Ta hăy đi vào điểm có lẽ quan-trọng nhất trong bảng
liệt-kê thứ-tự này. Suốt một thời-gian dài người ta cho rằng
tranh-chấp giữa Do-thái giáo và Ki-tô giáo đă tiềm-ẩn sẵn trong chỗ
sâu-xa nhất của tôn-giáo. Ngày nay vị trưởng Bộ đức tin Công giáo lại
xác-nhận: "Ngôi sao chỉ về hướng Giê-ru-sa-lem. Nó lặn đi và tái xuất-hiện
trong lời Chúa, trong Thánh-kinh Do-thái." Thế nghĩa là ǵ? Phải
chăng là một quan-hệ hoàn-toàn mới đối với Do-thái giáo?
Chúng ta chắc-chắn phải sống và suy-tư về mối liên-hệ
với Do-thái giáo một cách hoàn-toàn mới, và chuyện đó đang xẩy ra. Sự
khác-biệt giữa hai tôn-giáo sẽ không v́ thế mà chấm dứt, nhưng có thể
chúng ta c̣n cảm-nhận nó một cách nào đó thấm-thía hơn. Nhưng chúng
ta phải sống sự khác-biệt này trên căn bản tương-kính và tương-thân.
Chúng ta đang trên đường hướng tới đích này. Tôi muốn nói, qua
Thánh-kinh Cựu-ước, vốn là một phần Thánh-kinh Ki-tô giáo, luôn-luôn
có mối quan-hệ thân-tộc giữa Ki-tô giáo và Do-thái giáo. Nhưng chính
cái sở-hữu chung này lại là đầu mối chia-rẽ, v́ người Do-thái có cảm-tưởng
rằng chúng ta lấy cắp Thánh-kinh và không sống theo Thánh-kinh. Họ mới
là sở-hữu chủ thực-sự. Ngược lại, một đàng phía Ki-tô giáo có cảm-tưởng
người Do-thái đọc sai Thánh-kinh Cựu-ước; người ta chỉ đọc nó đúng
trong cái nh́n mở ra hướng về đức Kitô. Có thể nói người Do-thái tự
đóng kín nên đi lạc hướng. Hiểu như thế th́ việc sở-hữu Thánh-kinh Cựu-ước
mở đường cho Ki-tô giáo chống Do-thái, đi đến chỗ phát-biểu: Quí vị
có Thánh-kinh, nhưng quí vị dùng nó không đúng, quí vị phải xét lại.
Đàng khác, từ thế-kỷ thứ hai, trong Ki-tô giáo luôn
có phong-trào muốn loại Thánh-kinh Cựu-ước hay ít ra giảm thiểu
ư-nghĩa của nó. Tuy ư-hướng này chưa bao giờ trở thành giáo-huấn
chính-thức của Giáo-hội, nhưng đó đây trong Ki-tô giáo có phần coi
nhẹ giá trị Thánh-kinh Cựu-ước. Dĩ-nhiên nếu chỉ đọc riêng-rẽ vài
khoản luật hoặc những câu chuyện tàn-ác, người ta có thể nẩy ra
ư-nghĩ Thánh-kinh của ta không thể là những thứ sách như vậy được;
và từ đó sinh ra thái-độ bài Do-thái nơi Ki-tô giáo. Vào Thời-mới,
khi Ki-tô giáo bỏ lối chú-giải bóng-gió, lối mà các giáo-phụ đă dùng
để « Ki-tô giáo hoá » Thánh-kinh Cựu-ước, th́ một thái-độ lănh-đạm mới
đối với bộ sách lại nẩy sinh; chúng ta phải học lại cách đọc nó cho
đúng.
Ta phải sống cách mới-mẻ cái tương-quan thân-thuộc
qua lịch-sử chung Abraham, nó vừa là đầu mối chia-cách, vừa là nguồn
quan-hệ tương-thân. Phải kính-trọng chấp-nhận người Do-thái không đọc
Thánh-kinh Cựu-ước với cái nh́n hướng về đức Ki-tô như ta, nhưng hướng
về một vị sẽ tới mà họ chưa biết là ai, như vậy niềm tin của ta và họ
đều chung một hướng. Ngược lại ta hy-vọng người Do-thái hiểu cho rằng,
mặc dầu ta nh́n Thánh-kinh Cựu-ước dưới ánh sáng khác, nhưng ta cũng
cố-gắng cùng với họ sống niềm tin của Abraham và như thế có thể sống
với tâm-t́nh hướng về nhau.
Tại sao Vatican chờ-đợi rất lâu trước khi công-nhận
quốc-gia Do-thái?
