Giáo-lí ơn cứu-độ đă được loan-truyền từ hai ngàn
năm và từ hai ngàn năm nay có một Giáo-hội bước theo đức Ki-tô dấn-thân
cho ḥa-b́nh, công-lí và t́nh yêu. Nhưng vào thời-điểm kết-thúc
thiên niên-kỷ thứ hai sau Kitô, kết-quả tổng-kê xem ra nghèo-nàn như
chưa từng có. Thậm chí một nhà văn Mỹ, ông Louis Begley, gọi thế-kỷ
20 là "một tang lễ ma-quái". Đó là một hoả-ngục gây nên bởi tội-ác
giết người, thảm-sát tập-thể và bạo-lực, nghĩa là một tổng-hợp gói
trọn mọi thứ kinh-hoàng.
Trong thế-kỷ 20 số người bị giết cao trội như
chưa từng thấy. Đây là thời-điểm xẩy ra cuộc tận diệt người Do-thái
và sự phát-triển bom hạt nhân. Người ta những tưởng, sau đệ nhị thế
chiến sẽ mở màn một kỷ-nguyên thanh-b́nh. Hẳn người ta phải biết, với
bài học tàn-sát Do-thái, nạn kỳ-thị chủng-tộc cuối cùng sẽ đưa ta về
đâu. Nhưng tiếp nối năm 1945 lại là một khoảng thời-gian rách-nát v́
chiến-tranh như chưa từng thấy. Trong thập niên 90 chúng ta trải qua
tại Âu châu bao cuộc chiến và xung-đột tôn-giáo; khắp nơi trên thế-giới
gia-tăng nạn đói, xua-đuổi cư dân, ḱ-thị chủng-tộc và tội-phạm, sự
ác chiếm thế thượng-phong. Dĩ-nhiên thời-điểm kết-thúc thiên niên-kỷ
cũng ghi-nhận những biến-đổi tốt-đẹp: chính-sách toàn-trị trong
trong các nhà-nước cộng-sản cáo-chung, bức màn sắt ở Trung Âu đă sụp-đổ,
những vùng có tranh-chấp sẵn-sàng đối-thoại và các nước Trung Đông rục-rịch
xích lại gần nhau.
Suy-tư về những ǵ Thiên Chúa và nhân loại thực-hiện,
nhiều người hoài-nghi tự hỏi: Có thực thế-gian được cứu rỗi? Có thể
gọi những năm sau đức Ki-tô là những năm của ơn cứu-độ?
Đây quả là một chuỗi nhận-xét và vấn-nạn. Câu hỏi
căn-bản ở đây thật ra là có phải Ki-tô giáo đă mang đến ơn cứu-độ,
phải chăng Ki-tô giáo đă mang lại ơn cứu-rỗi hay Ki-tô giáo thật ra
vô hiệu? Phải chăng Ki-tô giáo ngày nay đă mất sức sống?
Về vấn-đề này tôi thiết nghĩ trước hết phải nói ngay,
ơn cứu-độ, một ơn đến từ Thiên-chúa, không phải là một thực-thể có định
lượng và v́ thế không thể tính-toán đo-lường thêm bớt. Nh́n theo kiến-thức
kỹ-thuật, sự phát-triển trong nhân loại có lẽ đôi khi bị khựng lại,
nhưng tựu trung vẫn có sự tiếp-tục tăng-trưởng. Những ǵ thuần-tuư
là lượng-số, hẳn nhiên ta có thể cân đo được và có thể nhận ra những
tăng giảm của chúng. Nhưng sự thiện nơi con người không phát-triển
theo quy-tắc định-lượng đó, v́ mỗi người là một cá-thể mới và v́ thế
với mỗi người lại bắt đầu một lịch-sử mới trên một b́nh-diện nào đó.
