| |

TẦM QUAN
TRỌNG CỦA ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC
ĐHY Claudio Hummes,
Tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Sĩ
(Zenit 03.2008)
Các tín
hữu giáo dân Công giáo sống bí tích hôn phối và đời hôn nhân một cách trọn
vẹn, thánh thiện hơn, là nhờ nh́n vào không chỉ gương sống cầu nguyện,
tôn thờ Thánh Thể, yêu mến chuỗi hạt mân côi mà thôi, mà c̣n – và nhất
là - nh́n vào đời sống độc thân của các linh mục. Cuộc sống độc thân nầy
xét về b́nh diện con người, chỉ là một nỗ lực, một thói quen, một sự tiết
dục cao độ, v́ ở một số tôn giáo khác cũng có h́nh thức sống tương tự ;
nhưng xét về b́nh diện tu đức, thần học và mục vụ, th́ đời sống độc thân
của linh mục là dấu chỉ Nước Trời, nơi người ta giống như thiên thần,
nơi không c̣n dựng vợ gả chồng. Đời sống độc thân linh mục c̣n là lời
tiên tri về cuộc sống sau khi sống lại, để mọi tín hữu sống đời hôn nhân
Kitô giáo hiểu và sống linh đạo hôn nhân một cách tốt lành nhất. Trung
thành với đới sống độc thân, các linh mục c̣n làm cho tín hữu tin tưởng
và quư trọng Giáo Hội qua việc tận hiến cuộc đời phục vụ Chúa và mọi người.
Trong tâm t́nh ấy, sau một số bài viết tŕnh bày về hôn nhân Công giáo,
BTGH kính giới thiệu một số bài việt về ĐỜI SỐNG LINH MỤC ở nhiều khía cạnh,
từ nhiều quan điểm, để cùng t́m hiểu và cầu nguyện trong Năm Linh Mục sắp
được công bố.
Gần đến dịp kỷ niệm 40 năm ngày công bố Tông thư « Đời Sống Độc Thân
Linh Mục » của ĐTC Phaolô VI, Thánh Bộ Giáo Sĩ xét thấy thích hợp để nhắc
lại lời dạy của Huấn Quyền Giáo Hội về văn kiện giáo hoàng quan trọng nầy.
Đời sống
[Luật] độc thân Linh Mục thật sự là một hồng ân quư giá Chúa Kitô ban
cho Giào Hội của Người, một món quà luôn phải suy gẫm và củng cố lại, đặc
biệt là trong thế giới ngày nay đang bị tục hoá sâu xa. Quả thật, những
nhà nghiên cứư chỉ ra rằng những cội nguồn của luật độc thân linh mục
đưa chúng ta về lại thời các tông đồ. Ignace de la Potterie đă viết :
« Các nhà nghiên cứư chung chung nhất trí nói rằng sự bắt buộc của luật
độc thân hoặc chí ít sự tiết dục đă trở thành một khoản Giáo Luật từ thế
kỷ thứ 4 [...]. Nhưng cần phải nhận xét rằng các nhà làm luật ở thế kỳ
thứ 4 và thứ 5 khẳng định rằng vi các lập luận Kinh Thánh, việc bố trí
Giáo Luật sẵn sàng nầy dựa trên một truyền thống tông đồ. Chẳng hạn Công
Đồng Carthage (năm 390) nói : « Những người phục vụ các mầu nhiệm thánh
phải hoàn toàn tiết dục (continens esse in omnibus) hầu cho những ǵ các
tông đồ đă giảng dạy và chính người xưa ǵn giữ lại, nay chúng ta cũng
tuân giữ nó ». Trong cùng ư nghĩa ấy, A.M. Stickler nói về các lập luận
Kinh Thánh thiên về luật độc thân có tính chất linh ứng từ các tông đồ.
TRIỂN KHAI LỊCH
SỬ
Huấn quyền
long trọng của Hội Thánh không ngừng lập lại các bố trí sẵn sàng về luật
độc thân giáo hội nầy. Thượng Hội Đồng Elvira (300 – 303 ?) quy định ở
Giáo Luật 27 : » Một giám mục, cũng giống như mọi giáo sĩ nào khác, chỉ
nên có bên cạnh ḿnh một nữ tu hoặc một trinh nữ tận hiến ; đă quy định
rằng ngài tuyệt đối không nên có bên ḿnh một người lạ » ; và ở Giáo Luật
33 : « Đă quyết định cách chung sự cấm đoán sau đây đối với các giám mục,
linh mục và phó tế, cũng như với tất cả các giáo sĩ đang thực hiện một
thừa tác vụ : ước ǵ họ tiết chế với vợ của họ và không sinh con ; những
người nào vẫn làm như vậy, th́ phải được tách khỏi t́nh trạng giáo sĩ ».
Đức giáo
hoàng Sirice (384 – 399), trong thư gửi cho Giám mục Imerius de
Tarragone đề ngày 10.02.385, khẳng định : « Đức Chúa Giêsu [...] đă muốn
rằng khuôn mặt Giáo Hội, mà Người là hôn phu, toả ra vẻ huy hoàng chói lọi
của Đức khiết tịnh [..] Chúng ta hết thảy là linh mục được liên kết nhờ
luật bền vững nầy [...] hầu cho kể từ ngày chúng ta được thụ phong linh
mục, chúng ta phó thác cả thân xác và tâm hồn cho sự tiết độ và tính giản
dị để làm đẹp ḷng Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta trong lễ vật mà chúng
ta dâng lên mỗi ngày ».
