phương Tây.
Ví dụ th́ rất nhiều.
Các tín hữu sẵn sàng dấn thân vào phục vụ hoà b́nh,công lư và các chính
nghĩa nhân bản, nưng họ có tinh vào sự sống vĩnh cửu chăng? Các Giáo Hội
của chúng ta đă có một nỗ lực hết sức bao la để canh tân giáo lư,nhưng
chẳng phải cuốn giáo lư nầy có khuynh hướng lơ là bỏ qua những thực tại
tối thượng sao? Các Giáo Hội của chúng ta bị công luận xúi giục, níu
kéo, đă lậm vào đa số những tranh luận đạo đức học thời ấy, nhưng các
Giáo Hội nói được đến chừng mức nào về tội tỗi,ân sủng và đời sống đối
thần? Các Giáo Hội của chúng ta đă thành công trong việc trưng ra được
những kho tàng tài t́nh để làm cho tín hữu tham gia tốt hơn vào phụng
vụ, nhưng chẳng phải phụng vụ đă mất đi phần lớn ư nghĩa tính chất linh
thánh đó ư? Người ta có thể phủ nhận rằng thế hệ chúng ta – có thể là
không để ư – đă mơ về “một Giáo hội những người thanh sạch”, một đức tin
đươc tinh luyện với mọi biểu hiện đạo đức, cảnh giác với mọi biểu lộ
sùng bái b́nh dân như là rước kiệu, hành hương,v..v.. không?
Cú sốc giữa sự tục
hoá và các xă hội chúng ta đă thay đổi sâu xa các Giáo Hội chúng ta.
Người ta có thể đưa ra giả thuyết theo đó chúng ta đă vượt qua từ một
Giáo Hội “thuộc về”, - ở đó đức tin được nhóm khai sinh đem cho,- sang
một Giáo Hội “xác tín”, - nơi đức tin được định nghĩa như là một sự lựa
chọn cá nhân và dũng cảm, thường đối nghịch với nhóm nguyên thuỷ nầy. Sự
chuyển qua nầy có kèm theo những biến thể gây ấn tượng về con số. Người
ta có thể thấy bằng mắt sự giảm sút người tham dự trong các thánh đường,
trong các lớp giáo lư và trong các chủng viện. Tuy nhiên, các đây mấy
năm, ĐHY Lustiger đă chứng minh,với những con số trong tay, rằng ở Pháp
tương quan giữa con số linh mục với những người sống đạo đích thực vẫn
luôn như thế.
Các chủng sinh và các
linh mục trẻ của chúng ta cũng thuộc về Giáo Hội “xác tín” nầy. Họ không
c̣n đến từ những miền quê nữa,nhưng đúng hơn là từ các thành phố đại
học. Có khi họ lớn lên trong các gia đ́nh chia rẻ hoặc “đổ bể”, là cái
để lại cho họ những vết thương và thỉnh thoảng,một sự thiếu trường thành
về t́nh cảm. Môi trường xă hội mà những người đó thuộc về không c̣n nâng
đỡ họ nữa : họ chọn làm linh mục do xác tín và đă từ bỏ - do sự việc nầy
‘ mọi tham vọng xă hội (những ǵ tôi nói không phải là đúng ở mọi nơi :
tôi có biết những cộng đoàn ở Châu Phi,nơi gia đ́nh hoặc làng mạc c̣n
mang những ơn gọi sinh ra trong ḷng chúng). Chính v́ thế họ có một nhân
dạng rơ rệt hơn, những cá t́nh mạnh mẽ hơn và những tính khí dũng cảm
hơn. Với tư cách nầy, họ đáng được chúng ta hoàn toàn quư trọng.
Sự khó khăn mà tôi
muốn lôi kéo sự chú ư của các Vị, do vậy vượt qua khuôn khổ một xung đột
đơn thuần giữa các thế hệ. Thế hệ của tôi, tôi nhấn mạnh điều nầy, đă
đồng hoá sự mở ra thế giới với một sự cải đổi sang tục hoá, mà nó đă cảm
thấy ít nhiều bị thôi miên. Những gười trẻ hơn,ngược lại, được sinh ra
trong tục hoá. Đó là môi trường tự nhiên của họ. Họ thấm nhuần nó với
sữa mẹ,nhưng trên hết họ vẫn t́m cách giữa khoảng cách với nó và xác
định căn tính và những dị biệt của họ.
THÍCH NGHI HOẶC ĐỐI ĐẦU
VỚI THẾ GIỚI ?
Từ nay trong các Giáo
Hội Châu Âu và có thể cả trong Giáo Hội Hoa Kỳ, có một ḍng chia sẻ và
thỉnh thoảng một ḍng rạn nứt, giữa một trào lưu “kết cấu” và một trào
lưu “đối nghịch”.
Trào lưu thứ nhất dẫn
chúng ta đến việc nghĩ rằng trong tục hoá có những giá trị mang đậm tính
chất Kitô giáo như là b́nh đẳng,tự do,liên đới,trách nhiệm và chắc chắn
có thể t́m thấy được sự hoà hợp với trào lưu nầy và xác định những lănh
vực hợp tác.
