| |

|
THIÊN CHÚA &
TRÀN THẾ . TC & TT . THIÊN CHÚA & TRÀN THẾ |
Joseph
Ratzinger
Biển-đức XVI.
Thiên
Chúa và Trần Thế
Tin
và Sống trong thời đại ngày nay
Trao
đổi với Peter Seewald
Phạm
Hồng-Lam chuyển ra Việt ngữ
CHƯƠNG III :
GIÁO HỘI
CƠ CẤU NỘI BỘ
GIÁO HỘI
Giáo hội
công giáo có một cơ cấu cổ điển, rơ ràng: Dân – Linh mục – Giám- mục.
Và trên tột cùng là Giáo chủ. Phẩm trật (Hierachie) - từ ngữ này có
nghĩa là “quyền cai trị thánh” – bắt nguồn từ Kinh Thánh, hay từ nhu cầu
tổ chức để có một bộ máy mạnh, hữu hiệu?
Tôi chống
lại quan điểm của nhiều người, dịch chữ “Hierachie” ra nghĩa “quyền cai
trị thánh”. Tôi khẳng định nghĩa của nó là “nguồn gốc thánh”. Nó muốn
nói lên rằng, Giáo hội không h́nh thành từ các quyết định, nhưng luôn có
thể được tái sinh từ chính Chúa, từ các bí tích. Với cái nh́n đó, ta
cũng có một nhận thức khác đối với chức linh mục. Ở đây, ta không nói
chuyện về một giai cấp cai trị muốn áp đặt kỉ kuật sắt trong Giáo hội.
Chức linh mục, trái lại, là sự nối kết Giáo hội với Thiên Chúa. Nó là sự
vượt lên trên chính ḿnh của một Giáo hội do Chúa thành lập, chứ không
phải do từ các đại hội, từ các quyết định, từ sự thông thái hay sức mạnh
của tổ chức. Trong í nghĩa đó, chức linh mục cũng không phải là thứ có
sẵn. Nếu v́ thế mà ơn gọi linh mục không c̣n nữa, th́ ta phải cầu khẩn
Chúa, chứ không thể tự ḿnh đơn giản nặn ra được.
Giáo hội
thường được gọi là “đoàn dân lữ hành”, tín hữu được gọi là “đàn thú của
Chúa”. Có người cũng gọi họ là đàn chiên, nghĩa là một đàn súc vật chẳng
có quyền ǵ cả, chỉ có việc tin và vâng lời .
Tôi thấy
hai í niệm “dân Thiên Chúa” và “đàn thú” không có ǵ là chống nhau. Đạo
Do-thái phát triển từ nền văn hoá chăn nuôi, nên h́nh ảnh người chủ chăn
luôn giữ một vị trí quan trọng và h́nh ảnh đó đă đi vào Tân Ước. V́ thế
ta không nên đi từ h́nh ảnh làm thân chiên cừu để xét đoán, nhưng nên đi
từ mối tương quan tín thác giữa người chăn và đàn cừu. “Dân Thiên Chúa”
cũng mang í nghĩa như thế: một đoàn dân đang trên đường băng suốt qua
lịch sử.
Ở Í, sau
khi Giáo hội làm hoà lại với nhà nước thế tục, Pi-ô XI đă cảnh tỉnh giáo
dân, giờ đây phải làm sao có được một cách sống đời giáo dân mới, nghĩa
là làm ki-tô hữu giữa trần thế, và ngài sau đó đă lập ra tông đồ giáo
dân. Tôi thấy, từ sau Công đồng II, nẩy ra chiều hướng chống giáo sĩ, hô
hào giáo dân phải dành lại quyền của ḿnh trong Giáo hội.
Quan điểm
đó giờ đây đă trở thành khẩu hiệu chống Rô-ma, đă trở thành một tín điều
cho giới công dân tự do.
