| |

Hydra
tiên tệ trên trường quốc tế.
B.S.Nguyễn Lưu Viên.
--------------------------------------
Lời
nói đầu:
Trong bài “Lần theo mê-lộ có đường hầm của Hệ Thống Tiền Tệ Mỹ, chúng
ta đă thấy con hydra tiền tệ Mỹ có tên là Federal Reserve (FED)hoạt động
như thế nào trên đất Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ(HCQHK). Hôm nay chúng ta sẽ
cố găng t́m xem có con Hydra tiền tệ nào hoạt động như thế trên trường
quốc tế hay không?
------------------------------------------
Nhắc
lại một sự kiện lịch sử:
Ngày
18-th.6-1815, cuộc chiến tại Waterloo đang diển tiến, ông Nathan
Rothschild, lúc đó đang là một trong số những chủ ngân hàng lớn nhứt của
London, nắm được tin Hoàng Đế Napoléon sẽ đại bại trước nhà cầm quyền
Anh 24 tiếng đồng hồ. Ông Rothschild liền tung tin nói rằng Napoléon sẽ
đại thắng. Giá cổ phiếu trên ṭan bộ thị trường chứng khóan lập tức tuột
xuống tận dáy. Th́ Ông Nathan Rothschild liền tay mua gom, vét hết, các
cổ phiếu với giá rẻ mạt. Cuối cùng khi chiến thắng của Tướng Wellington
được lan truyền khắp thủ đô London th́ giá các cổ phiếu lại tăng vọt lên.
Thỉ trong vài giờ, Ông Nathan Rothschild lại tung các cổ phiếu này bán
lại, và thu được những khoản chênh lệch kếch xù.
Đó là
chuyện thời xưa. Bây giờ chúng ta hăy xem xét chuyện thời nay.
Thỏa
Hiệp Bretton Woods. (The Bretton Woods Accords)
Báo
chí thường hay nhắc tới cụm từ Bretton Woods. Vậy nó là ǵ, ở đâu? Tra
Từ-điển Webster mới biết đó là tên của một nơi nghĩ mát (resort) trong
núi White Mountains ở Tiểu-Bang New Hampshire. Xem bản đồ Tiểu Bang mới
thấy ṇ nhơ xíu nằm trên đường 320 ở giữa hai thành phố nhỏ Twin
Mountain và Crawford House. Thế mà năm 1944, trước khi Đệ Nhị Thế Chiến
chấm dứt năm 1945, nó được chọn (theo ư của Ô. David Rockefeller) làm
địa điểm hội họp cho một Hội Nghị Quốc Tế về Tiền Tệ. Hai người đóng
vai chánh trong Hội Nghị là kinh-tế-gia Anh danh tiếng quốc tế John
Maynard Keynes và Thứ Trưởng Tài Chánh Mỹ Harry Dexter White.
Hội
nghị đưa đến một thỏa hiệp được gọi là Thỏa Hiệp Bretton Woods (the
Bretton Woods Accords) Theo Thỏa Hiệp này th́ bản-vị vàng (the gold
standard) vẫn được giữ và được đồng dollar yểm trợ (backed by the US
dollar) v́ đồng dollar được coi là “tốt như vàng” (as good as gold ) và
Mỹ cam kết sự có thể đổi (convertibility) dồng dollar ra vàng theo giá
$35 dollars một ounce vàng. Bản vị vàng của Bretton Woods (the Bretton
Woods gold standard) “chạy đều” được một thời gian, v́ ít có nước nào
đổi dollars của ḿnh ra vàng, và người ta c̣n tin tưởng nơi khả năng trả
được (solvency) của Hoa Kỳ.
Nhưng kể từ năm 1965 chiến tranh ViệtNam đă kéo nước Mỹ vào ṿng xoắn
của nợ nần (the spiral of debt) th́ T.T. De Gaulle của Pháp, nhận thấy
Mỹ tiêu xài quá cái mức vàng được dự trữ, nên đ̣i Mỹ phải trả lại cho
Pháp số vàng tương đương với $300 triệu dollars mà Pháp đang có. Mỹ làm
đúng theo lời yêu cầu của De Gaulle. Nhưng kho dự trữ vàng của Mỹ bị
“xẹp” đến nỗi mà năm 1971 T.T.Nixon phải rút dollar ra khỏi bản-vị vàng
(took the dollar off the gold standard) và hủy bỏ luôn việc đổi dollar
ra vàng. Th́ các ngân hàng tư nhân và FED lại có dịp dở lại cái tṛ
ảo-thuật “loan” để “create money out of nothing”.
