|

THÁNH GIUSE
CHA CHÚA
GIÊSU
Tiểu luận về phụ tính của
Thánh Giuse
Joseph M. Phạm Châu Diên
Chí Hoà, 12.08.1990
Nội Dung
TỰ NGÔN: PHỤ TÍNH THÁNH GIUSE LÀ
VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG..
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VỀ PHỤ TÍNH
NƠI LOÀI NGƯỜI
CHƯƠNG II :HIỆN HỮU PHỤ TÍNH CỦA
THÁNH GIUSE.
CHƯƠNG III: BẢN CHẤT PHỤ TÍNH CỦA
THÁNH GIUSE.
THÁNH GIUSE
CHA CHÚA GIÊSU
Tiểu luận về
phụ tính của Thánh Giuse
TỰ NGÔN
PHỤ TÍNH THÁNH GIUSE LÀ VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG
Trong một tập chuyên luận
về Thánh Giuse, vấn đề đáng lưu tâm đặc biết là phụ tính của Ngài. Đó là
luận đề mấu chốt, chân lư làm nền, sợi chỉ vàng quán xuyến học thuyết về
Thánh Cả. Tất cả đều quy hướng về đó như về một trung tâm. Tất cả đề
phát ra từ đó như từ một đỉnh chóp.
Giống như chức làm Mẹ Thiên
Chúa trong Maria học thuyết, chức làm Cha Chúa Giêsu khiến cho Giuse học
thuyết trở nên quy nhất và linh hoạt. Trong kế hoạch Thiên Chúa, cuộc
hôn nhân Giuse-Maria nhằm mục đích dọn đường cho Đấng Cứu Thế sinh ra
cách êm thấm đàng hoàng.
Cũng như Đức Mẹ, Thánh
Giuse chỉ là một nhân vật tương đối, nghĩa là Ngài hiện hữu sinh
tồn v́ Đấng tuyệt đối, là Chúa Giêsu. Thiên Chúa đă bố trí cho
ông bà một sứ mạng cao cả bên cạnh Chúa Cứu Thế. Chính mối liên hệ ấy,
tuy theo mức độ thân mật khác nhau, đă là nguồn gốc sinh ra các đặc ân
cho hai Đấng.
Theo sau tiến sĩ Suarez,
nhiều thần học sĩ chủ trương rằng: các Thánh khác phục vụ Giáo hội, là
Huyền thể Đức Kitô, c̣n Thánh Giuse, cũng như Đức Mẹ, th́ phục vụ chính
bản thân Con Thiên Chúa. Bởi Thiên chức cao sang ấy, Thánh Giuse có một
phẩm cách vượt xa các Thánh nhân. Các Thánh chỉ là tôi tớ, c̣n Thánh
Giuse là Cha Chúa Giêsu.
Mặc dầu quan trọng dường
ấy, trải bao thế kỷ, phụ tính của Thánh Giuse vẫn chưa được đúng mức đề
cao. Trong các văn kiện phụng vụ cũng như Giáo huấn, Giáo hội cứ một mực
xưng Thánh Giuse là cha nuôi, cha như thức, cha Chúa Giêsu trước mặt
người ta, mà không xưng Ngài là cha Chúa Giêsu cách đơn thuần
như Phúc âm ghi chép. Có lẽ v́ sợ giáo hữu hiểu nhầm, v́ e đối phương
công kích về mầu nhiệm Nhập thể và sự đồng trinh vĩnh viễn của Mẹ Maria.
Có học giả cho rằng danh
xưng Cha Chúa Giêsu dùng trong Phúc âm chỉ là kiểu nói bóng, là
lối thậm xưng, dường như họ không thấy, theo Phúc âm, Thánh Giuse luôn
luôn yêu mến và hành động như một người cha tận tụy đối với Chúa Hài
đồng.
May thay, năm 1870, Đức Piô
IX dựa vào chức vụ Thánh Giuse làm Cha Chúa Giêsu trước mặt người ta,
mà tôn Ngài làm Đấng Bảo trợ Giáo hội toàn cầu. Từ đó tới nay, vấn đề
phụ tính Thánh Giuse được đào sâu khơi rộng.
Năm 1952, Linh mục F.Filias
cho xuất bản một công tŕnh thấu đáo về phụ tính Thánh Giuse, nhan đề
JOSEPH and JESUS, gồm 30 bài diễn văn đọc tại học hội Salamanca Yphanho,
mà các học giả thời nay cho là kiệt tác.
Tuy nhiên cũng phải nhận
rằng Phụ tính Thánh Giuse là một vấn đề tế nhị, c̣n nhiều điểm chưa rơ,
nhiều sự hiểu lầm, nên phải rất thận trọng trước những luận điều quá
đáng, những từ ngữ viển vông, để khỏi gây bỡ ngỡ trong hàng giáo hữu, mà
vẫn nói lên được sứ mạng cao cả của Ngài bên cạnh Chúa Hài đồng.
Thiên tiểu luận này có 3
chương:
Chương I – Khái niệm về
Phụ tính
Chương II – Hiện hữu Phụ
tính của Thánh Giuse.
Chương III – Bản chất
Phụ tính của Ngài.
CHƯƠNG I
KHÁI NIỆM VỀ PHỤ TÍNH NƠI LOÀI NGƯỜI
(Theo Thánh Thomas)
Trước khi bàn về phụ tính
của Thánh Giuse, tưởng cần có một khái niệm rơ ràng về phụ tính nơi loài
người nói chung, hầu hiểu đúng đắn về chức vụ Thánh Giuse bên cạnh Chúa
Hài Đồng, không thái quá cũng không bất cập.
Thực ra, Cha Mẹ là
hai danh từ đầu tiên đứa trẻ học biết và sử dụng, quen thuộc đến nỗi
không cần phải định nghĩa. Ngay từ tấm bé, ta đă nhận ra đó là hai người
sinh đẻ, thương yêu, nuôi nấng, dạy dỗ ta.
Thiên Chúa ngôi nhất sinh
ra Ngôi Lời bằng đường truyền sinh vĩnh cửu, nên danh xưng của
Ngôi Nhất là Cha, “do tự Ngài mà mọi phụ hệ trên trời dưới đất
được có tên”. (Ep 3,15).
Nơi nhân loại, cha là người
sinh ra con theo đường lối truyền sinh thể lư, bằng hành vi sinh
thực (Acte générateur).
Hành vi sinh thực nơi loài
người khác loài vật ở chỗ, loài vật chỉ hành động theo bản năng, c̣n
loài người hành động theo tư cách nhân linh, nghĩa là có kèm theo trí
thức và ư chí, ít là cách mặc nhiên, về sự sinh con và giáo dục con cái
sau này, chẳng những trên b́nh diện tự nhiên mà đối với tín hữu, c̣n
trên b́nh diện siêu nhiên nữa.
Hành vi sinh thực có mục
đích bảo tồn ṇi giống. Đó là bản năng tự tồn kéo dài với giống ṇi
trong xă hội và Giáo hội.
Tóm lại, phụ tính gồm hai
cơ sở:
1- Cơ sở thể lư:
tức hành vi sinh thực.
2- Cơ sở tinh thần:
tức sự biết và muốn sinh con, cùng nuôi dạy con nên người, ít nữa là
biết và muốn cách mặc nhiên.
Đành rằng cơ sở thể lư có
tính cách quyết định hơn cở sở tinh thần, nhưng phải có cả hai một trật
th́ người cha mới thực là cha trọn nghĩa. Tobia đă làm gương một người
cha hoàn hảo, khi ông cầu nguyện cùng Chúa: “Giờ đây, lạy Chúa, Chúa
biết rằng không phải v́ lư do sắc dục mà con cưới lấy cô em đây làm vợ,
song chỉ v́ mến yêu ḍng dơi những người biết ca tụng danh Chúa đến muôn
đời”. (Tb 8,9)
Phụ hệ làm phát sinh cho
người cha một chuỗi quyền lợi và nghĩa vụ đối với con. Theo luật tự
nhiên, sinh con chưa đủ, c̣n phải lo cho nó phát triển tới mức thành
toàn. Đă rơ, đứa trẻ không thể tự ḿnh đạt tới mức ấy, để rồi chu toàn
nghĩa vụ trong xă hội và Giáo hội được. Phần thể xác, trải bao năm
tháng, nó cần được săn sóc, dưỡng nuôi và che chở cho khỏi mọi thứ hiểm
nguy. Phần tinh thần, nó cần được giáo dục trí đức về cả hai mặt đạo
đời.
