| |

THIÊN
CHÚA & TRẦN THẾ
Joseph Ratzinger
Biển-đức XVI.
Thiên Chúa và Trần Thế
Tin và Sống trong thời đại ngày nay
Trao đổi với Peter Seewald
Phạm Hồng-Lam chuyển ra Việt ngữ
CHƯƠNG II
ĐỨC GIÊ-SU
KI-TÔ
L̉NG NHÂN ÁI
Tin Mừng viết:
“Này anh chị em, có ích ǵ chăng, khi một người bảo, tôi có đức tin,
nhưng lại không làm ǵ cả. Đức tin như thế có cứu người đó được không?”
Mat-thêu ghi: v́ công lí nước trời, Con Người sẽ mở một trương mục và có
ngày cũng sẽ kết toán sổ sách. V́ “Cái ǵ ngươi đă làm cho người anh em
bé mọn nhất, th́ chính là ngươi đă làm cho ta”. V́ đức tin không có việc
làm là đức tin chết, nên Giáo hội đă đưa ra bảy mối thương người, gồm:
Cho kẻ đói
ăn
Cho kẻ khát
uống
Cho kẻ trần
truồng áo mặc
Cho khách đỗ
nhà
Chuộc người
tù
Thăm người
bệnh
Chôn kẻ chết
Câu đầu
trích từ thư thánh Gia-cô-bê, thư mang nặng truyền thống ki-tô gốc
Do-thái. Thánh Gia-cô-bê là giám mục thành Giê-ru-sa-lem. Trong lịch sử
giáo hội, ngài là người đại biểu cho loại Ki-tô giáo chủ trương đức tin
phải nhập thể vào đời sống, đức tin phải tạo nên hoa trái, phải thể hiện
ra hành động.
Câu thứ hai
là của chính Tin Mừng. Câu này mô tả dụ ngôn cuộc phán xét, trong đó
Chúa tự đồng hoá với người thiếu thốn và nói: “Các ngươi gặp người thiếu
thốn là gặp chính tôi”. Đây là một tư tưởng luôn đốt lên những ngọn lửa
mới trong lịch sử giáo hội. Nhận ra đức Ki-tô trong con người, nhất là
khi ta đứng trước những người bị khinh bỉ, những người đau khổ, những kẻ
nghèo. Trong dụ ngôn, chính Chúa rốt cuộc nói tới nhiều h́nh thức thương
người: “Tôi trần truồng, ông đă cho tôi mặc; tôi đau, bà đă giúp đỡ; tôi
bị tù, chị đă tới thăm…” Như thế Ngài đă vẽ ra những loại người thiếu thốn,
họ đại biểu cho Chúa trong thế giới.
Ta hăy nh́n
kĩ hơn vào một trong những mối kia: “Cho kẻ trần truồng áo mặc”. Với câu
này, hẳn Chúa không ám chỉ việc quyên góp quần áo cũ?
Câu đó hẳn
nhiên mang nghĩa bao quát hơn. Việc quyên góp đồ cũ, nếu làm với thiện
tâm, cũng mang ít nhiều giá trị; cũng không nên khinh thường những việc
nhỏ nhặt. Nhưng ở đây không chỉ có thế. Một mặt, nó đề cập tới điều thực
tế. Là người, ta không chỉ yêu trên nguyên tắc và thỉnh thoảng gởi cho
tí tiền, nhưng phải mở mắt ra để thấy chỗ nào người khác cần đến ḿnh
trong cuộc sống. Và ta sẽ thấy là điều này thường không dễ, chẳng thoải
mái. Hăy nhớ lại câu chuyện ông linh mục và các thầy tư tế gặp người bị
trấn lột trên đường. Họ đă không dừng lại, có lẽ v́ sợ bị lỡ cái hẹn
quan trọng, hay sợ bị nguy hiểm v́ đoạn đường đó heo hút. Lí do th́ lúc
nào cũng có.Trái lại, dụ ngôn toà án của đức Giê-su, cũng như các mối
thương người, nói lên điều rất cụ thể: Không những ta phải thương người
một cách chung chung, mà c̣n phải giúp đỡ cụ thể những kẻ thiếu thốn
ḿnh gặp, cả lúc không thuận tiện, không có giờ hay không sẵn phương tiện.
Ta phải nghĩ đến từng trường hợp riêng lẻ, chứ không phải chỉ có những
chiến dịch lớn mà thôi.
