*VẤN ĐỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VIỆT SỬ*
Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu
Phần I: Sách sử thời Trung cổ trở về trước
Phần II: Việc Nghiên Cứu Thời Cận Đại (1800-1975)
Phần III. Việc nghiên cứu thời Hiện Đại
Phần phụ lục
II. VIỆC NGHIÊN CỨU THỜI CẬN ĐẠI (1800-1975):
Giai đoạn trước 1975, việc nghiên cứu sử học đă có nhiều nguồn tư
liệu hơn
để làm việc. Tài liệu đáng tin cậy nhất, dĩ nhiên, là tài liệu văn
khố.
Nhiều nhà nghiên cứu sử học chuyên nghiệp đă sử dụng tài liệu văn
khố Pháp,
Mỹ và Liên Sô. Mới đây, văn khố Hội truyền giáo Hải ngoại cũng đă mở
rộng,
sau nhiều thập niên “cho người chết ngủ yên.” Ngoài ra, người ta có
thể sử
dụng các báo chí đương thời xuất bản tại Đông Dương, Nga, Trung Qu
ốc, Nhật,
hay Hong Kong. Một số hồi kư bằng Hán ngữ, Pháp ngữ, Anh ngữ và Việt
ngữ
cũng có thể sử dụng.
A. TÀI LIỆU VĂN KHỐ:
Văn khố có nhiều loại. Chính yếu và quan trọng nhất là những tài
liệu do
chính quyền thu thập và soạn thảo, được lưu trữ và bảo quản để tiện
theo dơi
sự thi hành các chính sách hoặc kế hoạch hoạt động thuộc mọi ngành.
Đây là
những tài liệu cực kỳ quan trọng cho các nhà nghiên cứu. Mỗi cơ quan
chính
phủ đều có một văn khố. Những tổ chức, hội đoàn có cấu trúc chặt chẽ
như Hội
Truyền Giáo, nghiệp đoàn hàng hải, v.. v... cũng có văn khố riêng.
Mỗi nhân
vật tên tuổi cũng vậy. Mặc dù các viên chức hành chính hay quân sự,
hay các
tác nhân có thẩm quyền, v́ những lư do dễ hiểu, đôi khi chủ quan,
hoặc v́ áp
lực thư lại, có thể không viết hết sự thực, nhưng những kẽ hở này có
thể
loại bỏ hoặc bổ túc bằng các tài liệu khác, theo phương pháp tỉ đối
(tức so
sánh) và tổng hợp.
Ngoài ra, c̣n những thủ bút của các tác nhân lịch sử mà tính chất
khả tín
khó ai có thể bài bác. Hai lá thư xin nhập học trường Thuộc Địa của
Nguyễn
Tất Thành năm 1911, hay thư Giám mục Ngô Đ́nh Thục gửi Toàn quyền
Jean
Decoux ngày 21/8/1944 van xin Decoux nghĩ đến công lao hăn mă của
Ngô Đ́nh
Khả và họ Ngô mà nhẹ tay với Ngô Đ́nh Diệm, Khôi, Nhu, v.. v.. chỉ
là vài
thí dụ cụ thể. Toàn bộ báo cáo của Giám mục Paul Puginier gửi các
viên chức
thuộc địa Đông Dương tại Văn khố Hội Truyền giáo Hải ngoại Pháp là
một thí
dụ khác. Bởi thế, với những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, tư liệu
văn khố
được xếp loại ưu tiên và khả tín hàng đầu.
Văn khố Việt không được bảo quản cẩn thận. Bởi thế không những một
số “Châu
Bản” nhà Nguyễn bị mục nát dần, mà ngay tư liệu của các chế độ Quốc
Gia Việt
Nam, Việt Nam Cộng Ḥa cũng chịu chung số phận. Những tư liệu của
Đảng CSVN,
dĩ nhiên, chưa và có thể không bao giờ được giải mật. Thí dụ như
những điện
tín và văn thư giữa Bắc Kinh và Tuyên Quang-Thái Nguyên trong các
chiến dịch
Biên Giới (9-10/1950) hay Điện Biên Phủ (1953-1954) vẫn là tài liệu
quốc
cấm–và, sau hơn nửa thế kỷ, các nhà nghiên cứu mới chỉ có được những
“hồi
kư” của Trần Canh, Vơ Nguyên Giáp, hay La Quí Ba , v.. v... Đó là
chưa nói
đến những mật điện và tài liệu về những chuyến đi Nga 1950, 1952,
1954 của
Hồ Chí Minh.
Mới đây đă có nỗ lực gửi các chuyên viên Việt ra ngoại quốc học tập
thêm về
kỹ thuật bảo quản và tổ chức văn khố. Hy vọng sẽ có những tiến triển
tốt đẹp
hơn. Ngoài ra, theo một học giả Nga, Anatoli Sokolov, văn khố Đảng
Cộng Sản
Việt Nam làm được nhiều microfilm tư liệu tàng trữ tại các văn khố
Nga và
Pháp.