Trách nhiệm ấy thuộc về ai,
nếu không phải về những người đă sinh ra nó? Đây không phải là việc từ
thiện, muốn làm hay không cũng được; nhưng là bổn phận buộc nhặt phải
làm theo luật tự nhiên. V́ nghĩa vụ nặng nề ấy, luật tự nhiên buộc cha
mẹ phải sống trong bậc hôn nhân, để giúp đỡ nhau và cùng nhau dưỡng dục
con cái nên người. Nên những kẻ sinh con ngoại hôn, hoặc đa thê, đa phu
làm sao chu toàn nghĩa vụ ấy được?
Và phải có sự hợp tác của
cả cha lẫn mẹ th́ việc giáo dục con cái mới quân b́nh: tâm và t́nh phải
nhờ ở mẹ, lư và chí là cậy ở cha.
Công ơn cha mẹ quy về ba
mục: Sinh - Dưỡng - Dục.
Sinh
có lẽ là ít công phu hơn cả.
Dưỡng
đ̣i nhiều thời gian, công sức hơn, như lời rằng: Công sinh không tày
công dưỡng.
Dục
càng nhiều lao tâm khổ tứ
hơn nữa. Nó định giá trị cho việc sinh con:
Sinh con chẳng dạy chẳng răn
Thà rằng nuôi lợn cho ăn
lấy ḷng.
Để làm tṛn phận sự, người
cha được tạo hoá ban cho phụ quyền. Gọi là quyền, chứ thực
ra đó là nghĩa vụ. Cha nuôi dạy con v́ lợi ích của con,
khác với chủ nuôi đầy tớ v́ lợi ích của chủ.
T́nh yêu
là động cơ mạnh mẽ luôn luôn thúc đẩy người cha hành động. V́ yêu mà
sinh con, v́ yêu mà nuôi con. Cũng v́ yêu mà dạy con. Con cái là như
phần ḿnh của cha mẹ (aliquid parentum), là đời sống cha mẹ nối dài,
nên yêu con cũng là yêu ḿnh vậy.
Con cái là sản phẩm của cha
mẹ, hỏi có nghệ sĩ nào không ưa thích tác phẩm của ḿnh?.
Mối t́nh cha mẹ thương con sâu sắc, tự nhiên đến nỗi, trong Thập Giới,
Thiên Chúa không cần đến truyền cha mẹ phải yêu con, cũng như không cần
truyền người ta phải yêu bản thân vậy.
Cũng như t́nh mẹ, t́nh cha
thương con được phát lộ qua 3 đức tố: Hảo ư, Thiện lành, Đồng tâm.
1) Hảo ư là cảm
t́nh bề trong làm khởi động ư muốn sinh con, và lo liệu mọi sự cho con.
2) Thiện lành
là hành động bên ngoài để thực hiện hảo ư nói trên, tức là dưỡng nuôi
săn sóc, dạy dỗ con cái nên người. Cha mẹ tốt không coi con như
của tội, của nợ, nhưng là nguồn phúc, nguồn vui, có sức gây
nên những hành động quảng đại, có khi anh hùng nữa. “V́ t́nh yêu
không thể bất động, nhưng làm nên những việc lạ lùng” (Thánh
Grêgôriô).
3) Đồng tâm:
Cha xử với con như với chính ḿnh (Amatus in amante), coi lợi ích của
con cũng như của ḿnh vậy (Amans in amato). Cái vui của con cũng là cái
vui của bố. Cái buồn của bố cũng là cái buồn của con. Hai cha con đều
quy về một hướng là hạnh phúc của con. Hơn nữa, đối với tín hữu, người
cha là h́nh ảnh sống động, là đại diện hữu h́nh của Thiên Chúa: cha yêu
con v́ Chúa, cha hướng con về hạnh phúc trường sinh, mà cha con sẽ cùng
nhau tận hưởng muôn đời.
Những ư niệm trên đây, lẽ
tất nhiên không áp dụng cho Thánh Giuse theo nghĩa đen từng tiếng. Sở dĩ
chúng tôi tŕnh bày chi tiết như thế, là để đả phá cái xu hướng cho rằng
phụ tính chỉ do hành vi sinh thực tạo nên, mà bỏ qua phần phong phú
nhất, cao khiết nhất của phụ tính đích danh. Có thể đây cũng là một điểm
đối chiếu, giúp ta hiểu rơ hơn về vai tṛ Thánh Cả bên cạnh Chúa Hài
đồng.
Là một quan hệ, phụ tính
gồm 3 yếu tố: Chủ thể, Khách thể và Cơ sở liên hệ.
I. Chủ thể: người cha.
II. Khách thể: người con.
III. Cơ sở:
* Chuyển thành:
a) Yếu tố thể lư:
hành vi sinh thực của người cha.
b) Yếu tố tinh thần:
Sự biết và muốn
(ít là cách mặc nhiên) về mục đích việc truyền sinh.
* Dĩ thành:
a) Yếu tố thể lư và hệ
quả: sự biến đổi
tồn tại nơi người cha, tạo nên bởi hành vi truyền sinh, kèm theo t́nh
phụ tử tự phát và nghĩa vụ nuôi dạy con.
b) Yếu tố tinh thần và
hệ quả: sự quyết
tâm của người cha, tạo nên do hành vi thương mến đầu tiên, kèm theo sự
hảo ư, thiện hành và đồng tâm đối với con.
Giai đoạn chuyển thành: In
fieri
Giai đoạn dĩ thành: In
facto esse
CHƯƠNG II
HIỆN HỮU PHỤ TÍNH CỦA THÁNH GIUSE
Thánh Giuse làm Cha Chúa
Giêsu là điều hiện hữu, là điều có thực. Phúc âm tặng Ngài danh hiệu Cha
Chúa Giêsu, đồng thời thuật lại cách thức Ngài thi hành chức vụ ấy.
Chương này gồm 2 điều:
1. Thánh Giuse với danh
hiệu Cha Chúa Giêsu.
2. Thánh Giuse thi hành
chức vụ Cha Chúa Giêsu.
ĐIỀU MỘT
THÁNH GIUSE VỚI DANH HIỆU CHA CHÚA GIÊSU
Đọc Phúc âm Luca, ta gặp
nhiều câu gọi Thánh Giuse là Cha Chúa Giêsu. Sau bài ca của cụ già
Simeon, Thánh kư viết: “Cha Ngài và Mẹ Ngài ngạc nhiên về các điều
nói về Ngài” (Lc 2,33). Lúc t́m thấy Chúa con trong đền thánh, Đức
Mẹ nói với Ngài: “này Cha Con và Mẹ phải đau khổ t́m Con” (Lc
2,48).
Có người cho rằng Chúa
Giêsu đă phủ nhận phụ tính của Thánh Giuse khi Ngài nói: “Nào không
biết con phải ở nhà Cha con sao?” (Lc 2,49). Thánh sử Augutinh trả
lời: “Chúa Giêsu không muốn cho người ta tưởng rằng Ngài là con Đức
Mẹ và Thánh Giuse th́ không c̣n là con Thiên Chúa nữa. Ngài khẳng định
Thiên Chúa là Cha Ngài, nhưng không phủ nhận Thánh Giuse cũng là Cha
Ngài”.
