| |

Thiên
Chúa và Trần Thế
Joseph
Ratzinger
Biển-đức XVI.
Thiên Chúa và Trần Thế
Tin và Sống trong thời đại ngày nay
Trao đổi với Peter Seewald
Phạm Hồng-Lam chuyển ra Việt ngữ
CHƯƠNG III :
GIÁO HỘI
TÂM ĐIỂM
CỦA GIÁO HỘI
Tâm điểm của Giáo hội, nếu tôi
hiểu không lầm, không phải là Vatican hay giáo chủ, nhưng là một phụ nữ.
Một trong những thành tựu lớn nhất của thần học thế kỉ 20 là tái khám
phá ra mẹ Maria như là « h́nh ảnh cội nguồn của Giáo hội ». Đặc biệt
nhờ thi sĩ Paul Claudel
mà việc tôn sùng Mẹ gần như bị quên lăng đă thật sự trổi dậy.Paul
Claudel cho hay, khám phá của ông về Mẹ gắn liền với một kinh nghiệm
trong một thánh lễ chiều tối Giáng sinh năm 1886 tại Paris. Ông không
háo hức lắm khi dự thánh lễ trong nhà thờ đức Bà hôm đó, nhưng, lúc hát
bài ca Magnificat, ông bỗng như bị chấn động bởi một tiếng nổ dữ dội.
Biến cố đó giúp ông hiểu rằng tất cả những ǵ Maria nói đều có giá trị
cho Giáo hội. Và ngược lại Giáo hội nh́n thấy qua Mẹ h́nh ảnh cội nguồn
toàn hảo của ḿnh. Ông cho hay, bản chất của Giáo hội được cụ thể hoá
trong đức Maria, v́ qua ngài ta thấy được nguyên tắc công giáo về tầm
quan trọng của sự cộng tác con người vào ơn cứu độ. « Mẹ Thiên Chúa »,
ông nói, « và Giáo hội thánh, đối với tôi, là một. Tôi chưa bao giờ học
cách phân biệt hai thực thể đó ».
Việc đồng hoá Giáo hội với một
phụ nữ bắt nguồn sâu xa nơi Cựu Ước, khi Is-ra-en tự coi ḿnh là vị hôn
thê mà Chúa muốn tin cậy và phó thác trong t́nh yêu đời đời. Trong tinh
thần nối tiếp cuộc sống của Cựu Ước, Giáo hội đă lấy lại h́nh ảnh đó.
Ngay Phao-lô cũng gọi Giê-ru-sa-lem là mẹ chúng ta. Với lối gọi đó, ngài
khám phá ra từ truyền thống do-thái h́nh ảnh Giáo hội mẹ; thành phố mẹ
này đă sinh ra ta, trao tặng cho ta sự sống và tự do. Và các giáo phụ,
v́ thế, đă lấy lại í tưởng đó, một í tưởng cũng đă xuất hiện trong sách
Khải-huyền – một người nữ bận áo mặt trời – và dùng nó để tŕnh bày bản
chất rất thánh của Giáo hội. Dù các ngài lúc đó thường chẳng nghĩ ǵ tới
Maria, nhưng trên căn bản, toàn bộ môn Maria học cũng đă bao gồm yếu tố
này. Nói cách khác: Giáo hội được cụ thể hoá trong Maria. Và những ǵ
mang í nghĩa thần học nơi Maria đều được diễn tả nơi Giáo hội. Có thể
nói, cả hai hoà nhập vào nhau : Maria là Giáo hội bằng xương thịt, và
Giáo hội trong tổng thể của ḿnh là thân xác sẵn đó của Maria. Như vậy,
qua biến cố trở lại trên, Claudel đă thật sự tái trực giác cái h́nh ảnh
uyên nguyên và nh́n ra mối gắn bó khắng khít giữa Maria học và Giáo hội
học.
