|

Sắc Lệnh Đào Tạo Linh Mục
- Optatam Totius
Công Đồng Chung Vaticanô II
(Bản dịch của Giáo Hoàng Học
Viện Piô X - 1972)
Lời Giới Thiệu
III Tổng Quát
Về Nội Dung Sắc Lệnh
Lời mở đầu: Tầm quan trọng
và giá trị phổ quát của vấn đề đối với việc canh tân.
Chương I: Số 1: Phương thức
đào tạo phải được áp dụng trong mỗi quốc gia: sự đồng nhất và
thích nghi.
Chương II: Số 2: Ân cần cổ
vơ ơn thiên triệu linh mục là việc chung của mọi người: gia đ́nh,
giáo xứ, nhà giáo dục, linh mục, giám mục; chỉnh đốn hành động để đáp
ứng với hành động của Chúa Quan Pḥng; phương tiện cổ truyền và mới mẻ.
Số 3: Đối tượng của số này: các
Tiểu Chủng Viện; cung ứng một nền giáo dục vững chắc và thích hợp về
nhân bản và thiêng liêng; về những thanh thiếu niên thuộc các ngành giáo
dục khác và những ơn kêu gọi muộn.
Chương III: Tổ chức các
Đại Chủng Viện.
Số 4: Sự cần thiết và mục đích của
mục vụ đ̣i phải đào tạo chủng sinh dưới mọi khía cạnh.
Số 5: Vấn đề quan trọng: các nhà
giáo dục phải được chọn lựa, chuẩn bị, thống nhất chặt chẽ, được Giám
Mục và tất cả các linh mục trong giáo phận khuyến khích: tất cả mọi
người giúp đỡ chủng viện.
Số 6: Nghiên cứu về ơn thiên triệu:
ư ngay lành, tự do, khả năng, sự kiên quyết.
Số 7: Chủng Viện từng vùng: để có
một nhóm những nhà giáo dục hoàn hảo. Chú trọng đến phẩm cách những kẻ
thụ giáo: nếu nhóm quá đông, nên thành lập những nhóm nhỏ hơn, có người
hướng dẫn đàng hoàng.
Chương IV: Huấn luyện tu
đức vững chắc.
Số 8: Đào tạo đời sống mật thiết
với Chúa Ba Ngôi, Chúa Kitô, Đức Mẹ: một đời sống cầu nguyện theo tinh
thần Phúc Âm và nhiệt thành.
Số 9: Đào tạo tinh thần Giáo Hội:
cộng tác viên tương lai của các Giám Mục, những cộng sự viên của các
Linh Mục khác, trong tinh thần phục vụ khiêm nhượng, vâng lời với trách
nhiệm, nghèo khó, tin tưởng vào ơn thiên triệu.
Số 10: Đào tạo một đời sống độc
thân linh mục: một động lực siêu nhiên, cánh chung và tông đồ, một ân
huệ do sự kiên tâm cầu nguyện đem lại. Ư thức rơ ràng về hôn nhân. Chấp
nhận sự từ bỏ ấy trong tự do và ư thức.
Số 11: Đào tạo trưởng thành về
nhân cách: tính t́nh, sự bền chí, những đức tính nhân bản, sống kỷ luật
với tinh thần siêu nhiên và trong cách sử dụng tự do.
Số 12: Phương thế đặc biệt của
việc đào tạo: thời gian đào tạo, thời kỳ tập sự giữa các năm học, tuổi
truyền chức được ấn định cao hơn, thực tập chức phó tế.
Chương V: Các môn học
của Giáo Hội.
Số 13: Trước hết phải có một nền
giáo dục trung đẳng vững chắc về nhân bản và khoa học, phải biết La Ngữ
và những cổ ngữ trong Thánh Kinh và Thánh Truyền.
Số 14: Định hướng tiên quyết; học
về mầu nhiệm Chúa Cứu Thế và việc Cứu Chuộc, biết dung ḥa môn triết học
với thần học.
Số 15: Triết học: Mục đích:
t́m hiểu về con người, vũ trụ, Thiên Chúa; trọng trách bảo vệ gia sản có
giá trị ngàn đời, những tương quan triết học hiện đại, đào sâu lịch sử,
khuyến khích việc học hỏi cá nhân, chứng minh sự liên quan giữa học
thuyết với những vấn đề nhân sinh và mầu nhiệm Cứu Chuộc.
Số 16: Thần học: Mục đích:
thấu triệt vấn đề mạc khải; sống mạc khải và biết tŕnh bày mạc khải.
Thánh Kinh: linh hồn của
môn thần học, học biết chú giải, biết những đề tài quan trọng của mạc
khải. Thánh Kinh như món ăn thiêng liêng.
Tín lư: Bắt đầu từ những đề
tài trong Thánh Kinh, minh chứng sự đóng góp của các Giáo Phụ, với sự
liên quan lịch sử. Suy luận theo chiều hướng của Thánh Tôma.
Luân lư: có tính cách Thánh
Kinh hơn và theo chiều hướng bác ái.
Giáo luật và Giáo sử:
liên quan với mầu nhiệm Giáo Hội.
Phụng vụ: Theo "Hiến Chế về
Phụng Vụ Thánh". Học về hiệp nhất và các tôn giáo khác.
Số 17: Phương pháp sư phạm:
Học hỏi kỹ càng, khuyến khích làm việc riêng, làm việc tập thể, nhằm sự
hiệp nhất và tinh thần liên đới; tránh những phiền phức g̣ bó của luật
lệ, nên chọn lựa những vấn đề thực tế hơn.