Do t́nh huống đặc biệt của Việt Nam, nơi nhiều siêu cường đă có mặt,
tùy
theo giai đoạn người ta có thể nghiên cứu thêm ở các văn khố Pháp,
Mỹ,
Bri-tên, Nga và Trung Qu ốc. Trong giai đoạn trước 1945, nguồn tư
liệu quan
trọng là văn khố Pháp, Nga, Trung Qu ốc, và Bri-tên.
Giai đoạn từ 1945 tới 1975 cũng vậy. Quan trọng nhất vẫn là tài liệu
văn khố
Pháp, Mỹ, Nga, Trung Qu ốc và Bri-tên. Tuy nhiên, một số tư liệu
trong giai
đoạn này vẫn chưa giải mật. Cho đến năm 2001, chẳng hạn, văn khố Mỹ
mới chỉ
mở tới năm 1971. Mặc dù mỗi năm đều có thêm tư liệu giải mật, nhưng
có những
tài liệu vẫn chưa được tham khảo. Thí dụ như tư liệu về cuộc đảo
chính 1963
tại Thư viện John F. Kennedy chưa mở hết, đặc biệt là các công điện
và báo
cáo của Henry Cabot Lodge. Thư viện Gerald Ford đă giải mật một số
hồ sơ về
cuộc sụp đổ của Việt Nam Cộng Ḥa–như báo cáo của Tướng Frederick
Weyand
ngày 9/4/1975, một số công điện của chiến dịch Frequent Wind—nhưng
trên đại
thể chưa đủ để dựng lại một bức tranh toàn diện. Văn khố Pháp th́
nhiều tài
liệu trong giai đoạn 1945-1954 phải chờ tới năm 2009-2010 hoặc có
thể lâu
hơn mới được tham khảo. Tài liệu Bộ Ngoại Giao cũng mới mở đến năm
1964. Tư
liệu về Trần Đ́nh Lan chỉ giải mật năm 2029! Tài liệu Nga và Trung C
ộng, v́
được xếp hạng là liên quan đến an ninh quốc gia, hầu như không mở ra
cho các
học giả ngoại quốc.
Tại Mỹ, ngoài các Văn khố Quốc Gia, Văn khố các Bộ và nha sở, Văn
khố các
binh chủng, c̣n văn khố tại các thư viện Tổng thống Mỹ. Đây là nơi
tập trung
các tư liệu có yếu tố quyết định cho chính sách ngoại giao cũng như
nội trị
của mỗi Tổng thống. Muốn có được một bộ sử chính xác về chiến tranh
Việt
Nam, không thể không làm việc tại các văn khố này; đặc biệt là các
thư viện
Dwight D. Eisenhower, John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, Richard
Nixon,
Gerald Ford và Jimmy Carter. Cho tới nay, tôi thường làm việc tại
Văn khố
Lyndon B. Johnson, trong khuôn viên Đại học Texas ở Austin, Texas.
Hầu như
mỗi năm đều ghé qua một lần. Được tham khảo và làm phóng ảnh khá
nhiều tư
liệu đă từng công bố trong các tập Mậu Thân 68: Thắng hay Bại? (in
lần thứ
hai) và 55 Ngày & 55 Đêm: Cuộc sụp đổ của Việt Nam Cộng Ḥa (in lần
thứ 5)
dưới bút hiệu Chính Đạo. Toàn bộ những tư liệu văn khố trên sẽ được
phổ biến
đầy đủ hơn trong tập Việt Nam Niên Biểu I-D: 1964-1968, và nhất là
bộ The
Vietnam War, 1945-1975: Lost or Won? [Chiến Tranh Việt Nam,
1945-1975: Bại
Hay Thắng?] bằng Anh ngữ, hoàn tất đă lâu, nhưng c̣n cần những hiệu
đính nho
nhỏ về chi tiết mỗi khi có tư liệu mới giải mật.
Bất cứ ai muốn tái tạo lịch sử cận đại Việt một cách tương đối trung
thực
không thể không làm việc tại Thư viện LBJ. Theo sự hiểu biết của tôi,
chỉ
riêng cựu Đại tá Phạm Văn Liễu, chẳng hạn, đă có hàng chục tư liệu
chưa được
bạch hóa. Có lẽ chính ông Liễu cũng chẳng rơ lư do khiến ông bị cách
chức
Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia vào ngày 8/4/1966 (dù măi tới ngày
21/4/1966
mới được công bố): Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia đă buộc tội ông Liễu
tiếp tay
cho cuộc tranh đấu miền Trung của Phật Giáo và Lực Lượng Tranh Thủ
Tự Do
(3-6/1966) v́ một công điện kư tên giả mà ông Liễu chẳng bao giờ
nhận được.
Lănh tụ “Baby Turks” Nguyễn Ngọc Loan đă chết, nhưng Tướng Nguyễn
Cao K ỳ,
cựu Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (1965-1967), có thể giải
thích thêm
việc này.