Ngoài ra, c̣n nhiều nơi
khác, Luca gọi chung hai Đấng là cha mẹ, là song thân Chúa
Giêsu (Lc 2, 27.41.43). Như vậy Đức Mẹ và Thánh Luca đă gọi Giuse là Cha
Chúa Giêsu. Chắc đó không phải là một kiểu nói hữu danh vô thực.
Phúc âm c̣n hiến một bằng
chứng gián tiếp, yếu hơn, đó là dư luận người Do Thái đương thời coi
Chúa Giêsu là con của Giuse. Philip gặp Nathanael th́ bảo: “Chúng tôi
đă gặp Đấng mà Môisen trong lề luật và các Tiên tri chép đến, đó là Đức
Giêsu, con Giuse thành Naxaret” (Gn 1,45). Thấy công việc kỳ lạ Chúa
làm, dân chúng hỏi nhau: “bởi đâu ông này được khôn ngoan, làm các việc
quyền năng ấy? Ông không phải là con bác thợ mộc ư?” (Mt 1,54-55). Hoặc
rơ hơn: “Nào ông ấy không phải là con Giuse sao?” (Lc 4,22. Gn
6,42)
Như vậy theo Thánh Kinh,
mọi người đều công nhận phụ tính của Thánh Giuse đối với Chúa Giêsu.
Người Do Thái th́ hiểu phụ tính ấy theo huyết nhục. C̣n Đức Mẹ và Thánh
Luca biết rơ sự đầu thai kỳ diệu của Chúa Giêsu, th́ hiểu phụ tính ấy
cách cao khiết hơn.
Trong kinh phụng vụ lễ
Thánh Giuse Giáo hội ca ngợi rằng: “Đấng Sáng tạo càn khôn định cho
Người làm Phu quân Trinh nữ - Và muốn cho Người được gọi là Cha của Ngôi
Lời”.
Các Đức Giáo Tông Piô IX là
Lêô XIII, trong văn kiện tôn Thánh Cả làm bổn mạng Giáo hội toàn cầu,
cũng xưng Ngài là “Cha Chúa Giêsu trước mặt người ta”.
Vậy Thánh Thần Chúa đă dùng
danh hiệu Cha mà gọi Giuse để diễn tả sứ mạng cao siêu của Ngài bên cạnh
Chúa Cứu Thế, th́ không lẽ ǵ ta c̣n phải ngần ngại dùng danh hiệu ấy,
mặc dầu ở đây nó đ̣i hỏi một sự giải thích khá tinh vi.
ĐIỀU HAI
THÁNH GIUSE
THI HÀNH CHỨC VỤ CHA CHÚA GIÊSU
Cứ sự thường, có danh
phải có thực, đâu có phải chỉ là hư cấu. Danh hiệu dành cho
Thánh Giuse là một thực tại. Điều ấy, Thánh Augutinh cùng nhiều học sĩ
đă chủ trương và c̣n lưu truyền cho tới ngày nay.
Có nhiều chứng cứ bênh vực
ư kiến ấy. Chúng tôi dành nội diện vấn đề cho chương III, luận về bản
chất phụ tính của Thánh Giuse. Ở đây, chúng tôi bàn về ngoại diện vấn
đề, tức là những công việc, với tư cách là Cha, Thánh Cả đă làm cho Chúa
Hài đồng, như Phúc âm c̣n ghi chép, bấy nhiêu tưởng cũng đủ để xác định
phụ tính của Thánh Giuse là điều hiện thực có căn cứ vững vàng.
Đọc Phúc âm Mattheo, chương
I, ta thấy Thánh Giuse, mặc dầu biết “thai nơi Trinh Nữ là do tự
Thánh Thần”, mà cứ làm lễ thành hôn “rước Bà về sum họp”. Như
thế, chẳng phải là Ngài đă vâng lệnh Thiên Chúa, lănh lấy trách nhiệm
làm Cha Hài Nhi đó sao? Chẳng phải Ngài đă lấy cuộc hôn nhân mà bảo toàn
danh dự cho Ấu Chúa, như bất cứ người cha chính thức nào khác đối với
con ḿnh sao? Nếu không có Thánh Giuse, người ta sẽ chẳng coi Ấu Chúa là
con ngoại hôn ư?
Theo lời thánh Bernadino
Sienna: “Nào Thánh Giuse chẳng phải là người được tuyển chọn đặc
biệt, để nhờ Ngài và dưới danh nghĩa Ngài, mà Đức Kitô được sinh vào thế
gian cách đàng hoàng, đoan chính đó sao?
Vai tṛ Thánh Giuse được
nhà hùng biện Bossuet tŕnh bày tuyệt bút như sau: “Trong Thánh Kinh,
tôi nhận thấy có 2 Thiên chức tương phản: đó là Thiên chức các tông đồ
và Thiên chức Thánh Giuse. Chúa Giêsu được mặc khải cho các Tông đồ cũng
như cho Thánh Cả, nhưng với điều kiện ngược nhau. Các Tông đồ th́ để rao
giảng Ngài cho thế gian; c̣n Thánh Cả th́ để che giấu Ngài trong thinh
lặng. Các Tông đồ là đèn sáng, soi cho thế gian nh́n nhận Chúa; c̣n
Thánh Cả là bức màn lớn để che khuất Ngài đi. Nhưng đằng sau bức màn bí
mật ấy, có ẩn tàng Đức Đồng Trinh của Mẹ Maria và sự cao sang tuyệt vời
của Chúa Cứu Thế”.
Việc đầu tiên Giuse thi
hành phục quyền là đặt tên cho Chúa. Theo phong tục Do Thái, đặt tên cho
con là quyền của người cha. Chính Thiên Thần đă bảo: “Ông sẽ đặt tên
Con trẻ là Giêsu” (Mt 1,25). Đành rằng Thiên thần cũng đă tŕnh Đức
Mẹ điều ấy, lúc mầu nhiệm Nhập thể chưa được thông báo cho Thánh Giuse
(Lc 1,31). Nhưng sau khi Thánh Cả được thông tri th́ có lư mà luận rằng
Đức Mẹ đă nhường quyền đặt tên Ấu Chúa cho Thánh nhân, y theo phong tục
Do Thái.
Đồng thời, với tư cách là
cha pháp định, Thánh Giuse đă lưu truyền danh hiệu “Con vua Đavit”
cho Đức Kitô hầu thiên hạ nhận ra ngài là Đấng Cứu Thế. V́ có lời tiên
tri rằng Đấng Thiên sai sẽ sinh ra từ vọng tộc ấy (2 Sm 7,12 – Tv 89,4)
Sau ngày đản sinh, ai che
chở, dưỡng nuôi Ấu Chúa, nếu không phải là Thánh Gia trưởng cùng với Mẹ
Maria? Khi Herode lùng giết Hài nhi, chính Thánh nhân đă đem Ngài chạy
chốn qua Ai Cập. Giuse đă làm phận sự người cha cách cao đẹp dường nào!
Hồng y Phêrô Ailly suy
luận: “Lạ lùng thay, Đấng nâng đỡ che chở vạn vật lại được Giuse chở
che, nâng đỡ! Kỳ diệu thay Đấng làm cho kẻ đói khát no nê, rày để cho
Giuse dưỡng nuôi bằng lao động! Đấng sung măn trên trời, Đấng xưng ḿnh
là Bánh hằng sống, rày xuống thế, phải nhờ lao lực của Giuse mới có bánh
mà ăn!”