Đ̣i hỏi
t́nh yêu nơi Ki-tô giáo và nơi cộng sản cũng khác nhau. T́nh yêu cộng sản
chỉ nhắm tới kế hoạch lớn, tới việc cải tổ cơ cấu và bỏ qua trường hợp
cá thể. Dĩ nhiên cũng cần những kế hoạch lớn, nhưng không được bỏ qua việc
bác ái cá nhân, là công tác rất quan trọng, và nhất là làm sao giúp cho
những người đó có được những khả thể tốt hơn. V́ vậy trong Giáo hội đă
có những bệnh viện, những trường học cho người nghèo, và nhiều thứ khác
nữa. Tắt lại, phải quan tâm tới cả hai: không bỏ sót người bên cạnh ta
trong những chương tŕnh lớn, cũng như phải làm sao thay đổi cơ cấu bất
công và trợ giúp cụ thể cho những ai gọi là trần truồng cần áo mặc.
Bên cạnh bảy
mối thương thân xác c̣n có bảy mối thương linh hồn:
Lấy lời lẽ
mà khuyên kẻ hoài nghi
Mở dạy kẻ
mê muội
Răn bảo kẻ
có tội
Yên ủi kẻ
âu lo
Tha thứ kẻ
tạo bất công cho ḿnh
Nhịn kẻ mất
ḷng ta
Cầu nguyện
cho kẻ sống lẫn người đă qua đời.
Việc nhân
ái không được đóng khung trong khía cạnh vật chất mà thôi, đó là điểm
quan trọng. Nếu chỉ lo chuyện vật chất mà thôi th́ thật quá ít. V́ vậy,
trong viện trợ phát triển, càng ngày ta càng thấy rơ tầm quan trọng của
việc giúp con người có được kiến thức và học vấn, để họ đủ khả năng tự
giải quyết lấy chuyện của ḿnh. Chỉ khi ta giúp cho trí tuệ, giúp cho
con người toàn diện, lúc đó ta mới thực sự giúp. V́ thế, đưa Chúa đến
cho con người lại càng là chuyện quan trọng. Giúp tạo nên những tiêu
chuẩn luân lí quả là công tác nhân ái hàng đầu.
Thử lấy ra
một mối: “Mở dạy kẻ mê muội”. Tôi nghĩ, ít khi người được dạy bảo coi đó
là hành vi nhân ái.
Hăy nh́n
vào thí dụ viện trợ phát triển ở châu Mĩ la-tinh. Ở đây, Giáo hội cũng
như các nhóm tả đều coi công tác chống mù chữ là yếu tố chính trong hoạt
động của ḿnh. Tại sao? Là v́ bao lâu con người c̣n u minh, bấy lâu họ
c̣n tiếp tục bị lệ thuộc. Họ không thể tự thân thoát ra được t́nh trạng
có thể nói là nô lệ đó. Chỉ khi họ tiếp cận được với sản phẩm giáo dục,
lúc đó họ mới có thể trở nên ngang hang, và lúc đó xă hội, đất nước họ
mới thật sự phát triển. Và như vậy, việc dạy bảo kẻ u minh ở đây được
người ta hiểu là phương cách giúp họ đi vào được thế giới trí tuệ, giúp
họ có được ch́a khoá để hiểu những ǵ đang chuyển động thế giới ngày
nay.
Cũng vậy,
nếu ta nh́n lại các phong trào trước đây ở Âu châu, như việc mở trường
dạy học cho kẻ nghèo ở Pháp của Jean la Salle,
ta thấy người nghèo, mà bao nhiêu thế hệ đă bị ḱm giữ trong lệ thuộc,
đă có được vận hội học hành thật lớn. Học là ch́a khoá nền tảng mở tung
các cánh cửa trí tuệ, là công tác sơ đẳng của nhân ái tinh thần. Dĩ
nhiên với điều kiện không chỉ dạy cho người ta biết đọc mà thôi, mà việc
đọc này cũng đưa họ vào một liên hệ tinh thần có í nghĩa, có nghĩa là
không phải dạy cho họ một í thức hệ, nhưng cũng là mở ra cho họ con
đường dẫn tới đức tin.
CHUỖI MÂN
CÔI (MAI KHÔI)
Giáo hội đă
đặt ra một lời kinh đặc biệt có liên quan trực tiếp với bí ẩn của đức
Maria, đó là chuỗi mân côi. Đó là một thứ kinh cầu đọc theo chuỗi từng
hạt một: bắt đầu với dấu thánh giá (giáo huấn đức tin); tiếp theo là
kinh Kính mừng nói lên ba đức hạnh thiên chúa: tin, cậy, mến (giáo huấn
sống); bộ chuỗi gồm ba sự vui, thương, mừng; mỗi sự suy gẫm về năm “bí
mật” của đức Mẹ với đức Giê-su, đây là những công thức tóm gọn toàn bộ
nội dung Tân Ước.
