|

Lần
theo mê-lộ có đường hầm của Hệ Thống Tiền Tệ Mỹ
B.S.
Nguyễn Lưu Viên
------------------------------------------------------------
Lời
nói đầu
Cả
năm qua báo chí Mỹ thường hay nói tới việc mất giá của đồng dollar, tới
việc mắc nợ của chánh phủ Mỹ, rồi hay nhắc tới Federal Reserve, và tới
tên của Ông Greenspan. Tôi không có học ÉcoPo của Pháp, không có học MBA
của Mỹ nên mù tịt. Nhưng v́ ṭ ṃ muốn hiểu biết, nên tôi đă cố gắng t́m
ṭi, học hỏi đó đây. Th́ mới thấy rằng vấn đề tiền tệ của Mỹ là cả một
mê-lộ có đường hầm, (un vrai labyrinthe avec des souterrains) một con đường
máng dện chằng chịt mà nếu đi không có bản chỉ dẫn th́ sẽ dễ bị lạc.
Rồi
tôi nghĩ rằng trong số độc giả của Y Tế Nguyệt San chắc cũng có một ít bạn
đọc mù tịt như tôi, nhưng không có th́ giờ để nghiên cứu đó đây như tôi,
nên tôi viết bài này tóm lược và giản-dị -hóa tối đa một vấn đề vô cùng
phức tạp đă kéo dài theo lịch sử của Hoa-kỳ, để giúp phần nào các bạn ấy
hiểu sơ sơ vấn đề về đồng dollar là một thực thể mà ḿnh phải đốí phó hằng
ngày. Tôi sẽ dùng phương pháp hỏi và đáp (H & Đ) để dẫn đường
quư bạn đi trên mê lộ và trong đường
hầm ấy.
Tôi
xin lưu ư quư bạn: V́ trong bài có vài ba cụm-từ được nhắc đi nhắc lại
nhiều lần nên tôi sẽ viết tắt các cụm từ ấy như sau: FED là Federal
Reserve, CPLB là Chánh Phủ Liên Bang, HCQHK là Hiệp Chủng Quốc Hoa-Kỳ
USA và T.T. là Tổng Thống.
------------------------------------------------------
I-
Tạo ra tiền (create money).
H-:
Dollar là tiền chính thức của HCQHK. Vậy ở bên Mỹ cơ quan nào có quyền
phát hành dollar?
Đ-:
Câu trả lời tự nhiên và thông thường mà cũng hợp lư là Bộ Tài Chánh của
CPLB. Nhưng trên thực tế th́ không hẳn như vậy. Bộ Tài Chánh của CPLB
chỉ có quyền phát hành “coins” nghĩa là đúc (mint) các đồng tiền One
Cent, Five Cents, One Dime, One Quarter, và một số đồng tiền One Dollar.
H-:
Vậy th́ cơ quan nào có quyền phát hành giấy xanh dollar?
Đ-:
Chỉ có Federal Reserve (FED) mới có quyền phát hành giấy xanh dollar.
H-:
Tôi thấy trên giấy xanh dollar nào cũng có h́nh của một ông Tổng Thống
Mỹ, cũng có chữ kư tên của “Treasurer of the United States”, và của
“Secretary of the Treasury” mà không phải do Department of Treasury của
CPLB phát hành là ǵ ?
Đ-:
Vâng, coi vậy mà không phải vậy. Trên giấy xanh dollar nào cũng có in
hàng chữ “Federal Reserve Note” mà chữ note ở đây có nghĩa là “ a paper
acknowledging a debt and promising payment; promissory note”. Tức là tờ
giấy xanh dollar nào cũng là một tờ giấy nợ.
H-:
Ai nợ ai?
Đ-:
Chánh Phủ Liên Bang nợ FED.
H-:
Sao lại có chuyện đó?
Đ-:
Số tiên CPLB cần luôn luôn nhiều hơn số tiền thuế của dân đóng góp, nên
CPLB phải mượn. Mượn ai? Mượn FED là cơ quan duy nhứt có quyền phát hành
tiền dollar. Mượn bằng cách nào? Bằng cách cho phép Bộ Tài Chánh (The
Treasury Department) in giấy nợ dưới h́nh thức “Federal Bonds” (là giấy
IOU I Owe You) trong đó chánh phủ cam kết sẽ trả lại với tiền lời)
(mà bách-phân lời % interest) là do FED. chủ nợ, quyết định). FED chấp
nhận và in (thí dụ như một tỷ dollars $1 billion) đưa cho chánh phủ. Thế
là chánh phủ (tức là quốc gia, là dân Mỹ) nợ FED một tỷ dollars với tiền
lời. Rồi mỗi năm tiền nợ đó chồng chất lên nên đến năm 1995 số tiền nợ
là $5 trillion (1 trillion là 1 ngàn tỷ) và đến ngày 16-3-2006 là hơn
$8,21 trillion.
H-:
FED là một cơ quan của Liên Bang, vậy CPLB mà nợ FED th́ có khác ǵ là
“Tôi nợ Tôi”.
Đ-:
Khác, v́ FED là một cơ quan mang tên là “Liên Bang” (Federal) nhưng
không phải của Liên Bang. FED là một công-ty độc lập của tư-nhân (a
corporation independent privately owned).
H-:
Privately owned th́ ai own nó?
Đ-:
Federal Reserve (FED) gồm có 12 cái Fed bank địa phương (twelve regional
federal reserve banks) mỗi cái là sở-hữu của những nhà bank buôn bán tư
thành viên của cái Fed địa phương đó Các Fed địa phương có trụ sở ở: 1-
Boston, 2-New York, 3-Philadelphia, 4-Cleveland, 5-St Louis, 6-San
Francisco, 7-Richmond, 8-Atlanta, 9-Chicago, 10- Minneapolis, 11- Kansas
City và 12-Dallas.