Rồi
lại thêm một tṛ ảo-thuật mới nữa được gọi là “short selling” là một thứ
“mượn đầu heo nấu cháo” dựa trên hai nguyên tắc căn bản của “Kinh Tế Thị
Trường” là: 1- Luật cung cầu: Hể cung (offre) mà nhiều hơn cầu (demande)
th́ giá hàng xuống, và hể cung mà ít hơn cầu th́ giá hàng tăng lên. 2-
mục đích hoạt động của một công-ty là làm sao cho có lợi có lời cho
người có cổ phần (shareholder) và ư muốn của người (hay của nhóm người)
nắm đa số cổ phần là “ư muốn của vua” giám đốc công ty phải tuân theo.
Và
đây là lối hành động của “short selling”. Thí dụ như tôi đă nghiên cứu
và khám phá ra được một lối chế tạo một món hàng mà tôi cho rằng sẽ được
dân chúng thích, th́ tôi phải dựng lên một công ty để sản xuất món hàng
đó; nhưng v́ không có đủ tiền nên tôi phải kêu gọi người ngoài hùn vốn
bằng cách “bán cổ phần” thí dụ như tung ra một triệu cổ phần, mỗi cổ
phần giá là $50 dollars. Nhờ có nhiều người hưởng ứng v́ thấy món hàng
tốt sẽ được dân mua dùng, nên người th́ mua vài chục, kẽ th́ mua vài
trăm, có khi một mhóm kinh doanh mua vài ngàn cổ phần. nên tôi có được
50 triệu dollars để dựng lên “Công ty V”có nhà máy sản xuất, có cơ sở
giao dịch, có văn pḥng, v.v… Nhờ hàng tốt dân chúng thích, mua nhiều,
nên “Công-ty V” phát đạt. Giá trị của cổ phần công ty mỗi ngày một tăng.
lên tới thí dụ như $70 dollars mỗi cổ phần. Thường thường người muốn mua
cổ phần là mua qua một môi-giới (“broker”) và gởi giấy số cổ phần đó cho
“broker” giữ, chớ đâu có đem về nhà. Một ông chủ nhà bank B, thấy “Công
ty V” phát đạt nên muốn chiếm lấy nó. Th́ ổng (là “bồ tèo”có khi là chủ
nhân thật của tên broker) đến “mượn” một số X cổ phần của “Công ty V” và
tung số đó ra càng ngày càng nhiều vào thị trường... Th́ trên thị trường
số cung (của cổ phần “Công ty V”) càng ngày càng tăng, mà số cầu th́ có
hạn, nên giá của cổ phần càng ngày càng xuống. Những người ở nơi khác có
cổ phần “Công ty V” thấy giá cổ phần xuống liền liền, thị vội vă biểu
broker của ḿnh bán mau mau cổ phần “Công ty V” của ḿnh, th́ trên thị
trường tràng ngập cổ phần “Công ty V” với giá rẻ, thí dụ như chĩ c̣n có
$25 dollars mỗi cổ phần. Th́ Ông B lấy tiền của nhà bank ḿnh quơ
(rafler) hết các cổ phần “Công ty V” có trên thị trường. Ông trả lại cho
broker “bồ tèo” của ổng số X cổ phần mà ổng đă “mượn”. C̣n phần Y c̣n
lại th́ ổng giữ như là của. riêng của ngân hàng B.