Trong thế kỉ chúng ta, Hugo
Rahner,
anh của Karl Rahner,
chuyên gia lớn về các giáo phụ, đă tŕnh bày một cách tuyệt vời toàn bộ
bản văn của các ngài, và đă chỉ ra rằng, chỗ nào các giáo phụ đề cập tới
Giáo hội như một phụ nữ, chỗ ấy đồng thời xuất hiện Maria – và nhờ vậy
đă tránh được việc bó hẹp môn Maria học. Các chuyên gia khác đang tiếp
tục nghiên cứu điểm này. Công đồng Vatican II đă lấy lại quan điểm trên
qua việc nối kết Maria học vào Giáo hội học.
Tôi nghĩ, trên thực tế, việc
tái khám phá ra mối liên hệ vượt thời gian giữa Maria và Giáo hội, việc
khám phá ra tính cách con người của Giáo hội trong Maria và tính cách
Maria chung nơi Giáo hội, là những phát hiện lớn nhất của thần học trong
thế kỉ 20.
Có một giáo chủ ghi nhận :
« Ai để tâm quan sát lịch sử Giáo hội công giáo, sẽ thấy ngay bàn tay độ
tŕ của Mẹ đồng trinh Thiên Chúa hiện diện trong mọi biến cố quan trọng
của Giáo hội. Mỗi khi đó đây lầm lạc nổi lên tấn công sự thống nhất mỏng
manh của Giáo hội và đẩy nó vào cuồng phong, th́ các giáo phụ chúng ta
lại tin tưởng hướng về Mẹ, là người duy nhất chiến thắng mọi lầm lạc
trên thế gian ; và chiến thắng do Mẹ mang tới đó đă đưa Giáo hội bước
vào những thời ḱ tốt đẹp hơn ». Nghe tuyệt quá nhỉ.
Người ta đă thi vị hoá. Đó là
lối nói của người xưa: Đức Bà chiến thắng mọi tà giáo; một công thức
xuất hiện trong thời có những tranh căi về bản tính đức Ki-tô. Thời đó,
người ta chạy tới Maria để cứu nhân tính nơi đức Giê-su, nhưng mặt khác,
cũng là để cứu thiên tính của Ngài, khi người ta căi nhau về phẩm giá
của Maria. Nhờ cuộc tranh luận về Maria mà mầu nhiệm đồng bản tính thiên
chúa và loài người nơi đức Giê-su Ki-tô được sáng tỏ. Từ đó nẩy ra lời
cầu đức Bà chiến thắng mọi tà giáo, và lời đó trong nhiều thời ḱ đă
thực sự trở thành một câu tuyên chiến. Tôi nghĩ, ta nên nh́n đức Maria
như là người ủi an, che chở, và dĩ nhiên như là cây cầu đưa ta tới Chúa
Ki-tô. Mẹ không lấy đi vương trượng của đức Ki-tô hay cản ngăn ta sùng
mộ Ngài. Mà trái lại, nhờ Mẹ mà ta mới hiểu được mầu nhiệm to lớn về đức
Ki-tô và mới được ở gần Con ngài.
SỨ MẠNG
GIÁO HỘI
Sứ mạng của Giáo hội quá lớn
và gần như vượt sức người. Có lẽ người ta khó mô tả đầy đủ được sứ mạng
đó. Thánh Phao-lô có lần dùng chữ thật kêu để nói về Giáo hội, bảo đó là
cột trụ và nền móng của chân lí. Ngài nói, đó là thầy dạy đức tin do
Chúa cắt cử, đồng thời có nhiệm vụ canh giữ không để mất chân lí đức tin
và không để sai lầm nào thấm nhập vào giáo huấn. Phải chăng Giáo hội là
ông từ nghiêm khắc canh giữ đền thánh?