Fed
Bank của New York có đa số cổ phần (53% of shares). Mà trong Fed bank
của New York, Citibank và J.P.Morgan Chase Co nắm đa số cổ phần.
Citibank là của gia-đ́nh Rockefeller và J.P. Morgan Chase Co là của
gia-đ́nh Morgan. Hai gia đ́nh này và gia đ́nh Carnegie với gia đ́nh
Rothschild là thành phấn quan trọng nhứt của một nhóm người mà học giả
Mỹ gọi là “the Robber Barons” (những Nam-tước Trộm Cắp).
H-:
Nhưng trong Ban Quản Trị (Board) của FED ở Washington có Ông Tổng Trưởng
Tài Chánh (the Treasury Secretary) và Ông Giám Sát Ngân Khố (the
Comptroller of Treasury) là nhân viên chánh phủ.
Đ-:
Vâng, v́ vậy mà trên các giấy xanh dollar có chữ kư tên của hai ông này.
Và T.T. Mỹ cũng bổ nhiệm (với sự chấp thuận của Senate) ông Chủ Tịch
Hội Đồng Quản Trị (Chairman of The Governing Board) của FED, cho nên FED
được coi như là một cơ-quan “gần như chính thức” ( quasi-governmental).
Hội Đồng này gồm có 7 người, với nhiệm kỳ là 14 năm, mà Tổng Thống chỉ
có quyền thay thế một người mỗi hai năm.
Như
vậy, thí dụ như có một ông T.T. muốn sữa đổi FED theo ư của ông, th́
trong nhiệm kỳ 4 năm của T. T, ông chỉ thay thế được có 2 người (v́ ông
chỉ có quyền thay thế một người mỗi 2 năm.) Thôi th́ cho rằng ông ấy là
một ông T. T. tài ba lổi lạc, vượt qua được những khó khăn và những
chống đối mà ông đă gây ra (v́ quan niệm muốn sửa đổi FED), trong hàng
ngũ dân-biểu và nghị sĩ của cả hai đảng, trong chính trường và trong
media, để ông được đắc cử một nhiệm kỳ thứ hai, th́ ông sẽ bổ nhiệm được
2 người nữa trong Governing Board (nếu được the Senate chấp thuận) th́
cho đến gần cuối nhiệm kỳ 2, ông mới đưa ra được một dự luật sửa đổi, mà
chưa chắc dự luật ấy sẽ có được số phiếu cần thiết ở hai viện để trở
thành một đạo luật trước khi ông phải rời khỏi Nhà Trắng.
Mặt
khác ban Quản Trị (Board) không kiểm soát được cả 12 Fed bank địa phương
và các Fed bank địa phương phải theo chánh sách của Fed Bank New York
nắm đa số cổ phần. Vả lại FED kể từ khi thành lập cho tới nay, chưa bao
giờ bị chánh phủ “audit”( soát xét ) v́ năm 1975 dự luật (bill) H.R.4316
cho phép chánh phủ “audit” FED, được đưa ra Congress, nhưng dự luật
không qua được v́ không đủ phiếu.
Hăy
xem như ông Alan Greenspan đang làm giám đốc công ty (corporate
director) cho J.P. Morgan, th́ được T.T. Reagan bổ nhiệm năm 1987 làm
Chủ Tịch của FED, giử chức đó gần 19 năm, đến năm 2006 dưới thời
T.T.George W. Bush mới về hưu. Nghĩa là đă làm Chủ Tịch Hội Đồng Quản
Trị FED với bốn T.T. mà trong lúc tại chức ông không bao giờ có họp báo,
không bao giờ cho phỏng vấn, tức là không có việc hỏi han chất vấn lôi
thôi.
H-:
Trở lại đồng dollar. Bây giờ tôi mới biết rằng CPLB chỉ có quyền đúc
coins, c̣n quyền phát hành giấy xanh là của FED, mà FED th́ bị các nhà
bank tư nắm. Vậy trong tổng số tiền của Mỹ, tỷ-lệ của mỗi thứ tiền là
bao nhiêu?
Đ-:
Tiền coin của CPLB đúc chỉ là lối một phần ngàn tổng số tiền của Mỹ,
cộng với tổng số tiền giấy xanh của FED phát hành, thành ra cái được gọi
là “tiền sờ thấy được” (tangible currency) chỉ có lối 10% tổng số tiền
được cung cấp (American Money Supply)
H-:
Sao kỳ vậy? C̣n 90% kia là tiền ǵ ở đâu ra?
Đ-:
Phần 90% c̣n lại là tiền ma (phantom money).
H-:
Tiền ma là tiền ǵ?
Đ-:
Là tiền không có thật, là tiền được tạo ra từ chỗ không có ǵ hết
(money created from nothing), do cái tṛ ảo-thuật cho vay (gọi là
“loan”) tạo ra.
H-:
Thật sự tôi không hiểu được.
Đ-:
Thực ra th́ cũng không có ǵ khó hiểu cho lắm. Tṛ ảo thuật tạo ra tiền
từ con số không (create money out of nothing) dựa trên cái gọi là
“fractional reserve banking” do đạo-luật tạo ra FED (Federal Reserve
Act) cho phép. Theo đó th́ khi mà nhà bank có trong kho của nó một số
tiền X là tiền thật (hồi xưa là vàng, bây giờ là giấy xanh) được coi như
là để dự-trữ (reserve), th́ nó có quyền phát ra 10 X (tức là có 9 X
tiền ma, không có bảo đảm reserve).
Thí
dụ như tôi gởi vào nhà bank trong checking account của tôi $ 10,000 th́
nhà bank để số tiền đó trong kho của nó như reserve, và nó có quyền phát
ra $100,000 (tức là trong đó có $ 90,000 là tiền ma, v́ không có reserve
bảo đảm) Cũng như thế, Anh B để vào bank trong saving account $ 20,000,
th́ nhà bank có quyền phát ra $200,000 (tức có $180,000 là tiền ma).