Sự thành-lập quốc-gia Do-thái sau đệ nhị thế-chiến
phù-hợp với một nghị-quyết của Liên-hiệp-quốc và với quyền của người
Do-thái có một quốc-gia riêng, trên một phần đất riêng. Nhưng việc
ấn-định biên-giới lại gây tranh-chấp về mặt quyền-lợi các dân-tộc.
Như ta biết, một làn sóng dân Ả-rập phải rời khỏi quốc-gia mới
thành-lập và có thể nói họ phải sống xen kẽ giữa nhiều quốc-gia
trong hoàn-cảnh hết sức khó-khăn và khó xử. Trong những trường-hợp
như thế Vatican thường chờ cho tới khi mọi khúc-mắc pháp-lí được
sáng-tỏ. Trường-hợp Đông Đức cũng thế. Vatican chỉ thiết-lập ở đó
các giáo-phận mới, sau khi thủ-tướng Brandt với chính-sách đông-âu của
ông đă giải-quyết ổn-thoả những tranh-chấp giữa Ba-lan và Đức. Ai
cũng biết Vatican chưa bao giờ đặt quan-hệ ngoại-giao với Đông Đức.
Ở Do-thái c̣n có thêm vấn-đề Giê-ru-sa-lem: Có thể chấp-nhận một
thành-phố linh-thiêng của ba tôn-giáo nay trở thành thủ-đô riêng của
một quốc-gia vốn nghiêng về một tôn-giáo hay không là vấn-đề không
sáng-tỏ. Ở đây Vatican cũng đă phải chờ tới khi mọi chuyện được giải
quyết. Sau hết cũng cần phải có một qui-chế rơ-ràng về vị-trí
pháp-lí cuả ki-tô-hữu và những cơ-sở Ki-tô giáo trên phần đất quốc-gia
mới.
Ngày nay cả trong Giáo-hội cũng chấp-nhận đức
Ki-tô là người Do-thái. Vậy thay v́ nói "Thiên Chúa đă làm người",
ta có thể nói "Thiên Chúa đă làm người Do-thái" được không? Phải
chăng cuối cùng rồi đạo Ki-tô cũng phải chấp-nhận Do-thái giáo trong
sứ-mạng lịch-sử của nó?
Điểm quan-trọng trước hết là phải ư-thức rơ rằng, đức
Ki-tô là người Do-thái. Tuy nhiên tôi muốn nói thêm điều này. Tôi cắp
sách đến trường dưới thời Đức quốc-xă và hồi đó tôi thấy nơi những
"ki-tô-hữu Đức" khuynh-hướng muốn biến đức Ki-tô thành "người Arier"*.
Họ cho rằng đức Giê-su là người Galilêa, nên rơ ràng chẳng phải là
người Do-thái. Để chống lại khuynh-hướng đó, trong giờ giáo-lí cũng
như trong các bài giảng có những tiếng nói cương-quyết: Đấy là nguỵ-tạo,
Đức Ki-tô là con Abraham, con Đa-vít, là ngựi Do-thái; đó là lời hứa
cuả Thiên-chuá và là điều chúng ta tin.
Đấy là điểm quan-trọng nối-kết những người Ki-tô và
Do-thái với nhau. V́ thề câu nói « Thiên Chúa đă làm người »
rất quan-trọng và đúng. Tân-ước cho chúng ta hai gia-phả về đức
Giêsu, một chi-tiết cần lưu-ư. Gia-phả theo Mát-thêu t́m về tới
Abraham và cho biết Giê-su là con Abraham, con Đa-vít và, như vậy, lời
hứa với dân Do-thái đă được thực-hiện. Gia-phả theo Lu-ca trở về tận
Adam và diễn-tả Giê-su như một con người thuần-tuư. Đây là điểm hết
sức hệ- trọng: Đức Giê-su là người và cuộc sống cũng như cái chết của
Ngài có giá-trị cho mọi người. Chính di-sản đức tin Abraham biến
di-sản lời hứa thành di-sản chung cho toàn-thể nhân-loại. V́ thế câu
nói đơn-sơ, nhưng nền-tảng "Thiên Chúa đă làm người" trước sau rất
quan-trọng. Sau hết phải thêm điểm thứ ba: Đức Giêsu, một người
Do-thái trung-thành giữ luật, cũng đă vượt ra khỏi khuôn-khổ Do-thái
giáo và muốn giải-thích lại toàn-bộ di-sản bằng cách lồng chúng vào
một sự trung-tín mới, rộng-lớn hơn. Đây lại là điểm gây tranh-chấp.