Sự phân-biệt trên đây rất hệ-trọng. Cái thiện nơi
con người không thể tính bằng lượng. Bởi thế không thể cho rằng
Ki-tô giáo vào năm khởi-thủy bắt đầu như một hạt cải, và cuối cùng
sẽ phải sừng-sững như một đại thụ và ai cũng có thể thấy nó
phát-triển tốt-tươi hơn từ thế-kỷ này sang thế-kỷ khác. Trái lại nó
luôn có thể bị nghiêng đổ hay vấp ngă, v́ ơn cứu-rỗi gắn chặt với
tự-do của con người và Thiên Chúa không bao giờ muốn lấy đi tự-do
này.
Vào thời Ánh-sáng đă nảy ra tư-tưởng cho rằng
tiến-tŕnh văn-minh gần như bắt-buộc phải đưa nhân loại liên-tục
tiến lên trên con đường chân, thiện, mỹ, và v́ thế trong tương-lai
không thể có những hành-động man-rợ nữa.
Ơn cứu-rỗi luôn gắn liền với tự-do, có thể nói đó
chính là cơ-cấu mạo-hiểm của ơn cứu rỗi. Bởi thế nó không bao giờ
đơn thuần được áp đặt từ ngoài hoặc được xây-dựng kiên-cố với một
cơ-cấu vững-chắc, nhưng nó được đặt vào một chiếc b́nh dễ vỡ là
tự-do con người. Nếu cho rằng con người đă vươn tới một độ cao, th́
cũng phải coi chừng nó có thể rơi xuống và tan-vỡ. Tôi thiết nghĩ đó
chính là cuộc tranh-luận khi đức Ki-tô bị cám-dỗ: Phải chăng ơn
cứu-rỗi phải như một cái ǵ kiên-định trên dương-gian, có thể
tính-toán được theo nghĩa: mọi người đều có cuả ăn, từ nay không đâu
bị đói nữa? Hay ơn cứu-rỗi là cái ǵ khác hẳn? V́ nó gắn chặt với
tự-do, v́ nó không bị áp-đặt cho con người trong những cơ-cấu có
sẵn, mà trái lại luôn nhịp bước với tự-do của con người, cho nên
trong một mức-độ nhất-định nó vẫn có thể bị tan-vỡ.
Ta cũng phải nh́n-nhận rằng Ki-tô giáo đă luôn toả
ra một t́nh nhân-ái dạt-dào. Những ǵ Ki-tô giáo đă mang vào lịch-sử
thật đáng kể. Goethe
từng thốt lên: Những ǵ đă xẩy ra quanh tôi làm tôi phải cúi đầu.
Đúng thế, chỉ qua Ki-tô giáo mà hệ-thống chăm-sóc bệnh nhân,
cưu-mang người yếu kém và cả một hệ-thống tổ chức từ-thiện đă h́nh
thành. Cũng nhờ Ki-tô giáo mới phát-sinh sự tôn-trọng con người
trong mọi hoàn-cảnh. Một sự kiện lịch-sử đáng ghi nhận: Sau khi
chấp-nhận Ki-tô giáo, việc đầu tiên hoàng-đế Constantinus thấy phải
thi-hành là cải-tổ luật-lệ, để chủ-nhật thành ngày nghỉ cho mọi
người và cho người nô-lệ được hưởng một số quyền-lợi.
Tôi cũng có thể đan-cử trường-hợp Athanasius, vị
giám-mục lỗi-lạc thành Alexandria trong thế-kỷ thứ tư. Qua
kinh-nghiệm bản-thân ngài tả lại cảnh khắp nơi các bộ-lạc cứ
nhăm-nhe dao búa ḱnh-chống nhau, măi tới khi trở thành ki-tô-hữu,
họ mới biết chung sống hoà-b́nh. Nhưng đó là những đặc-tính không do
cơ-cấu của một thể-chế chính-trị tự tạo nên. Chúng cũng có thể bị
sụp-đổ, như ta ngày nay vẫn thấy.
Ở đâu con người xa rời đức tin, ở đó những tệ-nạn
khủng-khiếp thời ngẫu-tượng sẽ ồ-ạt trở lại. Tôi tin rằng, ta có thể
nhận thấy rơ Thiên Chúa đi vào lịch-sử một cách nói được là
mong-manh hơn chúng ta mong-muốn. Nhưng đó lại là câu trả lời cuả
Ngài đáp lại tự-do của ta. Một khi ta muốn và chấp-nhận Thiên Chúa
tôn-trọng tự-do của ta, ta cũng phải học tôn-trọng và quí-chuộng
tính-cách mong-manh của hành-động Ngài.