Bây
giờ ông B có thể có hai quyết định: Một là để cho “Công ty V” vẩn sống,
th́ ổng bớt hẳn số cung (bán ra) cổ phần Công ty V trên thị trường làm
cho giá của nó tăng lên trở lại để đem cái lời cái lợi về cho các chủ cổ
phần (mà chính ngân hàng B được hưởng thụ nhiều nhứt v́ là nắm đa số cổ
phần )
Hai
là ổng có thể giết chết luôn Công ty V, v́ trong hội nghị hằng năm, hay
hằng tam cá nguyệt của công ty, “ư muốn của người có đa số cổ phần là ư
muốn của vua” nên ổng quyết định dẹp bỏ công ty v́ quá lỗ lă. bán mau
mau với giá rẽ, tất cả máy móc cơ sở của công ty (không c̣n tên trong
danh sách các cơ sở), th́ một “bồ tèo” hay một “tay sai” của ổng mua hết
máy móc dụng cụ cơ sở đó, để dựng lên một Công ty mới có tên khác, sản
xuất cùng một thứ hàng mà dân đă thích mua. C̣n tôi, người t́m ra phương
pháp chế tạo hàng th́ được mướn ở lại làm công như một kỷ-sư chuyên môn,
hay là bị đuổi đi. Thế là “Công ty V” mà trong bao nhiêu năm tôi đă tốn
không biết bao nhiêu th́ giờ và công khó nhọc để nghiên cứu, suy nghĩ,
thử đi thử lại mới chế tạo ra được món hàng được dân ưa thích và tạo
dựng lên được một cơ sở mà tôi lấy làm hănh diện, trong chốc lát, đă bị
nhà bank B nuốt hết, nhờ cái tṛ ảo thuật “short selling”
Trên
b́nh diện quốc tế, nếu có một tổ chức nào mạnh và giàu, đem áp dụng tṛ
ảo-thuật “short selling” đó vào một quốc gia yếu và nghèo, th́ cả hệ
thống kinh tế và hệ thống kỷ nghệ c̣n non nớt của quốc gia ấy, sẽ bị
“nuốt” mất hết ……….Mà tổ chức mạnh và giàu đó đă có rồi ……..Đấy là :.
IMF
& World Bank. Ngoài việc đưa đến một Thỏa Hiệp, hội nghị ở Bretton
Woods nói trên c̣n đẽ ra được hai con hydra khổng lồ là:
IMF
(the International Monetary Fund Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế) và World Bank (the
International Bank for Reconstruction and Development Ngân Hàng Quốc Tế)
Nói là để giúp Đệ Tam Thế Giới (the Third World) và các quốc gia đă bị
chiến tranh tàn phá. Nhưng trên thực tế th́ khác hẳn, v́ IMF và World
Bank sẽ áp dụng cho Đệ tam Thế Giới hai tṛ ảo-thuật “loan” và “short
selling” cộng với hai quan niệm “cho chắc ăn” rất đặc biệt như sau:
1-
Để “cho chắc ăn”, các nhà bank thích “chơi” với các chánh phủ “vững chắc”,
nghĩa thông thường là các chánh phủ độc tài (The banks preferred
“stable” governments for clients. Generally that meant governments
controlled by dictators. Theo sách: “The Web of Debt” tr.215)). C̣n từ
đâu các nhà độc tài đó có được quyền hành và họ làm ǵ với tiền, th́
không phải là mối lo của các ngân hàng. Cho nên một số quốc gia ở Nam-Mỹ
dược thí nghiệm. Ở ChíLợi, ngày 11-th.9-1973 TT... Salvador Allende, một
vị tổng thống được dân bầu một cách dân chủ, bị Tướng Augusto Pinochet
đảo chánh. Ở Peru chánh phủ b́nh dân (populist) của T.T. Alan Garcia bị
cho vào “sổ đen”(black list) của IMF, nên ngày 28-th.7-1990 th́ bị chánh
phủ của T.T. Alberto Fujimori thay thế để áp dụng cái gọi là “economic
shock therapy” của IMF. Rồi đến Argentina, các cuộc đảo chánh do bọn
“Chicago Boys” gây ra.
2-
Để “cho chằc ăn” các thứ tiền viện trợ cho y-tế, cho giáo-dục, cho sức
khỏe trong các quốc gia mắc nợ phải bị bỏ đi, theo lệnh của IMF, để cho
các nhà bank được trả nợ đúng kỳ (Public spending for health, education
and welfare in debtor countries was slashed, following IMF orders to
ensure that the banks got timely debt service on their
petrodollars..Theo sách:”The Web of Debt” tr.215.) Cho nên trong các
quốc gia có nhận viện trợ của IMF,(như Bengladesh, Bolivia, Brazil, Peru
Ethiopia, Somalia, Uganda, Việt Nam và một số quốc gia trong khối Liên
Bang Soviet URSS củ), con nít đi học phải trả tiền, người đau ốm vào
bệnh viện phải trả tiên, chớ không c̣n được miển phí như trước. Kết quả
là ở trong đa số các quốc gia ấy (trong đó có VN thời “bao cấp”) nền
giáo dục bị phá tan (Destruction of Education), hệ thống bảo vệ sức khỏe
bị sụp đổ (Collapse of the Health System ), th́ các bệnh nhiễm trùng tái
phát (Resurgence of Infectious Diseases).
