Our Lady of Lourdes Statue in grotto

Trường Hợp Đức Bà Vô Nhiễm Thai

 Dr. Robert Stackpole, STD

 

Vào ngày 8 tháng 12 năm 1854, Đức Giáo Hoàng Piô thứ 9 đă công bố sắc lệnh Ineffabilis Deus, trong đó xác định rơ cho mọi người Công giáo về học thuyết Đức Bà Vô Nhiễm Thai.  Theo Giáo Lư của Hội Thánh Công giáo (số 491- 492): 

“Qua hàng bao thế kỷ, Giáo Hội đă ư thức rằng Đức Maria được Thiên Chúa ‘đổ đầy ân sủng’ (Lc 1,28), th́ đă được cứu chuộc ngay khắc đầu tiên thành thai trong dạ mẹ. Đó là điều được tuyên xưng bởi tín điều Vô Nhiễm Thai, khi Đức Piô thứ 9 công bố vào năm 1854:

“Đức Trinh Nữ diễm phúc Maria đă được ǵn giữ, khỏi mọi bợn nhơ của tội nguyên tổ  ngay khắc đầu tiên thụ thai, do bởi một đặc ân và sự ưu ái biệt đăi cách riêng của Thiên Chúa toàn năng và nhờ vào các công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng chuộc tội nhân loại.

"Một sự thánh thiện rạng ngời duy nhất vẹn toàn mà Mẹ Maria được ‘thêm sung măn ngay khắc thụ thai đầu tiên’ hoàn toàn xuất phát từ Chúa Kitô: Mẹ đă được ‘cứu chuộc, trong một cách thức tuyệt vời hơn, nhờ bởi công nghiệp Con của Mẹ’”.

Học thuyết Vô Nhiễm Thai nghĩa là ǵ?

Thưa, nghĩa là Đức Bà được ơn Vô Nhiễm Thai ngay khắc thụ thai đầu tiên, linh hồn của Mẹ Maria được ǵn giữ khỏi bị nhiễm nguyên tội của Ađam và Evà.  Mẹ được “đầy ơn phúc” ngay từ thuở ban sơ – và biệt sủng này được ban cho Mẹ dựa trên các công trạng sống, chết và phục sinh của Chúa Giêsu Kitô.  Bởi lẽ Thiên Chúa hiện hữu vượt trên hết mọi không gian, và thời gian th́ hiện diện trước nhan Ngài, Ngài có thể áp dụng các ơn sủng của Chúa Kitô chuộc tội cho những ai đang sinh sống ở vào bất kỳ thời đại nào trong lịch sử nhân loại – và Ngài đă thực hiện duy đối với Đức Maria, ngay khắc đầu tiên Mẹ thành thai.  Linh mục Adôlf  Farôni đă viết trong cuốn Biết và Bảo quản Những ǵ Bạn Yêu thích – Know and Defend What You Love (Nhà in - Don Bosco Press, The Philíppines):

 

“Có một sự phản bác về sự Vô Nhiễm Thai của Đức Maria cho rằng Đức Maria không thể nào c̣n đồng trinh, nếu không Mẹ đă không thể được Chúa Giêsu cứu chuộc. Điều này làm thuyên giảm bớt đi công tŕnh cứu độ phổ quát của Chúa Giêsu, Đấng là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người (1 Tim 2:5), chỉ trong Ngài mới có sự cứu rỗi (Cv 4:2). Chính Đức Maria gọi Thiên Chúa là ‘Đấng Cứu chuộc’ của Mẹ” (Lc 1:47).

 

Sự phản bác phô ra cái gốc gác nhận thức sai lầm rằng việc đầy ơn phúc đó có nghĩa là thiếu vắng công tŕnh cứu độ. Ngược lại, việc tràn đầy ân sủng của Đức Maria có ư nói là hoa quả do cái chết cứu rỗi của Chúa Kitô chuộc lại…. Đức Maria được cứu độ y hệt chúng ta, có điều bằng một chiều hướng tuyệt hảo hơn,  không phải chữa bệnh nhưng là ngăn ngừa căn bệnh.  Một bác sĩ có thể cứu mạng chúng ta bằng cách chữa bệnh.  Nhưng nếu vị bác sĩ ấy cho chúng ta toa thuốc để  khỏi bệnh, th́ ông ta cứu được khá nhiều người chúng ta hơn.