Theo tôi,
chiều hướng kia đặt trên một căn bản sai. Họ quan niệm rằng, Giáo hội
giờ đây phải được cai trị bởi hai giới, giáo sĩ và giáo dân, cả hai cùng
quyết định về số phận Giáo hội. Họ bảo, giáo dân phải cử ra các đại diện
– và các đại diện đó, ở Đức, có cơ quan cao nhất là Uỷ ban Trung ương
của người công giáo Đức – để nói lên tiếng nói của giáo dân. Và phía
giáo sĩ cũng cử ra đại diện của họ. Hoàn toàn vô nghĩa. Như vậy th́ giáo
sĩ để cho ai? Nhất là người ta c̣n bảo cả hai giới phải chung nhau nghĩ
xem nên tổ chức Giáo hội như thế nào, nên giữ lại ǵ cho kho tàng đức
tin. Rằng phải hạ bệ giáo sĩ và giáo dân phải giành lại tiếng nói của
ḿnh.
Có người
nghĩ như vậy.
Nếu như
giáo sĩ có lí, th́ họ cũng chẳng có quyền bắt Giáo hội phải thế này thế
nọ. Mà họ phải vâng lời Thiên Chúa, mà người bảo đảm cho sự vâng lời đó
là giáo chủ. Giáo chủ là người giữ cho Giáo hội luôn nằm trong tay Thiên
Chúa, không để nó bị nhào nặn bởi con người. Đó là í nghĩa của bí tích
truyền chức linh mục, chức xuất phát từ một nguồn không phải do chúng ta
tạo ra. Lại nữa, giáo dân th́ có ǵ là xấu, đây là bậc sống b́nh thường
của người theo Chúa, nhờ bậc sống b́nh thường này mà Tin Mừng được sống
và được đưa vào cuộc sống b́nh nhật của thế giới. Và mục đích thật sự
của tông đồ giáo dân là làm sao cho đạo Chúa đi vào thế giới và biến đổi
nó.
Giới tu sĩ
nam nữ trong Giáo hội là bậc sống triệt để nhất của người theo Chúa. Đâu
là nhiệm vụ của họ, đặc biệt cho Giáo hội tương lai ?
Có nhiều
bậc sống theo Chúa, với nhiều nhiệm vụ khác nhau. Giáo dân là bậc cơ bản
và không thay thế được, họ sống đức tin trong hoàn cảnh hợp với ngành
nghề của họ, trong môi trường chính trị, khoa học, thủ công nghệ hoặc
những nghề b́nh thường nhất. Nhưng cũng cần có một bậc dành toàn cuộc
sống ḿnh cho đức tin, họ là trạm nhiên liệu cho việc rao truyền, cho
việc thổi hồn cho Giáo hội.
Tôi tin
rằng những cơ cấu muôn mặt đó sẽ rất quan trọng cho tương lai Giáo hội.
Luôn luôn cần có chỗ cho con người có thể thu ḿnh về, nơi đó họ suốt
ngày có thể tham dự vào cuộc sống cầu nguyện, nơi đó lời cầu kinh thấm
đượm nhịp sống của ngày thường. Đó là những kho dự trữ để đức tin lấy
thêm năng lực làm mới ḿnh và toả sáng. Chúng ta đang kinh nghiệm những
điều đó trong tu viện cổ xưa của các tu sĩ Biển-đức ở Montecassino này.
Hoặc hăy nghĩ tới các ḍng chiêm niệm nữ, như của các chị ḍng kín, các
chị ḍng Klara,
chẳng hạn. Đó cũng là những ốc đảo sa mạc cho nhiều người t́m tới để
tăng cường và đổi mới đức tin ḿnh.
Montecassino là một trong những tu viện nổi tiếng nhất của Giáo hội
la-tinh. Người ta nói, không có tu viện nào lâu đời và xứng đáng như tu
viện này. Vào đúng năm 529, khi người ta xây thành phố tu viện trên núi
này cho các tu sĩ biển-đức, th́ đó cũng là lúc Học viện Platon ở Athen
đóng cửa.
Tôi thấy sự
trùng hợp thời gian bất ngờ giữa việc đóng cửa Học viện Platon và việc
mở cửa tu viện Biển-đức ở Montescassino mang một í nghĩa lớn. Học viện
là biểu tượng cho nền học thuật cổ điển. Montescassino được coi là học
viện cho thế giới ki-tô giáo. Ta thấy một thế giới đang qua đi thật sự.
Đế-quốc Rô-ma tan vỡ, bên phương tây nó chỉ c̣n là những mảng vỡ đang
lịm tắt. Đế-quốc tan vỡ kéo theo sự đổ vỡ của cả một nền văn hoá, nhưng
Biển-đức đă giữ nó lại và tái sinh nó. Như vậy, ngài đă thực hành đúng
khẩu hiệu của các tu sĩ Biển-đức : Succisa virescit – càng cắt ngắn th́
nó lại càng mọc xanh lên. Một cách nào đó việc cắt đứt văn hoá đó lại
trở thành một cuộc lên đường.