Trong Công
Đồng đại kết Latêranô lần đầu năm 1123, ở Giáo Luật 3, chúng ta đọc thấy : « Chúng
tôi cấm đoán một cách tuyệt đối các linh mục, phó tế và phụ phó tế [chức
năm, đă huỷ bỏ cùng các ‘chức nhỏ’ 1- 4 đầu thập niên 1970. BTGH] sống với
người thiếp hoặc hôn thê của họ và sống cùng với những phụ nữ khác ngoài
các phụ nữ mà Công Đồng Nicê đă cho phép sống ». Cũng thế, trong khoá họp
thứ 24 Công Đồng Triđentinô, ở Giáo luật 9, việc tuyệt đối không thể kư
kết hôn ước đối với các giáo sĩ trong các Ḍng Tu Thánh hoặc các tu sĩ
đă khấn trọng Đức khiết tịnh, được nhắc lại ; và cùng với nó là sự vô hiệu
của chính hôn nhân, kết hợp với bổn phận cầu xin Chúa ban cho ơn đức khiết
tịnh trong một ư ngay lành. Vào một thời kỳ mới hơn, Công Đồng Vatican
II đă lập lại trong Tuyên Ngôn « Presbyterorum ordinis » mối liên kết chặt
chẽ giữa đời sống độc thân và Nước Thiên Chúa, nh́n thấy nơi đời sống độc
thân một dấu hiệu loan báo một cách rạng ngời Nước Thiên Chúa, một khởi
đầu đời sống mới, mà thừa tác vụ Hồi Thánh dành riêng để phục vụ nó.
Trong Tông
Thư ngày 24.06.1967, Đức giáo hoàng Phaolô VI giữ một lời Người hứa với
các thánh phụ công đồng hai năm trước đó. Người xem xét các lời phản đối
dậy lên liên quan đến kỹ luật luật độc thân và, với việc nhấn mạnh trên
các nền tảng Kitô học và tham chiếu lịch sử và những ǵ mà các văn kiện
những thế kỷ đầu dạy chúng ta về các nguồn gốc của luật độc thân - tiết
dục, đă xác nhận đầy đủ giá trị của những lời phản đối ấy.
Thượng hội
đồng Các Giám Mục năm 1971, cả trong văn kiện tiền hội nghị
Ministerium Presbyterorum (15.02) lẫn trong văn kiện kết thúc
Ultimis Temporibus (30.11) đều khẳng định sự cần thiết phải duy tŕ luật
độc thân linh mục trong Giáo Hội la-tinh, với việc giải thích nền tảng,
sự hội tụ các động cơ và điểu kiện ủng hộ nó.
Bộ giáo luật
mới của Giáo hội la-tinh năm 1983 lập lậi truyền thống từ bao năm : »Các
giáo sĩ buộc phải giữ tiết dục hoàn toàn và vĩnh viễn v́ Nước Trời và v́
thế phải tuân giữ luật độc thân, ăn sủng đặc biệt Thiên Chúa ban nhờ đó
các thừa tác viên chức thánh có thể kết hiệp dễ dàng hơn với Đức Kitô bằng
một tâm hồn không chia sẻ và tự hiến trọn vẹn và tự do hơn cho việc phục
vụ Chúa và con người ».
Đó cũng
chính là đường lối của Thượng Hội Đổng năm 1990, từ đó cho ra lời hiệu
triệu của Tôi Tớ Chúa Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II « Pastores dabo
vobis » (Ta ban cho các con những mục tử), trong đó Đức giáo tông tŕnh
bày luật độc thân như một đ̣i hỏi của chủ nghĩa cơ bản Phúc Âm,tạo thuận
lời một cách đặc biệt cho phong cách sống đời hôn nhân và trào phun từ
h́nh thể của linh mục tới Chúa Giêsu, qua bí tích truyền chức linh mục.
Sách Giáo
Lư Hội Thánh Công Giáo, công bố năm 1992 và thu lượm được những hoa trái
đầu tiên của biến cố lớn lao Công Đồng đại kết Vatican II, lập lại giáo
lư ấy : »Tất cả các thừa tác viên được truyền chức linh mục trong Giáo Hội
la-tinh, ngoại trừ các phó tế vĩnh viễn, được chọn một cách b́nh thường
giữa các tín hữu đang sống độc thân và có ư chí giữa luật độc thân v́ Nước
Trời ».
Trong Thượng
Hội Đồng gần đây nhất về Bí Tích Thánh Thể, theo sự công bố tạm thời,
chính thức và bán chính thức càc tuyên bố đúc kết của Thượng Hội Đồng,
được Đức Thánh Cha Biển Đức XVI cho phép, trong tuyên bố số 11 liên quan
đến việc thiếu linh mục trong một số vùng trên thế giới và về « cơn đói
Thánh Thể » của Dân Chúa, người ta thửa nhận « tầm quan trọng của hồng
ân vô giá đời sống độc thân trong Giáo hội trong thực hành của Giáo Hội
la-tinh ». Với một tham chiếu về Huấn Quyền, đặc biệt là Công Đồng
Vatican II và các Đức giáo tông gần đây nhất, các thánh phụ đă đề nghị
làm sáng một cách thoả đáng các lư do tương quan giữa luật độc thân và
việc truyền chức linh mục, với ḷng tôn trọng trọn vẹn truyền thống các
Giáo Hội Đông phương. Một số giám mục ám chỉ vấn đế các viri probati(*),
nhưng giả thuyết nầy lập tức bị coi như một con đường không bao giờ
nên đi theo.
