| |

Sứ Giả Faustina
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
soạn dọn cho chương tŕnh phát thanh Tin Mừng Sự Sống 451, Thứ Sáu
1/5/2009
Vào ngày 30/4 trong Đại Năm Thánh 2000, Chúa Nhật 2 Phục Sinh, ngày đă
được chính thức công nhận ngay hôm ấy là Ngày Kính Chúa T́nh Thương theo
phụng vụ của Giáo Hội, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, đă tôn phong hiển
thánh cho chị nữ tu Ḍng Chị Em Đức Mẹ T́nh Thương Maria Faustina người
Balan, vị sứ giả của Ḷng Thương Xót Chúa.
Phong
trào tôn sùng Ḷng Thương Xót Chúa từ Balan đă được bùng lên mạnh mẽ ở
khắp nơi trên thế giới, kể cả trong Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam hải
ngoại của chúng ta, đúng như ước
vọng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vào lần về thăm quê hương Balan
lần thứ 8 năm 2002 cũng là lần cuối cùng của ngài, để cung hiến tân đền
thờ Chúa T́nh Thương ở đây và phong 4 tân chân phước Balan, những vị
tông đồ của Ḷng Thương Xót Chúa.
Thật vậy,
trong bài giảng cho Lễ Cung Hiến tân đền thờ Chúa T́nh Thương hôm Thứ
Bảy 17/8, vị Giáo Hoàng Totus Tuus của Ḷng Thương Xót Chúa thân yêu của
chúng ta đă hết sức ước mong và kêu gọi như sau: “Hôm
nay đây, tại Đền Thánh này, tôi xin long trọng kư thác thế giới cho Ḷng
Thương Xót Chúa. Tôi làm như vậy với một ḷng thiết tha mong ước thấy sứ
điệp của t́nh yêu nhân hậu Thiên Chúa, được loan báo nơi đây qua Thánh
Faustina, cũng được tất cả mọi dân tộc trên thế giới biết đến và làm cho
ḷng họ tràn đầy niềm hy vọng. Chớ ǵ sứ điệp này, từ nơi đây, chiếu tỏa
ra cho quê hương thân yêu của chúng ta cũng cho khắp thế giới. Chớ ǵ
lời hứa quyết của Chúa Giêsu được nên trọn, ở chỗ, từ nơi đây phải chiếu
giăi ra ‘tia sáng sửa soạn thế giới cho lần đến cuối cùng của Cha’
(Nhật Kư, 1732).
Tia sáng này cần phải thắp lên bởi ân sủng của Thiên Chúa. Ngọn lửa t́nh
thương này cần phải được chuyền đi cho thế giới. Trong t́nh thương của
Thiên Chúa thế giới mới t́m thấy ḥa b́nh và nhân loại mới t́m thấy hạnh
phúc!”
Nhân dịp kỷ niệm người nũ Sứ Giả của Ḷng Thương Xót Cha được phong
thánh, chúng ta cùng nhau ôn lại tiểu sử của vị Sứ Giả của Ḷng Thương
Xót Chúa (LTXC) để có thể noi gương bắt chước chị trong việc loan truyền
LTXC như những Tông Đồ Chúa T́nh Thương trong một thế giới càng văn minh
con người càng bạo loạn, đến nỗi, như ĐTC Gioan Phaolô nhận định:
“Trong t́nh thương của Thiên Chúa thế giới mới t́m thấy ḥa b́nh và nhân
loại mới t́m thấy hạnh phúc!”
Với những ǵ được phổ biến
từ chính nguồn nhận định về chị như kết quả của tiến tŕnh phong thánh
của Giáo Hội, chúng ta cũng thấy được tổng quan tâm hồn và đời sống trọn
lành đáng noi gương bắt chước của chị cho chính chúng ta ngày nay, nếu
chúng ta muốn cùng chị làm Tông Đồ cho Ḷng Thương Xót Chúa.
Tiểu Sử về Chị Thánh Faustina
Nữ tu Mary Faustina, vị tông đồ của Ḷng Thương Xót Thần Linh, ngày nay
thuộc về nhóm của các vị thánh phổ thông nhất và nổi tiếng nhất trong
Giáo Hội.