Tổng
cộng nhà bank có quyền phát ra $300,000 mà trong đó có $270.000 là tiền
ma. Rồi khi Anh C đến mượn nhà bank $300,000 (để mua nhà, sửa nhà hay
làm ǵ khác) th́ nhà bank cho ảnh mượn (dưới h́nh thức loan) $300,000
đó. Anh C sẽ trả cho nhà bank số tiền đó cộng với lời (x %) dưới h́nh
thức mortgage hằng tháng, trong 15 hoặc 30 năm chẳng hạn, bằng tiền
dollar thật, mà Anh C có được nhờ lương của Anh C, hoặc nhờ việc làm
(như pḥng mạch) của Anh. Tức là nhà bank, nhờ cái ảo-thuật của “loan”
đă “create money out of nothing”.
Thí
dụ trên là lấy cá nhân A, B, C làm mẫu, nên chỉ nói tới tiền với con số
ngàn, nếu là nhà buôn, là nhà hàng, là hăng, là cơ sở sản xuất, th́ tiền
phải là tới số triệu. Mà cả HCQHK có hằng bao nhiêu triệu cá nhân, nhà
buôn, hăng, xưởng v.v. cân tiền và phải vay tiền của nhà bank dưới h́nh
thức “loan” th́ không có ǵ lạ khi thấy rằng trong tổng số tiền cung cấp
cho nền kinh tế Mỹ (american money supply) năm 2005 là $9.7 trillion
trong đó tiền thật (tangible currency) chỉ có $ 1.4 trillion, c̣n $8.3
trillion là tiền ma. Và sau này nguyên tắc đó cũng được áp dụng cho
việc dùng credit card (Visa, Master Card, American Express v.v.) với một
lải xụất (% interest) c̣n cao hơn gắp bội.
II-
Một chút lịch sử.
H-:
Từ đâu, tại sao, và từ hồi nào mới có cái quái thai đó?
Đ-:
Anh nói là “quái thai” th́ cũng đúng, nhưng học giả Mỹ thường ví FED như
một con “Hydra”. Theo từ-điển Hydra là một con rắn có chín đầu (trong
thần thoại) hể chặt đầu này th́ nó mọc đầu khác, và nó có nhiều cái ṿi
(tentacles) rất dài để bắt mồi từ xa. FED (con hydra dưới h́nh thức
hiện tại) sanh ra nhờ cái Federal Reserve Act năm 1913 do Tổng Thống
Woodrow Wilson kư (về sau ông hối tiếc). C̣n từ đâu và tại sao có nó,
th́ phải xem lại hết cái lịch sử của HCQHK v́ trong dĩ văng nó cũng đă
bị chặt đầu nhiều lần, mỗi lần lại sống lại với một tên khác.
H-:
Anh có thể tóm tắt cho chúng tôi biết một chút không?
Đ-:
Tôi sẽ cố gắng tóm lược tối đa một câu chuyện dài mấy thế kỷ và chiếm
vài trăm trang trong mỗi sách nói đến chuyện ấy mà tôi có dịp đọc.
Ở Trung
học chúng ta học trong sách rằng HCQHK hồi xưa là 13 thuộc địa của Anh-quốc.
Đến năm 1774, để phản đối việc mẫu-quốc Anh đánh thuế vào trà (tea tax)
một buổi tiệc trà được tổ chức ở Boston (Boston Tea Party). Trong dịp đó
một số người Mỹ giả làm người Da-đỏ nhảy lên tàu chở trà và vất các
thùng trà xuống biển. Bị chánh quyền cai trị đàn áp, những đ̣an dân quân
được thành lập để chống trả lại, và Ông Benjamin Franklin triệu tập một
Hội Nghị gọi là Congress ở Philadelphia để đưa ra “Bản Tuyên Ngôn Quyền
Của Người Mỹ Có Đóng Thuế” (Delaration des Droits du Contribuable
Americain) năm 1774. Sau đó, với sự chiến thắng của đoàn dân quân của
Massachusetts, Congress cho ra Bản Tuyên Ngôn Độc Lâp (Déclaration
d’Indépendance ngày 4-7-1776.) Rồi dưới sự chỉ huy của Tướng George
Washington, quân Mỹ đánh thắng quân Anh dưới quyền Tướng Cornallis ở
Georgetown năm 1781, và theo Ḥa Ước Versailles năm 1785 Anh-Quốc công
nhận cho HCQHK độc lập.
Nhưng sau này một số học giả, sau khi đọc kỹ lại những tác phẩm của
chính ông Benjamin Franklin viết hồi thời ấy, mới thấy là sự thật phức
tạp hơn nhiều.
1-V́
không có tiền vàng hay bạc, nên kể từ năm 1691, các thuộc địa của Anh
trên đất Mỹ phát hành tiền giấy gọi là “Colonial Scrip” để trả lương
cho công chức và để cho dân xài trong việc mua bán trao đổi hàng hóa trả
tiền công v.v. Mà người chủ nhà in lại chính là Ông Benjamin Franklin,
người làm việc cho dân, v́ dân, không t́m cái lời cái lợi trong việc in
giấy bạc nên chỉ phát hành đúng theo nhu cầu, cần bao nhiêu th́ phát
hành bấy nhiêu, nên không cần lấy thuế của dân để chánh phủ có tiền, mà
không tạo ra sự lạm phát (inflation) hay sự kém phát (deflation) nên giá
vật và giá công (product and service) vẫn được đều ḥa và thăng bằng,
nhờ vậy mà các thuộc địa trở nên rất phồn thịnh, không có thất nghiệp,
không có ăn mày, trong lúc mà ở London của mẫu-quốc ngoài đường có đầy
ăn mày và người đi lang thang lêu lổng (The streets are covered with
beggars and tramps). Th́ các chủ nhà bank Anh (the British bankers)
lobby triều đ́nh, nên năm 1751, vua George II ra lệnh cấm các thuộc địa
phát hành tiền giấy, mà phải dùng tiền “coins” của mẩu-quốc (do các nhà
bank Anh đă hợp thành một thể dưới tên là Bank of England phát hành).
