| |

THIÊN
CHÚA & TRẦN THẾ
Joseph
Ratzinger
Biển-đức XVI.
Thiên
Chúa và Trần Thế
Tin và
Sống trong thời đại ngày nay
Trao
đổi với Peter Seewald
Phạm
Hồng-Lam chuyển ra Việt ngữ
CHƯƠNG II
ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ
Bài giảng
trên núi không nhất thiết phù hợp với những suy nghĩ thông thường. Nó
c̣n phản lại định nghĩa của ta về hạnh phúc, về giá trị, về quyền lực,
về thành công hoặc công lí. Rơ ràng đức Giê-su có những phạm trù khác.
Vào cuối bài giảng Ngài c̣n tóm tắt cho người nghe biết cái ǵ thật sự
quan trọng, có thể nói đây là một lề luật của các lề luật, đây là luật
vàng của cuộc sống: “Như vậy, tất cả những ǵ các ngươi mong kẻ khác làm
cho ḿnh, th́ cũng hăy làm cho họ! Lề luật và các tiên tri là đó”.
Luật vàng
đă có từ trước thời đức Ki-tô rồi, nhưng nó được diễn tả một cách phủ
định: “Cái ǵ ngươi không muốn người khác làm cho ḿnh, th́ cũng đừng
làm cho kẻ khác”. Đức Giê-su đă chuyển nó lên thành thể xác định, thể
này dĩ nhiên mang yêu sách cao hơn. Ngài nói, những ǵ ngươi muốn người
khác làm cho ḿnh, th́ cũng hăy làm cho họ. Đó có thể nói là một thách
đố cho trí tưởng tượng sáng tạo của t́nh yêu. Như vậy, luật vàng trở
thành Luật Tự do; thư thánh Gia-cô-bê đă tóm tắt bài giảng trên núi, mà
cũng là tóm tắt toàn bộ thông điệp của đức Giê-su, như thế. Sở dĩ gọi
Luật Tự do là v́ thông điệp đó rốt cuộc đă mở ra một không gian lớn vô
tận, trong đó lực sáng tạo của sự thiện có thể triển nở.
Tôi tin cái
tuyệt vời ở đây là người ta không c̣n phải hỏi: ai đă làm ǵ cho ai khi
nào ra sao, không c̣n phải bận rộn với những cái khác biệt. Mà trái lại,
người ta thấy được cái ǵ cơ bản đă được uỷ thác cho ḿnh, đó là: hăy mở
mắt ra, mở ḷng ra và t́m ra những phương cách thực thi cái thiện. Không
c̣n chuyện hỏi ḿnh mong ǵ, mà vấn đề là làm cho người khác những ǵ
ḿnh mong. Và cái cho- ḿnh- đi thật sự đó với tất cả trí tưởng tượng
sáng tạo của nó, với tất cả những khả thể mà cá nhân có thể có, đă được
tóm lại trong một quy luật hoàn toàn thực tế, chứ không c̣n chỉ là một
giấc mơ lí tưởng nào nữa.
Bài
giảng khởi đầu với những lời chúc phúc. Lạ thật, có chín lời chúc tất
cả. Số chín cũng là con số các thiên thần, bởi v́ thế giới của thiên
thần được chia ra chín tầng. Số đó cũng là biểu tượng của sự hoàn thiện.
Những câu
chúc phúc quả đặc biệt, v́ chúng vượt ra ngoài rất xa chuẩn mực của ta.
Không phải những kẻ giàu, mà là kẻ nghèo, được chúc phúc – có sự khác
biệt giữa phúc và hạnh phúc; và không phải những ai không đau khổ mới
được phúc, nhưng là những kẻ khổ đau. Bản văn cũng đề cập tới nỗi khao
khát công chính, tới việc cần có quả tim tinh tuyền, và nhiều điều khác
nữa.
Trong một
thông điệp, giáo chủ Gio-an Phao-lô II nói rằng, bản chúc phúc thật ra
là bản tự thuật tiểu sử kín đáo của đức Giê-su. Chúng ta nhận ra từng
lời chúc thể hiện thực sự trong con người Ngài. Ngài là kẻ nghèo trong
Thánh Thần. Là người xuất thân từ hạng nghèo hèn. Là kẻ nỗ lực t́m công
lí cho người khác. Là kẻ tạo hoà b́nh. Là người chịu đau khổ v́ sự thật.