Qua ngài, Chúa Giêsu đă thông truyền cho thế giới đại thông điệp về ḷng
thương xót của Thiên Chúa và mạc khải cho biết một kiểu mẫu trọn lành
Kitô giáo dựa vào ḷng tin tưởng nơi Thiên Chúa cũng như vào thái độ xót
thương đối với tha nhân.
Chị vào đời ngày 25/8/1905 ở Gogowiec Balan trong một gia đ́nh quê mùa
nghèo nàn và đạo hạnh. Chị là người con thứ ba trong 10 người con. Chị
được rửa tội và lấy tên Helena ở Nhà Thờ giáo xứ Đwinice Warckie. Ngay từ
thời c̣n thơ nhi, chị đă nổi bật về ḷng yêu chuộng nguyện cầu, làm việc,
tuân phục và cảm thương người nghèo khổ. Chị rước lễ lần đầu vào năm 9
tuổi, sống giây phút một cách rất thấm thía khi nhận thức được sự hiện
diện của Vị Khách Thần Linh trong linh hồn của chị. Chị đă đến trường 3
năm. Vào năm 16, chị đă rời nhà để đi làm việc với vai tṛ giữ nhà ở
Aleksandrów, odi và Ostrówek, để kiếm thêm phương tiện hầu hỗ trợ bản
thân và giúp đỡ cha mẹ của chị.
Vào năm 17 tuổi, chị đă cảm thấy những rung động đầu tiên của ơn gọi tu
tŕ. Sau khi học xong, chị muốn gia nhập một tu viện nữ, song cha mẹ của
chị không cho phép. Vào ngày 1/8/1925, trong một thị kiến thấy Chúa Kitô
Khổ Nạn, được Người kêu gọi, chị đă vào tu trong Ḍng Chị Em Đức Mẹ T́nh
Thương và lấy tên là Nữ Tu Mary Faustina. Chị đă ở trong ḍng này 13 năm
và sống ở một số nhà khác nhau. Chị đă sống ở Kraków, Pock và Vilnius,
những nơi chị đă làm việc như một người nấu bếp, một người làm vườn và một
người chuyên chở.
Theo bề ngoài, không có ǵ cho thấy chị có một đời sống nội tâm đầy thần
bí. Chị nhiệt thành thi hành các công việc của chị và trung thành giữ luật
lệ của đời sống tu tŕ. Chị sống trầm tĩnh, đồng thời lại rất thản nhiên,
vui tươi, đầy ḷng nhân ái và t́nh yêu vô tư đối với tha nhân. Mặc dù đời
sống của chị có vẻ tầm thường, đơn điệu và u tối, chị đă âm thầm kết hợp
hết sức mật thiết với Thiên Chúa.
Chính mầu nhiệm T́nh Thương Thiên Chúa, một mầu nhiệm chị đă chiêm ngắm
nơi lời Chúa cũng như nơi các hoạt động hằng ngày của đời chị, đă đặt nền
tảng cho linh đạo của chị. Tiến tŕnh chiêm niệm này cũng như việc t́m
hiểu mầu nhiệm t́nh thương của Thiên Chúa đă góp phần vào việc phát triển
nơi Nữ Tư Mary Faustina thái độ tin tưởng vào Thiên Chúa như một trẻ thơ
cùng với thái độ thương xót đối với tha nhân. «Ôi
Chúa Giêsu, mỗi một vị thánh của Chúa đều phản ảnh một trong những nhân
đức của Chúa; con muốn phản ảnh trái tim cảm thương trắc ẩn của Chúa, một
trái tim đầy t́nh xót thương; con muốn tôn vinh trái tim Chúa. Ôi Chúa
Giêsu, xin t́nh thương của Chúa ghi khắc vào ḷng con cũng như vào linh
hồn của con như một thứ niêm ấn, và đó là huy hiệu của con đời này và đời
sau”
(Nhật Kư, 1242). Nữ tu Faustina là một nữ tử trung thành của Giáo Hội, một
Giáo Hội chị đă mến yêu như một Người Mẹ và là một Nhiệm Thể của Chúa
Kitô. Ư thức được vai tṛ của ḿnh trong Giáo Hội, chị đă cộng tác với
t́nh thương của Thiên Chúa trong công việc cứu độ các linh hồn hư đi. Để
đáp ứng một lời yêu cầu đặc biệt cũng như để theo gương của Chúa Giêsu,
chị đă biến cuộc sống của chị thành của lễ hy sinh cho chính mục đích
này. Trong đời sống thiêng liêng của ḿnh, chị c̣n nổi bật về ḷng yêu mến
Thánh Thể và hết sức tôn sùng Mẹ T́nh Thương.