Nhiều học giả, có lẽ cảm
hứng theo Isodoro Isolanis, đă áp dụng cho Thánh Giuse, theo nghĩa đen,
lời Đức Kitô sẽ nói trong ngày thẩm phán: “Hỡi người mà Cha ta chúc
phúc, hăy lănh lấy cơ nghiệp Nước trời. V́ Ta đói người đă cho Ta ăn, Ta
khát ngươi đă cho uống, Ta trần ḿnh ngươi đă cho mặc…” (Mt 25,
34-35)
Phụ quyền của Thánh Giuse
hằng được Chúa Giêsu công nhận suốt cuộc đời ẩn dật, v́ “Ngài hằng
tuân phục Đức Mẹ và Thánh Giuse”. Thánh Bernado kêu lên: “Ai vâng
phục ai? Thiên Chúa vâng phục loài người! Thiên Chúa mà Thiên Chúa vâng
phục, rày vâng phục bà Maria lại cả ông Giuse v́ bà Maria nữa. Hăy
ngưỡng mộ sự hạ cố của Con, và sự cao sang của Mẹ, (của Cha), xem đàng
nào hơn đàng nào? Thực ra cả hai đàng đều kỳ diệu, khiến ta phải kinh
ngạc.”
Nói đúng ra, Thánh Giuse
cũng như Đức Mẹ, không có quyền sít sao truyền khiến Chúa Kitô v́ dầu
với tư cách loài người, Ngài vẫn là chủ tể vạn vật. Nhưng Ngài tự nguyện
phục tùng cha mẹ - như sau này Ngài phục tùng các lư h́nh - để làm trọn
thần ư Chúa Cha, và lưu lại cho ta một gương khiêm nhường hiếu thảo.
Phần Thánh Giuse cũng như
Đức Mẹ, đă sử dụng quyền ḿnh cách khiêm nhường cung kính như để tuân
theo thần ư Cha Cả trên trời. Cứ xem thái độ ở lặng mà cung kính
của Ngài khi t́m thấy Chúa Con th́ đủ rơ.
Cùng với Đức Mẹ, Thánh
Giuse đă lo việc trí dục, đức dục và huấn nghệ cho con.
Về trí dục, linh hồn Đức
Kitô có ba thứ tri thức:
1) Tri thức thanh nhàn
(Scientia
beata): Ngài biết mọi sự như Ngôi Lời biết trong bản tính Thiên Chúa.
2) Tri thức thiên phú
(Scientia
Infusa): Ngài biết những điều Thiên Chúa phú vào linh hồn Ngài, như một
số Thánh nhân đă được.
3) Tri thức thực nghiệm
(Scientia experimentalis): Ngài biết những điều do giác quan thu nhận và
lư trí suy tư.
Hai tri thức trên là thường
tại đối với Ngài, chỉ có tri thức thực nghiệm mới là đối tượng của giáo
dục, v́ nó có thể tăng tiến như lời Phúc âm c̣n ghi: “Chúa Giêsu tiến
tới về khôn ngoan, vóc dáng và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và trước mặt
người ta” (Lc 2,52). Qua các dụ ngôn, ta thấy Ngài có óc quan sát
sâu sắc về thiên nhiên và nhân thế dường nào!
Chính trong khung cảnh gia
đinh, Ngài đă học ăn, học nói, học xử sự, học Thánh kinh, học cầu nguyện
cùng cách thế giữ đạo Giavê. Chính nhờ gương sáng và lời khuyên của cha
mẹ, mà Ngài đă tập các nhân đức tuyệt vời, như lời Phaolô viết: “Ngài
phải đau khổ dữ dằn mà học cho biết vâng phục” (Hr 5,8)
Khi Chúa lớn khôn, Thánh
Giuse đă tập và truyền nghề thợ mộc cho Ngài. “Chẳng có thầy nào tài hơn
Thánh Cả. Chẳng có tṛ nào giỏi vượt Chúa Con” (Buzy).
Qua các dẫn cứ Thánh kinh
trên đây, ta thấy Thánh Giuse luôn hành động theo tư cách người cha đối
với Chúa Giêsu, ngày đêm hết ḷng phục vụ.
Tuy nhiên, đó mới là những
hành động bên ngoài. Phúc âm c̣n tiếp tục đưa ta vào kho tàng nội tâm vô
cùng phong phú, để chiêm ngưỡng mối t́nh của Cha Thánh thương con đến
quên ḿnh, bất từ gian khổ.
Tích lạc mất Chúa Con mở ra
một cơ hội để ta thấy được tâm tư sâu kín, dào dạt t́nh thương của Giuse
đối với Chúa Con. Chính lúc gian nan khốn khó mới bộc lộ tấm ḷng phụ tử
đầy hy sinh, tận tuỵ của Ngài (Lc 2, 41-50)
Giám mục Bossuet suy luận:
“Thế nào? Hỡi Giuse trung tín! Của báu Cha trên trời trao phó cho
Người đâu mất rồi? Ôi, ai hiểu được những than văn của Người? Nếu ta
chưa tin ở t́nh phụ tử của Người, th́ hăy xem những ḍng lệ, những quặn
đau để biết Người thật là bố. Thực là chí lư, khi Đức Mẹ nói: “này cha
con và mẹ đă đau khổ t́m con! …Con ơi, mẹ không ngần ngại gọi Người là
cha con. Mẹ không có ư làm tổn thương sự đản sinh khiết bạch của con. Mẹ
chỉ có ư nói đến sự ân cần, nỗi lo lắng của Người đối với con. V́ thế,
mẹ dám gọi Người là cha con. Mẹ đă liên kết Người vào khổ đau của mẹ.”
Thánh Bernadino Sienna kết
luận: “Đây là chỗ duy nhất trong Phúc âm Đức Mẹ gọi Thánh Giuse là
Cha Chúa Giêsu; v́ sự đau khổ Người chịu khi Con lạc mất, là dấu chỉ
hiển nhiên về t́nh phụ tử của Người.”
Trên đây mới là một trong
bảy mối buồn của Thánh Giuse, mà chúng ta tưởng không cần tŕnh bày hết
cả. Ngài đă thông hiệp mọi đau khổ đời sống ẩn dật Chúa Giêsu, mà Ngài
coi như là đau khổ của chính ḿnh.
Bên cạnh bảy mối sầu cũng
có bảy niềm vui. Biết bao lần ḷng Thánh Cả chẳng lâng lâng, khi chiêm
ngưỡng Hài nhi mũm mĩm trắng hồng, nằm trên mớ cỏ xanh? Khi bồng Hài nhi
ấp trên ḷng ngực hoặc dắt đi lẫm chẫm bên ḿnh? C̣n cái vui nào hơn cái
vui thấy Hài nhi, theo ḍng năm tháng “cứ tiến tới về khôn ngoan, vóc
dáng và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta?” (Lc
2,52)
Nhân chi thậm ái giả tử.
Điều ấy càng đúng với Thánh Giuse biết bao! V́ Ngài yêu Con cũng là mến
Chúa một trật. Nhờ lời báo mộng của Thiên thần, và có thể nhờ lời kể lại
của Trinh nữ về sự tích Truyền tin, Thánh Giuse đă biết và tin vững vàng
mầu nhiệm Nhập thể. Mỗi khi thấy Chúa Hài đồng, Ngài hẳn đă nói:
“Đây là Ngôi Lời hoá
thành nhục thể, và trú ngụ trong nhà chúng tôi. Và chúng tôi được ngắm
vinh quang Người tràn đầy ân sủng và chân lư.” (Gn 1, 14)
Cùng với đức Tin, Thánh
Giuse đă được phú ban đức Mến đặc biệt dồi dào, chỉ kém Đức Mẹ mà thôi,
để Ngài chu toàn sứ mạng tuyệt vời bên cạnh Ấu Chúa.
Lạ lùng thay, thắm thiết
thay, mối t́nh Thánh Cả dành cho Ấu Chúa. Đó là mối t́nh của cha hiền
dành cho người con duy nhất, đẹp đẽ, khôn ngoan. Đó cũng là mối t́nh con
thảo dâng lên Chúa Cả cao sang, toàn năng, nhân hậu. Yêu Con cũng là mến
Chúa. Mến Chúa cũng là yêu Con. Thiên nhiên và ân sủng đă phối hiệp kỳ
diệu nơi t́nh yêu ấy!