Ki-tô giáo ngày nay đă bành-trướng rộng-răi trên
khắp thế-giới như chưa bao giờ từng thấy. Nhưng ơn cứu-độ cho
thế-gian đă không đương-nhiên đồng-bộ với nhịp tiến đó.
Đúng vậy, sự lan rộng tính được bằng con số
tín-hữu ki-tô không đương-nhiên dẫn đến sự cải-thiện thế-gian, v́
không phải tất-cả những ai mang tên ki-tô-hữu đều thực-sự là
ki-tô-hữu. Ki-tô giáo chỉ ảnh-hưởng gián-tiếp lên khuôn mặt
trần-gian qua con người, qua tự-do của họ. Sự dữ cũng không
đương-nhiên bị khai-trừ khi ta thành-lập một hệ-thống chính-trị hay
xă-hội mới.
Sự hiện-hữu của sự dữ mang ư-nghĩa ǵ đối với ơn
cứu-rỗi hay không có ơn cứu-rỗi?
Sự dữ có thế-lực qua ngă tác-động lên tự-do con
người và tạo nên những cơ-cấu riêng của nó. Rơ-ràng có những cơ-cấu
của sự dữ. Chúng đè-nén con người, chúng có thể ngăn-chặn tự-do và
như vậy tạo nên bức tường cản bước Thiên Chúa đi vào trần-gian. Qua
đức Kitô, Thiên Chúa thắng sự dữ. Điều này không có nghĩa là từ nay
tự-do con người hết bị sự dữ thử-thách, nhưng có nghĩa là Chúa
sẵn-sàng đưa tay cho ta nắm và dẫn ta đi, song Ngài không ép-buộc
ta.
Như thế có nghĩa là Thiên Chúa có quá ít
quyền-lực trên dương-thế?
Dù sao Ngài cũng không muốn sử-dụng quyền-lực theo
cách như ta tưởng. Đó chính là vấn-nạn mà ông đă gợi lên lúc đầu và
tôi cũng muốn đặt ra cho cái gọi là "tinh-thần thế-gian": Tại sao
Thiên Chúa bất lực như vậy? Tại sao Ngài chỉ cai-trị một cách yếu-ớt
lạ-lùng như một kẻ bị đóng đinh trên thập-giá, như một kẻ thất-bại?
Nhưng rơ ràng đó là cách Ngài muốn cai-trị và xử-dụng quyền-lực. C̣n
như dùng quyền-lực qua cưỡng-bức, áp-đặt và bạo-lực lại không phải
là cách cuả Ngài.
Xin trở lại câu hỏi lúc đầu: T́nh-trạng thế-giới,
diễn-tả qua cách nói "một tang lễ ma-quái" của thế-kỷ 20, không
nhất-thiết làm ta hoảng-sợ sao?
Là tín-hữu Ki-tô chúng ta biết trần-gian luôn nằm
trong bàn tay Thiên-chúa. Ngay cả khi con người tháo bỏ dây liên-kết
với Ngài và lao vào huỷ-diệt, trong t́nh-trạng thế-giới đổ-nát đó
Chúa sẽ ra tay làm lại một khởi đầu mới. Phần chúng ta, trong niềm
tin vào Ngài, chúng ta hành-động để con người không xa lià Ngài và
gắng làm hết sức để thế-gian có thể tồn-tại như kỳ-công và con người
như thụ-tạo của Ngài.
Tuy nhiên một viễn-tượng hết sức bi-quan vẫn có thể
xẩy ra, trong đó sự vắng bóng Thiên Chúa – Metz gọi đó là "cuộc
khủng-hoảng Thiên Chúa" – trở nên trầm-trọng đến nỗi khiến con người
rơi vào vực thẳm luân-lí và thế-giới rơi vào vực thẳm đổ-nát, đứng
trước bờ tận-thế. Nguy-nan đó chúng ta phải tính tới. Nhưng cho dù
viễn-tượng tận-thế kia có xẩy ra, th́ Thiên Chúa vẫn c̣n đó để
bảo-vệ những ai t́m Ngài; kết-cục t́nh yêu vẫn mạnh hơn hận-thù.