Những năm tháng chị sống trong tu viện chất chứa đầy những tặng ân phi
thường, như các mạc khải, các thị kiến, được in dấu thánh kín đáo, được
tham dự vào Cuộc Khổ Nạn của Chúa, được ơn một lúc ở hai nơi, được biết
những ǵ thầm kín trong linh hồn con người, được ơn nói tiên tri, hay ơn
đính hôn và thành hôn thần bí hiếm hoi. Mối liên hệ sống động với Thiên
Chúa, với Thánh Mẫu, với các Thiên Thần, vơiùi Các Thánh, với các linh hồn
trong Luyện Ngục, tức với tất cả thế giới siêu nhiên, trở nên thực hữu
như thế giới chị thấy được bằng con mắt giác quan của chị. Mặc dù được
trang bị bằng những ân huệ phi thường như thế, Nữ Tu Mary Faustina cũng
thừa biết rằng chúng thực sự không làm nên sự thánh thiện. Trong Nhật Kư
của ḿnh, chị đă viết: “Không
phải là các thứ ân huệ, các thứ mạc khải, các thứ ngất ngây, các thứ tặng
ân đổ xuống trên một linh hồn là những ǵ làm cho linh hồn này nên trọn
lành, mà là sự hiệp nhất thân mật của linh hồn với Thiên Chúa. Những tặng
ân này được gọi là những thứ trang sức của linh hồn, nhưng không làm nên
yếu tính của linh hồn hay sự trọn lành của linh hồn. Sự thánh thiện và
trọn lành của con là ở chỗ kết hiệp mật thiết ư muốn của con với ư muốn
của Thiên Chúa”
(1107).
Chúa Giêsu đă chọn Nữ Tu Mary Faustina làm Tông Đồ và làm “Thư Kư” của
T́nh Thương Người, để chị có thể nói cho thế giới biết về đại sứ điệp của
Người. Người nói với chị rằng: “Trong Cựu Ước, Cha đă sai các tiên
tri tuyên phán những lời sấm xét cho dân của Cha. Ngày nay Cha cũng đang
sai con mang t́nh thương của Cha đến cho con người trên khắp thế gian
này. Cha không muốn trừng phạt nhân loại đớn đau, song Cha muốn chữa
lành nó, gh́ lấy nó vào Trái Tim Nhân Hậu của Cha” (Nhật Kư
1588).
Sứ mạng của Nữ Tu Mary Faustina gồm có 3 công việc phải làm:
1.
Nhắc nhở thế giới những ǵ liên quan đến sự thật của đức tin
chúng ta được mạc khải trong Thánh Kinh về t́nh yêu nhân hậu của Thiên
Chúa đối với hết mọi người.
2.
Van nài t́nh thương Thiên Chúa cho toàn thế giới nhất là cho các
tội nhân, bằng việc thực hành những thể thức mới tôn sùng Ḷng Thương
Xót Chúa được Chúa Giêsu chỉ vẽ, như việc tôn kính tấm ảnh Ḷng Thương
Xót Chúa với hàng chữ: Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa, Lễ Chúa
T́nh Thương được cử hành vào Chúa Nhật Thứ Nhất sau Phục Sinh, lần chuỗi
Chúa T́nh Thương và cầu nguyện vào Giờ T́nh Thương (3 giờ chiều). Chúa
Giêsu đă hứa nhiều điều kèm theo những thể thức tôn sùng trên đây, miễn
là người ta kư thác cuộc đời của ḿnh cho Thiên Chúa và chủ động thực
hành t́nh yêu thương tha nhân.