Vừa mới đây,
ngày 16.11.2008, Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI đă chủ tŕ trong Dinh
Tồng Đồ một
trong những hội nghị b́nh thường lănh đạo các bộ ngành Giáo Triều. Nhân
dịp nầy, Người đă tái khẳng định giá trị của chọn lựa đời sống độc thân
của các linh mục, hợp với truyền thống Công giáo chưa bị gián đoạn và lập
lại đ̣i buộc phải có một đào tạo nhân bản và Kitô giáo vững vàng , cho cả
các chủng sinh lẫn các linh mục đă chịu chức.
(*) Viri probati : trong Giáo Luật
dùng để chỉ những người đă có gia đ́nh khi được truyền chức linh mục.
CÁC LƯ
DO CỦA LUẬT ĐỘC THÂN THÁNH
Trong Tông thư « Luật độc thân linh mục », Đức giáo hoàng Phaolô VI trước
hết tŕnh bày t́nh h́nh vấn đề độc thân linh mục trong thời kỳ nầy, cả về
quan điểm việc công nhận lẫn phản đối nó. Những lời đầu tiên mang tính
quyết định và nay hăy c̣n thời sự : « Luật độc thân thánh,mà Giáo Hội
canh giữ từ nhiều thế kỷ nay như một viên ngọc quư rạng ngời, bảo tồn
toàn bộ giá trị của nó cả ở thời đại chúng ta vốn tiêu biểu bằng một sự
biến đổi sâu xa các năo trạng và các cơ cấu » (12). Đức Phaolô VI tiết
lộ cho biết chính Người đă suy gẫm biết bao, khi tự đặt nghi vấn về chủ
đề nầy, để có thể trả lời cho những thắc mắc phản đối, và Người đă kết
luận : « Chúng tôi lượng tính rằng luật độc thân hiện đang hiệu lực, vẫn
phải được liên kết ngày nay và một cách mạnh mẽ, với thừa tác vụ giáo
sĩ. Luật độc thân nầy phải nâng đỡ thừa tác viên của Gíao Hội trong lựa
chọn độc quyền, vĩnh viễn và tuyệt đối t́nh yêu độc nhất và tối cao của
Chúa Kitô, chọn lựa tận tâm cho việc thờ phượng Chúa và phục vụ Giáo Hội
và luật độc thân linh mục phải nói lên được nét đặc trưng riêng biệt đời
sống của thừa tác viên cả trong cộng đoàn các tín hữu cũng như trong xă
hội trần tục » (13).
Đức Thánh
Cha nói thêm : «Đă hẳn, như Công Đồng Vatican II đă tuyên bố điểu nầy, tự
bản chất chức linh mục không đ̣i buộc đức trinh khiết, như thực hành của
Giáo Hội sơ khai và truyền thống các Giáo Hội Đông phương cho thấy điều
ấy (Presb.ord,16), nhưng cũng chính Thánh Công Đồng Vatican II đă không
do dự long trọng xác nhận luật độc thân linh mục xưa cũ, thánh thiện và
được Chúa quan pḥng, như nó đang hiện hữu ngày nay, không phải là không
tŕnh bày những động cơ biện minh cho luật nầy dưới mắt bất cứ ai biết
đánh giá cao những hồng ân Chúa ban trong tinh thần đức tin và với ngọn
lửa ḷng quảng đại bên trong » (14)
Đúng như vậy.
Luật độc thân là một hồng ân mà Chúa Kitô ban cho những người được gọi
lănh nhận chức linh mục. Hồng ân nầy phải được đón nhận với yêu thương,
mừng vui và biết ơn. Như vậy, nó sẽ là một nguồn hạnh phúc và thánh thiện.
Những lư do
của luật độc thân thánh thiện do Đức Phaolô VI tŕnh bày gồm có ba : ư
nghĩa Kitô học - ư nghĩa Giáo Hội học - ư nghĩa cánh chung học của nó.
Hăy bắt đầu
từ ư nghĩa Kitô-học. Đức Kitô là một sự mới mẻ. Người thực hiện một cuộc
tạo dựng mới. Chức linh mục của Người mới mẻ. Người đổi mới tất cả mọi sự.
Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa Cha, được sai đến trong trần gian, « đă
làm người để nhân loại, lệ thuộc tội lỗi và sự chết, được tái sinh và, bằng
một cuộc sinh ra lại, được vào trong Nước Trời. Hoàn toàn hiến dâng trọn
vẹn cho thánh ư Chúa Cha, Chúa Giêsu hoàn tất bằng mầu nhiệm vượt qua
công cuộc tạo dựng mới nầy, đem vào trong không gian và thời gian một
h́nh thức mới mẻ, cao cả, thiên linh, cuộc sống biến đổi thân phận trần
thế của nhân loại » (15).