“Phúc thay người Cha có
thể yêu Con tối đa mà không sợ bao giờ thái quá! Người có thể ban mọi sự
cho Con mà không bớt đi phần nào của Thiên Chúa. Ôi! Cha có phước! Người
không phải giảm bớt sự nồng nhiệt t́nh yêu như các cha mẹ khác. Người
không phải sợ lời Chúa ngăm đe: kẻ nào yêu con hơn Ta ắt chẳng xứng với
Ta” (Mt 10,37) (Billuart)
Đến đây tưởng đă có thể kết
luận: Phúc âm tŕnh bày Thánh Giuse là Cha Chúa Giêsu, với đầy đủ danh
hiệu, hành động và tâm t́nh của một Người Cha đích thực, tuy phụ tính
của Ngài có một bản chất độc nhất vô nhị, như sẽ tŕnh bày ở Chương sau.
Sau khi chứng minh Phụ
tính của Thánh Giuse là hiện thực, ta muốn biết Ngài làm Cha Chúa Giêsu
cách nào.
Ngài có phải là Cha Chúa
Giêsu theo nghĩa đen, nghĩa hẹp không? Chắc là không. Theo nghĩa đen,
Cha hay Bố là người sinh ra con theo đường truyền sinh thể lư
(Thánh Thomas).
Thánh Giuse không góp phần
thể lư vào việc sinh hạ Chúa Giêsu, lẽ tất nhiên không hiểu phụ tính của
Ngài theo nghĩa đen được. Vậy phải hiếu theo nghĩa rộng, nghĩa tinh
thần, do cuộc hôn nhân của Ngài với Mẹ Maria.
Chương này gồm ba điều:
Điều I: Phụ tính do hôn
quyền.
Điều II: Phụ tính do thủ
trinh.
Điều III: Mấy danh hiệu
diễn tả phụ tính của Thánh Giuse.
ĐIỀU MỘT
PHỤ TÍNH DO
HÔN QUYỀN
Mattheo kết thúc gia hệ Đức
Kitô bằng câu: “Giacob sinh Giuse, hôn phu của Maria, người đă sinh
ra Đức Giêsu gọi là Kitô” (Mt 1,16). C̣n Luca th́ chép việc thần sứ
Gabriel được Thiên Chúa phái đến với một Trinh nữ, đă đính hôn
với một người tên là Giuse thuộc nhà Đavit (Lc 1,27)
Đó là hai chỗ Phúc âm đề
cập trước hết tới việc Đức Kitô đầu thai sinh hạ. Và ta thấy Thánh Giuse
được giới thiệu là vị hôn phu của Trinh Nữ Maria. Đem đối chiếu 2
đoạn văn này, nhiều Giáo phụ nhận ra đó là một chỉ dẫn của Thánh Linh,
giúp ta xác định được mối liên hệ giữa Thánh Giuse và Ngôi Lời Nhập thể,
xuyên qua cuộc hôn nhân của Thánh Cả với Đức Mẹ.
Thánh Augutinh có lẽ là
Đấng đầu tiên liên kết chặt chẽ Phụ quyền Thánh Giuse với cuộc hôn nhân
kỳ diệu ấy khi ngài viết: “Do cuộc hôn nhân tín nghĩa, hai Đấng đáng
được gọi là song thân Đức Kitô; chẳng những bà Maria được gọi là Mẹ, mà
cả ông Giuse cũng được gọi là Cha Chúa Giêsu, bởi tư cách là chồng của
mẹ Ngài; nhưng là người chồng, người cha trong tinh thần, không phải
theo thể xác”.
Thánh Thomas Aquino cũng
đồng quan điểm: “Thánh Giuse được làm Cha Chúa Giêsu, v́ Ngài đă nuôi
dưỡng Hài nhi và là phu quân Đức Mẹ”. Như thế, Thánh Giuse thực là
Cha Chúa Giêsu, bởi Ngài thực là Bạn trăm năm Đức Mẹ.
Dần dà, các thần học sĩ đưa
ra hai cách biện giải: một cách dựa vào pháp lư, một cách dựa vào thần
học.
1) Biện giải dựa vào pháp
lư
Theo luật Thiên Chúa: “Người
đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mà khắn khít với vợ ḿnh, cả hai sẽ nên một thân
xác” (Mt 19,5). V́ thế, thân xác Mẹ Maria là thân xác Thánh Giuse.
Nên con Đức Mẹ cũng là con Thánh Cả theo hôn nhân quyền, mặc dầu Ngài
không có góp phần thể lư.
Tiến sĩ Barthelemu de Pise
viết: “Đă hẳn Chúa Giêsu không phải là con ông (Giuse), mà lại là con
ông. V́ có cuộc trao thân đổi phận, Đức Maria thuộc về ông, nên Ấu Chúa
cũng thuộc về ông”.
Theo luật pháp Roma, hoa
màu mọc hoặc trồng trên đất ai là của người ấy. Hài nhi Giêsu là hạt
giống thiên thượng Chúa Thánh Thần gieo vào ḷng trinh nguyên Đức Nữ
Maria, là vườn niêm phong thuộc về Thánh Cả. Nên Ấu Chúa là con của Ngài
vậy.
Lư luận trên đây được Thánh
Phanxicô Salê mặc cho một h́nh thức thi vị đậm đà, khiến càng thêm phổ
biến. Ngài viết: “Giả sử có con chim bồ câu ngậm hạt chà là, để rơi
xuống một mảnh vườn. Khi cây chà là mọc lên th́ ta bảo nó thuộc về ai,
nếu không phải thuộc về chủ đất? Cũng thế, khi Chúa Thánh Thần gieo hạt
giống thiên thượng vào ḷng Trinh nữ Maria, là vườn của Thánh Giuse, th́
cây lạ lùng kia thuộc về Giuse vinh hiển, nào ai hồ nghi được?”
2) Biện giải dựa vào thần
học
Nhờ suy tư thần học, nghiên
cứu Thánh kinh, các Giáo phụ nhận ra rằng Thiên Chúa muốn bày tỏ mầu
nhiệm Nhập thể và sự đầu thai trinh bạch của Chúa Giêsu ra lần lần mà
thôi. Nên trong thời thơ ấu, ngài sinh trưởng b́nh thường như các thiếu
nhi khác, không làm phép lạ nào.
Hơn nữa, Thiên Chúa không
muốn để đức Giêsu bị coi là con ngoại hôn, hoặc con hợp thức hoá do hôn
nhân hậu tiếp của cha mẹ. Bởi vậy, người Do Thái không hề nghi hoặc về
sự đản sinh đoan chính của Ngài.
Để đạt hai ư định nói trên,
Thiên Chúa trong kế hoạch kỳ diệu đă muốn sử dụng cuộc hôn nhân Giuse –
Maria làm bức màn che phủ. Ngài đă sắp đặt để cho cuộc kỳ duyên ấy tiếp
nhận và dưỡng dục con Ngài. Như vậy, ngoại trừ Đức Mẹ, Thánh Giuse cũng
cộng tác phần nào vào việc Ngôi Lời giáng thế.
ĐIỀU HAI
PHỤ TÍNH
DO THỦ TRINH
Đoạn trên, ta thấy v́ hôn
quyền, Thánh Giuse đă cộng tác vào việc thực hiện mầu nhiệm Nhập thể.
Bây giờ ta tiến thêm bước nữa để xác định đặc tính Phụ quyền của Thánh
Giuse. Nói nôm na là: Ngài làm Cha Chúa Giêsu cách nào?
Thánh kinh nói rơ: Thiên
Chúa muốn Con Ngài sinh bởi người nữ, vừa có chồng vừa đồng trinh.
Phải chăng đó là những điều kiện tiền quyết định để đức Maria làm Mẹ
Thiên Chúa? Và như vậy, ta chẳng có thể kết luận rằng, v́ cuộc hôn
phối và sự thủ trinh, Thánh Giuse đă cộng tác một cách nào đó
vào việc Đức Kitô giáng thế?