Trường hợp hai Tướng Huỳnh Văn Cao và Tôn Th ất Đính cũng vậy. Tướng
Cao
không bị chỉ định mà t́nh nguyện ra Đà Nẵng thay Tướng Đính làm Tư
lệnh Quân
đoàn I. Tướng Đính th́ có những lời tuyên bố khiến ông phải hối hận,
sau
này. Riêng Thượng Tọa Thích Trí Quang, giống như tôi đă tŕnh bày
trong tập
Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967, là nạn nhân của chính
ông. Người
Mỹ hiểu rằng Thượng Tọa Trí Quang không là Cộng Sản, và cái mũ Cộng
Sản đă
bị những người Ki-tô cuồng tín–nhất là tàn dư Cần Lao-Nhân Vị của
Ngô Đ́nh
Nhu-Ngô Đ́nh Cẩn–và ngay cả các cán bộ Cộng Sản, chụp lên đầu ông.
Thượng
Tọa Trí Quang, qua những tin t́nh báo nhận được ở Ṭa Bạch Cung, có
tới ba
loại người thù: Cộng Sản, Ki-tô cuồng tín hiếu chiến kiểu Trung C ổ,
và phe
kiêu binh, đại diện bằng những Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao K ỳ,
Nguyễn Ngọc
Loan, Nguyễn Bảo Trị. Khi chính phủ Johnson, qua đề nghị của nhóm
Edward
Lansdale và Bill Colby, quyết định cho giới Ki-tô trở lại thống trị
chính
trường miền Nam từ năm 1967-1968, ngày tàn giấc mộng kê vàng “quốc
sư” của
Thượng Tọa Trí Quang bắt đầu. Ngay đến Linh mục Hoàng Quỳnh, người
chủ
trương ḥa đồng tôn giáo để chống Cộng, cũng bị nhóm Đại Đoàn Kết
của Nguyễn
Gia Hiến loại bỏ v́ “đă già, mềm yếu với Phật giáo,” không c̣n xứng
đáng cầm
đầu các ủy ban “hành động” Ki-tô. Tướng Nguyễn Bảo Trị và Ủy viên
Thanh niên
Vơ Long Triều cũng tự nhận đă ra công vận động giáo dân Ki-tô Hố Nai
và Phú
Nhuận xuống đường đương đầu với Phật giáo, ngăn chặn không cho Phật
giáo
thống trị các cơ quan dân cử và chính quyền. Niềm tin tôn giáo đă bị
những
kẻ tham vọng khai thác làm con đường tiến thân cho riêng họ. Những
ai thích
tin tưởng ở “thánh chiến” nên ghé văn khố LBJL ở Austin một lần, t́m
đọc vài
hộp tư liệu của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ [National Security
Files (NSF),
Vietnam Country File]. Từ những nhân vật như Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn
Văn
Thiệu, Nguyễn Cao K ỳ, Trần Văn Đôn, v.. v... tới các tác nhân hạng
hai,
hạng ba như Bùi Diễm, Trần Văn Ân, Tôn Th ất Thiện, Đặng Đức Khôi,
v.. v...
đều có dấu vết trong kho Tư liệu Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ dưới
thời
chính phủ Johnson. Phía sau sân khấu chính trị miền Nam, tại các tư
dinh hay
công sở Mỹ, các “lănh tụ” Việt không cao lớn và uy quyền như họ muốn
chúng
ta phải tin. Bởi thế, mới có hai thành ngữ thời đại: sự “dốt nát hào
nhoáng
“ (the shining ignorance) và sự “lừa dối sặc rỡ” (the colorful
lies).
Đặc biệt có giá trị là những công điện trao đổi giữa Sài G̣n và
Oat-shinh-tân trong giai đoạn 1964-1968. Một trong những tài liệu
đáng chú ư
là “sự hiểu ngầm” của Hà Nội trước khi Tổng thống Johnson tuyên bố
ngừng
oanh tạc Bắc Việt ngày 1/11/1968. Những báo cáo của Tướng Lansdale
về các
nhân vật Việt Nam cũng khiến cười ra nước mắt. Khó tin, nhưng có
thực: Nhiều
“lănh tụ” đă lập công danh, kiếm tài lợi qua những “party” buổi tối
hay giấc
ngủ thiếp lả trên salon tư dinh Tướng Lansdale, với những “sứ mệnh”
đủ loại.
Nào là Mặt Trận Cứu Nguy Dân Tộc, nào là đoàn thanh niên, hay trại
hè thiện
chí. “Lănh tụ thanh niên”, chẳng hạn, từng giao nạp hồ sơ bốn học
sinh t́nh
nguyện cứu trợ nạn nhân chiến tranh cho cơ quan an ninh v́ t́nh nghi
họ là
Cộng Sản. Nhưng ác độc nhất là việc diễn giải tấm biểu ngữ cứu trợ
nạn nhân
chiến tranh của Phật giáo là “có khuynh hướng thân Cộng.” Cũng may,
sau đó
người Mỹ quyết định bỏ rơi miền Nam Việt Nam, bằng không chẳng hiểu
chuyện
ǵ xảy ra với những “lănh tụ ... cổng hậu tư dinh quan tướng t́nh
báo ngoại
quốc này!”