Nhưng cũng là đề-tài của nhiều cuộc đối-thoại bổ-ích. Đặc-biệt tôi
muốn nhắc tới cuốn sách rất hay của Jakob Neusner, một giáo-sĩ
do-thái người Mỹ, người đă mở một cuộc đối-thoại đứng-đắn với đề-tài
bài giảng trên núi. Ông thẳng-thừng vạch ra những điểm đối-chọi,
nhưng nói ra với t́nh yêu đại-độ và cuối cùng qui về điểm tương-đồng
là cùng nhau hướng về Thiên Chúa hằng-sống. V́ thế, không nên che-đậy
những điểm bất đồng. Làm như vậy là sai, bởi v́ con đường ṿng-vo né
tránh chân-lí không bao giờ là con đường dẫn đến ḥa-b́nh. Những
xung-khắc vẫn c̣n đó. Điều ta phải học là t́m ra t́nh yêu và
ḥa-b́nh ngay chính trong những điểm xung-khắc.
Vụ diệt chủng Do-thái không xẩy ra trong thời của
Giáo-hội, nhưng vào lúc Giáo-hội đă mất hết ảnh-hưởng trên ḷng
người. Tuy nhiên trước sau vẫn phải thảo-luận và đặt câu hỏi, tại
sao thảm-họa này có thể xẩy ra trên vùng đất Ki-tô giáo. Người công
giáo đă không ngăn-chặn cuộc tàn-sát người Do Thái; có thể không bao
lâu nữa con số người công giáo ở Âu châu sẽ thụt xuống dưới con số
người Do-thái trước đại-chiến.
Ông có lí nêu lên điểm này. Đây là một đề-tài và vết
đen lớn. Điều quan-trọng cần ghi nhận là vụ diệt chủng Do-thái không
do ki-tô-hữu gây nên nhân danh đức Kitô, nhưng do phe bài Ki-tô giáo
và phải coi là màn chuẩn-bị cho cuộc tiêu-diệt Ki-tô giáo. Chính tôi
đă sống thời này ở tuổi thiếu-niên. Người ta không ngừng nói đến việc
Ki-tô giáo bị Do-thái hóa và Ki-tô giáo, nhất là Công giáo, Do-thái
hóa dân-tộc Đức. Tại München, sau đêm thuỷ-tinh*,
toà tổng giám-mục bị ồ-ạt tấn-công vào ban ngày. Khẩu-hiệu lúc đó
là: "Sau Do-thái đến lượt bạn của Do-thái". Ngày nay, trong nhiều
nguồn sử-liệu, chẳng hạn trên tờ « Stürmer »*,
người ta đọc được là Ki-tô giáo, đặc-biệt Công giáo, bị coi như
phương-tiện người Do-thái dùng trong mưu-toan đoạt quyền-lực - họ
dùng từ "Do-thái hóa dân-tộc Đức"-, v́ thế muốn hoàn-toàn khống-chế
người Do-thái, có ngày phải loại-bỏ hẳn thứ Ki-tô giáo đang có như
hiện nay, để dựng nên cái gọi là Ki-tô giáo tích-cực của Hitler.
Không nên bỏ qua điểm quan-trọng này: Việc Hitler diệt
Do-thái hàm-chứa tính-toán bài Ki-tô giáo. Tuy nhiên điểm này không
mảy-may thay-đổi sự-kiện những kẻ chịu trách-nhiệm trong vụ này là
những người đă lănh phép rửa. Mặc dầu SS*
là tổ-chức tội-phạm của những kẻ vô thần, và dù không mấy ai trong
hàng-ngũ họ là tín-hữu Ki-tô c̣n giữ đạo, nhưng ít nhất họ đă lănh
phép rửa. Tinh-thần bài Do-thái nơi Ki-tô giáo đă phần nào đóng
vai-tṛ dọn đường ; đó là điểm ta không thể phủ-nhận. Phong-trào bài
Do-thái đă từng xẩy ra ở Pháp, Áo, Phổ, ở khắp nơi; đấy có thể là gốc-rễ
của vấn-đề. Đây là một lí-do buộc ta không ngừng tự-vấn lương-tâm.
Phải chăng người Do-thái trước sau vẫn là một vấn-đề
then-chốt cho tương-lai thế-giới, như được chép trong Kinh-thánh?
Tôi không rơ ông nói đến đoạn nào trong Kinh-thánh.
Dù sao, với tư-cách là những người đầu-tiên mang lời hứa – giai-đoạn
lịch-sử lớn và nền-tảng của Kinh thánh đă xẩy ra nơi dân-tộc này - họ
chiếm vị-trí trung-tâm trong lịch-sử thế-giới. Người ta có thể nói,
một dân-tộc nhỏ-bé như vậy làm sao có thể có tầm quan-trọng đến thế
được. Nhưng tôi nghĩ, trong mọi thời-đại, đặc-biệt ngày nay, ta thấy
có cái ǵ đặc-biệt nơi dân-tộc này và những quyết-định lớn của lịch-sử
thế-giới đều cách này hay cách khác có liên-quan tới họ.