Hôn nhân tự
nhiên, được Thiên Chúa chúc lành ngay từ khi được tạo thành, nhưng đă bị
tội lỗi làm cho mang thương tích, đă được Chúa Kitô phục hồi, Người là Đấng
« đă nâng nó lên hàng phẩm giá bí tích và dấu chỉ nhiệm mầu từ chính sự
kết hợp của người với Giáo Hội » [...]. Nhưng Chúa Kitô, Đấng Trung Gian
cho một Giao Ước cao cả hơn ( x. Dt 8,6) đă mở ra một con đường khác, ở
đó tạo vật loài người, với việc gắn bó tuyệt đối và trực tiếp với Đức
Chúa, hoàn toàn bận tâm về Người và về những ǵ liên quan đến Người, bày
tỏ một cách sáng tỏ hơn và toàn diện hơn thực tại có tính đổi mới sâu sắc
của Giao Ước Mới » (16)
Sự mới mẻ nầy,
con đường mới nầy là cuộc sống trong đức trinh khiết, mà chính Chúa
Giêsu đă sống, hài hoà với bản tính người trung gian giữa trời và đất,
giữa Chúa Cha và nhân loại của Người. » Hoàn toàn hài hoà với sứ mệnh nầy,
Chúa Kitô đă ở như vậy suốt đời Người trong t́nh trạng Trinh khiết, nói
lên ư nghĩa sự tận tâm tuyệt đối trong việc phục vụ Chúa và con người «
(17). Việc phục vụ Chúa và con người có nghĩa là t́nh yêu tuyệt đối và
không dè dặt, đă đánh dấu cuộc đời Chúa Giêsu ở giữa chúng ta. Đức Trinh
Khiết v́ t́nh yêu Nước Thiên Chúa !
Hiện tại,
Chúa Kitô, khi gọi các linh mục của Người trở nên các thừa tác viên ơn cứu
độ, nghĩa là công cuộc tạo dựng mới, th́ Người gọi họ nên và sống đổi mới
cuộc đời, hiệp nhất và nên giống như Người trong h́nh thức hoàn hảo nhất
có thể. Chính từ điều ấy mà nẩy sinh hồng ân đời sống độc thân linh
thánh, như là sự nên đồng h́nh dạng hoàn hảo với Đức Chúa Giêsu và nên lời
tiên tri cho cuộc tạo dựng mới. Người đă gọi các tông đồ của Người là
‘bạn hữu’. Người đă gọi họ theo Người hết sức gần kề, trong mọi sự, cho
đến Thập giá. Và Thập Giá sẽ dẫn đưa họ tới sự sống lại, tới cuộc tạo dựng
mới đă thành toàn. Ví thế, chúng ta biết rằng trung tín đi theo Người
trong Đức Trinh Khiết, bao gồm một hy sinh, sẽ dẫn chúng ta tới hạnh
phúc. Thiên Chúa không gọi người bào tới bất hạnh, mà là tới hạnh phúc.
Tuy nhiên, hạnh phúc luôn đi đôi với ḷng trung tín. Đó là điều Đức Cố
giáo hoàng Gioan-Phaolô II đă nói với các vợ chồng tụ họp quanh Người
trong Cuộc Hội Ngộ Các Gia Đ́nh lần thứ II ở Rio de Janeiro .
Chính như
thế mà chủ đề Ư NGHĨA CÁNH CHUNG của đời sống độc thân nhấn mạnh, cả với
tích cách dấu chỉ lẫn lời tiên tri về cuộc tạo dựng mới, nghĩa là Vương
Quốc vĩnh cửu của Thiên Chúa Ngày quang lâm, khi tất cả chúng ta sẽ sống
lại từ cơi chết.
« Giáo Hội
[...] h́nh thành từ vương quốc nầy hạt giống và khởi điểm trên trái đất »,
như Công Đồng Vatican II dạy chúng ta (18). Từ những « thời cuối cùng »
nầy, đức trinh khiết được sống bằng t́nh yêu Nước Thiên Chúa, cấu thành
một dấu chỉ đặc biệt bởi v́ Đức Chúa đă loan báo rằng « khi sống lại,
[..] người ta không c̣n dựng vợ gả chồng nữa, nhưng người ta nên như các
thiên thần của Chúa ở trên trời » (19). Trong một thế giới như thế giới
chúng ta, thế giới h́nh ảnh và thú vui dễ dăi, bị mê muội v́ những sự vật
trần gian, nhất là bời những tiến bộ khoa học và công nghệ - xin cũng nhớ
đến khoa học sinh học và công nghệ sinh học – th́ việc loan báo một đời
sau, nghĩa là một thế giới tương lai, một sự quang lâm như là ngày đến
vĩnh viễn của một cuộc tạo dựng mới, có tính quyết định và đồng thời giải
thoát khỏi những sự mơ hồ, những ầm ĩ, những đau khổ và những mâu thuẫn,
để có được những thiện ích thật sự và những hiểu biết mới mẻ và sâu sắc
mà tiến bộ nhân loại hiện tại mang theo nó.
Cuối cùng, ư nghĩa giáo hội
học của đời sống độc thân dẫn chúng ta tới trực tiếp hơn hoạt động mục vụ
của người linh mục.
Tông thư khằng định rằng
: ”Đức trinh khiết tận hiến của các thừa tác viên chức thánh quả thật diễn
tả t́nh yêu trinh khiết Chúa Kitô đối với Giáo Hội và sự dồi dào ơn phúc
khiết trinh và siêu nhiên từ sự kết hiệp nầy” (20). Giống như Chúa Kitô
và trong Chúa Kitô, người linh mục kết hôn một cách mầu nhiệm với
Giáo Hội, yêu thương Giáo Hội bằng một t́nh yêu dành trọn. Như vậy
khi tận hiến hoàn toàn cho những sự việc của Chúa Kitô và của Nhiệm Thể
Người, linh mục được hưởng một sự tự do thiêng liêng rộng răi, để sẵn
sàng phục vu yêu thương và toàn tâm tất cả mọi người không phân biệt ai.