Các “lănh tụ” miền Nam, như Bùi Diễm, trong hồi kư In the Jaws of
History,
Trần Văn Đôn, trong Our Endless War, và Nguyễn Cao K ỳ trong Twenty
Years
and Twenty Days chẳng thấy đá động ǵ đến những chi tiết phía sau
hậu
trường, chỉ thấy khoe ḿnh tài, ḿnh giỏi, ḿnh quân tử. Việc quá
nhỏ để nhớ
hay nhắc đến trong hồi kư chăng?
Huỳnh Văn Lang, trong hồi kư Nhân Chứng Một Chế Độ (3 tập), và Y sĩ
Đặng Văn
Sung, qua buổi phỏng vấn riêng của tôi năm 1997, ít tháng trước ngày
ông từ
trần, tự chứng tỏ lương thiện hơn nhiều người đồng thời. Cả hai đều
thú nhận
hợp tác chặt chẽ với cơ quan t́nh báo Mỹ. Và không như nhiều người
đóng vai
ngụy quân tử, chụp mũ cho người khác là “CIA” hay “Xịa.”
Lật dở những trang tài liệu quản thủ kỹ lưỡng, khác hẳn với những hồ
sơ dầy
bụi thời gian của văn khố Pháp, hơn một lần tôi thoáng nhớ đến những
chữ
“Moise”, “Jacobs” và “giải phóng” trong thư “Petrus Key” gửi “Grand
Chef”
Jauréguiberry vào cuối tháng 3/1859 (do một linh mục ở Vĩnh Long
chuyển) để
thúc dục “những sứ giả của Thiên Chúa [Ki-tô]” này xâm lăng Đại Nam
cho
nhanh; hay, ba chữ “bol de riz” (bát cơm) bảo hộ Pháp của ḍng họ
Ngô mà Ngô
Đ́nh Khôi đă nhờ Ngô Đ́nh Nhu chuyển lời cho Tổng Giám Đốc Cảnh Sát
Paul
Arnoux vào tháng 8/1944 trong các văn khố Pháp. (Xem Vũ Ngự Chiêu,
Các vua
cuối nhà Nguyễn, tập III)
Cơ trí, ắt cơ tâm. Những “lănh tụ” của hạ bán thế kỷ 20 có vẻ khôn
ngoan và
thông minh hơn những người của thế hệ trước. Những tấm ḷng yêu nước
...
Pháp và Mỹ mới (ít nữa th́ trên đầu môi chót lưỡi) chẳng hiểu nên
nhớ hay
quên? Đây mới là những “bí ẩn” lịch sử mà người ta cố che đậy, dấu
diếm,
chẳng khác ǵ người Cộng Sản cố t́nh tô lục chuốt hồng cho Hồ Chí
Minh ...
suốt đoạn đường “cứu nước” và “yêu nước” ... chủ nghĩa xă hội!
Sự khác biệt giữa người học sử chuyên nghiệp và những người thích
“bí ẩn” là
người học sử cố gắng xuyên suốt những dữ kiện chính xác thành một
diễn giải
lịch sử khoa học, khách quan tối đa; những người thích công bố “bí
ẩn”
thường mang tư tâm “xây dựng kỳ đài” hay “đào mộ” nào đó. “Bí ẩn”
bởi thế
thường chỉ là những câu chuyện bên tách cà-phê, ly ruợu mạnh, hoặc
bàn mạt
chược, chiếu xóc đĩa, chắn cạ nhằm xuyên tạc, mạ lÿ kẻ thù, xưng
tụng, bái
lạy chủ cũ bằng thứ lư luận “rẻ rách ... sinh chuột con.” (Đáng buồn
hơn nữa
là dăm ba người có đôi chút học thức chuyên đi ăn cắp công tŕnh
nghiên cứu
của người khác–nhất là những tài liệu do tôi phát hiện tại các văn
khố–in
vào “sách” của họ, rồi cao giọng chỉ trích–nhưng chỉ phơi bày rơ
ràng hơn sự
ngu dốt và điêu ngoa hào nhoáng của loài tinh tinh tân thời).
Đáng tiếc là văn khố LBJL vẫn chưa giải mật một số hồ sơ. Như tài
liệu về
buổi gặp mặt giữa Tổng thống Johnson và Giáo Hoàng Paul VI ngày
23/12/1967.
Tài liệu về vụ bà quả phụ Anna Chennault móc nối Bùi Diễm cùng
Nguyễn Văn
Kiểu để làm gió cho ứng cử viên Richard Nixon của Đảng Cộng Ḥa
trong cuộc
tranh cử Tổng thống 1968 cũng chưa có tính cách thuyết phục, v́ chỉ
là những
ư kiến riêng của các nhân vật như McGeorge Bundy, Nguyễn Cao K ỳ,
Bùi Diễm,
v.. v... Hai thư viện Tổng thống khác sẽ lôi cuốn nhiều nhà nghiên
cứu trong
những năm tới là Thư viện Richard Nixon và thư viện Gerald Ford.