Và đó là
khởi nguyên nền tảng văn minh Âu châu.
Các tu sĩ
biển-đức thoạt tiên chỉ muốn giữ truyền thống ḍng tu, là trở thành một
nơi cầu nguyện. Họ muốn là nơi tổng hợp việc làm tay chân, biến đất đai
thành vườn tược và phục vụ Chúa.
Lí tưởng
của cộng đoàn biển-đức được diễn tả qua câu ora et labora – làm việc và
cầu nguyện. Trên hết là phụng vụ. Nó ưu tiên nhất, v́ chính Chúa là quan
trọng nhất. Nó trải ra suốt ngày thâu đêm, thấm đượm và uốn nắn thời
gian và đă triển nở thành một dạng h́nh văn hoá cao và tinh ṛng. Nhưng
tinh thần đạo đức của phụng vụ đồng thời là trồng trọt làm mới đất đai.
Chủ trương làm việc tay chân này đă đẩy lùi thiên kiến cổ điển, coi đó
chỉ là nhiệm vụ của đám nô lệ. Giờ đây công việc tay chân trở thành một
cái ǵ cao quư, Tin Mừng Gio-an gọi đó là sự bắt chước đấng Tạo hoá.
Cùng với tư
tưởng mới về làm việc, quan điểm về nhân phẩm cũng thay đổi. Xă hội thời
đó nặng tính đẳng cấp, coi con người hoặc là tự do hoặc là nô lệ. Nhưng
tu viện là nơi không c̣n đẳng cấp, ai vào đó, đều là người tự do. Và,
bắt nguồn từ tự do của Chúa, mọi người đều b́nh đẳng và có cùng một sứ
mạng là mang Chúa xuống cho trái đất và nâng trái đất lên cùng Chúa.
Với tất cả
những cái đó Montescassino đă cứu và thay thế nền văn hoá cổ điển. Nơi
đây người ta sao chép lại các tài liệu, nơi đây ngôn ngữ được chăm sóc.
Tu sĩ người Pháp Leclerq có lần nói, yêu Chúa và yêu văn phạm gắn liền
với nhau. Muốn hiểu Kinh Thánh, phải đọc nó. V́ vậy mà khoa học ngôn ngữ
đă ra đời và được chăm bón. Đó chỉ là một thí dụ. Mặt khác, muốn làm
vườn hiệu quả, bắt buộc phải nghiên cứu đất đai. Tóm lại, có thể nói, từ
nguồn đạo đức « phụng vụ và làm việc » - ora et labora – đó, mà một nền
văn hoá mới, văn hoá âu châu, h́nh thành.
Di chúc lớn
của thánh Biển-đức để lại là bộ luật của ngài. Hẳn tác phẩm nhỏ nhoi đó
là một trong những thành quả lớn nhất của phương tây - mà sứ điệp thực
tế của nó là tạo nên một cuộc sống có « lớp lang thứ thự » - cho tới
ngày nay và măi măi vẫn có thể khám phá ra được nét mới. Ngài ghi
chú : « Chỉ cần Kinh Thánh cũng đủ làm mẫu mực cho cuộc sống rồi ».
Nhưng để người mới tập sự có thể thực hành được luật đó, ngài đă viết ra
một hướng dẫn đơn giản, cho những ai « yêu cuộc sống và muốn thấy một
ngày tươi đẹp ».
Yếu tố nổi
bật của luật đó là mực thước. Nhiều bộ luật ḍng khác quá gắt. V́ ganh
đua nên người ta thường đặt ra những luật quá triệt để, từng cá nhân sốt
sắng có thể theo được, nhưng về lâu về dài không thể áp dụng cho cuộc
sống chung. Biển-đức đă nối kết thành công giữa cái đ̣i hỏi gắt gao cần
thiết và cái giới hạn của bản chất con người. Luật của ngài linh động,
v́ vị bề trên có quyền hạn rộng răi áp dụng luật đó tuỳ vào hoàn cảnh do
ngài nhận định. Dù vậy, luật cũng không phải là lỏng lẻo, mà trái lại,
nó đề ra một cơ cấu chặt chẽ : nhất là các giờ kinh nguyện ấn định thời
biểu cho cả ngày lẫn đêm, và cũng cả cơ cấu các bữa ăn và bổn phận làm
việc. Như ta đă thấy, công việc tay chân kéo theo công việc văn hoá, học
chữ để đáp ứng nhu cầu phụng vụ.