3.
Công việc thứ ba nơi sứ mệnh của Nữ Tu Mary Faustina là ở chỗ
khởi xướng phong trào tông đồ cho Chúa T́nh Thương, bằng việc thực hiện
việc loan báo và khẩn nài t́nh thương của Chúa cho thế giới cũng như
bằng việc nỗ lực nên trọn lành Kitô giáo, theo những qui lệ được chị Nữ
Tu này phác họa. Những qui lệ này đ̣i tín hữu phải tỏ ra thái độ tin
tưởng vào Thiên Chúa như trẻ nhỏ, một thái độ được thể hiện nơi việc làm
trọn ư muốn của Ngài, cũng như nơi thái độ xót thương đối với tha nhân
của ḿnh. Ngày nay, phong trào này đă có cả hằng triệu triệu người trên
khắp thế giới; nó bao gồm cả các viện tu, các tổ chức giáo dân, các hiệp
hội, các cộng đồng khác nhau làm tông đồ cho Chúa T́nh Thương…
Sứ vụ của Nữ Tu Mary Faustina đă được ghi lại trong cuốn Nhật Kư của chị
là việc chị đă tuân giữ theo lời
yêu cầu đặc biệt của Chúa Giêsu cũng như của các cha giải tội của chị.
Nơi cuốn nhật kư này, chị đă trung thành ghi lại tất cả những ǵ Chúa
Giêsu mong muốn và diễn tả những lần hội ngộ giữa linh hồn chị và Chúa
Giêsu. Người đă nói với chị rằng: “Hỡi
Bí Thư của mầu nhiệm hết sức sâu xa của Cha, con hăy biết rằng công việc
của con là viết xuống hết mọi điều Cha tỏ cho con về t́nh thương của
Cha, cho lợi ích của những ai nhờ đọc được những điều ấy sẽ được an ủi
trong tâm hồn họ và được ḷng can đảm tiến đến với Cha”
(Nhật Kư 1693). Tác phẩm của Nữ Tu Mary Faustina đă chiếu sáng một cách
phi thường về mầu nhiệm của Chúa T́nh Thương. Nó mang lại hân hoan chẳng
những cho thành phần chất phác thất học, mà c̣n cho cả các học giả coi
nó như là một nguồn mạch thêm thắt cho công việc nghiên cứu thần học
luận lư. Cuốn Nhật Kư này đă được chuyển dịch sang nhiều thứ ngôn ngữ
khác nhau, trong đó có tiếng Anh, Đức, Ư, Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha,
Ả Rập, Nga, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc và Slovak.
Nữ Tu Mary Faustina, bị dày ṿ bởi chứng lao phổi cũng như bởi vô số khổ
đau chị đă chấp nhận như một của lễ hy sinh tự nguyện cầu cho các tội
nhân, đă qua đời tại Krakow lúc mới ở vào tuổi 33, hôm 5/10/1938, nổi
tiếng về đời sống nội tâm sâu xa và kết hợp nhiệm mầu với Thiên Chúa.
Tiến Tŕnh điều tra phong thánh cho chị được bắt đầu vào thời đoạn
1965-1967 ở Krakow, và Tiến Tŕnh Phong Chân Phước cho chị được bắt đầu
ở Rôma năm 1968 và chấm dứt vào năm 1992. Vào ngày 18/4/1993, ĐTC GPII
đă phong á thánh cho chị và cùng vị giáo hoàng này đă phong thánh cho
chị vào ngày 30/4/2000, vị thánh đầu tiên của thiên kỷ thứ ba.
Bài Giảng Lễ Phong Hiển Thánh cho Chân Phước Maria Faustina 30/4/2000
Để tiếp tục đi sâu hơn vào con người và đời sống của Vị Sứ Giả này của
Ḷng Thương Xót Chúa, chúng ta hăy ôn lại những ǵ Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II nói về chị trong bài giảng phong thánh cho chị sau đây.
1.
"Confitemini Domino quoniam bonus, quoniam in saeculum misericordia
eius"; “Hăy cảm tạ Chúa v́ Người thiện hảo; t́nh yêu của Ngài muôn đời
bền vững” (Ps 118:1).