 

 

Thực thế, Thiên Chúa thường trao ban ân sủng khác thường đến cho những ai mà Ngài trao phó trách nhiệm khác thường. Tương tự như, môsês thưa với Chúa nơi bụi hỏa gai,  và như Thánh Paulô đă bị mù ḷa trên đường đi Damascus bởi thị kiến chúa Kitô phục sinh vậy. Đức Maria đă được trao cho biệt sủng Vô Nhiễm Thai hầu để chuẩn bị cho mẹ một ơn gọi đặc biệt: trọng trách sẽ làm Mẹ Thiên Chúa Nhập Thể.  Chẳng hạn như Chân phước Hồng y John Henry Newman đă viết trong cuốn (Hoa hồng Màu nhiệm, Nhà xuất bản Scepter, 1996, trang 13):

 

Khi chúng ta nói tội nguyên tổ có ư ….muốn ám chỉ một sự việc ǵ đó tiêu cực, nghĩa là, đánh mất đi sự siêu nhiên, không c̣n xứng đáng được hưởng thứ ân sủng mà Ađam và Evà đă có lúc ban đầu - sự đánh mất là hậu quả của việc làm mất.  Đức Maria cũng chẳng có chút công trạng nào hơn họ, để phục hồi lại thứ ân sủng làm mất đó; nhưng Thiên Chúa đă quảng đại phục hồi miễn phí ân sủng ấy đối với Mẹ, ngay khắc đầu mẹ hiện hữu, và thực vậy, cho nên, Mẹ chưa bao giờ bị tội nguyên tổ đả thương, để v́ nó mà làm mất hết.   Việc mẹ được đặc ân này hầu để thích ứng với thiên chức làm Mẹ của mẹ và làm mẹ Đấng Cứu Chuộc chúng ta, và để tinh thần của mẹ thích ứng … đối với đặc ân ấy. V́ thế, chính nhờ ân sủng đầu tiên trợ giúp, mẹ mới có thể thăng trưởng trong ân sủng, vậy, một khi Thiên Chúa đă ở gần lúc thiên thần đến, mẹ mới có thể được “đầy ơn phúc,” chuẩn bị sẵn sàng như một thụ tạo (tân nương) đă được trang điểm sẵn sàng để tiếp đón ngài (tân lang) ngự vào cung ḷng mẹ.    

 

Sách Thánh mách bảo

 

Có hai câu văn trong Thánh kinh mà trong đó chúng ta có thể t́m thấy, tiềm ẩn, sự thực về Đức Bà Vô Nhiễm Thai. Trước tiên, trong sách Sáng Thế kư chương 3 câu 15, sau khi Adam và Evà sa ngă, Chúa nói với con rắn đă cám dỗ họ:

 

“Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và , giữa ḍng giống mi và ḍng giống của bà ấy, người ấy sẽ đạp nát đầu mi, c̣n mi th́ sẽ ŕnh cắn gót chân người.”

 