Điều anh nói được trích từ các
thư mục vụ, mà phần lớn các nhà chú giải Kinh Thánh hiện nay bảo không
phải do Phao-lô viết, nhưng ở đây ta không bàn chuyện đó. Dù sao, những
lá thư đó vẫn nằm trong truyền thống phao-lô ; và, ít nhất trong trường
phái Phao-lô, lối suy nghĩ đó vẫn đang được tiếp tục. Ngay trong các thư
quan trọng của Phao-lô, ta thấy ngài viết rằng, Giáo hội là kẻ cưu mang
sống động chân lí của Chúa Ki-tô. Giáo hội có nhiệm vụ giữ ǵn chân lí
đó, có thể nói là cột trụ của chân lí đó; và Giáo hội cũng sống, truyền
bá chân lí đó một cách sống động và dễ hiểu, để chân lí được triển nở.
Chúng ta cũng đă nghe, Giáo hội luôn được Thánh Linh hướng dẫn để t́m
tới sự thật, v́ thế nơi giáo huấn hai yếu tố trung thành và tiến bộ nối
kết với nhau.
(Điều đó không chắc).
Luther đă phản đối điều đó,
bảo rằng, chẳng cần giáo huấn Giáo hội, chỉ có Kinh Thánh là đủ. Ông
bảo, giáo huấn là kiêu ngạo, mỗi người có thể tự ḿnh hiểu Kinh Thánh,
nếu đọc một cách đúng đắn. Ngày nay ta thấy càng ngày càng rơ, là kinh
sách thường mang nghĩa đôi. Lời Chúa chỉ sống động trong Giáo hội, nên
phải bước vào trong đời sống Giáo hội. Như thế th́ ta cũng cần một cơ
quan được ủy quyền diễn giải. Cơ quan đó dĩ nhiên phải hiểu là nó không
đứng trên, nhưng đứng dưới lời Chúa và phải lấy lời đó làm
chuẩn.
Ngoài ra, trong lănh vực này,
hiện nay cũng đă có những cuộc trao đổi làm hoà giữa các Giáo hội. Qua
đó, phía Công giáo đă phải bỏ đi một số nội dung diễn giải lời Chúa,
trong khi phía Tin lành đang đưa việc diễn giải đi vào thẩm quyền của
Giáo hội. Từ những nhận thức đó, hệ quả sau đây đă nẩy sinh theo thời
gian: Nếu lời diễn giải của Giáo hội có giá trị bó buộc, th́ Giáo hội
phải có một lực đỡ, một soi sáng nào đó, để Giáo hội có thể diễn giải
đúng như Chúa Thánh Linh, đấng dẫn dắt ḿnh, muốn. Với lối nghĩ đó, cuối
cùng, huấn giáo không sai lầm (bất khả ngộ) đă h́nh thành.
(Điểm này hẳn cần phải giải
thích thêm).
Để không bị lạm dụng và hiểu
lầm, điểm này, dĩ nhiên, phải được hiểu thật đúng trong khuôn khổ giới
hạn của nó. Không phải mọi lời do giáo quyền hay giáo chủ nói ra, đều
không sai lầm. Nhưng chỉ những ǵ mà Giáo hội, sau những cuộc đấu tranh
tinh thần khó khăn trong lịch sử và qua quá tŕnh cầu nguyện suy tư lâu
dài, tuyên bố đây là điều diễn giải chính thức. Và như thế, nhờ
ơn soi sáng, Giáo hội vạch ra nơi đây một lằn ranh để giúp con người
khỏi rơi vào lầm lạc, và đồng thời cũng để nói cho họ hay rằng, Giáo hội
không phải là một dụng cụ phá hoại lời Chúa, song là người Mẹ và là chủ
thể, qua đó lời Chúa được sống động, được phát biểu đúng và được diễn
giải đúng. Nhưng, như đă nói, tất cả phải có điều kiện. Có nghĩa là tất
cả những ai mang trách nhiệm trong Giáo hội phải phục tùng những điều
kiện đó trong tinh thần trách nhiệm cao. Họ không được lấy í ḿnh ra để
quàng lên Giáo hội, nhưng phải đứng vào trong cộng đoàn đức tin chung
với tinh thần phục vụ và lắng nghe lời Chúa. Họ phải để cho lời đó hướng
dẫn và tẩy gội cuộc sống, có như thế họ mới có thể diễn giải lời Ngài
đúng được.