Giáo Hội hát lên như thế trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, như thể Giáo Hội
lănh nhận trực tiếp từ môi miệng của Chúa Kitô những lời của bài Thánh
Vịnh này; từ môi miệng của Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng mang một sứ điệp cả
thể của ḷng thương xót Chúa và kư thác thừa tác vụ của sứ điệp này cho
các Tông Đồ ở trên Căn Thượng Lầu: “B́nh an cho các con. Như Cha đă sai
Thày thế nào Thày cũng sai các con như vậy… Các con hăy nhận lấy Thánh
Linh. Các con tha tội cho ai th́ tội người ấy được thứ tha; c̣n các con
cầm tội ai th́ tội lỗi của họ vẫn bị ràng buộc” (Jn 20:21-23).
Trước khi nói những lời này, Chúa Giêsu đă tỏ đôi bàn tay của Người và
cạnh sườn của Người ra. Tức là Người cho thấy những thương tích từ Cuộc
Khổ Nạn, nhất là vết thương nơi trái tim của Người, nguồn mạch tuôn tràn
triều sóng t́nh thương cao cả cho nhân loại. Từ trái tim ấy, Nữ Tu
Faustina Kowalska, vị chân phước giờ đây chúng ta sẽ gọi là thánh, thấy
được hai tia sáng chiếu tỏa và sáng soi thế giới: Chính Chúa Giêsu đă
giải thích cho chị biết vào một lần kia rằng: “Hai tia sáng này tiêu
biểu cho máu và nước”
(Diary, Libreria Editrice Vaticana, p. 132).
2. Máu và nước! Chúng ta liền nghĩ ngay tới chứng từ được
nhắc đến trong Phúc Âm Thánh Gioan, vị mà, khi người lính trên đồi Canvê
lấy giáo đâm vào cạnh sườn của Người, thấy máu và nước chảy ra từ đó
(cf. Jn 19:34). Ngoài ra, nếu máu nhắc nhở đến hy tế Thập Giá và tặng
ân Thánh Thể, th́ nước, theo tính chất biểu hiệu của Phúc Âm Thánh Gioan,
tiêu biểu chẳng những cho Phép Rửa mà c̣n cho tặng ân Thánh Linh nữa
(cf. Jn 3: 5; 4: 14; 7: 37-39).
Ḷng Thương Xót Chúa vươn tới con người qua trái tim của Chúa Kitô tử
giá:
“Hỡi con gái của Cha, con hăy nói đi Cha là t́nh yêu và là t́nh
thương hiện thân”,
Chúa Giêsu đă xin Nữ Tu Faustina như thế
(Diary, p. 374). Chúa Kitô tuôn
đổ t́nh thương này trên nhân loại qua việc sai Thần Linh là Ngôi Vị T́nh
Yêu trong Ba Ngôi. T́nh thương không phải là “tên gọi thứ hai” của t́nh
yêu hay sao (cf.
Dives in misericordia,
n. 7), nếu hiểu theo khía cạnh sâu xa
nhất của nó và tính chất dịu dàng nhất của nó, theo khả năng có thể chấp
nhận gánh nặng của bất cứ nhu cầu nào, nhất là theo khả năng bao la thứ
tha của nó?
Hôm nay, niềm hân hoan của tôi thực sự là lớn lao khi tŕnh bày về đời
sống và chứng từ của Nữ Tu Faustina Kowalska cho toàn thể
Giáo Hội như là một tặng ân của Thiên Chúa ban cho thời đại của
chúng ta. Theo sự Quan Pḥng thần linh, đời sống của người
con gái khiêm hạ này của Balan hoàn toàn gắn liền với lịch sử của thế kỷ
thứ 20, một thế kỷ chúng ta vừa trải qua. Thật vậy, chính vào khoảng
giữa hai Thế Chiến 1 và 2 mà Chúa Kitô đă kư thác sứ điệp t́nh thương
của Người cho chị. Những ai con nhớ, những ai chứng kiến thấy và những
ai tham dự vào các biến cố của những năm này cùng với những khổ đau
khiếp đảm chúng gây ra cho hằng triệu triệu con người mới thấy rơ là sứ
điệp t́nh thương này cần thiết biết bao.