Câu văn trong Sách Cựu Ước này là lời tiên tri của Phúc âm. V́ “ḍng giống” của bà có thể hiểu rằng chỉ ḿnh Chúa Giêsu Kitô mới là đấng sẽ đạp nát đầu rắn (đó là, đầu quỷ dữ), người sẽ chiến thắng trong cuộc chiến cứu độ đạp nát đầu Satan. Tiếp sau đó  “bà” được tiên báo trong câu văn này tất nhiên là Mẹ Chúa Giêsu, Đức Trinh Nữ Diễm Phúc (Gioan 2:4; 19:6 cách mà Chúa Giêsu gọi mẹ “thưa Bà”).  Trong Sáng Thế Kư chương 3, cả Chúa Giêsu lẫn Mẹ Maria được nói tới sẽ đứng chung một chiến tuyến chống lại kẻ thù là con rắn, mà nguyên gốc tiếng Hípri có nghĩa là “hoàn toàn và đối nghịch (lại nó) tận gốc”.  V́ lẽ đó khi bảo rằng Thiên Chúa đă cho phép Đức Maria lâm vào t́nh trạng bị mắc “tội tổ tông” từ Ađam và Evà quả thực không đúng chút nào. Đức Maria không hề phải gánh chịu cùng một bản tính sa ngă như Ađam và Evà đă sa ngă. Bất kể linh hồn chúng ta có bị tội nguyên tổ Ađam và Evà đả thương và liên lụy phần nào đó th́ ít ra mẹ Chúa Giêsu được sắp đặt dự phần nào đó đối phó với Satan và ác họa, và v́ vậy trong sách Sáng Thế Kư chương 3 đă tiên báo “mối thù” giữa Đức Maria và Satan là hoàn toàn đối nghịch.

 

Kế đến bản văn Thánh Kinh chỉ cho biết sự thực Vô Nhiễm Thai th́ nằm ở trong sách Luca chương 1 câu 28, lời thiên thần Gabriel Truyền tin cho Đức Maria: “Kính Mừng Maria, đầy ơn phúc – Hail, full of grace.” Theo nguyên ngữ Tân Ước Hylạp-Greek th́ cụm từ “đầy ơn phúc” là bao hàm theo chữ kecharitomene mà ra.  Trong cụm từ, “Đầy ơn phúc” ở đây th́ được sử dụng như là để đặt cho Đức Maria một cái tên mới, một danh hiệu mới, và duy chỉ có Mẹ là đấng thánh mới xứng đáng được tuyên gọi bằng danh hiệu này trong toàn bộ Thánh Kinh, vậy câu nói ấy ắt hẳn có điều chi đặc biệt hoặc để phân biệt vai tṛ của mẹ.
 

Có mấy loại bản dịch Thánh Kinh đă dịch câu văn này thành “Kính mừng, đấng được sủng ái - Hail, O favored one.” Nhưng dịch như vậy không có chính xác.  Nguồn gốc chữ kecharitomene theo tiếng Hylạp charis thường dịch sang Tiếng Anh là “ân sủng/ân nghĩa/ơn phúc - grace.” Hay nói một cách khác, chữ “sủng ái - favour” trong Tiếng Anh, chỉ có ư đơn thuần là một vài loại tặng sủng bề ngoài mà thôi, trong khi “sự sủng ái” của Thiên Chúa chí cao th́ chưa hẳn chỉ là các tặng sủng vinh dự bề ngoài: luôn kèm theo loại ơn phúc nào đó bên trong.  Thế nên, trong bản văn Thánh kinh gọi Đức Maria là “ơn phúc” có ư nói, ơn phúc thiêng liêng nội tại bề trong.   

 

Một số các nhà chú giải Thánh Kinh bàn căi rằng thiên thần chỉ có ư chào Đức Maria là ơn phúc bằng một cách thức nào đó khi biết rằng Mẹ đă được tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, thiên thần Gábriel nói tiếp ở câu 30, “Maria, đừng sợ, v́ bà được đă ơn nghĩa cùng Chúa.”  Có ư muốn nói rằng mẹ đă sẵn có ơn phúc theo một biệt lối nào đó trong quá khứ. Chính trên căn bản duy nhất đó mà thôi – trên căn bản ơn sủng sớm được ban tặng– mà người được Thiên Chúa tuyển chọn vào ơn gọi đặc biệt đó.

 

Thực ra, từ ngữ kecharitomene (“đầy ơn phúc”) không hẳn là nói đến thời hiện tại hay tương lai; đó chỉ là một thời quá khứ đă hoàn thành. Nói cách khác, thiên thần chỉ muốn nêu lên tặng sủng mà Đức Maria đă lănh nhận, ngay cả trước khi thiên thần đến truyền tin cho Đức Bà! Đúng ra, là thiên thần chào Mẹ: “Kính mừng, đấng sẵn có ơn phúc, đă hoàn tất một chặng đường, đă qua.” 