Về lư do hôn nhân, ta đă
tŕnh bày ở trên. Sau đây sẽ tŕnh bày về lư do thủ trinh của Thánh
Giuse. Trước khi giải quyết vấn đề, ta hăy định nghĩa chữ đồng trinh.
Đồng trinh là đức tốt của một người, bất kể nam hay nữ, hoàn toàn kiêng
cữ mọi thú vui xác thịt, không thất tiết bao giờ.
Có đồng trinh thể lư và đồng trinh nhân đức. Đồng trinh thể lư là sự
nguyện vẹn về cơ quan sinh thực, như đă được tạo nên lúc sơ sinh. C̣n
nhân đức đồng trinh là sự quyết tâm kiêng cữ mọi thú vui xác thịt, v́
ḷng kính mến Thiên Chúa, bất luận là tư tưởng, ngôn ngữ hay hành động.
Đức Tin dạy rằng: Mẹ Maria
cưu mang con cách hoàn toàn đồng trinh, do tác động của Chúa Thánh Thần,
dựa vào đặc ân Vô nhiễm, nhiều học giả luận rằng: “Trong chương tŕnh
Thiên Chúa, Đức Maria phải trinh trong cả xác lẫn hồn mới đáng làm Mẹ
Con Ngài”.
Nhưng ngày Truyền tin, làm
sao Đức Mẹ có được điều kiện ấy, nếu Thánh Giuse không quảng đại tôn
trọng thân xác rất trong sạch của bà? “Bởi từ sau lễ đính hôn, cũng
là lễ thành hôn theo tục Do Thái, sự đồng trinh của Đức Mẹ khác hẳn sự
đồng trinh của một thiếu nữ thanh tân, một nữ tu hay là một phụ nữ độc
thân chẳng hạn, v́ đây là đồng trinh trong bậc phu thê, phải cả hai bên
đồng t́nh mới giữ được, nghĩa là phải có sự ưng thuận của Thánh Giuse”
(Thánh Alberto)
Như thế, sự Thánh Cả thủ
trinh đă trực tiếp vào việc che chở, bảo toàn sự đồng trinh Đức Mẹ, gián
tiếp giúp vào việc thực thi điều kiện cho Chúa Cha ấn định, cho Con Chúa
ra đời.
Trước hết phải kể thánh sử
Augutinh. Ngài viết: “Thực Thánh Giuse đáng gọi là Cha Chúa Giêsu, do
cuộc hôn nhân Thánh Thiện Đồng Trinh của Ngài với Đức Mẹ”. Nơi khác
Ngài c̣n viết: “Tại sao hai Phúc âm đều lập gia hệ Chúa Giêsu kể từ
Giuse? Bởi v́ Ngài là Cha Chúa. Tại sao Ngài là Cha Chúa? Bởi v́ Ngài
càng khiết tịnh th́ càng đúng là Cha Chúa hơn”
Linh mục Elie Thérèse suy
niệm: “Ôi Thánh Giuse! Chính nhờ người mà Đức Maria làm Mẹ Chúa Kitô.
Quả thế, bà làm Mẹ Chúa Kitô v́ bà giữ ḿnh đồng trinh. Mà bà giữ ḿnh
đồng trinh được là v́ Thánh Cả đă bảo toàn đức ấy nơi bà, chứ không hề
dám động chạm theo quyền lợi của ông. Cao trọng hơn chức vị Thánh Cả! Mẹ
Maria mang ơn lớn với Người. V́ sau Thiên Chúa th́ nhờ Người mà bà được
làm mẹ Thiên Chúa”.
Linh mục Jacques Nouet tóm
lược các lư lẽ như sau: “Điều xứng hợp là Trinh nữ Maria phải kết hôn
để bảo toàn danh dự nhưng lại phải đồng trinh để sinh Con Chúa. Để bà
vừa làm mẹ, vừa đồng trinh th́ phu nhân của bà cũng phải đồng trinh. Do
đó ta có thể lư luận như sau:
“Sự sống Chúa Giêsu tuỳ
thuộc vào mẫu tính Đức Maria. Mẫu tính ấy tuỳ thuộc vào đức đồng trinh
của bà; đức đồng trinh ấy lại tuỳ thuộc vào đức đồng trinh của Thánh
Giuse; vậy đức đồng trinh của Thánh Cả có liên hệ với sự sống Chúa Giêsu”.
Từ năm 1870, là năm Đức Piô
IX tôn Thánh Giuse làm Đấng Bảo trợ Giáo hội toàn cầu, các học sĩ càng
đề cao giáo thuyết này hơn đến nỗi đă thành giáo thuyết phổ thông.
Tóm lại, đại đa số thần học
sĩ ngày nay đều công nhận sự thủ trinh của Thánh Giuse đă cộng tác vào
việc thực hiện Nhập thể.
Nhưng ngài đă cộng tác theo
cách nào? Tưởng cần nhắc lại rằng: Nhập thể là công tŕnh của ḷng nhân
hậu Thiên Chúa, nên không có chuyện nguyên nhân tất yếu ở đây
(Cause nécessaire). Nhưng chỉ có nguyên nhân chuẩn bị, nghĩa là
duyên cớ dọn đường, mở ḷng Thiên Chúa thi hành ư định của Ngài thôi
(Cause dispositive).
Bằng cuộc hôn nhân và sự
thủ trinh, Thánh Giuse đă tạo nên nguyên nhân chuẩn bị cho việc Nhập thể
theo chương tŕnh Thiên Chúa. Như vậy, sự cộng tác của Thánh Giuse có
tính cách gián tiếp, ngoại tại, và tinh thần khả dĩ bảo vệ đức
đồng trinh cho Mẹ Maria, và bảo toàn danh dự cho Chúa Giêsu và Mẹ Ngài.
Bây giờ ta xét xem sự cộng
tác đồng trinh ấy có thể coi là cơ sở tinh thần Phụ tính của Thánh Giuse
chăng? Nơi Phụ tính đặc biệt này, không có cơ sở thể lư như nơi
các người cha khác; nhưng chỉ có cơ sở tinh thần. Cơ sở tinh thần
này gồm hai hành vi.
1) Đồng ư kết hôn với
trinh nữ Maria
2) Bảo toàn đức đồng
trinh của Bà.
Hai hành vi ấy đă được
Thiên Chúa quy định, hầu chuẩn bị cho Con Chúa ra đời, mặc dầu Thánh
Giuse không biết, không muốn trước.
Tuy nhiên, ta phải nhận
rằng cơ sở tinh thần do hôn quyền và thủ trinh, dầu rất cao sang, rất
đặc biệt, cũng chưa đủ làm nên Phụ tính của Thánh Giuse, nếu không có sự
tuyển chọn, sự uỷ thác của Thiên Chúa.
Tóm lại, Phụ tính của Thánh
Giuse được xậy dựng trên hai cơ sở:
1) Sự uỷ thác siêu việt
của Thiên Chúa.
2) Sự cộng tác tích cực
của Phu quân Đức Maria.
ĐIỀU BA
MẤY DANH
HIỆU DIỄN TẢ PHỤ TÍNH CỦA THÁNH GIUSE
Phụ tính Thánh Giuse là
trường hợp độc đáo ngoại lệ, không có danh từ nào thích đáng diễn tả
được hết nội dung phong phú.
Thánh Linh, qua miệng Đức
Mẹ, dưới ng̣i bút của Luca, gọi Thánh Giuse là Cha Chúa Giêsu, không
thêm phẩm từ nào cả (Lc 2,48). Đơn sơ thế thôi miễn là ta nên nhớ “thai
nơi bà là do tự Thánh Thần”.