Một cách
nào đó, Biển-đức được xem như một thứ Mai-sen, người đă đặt quy luật cho
cuộc sống. Nhưng luật của Biển-đức bắt nguồn từ đức Ki-tô. Và đức Ki-tô
là người đă làm mới và hoàn chỉnh luật Mai-sen, để nó có thể trở thành
luật sống cụ thể. Trong í nghĩa đó Biển-đức đă trở thành một nhà ban
hành luật cao cấp của phương tây, và từ con người văn hoá muôn mặt đó mà
cuối cùng một châu lục mới – Âu châu – đă thành h́nh, một nền văn hoá đă
biến đổi bộ mặt thế giới.
Nếu như văn
hoá chúng ta ngày nay đứng trước cơ nguy mất thăng bằng, như ta đang
thấy, th́ đó cũng là v́ ta đă ĺa quá xa luật ngài. Có lẽ thế giới chúng
ta luôn có thể t́m lại được thế thăng bằng một cách dễ dàng, nếu ta chịu
trở về với luật cơ bản của Biển-đức, bởi nó chỉ ra thái độ và nhân đức
nền tảng mà con người cần có, hầu tạo thăng bằng nội tâm cho cuộc sống.
Không có thăng bằng đó, không thể có cuộc sống cộng đoàn, và cá nhân
không thể trưởng thành được.
Ta tiếp tục
bàn thêm đôi chút về thành quả quan trọng đó của Biển-đức. Chữ đầu tiên
của bộ luật là « lắng nghe » : « Con ơi, hăy lắng nghe lời dạy của
thầy », rồi Biển-đức thêm : « Hăy ghé tai nghe tiếng tim con ».
Vâng, đó là
lời mời gọi lắng nghe, và đây là điều căn bản cho con người. Con người
không được tự măn, nó phải khiêm tốn để học đón nhận một cái ǵ đó –
« cúi đầu con xuống ». Nó phải lắng nghe để lần ra ơn gọi ḿnh. Và nghe
không có nghĩa là để một tai vào những ǵ vừa xẩy ra chung quanh, nhưng
là lắng ḿnh đi vào chiều sâu – hoặc hướng lên cao, bởi chưng những ǵ
thầy nói đều không ngoài việc áp dụng Kinh Thánh, áp dụng bộ luật nguyên
thuỷ của kiếp người.
Biển-đức
tin rằng, lắng nghe và đáp trả cũng giống như hít vào và thở ra. Và con
người cũng cần học cách chấp nhận ḿnh, nó cần « ở lại trong chính
ḿnh », cần im lặng, lắng nghe, t́m yên tĩnh cho ḿnh. Từ hơn 1500 năm
nay bộ luật vẫn không mất tính thời sự.
Qua luật
biển-đức, ta thấy cái ǵ thực sự là người trong đó th́ không mất tính
thời sự. Cái ǵ thật sự toát ra từ chiều sâu th́ vẫn là một cách sống
không bao giờ lỗi thời. Người ta có thể phê b́nh nó, có thể thử t́m
trong đó những h́nh thức vận dụng khác nhau, nhưng trên căn bản, quy
luật sống đó vẫn luôn mang tính thời sự. Ngay ngày hôm nay, ta lại thấy
cần phải thân thiện với địa cầu, cần coi trọng những quy luật của nó và
bảo tồn tạo vật của nó. Và có lẽ ta lại bắt đầu thấy cần dành thời gian
nghỉ ngơi cho việc phụng vụ, đừng bắt trí óc đêm ngày chỉ phải bận tâm
với chuyện năng suất. Ta biết việc lắng nghe cũng là một phần của đời
sống – bởi lẽ phụng vụ là việc Chúa đi vào ḷng người và là sự lắng
nghe. Ta biết kỉ luật, chừng mực và trật tự có liên quan với nhau ; vâng
lời liên quan với tự do ; cũng thế, việc có thể chịu đựng lẫn nhau trong
tinh thần đức tin không chỉ là quy luật nền tảng của một cộng đoàn ḍng
tu, nhưng tất cả những điều trên thật ra là những yếu tố nền tảng cho
việc h́nh thành bất cứ một cộng đoàn xă hội nào. Đó là một bộ luật rất
người, và nó cũng diễn tả được cái tính người đó, bởi v́ nó nh́n vượt
lên trên con người và – đă nghe và đă nh́n ra được những ǵ thuộc Thiên
Chúa. Con người chỉ trở thành người khi nó được Chúa đụng đến.