Trào lưu thứ
hai,ngược lại, mời gọi giữ khoảng cách. Trào lưu nầy cho rằng các điểm
khác biệt hoặc đối kháng, nhất là trong lành vực đạo đức học, sẽ trở nên
ngày càng rơ rệt hơn. V́ vậy nó đưa ra một khuôn mẫu để chọn lựa so với
khuôn mẫu đang chi phối và chấp nhận giữ vai tṛ một thiểu số phản
kháng.
Trào lưu thứ nhất đă
chiếm ưu thế nỗi trội trong thời hậu Công Đồng. Nó đă cung cấp xuất xứ
mang tính ư thức hệ các cách giải thích của Công Đồng vatican II, vốn áp
đặt vào cuối thập niên 1960 và trong thập niên 1970.
Điều đó đă đảo ngược
kể từ các thập niên 1980, nhất là – song không phải tuyệt đối - dưới ảnh
hưởng của Đức Gioan-Phaolô II. Trào lưu “tạo thành” đă cũ kỷ,nhưng các
tín đồ của trào lưu nầy vẫn c̣n nắm giữ các vị trí chủ chốt trong Giáo
Hội. Trào lưu của khuôn mẫu chọn lựa được củng cố đáng kể,nhưng vẫn chưa
trở thành lấn át chi phối. Chính v́ vậy mà chúng ta thấy những căng
thẳng hiện tại trong nhiều Giáo Hội châu lục chúng ta.
Tôi sẽ không mất thời
giờ công sức để minh hoạ bằng những ví dụ sự đối nghịch mả tôi vừa mô
tả.
Các đại học Công giáo
ngày nay phân chia theo ḍng chia sẻ nầy. Một số chơi ván bài thích ứng
và hợp tác với xă hội tục hoá. Điều nầy buộc họ phải giữa khoảng cách
một cách chỉ trích về một khía cạnh nầy hay khía cạnh khác của tín lư
hoặc luân lư Công giáo. Một số đại học khác, từ nguồn cảm hứng gần đây
hơn, nhấn mạnh về sự khẳng định đức tin và sự tham gia tích cực vào việc
rao giảng Tin Mừng. Các trường Công giáo cũng như thế.
Và đề trở về lại với
chủ đề cuộc gặp gỡ nầy,người ta cũng có thể nói bằng ấy về h́nh dạng -
mẫu của những ai gơ chửa các chủng viện hoặc các ḍng tu của chúng ta:
Các ứng viên thuộc khuynh hướng thứ nhất ngày càng ít, làm cho các linh
mục những thế hệ cao niên hơn không được hài ḷng. Các ứng sinh thuộc
khuynh hướng thứ hai ngày nay đông đảo hơn, nhưng họ lại do dự bước qua
ngưỡng cửa các chủng viện của chúng ta, bởi v́ thông thường, họ không
t́m thấy được ở những nơi đó những ǵ họ đang t́m kiếm.
Họ là những người
mang nặng ưu tư t́m căn tính: căn tính Kitô giáo – chúng ta phải phân
biệt với những kẻ không cùng chia sẻ đức tin với chúng ta ở những điểm
nào? – và căn tính linh mục, trong khi căn tính của tu sĩ tó thể nhận
biết dễ dàng hơn.
Làm thế nào tạo điều
kiện thuận lợi một sự hài hoà giữa các nhà giáo dục - vốn thường thuộc
về trào lưu thứ nhất – và các thanh niên có căn tính thuộc trào lưu thứ
hai? Các nhà giáo dục sẽ tiếp tục gắn bó với những tiêu chuẩn tiếp nhận
và tuyển lựa có niên đại từ thời đại họ,nhưng không c̣n phù hợp với
nguyện vọng của những người trẻ tuổi hơn? Người ta đă nêu ra cho tôi một
chủng viện ở Pháp, nơi những giờ Chầu Thánh Thể đă bị huỷ bỏ từ khoảng
hai chục năm nay,v́ bị cho là quá có tính sùng mộ : các chủng sinh mới
đă phải đấu trang nhiều năm để những giờ chấu nầy được tái lập, trong
khi một số người giảng dạy chọn từ chức trước cái mà họ cho là một sự
‘trở về với quá khứ”. Với việc nhượng bộ các yêu cầu của những người trẻ
hơn, họ có cảm tưởng phủ nhận những ǵ mà v́ chúng họ đă dành cả cuộc
đời để đấu tranh.
Trong giáo phận mà
tôi đă làm giám mục, tôi đă được biết những khó khăn như vậy khi các
linh mục cao niên hơn - hoặc trọn vẹn các cộng đoàn giáo xứ - cảm thấy
một khó khăn lớn lao khi phải đáp ứng nguyện vọng của những linh mục trẻ
được sai đến với họ.
Tôi hiểu những khó
khăn mà các vị sẽ gặp trong nhiệm vụ viện trưởng các đại chủng viện của
các vị. C̣n hơn cả sự chuyển từ một thế hệ nầy sang một thế hệ khác, các
vị phải bảo đảm giữ hài hoà sự chuyển từ cách giải thích Công Đồng
Vatican II sang một lối giải thích khác, và cũng rất có thể từ một khuôn
mẫu thuộc Giáo Hội sang một khuôn mẫu khác. Vị thế của các vị rất tế nhị,
nhưng lại tuyệt đối cần thiết đối với Giáo Hội.
CHIESA, 10 .06 2009
BTGH chuyển ngữ và giới
thiệu.
|