Chúa Giêsu đă nói với Nữ Tu Faustina rằng:
“Nhân loại sẽ không t́m thấy ḥa b́nh cho đến khi nó tin tưởng quay về với
ḷng thương xót thần linh”
(Nhật Kư, trang 132). Nhờ việc làm của người tu sĩ Balan này, sứ
điệp ấy đă trở thành những ǵ liên hệ vĩnh viễn tới thế kỷ 20, một thế kỷ
cuối cùng của ngàn năm thứ hai và là chiếc cầu sang ngàn năm thứ ba. Đây
không phải là một sứ điệp mới mẻ nhưng có thể được coi như một tặng ân
được đặc biệt soi động để giúp chúng ta sống lại Phác Âm Phục Sinh một
cách thiết tha hơn nữa, để cống hiến nó như là một tia sáng cho con người
nam nữ của thời đại chúng ta.
3. Những năm tháng trước mắt sẽ mang lại cho chúng ta những
ǵ? Tương lai của con người trên trái đất này sẽ như thế nào? Chúng ta
không biết được. Tuy nhiên, một điều chắc chắn đó là, cùng với tiến bộ mới,
bất hạnh thay, sẽ không thiếu những cảm nghiệm thương đau. Thế nhưng,
ánh sáng của ḷng thương xót thần linh, một t́nh thương mà Chúa muốn trở
lại một cách nào đó với thế giới qua đặc sủng của Nữ Tu Faustina, sẽ soi
chiếu đường đi nước bước cho con người nam nữ của ngàn năm thứ ba.
Tuy nhiên, như các vị Tông Đồ đă thực hiện, ngày nay, cả nhân loại
nữa cũng phải đón nhận vào căn thượng lầu của lịch sử Chúa Kitô phục
sinh, Đấng tỏ cho thấy những vết thương Thập Giá của Người và lập lại
rằng: B́nh an cho các con! Nhân loại cần phải làm sao được Vị Thần Linh
xuất phát từ Chúa Kitô phục sinh va chạm và thấm nhiễm. Chính vị Thần
Linh này là Đấng chữa lành các thương tích của tâm can, dẹp bỏ những thứ
chướng ngại làm chúng ta ngăn cách với Thiên Chúa và chia rẽ chúng ta
với nhau, đồng thời, phục hồi cho chúng ta niềm vui của t́nh yêu Chúa
Cha và mối hiệp nhất huynh đệ.
4. Bởi vậy chúng ta cần phải chấp nhận toàn thể sứ điệp được gửi
tới chúng ta từ lời Chúa trong Ngày Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh này,
một ngày từ nay trở đi trong khắp Giáo Hội sẽ được gọi là “Chúa Nhật
Ḷng Thương Xót Chúa”. Trong các bài đọc khác nhau, phụng vụ dường
như cho thấy đường lối của t́nh thương, một đường lối mà trong khi tái
thiết lập mối liên hệ của mỗi một người với Thiên Chúa cũng kiến tạo những
liên hệ mới mẻ của t́nh đoàn kết huynh đệ giữa nhân loại nữa. Chúa Kitô
đă dạy chúng ta rằng “con người không chỉ lănh nhận và cảm nghiệm
t́nh thương của Thiên Chúa, mà c̣n được kêu gọi ‘để thực hành t́nh
thương’ với người khác nữa: ‘Phúc cho ai biết xót thương, v́ họ sẽ được
thương xót’ (Mt 5:7)” (Thông Điệp Giầu Ḷng Xót Thương –
Dives in misericordia, 14). Người cũng tỏ cho chúng ta biết
nhiều đường lối của t́nh thương, những đường lối chẳng những tha thứ tội
lỗi mà c̣n vươn tới tất cả mọi nhu cầu của nhân loại nữa. Chúa Giêsu đă
cúi ḿnh xuống trên hết mọi thứ bần cùng của con người, về cả vật chất lẫn
tinh thần.
Sứ điệp t́nh thương của Người tiếp tục vươn tới chúng ta qua bàn tay của
Người ôm lấy con người đau khổ.