 

Trong toàn bộ Sách Tân Ước chỉ có một từ ngữ Hylạp tương tự được nhắc đến, charitoo, được dùng trong Thư Êphêsians đoạn 1 câu 16.  Chúng ta biết qua cách nói của Thánh John Chrysostom (Gioan Kim Khẩu) Giáo Phụ người Hylạp, cho rằng biệt từ riêng charitoo đó có nghĩa là đă hoàn toàn được “biến đổi bởi ơn phúc/ân sủng – Transformed by grace.” V́ thế, nếu dịch sát nghĩa lời của thiên thần Gábriel chào Đức Maria chắc hẳn là: “Kính mừng, đấng - đă được biến đổi -  bởi - ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng bà!”

 

Như vậy sự biến đổi bởi ơn sủng được hoàn thành nhờ bởi Thiên Chúa th́ có ǵ khác chăng một ơn thánh hoá viên măn, Chúa Thánh Thần đă đổ vào Mẫu Tâm, ngay từ khắc đầu tiên Mẹ hiện hữu? Như Sách Giáo Lư dẫn giải, Mẹ được “thêm sung măn ngay khắc thụ thai đầu tiên” cùng với “sự rạng ngời thánh thiện vẹn toàn duy nhất.” (GLCG số 492).  Theo Thánh Luca chương 1 câu 15, th́ Thánh Gioan Tẩy Giả đă được Chúa Thánh Thần ban ơn thánh hóa ngay khi c̣n trong ḷng mẹ. Phải chăng Đức Maria nhận ít ân sủng hơn để chuẩn bị cho vai tṛ làm Mẹ Đấng Cứu Chuộc so với ân sủng mà Gioan đă lănh nhận để chuẩn bị cho sứ vụ đặc biệt của ông?

 

Tất cả những đoạn kinh thánh này rốt cùng tự nó không chứng minh được giáo lư Đức Maria Vô Nhiễm Thai, nhưng chắc chắn chúng rất phù hợp với giáo lư ấy, và mạnh mẽ chỉ đường cho chúng ta quy về hướng giáo lư đó.

 

Các Giáo Phụ Xưa Đồng Thuận

 

Các Giáo phụ thời sơ khai của Giáo Hội (như thể Thánh Irênêus, Justin Martyr, Êpíphanius, Ambrôse, Jêrôme, Cyril ở Jerusalem, Êphrem ở Syrian, và Thánh Peter Chrysologus-Kim ngôn) dạy rằng duy chỉ có Thánh Paulô gọi Chúa Giêsu là Ađam Mới, là Đầu năo cứu chuộc nhân loại, như vậy Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Maria ắt phải là Evà mới. Khi Evà, là Mẹ của chúng sinh, bởi sa chước cám dỗ của thiên thần sa đọa (là con rắn), nhập đưa vào thời kỳ tội lỗi, v́ thế cho nên, Đức Maria là Mẹ Đấng Cứu chuộc đă lật đảo ngược tội lỗi của Evà bằng sự vâng phục thiên thần Gábriel vào lúc Truyền tin, cho nên đă hé mở ra một thời kỳ cứu độ chúng ta.

 

Các Giáo Phụ xưa kia của Giáo hội có hàm ư ǵ khiến chúng ta phải học biết giáo lư này.  Sự sống của Evà bắt đầu bằng ơn gọi với tư cách làm “Mẹ của chúng sinh” trong trạng thái ân sủng và bất khả ố (vô nhiễm tội). Bà không bị bất cứ nguyên tội nào đả thương hay hủy hoại linh hồn.  Chúng ta thử tưởng tượng xem Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Maria, là người được kêu gọi làm Mẹ Đấng Cứu Thế và cứu chuộc muôn đời, tiếp nhận cùng một thứ ân sủng (giống như Evà khi chưa sa ngă) để chuẩn bị cho ơn gọi đặc biệt của Mẹ?