Gio-an Phao-lô II có nhận-xét: "Vào cuối thiên
niên-kỷ thứ hai Giáo-hội lại trở thành Giáo-hội của các vị tử-đạo".
Thưa hồng-y, chính ngài cũng làm một bản thống-kê tương-tự: "Nếu
chúng ta không t́m lại cái phần làm nên căn-tính ki-tô giáo của
ḿnh, chúng ta sẽ không đứng vững trước những thử-thách của
thời-đại".
Chúng ta đă trao-đổi về đề-tài này : Giáo-hội sẽ mặc
lấy những h́nh-thức khác, Giáo-hội sẽ bớt phần đồng-hóa với những
cộng-đồng lớn, sẽ mặc lấy h́nh-thái Giáo-hội của thiểu-số, sẽ
sinh-động qua những nhóm nhỏ với xác-tín vững-mạnh, sống và
hành-động theo niềm tin. Chính qua cung-cách này, nói theo
Thánh-kinh, Giáo-hội sẽ là "muối cho đời". Trong t́nh-thế xáo-trộn
này tính-chất bền-bỉ - nghĩa là cái cốt-lơi không thể bị tiêu-diệt
nơi con người – lại trở nên quan-trọng hơn và những nguồn sức mạnh
nâng-đỡ con người lại càng cần-thiết hơn bao giờ hết.
Bởi thế, một đàng Giáo-hội cần có sự uyển-chuyển để
có thể chấp-nhận những tư-tưởng và trật-tự biến-đổi trong xă-hội
cũng như cởi bỏ những liên-hệ ràng-buộc trước đây. Đàng khác, Giáo-hội
chính v́ thế cần có sự trung-kiên để duy-tŕ cái cốt-lơi làm nên con
người, cái làm cho con người sống-c̣n, cái bảo-vệ phẩm-giá con người.
Giáo-hội cần giữ vững điểm này và mở đường cho con người hướng lên
cao, hướng vể Thiên Chúa, v́ sức mạnh ḥa-b́nh trên dương-thế chỉ đến
từ nơi cao đó.
Ngày nay nhiều người cho rằng, trải qua bao thế-kỷ
Giáo-hội đă hành-động không đúng với mạc-khải. Giáo-chủ đă nêu lên sự
bất tương-dung nhân danh tôn-giáo và sự đồng-loă trong tội ác phạm đến
nhân-quyền như thí-dụ điển-h́nh cho "vực thẳm tội-lỗi" của 2000 năm
lịch-sử Ki-tô giáo. Ngày nay Giáo-hội hay nói đến lầm-lỗi của ḿnh đối
với người Do-thái cũng như đối với phụ-nữ. Trước đây những thú-nhận
như thế bị coi là làm giảm uy-quyền. Liệu Giáo-hội có phải lên tiếng
bằng sự cởi-mở không che đậy hơn nữa về những lỗi-lầm ngay trong
ḷng Giáo-hội qua ḍng lịch-sử?
Tôi thiết-nghĩ sự thành-thực luôn là một nhân-đức nền-tảng,
bởi cũng v́ nhờ nó chúng ta nhận biết rơ hơn đâu là Giáo-hội và đâu
không phải là Giáo-hội. Trong ư-nghĩa này sự thẳng-thắn mới đây - nếu
muốn dùng kiểu nói này - một sự thắng-thắn thú-nhận không che đậy những
khía-cạnh đen-tối của lịch-sử Giáo-hội, là một hành-động quan-trọng
để chứng-tỏ sự thành-tâm và trung-thực của ḿnh. Nếu sám-hối, xét
ḿnh, nhận ra và lănh lấy chính tội-lỗi ḿnh là cái cốt-lơi của một
ki-tô-hữu, bởi chỉ qua đó tôi mới thành-thực với chính tôi và trở
nên công chính, th́ Giáo-hội như một tác-nhân tập-thể cũng không thể
tránh-né việc mổ-xẻ, nh́n ra và nhận lănh lỗi-lầm ḿnh. Một "thánh-vịnh
sám-hối" của Giáo-hội quả thực cần-thiết để Giáo-hội chứng-tỏ ḿnh
thành-thực trước mặt Thiên Chúa và trước mặt con người.