Tôi tin rằng, ta chỉ hiểu đúng các lời chúc, một khi ta hiểu chúng từ
con người đức Ki-tô. Ngài đă sống những lời chúc đó, và qua Ngài mà
chúng cũng đă trở thành những bảng dẫn đường cho ta. Dĩ nhiên, trên con
đường Ngài chỉ, mỗi người đi theo một ơn gọi khác nhau, mỗi người có một
thứ tự ưu tiên khác nhau. Quan trọng là ta đọc những ơn gọi đó qua h́nh
tượng đức Ki-tô, và rồi cũng theo Ngài sống ơn gọi đó.
Có
thể nói được rằng mỗi lời chúc là ch́a khoá đi vào một bí mật đặc biệt?
Vâng, có
điều là ta không nên hiểu nó theo nghĩa huyền bí. Đó là ch́a khoá đi vào
cuộc sống, và rồi những cánh cửa bí mật sẽ đương nhiên mở ra, những bí
mật mà trước đó ta không rơ. Đây không hẳn là một sự khai sáng dưới dạng
huyền bí hay một giải toả bí mật. Nhưng đúng hơn, đó là một cái nh́n vào
cuộc đời, và mỗi một bước song hành đi vào cuộc đời đó cũng sẽ mở ra
cánh cửa hiểu và biết.
NHỮNG LO
LẮNG ĐÚNG CHỖ VÀ KHÔNG ĐÚNG CHỖ
Ta hăy đi
vào một vài “quy chế thực hành” của bài giảng. Trong đó có nói tới những
âu lo đúng chỗ và những âu lo không đúng chỗ. Đức Giê-su nói, ta không
nên lo cơm ăn áo mặc, bởi chưng cuộc sống quan trọng hơn cơm áo. Chỉ
những dân ngoại mới lo các thứ đó. Cha trên trời đă biết con ḿnh cần
những thứ ǵ rồi. Ngài khuyên: ” Hăy xem chim trời, chúng không gieo gặt
và lượm lặt của ăn vào kho lẫm; Cha trên trời nuôi chúng. Anh chị em
không giá trị nhiều hơn chúng sao?”
Nghe hay
thật, nhưng cứ theo lời đó, rồi th́ chỉ biết gặm cỏ thay cơm.
Trong một
thế giới được xây dựng hướng về tương lai và luôn phải lo làm sao cho
ḿnh mỗi ngày được tốt đẹp hơn, th́ hiển nhiên chẳng ai hiểu được í
nghĩa của câu trên. Tôi nghĩ, ta phải đọc thật kĩ bản văn. Rồi sẽ t́m
thấy ch́a khoá trong đó. Đức Giê-su cũng từng nói: Trước hết hăy t́m
nước Thiên Chúa, rồi anh chị em sẽ nhận được thêm điều khác. Điều đó có
nghĩa là có một thứ tự ưu tiên. Nếu ta bỏ ra ngoài ưu tiên về sự hiện
hữu của Chúa trong thế giới, th́ nhiều chuyện ta làm, dù hữu ích, có thể
một cách nào đó rồi cũng sẽ đổ vỡ trong tầm tay. Và ta cũng sẽ nhận ra
c̣n thiếu một cái ǵ đó. Các nỗ lực cải tiến kĩ thuật của thế giới có
làm giảm đi nhiều gánh nặng đấy, nhưng trên một số phương diện chúng
đồng thời làm cho cuộc sống nặng nề và đen tối hơn.
Tôi tin
rằng phải đặt việc t́m nước Thiên Chúa lên hàng ưu tiên. Đó phải là âu
lo nền tảng. Và rồi từ trong nước Chúa, âu lo này sẽ cấu trúc các âu lo
khác. Hiển nhiên điều này không dễ đối với ta. Ta c̣n phải lo cho ngày
mai, phải lo làm sao thế giới tiếp tục đi đúng hướng. Tuy nhiên, những
âu lo đó sẽ giảm bớt và nhẹ gánh, nếu chúng ta gắn chúng vào cái ưu tiên
kia. Và ngược lại, nếu con người hoàn toàn không c̣n thấy ǵ trong ưu
tiên kia nữa, th́ các âu lo sẽ làm họ hao ṃn và rồi nuốt trửng họ.
XÉT ĐOÁN
Một
lần, từ trên núi, đức Ki-tô nói: “Đừng xét đoán, kẻo bị xét đoán! Bởi
anh chị em xét đoán thế nào, th́ cũng bị xét đoán như vậy, và sẽ bị xét
xử theo tiêu chuẩn mà anh chị em đă dùng để xét xử kẻ khác”. Nghe th́ dễ
thật. Nhưng cả xét đoán nữa ḿnh cũng không buộc phải làm?