B. BIÊN KHảO:
Đặc biệt giai đoạn cận đại có nhiều biên khảo bằng Việt ngữ cũng như
ngoại
ngữ khá giá trị. Những học giả nổi danh về Việt Nam có David G.
Marr, Pierre
Brocheux, Nguyễn Thé Anh, v.. v... Về các học giả Việt trong nước,
một số đă
được ra ngoại quốc tu nghiệp hay khảo cứu tại các văn khố. Nhưng đa
số biên
khảo trong nước c̣n bị hạn chế về tài liệu, tức thiếu những chi tiết
chính
xác về thời gian cũng như dữ kiện. Dĩ nhiên, cũng có những biên khảo
chẳng
nhắm mục đích ǵ khác hơn tuyên truyền, lập danh, hoặc v́ đôi chút
tài lợi.
V́ trước năm 1975, hầu hết tác giả Việt không được sử dụng tài liệu
văn khố
hay tư liệu nguyên bản, nên thường có t́nh trạng sao chép giây
chuyền lỗi
lầm của người đi trước. Trường hợp các Thánh lệnh của Giáo hoàng
Ki-tô trong
việc phân chia thế giới cho Portugal (Bồ Đào Nha) và Espania (Tây
Ban Nha)
trong thế kỷ XV chỉ là một thí dụ nhỏ. Hay việc Pháp đưa Đồng Khánh,
Thành
Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại lên ngôi, v.. v... dưới “thiên
mệnh Đại
Pháp.”
Ngoài ra, v́ ảnh hưởng của chế độ Bảo hộ Pháp cũng như các thế lực
bản xứ,
các nhà nghiên cứu không được tham khảo các tư liệu bất lợi cho mục
tiêu
khai hóa của người Pháp (tức biến Việt Nam thành một nguồn cung cấp
vật liệu
thô và nhân công rẻ tiền, đồng thời cũng là một thị trường đóng kín
cho hàng
hóa Pháp, và vùng đất để rao giảng đạo Ki-tô Vatican). Bởi vậy, hầu
hết sử
sách viết về giai đoạn này hiện đang lưu hành–ngoại trừ các bộ quốc
sử triều
Nguyễn–đều ca ngợi công lao khai hóa của người Pháp. Vài ḍng ngắn
ngủi của
Trương Vĩnh Kư để kết thúc bộ Bài giảng sử An-Nam-Mít [Cours
d’histoire
annamite] là một thí dụ tiêu biểu.[ Xem bài Petrus Key].
Bởi thế, người ta thấy xuất hiện những loại văn sử không những chỉ
sai lầm
về dữ kiện mà c̣n méo mó nguy hiểm về lối giải thích hay lập luận (v́
tác
giả thuộc giới trung gian bản xứ, hoặc v́ không dám làm mất ḷng các
quan
chức bảo hộ cùng những nhà truyền giáo và giáo dân nặng mang tinh
thần Trung
cổ, nếu không phải với chủ đích cung văn những tác nhân trên). Ngay
đến vài
sử gia cũng t́m cách tránh đối diện những sự thực gai góc về phong
trào trào
thực dân Ki-tô/vật bản từ thế kỷ XVI tới thế kỷ XX. Bất cứ ai dám
công bố
những sự thực lịch sử do ḿnh dày công sưu tầm th́ lập tức bị vu cáo
có dụng
tâm “nói xấu” cá nhân này, tôn giáo nọ, hay “sai lầm.” Nên chẳng có
ǵ ngạc
nhiên khi thấy những người như Petrus Key ( Trương Vĩnh Kư ) hay các
công
thần của chế độ Bảo hộ Pháp và con cháu họ (như Ngô Đ́nh Khả, Ngô
Đ́nh Thục)
thanh thản và mạnh bạo gọi những người chống lại chế độ Bảo hộ Pháp
là
“rebelles” (giặc hay phiến loạn). Giống như sáu trăm năm trước, Lê T
ắc đă
dùng những thuật ngữ “bản nghịch” (những tên phản loạn) hay “yêu
đảng” để
gọi hai Bà Trưng, Bà Triệu Ẩu, hay Lư Bí, Dương Thanh , v.. v...
C. BÁO CHÍ:
Các tài liệu báo chí cũng khá phong phú. Từ cuối thế kỷ XIX, báo chí
đă lưu
hành ở Việt Nam, đặc biệt là Nam Kỳ thuộc Pháp (Cochinchine). Những
tựa báo
quan trọng có Courrier Saigonais và Gia Định Báo. Ngoài ra, c̣n các
báo tư
nhân như L’Avenir du Tonkin. Người nghiên cứu cũng nên tham khảo các
báo
Pháp ngữ tại chính quốc (Pháp) và Trung Hoa (như tờ Gazette de
Peking).