Câu chuyện
sau đây ta không được phép quên. Tên thật người đó là Gio-an Bernardone.
Người ta gọi ngài là Francesco, nghĩa là ´chú Pháp nhỏ´, v́ ngài thích
hát nhạc Pháp. Ơn gọi của ngài là cả một câu chuyện thật cảm động. Có
thể nói rằng Franciscus (Phan-sinh) đă cứu được Giáo hội khỏi sụp đổ ?
Giáo hội có
lẽ chẳng bao giờ sụp đổ hoàn toàn đâu, nhưng trong cơn khủng hoảng của
Giáo hội, ngài đă làm được chuyện quyết định để chống đỡ nó. Ai trong
chúng ta cũng biết câu chuyện của giáo chủ In-nô-xen-xô III. Ngài mơ
thấy nguyện đường Lateran đổ và bỗng dưng có người ghé vai chống đỡ.
Ngài cho rằng người đó chính là Phan-sinh và cho mời tới. Và nhà chính
trị tài ba In-nô-xen-xô nh́n ra sức mạnh cần có cho Giáo hội nơi anh nhà
tu vô chính trị và có cuộc sống Tin Mừng cực đoan kia. Giáo hội cần một
đổi mới đoàn sủng từ bên trong, cần một ngọn lửa đức tin mới, chứ không
phải chỉ với khả năng và chiến lược của giáo triều và của trật tự chính
trị là đủ.
Tôi tin
rằng câu nói của đức Ki-tô « Hăy theo tôi », hăy dứt khoát triệt để theo
tôi, quả mang nhiều kết quả. Bao nhiêu xung lực và câu đáp trả mới đă
không ngừng nẩy sinh từ đó. Và Giáo hội, mỗi khi trở nên nhàm chán hay
đứng trước đổ vỡ, vẫn không ngừng hi vọng vào những sức bật mới do Chúa
Thánh Linh thúc đẩy từ bên trong. Những sức bật không bao giờ được chuẩn
bị trước, nhưng chúng phát sinh từ những con người được chúc phúc và
chúng làm cho Tin Mừng luôn mang lại hoa trái mới.
Phan-sinh là một
trong những người đó. Sau thời gian tuổi trẻ vui chơi và nông nổi, bỗng
dưng ngài nghe được tiếng gọi triệt để, và hân hoan bước đi theo Chúa.
Ngài bằng ḷng với cuộc sống tu tŕ đang có, chứ không nghĩ lập ra một
ḍng mới. Đứng trước nếp sống nặng nề, vô vị – và bị choáng ngộp bởi ích
kỉ - của ki-tô hữu, ngài chỉ muốn đơn giản rao giảng lại Tin Mừng theo
lối mới và góp nhặt người về cho Chúa. Ngài chỉ muốn tŕnh bày Tin Mừng,
nói về bài giảng trên núi, mà thôi, để khích động bà con ăn năn quay về
với Chúa.
Nhưng từ đó, gần như
ngược lại với í ngài, một phong trào sống đạo đă h́nh thành, và cuối
cùng nó đă trở thành khung pháp lí cho một ḍng tu. Giáo chủ nhận ra nhu
cầu phải cho phong trào này một khung h́nh tổ chức, để làm dụng cụ rao
truyền sự hiện diện mới của Tin Mừng, mà Phan-sinh đang phát động. Nhưng
đây rốt cuộc lại là bi kịch của ḍng Phan-sinh : Một đàng, chủ trương
sống tin mừng triệt để đ̣i hỏi phải có nhiều tự do, phải sống nghèo hơn,
chủ trương đó không thể bị bó hẹp trong một khuôn khổ định chế. Nhưng
đàng khác lại cần có một h́nh thức nào đó phù hợp cho một cộng đoàn con
người b́nh thường tổ chức đời sống. Ngọn lửa sống đạo cực đoan kia thỉnh
thoảng đă vượt ra khỏi định chế, nhưng dù vậy ḍng vẫn luôn nhận ra chỗ
đứng trong Giáo hội của ḿnh.
