TÂM SỰ
NGƯỜI LINH MỤC.
Lời
Ngỏ:
Tác gỉa xin gởi tặng bài viết này cho
anh em DCCT.VN hiện đang truyền giáo tại các vùng cao nguyên,
đặc biệt là nơi có đông đảo anh chị em dân tộc thiểu số. Người
viết cũng ước ao gởi đến các anh em linh mục Triều đang làm việc
tại các họ đạo miền quê hay các vùng sâu xa, để nói lên sự cảm
thông trong những khó khăn và sự cô quạnh mà anh em đă can đảm
chấp nhận.

Michel Quoist, một cái tên khá quen thuộc và
có lẽ không xa lạ ǵ lắm đối với chúng ta. Ngài đă trở nên danh
tiếng nhờ vào một số các tác phẩm mà ngài đă viết và cho xuất
bản, đặc biệt là cuốn, “Prayers of Life”. Tác phẩm này đă
được dịch sang 24 ngôn ngữ và đă in trên hai triệu ấn bản, được
phổ biến trên khắp thế giới. Trong cuốn sách này, linh mục
Michel Quoist đă gói ghém phần lớn tất cả những kinh nghiệm quư
báu của đời sống linh mục. Ngài viết với tất cả tấm ḷng và chân
t́nh chia sẽ những kinh nghiệm buồn vui, sướng khổ, hạnh phúc và
gian truân của người linh mục, ngay cả những nỗi cô đơn và thất
vọng. Đọc tác phẩm ấy, tôi cảm thấy được sự cảm thông và sự nâng
đỡ về mặt tinh thần của một người đàn anh linh mục, đă từng
trải, đă từng va chạm và đă từng nếm thử sự diụ ngọt cũng như
đắng cay của một kiếp người. Tôi rất ngưỡng mộ cha Michel
Quoist, dù chưa một lần được diện kiến, tôi chỉ biết về ngài qua
các tác phẩm mà ngài đă xuất bản. Cũng như tôi, chưa từng lần
nào có cái vinh dự lớn lao được diện kiến Đức Giêsu, như các môn
đệ đồng thời với Ngài, nhưng tôi đă gặp và biết Ngài qua Lời
Ngài đă phán. Lời đă hóa thành nhục thể và cư ngụ giữa chúng ta.
Chính v́ sự gặp gỡ Đức Giêsu, nên cuộc đời tôi đă biến đổi, đă
chuyển hướng và rồi kết cuộc, tôi đă thành người môn độ của
Ngài, trong sứ vụ linh mục.
Cha Michel Quoist đă để lại cho tôi nhiều ấn
tượng, đặc biệt những ǵ ngài viết trong Lời nguyện của vị
linh mục vào buổi chiều chủ nhật.
“Người ta đ̣i hỏi rất nhiều ở người linh mục,
và có lẽ đúng như thế. Nhưng họ cũng nên hiểu rằng làm linh mục
không phải là chuyện dễ dàng. Người linh mục đă cho đi tất cả
thời thanh xuân của ḿnh, nhưng họ vẫn mang thân phận con người,
và v́ thế mỗi ngày “con người ấy” nơi vị linh mục, muốn t́m cách
lấy lại những ǵ mà ḿnh đă từ bỏ hoặc dâng hiến. Thật là một sự
chiến đấu và giằng co liên tục để có thể hoàn toàn phục vụ Thiên
Chúa và tha nhân.
Người linh mục không cần những lời ca tụng
(chỉ bằng đầu môi chót lưỡi) hoặc những qùa tặng đắt tiền; điều
mà họ cần là những ai được trao phó cho họ chăm sóc biết sống
yêu thương kẻ khác, qua đó chứng tỏ cho họ thấy rằng, đời sống
hiến dâng của họ đă không luống công vô ích. V́ vẫn là con người
(với nam tính), linh mục thỉnh thoảng cần những cử chỉ tế nhị
của một t́nh bạn mà không cần chiếm hữu... vào những buổi chiều
chủ nhật khi một ḿnh lẻ loi, đơn độc.”
Khi đọc những ḍng chữ này của cha Michel
Quoist, tôi liên tưởng đến các anh em linh mục bạn của tôi, mà
hiện nay họ đang phục vụ rải rác trên các cánh đồng truyền giáo
tại nhiều nơi trên khắp cùng bờ cơi Việt Nam và tại Hải Ngoại.
Họ là những sĩ tử Ḍng Chúa Cứu Thế, mang trong người tinh thần
và nhiệt huyết muốn đem Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô đến cho
người nghèo, những con người tất bạt, đang bị xă hội và giáo hội
lăng quên. Lẽ đó, họ đă không quản ngại đường xá xa xôi, họ lặn
lội vào tận trong các buôn làng của người anh em miền cao
nguyên, có khi giáp cả biên giới Việt-Miên-Lào. Họ sống trong
một môi trường và một điều kiện thiếu thốn về mọi phương diện,
đặc biệt là về mặt vật chất. Thế nhưng họ vẫn hăng say rao giảng
Lời Chúa, Lời hằng sống, Lời có khả năng tái sinh con người,
biến đổi người nghe, từ những con người ích kỷ, chỉ biết sống
cho chính ḿnh trở thành những con người quảng đại, biết cho đi
và sống trọn vẹn cho tha nhân.