Qua thế kỷ XX, báo chí được chuyên nghiệp hóa ở cả ba miền. Người
nghiên cứu
ít nhất phải tham khảo các tờ báo chính như Trung Bắc Tân văn, Nam
Phong,
Thanh Nghị, Tri Tân ở miền Bắc; Tiếng Dân ở miền Trung; cùng các báo
La
tribune indigène, La tribune indochinoise, Nam Kỳ Lục Tỉnh, v.. v...
ở miền
Nam. Tuy nhiên, sử dụng các tài liệu này cần cực kỳ thận trọng. Nghề
báo tại
một nước bị Pháp xâm chiếm như Việt Nam khó thể nói đă trưởng thành
và có
được Đệ tứ quyền. Đó là chưa kể những dụng tâm chính trị của các chủ
báo.
Nên so sánh với các tài liệu văn khố của các cơ quan an ninh thuộc
địa Pháp
để hiểu thêm về chính sách truyền thông của người Pháp. Học giả
David Marr
là người đă sử dụng khá nhiều tư liệu báo chí.
D. HồI KƯ:
Hồi kư là một kho tài liệu khá có giá trị. Hầu hết các viên chức cao
cấp
Pháp đều viết về những sinh hoạt của họ tại Đông Dương. Tác nhân
Việt th́
rất ít người viết hồi kư. Mở đầu phong trào này là hai cuốn nói về
chuyến đi
sứ Pháp và Espania của Phan Thanh Gi ản và Phạm Phú Thứ (1864). Rồi
đến
Chuyến đi Bắc Kỳ năm 1876 của Petrus Trương Vĩnh Kư , Đi Tây của
Phạm Quỳnh.
Phạm Duy Khiêm cũng có hai tập hồi kư nói về cuộc phiêu lưu sang
Pháp làm
thông ngôn cho lính thợ [ONS].
Hai cuộc chiến 1945-1954 và 1959-1975 sản xuất khá dồi dào hồi kư.
Đa số
nhân vật ngoại quốc (Nhật, Trung Qu ốc, Pháp, Mỹ, v.. v...) đều viết
hồi kư.
Nhiều tác nhân Việt cũng có hồi kư, đặc biệt là phe Cộng Sản.
Dĩ nhiên, hồi kư không hoặc chưa là lịch sử. Chỉ là lời chứng trước
ṭa án
lương tâm và dân tộc. Hồi kư Nguyễn Xuân Chữ (1996), hay Một Cơn Gió
Bụi của
Trần Trọng Kim (1969) là những thí dụ. Tác nhân lịch sử có thể sai
lầm,
trong khi kể lại các sự việc hay lư luận, nhưng đó là những điều khó
tránh.
Đa số dùng hồi kư để biện minh tâm trạng ḿnh như Linh mục Cao Văn
Lu ận,
qua cuốn Bên Ḍng Lịch sử (Sài G̣n: 1984) hay ông Đỗ Mậu với hai tập
Việt
Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (tái bản năm lần, từ 1987 tới 1993) và Tâm
Thư
(tái bản một lần).
Huỳnh Văn Lang, qua 5 tập hồi kư về đá gà, đi săn, và hoạt động
chính trị
cũng rọi sáng vài ba sự thực lịch sử về chính phủ Ngô Đ́nh Diệm
(1954-1963)
và tâm trạng người trí thức Ki-tô miền Nam trong cuộc đảng tranh sắt
máu
1945-1975. Những hồi kư khác của Tướng Nguyễn Chánh Thi, Trần Văn
Đôn,
Nguyễn Cao K ỳ, Tôn Th ất Đính, Huỳnh Văn Cao, Lư Ṭng Bá, v.. v...
có những
giá trị nhất định nào đó. Ngay đến cựu Hoàng Bảo Đại cũng có một hồi
kư do
hai người Pháp viết, Le Dragon d’Annam (Paris: Plon, 1980). Hồi kư
này đă
được viết lại bằng Việt ngữ, nhưng nội dung chẳng mấy giá trị, nếu
không
phải chứa đựng nhiều tư liệu sai lầm. Và mục đích in hồi kư của Cựu
Hoàng
chỉ v́ nhu cầu tài chính.
Trong số các hồi kư, tập Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi và Tâm Thư
của Tướng
Đỗ Mậu là một hiện tượng. Tập VNMLQHT được in lại nhiều lần ở hải
ngoại.
Ngay nhà xuất bản Công An của CSVN cũng sửa chữa, cắt xén in lại
trong nước.
Tại hải ngoại, v́ vạch trần những sự thực không đẹp của chế độ Ngô
Đ́nh Diệm
và hàng lănh đạo Ki-tô, ông Mậu đă bị đả kích một cách tàn nhẫn và
thô tục
suốt nhiều năm.
Cá nhân tôi cũng bị lôi cuốn vào chốn “giang hồ gió tanh mưa máu.”