Nhưng một điểm khác cũng quan-trọng không nên bỏ
qua. Đó là không nên quên rằng, mặc cho lỗi-lầm và yếu-đuối, lời
Chúa vẫn luôn được loan-truyền và các bí-tích vẫn tiếp-tục được
ban-phát, và nhờ vậy sức mạnh ơn cứu-độ vẫn tác-động chặn đứng sự dữ.
Chính vào lúc Ki-tô giáo như cục than hồng tàn-lụi và biến thành tro
bụi th́ thần-lực Thiên Chúa lại dấy lên những bừng-khởi đạo-đức mới.
Chẳng hạn vào thế-kỷ 10, khi các giáo-triều sa-sút thê-thảm và người
ta những tưởng Ki-tô giáo tại Rôma tới thời mạt-vận, th́ chính vào
thời đó tinh-thần ḍng tu lại bừng lên và một động-lực hoàn-toàn mới
của niềm tin nảy sinh. Quả thực có sự sa-sút trong ḷng Giáo-hội hôm
nay, Ki-tô giáo c̣n đó trên h́nh thức, nhưng chẳng được mấy ai sống
thực niềm tin đó. Tuy nhiên, sự hiện-diện của đức Ki-tô vẫn âm-thầm
tác-động để đem lại sự đổi mới vào một lúc không chờ không đợi.
Xem ra gánh lịch-sử đè nặng trên vai Giáo-hội.
Thí-dụ vào dịp kỷ-niệm 500 năm Cô-lôm-bô khám-phá Mỹ châu người ta
có dịp chứng-kiến những giao-động t́nh-cảm chống lại cuộc truyền đạo
Ki-tô sôi-sục đến độ có thể tưởng như vấn-đề mới xẩy ra hôm qua.
Vấn-đề này xảy ra một phần do phán-đoán vơ đũa cả nắm,
không có chứng-cớ lịch-sử, nhưng chỉ do những giao-động t́nh-cảm tức-thời.
Đă có những lầm-lỗi xẩy ra, kể cả những lỗi-lầm trầm-trọng, điều đó
tôi không chối-căi. Nhưng, về lănh-vực này, mới đây đă có những
nghiên-cứu lịch-sử cho thấy đức tin và giáo-hội Công giáo cũng đă là
nhân-tố chống lại sự chà-đạp thô-bạo lên văn-hóa và con người bản-xứ
do những kẻ thực-dân đầy ḷng tham gây nên. Phao-lô III và những vị
giáo-chủ kế tiếp đă mạnh-mẽ bảo-vệ quyền-lợi dân bản-xứ và đă
ban-hành những luật-lệ tương-ứng. Vương-triều Tây-ban-nha, đặc-biệt
là hoàng-đế Ca-rô-lô V, cũng ban-hành những khoản luật - mặc dầu một
phần không được thực-thi - làm vẻ-vang danh-dự triều-đ́nh, v́ những
luật này đề cao quyền-lợi dân bản-xứ, công-nhiên coi họ là đồng loại
và như vậy có đầy-đủ nhân-quyền. Trong thế-kỷ huy-hoàng này của
Tây-ban-nha các nhà thần-học và chuyên-gia giáo-luật đă khởi-xướng
lên ư-niệm nhân-quyền. Về sau nhiều người lấy lại ư-niệm này, nhưng
vương-triều Victoria của Tây-ban-nha đi tiên-phong tinh-luyện ư-niệm
đó.
Những nhà truyền giáo lỗi-lạc thuộc ḍng Phan-sinh
và Đa-minh thực-sự chứng-tỏ là những trạng-sư bênh-vực con người.