Ngay chính Giáo hội
cũng sống trong t́nh trạng lưỡng nan đó. Một mặt, tất cả chúng ta phải
luôn nỗ lực, triệt để hơn trong việc vượt ra khỏi những thoả hiệp cuộc
sống thường nhật. Nhưng mặt khác, nếu như phải chấp nhận tiếp tục sống
với những thoả hiệp phải có trong thế gian này, th́ ta nên chấp nhận cái
gai bất an đó thôi thúc trong ḷng, và hăy mở chính cuộc sống ḿnh và
cuộc sống thế giới ra cho chiều kích lớn rộng của Tin Mừng.
Phan-sinh đă chẳng
bao giờ chịu làm linh mục, tại sao ?
Ngài là một người
khiêm tốn. Ngài sống theo í nghĩa nguyên thuỷ của lời Chúa, muốn trở nên
bé mọn trước mặt Ngài, v́ như Chúa đă nói, chỉ những ai bé mọn mới thấu
hiểu được Tin Mừng. Linh mục trong thời xă hội đẳng cấp của ngài là giới
thuộc cấp cao, ưu đăi, mà một kẻ chủ trương sống đơn giản phục vụ như
ngài không muốn bước vào. Ngài muốn ḿnh là một người loan báo Tin Mừng
tầm thường, một kẻ hát rong ca ngợi Chúa. Theo truyền thuyết th́ ngài đă
là phó tế, một chức vị có quyền đọc Kinh Thánh trong các buổi phụng vụ.
Ở đây xem ra chức phó tế, một bí tích phục vụ, là tác vụ thích hợp cho
cuộc đời ngài.
(c̣n tiếp nhiều kỳ)
|
GIÀU CÓ TRONG KHÓ
NGHÈO
Có một người đàn
ông mà chúng tôi t́m thấy trong ống cống, một nửa người bị ḍi
bọ gậm nhắm và sau khi chúng tôi đem ông về nhà, ông chỉ nói :”Tôi
đă sống như một con vật trên đường phố, nhưng tôi sẽ chết như
một thiên thần, được yêu thương và được săn sóc”. Thế rồi sau
khi được gắp bỏ mọi sâu bọ trên cơ thể, tất cả những ǵ ông nói,
với nụ cười vui, là :”Thưa Seour, tôi đi về nhà Chúa đây”. Và
ông tắt thở.
Thật là tuyệt vời
khi nh́n sự cao cả của con người nầy đă có thể nói như vậy,
không oán trách ai, không so đọ tính toán ǵ. Như một thiên thần,
- chính là sự cao cả của những ai giàu có về mặt thiêng liêng –
dù họ có thể nghèo về vật chất.
Chúng tôi không
phải là những người làm công tác xă hội. Chúng tôi có thể đang
làm công tác xă hội dưới mắt một số người, nhưng chúng tôi phải
là những người chiêm niệm trong ḷng thế giới. V́ chúng tôi phải
đem sự hiện diện của Chúa đến trong gia đ́nh bạn, v́ gia đ́nh
đang cầu nguyện chung, đang ở chung với nhau. Có quá nhiều hận
thù, quá nhiều lầm than khốn khổ và chúng tôi, cùng với lời cầu
nguyện, cùng với hy sinh của ḿnh, chúng tôi bắt đầu tại nhà
ḿnh. T́nh thương yêu khởi đầu tại nhà và đó không phải là chúng
tôi làm yêu thương bao nhiêu, mà là chúng tôi đặt bao nhiêu yêu
thương vào những ǵ chúng tôi làm…Tôi muốn các bạn t́m thấy ở
đây những người nghèo, trước hết ngay trong chính nhà bạn. Và
t́nh thương yêu khởi đầu ở đó. Hăy nên Tin Mừng cho những người
của bạn trước hết. Và hăy t́m hiểu về những hàng xóm gần nhà bạn.
Bạn có biết họ là ai chưa?
(Chân phước Mẹ
Têrêxa Calcutta)
|
|
|