Sứ mạng Giáo hội rơ ràng cũng
bao gồm cả tinh thần đối kháng và nhận lỗi. Với tinh thần đó, Giáo hội
có một chút ǵ phản kháng và quá khích và khác người. Nếu tôi không lầm,
th́ Giáo hội luôn chống lại mốt độc tài. Giáo chủ (Gio-an Phao-lô II) đă
dùng tiếng nói tông đồ của ḿnh để phản đối thế giới và coi đó là nhiệm
vụ cao cả của ḿnh : Hăy phản đối, ngài đă kêu gọi như thế. Chống lại
quyền lực của thực tại, chống lại cái quá trớn của chủ nghĩa vật chất và
chống lại sự mù loà của một thế giới vô đạo đức.
Sứ mạng của Giáo hội, hẳn
nhiên, bao gồm việc sẵn sàng phản đối và đối kháng. Ta đă thấy, trong
con người luôn có khuynh hướng chống lại những lời từ trên xuống; họ
muốn được thoải mái, muốn được tự quyết định cái ǵ họ muốn, bằng cách
tự đặt ra những í hệ, tự tạo ra cho ḿnh một mốt thời trang và đi theo
mốt sống đó.
Hăy trở lại lần nữa với lời
tiên tri của Si-mê-on. Ông đă nói về Chúa Ki-tô: Con trẻ này sẽ là dấu
cho người ta chống. Và ta hăy nhớ lại chính lời đức Giê-su : « Tôi không
đến để đem b́nh an, nhưng đem gươm giáo ». Câu nói đó cho thấy sứ mạng
to lớn và quan trọng của Giáo hội chống lại thời thượng, quyền lực của
thực tại và độc tài í hệ. Ngay thế kỉ trước, Giáo hội cũng đă phản kháng
lại những nền độc tài lớn. Và ngày nay, chúng ta đau buồn thấy sự phản
đối của Giáo hội quá yếu, tiếng nói phản kháng của chúng ta đă không
kiên quyết và đủ lớn cho thế giới nghe. Nhưng cám ơn Chúa đă có những
gương tử đạo. Trong khi giáo triều yếu đi v́ tế nhị ngoại giao, th́ các
vị tử đạo đă trả giá cái mâu thuẫn đó bằng chính cuộc sống ḿnh.
Hẳn nhiên, không phải phản
kháng v́ thích phản kháng, hay là một phản ứng suông hoặc v́ cảm thấy
bất lực trước viễn ảnh tương lai. Mà thái độ hay hành động đó phải luôn
mở ra cho cái thiện mọi thời, cho cái mới gói gém trong mọi thời đó –
cái mới đó cũng luôn mở ra những chiều kích hoàn toàn mới của lời Chúa.
Lại nữa, khi hành động, ta cũng không được v́ bất cứ lí do ǵ đẩy đức
tin ra lề hay để cho nó bị lu mờ đi. Phải chống lại những ǵ ngược lại
với Thiên Chúa, cho dù v́ thế mà ḿnh phải tự chống ḿnh – cho đến phải
can đảm chấp nhận tử đạo.
Đức tin thường mâu thuẫn với
tinh thần thời đại. Tinh thần thời đại, ngược lại, càng chống lại đức
tin nhiều hơn. Chuyện đó chẳng mới lạ ǵ. Guardini có lần viết : « Ai
sống với Giáo hội, lúc đầu thường thấy sốt ruột bực ḿnh, v́ Giáo hội
luôn cứ bắt họ phải làm ngược lại những người khác ». Người tín hữu,
theo ông, cảm thấy ḿnh lạc hậu trước dư luận đương thời, mà thoạt tiên
người ta luôn coi là tiến bộ hơn ḿnh. Ông viết : « Nhưng khi miếng vải
bịt mắt được gỡ ra, họ nhận ra Giáo hội luôn kéo con cái ḿnh ra khỏi
lối đi của quyền lực thời đại và giữ họ lại theo cái đang có. Thật lạ
lùng, không ai có được thái độ hoài nghi và độc lập nội tâm trước « cái
mà mọi người đều nói » hơn là người thật sự sống với Giáo hội ».