Đó là cách thức Nữ Tu Faustina thấy Người và loan báo Người cho con
người ở tất cả mọi châu lục, khi mà, ẩn thân trong tu viện của ḿnh tại
£agiewniki ở Kraków, chị đă biến đời ḿnh
thành một bản thánh ca t́nh thương: Misericordias Domini in
aeternum cantabo - con sẽ muôn đời ca ngợi t́nh thương của Chúa
5. Việc phong hiển thánh cho Nữ Tu Faustina có một ư nghĩa
đặc biệt, ở chỗ, qua hành động này, hôm nay tôi có ư truyền đạt sứ điệp
này cho tân thiên kỷ. Tôi truyền đạt nó cho tất cả mọi dân tộc, để họ
học biết hơn nữa dung nhan chân thực của Thiên Chúa và gương mặt thực sự
của anh chị em ḿnh.
Thật vậy,
t́nh yêu của Thiên Chúa và t́nh yêu thương anh chị em của ḿnh là những
ǵ bất khả tách biệt, như Thư Một của Thánh Gioan đă nhắc nhở chúng ta:
“Đây là dấu để chúng ta biết rằng chúng ta yêu thương con cái của Thiên
Chúa, đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và tuân theo các huấn lệnh của
Ngài” (5:2). Ở đây, vị Tông Đồ này nhắc nhở chúng ta về sự thật của t́nh
yêu, cho chúng ta thấy tầm mức của nó cũng như các tiêu chuẩn của nó
trong việc tuân giữ các giới răn.
Không dễ ǵ yêu mến bằng một t́nh yêu sâu xa, một t́nh yêu được thể hiện
ở chỗ thực sự trao tặng bản thân ḿnh. T́nh yêu này chỉ có thể học biệt
bằng cách đi sâu vào mầu nhiệm của t́nh yêu Thiên Chúa. Nh́n Người, hiệp
nhất với ḷng của Cha, chúng ta có thể nh́n anh chị em chúng ta bằng
những con mắt mới mẻ, bằng một thái độ vô vị kỷ và đoàn kết, quảng đại
và thứ tha. Tất cả những điều ấy đều là t́nh thương!
Chúng ta
đă nghe trong bài đọc thứ nhất hôm nay việc có thể đạt được lư tưởng cho
đến độ nhân loại thấm nhập vào mầu nhiệm của ánh mắt nhân hậu này: “Cộng
đồng tín hữu đồng tâm nhất trí. Không ai trong họ đ̣i một cái ǵ cho
ḿnh; trái lại, hết mọi sự được giành làm của chung” (Acts 4:32). Ở đây,
t́nh thương đă cống hiến h́nh thức cho các mối liên hệ con người và đời
sống cộng đồng; nó tạo nên một nền tảng cho việc chia sẻ các phẩm vật.
Điều này đă dẫn tới “các hoạt động t́nh thương” về tinh thần cũng như
thể chất. Ở đây, t́nh thương đă trở thành một đường lối cụ thể của
việc là “tha nhân” đối với những người anh chị em thiếu thốn nhất của
ḿnh.
6. Nữ Tu Faustina Kowalska đă viết trong Nhật Kư của chị như
sau: “Tôi cảm thấy đớn đau kinh khủng
khi tôi thấy những đớn đau của anh chị em tôi. Tất cả mọi khổ đau của
anh chị em tôi đều dội lại nơi trái tim của tôi; tôi ôm ấp nỗi sầu
thương của họ trong trái tim tôi đến độ thậm chí nó hủy hoại tôi về thể
lư. Tôi muốn tất cả mọi nỗi sầu thương của họ đều đổ xuống trên tôi, để
nhẹ gánh cho anh chị em của tôi” (Nhật Kư, trang 365). Đó
là mức độ cảm thương được t́nh yêu dẫn tới, khi lấy t́nh yêu Thiên Chúa
làm mức đo lường của nó.