Nhưng từ thời Giáo hội sơ
khai, nhiều người theo dư luận Do Thái, đă coi Chúa Giêsu là con đẻ của
Giuse, làm tổn thương đến mầu nhiệm Nhập thể tinh tuyền và đức đồng
trinh vĩnh viễn của Mẹ Maria. V́ thế, Giáo hội không dám dùng danh hiệu
Cha Chúa Giêsu cách đơn thuần, mà phải thêm phẩm từ cho rơ nghĩa. Chẳng
hạn: Cha nuôi, Cha pháp định, Cha như thức, Cha đồng trinh, …
Tuy không diễn tả được hết
chức vụ và sứ mạng của Thánh Giuse bên cạnh Chúa Hài đồng, mỗi danh từ
cũng nói lên được một vài khía cạnh. Phải tổng hợp ư nghĩa các danh từ
ấy, mới có được khái niệm tạm đầy đủ về Phụ quyền của Thánh Giuse. Đức
Tin không dừng lại ở từ ngữ mà xuyên qua từ ngữ, đậu lại ở sự thật.
Dưới đây, ta sẽ xét về từng
danh hiệu:
Cha nuôi
là danh hiệu lưu truyền từ thời thượng cổ, và ngày nay c̣n là danh hiệu
thông dụng nhất trong Giáo hội. Ngay từ những thế kỷ sơ khai, các Giáo
phụ dựa vào Phúc âm, đă gọi Thánh Giuse là Cha Chúa Giêsu. Nhưng phần
th́ sợ có sự hiểu lầm, phần th́ muốn nói lên công lao dưỡng dục của
Thánh Cả, nên gọi Ngài là Cha nuôi Chúa Giêsu.
Danh từ cha nuôi, con nuôi
là danh từ khá quen thuộc với dân ta. Một người v́ hiếm muộn hoặc v́ một
lí do nào khác nhận một em bé làm con, đem về dưỡng nuôi, săn sóc, dạy
dỗ, yêu thương, lớn lên lại gầy dựng gia đinh, khi qua đời c̣n trối phần
gia nghiệp cho nữa. Đáp lại, người con nuôi coi cha nuôi như cha đẻ, tôn
kính mến yêu và khi cha qua đời con là việc giỗ chạp, trông coi phần mộ.
Nhiều người con nuôi có hiếu chẳng kém ǵ con đẻ.
Nhưng ở đây, danh hiệu
Cha nuôi không hoàn toàn thích hợp v́ Chúa Giêsu đối với Thánh Giuse
là con trong nhà, không phải là con người khác. Tuy vậy danh từ
ấy cũng diễn tả được công lao Thánh Cả, đồng thời cũng nói lên một sự
thật: “Con Giuse không phải bởi Giuse” (Thánh Ephrem).
Cha pháp định
là danh hiệu lưu hành giữa
các nhà bác học hơn là trong đám b́nh dân. Danh hiệu này dựa trên hai lư
do: Một là Thánh Giuse là hôn phu Đức Mẹ nên được người Do Thái đương
thời nh́n nhận là cha hợp pháp của Chúa Giêsu. Hai là Thánh Giuse là
ḍng dơi Đavit nên truyền tước hiệu Con vua Đavit cho Chúa Giêsu,
khiến người Do Thái có thể nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế thiên hạ đợi
trông từ bao thế kỷ. Hai bản gia hệ Đức Kitô đều xây dựng trên Phụ tính
pháp lư này của Thánh Giuse.
Tuy vậy, danh hiệu này có
vẻ khô khan, không nói lên được mối t́nh thắm thiết Thánh Giuse dành cho
Ấu Chúa.
Cha như thức
là danh hiệu xuất phát từ
bản gia hệ Đức Kitô do Luca lập: “Chúa Giêsu bắt đầu công vụ vào trạc 30
tuổi, và người ta tưởng Ngài là con của Giuse” (Lc3,23).
Cách trực tiếp, danh hiệu
này phủ nhận dư luận sai lầm của người Do Thái tưởng Giuse là cha đẻ
Chúa Giêsu. Cách gián tiếp, danh hiệu này biểu thị mầu nhiệm Ngôi Lời
đầu thai cách diệu kỳ trinh bạch.
Giáo hội từ lâu vẫn sử dụng
danh hiệu ấy. Bài kinh phụng vụ lễ Thánh Cả có câu: “Hăy đến thờ lạy
Đức Kitô, con Thiên Chúa, Đấng đă khứng để người ta coi ḿnh là Con
Thánh Giuse”. Đức Lêo XIII xưng Thánh Giuse là Cha Chúa Giêsu
trước mặt người ta. Đức Phaolô VI gọi Ngài là Cha pháp định, coi
như chính thức của Chúa Giêsu.
Tuy nhiên, danh hiệu này ít
được sử dụng,v́ nó có tính cách tiêu cực, có thể làm cho giáo hữu tưởng
rằng Thánh Giuse chỉ là Cha hờ, không có nền tảng vững chắc cho Phụ tính
của Ngài.
Cha đồng trinh
là danh hiệu xuất hiện từ đầu thế kỷ XX, cảm hứng theo tư tưởng Thánh
Augutinh. Danh hiệu này có ưu điểm nói lên sự cộng tác tinh thần của
Thánh Cả vào công tŕnh Nhập thể, bằng việc thành hôn với Đức Mẹ, và
việc ǵn giữ đức đồng trinh của Bà. Hai việc ấy, chính Thiên Chúa đă an
bài để dọn đường cho Chúa Giêsu đầu thai cách kỳ diệu.
Tuy nhiên cũng cần ư tứ,
chớ nên dựa vào từ ngữ mà luận quá xa, thành ra sai lạc. Cha đồng
trinh không thể tương đương với Mẹ đồng trinh. Mẹ đồng trinh
có góp phần thể lư, c̣n cha đồng trinh chỉ góp phần tinh thần vào việc
sinh hạ Chúa Giêsu. V́ thế không thể xếp hai Đấng cùng hàng được.
Đức Piô X châu phê kính “Thánh
Giuse là Cha đồng trinh Chúa Giêsu: O Ioseph, virgo Pater Iesu”.
Ngoài ra c̣n nhiều danh
hiệu khác như Cha đại diện, Cha tâm t́nh của Chúa Giêsu.
Nhưng dầu có thêm bao nhiêu
đi nữa th́ cũng không có danh từ nào thật thích đáng để diễn tả hết mối
liên hệ giữa Thánh Cả và Chúa Giêsu. Mỗi danh từ ấy chỉ nói lên được một
vài khía cạnh sứ mạng Thánh Cả mà thôi. V́ thế, không nên coi danh từ nọ
hơn danh từ kia, nhưng đúng hơn phải liên kết tất cả lại với nhau và suy
rằng: Thánh Giuse đáng gọi là Cha Chúa Giêsu, phần v́ đă dưỡng nuôi
Chúa, phần v́ được luật pháp thừa nhận, phần v́ là hôn phu Đức Mẹ, phần
v́ là đại diện cho Đức Chúa Cha.
Kết thúc thiên khảo luận
này, chúng tôi mạo muội nghĩ rằng giáo lư về mầu nhiệm Nhập thể và đồng
trinh Đức Mẹ đă sáng tỏ, tưởng đă đến lúc có thể xưng Thánh Giuse là
Cha Chúa Giêsu không kèm theo phẩm từ và không sợ có sự hiểu lầm
nữa.
Nguyện vọng này, chúng tôi
cung kính đặt dưới quyền phân định của Giáo hội.
Lạy Thánh Giuse là Cha
Chúa Giêsu và là Cha chúng con!
Xin thương phù hộ cho
đoàn con cái!
Nội dung theo số mục
TỰ NGÔN PHỤ TÍNH THÁNH GIUSE LÀ
VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG..
1. Phụ tính Thánh Giuse là vấn đề
mấu chốt
2. Phụ tính Thánh Giuse chưa được
đề cao.
3. Phụ tính Thánh Giuse bắt đầu
được đào sâu khơi rộng.
CHƯƠNG I KHÁI NIỆM VỀ PHỤ TÍNH
NƠI LOÀI NGƯỜI
4. Cha là người sinh ra con bằng
đường lối truyền sinh.
5. Cơ sở thể lư và tinh thần của
phụ tính.