 

Thời kỳ sơ khai, phụng vụ Đông phương đă mừng kính Đức Trinh Nữ Diễm phúc như là Panagia (Đấng trọn đời thánh – all holy one), Achranatos (Đấng chẳng hề mắc bợn nhơ – the one without even the slightes stain) và Hypereulogoumene (Đấng Diễm phúc hơn mọi người khác – the one blessed beyond all others).  Làm sao Đức Maria có thể được gọi là TRỌN ĐỜI-thánh, không bị BẤT CỨ  khả ố-tỳ vết nào, nếu như khắc đầu tiên hồn xác mẹ hiện hữu hoàn toàn thiếu vắng Chúa Thánh Thần và ơn thánh hóa, và như thế trong linh hồn mẹ sẽ bị cưu mang sự bất trật tự, hư hỏng và dễ ngả về đàng tội mà sẽ di truyền qua hết thảy chúng ta kể từ Ađam và Evà?

 

Thế nên, các Giáo Phụ và Phụng vụ thời sơ khai mới giảng dạy, là học thuyết Đức Maria đầy ơn phúc, ngay khắc đầu tiên mẹ hiện hữu.  Hay nói cách khác, nghĩa là, học thuyết Đức Bà Vô Nhiễm Thai.

 

Phái Tin lành Bác bẻ

 

Các Giáo phái Tin Lành đă bác bẻ học thuyết Vô Nhiễm Thai, viện cớ một vài chỗ trong Thánh Kinh dạy rằng, toàn thể nhân loại phải bị chịu “sự sa đoạ ” chung. Do có lời chép “không có ai là người công chính, dẫu một người cũng không” (Rm 3:10); “kể từ khi con người sa ngă và phạm tội th́ đă bị tước mất vinh quang Thiên Chúa” (Rm 3:23); và “cũng như v́ một người duy nhất sa ngă mà mọi người bị Thiên Chúa kết án” (Rm 5:8). 

 

Nhưng Thánh Kinh lại thường sử dụng ngôn ngữ thoáng rộng,  ngay cả dụ ngôn, để dẫn dụ một điểm hay nêu rơ một vấn đề.  Chẳng hạn, khi Thánh Kinh tường thuật “Tất cả đều có tội – All have sinned,” hoặc “Tất cả chúng ta đều như chiên cừu bị lầm lạc – All we like sheep have gone astray,” điều đó rơ ràng không có nghĩa là bao gồm luôn cả trẻ em, mà chúng chưa hề phạm phải bất cứ tội trạng riêng nào (và chúng sẽ chẳng bao giờ mắc tội khi chưa đủ tuổi khôn, dù nếu có chết non - chết yểu đi chăng nữa).  Mặt khác, khi Thánh Kinh nói, “Như Ađam phải chết thế nào, th́ trong Chúa Kitô chúng ta cũng được sống lại như vậy,” (1 Cor 15:22).  Điều đó cũng không có nghĩa là cả và loài người ta đều được cứu rỗi trong Chúa Kitô. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt như Đức Trinh Nữ Diễm Phúc chẳng hạn (được ǵn giữ khỏi mắc tội tổ tông truyền) và các trẻ nhỏ (không đến nỗi mắc tội hiện thực – Actual sin), bản văn Thánh Kinh có ư muốn nói đến tội lỗi chung của loài người thế thôi, cũng có thể ngụ ư nói tới phần đông dân chúng.

 

Theo chân Thánh Paulô, các giáo phái Tin Lành truyền thống th́ nhắm t́m cho được chỗ hở tại sao cứ mỗi một màu nhiệm Đức Tin th́ Chúa nhân lành lại biểu hiện sự cứu rỗi.  Thuở ban đầu thần học gia Lutheran thường nói “Để biết Chúa Kitô th́ phải biết đến các mối lợi của Ngài.”  Sự nghiên cứu thần học ít có giá trị nào đó nếu như chúng bị quy kết sai về vinh quang, sự từ bi và ân sủng miễn phí của Thiên Chúa. Song dẫu sao, để hiểu cho đúng, đâu là niềm xác tín về vấn đề Đức Maria Vô Nhiễm thai mà hầu hết đă được truyền bá!