Vua George III kế vị vua cha từ năm 1752 giữ nguyên lệnh ấy. Th́ các
thuộc địa bị ảnh hưởng tai hại. V́ thiếu tiền coins (do mẩu quốc siết để
tạo sự kém phát deflation), người làm ruộng hay trồng tỉa không có đủ
tiền mướn người làm nên lúa không ai gặt, trái không ai hái. Người có
hăng xưởng không đủ tiền mướn thợ, hàng hóa không được sản xuất. Cả dân
trong một vùng đất rộng lớn của 13 thuộc địa bị nghèo đói không gia đ́nh
nào không bị ảnh hưởng, nên họ đứng lên chống đối chánh quyền và đó là
nguyên do sâu xa của cuộc Cách Mạng Mỹ năm 1774. Cái”Boston Tea Party”
chỉ là giọt nước làm tràn cái b́nh.
2-
Việc đầu tiên Congress làm là phát hành tiền giấy được gọi là “the
Continental” dưới h́nh thức IOU (I owe you.) nghĩa là giấy nợ mà Chánh
Phủ Cách Mạng cam kết sẽ trả lại bằng tiền coins (vàng hay bạc) sau này.
Lối chừng 200 triệu dollars dưới h́nh thức “continental scrip” được phát
hành để chi phí cho cuộc chiến giành độc lập. Th́ mẫu quốc phản ứng bằng
cách in tiền giả để đổ ào ạt vào thị trường các thuộc địa, gây ra môt
cuộc đại-lạm-phát, làm cho đến ngày độc lập tiền “the Continental” hầu
như không c̣n giá trị ǵ hết. Thế là mẫu-quốc thua trên chiến trường,
nhưng thắng trên mặt trận kinh tế (dính liền với tài chánh).
3-
V́ thấy tiền Continental gần như không c̣n giá trị, nên các nhà “Quốc
Phụ Lập Quốc (the Founding Fathers), không c̣n tin tưởng nơi giấy bạc,
nên trong Hiến Pháp được viết ra, các ngài không nói tới tiền giấy mà
ghi rằng Congress có quyền “coin money” (thay v́ “create money”) và có
quyền vay tiền dựa trên uy tín của chánh phủ (“and to borrow money on
the credit of the United States). Th́ các nhà bank của mẫu-quốc Anh cũ,
là các ngân hàng Anh quốc tư nhân; xâm nhập vào HCQHK tạo dựng US Bank
theo mẫu của England Bank. Mà England Bank từ thời thành lập cho đến
ngày hôm nay là do các nhóm tài phiệt tư nhân gốc gác Ḥa-Lan
(Amsterdam) nắm và chính các nhóm này xâm nhập vào hệ thống US Bank,
khai thác lỗ hở to tát đó (the enormous loophole) mà nói rằng chiếu theo
Hiến Pháp chánh phủ chỉ có quyền phát hành coins, và nhà bank có quyền
phát hành tiền giấy. V́ tiền coins th́ cồng kềng và quá nặng khi cần tới
nhiều, nên nhà bank in giấy cam két sẽ trả lại đúng số coins (bằng vàng
hay bạc) ghi trên giấy, th́ dân chấp nhận coi những giấy ấy như là tiền.
4-
Rồi với thời gian qua, các nhà bank để ư rằng rất ít người trở lại nhà
bank để đ̣i lấy lại đồng tiền coins. Trung b́nh hằng năm chỉ có độ 10%
người làm việc đó, c̣n 90% người c̣n lại th́ không bao giờ thấy đến đ̣i
lấy lại tiền coins. Th́ nhà bank nghĩ rằng ḿnh có thể phát hành thêm
90% nữa mà không sao. Đó là nguồn gốc của cái gọi là “fractional
reserve” dẫn tới việc phát hành tiền ma.
5-
Tổng Thống Thomas Jefferson (1801-1809) vị T.T. thứ ba của Mỹ thấy cái
nguy hại cho đất nước và gọi liên đ̣an các nhà bank (the banking cartel)
là ”một con quái vật ăn thịt ngưởi có cái đầu của con hydra” và Ông nói
rằng “Nếu dân Mỹ để cho nhà bank kiểm soát việc phát hành tiền tệ của
ḿnh, th́ trước hết bằng sự lạm phát (inflation) rồi bằng sự kém phát
(deflation) các nhà bank và các công ty (corrporations) sẽ phát triển và
tước đoạt hết tài sản của dân, th́ con cháu chúng ta sẽ thức dậy vô
gia-cư, trên cái lục địa mà cha mẹ của chúng đă chiếm được.” Nên năm
1811 Congress không chấp nhận tái bản cho đặc quyền (renew the charter)
cho First U.S.Bank. Th́ chiến tranh với Anh quốc (the War of 1812) bùng
nổ. Chiến tranh đưa quốc gia đến sự lạm phát (inflation) và nợ nần
(debt). V́ những lư do đó, Tổng Thống James Madison (1809-1817) vị T.T.
thứ tư của Mỹ, phải kư một đặc quyền 20 năm (a twenty year charter) cho
Second Bank of The United States vào năm 1816.
6-
Tổng Thống Andrew Jacksaon (1829-1837) vị T.T. thứ 7 của Mỹ veto dự luật
của Congress cho phép tiếp tục ban đặc quyền cho Second Bank of the
United States. Trong bản veto Ông viết:” Không có cái ǵ nguy hại cho sự
tự do và độc lập của chúng ta hơn là khi mà hệ thống nhà bank nằm trong
tay của người ngoại quốc. Kiểm soát tiền tệ của chúng ta, lấy tiền của
dân ta, và bắt giữ cả ngàn công dân của chúng ta phải lệ thuộc, th́ c̣n
đáng sợ hơn và nguy hiểm hơn là một thủy binh hay một quân đội của
địch”.