Những nhà
tư tưởng và thần bí lớn mọi thời đều trân trọng bộ chuỗi, coi đó là
nguồn sức mạnh tinh thần và là cánh cửa mở ra bao nhiêu khả thể khác.
Ngày nay, một đàng chuỗi được xem là một thứ ǵ lỗi thời khó chịu, đàng
khác, nó được coi là một hứa hẹn thiêng liêng có thể nâng đỡ người ta
trong cuộc sống thường nhật và giúp họ có được í thức sống tốt hơn. Tôi
chưa có kinh nghiệm, nhưng có lẽ ḿnh phải bỏ nhiều th́ giờ tập làm
quen, rồi mới dần nhận ra được khả năng suy niệm với nó, như các nhà sư
Tây-tạng vẫn làm. Có lẽ phải lần hàng trăm, hàng trăm và hàng trăm chuỗi
rồi ḿnh mới ngộ ra được; và ngược lại, ḿnh cũng bắt đầu phải tập hiểu
ḿnh hơn và nhận ra đâu là tâm điểm của con người ḿnh. Theo hồng i, đâu
là cái bí ẩn của bộ chuỗi?
Nguồn gốc
lịch sử bộ chuỗi có từ thời trung cổ. Thời đó, kinh cầu hàng ngày là các
Thánh Vịnh. Nhưng hầu hết dân thời đó mù chữ nên không thể đọc được
Thánh Vịnh của Kinh Thánh. V́ vậy phải có một Thánh Vịnh thích hợp cho
họ, và người ta đă gặp được kinh Kính mừng, trong đó chứa đựng những bí
ẩn về cuộc đời đức Giê-su Ki-tô, và người ta đă xếp lời kinh đó tiếp
nhau như xâu chuỗi. Những lời kinh này, khi đọc đi lặp lại trong tinh
thần suy niệm, có tác dụng làm con người an tâm, và càng bám vào lời
kinh khi đọc, nhất là bám vào h́nh ảnh Mẹ và h́nh ảnh đức Ki-tô trong
đó, tâm hồn con người t́m được nỗi yên tĩnh và giải thoát và hướng được
ḷng lên cùng Chúa.
Trên thực
tế, chuỗi mân côi nối ta vào cái hiểu biết và kinh nghiệm cội nguồn, đó
là sự lặp đi lặp lại. Lặp đi lặp lại là một phần của cầu nguyện và suy
niệm, và nó cũng là một thứ nhịp điệu đưa ta vào yên tĩnh, nghỉ ngơi.
Không nhất thiết phải suy nghĩ từng chữ khi đọc, nhưng trái lại cứ thả
hồn đi vào nhịp đều đều, đọc qua đối lại của lời kinh. Lại nữa, lời kinh
cũng đâu phải là không có nghĩa. Nó làm hiện ra trước mắt và tâm ta
những h́nh ảnh và viễn kiến lớn, nhất là h́nh ảnh của Maria, và qua Mẹ,
là h́nh ảnh của Chúa Con.
Người dân
thời đó phải làm lụng nặng nhọc, họ không thể vận dụng trí tuệ nhiều khi
cầu nguyện. Trái lại, họ cần một lối cầu kinh giúp họ an tâm, và cũng
giúp họ quên đi những âu lo, và mang lại an ủi và ơn lành cho họ. Tôi
nghĩ, cái kinh nghiệm cội nguồn của lịch sử tôn giáo đó: kinh nghiệm về
sự lặp đi lặp lại, về nhịp điệu và về lời kinh tiếng hát đọc chung này
có tác dụng ủi an và giải thoát. Lời kinh đọc chung lan toả đầy không
gian, nâng tôi lên, nó không làm cho tôi khó chịu, nhưng đưa tôi vào
lắng đọng tâm hồn. Kinh nghiệm cội nguồn đó đă trở nên một thứ ǵ hoàn
toàn ki-tô giáo, khi, trong khung cảnh mẹ Maria và với h́nh ảnh đức
Ki-tô này, nó giúp con người cầu nguyện một cách thật đơn giản, nhưng dù
vậy, lời kinh vẫn thấm được vào hồn – nó vượt lên trên ṿng trí thức,
vọng vào hồn và toát ra bằng lời.
Ngài có lối
lần chuỗi nào khác lạ không?