 

Học Thuyết Công Bố Chúa T́nh Thương

 

Rốt cùng rồi, Chúa Nhân Lành th́ sao?  Đó là Vị Thiên Chúa không đến nỗi khiển trách quá đáng, thậm chí không lo mưu t́m ân sủng thiêng liêng - Thứ ân sủng mà Thiên Chúa đă đổ ra v́ thương chúng ta quá đỗi để trợ giúp chúng ta vượt qua những khốn khổ, để thấy được nhu cầu thực của ḿnh. 

 

Các thần học gia gọi đó là cách mà Thiên Chúa xót thương ban ơn “dự pḥng – prevenient (Rom 8:30)”, theo tiếng Latinh  prea-venire có nghĩa là “châm chuẩn/dàn xếp trước – come before.” Mặt khác, ngay cả khi chúng ta hỏi xin và thực tế toàn là xin cái ǵ đâu không đáng. Và thường là cái không có ở trong danh sách, Chúa t́nh thương nhận lấy cái ư xin ấy và đến đáp cứu chúng ta.  Ơn dự pḥng này hoàn toàn là tặng sủng miễn phí của Chúa nhân lành.  Chúng ta thấy phản ảnh một t́nh thương sẵn có của cha mẹ dành cho con cái.  Một đứa nhỏ được chính cha mẹ nó yêu thương chứ không phải lượm nhặt nó, hay nó xứng đáng được, hoặc gặng hỏi nó bằng mọi cách. Hơn nữa, cha mẹ tự nhiên có t́nh thương ấy, một t́nh thương hoàn toàn cho không, bởi đứa bé ấy là con của họ. Đó là t́nh thương “trỗi vượt,” của con người, và điều đó phản ảnh dung mạo của thần linh.

                                               

C̣n, niềm xác tín nghĩa là ǵ khi chúng ta nói về Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Vô Nhiễm Thai.  Vô nhiễm Thai đích thực là một cách lột tả tột đỉnh t́nh thương của thiên Chúa quan pḥng.  Sau hết, sự Vô Nhiễm  Thai của Đức Maria không có “công trạng”. Mẹ cũng không có hỏi xin ơn ấy.  Đều là do Chúa Cha nhân lành thực hiện nơi Mẹ, và  Ngài căn cứ  duy nhất vào các công nghiệp Nhập Thể Con của Ngài, là Chúa Giêsu Kitô.

 

Thực ra, chúng ta có thể đi xa hơn nữa khi bảo rằng sự Vô Nhiễm thai của Đức Trinh Nữ Diễm Phúc là một tác hành ân sủng thần linh cao cả mà Thiên Chúa đặt nền tảng cho toàn bộ công tŕnh cứu độ nhờ Chúa Kitô. Là Cha thương xót đă khởi sự gánh tội cùng với nhân loại, linh hồn của Đức Maria khởi đầu thành thai, đă được ǵn giữ khỏi ảnh hưởng của nguyên tội, khiến linh hồn mẹ trở nên tuyệt tác của Chúa t́nh thương, và theo sau những năm đó, tuyệt phẩm ân sủng khác thường duy nhất này thúc đẩy linh hồn Đức Maria đáp lễ sứ điệp thiên thần Gáriel một cách trọn vẹn, phó thác tuyệt đối: “Thưa đây, tôi là tôi tá Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền.” Bởi nhờ ơn Chúa quan pḥng, cho nên, mẹ trở thành tuyệt tác của Cha nhân lành, và vào thời viên măn, ân sủng này sẽ cùng đi theo mẹ tiếp nhận Đấng Cứu Thế của chúng ta, ở thế gian.  Nói tóm lại, việc cứu độ cả thế gian khởi đầu với một tác thành bất khả xứng, ngoài ư muốn, mà Chúa nhân lành đă tặng ban miễn phí:  một hành động xót thương đó là Đức Maria Vô nhiễm Thai.