Có kẻ
tung tin tôi đă tiếp tay hoặc giúp Tướng Mậu hoàn tất cuốn Tâm Thư
của ông,
dù chính tôi chưa hề biết mặt ông Mậu, và cũng không hề quen biết ở
trong
nước. Tôi đă giữ thái độ im lặng, v́ chửi bới, vu cáo trên các tờ
báo chợ là
một thông lệ hơn biệt lệ ở hải ngoại. Tôi cũng quá bận rộn, không có
th́
giờ. Hơn nữa, theo tôi, sự thực chỉ là sự thực. Những lời chửi bới,
vu cáo
“rất chợ búa” Tướng Mậu, hay những người có can đảm công bố sự thực
về gia
đ́nh Ngô Đ́nh Khả-Ngô Đ́nh Diệm (như ông bà Nguy ễn Mạnh Quang) cùng
những
tập đoàn “trung gian bản xứ” khác chắc chắn không thể làm đẹp hơn
cho họ. Và
chắc chắn không thể làm giảm giá trị của những sự thực đă được công
bố.
Chẳng ai có thể gói lửa bằng giấy.
Riêng những hồi kư của các tác nhân Cộng Sản cũng không hoàn toàn vô
giá trị
như một số người muốn chúng ta phải tin và tuân lệnh. Các hồi kư của
Vơ
Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Lê [Trịnh?] Trọng Tấn,
Hoàng Văn
Thái, Trần Độ, Phạm Khắc Hoè, Lê Tùng Sơn , Nguyễn Văn Trấn, Hoàng
Quốc
Việt, Nguyễn Thị Thập, Lê Văn Hi ến, Hoàng Văn Hoan–hay hồi kư của
những
người ngoài đảng như Vũ Đ́nh Hoè, v.. v...– đều có chỗ dụng của
chúng, nếu
biết loại bỏ những khía cạnh tuyên truyền quá lộ liễu. Với chế độ
Cộng Sản,
không cần sự thực. Chỉ cần những mảnh vụn sự thực phục vụ cho mục
tiêu chính
trị giai đoạn.. Ngay đến những tài liệu tự ca ngợi ḿnh của Hồ Chí
Minh, như
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (kư tên Trần Dân
Tiên),
hay Vừa đi đường vừa kể chuyện (kư tên T.L.) ít nữa cũng cho người
đọc thấy
cách vận chuyển của hệ thống tuyên truyền Cộng Sản.
Tôi nhớ đến tiếng “Vẹm” mà dân chúng miền Bắc đă từng sử dụng để gọi
tổ chức
Việt Minh. Không chỉ có những lời dối trá hào nhoáng, mà c̣n có
những lươi
mă tấu sỉn máu để bắt mọi người phải coi những lời dối trá đó là
khuôn vàng
thước ngọc, phải sủng kính như Thánh kinh.
Với cương vị chủ bút nhà Xuất bản và Phát hành Văn Hóa, tôi đă cùng
ông
Nguyễn Xuân Phác thực hiện một số cước chú cho bản thảo hồi kư c̣n
dở dang
của cụ Nguyễn Xuân Chữ, và góp ư với tất cả những tác giả từng muốn
nhờ
chúng tôi xuất bản hay phát hành. Tôi cũng từng chia xẻ cho một số
tác giả
tư liệu văn khố thu thập được trong các chuyến du khảo, với hy vọng
giúp
người viết cũng như người đọc thấy được những sự thật không thể chối
căi của
một số tác nhân lịch sử bấy lâu được tô hồng chuốt lục cho những mục
tiêu
chính trị giai đoạn nào đó. Tham vọng nhỏ bé của tôi là trả sự thực
cho lịch
sử. V́ chỉ có sự thực lịch sử mới giúp người Việt thoát được những
cơn giông
băo triền miên của thế cờ chiến lưọc quốc tế, cùng những tham vọng
ngoại
cường. Cá nhân tôi không hề có tham vọng chính trị, trước cũng như
sau năm
1975.
Những điều cần làm, đă, đang, và sẽ làm, chỉ hướng về một tương lai
tốt đẹp
hơn cho đất nước và dân tộc nói riêng, cũng như sự cảm thông của
nhân loại
nói chung.
III. NGHIÊN CỨU THỜI HIỆN ĐẠI
Việc nghiên cứu thời hiện đại, tức từ 1975 tới nay, vô cùng khó khăn.
Các tư
liệu thường rất hạn chế, phần lớn dựa theo tin tức t́nh báo và ngoại
giao
cùng báo chí.
Tuy nhiên, đôi khi, người nghiên cứu có được những tài liệu cực kỳ
quí báu.
Cuộc xâm phạm Việt Nam của Hồng quân Trung Qu ốc năm 1979, và cuộc
chiếm
đóng Kampuchea của Cộng Sản Việt Nam từ 1978 tới 1989 giúp người
nghiên cứu
nhiều tư liệu về liên hệ giữa Trung C ộng, Việt Nam và Kampuchea.