Nhưng Ông cũng biết cái veto chỉ là bước đầu của cuộc chiến với nhà bank
nên Ông nói: “ Con hydra của sự đồi bại mới bị chận lại chớ chưa
chết”. Ông ra lệnh cho Ông Tổng Trưởng Tài Chánh (Treasury Secretary)
mới của Ông, chuyển hết tiền deposits của chánh phủ từ Second US Bank
qua các nhà bank của Tiểu Bang (state banks) th́ ông này từ chối không
làm. Ông T.T. cách chức ông ấy, và bổ nhiệm một người khác Ông này cũng
từ chối không làm th́ T.T. Jackson bổ nhiệm người thứ ba, Ông này thi
hành lệnh nên T.T. Jackson vui mứng mà nói: “ Tôi đă trói được con quái
vật rồi” Nhưng ông chủ nhà Bank, lobby được Senate không chấp thuận
người được
Tổng Thống bổ nhiệm và gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế với việc siết
chặt sự cung cấp tiền, để tạo ra một sự kém phát (deflation) bằng cách
hồi (call in) các “loan” cũ, không cho thêm “loan” mới, nên một sự
hoảng hốt tài chánh (a financial panic) xẩy ra trong dân chúng, th́ báo
chí lại đổ tội vào đầu Tổng Thống Jackson. Nhưng may thay Ông Governor
của Pennsylvania (là nơi có trụ sở của nhà bank) xuất hiện để ủng hộ T.
T. Jackson và phê b́nh nhà bank rất gắt gao và kế hoạch làm lũng đọan
kinh tế của nhà bank bị phơi bày trước công chúng.
Cho
nên đến tháng 4- 1834 Hạ Viện (House of Representatives) với 134 phiếu
thuận và 82 phiếu chống, đă hủy bỏ việc tái bản đặc quyền (rechartering)
cho Second U.S.Bank. Đến tháng 1- 1835 th́ T.T. Jackson trả được hết
các nợ của chánh phủ. Rồi ngày 30-1- 1835, khi T.T. Jackson đến Capitol
để dự tang lễ của Dân-biểu Warren R. Davis của South Carolina th́ ông bị
mưu sát bởi một tên thợ sơn “điên”(?) núp trong rotunda cách Ông có sáu
feet bắn hai phát đều trật. Nhưng sau khi T.T. Jackson đóng cửa nhà
bank trung ương (Central Bank) th́ tiền giấy được dùng là những
banknotes của của các nhà banks tư của các Tiểu Bang, hứa sẽ trả lại
bằng vàng hay bạc chớ không phải là tiền của quốc gia (national
currency).
7-
Sau T.T. Jackson, ông tổng thống dám đánh con hydra tiền tệ là T.T.
Abraham Lincoln (1861-1865), vị T.T. thứ 16 của Mỹ. Liền sau khi Ông đắc
cử và trước khi Ông nhậm chức th́ Nội Chiến Nam-Bắc (The Civil War) bùng
nổ (1860) v́ vấn đề “Nô-lệ” (Slavery). Các nhà bank của vùng Đông (tức
là thuộc về Union) đề nghị cho chánh phủ vay $150 triệu với bách phân
lời quá nặng từ 24 tới 26%. T. T. Lincoln từ chối và quyết định chánh
phủ sẽ in tiền lấy. Tiền in ra có tên chính thức là “United Note’ nhưng
dân chúng quen gọi là “Greenback” v́ phía sau in bằng mực màu xanh lá
cây. Tiền được quan niệm không phải là một giấy nợ (IOU) với cam kết trả
lại bằng vàng hay bạc, mà là một tờ giấy chứng nhận công lao cho xă hội.
Công lao sản xuất (product) từ lúa gạo, trái cây cho tới vải sồ và vật
dụng, công lao dịch vụ (service) từ thợ, cai, đến giám đốc, công lao bảo
vệ an ninh trật tự, và ǵn giữ đất nước, từ lính cảnh sát đến lính và
quan trong quân đội, công lao điều khiển bộ máy cai trị, từ thư kư đến
giám đốc đến nguyên thủ quốc gia. Lănh lương là lănh giấy chứng nhận
công lao, để mua thức ăn đồ dùng là trao giấy chứng nhận công lao của
ḿnh để nhận lấy món hàng được sản xuất với công lao tương đương của
người bán.
V́
tiền được in ra vừa đúng nhu cầu của dân, cho dân, và v́ dân, chớ không
phải cho hay v́ tư lợi nào hết, cũng như hồi thời Ông Benjamin Franklin
lúc Hoa kỳ c̣n là 13 thuôc địa phồn thịnh, nên trong có bốn năm tại chức
mà ngoài việc chiến thắng lọan Miền Nam được Anh giúp tiền, và việc giải
phóng bốn triệu người nô lệ, T.T. Lincoln đă thực hiện cho nước Mỹ những
công tác vĩ đại như: xây dựng và vơ trang một quân đội lớn nhứt thế
giới lúc bấy giờ, biến Hoa-kỳ thành một nước kỹ-nghệ khổng lồ
(industrial giant), kỹ nghệ thép (steel industry) được thành lập, một hệ
thống hỏa-xa xuyên lục-địa được xây dựng, Bộ Canh Nông được thành lập để
thúc đẩy việc chế tạo máy và dụng cụ làm ruộng rẻ tiền, một hệ thống đại
học miễn phí được thành lập nhờ Land Grant College System, lập lên
những bộ máy hành chánh cho các vùng Miền Tây, tăng mức sản xuất lao
động (labor productivity) lên từ 50 đến 75 %. Tất cả những việc ấy thực
hiện được là nhờ có một việc rất giản dị là chính chánh phủ phát hành
tiền. Tức là cái đầu của con hydra tiền tệ đă bị T.T.Lincoln chặt.