Không phải chỉ có Bartholomé de las Casas,
nhưng c̣n nhiều nhân-vật không tên tuổi khác nữa. Người ta mới
khám-phá ra một khía-cạnh hi-hữu của lịch-sử truyền giáo. Những nhà
truyền giáo ḍng Phan-sinh tiên-khởi tại Mễ-tây-cơ - c̣n nặng
ảnh-hưởng thần-học thần-linh của thế-kỷ XIII - đă rao truyền một
h́nh-thức Ki-tô giáo đơn-sơ, nhẹ phần định-chế và đi thẳng vào ḷng
người. Không thể có những loạt người uà theo Ki-tô giáo như ta thấy
ở Mễ-tây-cơ, nếu họ không cảm-nhận được đức tin như một sức mạnh giải-thoát;
kể cả giải-thoát khỏi những tục thờ kính trước đó. V́ dân bản-xứ bị
đàn-áp, muốn thoát gông-cùm, ngả theo Tây-ban-nha, nên Mễ-tây-cơ mới
bị chinh-phục. Nh́n tổng-quát mới thấy đó là cả một bức tranh không
đơn-giản, trong đó có những lỗi-lầm ta không được phép bỏ qua. Nếu
lúc đó không có một thế-lực bênh-vực và giải-thoát để những nhóm dân
bản-xứ c̣n tồn-tại như ngày nay tại Trung và Nam Mỹ , th́ có lẽ lịch-sử
đă xoay-chuyển khác hẳn.
Tại sao phải đợi bao thế-kỷ Galilêi
mới được phục-hồi danh-dự?
Tôi thiết nghĩ trong trường-hợp này người ta đă
hành-động theo nguyên-tắc cứ để mọi chuyện tự trôi theo ḍng
thời-gian. Không ai thấy cần lên tiếng công-khai phục-hồi danh-dự.
Chỉ vào thời Ánh-sáng vụ Galilêi mới được làm nổi cộm lên như một
thí-dụ điển-h́nh cho những tranh-chấp giữa Giáo-hội và khoa-học.
Cuộc tranh-chấp mang nặng ư-nghĩa lịch-sử, nhưng thoạt đầu không
gây-cấn, giật-gân gần như một huyền-thoại. Thời Ánh-sáng cố
tŕnh-bầy sự-kiện như một triệu-chứng bệnh-hoạn về phong-cách
Giáo-hội đối-xử với khoa-học. Do đó vụ Galilêi được đánh bóng như
tiêu-biểu cho thái-độ bài khoa-học và cổ-lỗ của Giáo-hội. Dần hồi
người ta nhận ra đây không chỉ đơn-thuần là câu chuyện của thời
xa-xưa, nhưng là vấn-đề đang day-dứt lương-tâm hôm nay, v́ thế cần
phải giải-quyết một lần cho minh-bạch.
Lịch-sử đă xoay-chuyển ra sao nếu không có
Giáo-hội, câu hỏi này không ai có thể trả lời được. Trong khi đó có
thể dễ-dàng nhận ra đức tin Ki-tô giáo đă giải-thoát và làm cho
thế-giới trở nên văn-minh qua sự phát-triển nhân-quyền, nghệ-thuật,
giáo-dục thuần-phong mỹ-tục. Không thể h́nh-dung ra Âu châu nếu
không có những tiến-bộ này. Nhà báo Do-thái Franz Oppenheimer viết:
"Những nền dân-chủ đă nảy sinh trong thế-giới Do-thái - Ki-tô giáo
tây phương. Lịch-sử phát-triển của những nền dân-chủ này là
điều-kiện nền-tảng cho thế-giới đa-nguyên chúng ta. Nhờ lịch-sử này
chúng ta có những tiêu-chuẩn để đo lường, phê-phán và sửa sai những
nền dân-chủ của ta". Và chính ngài cũng lưu-ư rằng, sự tồn-tại những
nền dân-chủ có phần liên-quan tới sự tồn-tại những giá-trị ki-tô
giáo.
Tôi chỉ có thể thừa-nhận câu nói của Oppenheimer.