Chính
t́nh yêu này là những ǵ cần phải thúc đẩy con người ngày nay, nếu họ
muốn đương đầu với cuộc khủng hoảng về ư nghĩa cuộc đời, với những thách
đố về những nhu cầu đa dạng nhất, và nhất là với nhiệm vụ bênh vực phẩm
giá của hết mọi con người. Như thế, sứ điệp t́nh thương thần linh
này cũng bao hàm một sứ điệp về giá trị của hết mọi con người.
Mỗi một người đều quí báu trước nhan Thiên Chúa: Chúa Kitô đă hiến sự
sống của ḿnh cho từng người; Chúa Cha đă ban Thần Linh của Người và
cống hiến mối thân t́nh cho hết mọi người.
7. Sứ điệp an ủi này trước hết được ngỏ cùng những ai, bị
ảnh hưởng bởi một cuộc thử thách đặc biệt dữ dội hay bị dập vùi bởi gánh
nặng tội lỗi đă phạm, đă mất tất cả niềm tin tưởng trong đời sống và
đang có khuynh hướng thất vọng. Dung nhan hiền dịu của Chúa Kitô
được công hiến cho họ; những tia sáng từ trái tim của Người chạm tới họ
và soi sáng họ, làm họ cảm thấy ấm lại, tỏ cho họ thấy đường đi nước
bước và làm cho họ được tràn đầy hy vọng. Biết bao nhiêu là tâm hồn đă
được an ủi bởi lời nguyện cầu “Giêsu ơi, con tin tưởng nơi Chúa”,
một lời cầu được Đấng Quan Pḥng cho biết qua Nữ Tu Faustina!
Tác động đơn giản phó ḿnh này cho Chúa Giêsu đánh tan những mây
mù dầy đặc nhất và làm cho tia sáng xuyên qua mọi cuộc đời. Jezu, ufam
tobie.
8. Misericordias Domini in aeternum cantabo – con sẽ muôn đời
ca ngợi t́nh thương của Chúa (Ps 88 [89]: 2). Cả chúng ta nữa,
Giáo Hội lữ hành, hăy hợp tiếng cùng tiếng của Mẹ Maria rất thánh, “Mẹ
của T́nh Thương”, tiếng của vị tân thánh này đang hát ca t́nh thương với
tất cả những người bạn của Thiên Chúa trên Giêrusalem thiên đ́nh.
Hỡi Thánh Faustina, tặng ân Thiên Chúa ban cho thời đại của chúng tôi,
một tặng ân từ mảnh đất Balan cho toàn thể Giáo Hội,
xin cầu cho chúng tôi được nhận thức được vực thẳm của ḷng thương
xót thần linh; giúp chúng tôi có được một cảm nghiệm sống động về ḷng
thương xót thần linh này và làm chứng cho ḷng thương xót thần linh ấy
giữa những người anh chị em của chúng tôi. Chớ ǵ sứ điệp ánh
sáng và hy vọng của Chị được loan truyền khắp thế giới, thôi thúc các
tội nhân ăn năn cải thiện, trấn an những thứ tranh giành và thù hận, và
giúp cho các cá nhân cũng như chư quốc biết thực hành t́nh yêu thương
huynh đệ. Hôm nay, gắn mắt vào dung nhan của Chúa Kitô phục sinh, chúng
ta hăy lập lại lời nguyện tin tưởng phó ḿnh với một niềm hy vọng mạnh
mẽ rằng: Ôi Chúa Giêsu Kitô, con tin tưởng nơi Chúa! Jesu, ufam tobie!
.
Lạy Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh,
Chúa đă
sống lại từ trong kẻ chết để ban Thánh Linh sự sống cho chúng con,
chẳng
những qua thừa
tác vụ ḥa giải của chung Nhiệm Thể Chúa là Giáo Hội,
mà c̣n
qua những Tông Đồ của T́nh Thương Chúa là những vị thánh ở mọi thời đại,
nhất là
qua Chị Thánh Maria Faustina trong thế kỷ 20, sứ giả của Ḷng Thương Xót
Chúa.
Xin cho
chúng con luôn xác tín, bằng
tất cả tấm ḷng cậy trông phó thác, thưa lên cùng Chúa rằng:
“Giêsu ơi, con tin nơi Chúa”.
Amen.
|
|