“Với linh mục cũng vậy :
bằng việc ngày ngày chết cho chính ḿnh, bằng việc từ bỏ t́nh yêu hợp
pháp một mái gia đ́nh của riêng ngài, v́ t́nh yêu Chúa Giêsu và v́ triều
đại Người, linh mục sẽ t́m thấy được vinh quang một cuộc sống tṛn đầy
và sinh ơn ích dồi dào trong Chúa Kitô, bởi v́, như Người và trong Người,
ngài yêu mến tất cả con cái của Thiên Chúa và trao ban chính ḿnh cho họ’
(21)
Tông thư c̣n nói thêm rằng
đời sống độc thân làm cho linh mục tăng trưởng khả năng lắng nghe lời
Chúa và cầu nguyện, cũng như cho phép linh mục đặt trên bàn thờ toàn bộ
cuộc sống in dấu hy sinh của ngài” (22)
GIÁ TRỊ
CỦA ĐỨC KHIẾT TỊNH VÀ CỦA ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN.
Trước khi được đưa vào trong giáo luật, luật độc thân là
một hồng ân Chúa ban cho Giáo Hội Người, đó là một vấn đề gắn kết với sự
tận tâm tuyệt đối với Chúa. Ngay trong khi phân biệt giữa kỹ luật đời sống
độc thân, các linh mục sống kinh nghiệm đạo đức về sự tấn hiến và tuyên
khấn của tu sĩ, không nghi ngờ ǵ không hiện hữu một cách giải thích và
biện minh khác cho luật độc thân linh mục ngoải sự tận tâm tuyệt đối với
Chúa, trong một tương quan mà xét về mặt t́nh cảm, th́ cũng là dành
riêng trọn. Điều ấy giả định một tương quan cá nhân và manh tính cộng
đoàn sâu xa với Chúa Kitô, Đấng biến đổi tâm hồn các môn đệ Người.
Lựa chọn đời sống độc thân của Giáo Hội Công giáo nghi lễ
la tinh phát triển từ thời kỳ các tông đồ, chính xác là trong ḍng quan
hệ của linh mục với Đức Chúa của ḿnh, với h́nh ảnh câu « Con có yêu Thầy
hơn những người nầy chăng » (23) mà Chúa Giêsu hỏi Thánh Phêrô sau khi
Người sống lại.
Những lư do thuộc Kitô học, giáo hội học và cánh chung học
của đời sống độc thân, tất cả bén rễ trong sự hiệp thông đặc biệt với
Chúa Kitô, mà người linh mục được kêu gọi, do vậy có thể giải thích theo
nhiều cách khác nhau theo những ǵ được khẳng định trong tông thư
Sacerdotalis Caelibatus (Độc Thân Linh Mục).
Trước hết, độc thân là « dấu chỉ và tác nhân kích thích
bác ái mục vụ » (24). Hoạt động bác ái mục vụ nầy tiêu biểu cho tiêu chuẩn
cao nhất để đánh giá cuộc sống Kitô hữu dưới mọi khía cạnh của nó. Độc
thân là một con đường yêu thương, ngay cả khi chính Chúa Giêsu, như Phúc
Âm Thánh Mat-thêu thuật lại, khẳng định rằng không phải ai cũng hiểu được
thực tại nầy : » Tất cả mọi người không hiểu được ngôn ngữ nầy, nhưng chỉ
những ai mà nó được ban cho » (25).
Một đức ái như thế sẽ được định nghĩa, giải thích trong
khía cạnh kép kinh điển t́nh yêu đối với Thiên Chúa và đối với anh em : »
Với việc giữ đức khiết trinh hoặc đời sống độc thân v́ Nước Trời, các
linh mục tận hiến cho Chúa Kitô một cách mới mẻ và ưu tiên, giúp các
ngài dễ gắn bó hơn với Chúa Kitô mà trái tim không bị chia năm sẻ bảy »
(26). Thánh Phaolô, trong đoạn gợi ra ở đây, tŕnh bày đời sống độc thân
và đức khiết trinh như là « những phương thế làm đẹp ḷng Chúa » không bị
chia sẻ (27) ; nói cách khác, một « con đường t́nh yêu » giả định một ơn
gọi chắc chắn là đặc biệt và trong ư nghĩa nầy th́ đây là một đặc sủng
và ơn gọi nầy tự nó là tuyệt vời, cho cả Kitô hữu lẫn linh mục. T́nh yêu
triệt để đối với Thiên Chúa qua hoạt động bác ái trở nên t́nh yêu đối với
anh em. Trong sắc lệnh Presbyterorum Ordinis, chúng ta đọc thấy rằng
các linh mục « trở nên tự do hơn để tận hiến ḿnh, trong Người và nhờ
Người, để phục vụ Thiên Chúa và con người, trong tư thế sẵn sàng hơn để
phục vụ Nước Người và công tŕnh tái tạo siêu nhiên ; có khả năng để đón
tiếp rộng răi quan hệ phụ tử trong Chúa Kitô hơn » (28). Kinh nghiệm
chung chứng thực rằng sẽ đơn giản hơn nếu cởi mở tâm hồn cho anh em một
cách trọn vẹn và không dè dặt đối với những ai không được nối kết bằng
những mối ràng buộc t́nh cảm khác, dù chúng có hợp pháp và thánh thiện đến
đâu, ngoài mối dây ràng buộc với Chúa Kitô.