Nhưng đến ngày 14-4-1865, th́ một kịch-sĩ tên là John Wilkes Booth ám
sát T.T. Lincoln trong lúc Ông đang xem tuồng hát Our American Cousin
trong rạp hát Ford’s Theatre ở Washington. Thế là con hydra lại có cơ
mọc đầu lại. Và đầu nó mọc lại thật, v́ dân vẫn thích có tiền vàng nên
tiền greenback mất giá dần dần đối với đồng tiền dollar vàng. Th́ các
nhà bank phát hành banknotes bảo đảm trả lại bằng vàng. Dân chúng tin
nên dùng những banknotes đó như tiền thật, cho tới năm 1913 th́ một con
hydra mới xuất hiện nhờ luật Federal Reserve Act 1913.
III-
Tân hydra chào đời.
H- :
Tai sao có Luật đó?
Đ-: V́
năm 1907 xẩy ra một cuộc “Kinh Khủng Tài Chánh” (a Financial Panic)
nên năm 1908 T.T.Theodore Roosevelt (1901-1909), vị T.T. thứ26 của Mỹ,
cho thành lập cái National Monetary Commission để chỉnh đốn vấn đề tài
chánh. Chủ tịch của Commission đó là Ông Nghị Sĩ Nelson Aldrich (bên
ngoại của David Rockefeller Sr.). Ông Aldrich dẫn cả commission đi tour
sang Âu-châu để nghiên cứu trong ṿng hai năm. Rồi khi trở về, Ông lập
lên, một cách ḥan ṭan bí mật, một nhóm bị gọi là “The First Name Club”
v́ cấm triệt để không được nhắc tới Last Name để cho đầy tớ và người
làm, dù có nghe trộm được cũng không biết là ai, để nói lại cho người
ngoài và báo chí biết là có những ai. Nhóm đó gồm có một số người được
chọn lọc rất cẩn thận trong giới tài chánh và ngân hàng. Trong số đó
người sẽ đóng vai quan trọng nhất là Ông Paul Warburg (1868-1932) người
gốc Đức di cư sang Mỹ năm 1904, được quốc tịch Mỹ năm 1911, và là thành
viên của ngân hàng Kuhn, Loeb and Company Bankers ở New york (thuộc vào
tài sản của Rothschild).
“First
Name Club” được triệu tập đến một ḥn đảo nhỏ bé, riêng biệt và vắng vẻ
có tên là đảo Jekyll Island, ở Georgia, họp trong chín ngày liên tiếp,
để viết một dự luật cải tổ hệ thống nhà bank và luật pháp tiền tệ (the
banking and currency legislation) sẽ tŕnh cho Congress.
H-:
Trong dự luật có cái ǵ là đặc biệt?
Đ-: Có
rất nhiều cái đặc biệt. Trước hết là cái tên: v́ dân đă quá ghét. nên
phải tránh cho kỳ được cụm-từ “Central Bank “ rồi phải làm sao cho dân
tưởng rằng cơ quan này là của chánh phủ, do nhân viên chánh phủ điều
khiển v́ vậy mà có danh từ “Federal” và “Reserve“ (chớ không phải là
Central Bank) và có Governing Board mà ông chủ tịch là do T.T. bổ
nhiệm, và trong đó có hai nhân viên chánh phủ, mà trong thực tế th́
Governing Board không có điều khiển được chánh sách của cơ quan. Rồi
phải dùng những danh từ mờ ám khó hiểu để che giấu thực ư: như trong Lời
Mở Đầu (Preamble) của dự luật nói: Mục đích của luật là để cho FED có
thể “cung cấp một thứ tiền co dăn” (to furnish an elastic currency)
nghĩa là ǵ?
Trong
thực tế nghĩa là tiền mà nhà bank đă có th́ nhà bank có thể, tùy nghi,
thổi phồng lên. Rồi như danh từ “tái chiết khấu “(rediscounting) nghỉa
là ǵ? Trong thực tế nghĩa là: một kỹ thuật cho phép nhà bank dùng để
tăng gia tiền hiện có trong quỹ của nó, bằng cách cho vay thêm mà không
cần chờ cho tới khi các loan trước hết hạn. Kết quả là Luật cho phép một
nhà bank trung ương tư (a private central bank) tạo ra tiền từ chỗ không
có ǵ hết (create money out of nothing) rồi cho chánh phủ vay số tiền đó
để lấy lời và kiểm soát sự cung cấp tiền cho quốc gia bằng cách bơm
pḥng nó lên hay hút bớt nó xuống tùy theo ư muốn (control the national
money supply, expanding or contracting it at will.)
H-: Thế
mà không có Ông Nghị sĩ hay Dân biểu nào thấy sao?
Đ-: Có
chớ. một số thấy và la làng lên .Như ở Hạ Viện Dân Biểu Charles
Lindbergh Sr. (bố của phi công trứ danh Lindbergh) nói:” Luật tạo ra FED
là một cái tội pháp luật tệ hại nhứt của mọi thời đại Hệ thống tài
chánh đă bị lật lại cho một nhóm ngừơi chỉ có biết lợi dụng Hệ thống là
của tư-nhân, được hướng dẫn về mục tiêu duy nhứt là lấy cho được những
cái lợi tối đa từ việc xử dụng tiền của người khác “.