Đúng vậy.
Theo Mát-thêu câu 18, chính đức Giê-su đă đưa ra một quy chế cộng đoàn,
khi Ngài bảo rằng, trước hết, ta nên cảnh cáo nhau giữa hai người mặt
đối mặt, sau đó mới đưa ra tập thể lớn hơn, và cứ thế đi lên. Trật tự và
luật pháp cần cho con người. Nhưng ở đây, vấn đề nằm trên một b́nh diện
khác, đó là ta không làm như kiểu toà án thế gian, nghĩa là ta phải giữ
bí mật của người khác trong khi kết án họ. Cả khi v́ kỉ luật mà toà phải
kết án – dĩ nhiên chẳng bao giờ kết án một con người, nhưng là kết án
một hành động nào đó, và án này là câu trả lời cho hành động đó -, th́
ta cũng phải giữ bí mật, v́ đó là cái ǵ riêng tư, chỉ có Chúa mới có
quyền phán xét nó mà thôi.
Đoạn thứ
hai câu trên nhắc ta phải coi chừng, v́ ta cũng sẽ bị xét xử theo tiêu
chuẩn ḿnh đă áp dụng cho người khác. Như vậy, nó cảnh cáo ta phải có
tiêu chuẩn đúng, giới hạn đúng và phải có ḷng kính trọng đúng đắn đối
với người khác. Như thế, đức Giê-su đă ra cho ta một tiêu chuẩn nội tại
áp dụng cho t́nh thế buộc phải xét xử. Tiêu chuẩn đó là việc công nhận
quyền quyết định tối hậu của Chúa.
HAI CON
ĐƯỜNG
Đức
Giê-su nói: “Hăy đi qua cửa hẹp! V́ cửa rộng đưa tới hư hỏng, và v́ cửa
đó rộng nên nhiều người bước vào. Song cửa dẫn vào sự sống th́ hẹp, và
v́ cửa đó hẹp nên ít người t́m ra nó”.
Có lẽ v́
vậy mà người ta cho rằng hoả ngục đầy người, trong khi thiên đàng vắng
tanh. Hẳn nhiên, đây không có nghĩa như thế. Nhưng chỗ khác Chúa cũng
nói – một lần nữa nên nhớ luôn cần phải đọc lời Chúa trong toàn văn –,
là nhiều người từ đông sang tây sẽ đến, và họ sẽ ngồi vào bàn chung với
Ab-ra-ham, I-sa-ac, Gia-cóp. Sách Khải-huyền vẽ cho ta thấy trước cảnh
đoàn lũ người quây quần bên ngai con chiên. Đây quả là một lời cảnh cáo
thực tiễn: Nếu ta làm theo những ǵ người khác và thiên hạ làm, nếu ta
chọn con đường rộng, nghĩa là con đường dễ dăi, lúc này đây xem ra quả
dễ chịu hơn, th́ như vậy là ta đang xa rời con đường thật. Câu trên muốn
nói rằng, con đường hẹp và khó khăn cũng như cánh cửa hẹp mà ta cố ép
ḿnh bước qua chính là quyết định đúng.
Ở đây, ta
có một h́nh ảnh đượm màu quyết liệt đông phương, nói lên nguyên tắc nền
tảng cho việc xử trí hàng ngày. Nếu cứ để thả mặc, cứ buông trôi theo
gịng rồi ch́m đi trong đám đông, th́ rốt cuộc ḿnh sẽ luôn lặn ngụp
trong đám đông đó, và kết cuộc sẽ kết thúc trong trống rỗng. Chính sự
can đảm đi lên, can đảm chấp nhận khó nhọc sẽ đưa ta vào con đường đúng.
CÁC TIÊN
TRI GIẢ
Đức
Ki-tô nói: “Hăy coi chừng các tiên tri giả; họ tới với anh chị em như
những con cừu (ngoan), nhưng thật ra là những chú sói dữ. Cứ nh́n vào
kết quả tất sẽ nhận ra được họ. Có thế nào thu hoạch được nho từ bụi gai
hay được vả từ cỏ gai? Cây tốt sinh trái tốt, cây xấu sinh trái xấu”.
Nghe như một mệnh lệnh chống lại các giáo phái hoặc bè rối.