Đời sống độc thân là mẫu gương chính Chúa Kitô để lại
cho chúng ta. Người đă muốn là người sống độc thân. Tông thư nầy c̣n giải
thích : »Suốt cuộc đời, Chúa Kitô ở trong t́nh trạng trinh khiết, muốn
nói lên sự tận tâm tuyệt đối của Người phục vụ Chúa và con người. Mối
ràng buộc sâu xa nầy, trong Chúa Kitô, kết hợp sự trinh khiết và chức
linh mục, phản ánh nơi những người được tham dự vào phẩm giá sứ mệnh của
Đấng Trung Gian và Linh Mục Đời Đời và sự tham dự nầy sẽ càng hoàn thiện
hơn khi thứa tác viên chức thánh được giải phóng khỏi mọi ràng buộc máu
mủ xác thịt » (29)
Cuộc sống lịch sử của Chúa Giêsu Kitô là dấu chỉ hiển
nhiên nhất rằng đức khiết tịnh nhận lấy và thực hiện một cách tự nguyện
bởi Thiên Chúa, là một ơn gọi được đặt nền tảng vững vàng cả trên b́nh
diện Kitô giáo lẫn trên b́nh diện lư trí con người.
Nếu đời sống chung Kitô giáo không thể được coi một cách
hợp pháp là như thế, nếu như nó loại trừ chiều kích Thánh Giá, th́ sự hiện
hữu của linh mục sẽ càng không thể hiểu nỗi nếu nó thiếu nhăn quan Đấng
Chịu Đóng Đinh. Sự chịu đau khổ và thỉnh thoảng các khó khăn và thậm chí
là thất bại, đều có vị trí của chúng trong đời sống một linh mục, ngay cả
khi đă phân tích kỹ và thấy không phải những cái nầy quyết định cuộc sống
của linh mục. Với việc chọn đi theo Chúa Kitô ngay từ giây phút đầu, người
ta cam kết đi với Người tới Calvariô, ư thức rằng chấp nhận thập giá của
riêng ḿnh là yếu tố nói lên nguồn gốc căn bản của việc đi theo nầy.
Cuối cùng, như chúng ta đă nói, đời sống độc thân là dấu
chỉ cánh chung. Trong Giáo Hội ngay từ bây giờ đă hiện diện Vương quốc
tương lai : Giáo Hội không chỉ loan báo nó mà thôi, mà c̣n thực hiện nó
theo cách thức mầu nhiệm bằng việc cống hiến cho « cuộc tạo dựng mới » nầy
cho tới khi vinh quang Nước Người tỏ hiện trọn vẹn. Trong khi bí tích
hôn phối làm cho Giáo Hội bén rễ vào hiện tại, nhúng nó hoàn toàn vào
trong trật tự thế gian vốn chính nó qua đó trở thành một nơi có thể giúp
cho việc thánh hoá, th́ đức trinh khiết lập tức hướng ta tới tương lai,
tới sự hoàn chỉnh trọn vẹn công cuộc tạo dựng vốn chỉ được thực hiện đầy
đủ vào ngày thế mạt.
CÁC PHƯƠNG THẾ
ĐỂ TRUNG THÀNH VỚI LUẬT ĐỘC THÂN LINH MỤC
Sự khôn ngoan qua hai ngàn năm của Giáo Hội, thành thạo
về nhân văn, đă không ngừng nhận diện qua thời gian một số yếu tố căn bản
và không thể thiếu, để giúp cho con cái ḿnh sống trung tín với đặc sủng
siêu nhiên của đời sống độc thân. Trong các yếu tố căn bản nầy xuất hiện
cũng trong giáo huấn Giáo Hội vừa mới đây, tầm quan trọng của việc đào tạo
thiêng liêng cho linh mục được gọi làm « chứng nhân cho Đấng Tuyệt Đối ».
Huấn thị ‘Pastores dabo vobis’ (Ta sẽ ban cho các con những mục tử),
khẳng định : « Tự rèn luyện thành linh mục có nghĩa là tự huấn luyện
ḿnh đưa ra một câu trả lời cá nhân cho câu hỏi căn bản của Chúa Giêsu :
« Con có yêu mến Thầy không ? ». Câu trả lời cho người linh mục tương
lai, chỉ có thể là dâng tặng trọn cuộc đời ḿnh » (30). Trong chiều hướng
nầy, những năm tháng đào tạo tuyệt đối căn bản, từ các năm tháng xa cũ sống
trong gia đ́nh cũng như những tháng ngày sống trong chủng viện, trường học
yêu thương đích thực, trong đó, - như một cộng đoàn tông đồ - các chủng
sinh trẻ quây quần bên Chúa Giêsu chờ đợi hồng ân Thánh Linh cho sứ mệnh
được sai đi. « Quan hệ của người linh mục với Chúa Giêsu Kitô và trong
Người, với Giáo Hội của Người, khắc ghi trong chính hữu thể vị linh mục,
khi ngài được thánh hiến và xức dầu bí tích, và trong hành động của ngài,
nghĩa là trong sứ mệnh hoặc trong thừa tác vụ của ngài » (31). Chức vụ
linh mục chẳng là ǵ khác ngoài ‘một cuộc đời gắn bó mật thiết với
Chúa Giêsu Kitô » (32), trong một quan hệ hiệp thông mật thiết được
mô tả «với một sắc thái t́nh bạn hữu » ( 33). Cuộc đời người linh mục tự
sâu thẳm, là một h́nh thức sống không thể tưởng tượng được nếu không có
Chúa Kitô. Chính trong sự ấy bao hàm sức mạnh chứng từ của ngài : Sống
trinh khiết v́ Nước Chúa là một thực tại. Nó hiện hữu v́ Chúa Kitô hiện
hữu và làm cho nó trở nên có thể.