6. Nghĩa vụ cha mẹ đối với con.
7. Công ơn cha mẹ: sinh – dưỡng –
dục.
8. T́nh thương con được biểu lộ
thế nào?.
9. Điểm đối chiếu hữu ích để hiểu
phụ tính Thánh Giuse.
10. Bản tóm lược về phụ tính nơi
loài người.
CHƯƠNG II HIỆN HỮU PHỤ TÍNH CỦA
THÁNH GIUSE.
11. Đức Mẹ và Thánh Luca gọi
Giuse là Cha Chúa Giêsu.
12. Người Do thái gọi Giuse là
Cha Chúa Giêsu.
13. Giáo hội xưng Thánh Giuse là
Cha Chúa Giêsu.
14. Phụ tính của Thánh Giuse là
điều hiện thực.
15. Với cuộc hôn nhân Giuse lănh
trách nhiệm làm cha Ấu Chúa.
16. Giuse đặt tên, truyền họ cho
Ấu Chúa.
17. Giuse dưỡng nuôi, che chở
Chúa Hài đồng.
18. Chúa Giêsu hằng vâng phục
Giuse như cha ḿnh.
19. Giuse lo việc trí dục, đức
dục và huấn nghệ cho con.
20. Giuse đau khổ v́ con.
21. Giuse vui mừng với con.
22. Giuse yêu con cách vô cùng
thắm thiết
CHƯƠNG III BẢN CHẤT PHỤ TÍNH CỦA
THÁNH GIUSE.
23. Phụ tính theo nghĩa tinh thần.
24. Phụ tính do hôn quyền.
25. Biện giải dựa theo pháp lư.
26. Biện giải dựa vào thần học.
27. Khái niệm về đức đồng trinh
và sự thủ trinh.
28. Sự thủ trinh của Giuse đă
giúp vào việc con Chúa giáng trần.
29. Dẫn chứng của các thần học
gia.
30. Sự cộng tác của Giuse có tính
cách gián tiếp và tinh thần.
31. Không có danh hiệu nào diễn
tả đúng được phụ tính của Giuse.
32. Danh hiệu cha nuôi Chúa Giêsu.
33. Danh hiệu của pháp định.
34. Danh hiệu cha như thức.
35. Danh hiệu cha đồng trinh.
36. Các danh hiệu Thánh Giuse
phải được liên kết với nhau.
37. Ước nguyện cho danh hiệu đơn
thuần “Cha Chúa Giêsu được phép sử dụng.
NGỢI KHEN CHÚA
GIÊSU
NHỜ ĐỨC MARIA
VỚI THÁNH CẢ
GIUSE
HALLELUIA
TÀI LIỀU THAM KHẢO CHÍNH
YẾU:
Existence et nature de la
paternité de Saint Joseph: par Roland Gauthier.
Cahiers de Josephologie,
Oratoire St Joseph, Montreal 1953-62
PHỤ LỤC
GIUSE THẬP
VỊNH
1 – THIÊN DUYÊN KỲ DIỆU
Một búi tơ ṿ gỡ chẳng ra!
Duyên may dun giủi khách
tài hoa
Người sao thanh vẹn mà trân
trọng,
Sự thể rành rành nghĩ xót
xa!
Vừa định rút lui đêm tối
mịt
Đă khuyên sum họp ánh chan
hoà!
Làn mây u ám bay đi kịp,
Đàn sáo tưng bừng nổi khúc
ca.
2 – HANG ĐÁ BE-LEM
Be-Lem chiều xuống cành
tiêu sơ,
Đức Mẹ băn khoăn sắp đến
giờ!
Phận túng ngậm ngùi không
quán trọ,
Cơ may dun giủi gặp hang
lừa!
Thiên Thần mừng rỡ tung hô
Chúa,
Loài vật khiêm cung thở ấm
Vua,
Thánh Cả tôn thờ trong lặng
lẽ,
Hai hàng nước mắt nhỏ như
mưa!
3 – DÂNG CON ĐỀN THÁNH
Cha mẹ đem Con với cặp cầm
Tuân theo luật pháp tựa dân
phàm
Lễ dâng con trẻ bao hoan
lạc!
Lời sấm cụ già xiết khổ
tâm!
* Con trẻ sẽ là bia đích
bắn!
* Mẹ hiền ḷng bị lưỡi dao
đâm
Giuse dâng hiến trong ḍng
lệ
Chẳng khác chi là lễ
Ap-ram!
4 – BÔN ĐÀO NGOẠI CẢNH
Biển cát mênh mông không
bóng cây,
Con lừa lầm lũi đă bao
ngày.
Tấm thân cha khó phơi sương
nắng.
Tỉnh mạn, Con thơ cột sợi
dây!
Bạo Chúa đà vung gươm độc
ác,
Anh hài đang khóc tuổi thơ
ngây,
Vậy mà Con Chúa không hề
hấn
Mới biết can trường dễ mấy
tay!
5 – HOAN LẠC HỒI HƯƠNG
Đất khách quê người sống
tạm an,
Hồi hương nay có lệnh thần
loan.
Lối đi Ai Cập đây gian khổ,
Đường lại Giu Đê khúc khải
hoàn!
Đồi núi quê hương mờ ẩn
hiện,
Đền thờ Vua Cả lộ hiên
ngang.
Cái vui quê cũ vui là thế,
Cho bơ phong trần trải
những năm
6 – BUỒN BĂ LẠC CON
Đường về chiêng đă gác đầu
non,
Ngoảnh lại, than ôi, chẳng
thấy Con!
Dạ Mẹ xót xa dường xát
muối,
Ḷng Cha cay đắng tựa bồ
ḥn.
* Con đem đi mất nguồn vui
vẻ
* Để mẹ cha rày phải héo
hon!
Mừng rỡ gặp Con, bà gạn
hỏi,
C̣n ông ăng lặng đứng mà
nom!
7 – VỊNH CHÚA HÀI ĐỒNG
Đêm xuống núi đồi đă lặng
yên,
Ngôi nhà Thánh thất cảnh
thần tiên.
Bóng cha mờ tỏ vờn trên
vách,
Dáng mẹ khoan dung hiện
dưới đèn.
Con trẻ bị bỏ lời trước
hết,
Hài nhi chập chững bước đầu
tiên.
Mỗi ngày thêm lớn, thêm
khôn sáng,
Cha mẹ càng thêm thoả ước
nguyền.
8 – VỊNH MẸ THÁNH GIA
Việc nhà sớm tối những lo
toan,
Đời sống chồng con được vẹn
toàn,
Canh ngọt cơm ngon hầu mỗi
bữa,
Áo đầy áo mỏng liệu quanh
năm.
Yêu Con cũng thể yêu Thiên
Chúa,
Kính Bạn như là kính Thánh
nhân,
Nội tướng muôn đời treo giá
ngọc,
Đề cao phẩm hạnh khách hồng
nhan.
9 – VỊNH THÁNH GIA
Một căn nhà nhỏ có hai
gian,
Ba đấng bao năm sống hộp
đoàn.
Khóm huệ trắng tinh thơm
cảnh quế,
Hàng thông cao vút rợp nhà
lan.
Tiếng chàng tiếng đục khua
vui vẻ,
Câu kệ câu kinh vọng phút
nhàn.
Ấy bởi Hài nhi nguồn hạnh
phúc,
Biến ngôi nhà nhỏ hoá Thiên
đàng.
10 – VỊNH THÁNH GIA TRƯỞNG
Trôi theo gương sáng giữa
gian trần,
Chiêm ngưỡng tôn nhan đấng
Thánh nhân.
Nghĩa trọng phu thê ǵn
khiết bạch,
T́nh nhân phụ tử giữ ân
cần.
Với cưa với đục, nuôi con
Chúa,
Khi hiểm khi nghèo, phó tấm
thân.
Ấy Chúa ngày xưa nhờ Thánh
Cả,
Bây giờ ắt hẳn nhớ vông
huân.
CHÂU THUƯ
|