Và cũng
c̣n một số dân biểu và nghị sĩ khác nữa la làng lên nhưng họ không đủ để
đánh bại số dân biểu và nghị sĩ đă bị mua chuộc, đúng như lời của một
người trong nhóm Rothschild ở London nói với một hội-viên của nhà bank ở
New York ngày 25-6-1863 rằng: “Số nhỏ người hiểu cái hệ thống là ǵ,
th́, hoặc là v́ thấy có lợi cho ḿnh, hoặc là v́ đă tùy thuộc vào những
ân huệ đang được hưởng, nên sẽ không có sự chống đối từ những hạng người
đó. C̣n nhóm đa số người không có đủ trí khôn để hiểu, th́ sẽ chịu cái
gánh nặng mà không than phiền”
Bởi vậy
cho nên ngày 18-9-1913, dự luật được Hạ Viện chấp thuận với 287 phiếu
thuận và 85 phiếu chống, rồi lên Thượng Viện th́ ngày 19-12-1913, dự
luật được chấp thuận với nhiều sửa đổi bằng 54 phiếu thuận và 34 phiếu
chống. Đến đây lại có một việc lạ nhứt chưa bao giờ xẩy ra trong lịch
sử của HCQHK, là trong cái bản văn của dự luật ở Hạ Viện có cho tới 40
điểm mà Thượng Viên không đồng ư nên đă sửa lại. Th́ sau khi Thượng
Viên biểu quyết, hai Viện phải ngồi chung lại để sữa lại sao cho cả hai
bên đều đồng ư. Thế mà việc đó được thực hiện chỉ có trong một
weekend. Cho nên ngày Thứ Hai 22-12-1913 dự luật được biểu quyết ở Hạ
Viện với 282 phiếu thuận và 60 phiếu chống rồi cùng ngày, sang Thượng
Viện được chấp thuận luôn với 43 phiếu thuận và 23 phiếu chống. Và T.T.
Woodrow Wilson (1913-1921), vị
T.T.thứ
28 của Mỹ kư thành Luật ngày hôm sau Thứ Ba 23-12-1913.
Tất cả
những việc ấy xẩy ra một cách hết sức mau lẹ và trái ngược với tục lệ và
truyền thống của Quốc Hội và của Chánh Phủ Mỹ là không bao giờ Lập Pháp
Congress (Thượng và Hạ Viện) thảo luận và biểu quyết một Dự Luật vào
lúc gần Noel, để cho Congress “recess” (thường thường là kể từ 15, 17
Dec.) và các Nghị Sĩ và Dân Biểu về quê của ḿnh ăn mừng Christmas và
New Year, và không bao giờ Hành Pháp (Chánh Phủ) kư một Đạo Luật vào
Noel để cho T.T. về nhà riêng hay “ranch” của ḿnh ăn mừng Christmas và
New Year. Thế mà kỳ này Thượng Viên hợp lại, thảo luận, và biểu quyết
ngày Thứ Sáu 19 Dec. Rồi cả hai viện làm việc với nhau weekend 20-21
Dec, để ngày Thứ Hai 22-Dec cả hai viện, hợp lại, thảo luận và biểu
quyết dự luật, và ngày Thứ Ba 23 Dec. T.T. kư thành Luật.
Dân
Biểu Lindbergh nói ở Hạ Viện: “Dự luật này thành lập cái “trust” khổng
lồ nhất trên thế giới. Khi mà T.T. kư cái dự luật này (thành Luật), th́
cái chánh phủ vô h́nh của Mănh Lực Tiền Tệ sẽ được hợp-pháp-hóa. Dân
chúng có thể không biết chuyện đó ngay, nhưng mà rồi sự biết được chuyện
chỉ được dời lại vài năm sau mà thôi”. Trong lúc đó th́ báo chí (đă ở
trong tay của “Mănh Lưc Tiền Tệ”) th́ ca tụng hết lời. Báo New York
Times viết bằng chữ lớn ở trang đầu: “Tổng Thống Wilson kư Dự Luật Tiền
Tệ Sự phồn thịnh được tự do và sẽ giúp mọi giai câp.
H-: Thế
là con hydra được khai sanh là đứa con hợp pháp của HCQHK để lớn lên với
đất nước?
Đ-: Hay
đúng hơn th́ phải nói “để lớn lên với đứa em song thai”.
H-:
Nói ǵ lạ vậy, đứa em song-thai nào?
Đ-: Khi
nhóm của Nghị Sĩ Nelson Aldrich có Ông Paul Warburg chuẩn bị viết dự
luật FED để tŕnh cho Congress, họ đă tiên đóan rằng với sự áp dụng luật
này th́ CPLB sẽ mắc nợ FED càng ngày càng nhiều nên phải tím cách làm
sao cho phép chánh phủ đánh thuế vào dân để có tiền trả nợ cho FED. th́
họ kèm theo dự luật FED một Tu-Chỉnh Hiến Pháp (là the Sixteenth
Amendment) cho phép CPLB đánh thuế income tax vào dân. Lúc ấy bản văn
của Tu-Chỉnh chỉ có một trang giấy và nguyên Bộ Luật về thuế má chỉ có14
trang mà bây giờ th́ nó dày đến 17,000 trang, cũng như nợ của chánh phủ
do FED gây ra lớn lên từ số không cho tới bây giờ là $8.5 trillion.
H-: Bộ
trước đó dân không phải đóng income tax cho CPLB sao?
Đ-:
Không, trước 1913, dân chỉ đóng thuế income cho Tiểu Bang của ḿnh mà
thôi.
H-: Đă
được hợp-pháp-hóa rồi, con hydra c̣n phá phách ǵ nữa không?
Đ-:
Nói là phá phách th́ không hẳn là phá phách, nhưng khi được hợp-pháp-hóa
rồi th́ FED hoạt động tích cực hơn, nên gây tai nạn cho dân.
H-:
Tai nạn ǵ?
Đ-:
Cuộc Đại Khủng Hoảng (The Great Depression) năm 1930.
H-:
Bằng cách nào?