Riêng ở Việt Nam c̣n có một chuyện lạ nữa mà ḿnh không biết là: sau khi
CS Bắc Việt chiến thắng, th́ IMF đ̣i Hànội phải trả một số tiền $140
triệu dollars mà Chánh Phủ Saigon (VNCH) hồi trước c̣n nợ IMF, rồi IMF
mới giúp. Th́ Hànội phải chịu và may cho Hànội, là Pháp với Nhựt lập lên
một “Ủy Ban Bạn của VN” (Friends of VN Committee) cho Hànội mượn số tiền
đó để trả cho IMF.
Ngoài các tai hại về y tế và giáo dục nói trên, IMF c̣n gây ra nhiều tai
họa khác độc ác hơn nữa, như đem nước sông vào ruộng để cày cấy mà phải
trả tiền nước (ở Bolivia Nam Mỹ) nạn đói (như ở Somalia, Ethiopia) nạn
thiếu dinh dưởng (ở cùng hêt) nạn thiếu an ninh, lọan v́ biểu t́nh chống
đối và đàn áp (ở cùng hết), nạn nội chiến v́ chủng tộc (như ở Uganda) có
thể đưa đến nạn diệt chủng (như ở Rwanda) ,v.v. mà các sách tôi đă tham
khảo diễn tả rất đầy đủ trong vài ba trăm trang. Tất cả việc đó xẩy ra
sau khi áp dụng cái được gọi là “ IMF shock therapy” với
“privatization” (tư-hửu-hóa), với “deregulation” (bỏ luật lệ ràng buộc)
để “giúp đở”, để “khuyến khích” để “chỉ dẩn” cho dân địa phương. Luôn
luôn, dưới chiêu bài là “để thực hiện dân chủ”, “ để gia nhập kinh tế
thị trường” và để xây dụng một “Nền Trật Tự Mới”(a New World Order).
Riêng Việt Nam th́ không bị những tai họa ấy, nhờ chính sách “Đổi Mới”
biến hơn hai triệu “thằng ngụy” đă hèn nhát bỏ trốn ra nước ngoài, trở
thành những kiều bào hải ngoại yêu quư, “khúc ruột xa ngàn dậm” của dân
tộc, được ân cần mời đi nhũng tours du lịch về VN, để đổ vào nền kinh tế
của quê hương hằng năm một hai tỷ, rồi ba bốn tỷ, rồi năm sáu tỷ
dollars. Nhờ số tiền đó, v́ không phải của IMF cho mượn, th́ không bị
luật lệ của chủ nợ ràng buộc, cho nên tất cả các cơ quan nghiên cứu quốc
tế độc lập đều công khai công nhận là VN tiến bộ, có một nền kinh tế
vững chắc, một hệ thống cơ sở căn bản (infrastructure) tốt, đứng hàng
đầu trong việc chống nạn nghèo (against poverty ), trong việc chống nạn
thất học (against illiteracy) và trong số 20 quốc gia có số lượng
Internet nhièu nhứt trên thế giới VN đứng hàng thứ 16 với số 16,500,000
máy (trên Turkey thứ 17 với 16,000,000 máy, trên Australia thứ 18, với
15,085,000 máy,trên Taiwan thứ 19 với14.500.000 máy và Philippines thứ
20 với 14,000,000 máy). VN có một dân số hơn 83 triệu người, tức là tỷ
lệ người dùmg Internet ở VN là 19,40% cũng là đứng hàng thứ 16 (trước
PhiLuậtTân thứ 17 với 16,00%, trước Trung Quốc thứ 18 với 12,30%, trước
Indonesia thứ 19 với 8,90% và trước India thứ 20 /3.70%)
|
|