Vào cuối thiên niên-kỷ thời-gian có vẻ qua mau
hơn, như do một lực liên-kết huyền-bí nào đó gây nên. Giống như những
hạt cát rơi qua lỗ hở với vận-tốc cao nhất, lúc chiếc đồng hồ cát sắp
cạn và sắp được dựng ngược lại. Nhiều người xác-tín rằng chúng ta
đang ở vào thời-điểm khai-sinh một cộng-đồng thế-giới mới, khác hẳn
từ nền-tảng với thế-giới trước đây, cũng giống như thế-giới sau thời
cách-mạng kỹ-nghệ khác xa với thế-giới nông-nghiệp lâu đời trước đó.
Đó là cái mà những nhà xă-hội học gọi là biến-cố
chia ḍng nước, lúc ḍng nước đổi hướng chảy ngược chiều, theo biến-cố
đó th́ chỉ c̣n vài giá-trị cao-quí rơi-rớt lại cho thời-đại mới. Đó
là thời-điểm nói đúng ra là không có hôm nay, nhưng chỉ có cái
không-c̣n-hôm qua và cái chưa-có-ngày mai. Liệu chúng ta có phải sẵn-sàng
chờ-đợi một cuộc biến-đổi tận gốc-rễ chăng?
Tôi cũng nhận thấy lịch-sử đang qua mau. Có những
phát-minh một khi được thực-hiện, th́ tất-cả những ǵ c̣n lại sẽ tiếp-nối
qua nhanh với vận-tốc chóng mặt. Khi ngẫm-nghĩ 30 năm qua thế-giới
biến-đổi ra sao, tôi thấy như sờ thấy lịch-sử đang qua mau cũng như
những thay-đổi xẩy ra trong đó đang qua mau. Thế-giới biến-đổi đă thấm
vào hiện-tại của ta, và với một mức độ nào đó nó đă có mặt trong đó
rồi. Ta thấy rơ tiến-tŕnh đang diễn ra, nhưng chưa có thể nh́n
bao-quát được hướng tiến và những ǵ từ đó sẽ phát-sinh.
Rơ nét nhất là những tập-thể càng ngày càng bành
trướng. Nào là Liên-hiệp Âu châu, Liên-hiệp thế-giới Hồi giáo, nào
là những nỗ-lực xây-dựng cái gọi là ư-thức thế-giới qua những
hội-nghị của Liên-hiệp-quốc. Đồng thời ta quan-sát thấy cá-nhân đặt
nặng cái tôi hơn và trở nên cố-chấp hơn. Kết-hợp và phân-ly
trói-buộc nhau. Hai sự kiện đối-nghịch: con người kèn-cựa nhau ngày
càng mạnh trong lúc nhu-cầu hợp-đoàn ngày càng lớn. Từ đó sẽ nảy
sinh ra những loại h́nh nào, chưa ai tiên-đoán được. Tôi tin rằng
trong hoàn-cảnh biến-chuyển mau-chóng và bất khả tiên-đoán của
thế-giới này, ta lại càng phải giữ chắc cái cốt-lơi nhân-tính của
ta.
Dĩ-nhiên phải xử-dụng
những hiểu-biết nền-tảng đó vào những lănh-vực khác nhau. Điều này
ta không thể thực-hiện được, nếu ta không cùng tranh-đấu, học-hỏi,
chịu-đựng và trao-đổi kinh-nghiệm. Tuy-nhiên những quan-điểm
nền-tảng trong Ki-tô giáo đă vạch ra những hướng giải-đáp rồi, chúng
chỉ cần được cụ-thể-hóa qua nhào-nặn với kinh-nghiệm thực-tế. Như
vậy Ki-tô giáo là một nghĩa-vụ liên-tục trong suy-tư và trong cuộc
sống. Nó không phải là toa thuốc cắt sẵn chỉ việc cầm lấy mà dùng,
song trái lại nó cống-hiến cho tôi hướng đi và ánh-sáng nền tảng
giúp tôi biết nh́n và hành-động, biết nhận ra và t́m được giải-đáp.
Nếu tôi hiểu rằng con người là h́nh-ảnh của Thiên Chúa và nhận ra
những trật-tự nền-tảng trong mười giới-răn, tôi sẽ có những
hướng-dẫn căn-bản, và tôi phải cụ-thể-hoá chúng cho thích-hợp trong
từng lănh-vực khác nhau. Muốn được thế cần có nhiều người cộng-tác
và chung sức t́m ra cách sử-dụng đúng-đắn nhất và ít sai-lầm nhất.