Ngày nay ta biết rằng mẫu-mực dân-chủ đă nảy sinh từ nội-qui ḍng tu
với những khoản luật ḍng và việc bầu-cử nội-bộ của họ. Thể-chế
chính-trị đă rút ra từ đó ư-niệm luật-pháp áp-dụng đồng-đều cho mọi
công-dân. Phải công-nhận trước đó đă có khuôn-mẫu quan-trọng của nền
dân-chủ Hy-lạp, nhưng nó đă sụp-đổ với thần-minh và phải mất công
xây-dựng lại. Hiển nhiên là hai nền dân-chủ tiên-phong ở Mỹ và Anh đều
dựa trên sự chấp-nhận những giá-trị Ki-tô giáo và chúng chỉ có thể vận-hành
trên căn-bản đồng-thuận về những giá-trị. Không có sự đồng-thuận về
giá-trị này, chúng sẽ tan-ră và sụp-đổ. Như vậy, trên b́nh-diện lịch-sử,
ta có thể làm được bản thống-kê tích-cực về Ki-tô giáo, v́ nó đă làm
nẩy sinh một mối liên-hệ mới giữa người với người cũng như đă kiến-tạo
nên một nền nhân-bản mới. Nền dân-chủ cổ Hy-lạp dựa vào sự bảo-hộ
linh-thiêng của thần-linh. Nền dân-chủ ki-tô của Thời-mới dựa vào
tính-chất linh-thiêng của những giá-trị được bảo-đảm từ đức tin
Ki-tô giáo, những giá-trị triệt-tiêu tính-cách độc-tài của đa-số. Những
ǵ trước đây ông nói về bản thống-kê của thế-kỷ 20 cũng cho thấy rằng
nếu như ta vứt bỏ Ki-tô giáo ra khỏi thế-giới này, th́ những thế-lực
cổ-xưa của sự dữ - đă từng bị Ki-tô giáo khai-trừ - sẽ đột-nhập thế-giới
trở lại. Dưới cái nh́n thuần lịch-sử ta có thể khẳng-định: Nếu không
có nền-tảng tôn-giáo, nền-tảng „linh-thiêng“, th́ không có dân-chủ.
Newmann, vị hồng-y người Anh, có lần nhận-xét về
sứ-mạng truyền giáo của Giáo-hội: "Chỉ nhờ có ki-tô-hữu, nhờ màng lưới
cộng-đoàn rải-rác khắp năm châu, nên thế-giới chưa bị huỷ-diệt. Sự tồn-tại
của thế-giới gắn chặt với sự tồn-tại của Giáo-hội. Nếu Giáo-hội ngă
bệnh, thế-giới sẽ than khóc thân-phận ḿnh."
Có thể người ta cho nhận-xét trên là quá đáng, nhưng
tôi nghĩ chính lịch-sử những thể-chế độc-tài vô thần lớn trong thế-kỷ
chúng ta như chế-độ Đức quốc-xă và chế-độ cộng-sản, đă minh-chứng
cho thấy là sự sụp đổ của Giáo-hội, sự phá-sản và vắng bóng đức tin
như lực thúc-đẩy quan-trọng đưa đến hành-động, quả thực đă kéo theo
thế-giới xuống vực thẳm. Trước kia thế-giới hỗn thần dù sao cũng c̣n
đôi nét cao-đẹp, và nối-kết với thần-minh-cũng có nghĩa thừa-nhận những
giá-trị uyên-nguyên, giúp con người ḱm-hăm được cái dữ, chứ ngày
nay, một khi kháng-lực chống lại cái dữ không c̣n nữa, th́ sự sụp-đổ
hẳn phải vô cùng bi-đát.
Qua hiểu-biết dựa trên kinh-nghiệm ta có thể quả-quyết,
khi con người bỗng-nhiên bị lột hết sức mạnh luân-lí như được
tŕnh-bầy trong giáo-lí Ki-tô giáo, con người sẽ chao-đảo như con tầu
va vào băng-sơn, và sự sống-c̣n của con người lúc đó thật mong-manh.
(c̣n tiếp nhiều kỳ)