Một công-đồng
chung mới?
Một công-đồng chung mới xem ra đă từ lâu diễn-ra
bên ngoài Vatican. Người ta vứt bỏ những thông-điệp cứu-độ và khắp
nơi người ta đă định-nghĩa lại những định-đề của đức tin. Giáo-hội
có cần một công-đồng Vatican III để giải-tỏa tất-cả và vạch ra hướng
đi không?
Tôi thiết-tưởng chuyện đó không xẩy ra trong
tương-lai gần. Tôi kể cho ông một câu chuyện. Có lần vị hồng-y Hồi-quốc
Cordeiro thuật cho tôi câu chuyện sau đây: Một hôm ngồi gần nhau
trong một công-nghị, có mặt hồng-y Döpfner*,
có người lên tiếng: "Chà, thế nào cũng phải có công-đồng Vatican III".
Hồng-y Döpfner hốt-hoảng giơ cả hai tay lên : « Không thể xẩy ra bao
lâu tôi c̣n sống ». Như vậy, với hồng-y Döpfner, th́ một công-đồng
cũng đă đủ rồi. Rơ-ràng ngài xác-tín Công-đồng là những kinh-nghiệm
chỉ thu-thập được sau khoảng thời-gian dài.
Thực-tế chứng-tỏ công-đồng là một biến-cố gây đảo-lộn
lớn trong Giáo-hội, cần rất nhiều thời-gian mới giải-quyết xong các
xáo-trộn này. C̣n lâu chúng ta mới thực-hiện được hết những điều của
công-đồng Vatican II, một công-đồng Vatican III cũng không phải là
giải-pháp tốt để đạt đích này.
Cái diễn ra đều-đặn là những thượng hội-đồng giám-mục.
Tôi nghĩ, đây là phương-tiện thích-hợp và thực-tế hơn. Mỗi lần như
thế, với trên dưới 200 giám mục đại-diện năm châu, các ngài phải và
có thể cùng nhau giải-quyết t́nh-h́nh hiện-tại. Một công-đồng chung,
xét nguyên mặt tổ-chức không thôi, đă là một chuyện khó giải-quyết rồi.
Có tới ba, bốn ngàn giám-mục tham-dự. Đó là một lượng khổng-lồ; với
số-lượng này khó có được sự trao-đổi đúng nghĩa và đối-thoại đích-thực.
Để soạn-thảo được những hiến-chế bổ-ích, cần được chuẩn-bị từ nội-bộ.
Công-đồng không phải là cái máy đột-ngột sản-xuất các quyết-nghị
đúng-đắn, rồi mọi chuyện sau đó cứ thế mà tiến. Trái lại công-đồng
chỉ có thể thu-góp những ǵ đang sống-động và sắp-đặt lại thành nghị-quyết.
Như vậy cần nhẫn-nại chờ-đợi sự-việc phát-triển, nhẫn-nại chờ thời-gian
để những cái sống-động được dần-dà h́nh thành, trước khi làm nên những
nghị-quyết và văn bản dưới h́nh-thức pháp-lí.
V́ thế đừng coi công-đồng như bất cứ một loại thần
dược nào. Trái lại công-đồng thường tạo nên những khủng-hoảng; những
khủng-hoảng này dĩ-nhiên phải trở thành những liều thuốc bổ-ích. Hiện
thời chúng ta đang bận lo giải-quyết công-đồng Vatican II.
* Quốc-xă Đức
coi Arier là nguồn giống dân Đức, một giống vượt trội trên
các giống dân khác.
* Đêm
thuỷ-tinh (Reichskristallnacht): đêm mồng 9 rạng mồng 10
tháng 11.1933 những cơ-sở thương-mại và thờ-tự, nghĩa-trang
và cả tư-gia của người Do-thái bị Đức quốc-xă phá đổ, phóng
hoả và cướp bóc, khởi đầu cuộc tiêu-diệt Do-thái ; từ
thuỷ-tinh ám-chỉ mảnh kính thuỷ-tinh đổ vương-văi nơi các
nhà bị tàn-phá.
* Stürmer (Quân
tiền-phong), tên một tuần báo phát-hành năm 1923, bị đ́nh
bản năm 1945, chủ-trương bài Do-thái, dùng ngôn-ngữ đơn-sơ
và mị-dân lôi kéo thành-phần thợ-thuyền và nông-dân ủng-hộ
việc tiêu-diệt Do-thái.
*
Schutzstaffel (SS): tổ-chức công-an mật-vụ thời Quốc-xă
* Döpfner
(1913-1976), hồng-y người Đức, là một trong bốn điều-hợp
viên công-đồng Vatican II