T́nh yêu đới với Đức Chúa là đích thực khi nó hướng về
việc trở nên tuyệt đối : yêu mến Chúa Kitô nghĩa là có một sự hiểu biết
sâu xa về Người, năng lui tới với con người của Người, chia sẻ và đồng
hoá tư tưởng của người và cuối cùng, đón nhận không e dè những đ̣i hỏi
triệt để của Tin Mừng. Chúng ta chỉ có thể nên chứng nhân cho Chúa nếu
chúng ta làm một cuộc trải nghiêm sâu xa về Chúa Kitô. Toàn bộ cuộc đời
linh mục, chất lượng kinh nghiệm sống tử v́ đạo (đau khổ) và làm chứng,
tuỳ thuộc vào quan hệ với Chúa Giêsu. Chứng nhân cho Đấng Tuyệt Đối chỉ
duy nhất là người thực sự có Chúa Giêsu là Bạn Hữu và là Chúa, là người
hiệp thông với Chúa. Chúa Kitô không chỉ là đối tượng của suy tư, của
các luận văn thần học hoặc hồi ức lịch sử. Người là Chúa hiện tại ; là Đấng
hằng sống v́ đă sống lại và chúng ta chỉ tồn tại sống động khi nào chúng
ta luôn tham dự ngày càng sâu xa hơn vào sự sống của Người. Chính trên đức
tin rơ rệt minh nhiên nầy mà toàn bộ cuộc đời linh mục đặt nền móng. V́
thế Tông Thư nầy khẳng định : « Người linh mục trước hết phải cố gắng
phát huy với hết ḷng yêu mến mà ân sủng dẫn ngài nên mật thiết với Chúa
Kitô, trong khi cố gắng thăm ḍ mầu nhiệm vô tận và đem lại hạnh phúc nầy.
Ngài phải thủ đắc một ư thức ngày càng sâu xa về mầu nhiệm Giáo Hội, mà
nếu không có ư thức ấy, th́ t́nh trạng đời sống [độc thân] của ngài có
nguy cơ tỏ ra vô lư và vô căn cứ đối với ngài » (34)
Ngoài việc rèn luyện và t́nh yêu Chúa Kitô, th́ yếu tố
chủ chốt để ǵn giữ luật độc thân là ḷng say mê Nước Thiên Chúa, có
nghĩa là khả năng làm việc với nhiệt tâm và không nề hà cố gắng để cho
Chúa Kitô được mọi người biết đến, yêu mến và đi theo. Như một nông dân,
khi đă t́m được viên ngọc quư, bán tất cả để mua thửa ruộng ấy, cũng vậy,
kẻ t́m thấy Chúa Kitô và tận hiến trọn đời với Chúa và v́ Chúa, không thể
nào thôi làm mọi sự để tha nhân có thể gặp được Chúa.
Không có cái nh́n sáng tỏ nầy, mọi ‘bước nhảy truyền
giáo » sẽ gặp thất bại, các phương pháp luận sẽ biến thành những kỹ thuật
bảo tồn cho một hệ thống, và ngay cả những lời cầu nguyện cũng có thể trở
thành những kỹ thuật suy gẫm và tiếp xúc với sự linh thánh, trong các kỹ
thuật ấy tan biến cả « cái tôi » con người lẫn cái « Ngài » của Chúa. Một
bận rộn lo toan căn bản và cần thiết của linh mục, như là đ̣i hỏi và như
là bổn phận, ấy là cầu nguyện vốn trên thục tế không thể thay thế được
trong cuộc đời Kitô hữu và do vậy, trong cuộc sống linh mục. Phải dành
cho nó một sự chú ư đặc biệt : cử hành Thánh Lễ, thần vụ, xưng tội thường
xuyên, tôn sùng yêu mến Đức Trinh Nữ Maria, linh thao, lần hạt Mân Côi hằng
ngày, là một số trong các dấu hiệu thiêng liêng cho thấy một t́nh yêu mà
nếu không có nó, th́ có nguy cơ bị thế chỗ một cách không thương xót bởi
những vật thay thế - thường là có hại,- về h́nh tượng, sự nghiệp, tiền bạc,
t́nh dục. Linh mục là người của Chúa v́ được Chúa gọi để nên như thế và
linh mục sống căn tính cá nhân nầy trong sự hoàn toàn thuộc về Chúa. Điều
nầy cũng được diễn tả trong việc lựa chọn sống độc thân. Đó là một người
của Chúa v́ ngài sống nhờ Chúa, nói với Chúa, phân tích và quyết định với
Chúa với một sự vâng lời của con cái, những giai đoạn cuộc sống Kitô hữu
của ngài. Các linh mục càng là những người của Chúa một cách căn cơ, qua
một cuộc sống hoàn toàn lấy Chúa làm tâm điểm, như Đức Thánh Cha Biển-Đức
XVI đă nhấn mạnh trong những lời chúc mừng Noel đến giáo triều Roma ngày
22.12 năm vừa qua, th́ chứng từ của các ngài càng hiệu quả và sinh hoa
trái và thừa tác vụ của các Ngài phong phú hoa trái thống hối trở lại.