Cũng có thể
như vậy. Trước hết, đó cũng là một quy luật đơn giản. Đó chính là thời
của những triết gia lang thang, những lang băm, những nhà cứu tinh. Họ
ai nấy đều hứa hẹn cứu khổ và vẽ ra con đường đúng, họ muốn làm đẹp con
người, và xem ra muốn mang lại điều tốt cũng như điều đúng đắn, nhưng
thật ra thường chỉ v́ tư lợi. Họ là sói dữ, phá hoại.
Đức Giê-su
cảnh cáo ta trước những “lang băm cứu độ” đó. Ngài chỉ ra tiêu chuẩn để
nhận định: Hăy xem chính các lang băm đó sống như thế nào? Họ thật sự là
ai? Đâu là hoa trái họ tạo ra nơi họ và chung quanh họ? Cứ nh́n vào họ
tất sẽ biết sự thật ra sao. Tiêu chuẩn thực dụng thời đó cũng đúng cho
lịch sử ngày nay. Hăy nghĩ tới các nhà thuyết giảng cứu độ trong thế kỉ
vừa qua, từ Hitler cho tới các tay tổ cộng sản, họ xuất hiện và nói, đây
là lúc chúng tôi mang tới cho các bạn điều thật sự đúng. Trong một cái
nh́n nào đó, họ xuất hiện như những chú cừu ngoan, nhưng rốt cuộc là
những tay phá hoại có tầm cỡ.
Nhưng không
chỉ những tay tổ đó, mà cả những nhà thuyết giảng nhỏ, những tiên tri
giả nữa. Họ mách với người ta là họ nắm ch́a khoá trong tay, cứ việc làm
theo, th́ rồi bạn sẽ thành đạt nhanh, giàu nhanh, sẽ có ngay hạnh phúc.
Đức Giê-su yêu cầu ta phải biết phân biệt, phải coi chừng những lời hứa
hẹn đó. Đừng để bị rơi vào tṛng, nhưng hăy giữ đầu óc tỉnh táo, sáng
suốt, đừng để rơi vào những phong trào xem ra tốt đẹp, nhưng rốt cuộc
chỉ là trống rỗng hoặc phá hoại. Nhất là Ngài muốn chúng ta luôn phải tự
hỏi, đâu là hằng số của lời Chúa, đâu là hoa trái thật.
Lời
khuyên kia cũng đúng cho các phong trào trong Giáo hội?
Hoa trái
luôn là tiêu chuẩn để nhận định. Trong Giáo hội, ta phải để í xem có
phải người đó chỉ muốn rao giảng về họ, chỉ muốn ép ta theo quan điểm
của họ mà thôi hay không. Hay họ là người khiêm nhu, muốn phục vụ đức
tin của Giáo hội, muốn trở thành kẻ phục vụ lợi ích chung, phục vụ lời
Chúa.
Bài
giảng trên núi c̣n có nhiều lời khuyên thiết thực khác. Tôi muốn nêu lên
đây câu cuối cùng của bài giảng. Đức Giê-su nói điều sau đây thật khó
hiểu và lại càng khó theo: “Hăy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những ai
bách hại ḿnh”. Và thêm, Thiên Chúa để cho “mặt trời chiếu sáng trên kẻ
xấu và người lành, và Ngài để mưa xuống trên người công chính cũng như
trên kẻ bất lương”.
Yêu kẻ thù
quả thật là một bước mới và lớn. Ở đây, chẳng c̣n chuyện trả thù nữa. Ta
cần nh́n ra khía cạnh người nơi kẻ thù, nh́n ra nơi họ khía cạnh thụ tạo
của Chúa. Điều này không có nghĩa là khoanh tay mặc cho sự dữ tới với
ḿnh. Nhưng ta phải biết kính trọng con người trong chính hành động của
ḿnh. Nghĩa là cố gắng làm điều tốt cho cả kẻ thù, cố gắng đưa họ về
đàng lành, rốt cuộc đưa họ hướng về đức Ki-tô. Trong í nghĩa đó, cầu
nguyện cho họ vốn là một việc làm nền tảng, đó là một cách làm tốt cho
họ. Khi ta muốn điều tích cực cho kẻ thù trước mặt Chúa, khi ta cố gắng
cầu cho họ không c̣n là kẻ thù nữa, nhưng cho họ được thoát ra khỏi tư
thế thù địch, th́ lúc đó ta đă thay đổi từ thâm tâm cái nh́n về họ.