Số 18: Giáo dục nơi đại học:
Lựa chọn cẩn thận những người có khả năng thích hợp theo các phân khoa
đại học nhưng vẫn tiếp tục hướng dẫn họ về vấn đề tu luyện đạo đức.
Chương VI: Vấn đề đào
tạo mục vụ nói riêng.
Số 19: việc đào tạo mục vụ phải
chi phối tất cả các việc đào tạo khác; biết nghệ thuật linh hướng, biết
phát triển mọi khả năng đối thoại, biết nghe, biết yêu thương.
Số 20: Những môn học bổ túc: Sư
phạm, tâm lư xă hội, tông đồ giáo dân, tinh thần tông đồ phổ quát và
truyền giáo.
Số 21: Thực hành việc tông đồ: Đó
là vấn đề cần thiết trong kỳ nghỉ và suốt thời gian học tập với một
phương pháp được người có thẩm quyền hướng dẫn chu đáo; phải xác tín tầm
quan trọng ưu tiên của những phương tiện siêu nhiên đối với việc tông đồ.
Chương VII: Việc huấn
luyện bổ túc sau khi măn trường.
Số 22: Tiếp tục đào luyện thường
xuyên cho các giáo sĩ: nhờ các học viện, qua các kỳ hội thảo, bằng những
hoạt động định kỳ.
Kết luận: Trong chiều hướng
của Công Đồng Triden nhưng với một tinh thần mới mẻ, Giáo Hội và Công
Đồng Vaticanô II hy vọng nhiều nơi các linh mục tương lai, v́ nhờ sự
huấn luyện kỹ càng và thích hợp, các linh mục đó sẽ đạt được những kết
quả lâu bền.
IV. Viễn Tượng
Mới Do Sắc Lệnh Mang Lại
Tuy được cưu mang trước Công Đồng,
nhưng Sắc Lệnh chỉ chào đời vào thời kỳ họp cuối cùng. Có thể nói Sắc
Lệnh đă hấp thụ bầu khí của Công Đồng để chín dần, đă được dinh dưỡng
bằng nhựa sống dồi dào và phong phú trong khoảng đất đầy mầu mỡ do những
dữ kiện học hỏi giáo lư và mục vụ ở những sắc lệnh khác.
Nơi đây ta c̣n nhận thấy các quan
tâm và định hướng rơ rệt của Công Đồng Vaticanô II: tính cách ưu tiên
của mục vụ trong việc đào tạo, nhấn mạnh việc giáo dục nhân bản, tinh
thần hiệp nhất, cởi mở với những trào lưu hiện đại để đưa đến một cuộc
đối thoại thực sự, những hoạt động mục vụ trong toàn thể Giáo Hội đối
với việc d́u dắt mầm non ơn thiên triệu, tinh thần mới mẻ trong việc học
tập rộng răi các huấn lệnh của Giáo Hội, trách nhiệm tiên phong của
những Hội Đồng Giám Mục đối với những việc liên quan đến phương thức đào
tạo các linh mục, nhấn mạnh về vấn đề đào tạo trường kỳ cho giáo sĩ giữa
một thế giới luôn luôn đổi mới của thời đại này.
Bởi vậy Sắc Lệnh này phù hợp với
tất cả những văn kiện của Công Đồng Vaticanô II. Tập "Giáo Huấn" ngày
6-1-1970 của Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo đă tŕnh bày những tiêu chuẩn
đào tạo linh mục tương lai. Với tài liệu này, các Hội Đồng Giám Mục có
trách nhiệm đă được chỉ dẫn đầy đủ. Các linh mục tương lai có thể vững
tâm trông cậy hoàn toàn vào Thánh Thần Thiên Chúa, Đấng đă linh ứng và
hướng dẫn Giáo Hội không ngừng, để dọn ḿnh làm linh mục của Chúa Kitô,
linh mục của ngày mai và của hết thảy mọi thời đại.
Với Sắc Lệnh này, chúng ta thấy
được biết bao tiến bộ về quan niệm đào tạo linh mục. Chỉ cần đọc lại
những mệnh lệnh của giáo luật về vấn đề chủng viện cũng đủ để đi đến kết
luận rằng: dù mối bận tâm của Giáo Hội đối với những linh mục tương lai
trước sau vẫn là một, nhưng tinh thần những định hướng mới mẻ và những
chú trọng đặc biệt trong Sắc Lệnh cho chúng ta thấy có một cái ǵ rất
đặc sắc.
Linh mục theo Công Đồng Vaticanô
II là một linh mục kết hiệp với Thầy Chí Thánh, khao khát một đời sống
Phúc Âm thực sự, đi theo đường Chúa Giêsu đă đi, và đồng thời là người
lo lắng đem thân ḿnh phục vụ anh em và mọi người trong một cuộc gặp gỡ
cởi mở, chân thành và thích nghi. Nhờ đó linh mục có thể đem đến cho mọi
người Sứ điệp của Chúa Kitô trong một ngôn ngữ dễ hiểu và linh động,
cống hiến cho họ ơn cứu rỗi của Chúa Kitô, Đấng đă tự hiến qua một Giáo
Hội có khuôn mặt trẻ trung, có ṿng tay và con tim rộng mở chờ đón hết
mọi con người của thời đại chúng ta và tất cả mọi dân tộc. Đồng ư với
một quan sát viên Công Đồng, chúng ta tin rằng: "Đó là một trong số
những bản văn rất cởi mở và rất mới mẻ của Công Đồng" (Etudes, tháng 1,
1968).
|