Cách đây ba năm (2004), khi tôi đang phục vụ
tại Việt Nam. Có lần tôi được cha giám tỉnh cho tháp tùng, đi
thăm viếng anh em DCCT tại các điạ điểm truyền giáo của nhà ḍng
trên vùng cao nguyên, tỷ dụ như: Bảo Lộc, Pleiku, Kontum .v.v...
Khi đến nơi, tôi hơi bàng hoàng và ngạc nhiên vô cùng... không
hiểu lư do nào đă thúc đẩy những người anh em linh mục trẻ của
nhà ḍng lại bằng ḷng dấn thân và vui vẻ phục vụ tại đây. Khi
tôi được họ mời lên ngôi nhà cḥi mà họ đang tạm trú, tôi không
cầm được nước mắt, nh́n thấy tận mắt, nơi họ ăn uống và ngủ nghỉ
qúa đơn sơ, nghèo nàn, ngoài những ǵ mà tôi có thể tưởng tượng
hoặc h́nh dung. Pḥng ngủ của họ chỉ có một cái chiếu manh trải
trên sàn nhà và một cái gối cũ. Bàn làm việc th́ rất sơ sài, có
anh em dùng cái vali (rương) của ḿnh làm bàn viết. Họ ăn uống
rất đạm bạc, đôi khi không có gạo để nấu cơm, họ ăn khoai hoặc
bắp, do dân làng biếu. Bổng lễ của họ là những quày chuối hoặc
những trái bầu, trái bí. Ấy thế mà nơi họ lại toát ra một niềm
vui sâu thẳm, nét mặt của anh em lúc nào cũng tươi cười, hân
hoan, họ dường như cảm nghiệm được một cái ǵ đó huyền nhiệm
lắm, niềm vui của kẻ dám cho đi, ngay cả mạng sống của chính
ḿnh, để yêu thương và phục vụ những con người nghèo, những
người đang bị ruồng bỏ, không ai muốn đoái hoài tới.
Và tôi cũng liên tưởng tới những người anh em
linh mục Việt Nam, hiện nay đang phục vụ tại các xứ đạo miền quê
tại các giáo phận xa xôi trên lănh thổ Úc Châu này. Những anh em
ấy đă chia sẻ với tôi, cái nỗi niềm cô đơn của họ, v́ phải sống
trong một môi trường cách biệt, qúa xa đối với người giáo dân
hay bạn bè. Có anh em cho biết, đôi khi lái xe hơn cả 100 cây số
để dâng thánh lễ chủ nhật, ấy vậy chỉ có khoảng 4-5 người tham
dự, sau đó lại phải lái xe chạy sang một địa điểm khác cũng xa
khoảng như vậy. Bù lại cho những em anh linh mục ở miền quê, th́
họ cho biết, giáo dân tại đó rất thân thiện, họ rất qúy mến và
yêu thương các linh mục của ḿnh. Nhờ đó mà họ cảm thấy được sự
đỡ nâng thực sự về mặt tinh thần.
Riêng bản thân tôi, v́ là linh mục ḍng, nên
tôi sống trong cộng đoàn với anh em, mọi sinh hoạt trong đời
sống thường ngày có giờ giấc quy định hẳn hoi, ngay cả giờ ăn,
giờ kinh nguyện hoặc thánh lễ. Điều này là một trợ giúp rất lớn
đối với tôi trong đời sống tu tŕ. Tôi cảm thấy sự đỡ nâng của
anh em trong cộng đoàn, những lúc vui hoặc buồn, tôi luôn luôn
có người để tâm sự hoặc chia sẻ, nếu muốn. Lúc nào tôi cũng có
anh em ở bên cạnh. Tuy nhiên, hai năm vừa rồi, tôi có được cơ
hội phục vụ tại một xứ đạo tương đối khá sống động và giáo dân
tại đây vẫn siêng năng tham dự thánh lễ mỗi chủ nhật, cũng như
ngày thường. Tại đây tôi học hỏi được nhiều kinh nghiệm, trước
tiên là từ cha xứ, một linh mục triều, rất năng nổ, và có nhiều
khả năng. Ngài lúc nào cũng vui vẻ, ân cần tiếp đón giáo dân, và
luôn sẵn sàng giúp đỡ họ, nếu có yêu cầu. Có lẽ trời ban cho
ngài một đức tính luôn sẵn sàng và ít khi biết từ chối.