Trong thời
cổ, người ta đă nói đến một Thiên Chúa độ lượng, Ngài muốn phân phát cho
ngay cả kẻ xấu những món quà của tạo dựng. Nhưng thời đó người ta dùng
h́nh ảnh này để nói lên phần nào sự dửng dưng của Thiên Chúa trước
chuyện thiện ác. Và đức Giê-su đă nâng nó lên một b́nh diện khác, khi
Ngài qua đó chỉ ra ḷng tốt hải hà của Thiên Chúa là đấng muốn đưa mọi
người vào đường thiện, muốn trao cho họ những cơ hội, muốn chăm sóc họ
bằng điều tốt lành. Và cả khi Thiên Chúa có thể nói là trừng phạt ta đi
nữa, th́ Ngài cũng chỉ muốn cho ta trở nên quan tâm lắng nghe. Là Tạo
hoá, Ngài không thể làm ǵ khác hơn là yêu thương những tạo vật của
Ngài, và muốn cho chúng t́m ra con đường ngay lành. Mọi loại trả thù đều
hoàn toàn xa lạ với suy nghĩ của Thiên Chúa.
Sau
khi giảng dạy và khuyên răn, và người nghe dù đôi chút thấm mệt nhưng
cũng cảm thấy hạnh phúc, v́ hiểu rằng nguồn gốc và cùng đích cuộc đời
ḿnh không phải là thế gian này và cũng không dừng lại ở đây, đức Giê-su
c̣n đưa ra bảo đảm cho những điều Ngài nói: “Ai nghe lời tôi dạy và làm
theo, kẻ đó là người khôn, biết xây nhà trên đá”.
C̣n những
người khác xây nhà trên cát, và khi lũ lụt tới, chúng sẽ cuốn trôi tất
cả. Nhà xây trên nền đá mới chắc chắn. Chỗ này cũng giống như đoạn phúc
âm Gio-an mà ta đă nghe: Ai sống theo Tin Mừng, ai dám thử nghiệm theo
nó, ai thật sự xây nhà trên lời Chúa, kẻ đó biết rằng ḿnh đă chọn được
một nền chắc chắn.
Tuy nhiên,
ở đây c̣n có thêm một liên tưởng khác. H́nh ảnh xây nhà trên đá làm ta
nhớ đến lời đức Ki-tô nói với Phê-rô, là Ngài sẽ xây nhà – Giáo hội của
Ngài – trên đá. Như thế, lời đó có thể đưa ta tới í nghĩ rằng ta không
nên xây một ḿnh. Ai chỉ muốn xây cuộc đời ḿnh như là một chỗ trú ẩn
riêng, th́ người đó đă xa ĺa nền đá. Xây dựng cuộc đời luôn có nghĩa là
cùng xây. Cùng xây chung một căn nhà Chúa, dựa trên nền lời Ngài, và như
vậy căn nhà sẽ chắc chắn tồn tại.
Có thể nói
không cùng về cuộc đời, về chuyện nên nh́n đời ra sao, làm sao cho cuộc
sống đơm hoa, được sống tự do, thoải mái và hứng thú. Nhà soạn kịch
người Anh William Shakespeare, một tín đồ công giáo, đă sống cuộc đời
ông hết ḿnh. Tên các vở kịch của ông nghe ra như một bản lí lịch đầy
biểu tượng, nào là “Ồn ào vô ích”, nào là “Chừng mực” cho tới “Kết cuộc
tốt là mọi chuyện tốt”. Là nhà giáo dục giỏi, ông cuối cùng đă đưa ra
một lời khuyên, xem ra như đây là kết tinh mọi nhận thức trần thế của
ông: “Buy terms divine in selling hours of dross”, “Hăy mua lấy thời giờ
của Chúa bằng cách bán đi những giờ u tối trần gian”.
Đó là một
lời khôn ngoan mà người ta có thể chờ đợi nơi một nhân vật lớn. Thời giờ
đă được sử dụng một cách tốt nhất là thời giờ đă biến thành cái tồn tại;
là thời giờ ta nhận được từ Chúa và trả lại cho Ngài. C̣n thời giờ không
dính dáng ǵ tới Chúa chỉ là thứ thời gian vô bổ và chóng qua.
(c̣n tiếp
nhiều kỳ)
VÔ THẦN LÀ G̀ ?
Không nhận diện thật chính xác, th́ không thể chống lại
vô thần đang đầy dẫy ở mọi lănh vực, phạm trù từ tinh thần
đến vật chất, để bảo vệ chính bản thân, chứ đừng mong hướng
dẫn, bảo vệ những người ḿnh có trách nhiệm. Cuốn THIÊN
CHÚA của tác giả Manfred Lutz, do Phạm Hồng Lam dịch,
giúp chúng ta trả lời khá sâu sắc các vấn đề liên quan đến
vô thần.