Không có sự đối nghịch giữa sự trung thành với và sự trung thành với
con người, nhưng ngược lại, sự trung thành với Chúa là điều kiện cho
phép trung tín với con người.
KẾT LUẬN : MỘT
ƠN GỌI THÁNH THIỆN
Tông thư « Pastores dabo vobis », khi nói về ơn gọi
linh mục sống thánh thiện, sau khi đă nhấn mạnh tầm quan trọng của quan
hệ cá nhân với Chúa Kitô, đă diễn tả một đ̣i hỏi cấp thiết khác : người
linh mục, được gọi để thực hiện sứ mệnh loan báo, thấy ḿnh được trao
phó Tin Mừng để đem Tin Mừng ban tặng mọi người. Tuy vậy, ngài được gọi
tiếp nhận Phúc Âm trước tiên như một hồng ân tặng ban cho cuộc sống của
ngài, cho cá nhân ngài và như một biến cố ban ơn cứu rỗi làm cho ngài dấn
thân vào một cuộc sống thánh thiện. Trong viễn cảnh nầy, Đức
Gioan-Phaolô II đă nói về tính chất triệt để phúc âm tiêu biểu cho sự
thánh thiện của linh mục. Do vậy có thể chỉ ra trong các lời khuyên phúc
âm xưa nay được Giáo Hội đề xuất và được sống trong những t́nh trạng đời
sống tận hiến, những lối đi của một thuyết triệt để đời sống mà theo
cách của nó, người linh mục cũng được kêu gọi trung thành với nó.
Lời hiệu triệu nầy khẳng định : « Những ‘lời khuyên phuc
âm’ khác nhau mà Chúa Giêsu đưa ra trong Diễn Từ trên Núi là sự diễn tả
đặc quyền của thuyết triệt để phúc âm. Trong các lời khuyên nầy, được phối
kết chặt chẽ với nhau, ta thấy có vâng lời, khiết tịnh và khó nghèo.
Linh mục được gọi để sống các nhân đức ấy theo những mô thức và c̣n hơn
thế nữa, theo các cứu cánh và ư nghĩa nguyên thủy xuất phát từ căn tính
của người linh mục và diễn đạt ngài’ (35).
C̣n nữa, lấy lại chiều kích bản thể học mà thuyết triệt
để phúc âm đặt nền tảng trên đó : « Chúa Thánh Linh, khi thánh hiến linh
mục và cho nên giống như Chúa Giêsu Kitô, Đầu và Mục Tử, tạo nên một dây
liên kết trong chính con người của linh mục; mối dây liên hệ nầy phải được
lănh nhận và sống một cách cá nhân, nghĩa là ư thức và tự do, bằng một
cuộc sống hiệp thông và yêu thương phong phú hơn và một sự chia sẻ ngày
càng to lớn và căn cơ các tâm t́nh và thái độ của Chúa Giêsu Kitô. Trong
mối dây liên hệ nầy giữa Chúa Gêsu và linh mục, mối dây liên hệ bản thể
học và tâm lư học, bí tích và luân lư, có đồng thời cả nền tảng lẫn sức
mạnh cần thiết của ‘đời sống trong Chúa Thánh Linh » nầy và của thuyết
triệt để phúc âm nầy, mà người linh mục được kêu gọi đến và được sự rèn
luyện thường xuyên dưới khía cạnh thiêng liêng tạo cho điều kiện thuận lợi »
(36).
Tính chất hôn nhân của đời sống độc thân giáo sĩ, -
chính là v́ tương quan giữa Chúa Kitô và Giáo Hội mà linh mục được kêu gọi
thể hiện và sống, - phải nới rộng tinh thần của nó, bằng việc làm cho đời
sống ngài được soi sáng và trái tim ngài được bùng cháy lên. Đời sống độc
thân phải là một lễ dâng hạnh phúc, một nhu cầu được sống với Chúa Kitô,
hầu Người đổ xuống dạt dào nơi linh mục ḷng nhân hậu và t́nh yêu thương
của Người. Về vấn đề nầy, những lời nói của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI
soi sáng rất nhiều : «Nền tảng đích thực của đời sống độc thân không thể
chứa đựng trong câu :’Chúa là gia nghiệp con. Chỉ có thể lấy Chúa làm
trung tâm. Không thể có nghĩa là bị lấy mất t́nh yêu thương, nhưng phải
có nghĩa là để cho ḷng say mê Chúa chiếm ngự và kế đó học cách phục vụ
con người, nhờ một sự hiện diện ngày càng mật thiết hơn ở bên cạnh Người.
Đời sống độc thân phải là mợt chứng từ đức tin ; đức tin nơi Thiên Chúa
trở nên cụ thể trong h́nh thức cuộc sống nầy, vốn có một ư nghĩa chỉ duy
nhất từ Thiên Chúa. Đặt cuộc đời ngài trong Chúa, từ bỏ hôn nhân và gia
đ́nh, có nghĩa là tôi tiếp nhận và tôi kinh nghiệm về Thiên Chúa như thực
tại và tôi có thể đem Chúa đến cho con người » (37)
|
|