Tôi làm việc và sống với ngài được hai năm,
anh em chúng tôi sống với nhau rất thân t́nh, sẵn sàng chia sẻ
mọi công việc, ngay cả những gánh nặng nếu có... Chúng tôi luôn
tôn trọng lẫn nhau và dành cho nhau những khoảng thời gian cần
thiết. Tôi thích những buổi tối thứ bảy hoặc chủ nhật, khi cả
hai anh em chúng tôi đều có mặt ở nhà, sau khi dâng thánh lễ và
đóng cửa nhà thờ. Chúng tôi, tổ chức nấu ăn và rồi cùng dùng bữa
cơm tối chung với nhau, những lần như vậy, anh em chúng tôi
thường hay khui một chai rượu vang để uống và thưởng thức, v́
“rượu ngon phải có bạn hiền.” Trong những lúc như vậy, anh em
chúng tôi thỉnh thoảng đàm đạo với nhau công việc của xứ hoặc
bàn thảo các chương tŕnh và kế hoạch cho tương lai, đôi khi hai
anh em chỉ nói chuyện để tâm sự và chia sẻ với nhau về những ǵ
ḿnh cảm nghiệm trong cuộc sống hay trong công việc mục vụ của
ḿnh.
Tôi nhớ có lần ngài đi nghỉ holiday một tháng
và tôi phải trông nom giáo xứ một ḿnh. Mỗi tối khi đêm về, nhất
là những ngày cuối tuần, sau khi dâng thánh lễ chiều ngày thứ
bảy, tôi phụ với một vài giáo dân đóng cửa nhà thờ, rồi một ḿnh
trở lại ngôi nhà xứ vắng lặng, v́ chỉ một ḿnh tôi lúc đó, lủi
thủi xuống nhà bếp kiếm ǵ ăn cho xong bữa, rồi đi ngủ để sáng
mai c̣n dậy sớm, hầu dâng thêm 3 thánh lễ vào sáng ngày chủ
nhật. Có một lần, tôi bị cảm cúm vào giữa tuần, ho nhiều và mất
ngủ, tôi bị lên cơn sốt, bà thư kư cố gắng gọi điện thoại để mời
cha khách phụ tôi dâng lễ cuối tuần, nhưng v́ qúa cận ngày, nên
các ngài đều bận cả, không cha nào có thể giúp dâng lễ vào ngày
thứ bảy hoặc chủ nhật, thế là tôi đành phải lănh đủ. Dù trong
người c̣n yếu và nói không muốn ra tiếng, tôi cũng phải cố gắng
ra khỏi giường, sang bên nhà thờ để cử hành thánh lễ cho giáo
dân, tôi cố gắng giảng nhưng khi giảng xong th́ tôi lại bị “mất
tiếng”! Những lúc như vậy, tôi nhớ đến những anh em linh mục của
tôi, nhất là những anh em linh mục triều, đang làm việc tại các
giáo xứ, có thể các vị ấy cũng đang ở trong hoàn cảnh tương tự
như tôi, tôi thấy thương cho các ngài, v́ bây giờ, tôi đă trải
qua cái kinh nghiệm ấy, một ḿnh phải tự lo cho chính ḿnh trong
lúc ốm đau, đàng khác c̣n phải lo phục vụ giáo dân, cử hành
thánh lễ cho họ.
Trải qua hai năm làm việc tại giáo xứ, tôi
cảm thông và hiểu được phần nào về đời sống linh mục của các anh
em bên triều. Tôi thấy trách nhiệm của họ nặng nề và đôi khi khá
căng thẳng, họ làm việc nhiều để có thể đáp ứng các nhu cầu của
người giáo dân, từ việc rửa tội, cho đến hôn phối, từ đám tang
cho đến đám cưới. Họ đảm nhận vai tṛ lănh đạo, cương vị chủ
chăn, người tư vấn, người trung gian, môi giới, làm ḥa, người
làm bia lănh đạn khi có chiến tranh bùng nổ giữa các nhóm với
nhau. Tóm lại, họ qủa thực là “làm dâu” trăm họ! Một vai tṛ khó
có thể chu toàn cách hoàn hảo, nhất là đôi khi gặp phải các bà
“mẹ chồng” khó nết, ưa nói hành nói tỏi, ưa chỉ trích và chê
bai, chứ ít khi biết nâng đỡ, khích lệ hoặc khen ngợi thực t́nh.
Bởi vậy, tôi cảm thấy rất chí lư điều mà cha
Michel Quoist đă viết mà tôi mạn phép được trích dẫn thêm một
lần nữa, dưới đây, để kết thúc bài viết.
“Người ta đ̣i hỏi rất nhiều ở người linh mục,
và có lẽ đúng như thế. Nhưng họ cũng nên hiểu rằng làm linh mục
không phải là chuyện dễ dàng. Người linh mục đă cho đi tất cả
thời thanh xuân của ḿnh, nhưng họ vẫn mang thân phận con người,
và v́ thế mỗi ngày “con người ấy” nơi vị linh mục, muốn t́m cách
lấy lại những ǵ mà ḿnh đă từ bỏ hoặc dâng hiến. Thật là một sự
chiến đấu và giằng co liên tục để có thể hoàn toàn phục vụ Thiên
Chúa và tha nhân.”
Copyright©2008 Trần Mạnh Hùng - Tác gỉa giữ
bản quyền.
Linh mục Trần Mạnh Hùng, C.Ss.R
L.J. Bioethics
Centre
39 Jugan
Street,
Glendalough, WA
6016
Email:
phtran-ljgbc@iinet.net.au