Trong số
những chi tiết đáng kể có việc Quân ủy Trung C ộng cùng các Tướng
Trần Canh,
Vi Quốc Thanh, v.. v... đă thực sự chỉ huy các trận đánh Cao B
ằng-Lạng Sơn
(1950) hay chiến dịch Điện Biên Phủ (1954); Chu Ân Lai ép buộc Hồ
Chí Minh
phải chấp nhận tạm thời chia đôi Việt Nam theo vĩ tuyến 17 tại Hội
nghị
Geneva (7/1954); hay, tháng 9 năm 1958, Hồ Chí Minh đă sai Phạm Văn
Đồng
viết thư cho Chu Ân Lai , nh́n nhận lănh hải do Bắc Kinh công bố để
có quân
viện đánh chiếm miền Nam.[ Xem Phụ Bản]
Nhưng cho tới năm 2009 này, các sử quan Cộng Sản hay “xă hội chủ
nghĩa” vẫn
nhất định nhắm mắt lại mà ca ngợi công ơn vĩ đại của những Karl
Marx, Lenin,
Stalin, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai , hay Hồ Chí Minh. Các sử quan và
văn
nghệ sĩ trong nước từng được Trường Chinh Đặng Xuân Khu nhiều hơn
một lần
dạy bảo rằng văn chương, thơ phú hay sử học phải bám sát và phục vụ
mục tiêu
chính trị giai đoạn của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Bất cứ ai không nh́n
thấy
được sự vĩ đại của Liên Sô, Trung Qu ốc, hay tư tưởng Hồ Chí Minh (khi
cần
thiết) đều bị xếp hạng là kẻ thù của “nhân dân,” phản động, và ngay
cả Việt
Gian. Bởi thế, sử sách Việt Nam bị ô nhiễm bởi những lời xưng tụng
Stalin
như cha già của Hồ Chí Minh, hay ông nội của thanh thiếu niên Việt
trong
thập niên 1950. Thứ “tinh thần Hồ Chí Minh” này có đáng nuôi dưỡng,
phát huy
để soi sáng cho quốc dân Việt trong thế kỷ 21 hay chăng?
Chưa một ai, nhưng chắc chắn sẽ có người, làm một cuộc so sánh những
văn thư
ngoại giao thời Việt Nam phong kiến với thư từ trao đổi giữa Đảng
Cộng Sản
Việt Nam và Liên Sô hay Trung C ộng.
Một triết gia Tây phương từng viết: “Không ai có thể tắm hai lần
trong cùng
một ḍng nước.” Nhưng cổ nhân cũng dạy rằng: “Đi hỏi già, về nhà hỏi
trẻ.”
Đại họa của thế nhân thường do không chịu học hỏi những bài học lịch
sử. Ai
nấy đều muốn quên đi những chuyện buồn dĩ văng, ǵn giữ những niềm
vui, nỗi
sướng cũ như một túi hành trang. Đáng sợ hơn nữa là có nghĩ rằng
ḿnh đă
“biết hết rồi!” những điều mà họ thực sự chẳng biết ǵ cả. Như huyền
thoại
người Mỹ đưa quân vào miền Nam để muốn độc chiếm quân cảng Cam Ranh,
hay đào
xới chất Uranium. Sự thực, từ những năm 1945-1946, Hồ Chí Minh nhiều
hơn một
lần “van nài” người Mỹ nhận hải cảng Cam Ranh, nhưng chính phủ Harry
Truman
(1945-1953) từ chối. [Xem Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, tập I-A &
B] Cho
tới đầu thế kỷ XXI, người Mỹ vẫn rất hững hờ trước lời mời gọi khai
thác
cảng Cam Ranh. Và, chưa một nhà khoa học Việt nào phát hiện mỏ
Uranium ở
Đông Dương–ngoại trừ một quặng non ở Pia Ouac, do một chuyên viên
“người
Việt mới” gốc Nhật phát hiện trong giai đoạn 1947-1948. Mỏ Uranium
này c̣n
nằm trong lănh thổ Việt, hay đă cắt nhượng cho Trung C ộng?
Với một dân tộc như dân tộc Việt–một dân tộc kiêu hùng bảo vệ sự
sinh tồn
của ḿnh bằng máu và nước mắt từ nhiều ngàn năm qua–bài học dĩ văng
luôn
luôn là tấm gương soi mặt ngàn năm. Nhờ vậy, dù không so sánh được
với các
cường quốc, tổ tiên ta đă để lại cho con cháu một giải giang sơn gấm
vóc làm
vốn liếng. Tàn phá những tư liệu lịch sử, hay không bảo quản đúng
mức các
kiến trúc cổ thời, các kho văn khố, là tội ác văn hóa khó tha thứ.
Nói chi
việc nổi lửa thiêu đốt văn hóa phẩm của miền Nam Việt Nam. Đào xới
các di
tích khảo cổ đem bán làm đồng vụn, sắt vụn. V́ một chút tài lợi cỏn
con mà
ngụy tạo lịch sử, trắng đổi làm đen.
Một dân tộc thiếu sự lương thiện trí thức hẳn khó thoát cảnh nô lệ
ngoại
bang.
Houston, 11/2000-1/2/2009