 

Dấu hiệu đi kèm theo ân sủng Thiên Chúa tặng ban miễn phí là Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai, đặt để Mẹ làm cổng rạng đông và nên cớ cho chúng ta hân hoan.  Xét theo thập giới tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa kêu gọi để “thảo kính cha mẹ.”  Việc Con Thiên Chúa biệt kính mẹ của Ngài bằng cách đổ ân sủng của Ngài vào Mẫu Tâm ngay khắc đầu sự sống của mẹ.  Như các môn đồ của Chúa Giêsu, chúng ta được kêu gọi đi theo Ngài dù ở bất cứ đâu; hăy cùng nhau Biệt Kính Mẹ Ngài!

 

Người dịch có lời bàn:

Có một sự trùng hợp đến kỳ diệu khi bảo rằng, học thuyết Đức Bà “Vô Nhiễm Thai,” cũng có nghĩa là, học thuyết Đức Bà “đầy ơn phúc.” 

Trước tiên, là lời sứ thần Gábriel chào mẹ “đầy ơn phúc” có khác chi lời Đức Giáo hoàng Piô thứ 9 đă công bố tín điều Đức Bà Vô Nhiễm Thai.

Kế đến, bà Êlizabéth reo mừng tuyên xưng Đức Maria là, “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ” có khác chi lúc ấy đă  thay mặt cho chúng ta hôm nay mừng kính Mẹ Maria Vô Nhiễm Thai.

Sau hết, chính Mẹ đă hé lộ trong bài ca Magnificat, “muôn đời sẽ khen tôi có phúc”, y chang như mẹ mạc khải cho Giáo hội một lần nữa qua thánh nữ Bernadette, “Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai.”

Và lời tiên báo trong Sáng Thế Kư chương 3:15, “…Người ấy sẽ đạp nát đầu mi…” có khác chăng lời ca, “hạ người quyền hành xuống khỏi vị cao và nâng người hèn mọn lên…”

“Người quyền thế bị hạ xuống khỏi vị cao” ở đây chính là Luxiphe, khi c̣n là thiên thần ánh sáng ở trên thiên đàng chưa sa ngă, th́ đâu có thiên thần nào được Thiên Chúa ban cho có phẩm trật và quyền hành cao nhất như hắn, nhưng bởi v́ nó kiêu ngạo muốn lên cao bằng Thiên Chúa, nên chính nó tự chuốc lấy án phạt đời đời. Và Chính Chúa Giêsu Kitô là Đấng đă đạp nát đầu kẻ kiêu ngạo ấy xuống khỏi vị cao và “dẹp tan phường ḷng trí kiêu căng” là ḍng giống của nó.

C̣n, Người “hèn mọn” ở đây đâu có ai khác hơn chính là Đức Maria - thụ tạo duy nhất được Chúa ban đặc ân Vô Nhiễm Thai, và v́ sự đồng công chuộc tội cùng với Con của Mẹ là Đức Giêsu Kitô, nên Mẹ đă nghiễm nhiên trở thành b́nh chứa tinh tuyền, được Chúa Cha sủng ái nâng lên cao hơn nữa và đặt làm “cổng rạng đông” như có lời chép trong Thánh vịnh chương 23,

“Hỡi cửa đến, hăy cất cao lên,
Cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,
Để Đức Vua vinh hiển ngự vào.
Đức Vua vinh hiển đó là ai ?
Là Đức Chúa mạnh mẽ oai hùng
Đức Chúa oai hùng khi xuất trận.”

Mà Thiên Chúa “oai hùng khi xuất trận” và “ra oai cánh tay sức mạnh” chính là Chúa Giêsu Kitô đă cùng với “cửa đền cổ  kính” Maria đồng liên minh xuất trận “đạp nát đầu rắn già” trong cuộc chiến cứu độ đập tan mối thù năm xưa.

Như vậy tôi xin mạo muội mà nói rằng, giáo lư về Đức Maria Vô Nhiễm Thai, hay giáo lư Đức Bà Đầy Ơn Phúc, th́ được gói trọn trong trong sách Phúc âm Luca chương 1, đoạn “thiên thần Gábriel truyền tin cho Đức Bà”; lời bà Êlizabéth chào kính Mẹ Maria và đặc biệt là bài ca “Magnificat” ở chương 1:47-55.