Đ-:
Bằng cách tạo ra tiền “out of nothing” qua tṛ ảo-thuật “loan”. Để
khuyến khích dân vay tiền, nên FED hạ thấp bách phân lời (% interest)
th́ dân ùn ùn vay loan và loan để có tiền tiêu xài thả ga. Th́ nhà bank
thảy vào nền kinh tế quốc gia một số tiền khổng lồ, tạo ra một cuộc lạm
phát (inflation). Rồi nói là để kềm hảm sự lạm phát, th́ lại siết chặt
việc cung cấp tiền, thu hồi các loan đả phát ra, không cho vay loan mới,
th́ dân thiếu nợ phải vội vàng bán nhà cửa ruộng đất để trả nợ, nên
những người có liên hệ với “Mănh Lực Tiền Tệ (Monetary Power) có tiền
mua những bất động sản ấy với giá rẻ mạt. C̣n con cháu những người thiếu
nợ th́ trở nên vô gia cư vô nghề nghiệp đi lang thang thất thểu ngoài
đường như hồi Mỹ c̣n là 13 thuộc địa dưới thời các vua George II và vua
George III, trước ngày Cách Mạng Mỹ (American Revolution) năm 1774.
Nhưng nhờ chánh sách “New Deal” của T.T.Franklin D.Roosevelt (1933-1945)
vị T.T. thứ 32 của Mỹ, và việc lập lên cái FDIC (Federal Deposit
Insurance Corporation) mà t́nh thế trở lại yên ổn. Giáo sư Milton
Friedman, Nobel Prize về kinh tế, viết: “Nhứt định là FED đă gây ra cuộc
Đại Khủng Hoảng v́ thu rút lại một phần ba (1/3) số tiền đang lưu hành
từ năm 1929 tới năm 1930”.
C̣n
Ông Louis T. McFadden Chủ tịch The House Banking and Currency Commttee,
th́ nói: “Cuộc khủng hoảng không phải là bất ngờ ngẫu nhiên mà là một
việc được trù liệu rất cẩn thận … Những chủ nhà bank quốc tế t́m cách
đem đến đây sự thất vọng để rồi họ có thể trở thành nhưng kẻ ra lệnh cho
tất cả chúng ta”
H-:
Thế rồi kể từ đó không có Ông T.T. nào dám đụng tới FED nữa?
Đ-:
Có chớ, T.T. John F. Kennedy, (1961-1963) vị T.T. thứ 35 của Mỹ. Ngày
4-6-1963 T.T. Kennedy kư một Hành Pháp Lệnh (an Executive Order số
11110) cho phép CPLB phát hành tiền mà không phải qua FED bằng cách cho
phép Bộ Tài Chành The Treasury phát hành những giấy chứng nhận bạc đối
với mọi thoi bạc, bạc, hay là mọi dollar dựa trên bản vị bạc của Bộ (the
power to issue silver certificates against any silver bullion, silver or
standard silver dollars in the Treasury) Nghĩa là một khi Bộ Tài Chánh
có trong kho một ounce bạc nào, th́ Bộ có quyền phát hành ra một giấy
bạc để lưu
hành trong nền kinh tế. Như vậy T.T.Kennedy đă tung ra $4.3 tỷ dollars
cho lưu hành. Th́ FED bank của New York sẽ phá sản, v́ dân chúng biết
rằng các giấy chứng nhận bạc (silver certificates) của Chánh Phủ được
bạc yểm trợ (backed by silver) chớ giấy bạc của FED (Federal Reserve
Notes) không có cái ǵ yểm trợ hết. Lệnh số 11110 nói trên c̣n giúp
chánh phủ trả hết nợ của ḿnh mà không phải qua FED để trả tiền lời, do
FED tạo ra tiền out of nothing. Tức là trên thực tế Lệnh sô 11110 cho
CPLB quyền tạo ra tiền của ḿnh có bạc yểm trợ, đúng theo Điều I, Phần 8
của Hiến Pháp Hoa Kỳ.
Năm
tháng sau, ngày 22-11-1963, T.T.Kennedy bị tên Lee Harvey Oswald ám sát
và tên này hai ngày sau bị Jack Ruby (Rubenstein) giết chết trong Dallas
Police Station.
H-:
Như thế th́ phải chăng là một nhóm tài phiệt cai trị xứ này v́ người ta
hay nói: “Ai nắm được tiền là nắm được quyền” phải không?
Đ-:
Tôi không dám trả lời là phải hay là không (yes or no) v́ tôi không đọc
được sách nào nói rơ là đă có một ṭa án nào kết án một người nào trong
giới Mănh Lực Tiền Tệ (the Monetary Power) hay một vị nào trong nhóm
những Nam Tước Trộm Cắp (the Robber Barons) về tội dùng tiền của ḿnh
mua được quyền thế. Cho nên tôi xin để cho quư bạn đọc mỗi người kết
luận theo ư kiến của ḿnh.
Tôi
chỉ xin phép nhắc lại lời nói của Ông Nathan Rothschild hồi năm 1838:
“Để cho tôi phát hành và kiểm soát tiền của một quốc gia, th́ tôi cóc
cần biết ai viết luật pháp”, và tôi cũng xin phép nhắc lại số phận của
những vị Tổng Thống đă có gan dám chặt đầu con hydra tiền tệ: T.T.Andrew
Jackson bị mưu sát, T.T.Abraham Lincoln và T.T.John F.Kennedy bị ám sát.
Tài
liệu được tham khảo:
The
Web of Debt by Ellen Hodgson Brown, nxb Third Millennium, Baton Rouge,
2007
http://www.webofdebt.com
The
Secrets of the Federal Reserve by Eustace Mullins nxb Bankers Research
Institute Staunton, 1993
Modern Money Mechanics published by the Federal Reserve Bank of Chicago,
now out of print:
http://landru.i-link-2.net
The
Federal Reserve is a privately owned corporation by Thomas D. Schauf.
11-28-98 in
http://www.apfn.org/
NLV
|