Vô thần, theo nghĩa chung chung ngày nay, là phủ nhận có
sự hiện hữu của một Đấng tạo dựng trời đất toàn năng, vị
này tiếp tục giữ ǵn tạo vật trong tay, và đến „ngày sau
cùng“ sẽ phán xét con người, tách biệt người lành kẻ dữ,
người lành sẽ được thưởng phúc thiên đàng, kẻ dữ bị luận
phạt hoả ngục. Đi ngược trở lại lịch sử của í niệm này,
ta thấy lắm hiện tượng khá rối trí. V́ không chịu thờ thần
linh nhà nước và thờ hoàng đế thiên tử, các ki-tô hữu
xưa bị coi là vô thần. Cả Sokrates cũng phải chết v́ tội
vô thần, v́ ông dám coi đám thần linh lúc nhúc trong bầu
trời Hi-lạp chẳng ra ǵ, và, với suy nghĩ của một triết
gia, ông đă lên đường t́m về một Thiên Chúa duy nhất.
Nếu lấy í niệm Thiên Chúa theo lối hiểu Ki-tô giáo ngày
nay để thăm ḍ cổ thời nhân loại, ta sẽ thấy đầy dẫy „Vô
thần“. Bởi v́ làm sao người thời đó hiểu được Thiên Chúa
như ta hiểu ngày nay? Mặt khác, toàn bộ lịch sử nhân loại
lại đầy dẫy những niềm tin muôn màu vào thần linh và vào
Thiên Chúa. V́ vậy, phải cẩn thận, đừng để rơi vào chủ
nghĩa đế quốc tinh thần do những mánh khoé lạm dụng í niệm
tạo ra, và qua đó kéo dăn vương quốc vô thần hay vương
quốc niềm tin Thiên Chúa ra quá rộng một cách không
thích đáng. Dù sao, í niệm Vô thần khá mơ hồ, và có lẽ
nó càng rơ nghĩa hơn, khi ta càng tiến gần vào thời Hiện
đại.
Nhưng thời nay cũng không dễ có được những đối lập đơn
giản. Nhà thần học Karl Rahner gọi thái độ của những người
tự coi là vô thần, nhưng sống một cuộc sống như có Thiên
Chúa, là „vô thần v́ kính trọng Thiên Chúa“. Họ
chấp nhận thà là „vô thần“, c̣n hơn phải sống với một thứ
Thiên Chúa bề ngoài của mấy ông bà „đạo đức“ môi miệng.
Thiên Chúa này không hợp với kinh nghiệm tôn giáo bề sâu
của họ.
V́ thế, ta vẫn phải chấp nhận phần nào tính mơ hồ của í
niệm Vô thần, nhất là để khỏi phải loại trừ ra bất cứ hiện
tượng quan trọng nào. Sử gia người Pháp Georges Minois
cũng công nhận như thế. Năm 2000 Georges Minois cho phát
hành cuốn sách nổi tiếng của ông, ấn bản tiếng Đức 700
trang Lịch Sử Vô Thần Từ Khởi Thuỷ Tới Hiện Nay,
cuốn sách thật đầy đủ và hấp dẫn, đúng là chỉ có sử gia
Pháp mới viết được những cuốn như thế. Sách ông đă giúp
tôi viết chương này. Minois có cảm t́nh với quan điểm vô
thần, dù vậy, ông đă không đứng về một phía nào khi viết,
và sách ông nói chung đă thành công nhờ thái độ khách
quan đó. Ông phân biệt ra Vô thần thực hành và Vô thần
lí thuyết. Người vô thần thực hành sống như không có
Thiên Chúa, dù họ có bảo ḿnh tin ǵ đi nữa. Ngay chính
trong những thời hoàng kim của Ki-tô giáo, thái độ sống
này cũng rất phổ biến nơi các tầng lớp dân chúng. Người
vô thần lí thuyết tuyên xưng rơ ràng sự Vô thần của ḿnh
và thường đưa ra những biện minh cho quan điểm ḿnh.
Minois nói nhiều tới loại Vô thần phản kháng, nghĩa là
loại người chống lại quan điểm đức tin nhiều ít cứng nhắc
trong những giai đoạn nào đó. Thái độ này được coi là
ngang ngạnh, can đảm hay cũng chỉ là một thứ t́nh cảm
quá độ. Và như thế, tùy theo mỗi giai đoạn, Vô thần mang
những nét hoàn toàn khác nhau.
|
|
|