Xin coi h́nh có trên có chữ kư trên phiến đá “Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai - Je suis l'immaculée conception” tại hang đá Lộđức bên Pháp – Lourdes.  Đây là  Lời Mẹ Maria tỏ ḿnh ra cho Thánh Nữ Bernadette Soubirous, lúc ấy 14 tuổi (chỉ biết nói tiếng thổ ngữ pháp, rất đơn sơ thực thà, không biết chữ và cũng không hiểu ư nghĩa lời Đức Bà nói hay tín điều Vô Nhiễm Thai mà Giáohội đă công bố là ǵ, chỉ biết lẩm bẩm học thuộc ḷng câu Đức Bà nói cho biết thế thôi), đó là vào ngày Lễ Kính Mẹ Truyền Tin 25/3/1858, chỉ cách có mấy năm sau khi Đức Thánh Cha Piô thứ IX đă cho công bố Tín Điều Đức Bà Vô Nhiễm Thai vào ngày 8/12/1854.  ,

Phải nói đến công lao của Thánh Don Scotus và các cha ḍng Francisco, là người được Mẹ chọn để cao rao và tŕnh Đức Giáo Hoàng về việc này.  Trong khi đó Thánh Thômas Aquinô và các Cha ḍng Đaminh thời ấy có tiếng là uyên bác - thuộc ḍng của Mẹ th́ lại chủ trương chống, và thánh nhân chỉ vâng lời chấp nhận sau khi Đức Piô 9 đă công bố tín điều này, có lẽ v́ lúc ấy thánh nhân dựa vào nghiên cứu khoa học mà chưa được tân tiến như bây giờ khiến sai lầm chăng.  Có truyền thuyết bảo rằng sau khi thánh nhân qua đời đă hiện về với một người anh em trong ḍng - cho biết ngài phải đền v́ tội bất nhất này. Có nhiều người tuy thông thái thực nhưng chắc ǵ đủ lượng khiêm tốn để được Thiên Chúa mạc khải, tuyển chọn và ban ơn sủng riêng cho một sứ vụ đặc biệt nào đó, “Lạy Cha là Chúa Tể Trời Đất – Con xin Cám Đội ơn Cha v́ Cha đă dấu không cho kẻ khôn ngoan thông thái biết… nhưng chỉ tỏ ra cho kẻ bé mọn…”

Thế đấy, ngay cả Mẹ Maria mặc dù là Mẹ Chúa Cứu Thế, được đặc ân Vô Nhiễm Thai mà vẫn khiêm tốn  vâng lời vị đại diện Con của Mẹ ở trần gian, Mẹ chỉ tỏ ḿnh ra sau khi Đức Piô 9 đă công bố tín điều về Mẹ; y hệt như Mẹ đă thưa vâng với sứ thần Gábriel vào ngày truyền tin, và hé lộ trong bài ca Magnificat “muôn đời sẽ khen tôi có phúc – Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai.” và việc Mẹ tỏ ḿnh qua thánh nữ Bernadette có lẽ để đánh tan nghi ngờ đối với những ai c̣n chưa chấp nhận tín điều này và để chuẩn xác cho tín điều sau khi Vị đại diện Con của Mẹ ở trần gian đă công bố là đúng theo Thiên Ư.

Đến Với Maria bạn nhé!

Có dầu Thần Chân Lư không cạn

Có hũ bột Lời Chúa không vơi

Như trong ngày Truyền Tin tuyệt vời

Thánh Thần bao phủ Mẹ Ngôi Lời

Ngôi Lời giáng tạo Mẹ không vơi

Xớt chia tới những ai giữ Lời

Chứng nhân Tin Mừng khắp muôn nơi!

Đội Ơn Chúa Kitô đời đời

Cám ơn Mẹ Ngôi Lời giáng thế

Song hành tế độ khắp chúng sinh…

Đến với Maria bạn nhé

B́nh chứa tinh tuyền vẫn c̣n đây!

 

8/12/2009

Vô Nhiễm Mẫu bổn kính.

<Sóngbiển phỏngdịch>