Tôi lần
cách rất đơn giản, giống i như cha mẹ tôi đă làm. Cha mẹ tôi rất thích
lần chuỗi. Về già, ông bà lại càng thích lần hạt. Càng về già, người ta
càng ít khả năng làm những chuyện trí óc lớn, càng cần một nơi trú ẩn
tâm hồn, và nhất là càng muốn được hoà chung vào lời cầu của Giáo hội.
Và tôi đă cầu nguyện giống i như ông bà đă làm.
Nhưng cầu
thế nào? Ngài đọc một hay cả ba chuỗi?
Không, ba
chuỗi th́ nhiều quá, tôi là người vọng động, nên dễ bị chia trí. Tôi chỉ
đọc một, hoặc thường là hai hay ba chục thôi, v́ rồi có thể lại làm một
cái ǵ khác để khỏi chia trí, để được yên tĩnh, lấy lại tỉnh táo đầu óc.
V́ thế, cả chuỗi th́ nhiều quá.
Câu hỏi
cuối của phần này: Phải cần bao nhiêu thời gian người ta mới có thể hiểu
được đôi chút về những bí ẩn của đức tin, và cả về nghệ thuật tin?
Mỗi người
mỗi khác. Có những người rất dễ lắng đọng tâm hồn. Có những kẻ khác khó
hơn. Nhưng quan trọng là không được bỏ cuộc, phải kiên tŕ. Và rồi người
ta từ từ sẽ thấy ḿnh lớn lên trong đó.
Dĩ nhiên có
những thời điểm thuận lợi, mà cũng có những lúc khô khan. Có những lúc
ḿnh thật dễ bị đánh động và bắt đầu thấy được đôi chút – nhưng rồi lại
có những lúc rất khó khăn.
Điều quan
trọng trong tiến tŕnh lớn lên của tinh thần này, là không phải chỉ biết
cầu nguyện và để tâm vào đức tin những khi ḿnh muốn và cảm thấy thuận
lợi mà thôi, nhưng phải giữ kỉ luật. Guardini đă luôn nhấn mạnh điểm
này. Nếu chỉ biết cầu nguyện theo hứng thôi, th́ đức tin có thể mất. Đức
tin cũng cần kỉ luật trong thời hạn hán, có như thế nó mới âm thầm đâm
rễ. Cũng giống như cây cỏ vẫn âm thầm tăng trưởng trong cánh đồng mùa
đông. “Bánh ḿ mọc giữa mùa đông”, nhà văn nữ Ida Friedericke Görres đă
nói như thế.
Và người ta
nên bắt đầu cầu nguyện bằng ǵ? Bằng các câu hỏi?
Chẳng bao
giờ nên chỉ bằng suy tư mà thôi. Bởi v́ nếu ta nh́n Chúa qua ống nghiệm
suy nghĩ và muốn hiểu Ngài bằng thuần lí thuyết, th́ ta sẽ thất bại.
Phải luôn liên kết câu hỏi với hành động. Pascal có lần nói với một
người bạn không tin: Trước hết, hăy làm theo những ǵ người có đức tin
làm, cho dù những cái đó xem ra vô lí đối với bạn.
Tôi nghĩ, ở
điểm này mỗi người có cách riêng của ḿnh. Lịch sử cho thấy, có nhiều
người nh́n ra cánh cửa đức tin từ nơi Maria. Nhiều người khác đă thấy
được điểm khởi đầu nơi đức Ki-tô, qua việc đọc Tin Mừng. Tôi cho rằng,
đọc Tin Mừng luôn luôn là một cách để bước vào niềm tin. Nhưng không
phải đọc như kiểu mấy nhà sử đọc, họ chẻ bản văn ra để t́m xem câu này
bắt nguồn từ đâu, í kia từ đâu, nhưng đọc trong tinh thần hướng về đức
Ki-tô, bằng cách luôn biết chuyển vào cầu nguyện khi đọc.
Tôi cho
rằng có một tương quan qua lại trong các nhịp bước – đôi khi cũng là
bước vấp ngă – giữa sống đạo thực hành và việc t́m kiếm trong suy tư.
Đức tin không bao giờ đứng trơ trọi một ḿnh, nhưng luôn đi tới với
những người tin; những người này hiểu tôi, có thể họ cùng ở trong một
hoàn cảnh với tôi, và nhờ thế một càch nào đó có thể giúp đỡ, dẫn dắt
tôi. Đức tin luôn lớn lên trong cái chúng-ta. Ai chỉ muốn tin một ḿnh,
th́ người đó đă bước sai ngay từ đầu.
(c̣n tiếp
nhiều kỳ)
|
|