Vâng, những điều giáo sư ấy
viết ra cũng phản ảnh cuộc đời của ông. Thời Guardini ngồi trên ghế đại
học là lúc gia sản chủ nghĩa tự do c̣n rất mạnh, ngay cả trong thần học
công giáo. Giáo sư Koch, một trong những thầy dạy ông ở đại học
Tübingen, bị ảnh hưởng chủ nghĩa đó khá nặng. Dĩ nhiên anh sinh viên trẻ
Guardini lúc đó cũng theo thầy. Chuyện các sinh viên liên đới với một
ông thầy ăn nói mạnh bạo, tự do, bàn về những điều mới lạ vượt khỏi ṿng
vây truyền thống và bốp chát lại với Rô-ma, là điều dễ hiểu.
Tuy nhiên, trong thời gian
học, cũng là thời gian ông rơi vào mối hoài nghi lớn về đức tin, rốt
cuộc ông đă nhận ra được bộ mặt đích thực của Giáo hội qua phụng vụ. Ông
cho hay, dù vẫn mê theo thầy, nhưng ông đă chọn cho ḿnh con đường chống
lại tự do, bởi v́ suy cho cùng, theo ông, chỉ có Giáo hội là thực lực
duy nhất dám phê b́nh lại chủ nghĩa này. Càng bước theo Giáo hội, càng
đi sâu vào trong nó, càng tín thác vào đức tin Giáo hội – sự tín thác
này bị coi là thái độ trẻ con, thiếu độc lập -, ông càng nhận ra ḿnh có
được sự độc lập lớn hơn trước tinh thần thời đại, càng có được đầu óc
tỉnh táo, hơn là đứng ở bất cứ từ nơi đâu khác. Guardini là một trong
những kẻ tiên phong phá bỏ khuynh hướng tự do trong thần học. Nhờ đó, họ
đă đánh thức dậy, cho cả một giai đoạn khoảng từ 1920 tới 1960, niềm vui
lớn nơi Giáo hội, niềm vui cùng nghĩ, cùng tin với Giáo hội. Cá nhân
Guardini đă kinh nghiệm điều đó như thể miếng vải che mắt được lột đi,
và ông bỗng thấy rằng : th́ ra vấn đề hoàn toàn khác, không như thiên hạ
nghĩ. Đó không phải là thái độ thiếu độc lập trẻ con, mà là can đảm phản
đối, và đó là sự tự do đối kháng trước dư luận ḱm toả của thời thế Cái
tự do đó đồng thời cung cấp cho ta một nền tảng chắc chắn, nền tảng đó
không do Giáo hội tự nghĩ ra.
Và rồi những chuyện song song
khác cứ thế lạ lùng mở ra…
Vâng.
THIÊN CHÚA
VÀ GIÁO HỘI
Chẳng dễ ǵ thấy được cái can
đảm phản kháng đó của Giáo hội. Nhiều cộng đoàn công giáo xem ra mệt mỏi
quá rồi. Thiếu trí tuệ và can đảm để dám nghĩ vượt ra ngoài những dư
luận và chủ nghĩa tân tiến thường ngày, để c̣n muốn bảo vệ nền tảng vững
chắc của đức tin. Nhiều ki-tô hữu theo thời muốn tốt nhất trở thành một
công ti dịch vụ, qua đó dùng các cuộc thăm ḍ dư luận để đáp ứng nhu cầu
thành viên ḿnh. Ngay cả các giám mục cũng cho ta cảm giác là Chúa Thánh
Linh đă bỏ họ từ lâu rồi.