Một "mùa
xuân mới của tinh-thần
con người"
cho thiên niên-kỷ thứ ba
Vào cuối thiên niên-kỷ này chúng ta chứng-kiến
sự sụp-đổ của nhiều học-thuyết xă-hội đă một thời đầy hứa-hẹn. Nào
là chủ-nghĩa Mác (Marx: "Tôn-giáo là thuốc phiện cho dân" ), nào là
phân-tâm học (Freud: "Tôn-giáo là chứng thác-loạn thần-kinh của
nhân-loại" ), nào là nền đạo-đức của các nhà xă-hội học và ư-tưỏng
cho rằng có thể có một nền luân-lí ngoài định-chế. Thêm vào đó là
những khảo-luận bàn về sự đổi mới toàn diện mối liên-hệ phái tính
cũng như những quan-niệm hiện-đại về mô-h́nh giáo-dục phản
quyền-bính. Cách đây mười năm chính ngài đă táo-bạo tiên-lượng: "Cái
mới đă tới". Theo ngài, cái mới đó h́nh-thù ra sao? Khi tuyên-bố như
thế phải chăng ngài muốn nói rằng nền văn-hóa hậu hiện-đại đă tới
thời tàn-lụi, một nền văn-hoá mà ngài đă có lần gọi là "văn-hóa tự
xa-ĺa kí-ức nguyên-thuỷ của con người, tức kí-ức về Thiên Chúa » ?
Niềm hy-vọng đó được gói-ghém qua cách diễn-tả
trên. Tôi muốn nói : ngơ cụt, mâu-thuẫn cũng như những sai-lầm
nội-tại của những lí-thuyết trên sẽ có ngày được phơi ra ánh sáng.
Và chuyện đó quả thực đă xẩy ra ở mức-độ lớn. Chúng ta chứng-kiến
huyền-thoại của nhiều ư-thức hệ đă bị đạp đổ. Chẳng hạn lối
giải-thích thế-giới thuần kinh-tế của Marx thoạt tiên nghe có vẻ hợp
lí và có sức thuyết-phục, v́ thế đă hấp-dẫn được nhiều người,
đặc-biệt v́ nó được gắn nhăn luân-lí đạo-đức. Nhưng lí-thuyết đó đă
không nắm bắt được thực-tại, v́ nó không giải-thích được đầy-đủ về
con người và rơ-ràng tôn-giáo là một thực-tại uyên-nguyên trong con
người. Những thuyết-lí khác cũng sai-lầm như thế. Chẳng hạn như lối
giáo-dục phản quyền bính không phù-hợp với con người, bởi v́ nhu-cầu
quyền-bính là một cái ǵ tiềm-ẩn sẵn trong con người. Niềm hy-vọng
tôi muốn diễn-tả và trước sau vẫn ấp-ủ là các ư-hệ sẽ phải tự
phê-b́nh qua kinh-nghiệm lịch-sử. Từ đó sẽ nảy sinh những suy-tư
mới, và từ chỗ các ư-hệ tự phê-b́nh qua kinh-nghiệm lịch-sử, người
ta sẽ có được cái nh́n mới về bản-chất Ki-tô giáo và sẽ nhận-diện ra
nó, bởi v́ những mảnh vụn chân-lí rải-rác trong các ư-thức hệ này mở
cho ta thấy một cách mới-mẻ sự phong-phú tiềm-ẩn của Ki-tô giáo.
Tuy nhiên, như chúng ta đă trao-đổi, thất-bại,
sụp-đổ không nhất thiết mở lối cho một cuộc lên đường mới tốt-đẹp.
Thí-dụ như trong các quốc-gia cựu cộng-sản, t́nh-trạng tuột dốc
thê-thảm kinh-tế và chính-trị không dẫn tới sự phục-hồi chủ-nghĩa
cộng-sản, cũng không tạo được một phong-trào lớn rộng đưa con người
quay về với những giá-trị Ki-tô giáo. Trái lại nó làm con người thêm
chán-chường, sống hời-hợt, buông xuôi và thất vọng. Những ư-hệ cũ
đổ-vỡ không nhất thiết dọn đường cho Ki-tô giáo tái sinh, không nhất
thiết từ đó bừng lên những phong-trào lớn rộng, sống-động, tích-cực.
Thất vọng nảy sinh có thể kéo theo những sụp-đổ khác, nhưng cũng mở
đường cho con người cảm-nhận sức mạnh Thiên Chúa để làm cuộc tái
sinh. Nhưng, như đă nói, chúng không nhất thiết xẩy ra như định-luật
tự-nhiên.