Có thể nói được rằng : Phải
chăng thời điểm của Giáo hội đă thật sự chấm dứt ? Và biết đâu, có thể
Chúa đă bỏ Giáo hội, Ngài chán ngấy Giáo hội và đă ẩn mặt rút lui, ít ra
trong một thời gian ?
Có những mệt mỏi của Giáo hội,
và chắc chắn có sự kiện « trụ đèn chỗ nào đó đă bị khuất đi », như trong
Khải-huyền nói. Chỉ cần nghĩ tới thế kỉ 16. Sách vở hiện có về thời đó
cho thấy Giáo hội đă chạy theo thời như thế nào, giám mục đă yếu tin như
thế nào. Họ đă trở thành một thành phần của hệ thống, chẳng c̣n là chứng
nhân sống động của đức tin, chẳng c̣n khả năng tông đồ và tử đạo. Họ
nh́n trước nh́n sau t́m lối thoát tốt nhất cho ḿnh, và chỉ nỗ lực làm
sao đừng để những điều xấu hơn xẩy đến. Giáo hội thời đó như ngủ quên,
gần như tiêu vong.
T́nh trạng như thế luôn có thể
xẩy ra. Chúa Thánh Linh làm ta xấu hổ, là v́ cứ mỗi lần như thế, đâu đó
bỗng nhiên lại có làn gió canh tân cần thiết hoàn toàn từ bên ngoài thổi
vào. Những lực canh tân thời đó là Tê-rê-xa ở Avila và Gio-an thánh giá,
là I-nhă ở Loyola và Phi-lip Nê-ri và những người khác như thế. Thoạt
tiên, giáo quyền ngỡ ngàng và sợ hăi trước những biến chuyển đó, nhưng
rồi cuối cùng chúng được nh́n nhận như là những bước đổi mới thật sự.
Rơ ràng Giáo hội có mệt mỏi.
Có thể Giáo hội trong cả một vùng văn hoá nào đó mỏi mệt và ngă đổ. Qua
bảy lá thư gởi bảy Giáo hội, sách Khải-huyền điển h́nh cảnh cáo về tương
lai : Coi chừng, nếu không th́ tôi sẽ xô ngă cột đèn. Quả thật, sau
những cơn băo tố Islam, không những Giáo hội ở Tiểu Á, một thời là con
cưng của Giáo hội hoàn vũ, mà cả Giáo hội ở Phi châu, đă biến mất. Dĩ
nhiên, việc suy sụp của các Giáo hội thời đó không đơn giản chỉ do mệt
mỏi, nhưng bạo lực của kẻ xâm chiếm cũng là một yếu tố phải kể đến, bạo
lực đó đă cày nát nhiều lớp dân chúng. Nhưng dù sao, chuyện như thế có
thể xẩy ra.
Lời hứa của đức Ki-tô : « Ta
sẽ ở lại với anh em mọi ngày cho đến tận thế » không có nghĩa là từng
giáo phận đă có được bảo chứng tồn tại măi măi. Nhưng lời đó có nghĩa
là, cho tới ngày Ngài lại đến, Giáo hội chân thực sẽ là nơi Ngài ngự, là
cơ thể, là thịt, là vườn nho của Ngài.
Có lẽ Chúa không để cho Giáo
hội hoàn toàn sụp đổ. Nhưng có liều lĩnh lắm không, nếu như giờ đây ta
muốn bắt đầu làm lại một cái ǵ hoàn toàn mới? Như vậy, sẽ có một Cựu
Ước, một Trung ước và một Tân Ước. Người ta vẫn nói, cái ǵ có ba th́
tốt.
Điều đó Gio-a-kim ở Fiore
trong thế kỉ 12 cũng đă nghĩ tới. Ông cho rằng lịch sử phải phù hợp với
ba thời của ba ngôi Thiên Chúa. Thời Cha, thời của Cựu Ước, là thời của
lề luật nghiêm nhặt. Thời Con là thời của Giáo hội đă giảm nhẹ đi đôi
chút, để bước sang thời Thánh Thần, là thời của một Giáo hội tinh thần
hoàn toàn mới. Giáo hội tinh thần sẽ làm hoà lại Đông với Tây, Do-thái
giáo với Ki-tô giáo, sẽ mang lại tự do đích thực của lề luật. Lí thuyết
đó đă tạo nên những cơn sóng lịch sử lớn. Thoạt tiên, một phần ḍng
Phan-sinh coi ḿnh là Giáo hội tinh thần mới đó. Tư tưởng kia sau đó đi
vào thế tục với sản phẩm « đệ tam quốc-xă » của Hitler.
Henri de Lubac đă viết hai tập
sách dày về những hậu quả do tư tưởng Gio-a-kim gây ra. Trong đó, tác
giả cho thấy tư tưởng đó đă tạo ra những tranh căi thần học lớn như thế
nào, khi nó khiến một phần ḍng Phan-sinh tự coi ḿnh là Giáo hội thánh
chân thực và đă chống lại một giáo triều đă bị tục hoá. Trong sách, tác
giả cũng phân tích cho thấy lịch sử đă không chia thành ba thời ḱ như
Gio-a-kim nghĩ. Toàn bộ lịch sử là thời gian của một Thiên Chúa ba ngôi.
Giáo hội (sống chân thực với sứ mạng ḿnh) là Lời cuối cùng của Thiên
Chúa trong lịch sử, bởi v́ đức Ki-tô là Lời sau hết của Ngài, là toàn bộ
Lời của Ngài. Giáo hội có thể triển nở ra muôn mặt, nhưng nó không thể
trở thành một cái ǵ khác. Nó phải thật sự phản ảnh lời hứa : Ta ở với
anh em, bên anh em, với Giáo hội này cho tới tận thế. C̣n mọi thứ khác
đều là tự chế, là sản phẩm của con người, chúng đến rồi đi.
(c̣n tiếp nhiều kỳ)
Chúa Kitô nói:”Chúng có thờ phương Ta th́ cũng vô ích,
v́ giáo lư chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”.
Bản tường thuật lời tuyên bố song song trong Thánh
Mác-cô, Người nói tiếp: “Các ông thật khéo coi thường
điều răn của Thiên Chúa để năm giữ truyền thống của các
ông”(Mc 7,9).
Kitô-giáo trên thế giới đầy dẫy truyền thống. Một
trong những truyền thống rộng lớn nhất là cái nh́n
truyền thống về Giáo Hội thời Tân Ước. Đa số các thừa
tác viên,các nhà thần học và những kẻ cuồng tín đều định
nghĩa một cách đặc trưng Giáo Hội theo cách nầy:”Tất cả
những ai chân thành tin nơi Chúa Giêsu Kitô như là Đâng
Cứu Tinh của họ, làm thành Giáo Hội đích thực”. Điều nầy
thường được kèm theo với tuyên bố quen thuộc nầy:”Có
nhiều con đường dẫn tới thiên đàng” hoặc “có nhiều nan
hoa của chiếc bánh xe ơn cứu rỗi”. Mặc dù Kinh Thánh
không dạy rằng thiên đàng là phần thưởng cho người được
cứu thoát, nhưng hàm ư rơ ràng của những điều nầy là
người ta có thể tin vào những ǵ họ muốn, hoặc là một
thành phần của bất kỳ nhóm nào do họ chọn lựa và bao lâu
họ c̣n là Kitô-hữu, th́ họ vẫn c̣n nhận được bất kỳ điều
ǵ là ơn cứu rỗi. Trong khi người ta có thể chân thành
tin vào những ư tưởng truyền thống nầy, th́ họ lại bị
sai lầm một cách chân thành. (Trích ĐÂU RỒI GIÁO HỘI
THẬT CỦA CHÚA,David
C. Pack)
|
|
|